Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một phần về giá trị kinh tế, địa danh của các di tích lịch sử, văn hóa, chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến những chủ trương của Đả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ HOA BAN
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠ THỊ HOA BAN
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chủ tịch Hội đồng Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Lê Văn Thịnh PGS.TS Vũ Quang Hiển
HÀ NỘI - 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của luận văn 13
7 Bố cục của luận văn 13
Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH VỀ BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
15
1.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ 15
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác bảo tồn các di tích lịch sử ở Ninh Bình trước năm 2006 15
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ 29
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ 32
1.2.1 Chỉ đạo kiểm kê, xếp hạng các di tích 32
1.2.2 Chỉ đạo tôn tạo, tu bổ, phục hồi các di tích 34
1.2.3 Chỉ đạo xây dựng các nguồn lực để bảo tồn các di tích lịch sử 39
1.2.4 Chỉ đạo bảo tàng hiện vật, tư liệu lịch sử 47
Tiểu kết chương 1 51
Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH VỀ BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015 52
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng bộ 53
2.1.1 Bối cảnh lịch sử 53
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ 59
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ 62
2.2.1 Chỉ đạo kiểm kê, phân loại, xếp hạng các di tích 61
2.2.2 Chỉ đạo tu bổ, tôn tạo, phục dựng các di tích 66
Trang 42.2.3 Chỉ đạo phát triển các nguồn lực để bảo tồn các di tích lịch sử 70
2.2.4 Chỉ đạo bảo tàng hiện vật, tư liệu lịch sử 80
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 85
3.1 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ 85
3.1.1 Ưu điểm 85
3.1.2 Hạn chế 91
3.2 Một số kinh nghiệm 92
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 104
PHỤ LỤC 117
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giữ gìn và bảo tồn các di tích lịch sử là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục con người nhằm mục đích trang bị những tri thức nền tảng về lịch sử văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, bảo tồn các di tích lịch sử còn có nhiều giá trị khác như thông qua hoạt động khai thác du lịch, tổ chức lễ hội truyền thống, trao đổi và nghiên cứu khoa học nhằm giới thiệu đến bạn
bè quốc tế những hình ảnh ấn tượng tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam
Ninh Bình là vùng đất cổ, nằm ở cửa ngõ cực Nam của tam giác châu thổ sông Hồng và miền Bắc Vùng đất này còn nhiều dấu tích liên quan trực tiếp đến các nền văn minh cổ ở Việt Nam như văn hóa Tràng An, văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đa Bút, văn hóa Đông Sơn Do có vị trí chiến lược quan trọng, Ninh Bình là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Nhà nước Đại Cồ Việt, cố đô Hoa Lư - kinh đô của ba Triều đại nhà Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và vùng núi ở Ninh Bình trở thành căn cứ quân sự của các Triều đại nhà Trần và Tây Sơn Trong kháng chiến chống ngoại xâm, phòng tuyến Tam Điệp, chiến khu Quỳnh Lưu, hành cung Vũ Lâm là địa bàn trọng yếu của chiến dịch Hà - Nam - Ninh lịch sử Những đặc điểm về lịch sử, văn hóa, tự nhiên và con người đã tạo cho vùng đất Ninh Bình một hệ thống di tích phong phú và đa dạng góp phần phát triển ngành du lịch Ninh Bình Quần thể danh thắng Tràng An bao gồm rất nhiều di tích với những giá trị nổi bật về thiên nhiên và văn hóa đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới hỗn hợp Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, việc bảo tồn các di tích lịch sử đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng cũng còn có những mặt hạn chế, bất cập Việc tổng kết
sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong lĩnh vực này để từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học là rất cần thiết
Khái niệm “bảo tồn” có nghĩa là giữ nguyên vẹn như vốn có, không để mất đi [118, tr 110] “Di tích” được hiểu là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất, có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa [70, tr 254] Như vậy, có thể hiểu “di tích” là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hóa của đất nước, đồng thời,
có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn, nếu bị mất đi không chỉ đơn thuần là mất đi tài
Trang 8sản vật chất, mà còn mất đi những giá trị tinh thần lớn lao Di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước Di tích lịch sử có thể được hiểu khái quát là di tích liên quan tới các sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có đóng góp, ảnh hưởng tới
sự tiến bộ của lịch sử dân tộc
Di tích lịch sử và di tích văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Di tích lịch sử nào cũng có yếu tố văn hóa và di tích văn hóa luôn hàm chứa trong đó yếu tố lịch sử Ví dụ, Hoa Lư là kinh đô của nhà nước Đại Cồ Việt trong 42 năm, dưới 3 vương triều: triều Đinh
12 năm, triều Tiền Lê 29 năm và 1 năm khởi nghiệp vương triều Lý Sau khi vua Lý Thái
Tổ dời đô, Hoa Lư trở thành đất cố đô Vậy Cố đô Hoa Lư trước hết là một di tích lịch sử Hàng năm, nhân dân địa phương tổ chức Lễ hội Hoa Lư để tôn vinh vị anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng Kinh đô Hoa Lư, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt và mở đầu thời kỳ độc lập, thống nhất lâu dài của người Việt suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần Do vậy, đền thờ vua Đinh - vua Lê còn là một di tích văn hóa Như vậy, thật khó để phân biệt tách bạch giữa di tích lịch sử và di tích văn hóa
Bảo tồn di tích là những hoạt động bảo quản kết cấu một địa điểm, công trình xây dựng ở hiện trạng và kìm hãm sự xuống cấp của di tích, có những hoạt động chuyên môn nhằm giữ gìn, phát huy giá trị của di tích Như vậy, hiểu một cách khái quát: Bảo tồn di tích lịch sử là những hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó
Bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa, trong đó, việc bảo tồn các di tích lịch
sử là lĩnh vực hoạt động quan trọng nhưng đầy khó khăn, phức tạp Chính vì vậy, lĩnh vực này thường xuyên được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm Bên cạnh đó, hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử vừa mang tính khoa học sâu sắc, vừa mang tính thực tiễn sinh động, đồng thời mang tính xã hội cao Do đó, công tác bảo tồn các di tích lịch sử là việc làm cấp bách và cần phải có giải pháp hợp lý, kịp thời để bảo vệ di tích
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn các di tích lịch sử ở địa phương Trong khoảng 10 năm (2006 - 2015), Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã có những chủ trương và biện pháp cụ thể, đạt được những kết quả quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị
của các di tích đó Xuất phát từ những lý do trên học viên đã lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015” làm
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác bảo tồn các di tích lịch sử không chỉ có ý nghĩa về mặt giáo dục truyền thống, tri ân các thế hệ cách mạng mà còn phục vụ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Ninh Bình Vì vậy, đây là nội dung được quan tâm và đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ khác nhau:
Những nghiên cứu về Ninh Bình
Cuốn “Địa chí Ninh Bình” được tổ chức biên soạn bởi Tỉnh ủy, HĐND, UBND
tỉnh Ninh Bình phối hợp với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Công trình đã trình bày chi tiết, đầy đủ các lĩnh vực: Địa lý, Lịch sử, Kinh tế, Văn hóa, Hệ thống chính trị, Quốc phòng, an ninh và các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Ngoài những kiến thức quan trọng và cần thiết về địa lý của tỉnh, cuốn sách cũng đã khái quát về tiến trình lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất và con người Ninh Bình Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, vùng đất Ninh Bình luôn giữ một vị trí chiến lược quan trọng
Tác giả Lã Đăng Bật với nhiều công trình tiêu biểu như:
Cuốn “Ninh Bình một vùng sơn thủy hữu tình” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành năm
2007 đã giới thiệu một cách khái quát về địa lý, lịch sử, con người, phong tục tập quán, danh lam thắng cảnh cùng các di tích lịch sử của miền đất Ninh Bình
Cuốn “7 Di tích - Danh thắng Ninh Bình nổi tiếng” do Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin, Hà Nội năm 2013 Tác phẩm đã nghiên cứu và trình bày 7 di tích, danh thắng nổi tiếng ở Ninh Bình đó là: Cố đô Hoa Lư; Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng; Đền thờ vua
Lê Đại Hành; Khu du lịch sinh thái Tràng An; Chùa Bái Đính - Khu tâm linh lớn nhất Việt Nam; Tam Cốc - Bích Động; Non nước Vân Long; Vườn Quốc gia Cúc Phương; Nhà thờ đá Phát Diệm Ở mỗi di tích, địa danh, tác giả đã mô tả rất kỹ về quá trình hình thành, các giai đoạn phát triển, các địa danh lịch sử và các giá trị tiêu biểu của các di tích, đồng thời, tác giả còn đề ra những hướng phát huy và phát triển các di tích, danh thắng này trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước
Cuốn “Cố đô Hoa Lư - Lịch sử và danh thắng” do Nhà xuất bản Thanh niên phát
hành năm 1998 đã giới thiệu về Cố đô Hoa Lư và các danh thắng gắn liền với Cố đô vừa
có tính hệ thống, vừa có những phát hiện mới từ các nguồn tư liệu tin cậy và kết quả quan sát thực tế Cuốn sách cung cấp cho tác giả luận văn nguồn tài liệu đầy đủ và sâu rộng về một vùng đất lịch sử, văn hiến gắn liền với những nhân vật lịch sử đã có công lao lớn trong quá trình dựng nước và giữ nước
Trang 10Nhân dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 1000 năm Vua Lý Thái
Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (1010 - 2010), tác giả Lã Đăng Bật tiếp tục cho ra
mắt cuốn “Kinh đô Hoa Lư Xưa và nay”, do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản năm
2009 Cuốn sách trình bày chi tiết về quá trình hình thành, các di tích lịch sử qua mốc thời gian xưa và nay giúp người đọc có cái nhìn tổng thể về lịch sử của Cố đô, đây là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu về các di tích lịch sử thuộc hệ thống Cố đô Hoa Lư
Bên cạnh đó, tác giả Lã Đăng Bật cùng tác giả Nguyễn Thị Kim Khánh cũng đã
cùng biên soạn cuốn sách “Nho Quan miền đất cổ”, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Văn
hóa Thông tin Đây là công trình được các tác giả quan tâm viết về những địa danh, danh nhân từ cổ chí kim có tinh thần yêu nước chống giặc, dẹp yên bờ cõi, các danh nhân là những chiến sỹ cộng sản đầu tiên của tỉnh Ninh Bình Ngoài ra, công trình còn trình bày
về tên gọi, địa lý, lịch sử, văn hóa đến các di tích lịch sử, danh thắng của vùng đất cổ Nho Quan
Cuốn “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên” của tác giả Nguyễn Tử Mẫn do Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2001 Tác phẩm là công trình khảo cứu địa chí Ninh Bình được tác giả dày công tìm tòi, tổng hợp nhiều thông tin, kiến thức thuộc các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, địa lý của quê hương Ninh Bình Ông đã khảo cứu rất công phu
về tổng thể Ninh Bình và đi sâu vào từng phủ, huyện, tổng, xã từ địa phận, khí hậu, sông núi đến các nhân vật, các chế độ kinh tế - xã hội qua các triều đại Công trình là nguồn tài liệu phong phú có giá trị nghiên cứu Ninh Bình về nhiều mặt: địa lý, lịch sử, văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian
Cuốn “Địa danh ở tỉnh Ninh Bình” được biên soạn bởi nhóm tác giả Đô Danh Gia
và Hoàng Linh, do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2010 Tác phẩm đã đề cập tương đối rộng rãi, từ: các làng, xã, tổng, huyện, phủ, tỉnh cho đến núi, sông, gò, đống; từ các đền, đình, chùa, tháp, miếu, phủ cho đến các từ đường, nhà thờ tôn giáo, các di tích lịch sử, di tích khảo cổ học Ở mỗi địa danh, nhóm tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu, giới thiệu những giá trị, ý nghĩa lịch sử văn hóa truyền thống xưa và nay, nhất là những địa danh cổ còn lưu trữ trên đất Ninh Bình Đặc biệt, đối với các địa danh là di tích lịch sử, các tác giả đã giới thiệu đầy đủ, trung thực những giá trị, ý nghĩa lịch sử văn hóa truyền thống của các địa danh này
Góp phần tìm hiểu di tích lịch sử và danh thắng quan trọng của tỉnh, tác giả Đặng
Công Nga đã biên soạn cuốn “Kinh đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền, Lê” do Sở Văn hóa
Trang 11Thông tin Ninh Bình xuất bản năm 2002 Cuốn sách đã tập hợp những hiểu biết, những nguồn tư liệu từ cổ chí kim có liên quan nhằm tìm hiểu về vị trí, quy mô, diện mạo, bố cục, cấu trúc của Kinh đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê Đây là một công trình có tính khoa học cao, tầm quan trọng và tính cấp thiết của công trình này còn là quá trình tìm hiểu con đường văn hóa – văn minh từ Hoa Lư đến Thăng Long
Tác giả Nguyễn Văn Trò với các công trình:
“Ninh Bình theo dòng lịch sử, văn hóa” do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất
bản năm 2004 Trong công trình nghiên cứu, ở mỗi di tích lịch sử, danh thắng, tác giả đã giới thiệu về lịch sử, khảo tả không gian từ kiến trúc đến các chi tiết trang trí, các hình thức lễ hội rất tỉ mỉ và công phu Cuốn sách đã cung cấp một nguồn tài liệu về các di tích lịch sử, danh thắng tiêu biểu của một vùng đất “Địa linh nhân kiệt” Công trình giúp cho người đọc có thể nhận diện được gương mặt văn hóa - lịch sử của non nước Ninh Bình, đồng thời tìm hiểu về các giá trị lịch sử của các di tích ở Ninh Bình
“Di tích lịch sử - văn hóa về hai triều Đinh - Tiền Lê ở Ninh Bình” do Nhà xuất
bản Văn hóa xuất bản năm 2007 Nội dung của công trình, tác giả trình bày 3 nội dung chính đó là: vị trí của hai triều Đinh - Tiền Lê trong tiến trình lịch sử dân tộc; 28 di tích về hai triều Đinh - Tiền Lê ở Ninh Bình và vài nét về di tích lịch sử, văn hóa của hai triều Đinh - Tiền Lê ở Ninh Bình Cuốn sách đã cung cấp cho tác giả luận văn có cái nhìn hệ thống và chi tiết về các di tích lịch sử của Ninh Bình, đồng thời hiểu sâu hơn về giá trị của các di tích này
Nghiên cứu về bảo tồn di tích
Các bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa:
Đặng Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa là hoạt động
có tính đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí di sản văn hóa Đoàn Bá Cử (2006), “Đôi điều về
tu bổ di tích trong thời gian qua”, Tạp chí di sản văn hóa Nguyễn Quốc Hùng (2006), Bảo tồn, phát huy giá trị các Di sản văn hóa - thiên nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nước ta, Tạp chí Di sản văn hóa Nguyễn Quốc Hùng (2007), Một vài biện pháp bảo tồn
và phát huy giá trị di sản làng truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, Tạp chí Di sản văn hóa
Nguyễn Quốc Hùng (2012), Di tích cách mạng - bằng chứng của sự thay đổi, Tạp chí Di sản văn hóa Nguyễn Quốc Hùng (2015), Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hóa, tạp chí Di sản văn hóa Nguyễn Quốc Hùng (2008), Đôi điều
về việc bảo tồn và phát triển du lịch tại các di sản ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Di sản
Trang 12văn hóa Bùi Hoài Sơn (2013), Tính chân thực của di sản văn hóa và câu chuyện lễ hội
truyền thống ở Việt Nam, Tạp chí Di sản văn hóa
Bài nghiên cứu của tác giả Hà Văn Tấn (2005), Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa
trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Khoa học xã hội Việt
Nam Tác giả Đinh Trung Kiên (2003), Di tích lịch sử và tư liệu lịch sử với việc phát triển
du lịch Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân
văn…
Các nghiên cứu trên đã cung cấp cho học viên một bức tranh tổng quát về vai trò, thực trạng cũng như giải pháp trước mắt và lâu dài cho việc bảo tồn các di tích lịch sử trên phạm vi cả nước Từ đó, học viên có cái nhìn khách quan đối với công tác bảo tồn các di tích lịch sử của Ninh Bình
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình cũng như các Đảng bộ khác là một mắt xích quan trọng trong việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến từng địa phương
Vì vậy, đề tài nghiên cứu về Đảng bộ đã được quan tâm và đánh giá trong những năm gần đây
Trần Thị Lan, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch (1992 –
2008), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung
tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội
Lương Thị Nhuận, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ
năm 2001 đến năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Các công trình nghiên cứu trên đã khai thác được yếu tố phát triển du lịch thông qua các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Đây cũng là một nguồn tài liệu cung cấp cho luận văn những tư liệu về tiềm năng và lợi thế, giá trị của các di tích trong việc bảo tồn các di tích lịch sử của Ninh Bình
Lê Thị Ngọc Thùy, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển đời
sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2010, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên Lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình đã trình nghiên cứu, làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong lãnh đạo, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của tỉnh từ năm 1998 đến năm 2010 nhằm góp phần xây dựng nền
Trang 13văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới Đặc biệt, một trong những hoạt động chủ yếu của công tác xây dựng đời sống văn hóa là hoạt động giáo dục truyền thống và bảo vệ di tích lịch sử Với chủ trương bảo tồn những di tích lịch sử, những địa điểm, hiện vật khảo cổ học quan trọng của ngành văn hóa, đây là hoạt động nhằm giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử và cách mạng, công tác nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch phục vụ phát triển kinh tế, xã hội
Phạm Thị Hồng Nhung, Khảo sát một vài vấn đề địa danh Ninh Bình, Luận văn
thạc sĩ, chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu về mặt cấu tạo và ý nghĩa của địa danh cư trú Ninh Bình, thông qua đó, góp phần tìm hiểu về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa của tỉnh Công trình cũng là nguồn tài liệu tham khảo khi nghiên cứu
về các địa danh của tỉnh qua các thời kỳ lịch sử
Đào Thị Tính (2018), Quản lý hoạt động của Bảo tàng Ninh Bình, Luận văn Thạc
sĩ, Chuyên ngành Quản lý văn hóa, Trường Đại học sư phạm Nghệ thuật Trung ương Công trình đã tập trung làm rõ thực trạng quản lý hoạt động của Bảo tàng Ninh Bình và đề
ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Bảo tàng tỉnh Bảo tàng Ninh Bình là một thiết chế văn hóa cấp tỉnh trực thuộc Sở Văn hóa Thể thao Ninh Bình
Từ ngày được thành lập, Bảo tàng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa, lịch sử và tự nhiên của tỉnh Chính vì vậy, đây
là một nguồn tài liệu quý báu đối với học viên trong quá trình viết luận văn
Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một phần về giá trị kinh tế, địa danh của các di tích lịch sử, văn hóa, chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong việc bảo tồn các di tích lịch sử, những kết quả
đã đạt được và hạn chế của công tác đó Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này là một nội dung cần được bổ sung để từ đó tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được và từng bước khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong công tác bảo tồn các di tích lịch sử
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã trình bày, thống kê, xác lập hệ thống di tích lịch sử nổi bật của tỉnh, đồng thời, bước đầu trình bày về thực trạng, vai trò, giá trị của các di tích lịch sử và công tác bảo tồn các di tích lịch sử ở địa phương Ngoài
ra, các công trình còn cung cấp tư liệu về tiềm năng và lợi thế từ việc bảo tồn các di tích lịch sử của Ninh Bình Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khảo
Trang 14cứu, thống kê, giới thiệu, mô tả các di tích lịch sử nhưng chưa đề cập cụ thể đến những chủ chương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong việc bảo tồn các di tích lịch
sử trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015 với những thành quả bước đầu cũng như những hạn chế còn tồn tại trong công tác này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong việc bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015; từ đó, tổng kết một
số kinh nghiệm cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong điều kiện hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
đối với việc bảo tồn các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh từ năm 2006 đến năm 2015
Hai là, trình bày và phân tích các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình về bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015
Ba là, nhận xét những ưu điểm và hạn chế về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh về bảo tồn các di tích lịch sử ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2006 đến năm 2015, qua đó rút ra những kinh nghiệm để phục vụ bảo tồn trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và sự chỉ đạo tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về bảo tồn
các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu và làm rõ:
- Những yếu tố tác động đến chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, công tác bảo tồn di tích lịch sử của Ninh Bình trước năm 2006…)
- Chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo việc bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015
Phạm vi không gian: Gồm 2 thành phố là Ninh Bình, Tam Điệp và 6 huyện: Gia
Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, Hoa Lư
Phạm vi thời gian: 10 năm từ năm 2006 đến năm 2015 Đây là khoảng thời gian
ghi nhận những nỗ lực rất lớn của Đảng bộ, các ban ngành và nhân dân Ninh Bình trong việc bảo tồn các di tích lịch sử, đồng thời đây cũng là khoảng thời gian của hai nhiệm kỳ
Trang 15Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX và XX của tỉnh Qua đó thấy được sự quyết tâm
và quá trình trưởng thành cũng như năng lực lãnh đạo của Đảng bộ và những nỗ lực của toàn thể nhân dân trong việc bảo tồn các di tích lịch sử
Do tỉnh Ninh Bình có rất nhiều di tích lịch sử, nên luận văn chỉ có thể đề cập đến một số di tích lớn của địa phương như: Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư, đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Đền thờ vua Lê Đại Hành, Đền Thái Vi, Hành cung Vũ Lâm, Chùa Nhất trụ, khu căn cứ cách mạng Quỳnh lưu, khu di tích phòng tuyến Tam Điệp – Biện
Sơn (Tam Điệp) …
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu nghiên cứu
Một là, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử
Hai là, các báo cáo, Quy chế, Kế hoạch, Chương trình, Dự án về đầu tư, bảo tồn, trùng tu các di tích lịch sử của các tổ chức có liên quan
Ba là, các công trình là luận văn, luận án về quản lý Bảo tàng, bảo tồn di tích lịch
sử gắn với văn hóa, truyền thống của tỉnh Ninh Bình
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dùng các phương pháp nghiên cứu chính như: phương pháp lịch sử,
phương pháp logic, phương pháp mô tả, ngoài ra còn có những phương pháp khác như, thống kê, tổng hợp, so sánh, …
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình tiếp thu đường lối chủ trương của Đảng, vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2015
Luận văn đã hệ thống hóa được các tài liệu liên quan đến vấn đề này, do vậy có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về bảo tồn các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn được kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về bảo tồn các di tích lịch sử từ năm 2006 đến năm 2010
Trang 16Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về bảo tồn các di tích lịch
sử từ năm 2011 đến năm 2015
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 17Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH VỀ
BẢO TỒN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
1.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công tác bảo tồn các di tích lịch
sử ở Ninh Bình trước năm 2006
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với tam giác châu thổ Bắc Bộ Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa Phía Bắc giáp huyện Thanh Liêm (Hà Nam) với chiều dài 15 km; phía Tây Bắc giáp huyện Yên Thủy và Lạc Thủy (Hòa Bình) với chiều dài là 66 km; phía Tây và Tây Nam giáp các huyện Thạch Thành, Hà Trung và Nga Sơn (Thanh Hóa) với tổng chiều dài là 87km; phía Nam là vịnh Bắc Bộ có chiều dài 16,5 km; phía Đông và Đông Bắc giáp hai huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng (Nam Định) lấy sông Đáy là ranh giới
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh ít mưa và mùa hè nóng, mưa nhiều Thời tiết hàng năm chia thành 4 mùa rõ rệt là xuân, hạ, thu, đông Nhiệt độ trung bình năm là 230C Số lượng giờ nắng trong năm trung bình trên 1100 giờ Lượng mưa trung bình/năm đạt 1.800 mm Đặc trưng khí hậu này sẽ tác động, ảnh hưởng trực tiếp làm cho các di tích dễ bị hư hỏng, mối mọt
Do nằm ở vị trí đặc biệt, Ninh Bình có các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái đa dạng, độc đáo, mang tính chuyển tiếp của các hệ thống tự nhiên: đồng bằng sông Hồng, vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình - Thanh Hóa và vùng Biển Đông [49, tr 563] Một trong những dạng tài nguyên du lịch chiếm vị trí quan trọng đó là tài nguyên hang động - tài nguyên đặc thù của Ninh Bình Vẻ đẹp của các hang động ở Ninh Bình hài hòa với môi trường thiên nhiên và vẻ đẹp văn hóa, lịch sử của một miền đất cố đô Hoa Lư Đặc biệt, nhiều hang động ở Ninh Bình không chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng mà còn in đậm dấu ấn lịch sử và được Nhà nước công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia Tài nguyên du lịch ở núi đá vôi Ninh Bình được phân bố tập trung ở một số khu vực chính như Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc – Bích Động, Cúc Phương Đây là cơ sở tài nguyên quan trọng cho việc nghiên cứu khoa học, về lịch sử của một vùng đất linh thiêng và góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành du lịch của tỉnh
Trang 18Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỉ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh – Lê – Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, từng ngọn núi, con sông Theo “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên” của tác giả Nguyễn Tử Mẫn, từ cổ xưa vùng đất này thuộc trấn Nam Giao, nhà Tần thuộc Tượng Quận, nhà Hán gọi nơi đây là Giao Chỉ Trải qua nhiều lần biến đổi về địa danh, đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829), trấn Ninh Bình ra đời, đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trấn Ninh Bình được đổi tên thành tỉnh Ninh Bình [97, tr 10]
Tỉnh Ninh bình có 2 thành phố và 6 huyện bao gồm: Thành phố Ninh Bình (với 11 phường và 3 xã), thành phố Tam Điệp (6 phường và 3 xã), huyện Gia Viễn (1 thị trấn và
20 xã), huyện Hoa Lư (1 thị trấn và 10 xã), huyện Kim Sơn (2 thị trấn và 25 xã), huyện Nho Quan (1 thị trấn và 26 xã), huyện Yên Khánh (1 thị trấn và 18 xã), huyện Yên Mô (1 thị trấn và 16 xã) [36, tr.45]
Nông nghiệp là nền kinh tế chủ đạo của Ninh Bình Ngoài trồng lúa nước, người dân còn trồng thêm nhiều loại cây lương thực và hoa màu, cây ăn quả và các loại cây công nghiệp khác Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yêu cầu được đặt ra cho lãnh đạo, chính quyền các cấp và nhân dân tỉnh Ninh Bình cần phải năng động và linh hoạt, đẩy mạnh việc bảo tồn các di tích lịch sử trên địa bàn toàn tỉnh nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh Đây là một chủ trương quan trọng có
ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của tỉnh Ninh Bình nhất là trong hoạt động phát triển kinh tế mũi nhọn của tỉnh - du lịch bền vững
Ninh Bình là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử Nhiều di chỉ khảo cổ học cho thấy dấu vết của người Việt Cổ đã tồn tại cách đây hàng ngàn năm Trải qua những thăng trầm của lịch sử, người dân Ninh Bình được hun đúc tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết, truyền thống hiếu học, lòng nhân ái cao cả, sự cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc
Ninh Bình – một vùng đất chứa đựng bao dấu ấn, huyền thoại trong lịch sử dân tộc Được sự ưu đãi của thiên nhiên, vùng đất Ninh Bình có sơn thanh, thủy tú, là một trong những nơi có sự hội tụ của khí thiêng sông núi Nơi đây đã sinh ra những người con
Trang 19kiệt xuất, có vai trò và ảnh hưởng to lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam như: anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu, bảng nhãn Vũ Duy Thanh, quốc sư Nguyễn Minh Không…., tiêu biểu nhất là Đinh Tiên Hoàng – vị Hoàng đế đầu tiên thiết lập chế độ phong kiến tập quyền, mở đầu thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam Ninh Bình còn có những địa danh ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc – Kinh đô Hoa Lư (Cố đô Hoa Lư) Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân và lên ngôi Hoàng
đế, Đinh Bộ Lĩnh đã chọn vùng đất Hoa Lư làm Kinh đô nhằm đảm bảo cho sự ổn định để xây dựng đất nước
Là địa bàn có nhiều núi đá, rừng và biển, người dân Ninh Bình đã tạo dựng nhiều làng nghề độc đáo Những nghệ nhân dân gian điêu khắc gỗ, đá ở các làng nghề góp phần dựng nên những công trình kiến trúc độc đáo như: Nhà thờ đá Phát Diệm, đền vua Đinh – vua Lê, Đình Trùng Hạ, Đình Trùng Thượng …
Ninh Bình là địa danh có bề dày truyền thống cách mạng, nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, di tích kiến trúc nghệ thuật Với những truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, những người con của vùng đất này đã hình thành được bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh tinh thần to lớn không chỉ ở trong lịch sử xa xưa, trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn đối với công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, đất nước ngày nay Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, với bề dày truyền thống và lịch
sử, Ninh Bình đã, đang và sẽ tiếp tục viết nên những trang sử mới hào hùng, cùng với nhân dân cả nước xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao Khi đó, các hoạt động như du lịch hay tổ chức các lễ hội truyền thống gắn với các di tích lịch sử trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người Trong xu hướng hiện nay, khách du lịch thường tìm đến những tour du lịch hay những lễ hội gắn liền với
tự nhiên, lịch sử, tìm hiểu về văn hóa, cội nguồn dân tộc
Ninh Bình là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có nhiều cảnh đẹp và địa hình phong phú, đa dạng Bên cạnh đó, Ninh Bình còn là tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời, có hàng trăm di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Tính đến hết năm
2010, toàn tỉnh có 238 di tích được xếp hạng [35, tr 334] trong đó có 160 di tích cấp tỉnh
và 78 di tích cấp quốc gia Riêng di tích Cố đô Hoa Lư và quần thể danh thắng Tràng An
là di tích quốc gia đặc biệt, được UNESCO vinh danh Di sản Văn hóa, Thiên nhiên Thế
Trang 20giới Với nguồn tài nguyên văn hóa to lớn và đặc sắc, Ninh Bình đã thu hút rất nhiều khách đến tham quan
Di tích lịch sử và danh thắng của địa phương là nguồn tài nguyên du lịch có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch của quốc gia nói chung và của tỉnh Ninh Bình nói riêng Năm 2010, Ninh Bình đón trên 1 triệu lượt khách, tổng thu từ hoạt động du lịch năm 2010 đạt 122 tỷ đồng Sự tăng trưởng của “ngành công nghiệp không khói” đã có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, du lịch - dịch vụ, tạo việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch làm ảnh hưởng trực tiếp tới tình trạng bảo quản di tích Các nhà kinh doanh du lịch đã khai thác một cách bừa bãi các di tích hoặc phá hỏng không gian cảnh quan di tích để xây dựng các công trình phục vụ dịch vụ du lịch Các cơ
sở phục vụ du khách được xây dựng tràn lan, làm thay đổi diện mạo của di tích, danh thắng, làm biến mất vùng cảnh quan, vốn là nhân tố tạo sức hấp dẫn lớn đối với du khách
Do nhận thức của các bên tham gia vào hoạt động du lịch gồm cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân địa phương về giá trị của di tích lịch sử còn hạn chế, vì vậy, để phát triển du lịch bền vững cần phải quan tâm đến yếu tố bảo tồn trong khi khai thác các di tích lịch sử
Bên cạnh việc khai thác tài nguyên về du lịch, hoạt động tổ chức các lễ hội truyền thống gắn với các di tích lịch sử nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đồng thời, đây là hoạt động tâm linh thu hút đông đảo nhân dân ở các địa phương và du khách nước ngoài Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các ban, ngành có liên quan, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã quan tâm và chỉ đạo sát sao đến công tác tổ chức lễ hội gắn với các di tích lịch sử Chỉ thị số 02/2008/CT-UBND ngày 28/5/2008 về việc tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhằm chấn chỉnh những hạn chế trong hoạt động lễ hội, đảm bảo tổ chức lễ hội đúng pháp luật và hoạt động lễ hội thực sự là sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng lành mạnh của nhân dân
Trong hoạt động tổ chức lễ hội, các địa phương đã thành lập Ban tổ chức lễ hội, các tiểu ban hoạt động lễ hội, phân công rõ trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên Ban tổ chức lễ hội, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ở địa phương có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện các nội dung hoạt động của lễ hội Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức lễ hội gắn với các di tích cũng còn có những hạn chế như hiện tượng xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi
Trang 21trường quanh di tích, hiện tượng xâm lấn di tích, ý thức của du khách thập phương chưa cao trong việc gìn giữ các hiện vật trong di tích mặc dù đã được hướng dẫn…
Nhìn nhận vào thực tế, thông qua quá trình khai thác các di tích lịch sử gắn với hoạt động du lịch và tổ chức lễ hội truyền thống, có thể thấy: việc khai thác, phát huy giá trị của các di tích lịch sử đặt ra yêu cầu cần phải bảo tồn tốt các di tích này Mặt khác, trong quá trình khai thác, phát huy giá trị của các di tích lịch sử cũng xuất hiện những bất cập và tồn tại trong việc bảo tồn các di tích Đó là tình trạng xuống cấp, suy thoái của một
số di tích; việc trùng tu, sửa chữa chưa khoa học, làm biến dạng không gian và bản thân chính di tích đó; đó cũng là tình trạng biến dạng của một số lễ hội và sinh hoạt văn hóa, lạm dụng nghi lễ, nghi thức tôn giáo, sự thương mại hóa; gây quá tải tại một số khu di tích, làm ảnh hưởng đến môi trường quanh di tích Chính những hoạt động khai thác du lịch, tổ chức lễ hội này đã tác động ngược trở lại đến các di tích, do đó, cần phải bảo tồn
để giữ nguyên bản các di tích, giúp các di tích có thể phát huy được giá trị của nó
Đặc điểm nổi bật của di tích lịch sử ở Ninh Bình là rất đa dạng, phong phú về mặt loại hình (đình, đền, chùa, miếu, nhà cổ, di tích cách mạng, kháng chiến…) và chất liệu (gạch, đá, gỗ, tre, nứa, lá,…), trong đó, đa số là chất liệu hữu cơ, rất dễ bị biến dạng, nấm mốc, mối mọt, hư hỏng, xuống cấp, sụp đổ do thời tiết, độ ẩm, mưa bão, lũ lụt, đặc biệt là
sự biến đổi khí hậu trong nhiều năm gần đây Chính vì vậy, ngoài yếu tố về mặt chủ quan
là hoạt động của con người, về mặt khách quan, khí hậu và tự nhiên cũng là những yếu tố
có ảnh hưởng không nhỏ đến sự xuống cấp của các di tích
1.1.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn các di tích lịch sử
Di tích lịch sử là một một loại hình tài sản, chứa đựng những giá trị của một giai
đoạn lịch sử nhất định, của một cộng đồng, dân tộc, một vùng miền, đất nước Di sản văn hóa nói chung và hệ thống di tích lịch sử nói riêng là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng, là cốt lõi của bản sắc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Di tích lịch
sử là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của vùng miền đất nước và
do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người hiện đại
Nhận thức được tầm quan trọng về vai trò cũng như ý nghĩa to lớn của các di tích lịch sử, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và đưa ra các chủ trương về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trong từng giai đoạn, đáp ứng nhu cầu hội nhập của đất nước
Trang 22Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) tiếp tục khẳng định những quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa được nêu lên trong những văn kiện trước và nhấn mạnh tư tưởng phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội, là một trong những nhiệm vụ lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân “Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa…Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng và các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hóa, văn nghệ dân gian Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch” [44, tr 107] Như vậy, trong quan điểm cụ thể này, Đảng đã khẳng định vai trò và mục đích của việc phát huy, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa, đồng thời gắn việc phát triển văn hóa, bảo tồn các di tích lịch sử với phát triển kinh tế
xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế du lịch
Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 – 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31/7/2007 theo Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg đã đưa ra mục tiêu tổng quát là: Nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành; huy động sức mạnh của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển văn hóa, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, là động lực, là nhân tố góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 – 2010 có mục đích ngăn chặn nguy cơ xuống cấp các di tích lịch sử, thắng cảnh và sự hủy hoại của di sản văn hóa phi vật thể Bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích, thắng cảnh và vốn văn hóa phi vật thể để trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị, phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống văn hiến, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa của toàn xã hội nói chung và nhu cầu phát triển du lịch nói riêng
Chương trình cũng đã đặt ra một số chỉ tiêu cụ thể trong bảo tồn và phát huy các giá trị tiêu biểu của dân tộc như: đầu tư tu bổ, tôn tạo 70% di tích lịch sử cách mạng, 80%
di tích kiến trúc nghệ thuật, danh thắng được công nhận di tích cấp quốc gia; hỗ trợ xuống cấp khoảng 1.200 di tích khác được công nhận di tích cấp Quốc gia
Ngày 06/5/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 581/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” Ban hành theo quyết định này, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra chi tiết “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” Chiến
Trang 23lược đề ra nhiệm vụ quan trọng: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của chiến lược văn hóa Tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc…Kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững Điều tra, sưu tầm, xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tiêu biểu Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để bảo quản, giữ gìn lâu dài tài liệu, hiện vật tại các bảo tàng, cơ quan lưu trữ tư liệu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật ở Trung ương và địa phương…” [91, tr 18]
Về lĩnh vực bảo tàng, Chiến lược khẳng định: “Tất cả các hoạt động bảo tàng đều phải dựa trên các bộ sưu tập hiện vật gốc có giá trị tiêu biểu về các mặt lịch sử, văn hoá và khoa học; thường xuyên bổ sung tài liệu, hiện vật mới cho bảo tàng bằng nhiều hình thức khác nhau, kể cả việc mua các hiện vật, tài liệu quý hiếm Ứng dụng một cách hợp lý và
có hiệu quả các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới trong trưng bày và bảo quản tài liệu, hiện vật bảo tàng; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và thông tin tư liệu bảo tàng; nối mạng các bảo tàng từ Trung ương đến địa phương Chú trọng tính khoa học, tính hệ thống trong việc xây dựng “ngân hàng dữ liệu” về tài liệu, hiện vật bảo tàng Phấn đấu 50 - 70% số tài liệu, hiện vật quý hiếm trong bảo tàng tỉnh, 70
- 100% tài liệu, hiện vật quý hiếm trong bảo tàng quốc gia được tin học hoá đến năm 2015
và năm 2020” [91, tr 26]
Về lĩnh vực di tích, Chiến lược đưa ra nhiệm vụ: “Đầu tư đồng bộ bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu trở thành những di sản có chất lượng cao về khoa học bảo tồn và môi trường văn hoá, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế du lịch Triển khai việc quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hoà, bền vững giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hoá với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nhà nước tập trung đầu tư cho việc bảo tồn di tích quốc gia đặc biệt (đến năm 2015, 100% di tích được tu bổ, tôn tạo), di tích quốc gia (70% đến năm 2015 và 80% đến năm 2020) và làng, bản có những đặc trưng văn hoá tiêu biểu Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo tồn di tích; tạo cơ chế huy động các nguồn lực cho việc tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích” Ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, làm biến dạng môi trường cảnh quan, mất cắp
cổ vật; tạo môi trường văn hoá lành mạnh tại các di tích Tiếp tục lựa chọn những di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật toàn cầu để làm hồ sơ trình UNESCO đưa vào Danh mục Di sản Thế giới [91, tr 26, 27]
Trang 24Chỉ thị số 73/CT – BVHTTDL ngày 19/5/2009 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Để tăng cường công tác quản lý di tích và nâng cao chất lượng các hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chú trọng thực hiện 06 nhiệm vụ Trong đó, nhiệm
vụ trọng tâm là tăng cường kiểm tra công tác quản lý di tích, gắn trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể ở huyện, xã trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích; hướng dẫn
để những người hảo tâm cung tiến những đồ thờ phù hợp, không tiếp nhận các đồ thờ trái với tính chất của di tích Tăng cường giám sát chuyên môn để nâng cao chất lượng các dự
án tu bổ di tích (Xem Phụ lục 1)
Ngoài ra, Chỉ thị còn quy định trách nhiệm đối với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đặc biệt, đối với Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; tăng cường kiểm tra công tác quản lý bảo vệ và phát huy giá trị di tích và hoạt động tu bổ di tích trên cả nước; chỉ đạo, hướng dẫn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương thực hiện tốt công tác quản lý di tích và hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; phối hợp với các cơ quan có chức năng tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về lập, triển khai các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích để giúp địa phương nâng cao trình độ cán bộ thực hiện các
dự án tu bổ di tích; phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền phổ biến, giáo dục về di sản văn hóa và hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về giá trị di sản văn hóa, cũng như hiểu biết về việc bảo vệ, giữ gìn các yếu tố gốc cấu thành di tích…
Năm 2009, Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa
Chỉ thị số 16/CT – BVHTTDL ngày 03/02/2010 về việc tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích, Chỉ thị đưa ra 04 nội dung quan trọng, trong đó cần chú ý đến việc giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc có chức năng nhiệm vụ quản lý di tích trên địa bàn (Phòng Quản lý di sản văn hóa, Bảo tàng, Ban quản
lý di tích, Thanh tra) tăng cường công tác quản lý di tích (Xem Phụ lục 2)
Trang 25Như vậy, chiến lược phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước đã khẳng định rõ nhiệm vụ bảo tồn cũng như phát huy giá trị các di tích lịch sử và việc gắn kết việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch Đó
là cơ sở cho các ngành, các cấp liên quan có định hướng đúng trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa
1.1.1.3 Hoạt động bảo tồn di tích lịch sử ở tỉnh Ninh Bình trước năm 2006
Bảo tồn các di tích lịch sử là nội dung quan trọng, luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, nhất là từ sau khi Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Do tác động của khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn còn
để lại nhiều hậu quả, mặc dù đã được Nhà nước dành nhiều sự quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tuy nhiên, đời sống vật chất của nhân dân chưa được đảm bảo vì vậy, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nói chung đặc biệt là hệ thống các di tích lịch
sử còn nhiều hạn chế so với ý nghĩa và giá trị mà nó mang lại
Thấm nhuần các Nghị quyết của Trung ương trong lĩnh vực văn hóa nói chung, từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, việc xây dựng văn hóa, con người Ninh Bình, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trong đó có các di tích lịch sử luôn được chú trọng, thể hiện ở nội dung văn kiện các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh
Ngày 18/12/2001, Ban thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về phát triển du lịch đến năm 2010 Nghị quyết đã khẳng định Ninh Bình là một tỉnh có tiềm năng về du lịch với nhiều di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng như: Khu Tam Cốc - Bích Động, Cố đô Hoa Lư, quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, Vườn quốc gia Cúc Phương, Động Hoa Lư, Vân Trình, khu Vân Long
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, bước đầu nâng cấp cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng; sửa chữa, tôn tạo di tích, danh thắng phục vụ du lịch Ngành du lịch và mạng lưới du lịch được hình thành Hoạt động du lịch đạt được những hiệu quả bước đầu về kinh tế - xã hội Khách đến tham quan du lịch ngày một đông, doanh thu ngày một tăng; có đóng góp cho ngân sách Tuy vậy, kết quả hoạt động du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ; ngành du lịch và các hoạt động du lịch phát triển chậm, lúng túng trong phương hướng và tổ chức hoạt động kinh doanh, phục vụ, hiệu quả thấp; trật tự, vệ sinh môi trường ở các khu du lịch chưa được giải quyết tốt
Trang 26Để phát triển du lịch có hiệu quả, bền vững, tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, Tỉnh ủy đã đưa ra năm quan điểm sau:
Một là, phát triển du lịch phải quán triệt sâu sắc các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh
Hai là, phải thực sự coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh
tế của tỉnh Tập trung phát huy tiềm năng, lợi thế, huy động các nguồn lực, phát triển toàn diện kinh tế du lịch, vừa đầu tư, vừa khai thác, đa dạng hoá các loại hình du lịch (du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch lễ hội truyền thống, du lịch sinh thái, làng nghề…)
Ba là, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng Vì vậy phát triển kinh tế du lịch là nhiệm vụ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội và của toàn thể nhân dân trong tỉnh Cần khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào du lịch, có sự quản lý thống nhất của Nhà nước
Bốn là, phát triển kinh tế du lịch phải chú trọng hiệu quả kinh tế, xã hội đồng thời phải đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cảnh quan, di tích, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của quê hương, đất nước, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại
Năm là, tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác với các tỉnh bạn và nước ngoài để tạo thêm nguồn lực đẩy mạnh phát triển du lịch [98, tr 2]
Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy còn đưa ra mục tiêu cụ thể đối với từng giai đoạn:
“Giai đoạn từ 2001 – 2005: Tập trung xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách
ưu đãi đầu tư, tranh thủ mọi nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời đào tạo và thu hút đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài Hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và một số hạng mục chủ yếu thuộc khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, khu cố đô Hoa Lư, thị xã Ninh Bình từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch Kênh Gà - Vân Trình, Vân Long - Địch Lộng - Động Hoa Lư Lập dự án khả thi các khu du lịch: phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, hồ Yên Đồng, Yên Thắng, động Mã Tiên Khuyến khích thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái khu vực hồ Đồng Chương, du lịch tắm ngâm Cúc Phương; xây dựng, sửa
Trang 27chữa, nâng cấp một số cơ sở ăn nghỉ phục vụ khách Đa dạng hoá các loại hình du lịch, làm tốt các khâu dịch vụ, phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng để thu hút khách đến thăm quan du lịch ngày một tăng Phấn đấu đến năm 2005 đón được 1.000.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế 300.000 người Doanh thu đạt 100 tỷ đồng, nộp ngân sách
10 tỷ đồng Đảm bảo đời sống cho người lao động
Giai đoạn 2006 - 2010: Hoàn chỉnh tổng thể dự án khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư để tham gia kỷ niệm 1000 năm Hoa Lư - Thăng Long - Hà Nội Hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch khác như: Trung tâm thị xã Ninh Bình, phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, hệ thống hồ Yên Đồng, Yên Thắng, động Mã Tiên, động Trà Tu Tiếp tục nâng cao năng lực quản lý, tổ chức phục vụ thu hút khách, phấn đấu đến năm 2010 có đủ năng lực đón được 3 đến 4 triệu lượt khách, trong
đó có 1 triệu lượt khách quốc tế Doanh thu đạt khoảng 450 tỷ đồng, nộp ngân sách khoảng 40 tỷ đồng” [98, tr 3, 4]
Ngày 29/04/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Quyết định đưa ra 04 mục tiêu chủ yếu, từ đó làm căn cứ cho việc lập các quy hoạch chi tiết, các dự án, các chương trình bảo tồn, tôn tạo, phát huy hợp lý và có hiệu quả giá trị của khu di tích, làm
82/2003/QĐ-cơ sở tiến hành lập, thẩm định, phê duyệt các dự án và lập kế hoạch thực hiện, kêu gọi đầu
tư, huy động các nguồn vốn (Xem Phụ lục 3)
Về phạm vi quy hoạch và phân vùng:
Vùng bảo vệ đặc biệt có diện tích 300 ha gồm: Toàn bộ khu vực thành nội, thành ngoại; Các di tích lịch sử: Đền thờ và Lăng Vua Đinh, Vua Lê, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, bia Câu Dền, chùa Ngần, hang Bim, các đoạn trường thành, nền cung điện nằm dưới lòng đất, núi Mã Yên, núi Phi Vân, núi Cột Cờ, sông Sào Khê, Khu hang động Tràng An
Vùng đệm có diện tích 1087 ha, bao gồm: Động Am Tiên, hang Quàn, hang Muối, hang Luồn, động Liên Hoa, chùa Bàn Long, toàn thể cảnh quan hai bên sông Sào Khê, khu dân cư các thôn: Yên Hạ, Vàng Ngọc; các di tích liên quan trực tiếp đã được xếp hạng
Quyết định đã đề ra các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu trên đó là: Lập các
dự án khả thi cụ thể và theo thứ tự ưu tiên, thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý
Trang 28đầu tư và xây dựng; Xây dựng điều lệ quản lý các hoạt động trong khu di tích Cố đô Hoa
Lư Nguồn vốn để thực hiện bao gồm: vốn từ ngân sách Trung ương bố trí theo kế hoạch hàng năm; vốn từ ngân sách địa phương; vốn huy động sự đóng góp, đầu tư từ xã hội và các nguồn vốn hợp pháp khác
Quyết định quy định UBND tỉnh Ninh Bình có trách nhiệm chủ trì, phối hợp cùng với Bộ Văn hóa – Thông tin cùng các cơ quan có liên quan thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm:
Một là, tiếp tục triển khai việc nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, khai quật khảo cổ để xác định, bổ sung các căn cứ khoa học làm sáng tỏ hơn việc xếp hạng các di tích, khoanh vùng bảo vệ di tích, đánh giá đúng giá trị của các di tích và các công trình khác có liên quan tới khu di tích Trước mắt, cần có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời các hoạt động
vi phạm tới các di tích đã được xếp hạng và cảnh quan thiên nhiên thuộc các vùng bảo tồn
Hai là, trên cơ sở quy hoạch tổng thể được duyệt, nghiên cứu lập quy hoạch chi tiết các vùng bảo tồn, trong đó thể hiện rõ mối quan hệ giữa các hoạt động bảo tồn, tôn tạo di tích với phát triển kinh tế - xã hội bền vững nhằm bảo vệ di tích, phát huy giá trị di tích, đồng thời bảo đảm ổn định sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân Trước mắt ưu tiên đối với vùng bảo vệ đặc biệt, vùng đệm và các di tích có liên quan trực tiếp với Cố đô Hoa Lư đã được xếp hạng
Ba là, căn cứ quy hoạch chi tiết của từng vùng nêu trên, tiến hành lập, thẩm định, phê duyệt các dự án thành phần theo qui định hiện hành Đối với mỗi dự án, thành phần cần lưu ý việc lựa chọn chủ đầu tư, xác định nguồn vốn cho hợp lý Ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung đầu tư cho vùng bảo vệ đặc biệt, vùng đệm và các di tích có liên quan trực tiếp đến Cố đô Hoa Lư; có các biện pháp huy động sự đóng góp sức người, sức của của nhân dân trong việc giữ gìn, bảo vệ, đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích
Bốn là, nghiên cứu và ban hành điều lệ, quy chế quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng, các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội trên toàn địa bàn khu di tích và trong từng vùng cụ thể [87, tr 4]
Giai đoạn trước năm 2006, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và thực hiện của UBND tỉnh Ninh Bình, hoạt động văn hóa xã hội được quan tâm đã đạt được những kết quả nhất định Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đánh giá trong bối cảnh có nhiều thuận lợi cơ bản Đảng bộ tỉnh đã đạt được những thành tựu bước đầu trên lĩnh vực văn hóa
Trang 29Kết quả thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII) về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” và Kết luận Hội Nghị Trung ương 10 (khóa IX) đã tạo nên sự chuyển biến rõ nét trên các lĩnh vực hoạt động Công tác bảo tồn, bảo tàng, phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc đạt nhiều kết quả…Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết XIV về du lịch, dịch vụ, xuất khẩu được triển khai và bước đầu đạt kết quả Tỉnh đã xây dựng được quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trên địa bàn, tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, đầu tư cơ sở hạ tầng, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch; lượng khách du lịch đến Ninh Bình ngày một tăng, trong
đó khách nước ngoài tăng 59% Các dự án du lịch trọng điểm như: Tràng An, Tam Cốc – Bích Động, hồ Đồng Chương, hồ Yên Thắng, khu du lịch sinh thái Vân Long được tập trung chỉ đạo, xây dựng, thu hút doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đầu tư và khai thác
Đặt trong tình hình thực tế, Ninh Bình vẫn là một tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp,
cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế, những quan điểm của Đảng bộ tỉnh cùng những nhiệm
vụ, phương hướng được đặt ra trên lĩnh vực văn hóa là những nỗ lực, cố gắng đáng ghi nhận Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác bảo tồn các di tích lịch sử đã đạt được một số thành tựu, thu hút ngày càng đông đảo sự tham gia của các cấp chính quyền, nhân dân trong tỉnh, khẳng định đường lối, quan điểm của Đảng bộ tỉnh là đúng đắn
Nhằm giúp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về lịch sử, văn hóa địa phương và có nguồn tài liệu chính thống phục vụ công tác nghiên cứu, Đảng bộ tỉnh đã chủ trương yêu cầu các huyện, xã tiến hành biên soạn và xuất bản lịch sử Đảng bộ các xã, huyện Tiến hành bổ sung, sưu tầm hiện vật cho bảo tàng tỉnh Ninh Bình được hoàn thiện
Từ đó, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử của địa phương trong điều kiện mới
Để góp phần khơi dậy nét đẹp văn hóa truyền thống của nhân dân, các dân tộc trên địa bàn tỉnh, các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đã chú trọng lãnh đạo nhân dân thực hiện Phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Các hoạt động văn hóa ở cơ sở ngày càng phong phú, đa dạng, góp phần nâng cấp đời sống tinh thần của nhân dân Các di tích lịch sử bảo tồn, trùng tu, tôn tạo nhằm phục vụ tốt hơn đối với công tác giáo dục truyền thống cho nhân dân trên địa bàn tỉnh
Trên cơ sở tiếp thu và quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam của Đảng đã thực hiện chương trình chống xuống cấp di tích, công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích đã được chú trọng và
Trang 30đầu tư nước đầu có hiệu quả, trọng điểm Công tác khảo cứu, xếp hạng di tích bước đầu tạo cơ sở pháp lý ngăn chặn các hiện tượng vi phạm di tích và phát động quần chúng tham gia bảo vệ di tích Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có 125 di tích được xếp hạng, trong đó có
47 di tích cấp tỉnh và 78 di tích cấp quốc gia [31, tr 291]
Tuy nhiên, trước năm 2006, Ninh Bình cơ bản vẫn là một tỉnh nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Vì vậy, trong chủ trương phát triển, Đảng bộ tỉnh nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là tập trung phát triển kinh tế
- xã hội và tăng cường công tác xây dựng Đảng Trong công tác văn hóa nói chung, Đảng
bộ tỉnh Ninh Bình mới chỉ đề cập đến một cách khái quát, hoạt động bảo tồn các di tích lịch
sử còn ít được nhấn mạnh, chưa có văn bản ban hành về các quy chế hướng dẫn bảo tồn các
di tích lịch sử cụ thể Giá trị tinh thần to lớn của các di tích lịch sử chưa được nhận thức đầy đủ, điều này dẫn tới hệ quả là công tác quản lý, bảo tồn các di tích lịch sử còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là sự lỏng lẻo, thiếu đồng bộ…khó tạo được mối tương thích giữa bảo tồn và phát triển, nguy cơ hủy hoại di tích, gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân Một số hạn chế còn tồn tại cụ thể như sau:
Một là, các di tích lịch sử như đình, đền, chùa, miếu… vẫn chưa thực sự phát huy
hết vai trò quan trọng của mình, chưa thực sự nhận được sự quan tâm của quần chúng nhân dân và sự đầu tư có trọng điểm của tỉnh Các di tích lịch sử chưa nằm trong quy hoạch di tích lịch sử cần được bảo tồn và gìn giữ của tỉnh Đa số các di tích vẫn thuộc quyền quản lý của địa phương, điều này dẫn đến thực trạng các di tích lịch sử này hoặc do thiên tai hoặc do sự vô ý của con người, sự thờ ơ chưa quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương đã bị hủy hoại Quần chúng nhân dân chưa thật sự quan tâm và đi sâu cũng như chưa nhận thức được giá trị của di tích để bảo tồn và phát huy giá trị của chúng Tại các di tích có tổ chức các hoạt động lễ hội, nhiều nơi còn lỏng lẻo trong khâu
tổ chức dẫn đến hiện tượng mê tín, dị đoan, công tác bảo vệ môi trường quanh các di tích chưa được sát sao
Hai là, trong việc bảo tồn và trùng tu di tích, còn tồn tại một số hạn chế: việc thiết
kế thêm các công trình trong vùng di tích, việc bê tông hóa trong khu di tích, việc sơn sửa lại di tích bằng những vật dụng không đảm bảo chất lượng dẫn đến nhiều di tích bị biến dạng, không gian gốc của di tích bị phá vỡ Hệ quả là chúng ta không chỉ mất đi tính nguyên vẹn, sơ khai của một số di tích mà các thế hệ trẻ tương lai sau này cũng không còn
cơ hội để lưu giữ và tìm lại những di tích đó Khi đã phá hỏng và làm mới di tích, việc
Trang 31phục dựng nguyên trạng sẽ khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều Đó là hậu quả của việc trùng tu di tích quá lớn, hoặc tự phát, người thực hiện việc trùng tu di tích lại không đủ trình độ và kinh nghiệm, do quá trình nhận thức về di tích của mỗi địa phương và ý thức của người dân
Ba là, đội ngũ cán bộ quản lý di tích có trình độ chuyên môn chưa cao, chưa đáp
ứng được yêu cầu của nhiệm vụ Đội ngũ chuyên gia văn hóa mỏng, tình trạng kiêm nhiệm còn diễn ra phổ biến Mô hình quản lý di tích cũng thiếu tính thống nhất, công tác quản lý các dịch vụ văn hóa chưa chặt chẽ vì vậy về chức năng, chế độ, chính sách, nội dung và kinh phí hoạt động của ban quản lý các di tích chưa đạt hiệu quả cao Khâu giám sát việc quản lý, bảo tồn và trùng tu di tích vẫn còn nới lỏng Việc xây dựng nếp sống văn minh ở các khu du lịch, khu di tích văn hóa chưa được quan tâm đúng mức Các văn bản chỉ đạo, lãnh đạo việc bảo tồn các di tích lịch sử còn hạn chế và chưa cụ thể
Bốn là, công tác tuyên truyền, giới thiệu các di tích lịch sử nói riêng và các di sản
văn hóa nói chung trên địa bàn tỉnh còn chưa phổ biến, chưa có nhiều sự đầu tư về quảng
bá hình ảnh trên phạm vị cả nước cũng như quốc tế Khai thác và phát huy giá trị các di tích lịch sử vào mục đích thương mại, du lịch còn thấp, chưa đánh giá và nhận thức được hết các tiềm năng, lợi thế du lịch của tỉnh, mặc dù Ninh Bình là một trong những địa phương có mật độ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cao
Năm là, công tác giáo dục về truyền thống lịch sử đối với thế hệ trẻ trên địa bản
tỉnh nói riêng cũng chưa nhận được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao Đây là một hoạt động quan trọng và có ý nghĩa rất lớn trong việc gìn giữ, phát huy, bảo tồn các di tích lịch sử cũng như việc khơi dậy niềm tự hào đối với thế hệ trẻ về một vùng đất linh thiêng, vùng đất địa linh, nhân kiệt
Những hạn chế trên đòi hỏi phải được khắc phục trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ địa phương Đó cũng là những khó khăn của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ
Những chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo tồn các di tích lịch sử chính là cơ
sở để Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đề ra chủ trương và sự chỉ đạo trong bảo tồn các di tích lịch
sử từ năm 2006 đến năm 2010
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình luôn quan tâm đến công tác bảo tồn cũng như phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ
Trang 32XIX (2006) đã tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV; quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu trong 5 năm (2006 – 2010) nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng tỉnh Ninh Bình giàu, đẹp, văn minh
Tại Đại hội đại biểu lần thứ XIX, Nguyễn Phú Trọng - Ủy viên Bộ Chính trị đã nhấn mạnh: “Có biện pháp mạnh hơn nữa để phát triển du lịch, dịch vụ, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh về cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh trên địa bàn” [99, tr 16] Như vậy, trong chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, Đảng
bộ tỉnh cần chú trọng trong việc khai thác các thế mạnh của tỉnh về tài nguyên du lịch, dịch vụ Để khai thác có hiệu quả các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh việc bảo tồn các di tích lịch sử cũng cần phải được quan tâm, bởi bảo tồn tốt mới phát huy và khai thác được các giá trị của các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh
Báo cáo chính trị tại Đại hội đã đưa ra phương hướng chung phát triển đó là:
“Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, khai thác và huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa – xã hội toàn diện, vững chắc; tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, giảm các tai, tệ nạn xã hội; tăng cường công tác quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm và năng lực chỉ đạo điều hành, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, các cấp, xây dựng
cơ cấu kinh tế: Công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, phấn đấu chỉ tiêu GDP tính theo đầu người đạt mức bình quân chung của các tỉnh đồng bằng sông Hồng” [99, tr 58]
Đại hội đưa ra các nhiệm vụ quan trọng để thực hiện phương hướng chung Đặc biệt, về kinh tế - xã hội, nhiệm vụ được đề ra là: Thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ, du lịch và xuất khẩu để khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh Xác định kinh tế du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, Ninh Bình chủ trương xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch, phấn đấu đến năm 2010, doanh thu du lịch đạt 350 tỷ đồng Để thực hiện nhiệm vụ này cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung chính sách để thu hút các nguồn vốn của các tổ chức và cá nhân đầu
tư xây dựng, sửa chữa, tôn tạo các di tích, danh thắng Xây dựng, bảo tồn, tôn tạo và phát
Trang 33huy giá trị lịch sử - văn hóa của Cố đô Hoa Lư Kêu gọi đầu tư, tập trung xây dựng khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, khu du lịch Tràng An thành điểm nhấn của du lịch tỉnh Trong lĩnh vực văn hóa nói chung, Đảng bộ tỉnh đã nhấn mạnh, tập trung đến hướng phát triển
du lịch, khai thác các di tích lịch sử là thế mạnh của tỉnh, từ đó, xây dựng và thực hiện các
kế hoạch bảo tồn, tôn tạo các di tích của địa phương
Nhằm thực hiện tốt Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ 10 BCHTW Đảng khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII)
về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Đảng bộ tỉnh đã đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, quản lý chặt chẽ các hoạt động xuất bản, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của địa phương; trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa; triển khai thực hiện Quyết định số
82 – QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo
và phát huy khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư Hoàn thành xây dựng quảng trường và tượng đài Đinh Tiên Hoàng Đế, chuẩn bị các điều kiện phục vụ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long theo kế hoạch của Chính phủ Hoàn thành xuất bản cuốn Địa chí Ninh Bình” [99, tr 74]
Trong việc thực hiện mục tiêu về lĩnh vực văn hóa nói chung, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIX đã đề ra nhiệm vụ về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa với các nội dung quan trọng như:
Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách của tỉnh trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa Giải quyết hài hòa giữa bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, các loại hình nghệ thuật truyền thống gắn với phát triển du lịch
Tiếp tục thực hiện các nghiên cứu cơ bản, chuyên sâu về di sản văn hóa vật thể, phi vật thể trên địa bàn, phục vụ cho công tác giáo dục lịch sử, văn hóa, truyền thống đấu tranh cách mạng, xây dựng quê hương, phục vụ công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trong quá trình xây dựng văn hóa, con người Ninh Bình đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Nghiên cứu lập hồ sơ khoa học đối với những di sản văn hóa tiêu biểu đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích cấp quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
Thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, di tích cách mạng, kháng chiến, giá trị các loại hình nghệ thuật truyền thống tiêu
Trang 34biểu của địa phương như hát chèo, hát xẩm, hát chầu văn…Phát huy giá trị di sản văn hóa
và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An Khuyến khích các nghệ nhân, những người nắm giữ các giá trị văn hóa phi vật thể, kỹ nghệ truyền thống truyền dạy cho thế hệ trẻ nhằm khôi phục và phát triển các loại hình văn hóa, văn nghệ, truyền thống tạo
ra các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ mang đặc trưng của địa phương phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh
Đây là những chủ trương quan trọng mang tính định hướng bao quát và thể hiện sự quan tâm sát sao đến việc bảo tồn hệ thống di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Chủ trương đã cho thấy, Đảng bộ tỉnh đã nhận thức được vai trò của việc bảo tồn di tích với khai thác, phát huy giá trị di tích đối với giáo dục truyền thống, lịch sử, đặc biệt là chú ý đến khai thác có hiệu quả di tích trong phát triển kinh tế - xã hội nhất là ngành du lịch của tỉnh
Từ năm 2006 đến năm 2010, với phương hướng chiến lược là đưa du lịch thành nền kinh tế mũi nhọn, nhất là du lịch lịch sử, du lịch tâm linh, Đảng bộ đã quan tâm sát sao đến công tác bảo tồn các di tích Đây là hướng đi đúng đắn, phù hợp, tầm nhìn sâu rộng của Đảng bộ, bởi muốn khai thác, phát huy được giá trị của các di tích thì cần phải bảo tồn di tích, bảo tồn tốt để phát triển
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ
1.2.1 Chỉ đạo kiểm kê, xếp hạng các di tích
Kiểm kê di tích là một khâu công tác có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động bảo tồn di tích, nó gắn liền với các hoạt động khác và tạo ra một tổng thể hoàn chỉnh đảm bảo những nhiệm vụ cơ bản của bảo tồn di tích là gìn giữ các di tích lịch sử Mục đích của việc kiểm kê là nắm được số lượng và giá trị của các loại hình di tích lịch
sử, trên cơ sở đó có kế hoạch bảo vệ, bảo quản, tu bổ, tôn tạo, sử dụng vào mục đích giáo dục truyền thống và phục vụ nghiên cứu khoa học Từ đó, xác định tính pháp lý bảo vệ di tích, quy định trách nhiệm và phân cấp quản lý cho các cơ quan bảo vệ di tích Để việc kiểm kê di tích đạt chất lượng cao cần nắm vững cơ sở lý thuyết về bảo tồn di tích như một khoa học chuyên ngành Xác định và hiểu rõ di tích lịch sử là gì, vấn đề phân loại loại hình và các di tích, đặc trưng cơ bản của từng loại hình và loại di tích
Xếp hạng di tích là quá trình nghiên cứu, đánh giá những giá trị tiêu biểu của di tích, trên cơ sở đó tạo cơ sở pháp lý cho di tích ở các cấp độ khác nhau tùy thuộc vào giá trị của đối tượng để tiến hành bảo vệ, bảo quản, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị phục vụ
xã hội [47, tr 99] Việc xếp hạng di tích nhằm tạo cơ sở pháp lý, tạo quyền bất khả xâm
Trang 35phạm cho di tích; xác định mức độ giá trị của từng di tích để có định hướng hoạt động tu
bổ, tôn tạo, khai thác sử dụng di tích có hiệu quả
Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm kê, xếp hạng các di tích lịch sử, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã thống nhất, quán triệt quan điểm và chỉ đạo các cấp có liên quan thực hiện nghiêm túc Luật sửa đổi, bổ sung Luật di sản văn hóa Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và việc thực hiện của các ban, ngành liên quan, việc phân loại, xếp hạng của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận
Đến cuối năm 2006, trên địa bàn tỉnh có tổng số 146 di tích được xếp hạng, trong
đó có 68 di tích cấp thành phố và 78 di tích cấp quốc gia [31, tr 291] Lĩnh vực dịch vụ du lịch gắn với việc khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích lịch sử trên địa bàn được chú trọng, quan tâm và đầu tư
Đến cuối năm 2007, trên địa bàn toàn tỉnh có 166 di tích được xếp hạng, trong đó
có 88 di tích cấp tỉnh, 78 di tích cấp quốc gia [31, tr 291] Phân loại theo di tích gồm: 1 di tích thắng cảnh, 150 di tích lịch sử, 15 di tích kiến trúc nghệ thuật Tại các di tích lịch sử được tổ chức nhiều các hoạt động lễ hội, tín ngưỡng đúng quy định đã thu hút được hàng vạn khách thập phương về thắp hương và tham quan các điểm di tích lịch sử, du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh
Năm 2008, số di tích được xếp hạng đã tăng lên 189 di tích, trong đó có 111 di tích cấp tỉnh và 78 di tích cấp quốc gia [31, tr 291] Số lượng các di tích được xếp hạng ngày càng tăng lên thể hiện sự nỗ lực, cố gắng, phấn đấu của Sở Văn hóa Thể thao nói chung
và của các cán bộ của Phòng quản lý di sản nói riêng Cũng trong năm 2008, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Ninh Bình và Hội Di sản Văn hóa Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo “Giá trị di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư và khu du lịch sinh thái Tràng An” Quần thể danh thắng Tràng An được tỉnh Ninh Bình xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản Thế giới Đến cuối năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh có 214 di tích được xếp hạng, trong đó có 136 di tích cấp tỉnh, 78 di tích cấp quốc gia [31, tr 291]
Năm 2010, dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức và nhiều các hoạt động lớn diễn
ra nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự cố gắng của chính quyền, sự phối hợp có hiệu quả của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh, các đoàn thể từ Tỉnh, Thành phố đến các cơ sở và sự ủng hộ của nhân dân đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, vượt khó khăn hoàn thành các mục tiêu cơ bản đã
đề ra Tính đến hết năm 2010, số di tích trên địa bàn tỉnh được xếp hạng tăng lên đáng kể
Trang 36gồm 238 di tích (năm 2005 là 125 di tích) trong đó có 160 di tích cấp tỉnh và 78 di tích cấp quốc gia [35, tr 334]
Thực hiện Luật Di sản văn hóa và hướng dẫn của Cục Di sản văn hóa, từ năm
2006 đến 2010, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng Văn hóa - thông tin các huyện, thị xã, thành phố tiến hành tổng kiểm kê các di tích trên địa bàn tỉnh Nội dung kiểm kê toàn diện trên tất cả các mặt: số lượng di tích, loại hình di tích, nhân vật thờ cúng, khảo tả sơ lược di tích, hiện vật, niên đại , thống kê các di sản văn hóa phi vật thể, kiểm
kê chuyên sâu về lễ hội truyền thống Trên cơ sở kết quả kiểm kê, Sở đã tiến hành phân loại, nghiên cứu sơ bộ về tổng thể di tích trên địa bàn tỉnh, xác định các di tích lịch sử có tiềm năng khai thác du lịch
1.2.2 Chỉ đạo tôn tạo, tu bổ, phục hồi các di tích
Xác định công tác bảo tồn, tôn tạo và tu bổ các di tích lịch sử là một nhiệm vụ trọng tâm, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã giao cho ngành văn hóa lựa chọn và thực hiện những phương án để bảo tồn, tôn tạo và tu bổ các di tích lịch sử, vừa đảm bảo được giá trị của di tích, vừa đảm bảo được ý nghĩa giáo dục cho thế hệ trẻ, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là kinh tế du lịch của tỉnh
Năm 2006, được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của Tỉnh ủy, HĐND bám sát các mục tiêu và nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng và địa phương, UBND tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo các ngành chức năng thực hiện nghiêm túc và đầy đủ theo Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Về quan điểm bảo tồn các di tích được quy định rõ: việc bảo tồn các di tích phải đảm đảm bảo tính trung thực của lịch sử hình thành các di tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phải giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi những yếu tố cấu thành của di tích, đảm bảo tính nguyên gốc của di tích Bảo tồn phải gắn với phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan, nhất là các ngành du lịch, giao thông công chính, xây dựng Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhằm đặt cơ sở pháp lý và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành và địa phương Tạo lập sự hài hoà giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa với bảo vệ các di tích; ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất đai
và xây dựng các công trình không phù hợp trong các khu vực bảo vệ của di tích Nâng cao
Trang 37vai trò quản lý của Nhà nước, thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích Huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích [16, tr 1]
Khi thực hiện việc tu bổ, chống xuống cấp các công trình di tích phải lập dự án trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, đánh giá toàn diện các giá trị di tích gốc Tôn tạo và giữ gìn bằng mọi biện pháp các thành tố nguyên gốc của di tích; hạn chế tối đa mọi sự thay thế, nhất là thay thế bằng chất liệu và vật liệu mới, giải pháp ưu tiên là bảo quản, gia cố và
tu bổ di tích Việc khôi phục các di tích đã bị mất phải dựa trên cơ sở các tài liệu khoa học xác thực và chỉ thực hiện trong những trường hợp cần thiết Việc sử dụng chất liệu bền vững để thay thế chất liệu dễ hư hỏng trong khôi phục di tích phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đảm bảo tính xác thực đối với di tích và cần được phân biệt rõ với chất liệu gốc Trong tu bổ, chống xuống cấp di tích ưu tiên vận dụng các quy trình và các kỹ thuật thi công truyền thống; sử dụng các chất liệu và vật liệu truyền thống phù hợp với di tích Các chất liệu, vật liệu và cấu kết mới chủ yếu được sử dụng trong bảo quản gia cố Việc tu bổ, chống xuống cấp di tích phải tuân thủ quy trình sau: Nghiên cứu tư liệu và khảo sát hiện trạng (kể cả việc nghiên cứu thám sát và khai quật khảo cổ) - xây dựng dự án và thiết kế
kỹ thuật, dự toán - thẩm định, phê duyệt - thi công dưới sự giám sát của nhà chuyên môn
và duy trì nhật ký công trình - nghiệm thu - hoàn chỉnh hồ sơ tu bổ
Trong việc tôn tạo di tích: Tôn tạo di tích là nhằm tạo điều kiện làm nổi bật các mặt giá trị của di tích và tôn tạo ra môi trường cảnh quan hài hoà với di tích đó Việc tôn tạo di tích bao gồm các công việc như:
Quy hoạch các tuyến đường tham quan, đi lại trong khu di tích phải phù hợp với tính chất lịch sử của di tích Sử dụng những hình thức chiếu sáng truyền thống phù hợp với di tích và chỉ đạo lập hệ thống chiếu sáng hiện đại khi thực sự cần thiết, không làm ảnh hưởng tới giá trị thẩm mỹ của di tích
Các công trình phụ trợ được phép xây dựng, nhưng phải nằm ngoài khu vực bảo vệ
di tích bao gồm: nhà trưng bày bổ sung di tích, nhà tiếp khách và nhà ban quản lý, trạm điện, hệ thống phòng, chống cháy, hệ thống thu gom rác thải Vị trí các công trình này không được ảnh hưởng tới cảnh quan khu di tích Hạn chế xây dựng nhà trưng bày bổ sung ở di tích Trong trường hợp cần phải có thì nội dung trưng bày chỉ giới hạn trong phạm vi những sự kiện và tài liệu trực tiếp liên quan tới di tích
Trang 38Các công trình phục phục vụ như bãi đỗ xe, bến thuyền, quán ăn uống, giải khát, công trình vệ sinh, cửa hàng bán hàng lưu niệm bố trí tách biệt khỏi các khu vực bảo vệ của di tích, không được gây ô nhiễm môi trường, phù hợp với cảnh quan chung của di tích
Các tượng đài có thể được xây dựng ở các di tích lịch sử cách mạng để ghi dấu sự kiện chiến thắng bằng hình thức kiến trúc - điêu khắc hoành tráng kết hợp hình khối kiến trúc, phù điêu - tượng tròn - vườn hoa Vị trí tượng đài phải ở khu di tích có diện tích lớn, đặt ở khu vực thích hợp và không làm ảnh hưởng đến di tích gốc
Việc bảo quản tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích được Đảng bộ tỉnh chỉ đạo thực hiện theo đúng Luật di sản văn hóa 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 Điều 34 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa đã xây dựng quy định về việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Công việc này được tiến hành cần phải bảo đảm các yêu cầu như: Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích Đối với di tích cấp tỉnh, phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch cấp tỉnh; đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các quy hoạch, dự án đã được phê duyệt tại địa phương nơi có di tích cần được công khai
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy chế bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và quy chế cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề, chứng chỉ hành nghề cho các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này
Như vậy, các quan điểm và nguyên tắc trong việc chỉ đạo thực hiện tu bổ, chống xuống cấp, tôn tạo di tích được các cấp, ban, ngành quy định rõ và chi tiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện các nội dung cụ thể của việc bảo tồn các di tích lịch sử của Ninh Bình
Năm 2007, tỉnh Ninh Bình đã tích cực chỉ đạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng trong việc xây dựng, tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử và nơi thờ tự Một phần kinh phí được nhân dân quyên góp, công đức dùng để tôn tạo, tu bổ các di tích lịch sử đã đẩy nhanh tiến độ quy hoạch và chuẩn bị đầu tư tôn tạo các di tích trọng điểm cấp quốc gia
Ngày 10/10/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1470/QĐ-TTg
Về việc phê duyệt đề cương các hoạt động tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà
Trang 39Nội và Đại lễ kỷ niệm Đề cương đã phác thảo các nội dung hoạt động tiêu biểu như: công tác tuyên truyền – giáo dục, quảng bá; các công trình chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; tổ chức các hoạt động, sự kiện theo các mốc thời gian đếm ngược tiến tới Đại lễ kỷ niệm từ 2008 đến 2010…Quyết định đã phát động các đợt thi đua lao động sáng tạo và xây dựng đời sống văn hoá, thanh lịch, văn minh tại các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể và các địa phương trong cả nước Nội dung của Đề cương cũng vận động nhân dân và các tổ chức đóng góp công sức tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, các công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Đề cương còn nhấn mạnh việc tổ chức giới thiệu các giá trị nghệ thuật tiêu biểu của địa phương, đơn vị các làng nghề, sản phẩm của làng nghề thủ công truyền thống vào dịp Đại lễ kỷ niệm, đồng thời trưng bày giới thiệu tư liệu, di vật, cổ vật liên quan đến quá trình hình thành phát triển của các vùng đất địa phương của tỉnh, thành phố: Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Huế, Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh
Nình Bình cùng các tỉnh Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Phú Thọ và Thành phố Hồ Chí Minh được giao nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch, công trình hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hưởng ứng Đại lễ, các địa phương trong tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bằng các việc làm thiết thực, phù hợp với tình hình địa phương và nhiệm vụ chính trị đặt ra như: đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng nông thôn mới, xây dựng các vùng rau sạch an toàn, tu bổ các di tích lịch sử, bảo tồn các giá trị văn hoá
Các công trình được Chính phủ đầu tư như vùng bảo vệ đặc biệt Khu di tích lịch sử
Cố đô Hoa Lư, Khu tâm linh núi chùa Bái Đính, Khu du lịch sinh thái Tràng An, dự án xây dựng Quảng trường, tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế, dự án nạo vét, xây kè, bảo tồn cảnh quan sông Sào Khê… Nhiều công trình hoàn thành nằm trong vùng bảo vệ đặc biệt Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư; các chùa Tam thế, Pháp chủ, Tháp chuông của Khu tâm linh núi chùa Bái Đính đã được đưa vào khai thác, góp phần lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc; thu hút đông lượng khách trong và ngoài nước đến thăm quan
Là nơi khởi phát của 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa
Lư có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân tỉnh Ninh Bình nói riêng, cả nước nói chung Do vậy, các công trình văn hoá, du lịch nằm trong khu vực Cố
Trang 40đô Hoa Lư được Trung ương coi đó là một trong những vùng bảo vệ đặc biệt và đang quan tâm, tích cực chỉ đạo tu bổ, tôn tạo các hạng mục hạ tầng liên quan nhằm phục vụ cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội được tổ chức vào năm 2010.
Theo kế hoạch, việc tu bổ, tôn tạo để bảo tồn Khu di tích Cố đô Hoa Lư và phục
vụ cho các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội sẽ tập trung vào 5 hạng mục công trình chính, đó là dự án xây dựng hệ thống giao thông đường bao, hào nước; xây dựng cổng chốt phía Đông, phía Nam, phía Bắc ở khu trung tâm; dự án đầu tư nghiên cứu và khai quật khảo cổ học Khu di tích; dự án tu bổ, tôn tạo một số di tích lịch sử - văn hoá đã được xếp hạng di tích Quốc gia và một số di tích chưa được xếp hạng trong vùng bảo vệ đặc biệt này; dự án xây dựng chợ Trường Yên
Ngoài khu trung tâm, trong vùng bảo vệ đặc biệt Cố đô Hoa Lư còn một số di tích lịch sử đã được xếp hạng di tích Quốc gia và chưa được xếp hạng gồm 13 di tích cũng được quan tâm chỉ đạo và khẩn trương tu bổ, tôn tạo Một số di tích như chùa Nhất Trụ, đền thờ công chúa Phất Kim được đầu tư, tôn tạo, bảo tồn, cơ bản hoàn thành Các di tích khác như đền thờ, lăng vua Đinh, vua Lê, động Am Tiên, chùa và động Liên Hoa, nhà che bia cầu Dền, chùa Đìa, đền Vực Vông, đền Bim, chùa Thủ tiếp tục được đầu tư, thi công các hạng mục
Dự án bảo tồn, tu bổ, tôn tạo các công trình văn hoá, du lịch nằm trong vùng bảo
vệ đặc biệt Cố đô Hoa Lư có một ý nghĩa quan trọng, tạo diện mạo mới, khang trang, sạch đẹp, tôn kính, xứng tầm của khu di tích đặc biệt và vinh danh lịch sử với công lao dựng nước và giữ nước của các đời vua
Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác trùng tu, tôn tạo và bảo tồn các di tích, vốn đầu tư tôn tạo từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt là nguồn vốn xã hội hóa Bên cạnh
đó, các lễ hội truyền thống diễn ra gắn với các di tích lịch sử đã thu hút đông đảo các tổ chức, cá nhân, đơn vị đến với lễ hội góp phần tăng thêm nguồn công đức để phục vụ cho việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử
Để bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa lịch sử của tỉnh, từ năm 2006 đến năm 2010 Đảng bộ tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, đầu tư các dự án để tôn tạo, tu bổ các di tích Thông qua công tác tôn tạo, bảo tồn, nhiều hạng mục đã được thi công, tạo nên diện mạo mới, khang trang, sạch đẹp Năm 2006, dự án đầu tư nghiên cứu và khai quật khảo cổ học Khu di tích Cố đô Hoa Lư với mức đầu tư trên 30 triệu đồng; Dự án tu bổ, tôn tạo Khu di tích Cố đô Hoa Lư được phê duyệt vào năm 2005 với 8 hạng mục chính: gồm Chùa Nhất