Những điểm mới và đóp góp chính của luận án gồm có: - Là công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu về khu hệ cá biển ven bờ và nghề cá của tỉnh Bình Thuận; - Các giải pháp đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thành Nam
NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ BIỂN VEN BỜ TỈNH BÌNH THUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC HỢP LÝ, BẢO VỆ NGUỒN LỢI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thành Nam
NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ BIỂN VEN BỜ
TỈNH BÌNH THUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC HỢP LÝ, BẢO VỆ NGUỒN LỢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thành Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cố GS.TS Vũ Trung Tạng, người thầy đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn tôi trong cuộc sống và trong suốt thời gian tiếp cận nghiên cứu khoa học, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ và nay là bản luận án này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Xuân Huấn, người đã chân tình giúp đỡ và chỉ dẫn tôi trong quá trình học tập và công tác tại Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Một lời cảm ơn chân thành xin được gửi tới PGS.TS Lê Thu Hà, Chủ nhiệm
Bộ môn Động vật có xương sống cùng các cán bộ trong Bộ môn và Phòng thí nghiệm Sinh thái học và Sinh học Môi trường cũng như Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện và có những nhận xét, trao đổi khoa học cũng như giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác và hoàn thành nghiên cứu này
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được những lời nhận xét và chỉ dẫn khoa học của GS.TS Mai Đình Yên, GS.TS Lê Vũ Khôi cùng các chuyên gia trong lĩnh vực Động vật học và Sinh thái học Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm tạ chân thành đến những sự giúp đỡ quý giá ấy
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Todd William Miller đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Biển (CMES), Đại học Ehime, Nhật Bản
Trong quá trình trở về Bình Thuận thu thập mẫu vật và tài liệu, tôi đã được các cán bộ của Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận, Sở Thủy sản (trước đây), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài Nguyên
và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể Thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận cùng Ban Quản
lý các bến cá tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành công việc Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những sự giúp đỡ quý báu ấy, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt thành của KS Huỳnh Quang Huy, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận và KS Nguyễn Nhất Bảo Quốc, Phó trưởng phòng Quản lý Khoa học, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Thuận
Tôi cũng xin cảm ơn chú Nguyễn Định cùng các anh em Lớn, Tàu anh, Tàu
em trên tàu BT99055TS; chú Phan Chín cùng các anh em trên tàu BT98774TS đã nhiệt tình giúp đỡ và chăm sóc tôi những lúc say sóng trong quá trình khảo sát và thu mẫu trên biển
Trang 5Xin cảm ơn ba má tôi, những người đã sinh ra, dưỡng dục và luôn ở bên cạnh động viên giúp tôi vững bước trong cuộc sống và phấn đấu trong học tập, công tác
Một lời cảm ơn đặc biệt tôi muốn giành cho vợ và con gái tôi, hai nguồn động lực lớn lao, giúp tôi vững bước và kiên tâm trong cuộc sống
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thành viên trong đại gia đình của tôi cùng bạn bè đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thành Nam
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ BIỂN VIỆT NAM VÀ VÙNG BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN 9
1.1.1 Những nghiên cứu lớn trên vùng thềm lục địa Biển Đông 9
1.1.1.1 Thời kỳ trước năm 1954 9
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 10
1.1.1.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay 12
1.1.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản ở các hệ sinh thái tại vùng cửa sông ven biển 17
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu cá tại vùng biển Bình Thuận 21
1.1.4 Nhận xét, đánh giá chung về lịch sử nghiên cứu cá biển Việt Nam 24 1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐỊA ĐỘNG VẬT CÁ BIỂN 29
1.2.1 Các vùng sinh thái chính của biển và đại dương 29
1.2.2 Các vùng địa động vật ở biển và đại dương 30
1.2.3 Hệ thống những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (MEOW) 31
1.2.4 Những quan điểm ban đầu về địa động vật cá biển Việt Nam 35
1.3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA KHU HỆ CÁ BIỂN VIỆT NAM 37
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH BÌNH THUẬN VÀ KHU VỰC BIỂN, VEN BIỂN CỦA TỈNH 43
1.4.1 Vị trí, giới hạn 43
1.4.2 Đặc điểm địa hình 45
1.4.3 Đặc điểm khí hậu 49
1.4.4 Đặc điểm thủy - hải văn 51
1.5 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH THUẬN VÀ KHU VỰC VEN BIỂN 54
1.5.1 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận 54
1.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội nghề cá và khu vực ven biển 55
Trang 7CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 57
2.1 CÁC LUẬN ĐIỂM, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 57
2.1.1 Các luận điểm 57
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 58
2.1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 59
2.2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 60
2.2.1 Cách tiếp cận 60
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu và Kỹ thuật sử dụng 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 72
3.1 KHU HỆ CÁ BIỂN VEN BỜ TỈNH BÌNH THUẬN 72
3.1.1 Đa dạng sinh học cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 72
3.1.1.1 Thành phần loài cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 72
a) Thành phần loài 72
b) So sánh với thành phần loài cá biển Thuận Hải (1985) 72
c) Địa động vật cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 117
3.1.1.2 Tính đa dạng của cá biển ven bờ Bình Thuận theo các bậc phân loại 119
a) Bậc lớp 119
b) Bậc bộ 121
c) Bậc họ 127
3.1.1.3 Thảo luận 134
3.1.2 Cấu trúc của khu hệ cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 136
3.1.2.1 Cấu trúc về sinh thái 136
a) Các nhóm sinh thái 136
b) Cá cửa sông và cá di cư 139
3.1.2.2 Cấu trúc về dinh dưỡng 141
3.1.2.3 Danh sách cá trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN 142
3.1.2.4 Giá trị sử dụng của cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 142
a) Cá khai thác tự nhiên làm thực phẩm 143
b) Cá có tiềm năng làm cảnh 143
c) Cá có khả năng nuôi thương phẩm 144
3.1.3 Tóm tắt, thảo luận 145
Trang 83.2 NGHỀ CÁ TỈNH BÌNH THUẬN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ
BẢO VỆ NGUỒN LỢI 147
3.2.1 Thực trạng nghề cá tỉnh Bình Thuận 147
3.2.1.1 Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản 147
3.2.1.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác hải sản 150
3.2.1.3 Sản lượng, năng suất khai thác 154
3.2.1.4 Ngư trường, mùa vụ và đối tượng khai thác 158
3.2.1.5 Lao động biển và trình độ khai thác 163
3.2.1.6 Tổ chức sản xuất và ứng dụng trang thiết bị, công nghệ 165
3.2.1.7 Công tác quản lý nghề cá của địa phương 167
3.2.1.8 Nuôi trồng, chế biến thủy sản và tiêu thụ sản phẩm 168
3.2.2 Năng suất khai thác của nghề Lưới kéo đơn và Vây chà 170
3.2.2.1 Nghề Lưới kéo đơn 170
3.2.2.2 Nghề Lưới vây kết hợp chà (Vây chà) 175
3.2.3 Đề xuất giải pháp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi 176
3.2.3.1 Căn cứ khoa học và pháp lý 176
3.2.3.2 Quan điểm phát triển 177
3.2.3.3 Định hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể 178
a) Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 178
b) Nuôi trồng thủy sản 184
c) Chế biến và tiêu thụ sản phẩm 184
d) Dịch vụ thủy sản 185
e) Nâng cao đời sống cộng đồng ngư dân ven biển 186
3.2.4 Tóm tắt, thảo luận 186
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 189
KẾT LUẬN 189
KIẾN NGHỊ 190
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ALMRV Assessment of the Living Marine Resources in Vietnam (Dự án đánh giá
nguồn lợi sinh vật Biển Việt Nam) BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
CITES
The Convention on International Trade in Endangered Species of wild fauna and flora (Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp)
DANIDA Danish International Development Association (Cơ quan Hỗ trợ phát
triển quốc tế Đan Mạch) ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
FAO The Food and Agriculture Organization of The United Nations (Tổ chức
Nông Lương Liên Hợp quốc) GDP Gross Domestic Product (Tổng sản lượng nội địa)
IOC-UNESCO The Intergovernmental Oceanographic Commission of UNESCO (Ủy ban Hải dương học Liên chính phủ của UNESCO) IUCN The International Union for The Conservation of Nature (Liên minh
Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên) JICA The Japan International Cooperation Agency (Cơ quan Hợp tác Quốc Tế
Nhật Bản) KHCN Khoa học Công nghệ
LĐLĐ Liên đoàn Lao động
NOAA The United States National Oceanic and Atmospheric Administration
(Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ)
UNDP Liên Hợp quốc) The United Nations Development Programme (Chương trình Phát triển UNEP The United Nations Environment Program (Chương trình Môi trường
Liên Hiệp Quốc) UNESCO The United Nitions Educational, Scientific and Cultural Organization (Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc) UNIDO The United Nations Industrial Development Organization (Tổ chức Phát
triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc)
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng mô tả 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển ven bờ ở hình 1.1 34Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu về chế độ nhiệt - ẩm của Bình Thuận giai đoạn 1998 - 2011 50Bảng 1.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số tỉnh Bình Thuận năm 2011 55Bảng 1.4 Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng GDP của tỉnh Bình Thuận (tỷ đồng) 56Bảng 1.5 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của vùng kinh tế biển so với toàn tỉnh
Bình Thuận năm 2008 56Bảng 3.1 Danh sách cá vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận và các thông tin liên quan 73Bảng 3.2 Tỷ lệ các bậc phân loại của hai lớp cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 119Bảng 3.3 Tỷ lệ các bậc phân loại của các lớp cá trên thế giới 119Bảng 3.4 Tỷ lệ các bậc phân loại của lớp cá Mang tấm và lớp cá Vây tia trên thế giới 119Bảng 3.5 So sánh tỷ lệ các bậc phân loại của lớp cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận
và trên thế giới 120Bảng 3.6 Tỷ lệ các bậc phân loại của 28 bộ cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 125Bảng 3.7 Tỷ lệ các bậc phân loại của 140 họ cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 128Bảng 3.8 So sánh sự sắp xếp theo hệ thống Rass T.S & Lindberg G.U và hệ thống
Eschmeyer W.N đối với cá vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 135Bảng 3.9 Tỷ lệ các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 137Bảng 3.10 Diễn biến phân bổ công suất tàu thuyền của Bình Thuận (2001 - 2012) 147Bảng 3.11 Một số thông tin tổng hợp về hiện trạng khai thác hải sản của Bình Thuận giai
đoạn 2001 - 2012 149Bảng 3.12 Số lượng tàu thuyền của từng nghề khai thác hải sản ở Bình Thuận năm 2012
150Bảng 3.13 Bảng tóm lược thông tin về sản lượng, năng suất khai thác giai đoạn 2001 -
2012 154Bảng 3.14 So sánh sản lượng và số lượng tàu thuyền các nghề khai thác năm 2012 157Bảng 3.15 Thông tin thành phần nhóm loài hải sản khai thác giai đoạn 2001 - 2012 157Bảng 3.16 Thông tin về mùa vụ và ngư trường, đối tượng đánh bắt chính của các nghề
khai thác 160Bảng 3.17 Tổng hợp số lượng chức danh lao động nghề cá đã được đào tạo, cấp chứng chỉ
164Bảng 3.18 Tổng hợp nhu cầu đào tạo và cấp chứng chỉ nghề trong thời gian tới 165Bảng 3.19 Thống kê các mẻ lưới kéo đáy ở vùng biển Bình Thuận tháng 8 năm 2010 173Bảng 3.20 Thống kê các mẻ lưới kéo đáy ở vùng biển Bình Thuận tháng 8 năm 2012 174Bảng 3.21 Thống kê các mẻ lưới vây rút chì kết hợp chà ở vùng biển Bình Thuận tháng 9
năm 2013 (vùng biển Phan Rí) 176
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ các cấp độ phân chia của những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới
(MEOW) (phần tô đậm) 33Hình 1.2 Vị trí địa lý tỉnh Bình Thuận 44Hình 2.1 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá
Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Mập 67Hình 2.2 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá
Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối 68
Hình 2.3 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá
Vây tia (cá Xương) 69
Hình 2.4 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và các kiểu
răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 70Hình 2.5 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây đuôi
dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 71Hình 3.1 Biểu đồ so sánh các bậc phân loại của khu hệ cá Thuận Hải và khu hệ cá vùng
biển ven bờ Bình Thuận 117Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện số lượng và tỷ lệ các bậc phân loại trong 2 lớp cá ở vùng biển
ven bờ tỉnh Bình Thuận 121Hình 3.3 Biểu đồ phân tích sự đa dạng của các bậc phân loại trong 28 bộ cá ở vùng biển
ven bờ tỉnh Bình Thuận 122Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện số lượng và tỷ lệ các bậc phân loại của 28 bộ cá ở vùng biển
ven bờ tỉnh Bình Thuận 124Hình 3.5 Biểu đồ phân tích sự đa dạng của các bậc phân loại có trong 140 họ cá ở vùng
biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 127Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở vùng biển ven bờ
tỉnh Bình Thuận 137
Hình 3.7 Biểu đồ tổng hợp số lượng loài cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận theo bậc
dinh dưỡng 142Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện sản lượng và năng suất khai thác hải sản ở vùng biển tỉnh Bình
Thuận giai đoạn 2001 - 2012 156Hình 3.9 Sơ đồ hướng di chuyển của tàu và điểm thu mẫu cá trên tàu Lưới kéo đơn tháng
8/2010 và tháng 8/2012 172Hình 3.10 Sơ đồ điểm thu mẫu cá trên tàu Lưới vây kết hợp chà tháng 9/2013 175
Trang 12Tỉnh Bình Thuận có diện tích vùng biển 52.000 km2
cùng nhiều điều kiện thuận lợi đã trở thành một trong những ngư trường lớn nhất nước Theo đánh giá của UBND tỉnh Bình Thuận năm 2003 [53], tổng trữ lượng cá biển ven bờ của tỉnh đạt 220-240 nghìn tấn, khả năng khai thác đạt 130-150 nghìn tấn/năm; trữ lượng mực 10-20 nghìn tấn, khả năng khai thác 6.300-7.200 tấn/năm; trữ lượng tôm 10-12 nghìn tấn, khả năng khai thác 7-8 nghìn/năm; trữ lượng các loài thân mềm hai mảnh
vỏ trên 50 nghìn tấn, khả năng khai thác có thể đạt 25-30 nghìn tấn, cùng tiềm năng nuôi trồng thủy sản ven biển lớn đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển nghề cá của cả nước
Tỉnh Bình Thuận với ngư trường rộng lớn, đa dạng và là nơi có hoạt động tích cực của nước trồi vào các tháng gió mùa Tây Nam, tạo nên năng suất và sản lượng khai thác hải sản cao Bên cạnh đó, khu vực đảo Cù Lao Thu (huyện đảo Phú Quý) và đảo Cù Lao Cau có hệ sinh thái rạn san hô đa dạng đã mang lại cho tỉnh lợi thế lớn về đa dạng sinh học và nguồn lợi cá rạn san hô Nếu khai thác tốt tiềm năng này sẽ mang lại hiệu quả về nguồn lợi và du lịch tốt cho địa phương
Tuy có nhiều tiềm năng và lợi thế nhưng các kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học biển nói chung và về nguồn lợi cá biển nói riêng của tỉnh Bình Thuận (cùng với tỉnh Ninh Thuận hợp thành tỉnh Thuận Hải trước đây) chủ yếu được tổng hợp chung trong các công trình nghiên cứu của khu vực và cả nước Nổi bật nhất trong công tác nghiên cứu về cá biển Thuận Hải là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải-Minh Hải” giai đoạn 1978-1980 Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ đề tài này cùng nhiều tài liệu khác, Viện Nghiên cứu Hải sản
Trang 13(1985) đã cho ra đời ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” [62] đề cập đến các vấn đề về thành phần loài, trữ lượng, mùa vụ khai thác, các đối tượng khai thác chính, đặc điểm sinh học và phân bố của các loài cá, thiết lập các dự báo khai thác dài hạn, cho vùng biển Thuận Hải (nay là Ninh Thuận và Bình Thuận)
Nhìn chung, những nghiên cứu về khu hệ và nghề cá tỉnh Bình Thuận hoặc không trực tiếp, hoặc chưa đầy đủ, hoặc đã lâu và còn chưa tương xứng với vị thế
và tiềm năng phát triển ngành thủy sản nói riêng và kinh tế biển nói chung của địa phương Vì vậy đề tài luận án “Nghiên cứu khu hệ cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận
và đề xuất giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi” được tiến hành thực hiện với những mục tiêu lớn sau:
- Xác định thành phần loài cá vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận với các phân tích chuyên sâu về cấu trúc sinh thái, cấu trúc dinh dưỡng, giá trị sử dụng,
- Phân tích, đánh giá hiện trạng nghề cá của tỉnh Bình Thuận
- Đề xuất giải pháp nhằm khai thác hợp lý nguồn lợi và bảo vệ môi trường, phát triển nguồn lợi ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận
Những điểm mới và đóp góp chính của luận án gồm có:
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu về khu hệ cá biển ven bờ và nghề cá của tỉnh Bình Thuận;
- Các giải pháp được đề xuất giúp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi cá biển nói riêng và thủy hải sản nói chung theo định hướng phát triển bền vững cho tỉnh Bình Thuận vừa mang tính thực tiễn cho địa phương vừa mang tính lý luận và
có thể tham khảo, áp dụng cho các địa phương ven biển có điều kiện tương tự
Nội dung luận án được chia thành các phần và các chương như sau:
- Mở đầu
- Chương 1 Tổng quan tài liệu
- Chương 2 Nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Kết luận và Kiến nghị
- Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án
- Tài liệu tham khảo
- Phần Phụ lục
Trang 14CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ BIỂN VIỆT NAM VÀ VÙNG BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN
Những ghi chép thành văn về các loài thủy sinh vật, bao gồm các loài cá, trai, ốc, của Việt Nam được tìm thấy trong công trình của Lê Quý Đôn từ năm
1773 Việc nghiên cứu về thủy sinh vật biển nói chung và cá biển nói riêng của Việt Nam được các nhà khoa học phương Tây khởi sự rất sớm và sau đó các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục thực hiện [67]
1.1.1 Những nghiên cứu lớn trên vùng thềm lục địa Biển Đông
1.1.1.1 Thời kỳ trước năm 1954
Trong thời kỳ này, các nghiên cứu tập trung vào việc điều tra khu hệ, đánh giá năng suất, sản lượng khai thác của các nghề lưới kéo đáy Kết quả đã được công
bố trong nhiều công trình nghiên cứu Nhìn chung, kết quả nghiên cứu trong giai đoạn này phần lớn là sự đóng góp của các nhà khoa học nước ngoài với các nhà khoa học Pháp là trung tâm
Nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là đợt khảo sát của đoàn thám hiểm đứng đầu là Cook (cuối thế kỷ 18), Sauvage (1877), Vào đầu thế kỷ 20, trong thời kì Pháp thuộc, những nghiên cứu về địa chất hải dương, hải văn, thủy sinh vật và nghề
cá được triển khai trên vùng thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận khá nhiều Những công trình nghiên cứu đầu tiên về khu hệ cá đã được công bố là của Pellegrin (1905) mô tả khoảng 100 loài cá phân bố ở vùng biển vịnh Hạ Long và của Chabannaud (1926) với nghiên cứu về hình thái một số loài thuộc họ cá Mù làn, trong đó chủ yếu là các kết quả điều tra khu hệ cá ở biển Trung Bộ, Nam Bộ và vịnh Thái Lan [64,65,67]
Một trong những sự kiện quan trọng của giai đoạn này là sự ra đời của Viện Hải dương học Đông Dương vào năm 1922 (nay là Viện Hải dương học, Nha Trang) Từ khi thành lập, trong quá trình hoạt động của mình gắn liền với tàu De Lanessan có trọng tải 700 tấn (1000 CV) đến trước Đại chiến lần thứ II (1922-1939), Viện đã công bố 49 công trình, đại bộ phận là các công trình tập trung vào thủy sinh vật và nghề cá biển; trong đó nổi bật là công trình của Chevey vào năm
Trang 151934 đã tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu trong giai đoạn 1925-1929 của Viện Hải dương học Đông Dương [64,65,67]
Tổng hợp các kết quả từ những công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật biển năm 1928-1929, 1929-1930, Krempf (1930) đã tập hợp được danh lục gồm 961 loài
cá biển thuộc 457 giống, 162 họ, 28 bộ, trong đó có khoảng hơn 400 loài cá rạn san
hô tại vùng biển Việt Nam [64,65,67]
Vào năm 1927, Nhật Bản đã sử dụng tàu Hakuho Maru (333 BRT) để thực hiện chương trình đánh cá thử nghiệm tại vịnh Bắc Bộ Chương trình này tiếp tục
mở rộng và số lượng tàu tham gia thử nghiệm lên tới 20 chiếc vào năm 1937 Một
số kết quả của chương trình này được công bố trong công trình của Shindo vào năm
1937 [64,65,67]
Cũng tại khu vực biển vịnh Bắc Bộ, trước đó vào năm 1926, Gruvel cũng đã công bố công trình nghiên cứu về khu hệ và mô tả một số loài cá [64,65,67]
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc (1954), đội ngũ các nhà khoa học trong các lĩnh vực khoa học nói chung hay trong sinh học, thủy sinh học nói riêng được hình thành và ngày càng trưởng thành Lúc này, tuy đất nước vẫn bị chia cắt nhưng hoạt động nghiên cứu biển vẫn được tiến hành trên cả hai miền
+ Ở miền Bắc, lúc này một số cơ quan nghiên cứu biển cũng đã được thành lập, như Trạm Nghiên cứu Biển thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước thành lập vào tháng 7/1959, đến năm 1967 chuyển thành Viện Nghiên cứu Biển và nay là Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Hải Phòng Tiếp đó, vào năm 1961, Trạm Nghiên cứu cá biển thuộc Vụ Ngư nghiệp, Bộ Nông Lâm được thành lập (về sau trở thành Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng vào năm 1975), cùng với sự
ra đời và hoạt động của các cơ sở đào tạo nguồn lực như Trường Trung cấp Nông Lâm (ở Chèm), Khoa Sinh vật (sau là Khoa Sinh học) - Trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội, Khoa Thủy sản của Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Từ năm 1959 đến 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hợp tác với Trung Quốc thực hiện chương trình hợp tác “Việt-Trung” nghiên cứu tổng hợp vịnh Bắc Bộ do Trạm Nghiên cứu Biển và Viện Nghiên cứu Hải dương Trung Quốc thực hiện Chương trình hợp tác đã tiến hành nghiên cứu xác định các bãi cá đáy,
Trang 16nguồn lợi cá đáy và gần đáy cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài
cá đáy phục vụ cho sự phát triển nghề cá vịnh Bắc bộ trên các tàu Tiền Phong (250 CV) và tàu Hải Điều (1000 CV) [64,65,67]
Cũng vào thời điểm đó (1960-1961), nước ta còn thực hiện chương trình hợp tác “Việt-Xô” nghiên cứu vịnh Bắc Bộ do Trạm Nghiên cứu cá biển Việt Nam và Viện Nghiên cứu Nghề cá - Hải dương học Thái Bình Dương (Viện TINRO), Liên
Xô thực hiện Một trong những kết quả thu được trong hai chương trình hợp tác Việt-Trung và Việt-Xô là đã thành lập hai bản danh sách cá vịnh Bắc Bộ với 608 loài (Trần Nho Xy và Nguyễn Nhật Thi, 1965) và 748 loài (Besednov, 1967) bên cạnh các phát hiện bước đầu về các quy luật phân bố và khu tập trung cá, đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế chủ yếu và đặc điểm của các yếu tố khí tượng hải văn [64,65,67]
Ngoài ra, trong năm 1963, 1964, Trạm Nghiên cứu cá biển đã sử dụng hai tàu Việt-Đức (90 CV) nghiên cứu nguồn lợi phía Tây vịnh Bắc Bộ [64,65,67]
Trong giai đoạn 1967-1972, công tác nghiên cứu biển ở miền Bắc không tiến hành được do chiến tranh phá hoại của Mỹ Vào thời gian này, Trạm Nghiên cứu cá biển đã tổ chức các đội điều tra và tổng kết kinh nghiệm quần chúng đánh cá ven bờ
ở tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Bình [64,65,67]
Năm 1971, dựa trên tư liệu hiện có, Viện Nghiên cứu Biển đã công bố Danh lục cá vịnh Bắc Bộ bao gồm 961 loài thuộc 457 giống, 162 họ và 28 bộ Bên cạnh
đó, kết quả của các đợt khảo sát của chương trình hợp tác Việt-Xô đã được tổng kết trong một chuyên khảo kinh điển và có giá trị khoa học lớn với tên là “Động vật giới vịnh Bắc bộ và điều kiện sống của nó” dưới sự chỉ đạo của giáo sư E.F Gurijanova vào năm 1972; và đến năm 1976, công trình nổi tiếng này được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt trong tập “Sinh vật biển và nghề cá biển Việt Nam” [47,64,65,67]
+ Ở các khu vực biển miền Trung, Nam bộ và vịnh Thái Lan, từ năm
1959-1961, chương trình hợp tác giữa Viện Hải dương Scripps California (Hoa Kỳ) và Hải quân Thái Lan với chính quyền Sài Gòn (chương trình NAGA) đã sử dụng tàu điều tra Stranger của Mỹ tiến hành điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên và đánh giá nguồn lợi thủy sinh vật Biển Đông và vịnh Thái Lan Kết quả của chương trình hợp
Trang 17tác nđược tổng kết trong ấn phẩm “Scientific result of marine investigation of the South China Sea and the Gult of Thailand 1959-1961” (Wyrky K 1961, Robinson 1974) [64,65,67]
Từ năm 1969 đến 1972, dưới sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), các nghiên cứu ngư nghiệp cũng được tiến hành nhằm giúp cho sự phát triển của nghề cá Nam Việt Nam từ phía đông đảo Hải Nam đến vịnh Thái Lan Đó là hoạt động khảo sát của Kyokuyo
Co Ltd với 2 tàu Kyoshin Maru 52 (1000 CV) và tàu Hữu nghị (380 CV) [64,65,67] Các kết quả của các chuyến khảo sát này đã được công bố trong 6 tập về
“Nguồn lợi cá biển miền Nam Việt Nam” (từ tập 1 đến 6, Sài Gòn, 1975)
Giai đoạn 1968-1971 còn có chương trình khảo sát nghề cá miền duyên hải Nam Việt Nam nhằm tìm kiếm ngư trường, mở rộng khai thác ra vùng khơi Biển Đông Tập hợp các kết quả nghiên cứu này, J J Orsi (1974) đã thành lập Danh lục
cá biển và cá nước ngọt miền Nam Việt Nam gồm 1458 loài và phân loài thuộc 173
họ [64,65,67]
1.1.1.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Sau khi đất nước thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu biển càng được quan tâm và đẩy mạnh hơn, ngoài việc vẫn chú trọng vào điều tra khu hệ còn có các điều tra cụ thể về nghề cá cũng như các nghiên cứu về sinh học, sinh thái cá, ngư trường, nguồn lợi và dự báo khai thác Có thể tóm tắt một số mốc thời gian và các công trình quan trọng như sau:
Trước hết là đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi ven bờ vịnh Bắc Bộ” được tiến hành với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng và Viện Hải dương học, Nha Trang (1974-1976) Kết quả của Đề tài này đã cung cấp thêm những số liệu đáng tin cậy về điều kiện tự nhiên, môi trường biển, các bãi đẻ, đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế ở vịnh Bắc Bộ để Bùi Đình Chung tổng hợp vào năm 1976 [64,65,67]
Năm 1977-1978, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Biển Bergen, Na Uy tổ chức 9 chuyến điều tra nguồn lợi cá nổi bằng máy dò thủy
âm (EK 500 - 38, 50 và 120 kHz) [64,65,67] trên tàu nghiên cứu Biển Đông tại vùng biển vịnh Bắc Bộ Đây là chương trình đánh giá trữ lượng nguồn lợi cá nổi
Trang 18bằng phương pháp thủy âm đầu tiên được thực hiện trên quy mô lớn ở Việt Nam Kết quả của các chuyến điều tra này đã đưa ra được các đánh giá bước đầu về trữ lượng, phân bố của các đàn cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ
Nghiên cứu nổi bật trong thời kỳ này là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải - Minh Hải”, giai đoạn 1978-1980 Đây là một đề tài nghiên cứu khá toàn diện với 12 chuyến nghiên cứu bằng tàu Biển Đông (1500 CV), trong đó có 11 chuyến nghiên cứu trên diện rộng và 1 chuyến nghiên cứu trọng điểm ở khu vực tập trung cá, với tổng số 173 mẻ lưới kéo đáy, 45 mẻ lưới kéo tầng trung, 4 đợt thí nghiệm để xác định hệ số phản hồi âm của các loài cá Kết quả của Đề tài đã đưa ra được trữ lượng ước tính của cá nổi nhỏ, các kết quả nghiên cứu về khí tượng, hải dương học, thủy sinh, và sinh học các loài hải sản, ở vùng biển Thuận Hải-Minh Hải Ngoài ra, dựa trên các kết quả nghiên cứu của đề tài này,
về sau các cán bộ khoa học của Viện Nghiên cứu Hải sản đã tổng hợp và cho ra đời
ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” vào năm 1985 [62]
Tháng 12/1978, nước ta đã ký Hiệp định Hợp tác trong lĩnh vực nghề cá biển với Liên Xô Theo đó, giai đoạn 1 của Hiệp định từ năm 1979-1981 do Viện Nghiên cứu Hải sản và Viện Nghiên cứu Nghề cá - Hải dương học biển Đen “A-zốp” thực hiện; giai đoạn 2 từ năm 1982-1985 do Viện Nghiên cứu Hải sản và viện TINRO thực hiện Đây là chương trình nghiên cứu được thực hiện trên quy mô lớn với 16 tàu từ 800 đến 3800 CV do Liên Xô cung cấp để phục vụ công tác thăm dò và nghiên cứu khoa học nguồn lợi sinh vật ở biển Việt Nam; trong số tàu trên chỉ có 2 tàu nghiên cứu là Nauka và Semen Volkov, còn lại là các tàu thăm dò Xuất phát từ Hiệp định Hợp tác này, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài cấp nhà nước
“Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Việt Nam” [60] với các kết quả nghiên cứu đáng ghi nhận về địa hình biển Việt Nam, đặc điểm khí tượng hải văn, và đặc biệt là những
số liệu, thông tin về thủy sinh vật và nguồn lợi cá biển Việt Nam Dựa trên các kết quả khảo sát và nghiên cứu trong giai đoạn này, năm 1985, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phát hành ấn phẩm “Thành phần loài, sản lượng và tần số xuất hiện các loài
cá và động vật không xương sống ở các vùng biển Việt Nam” [61] Có thể nói, các kết quả nghiên cứu và khảo sát theo Hiệp định Hợp tác và đề tài nghiên cứu nguồn
Trang 19lợi cá biển Việt Nam có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn và vẫn còn nhiều giá trị tham khảo, sử dụng cho đến ngày nay
Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn 1986-1990 được Vụ Quản lý Khoa học Kỹ thuật và Tạp chí Thủy sản (Bộ Thủy sản) tổng hợp trong tập “Các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật thủy sản 1986-1990” vào năm 1991 [2]
Sau năm 1990, một loạt các đề tài, dự án nghiên cứu được thực hiện trong các Chương trình Biển, trước hết là đề tài KT.04.01 (1992-1993) về điều tra nghiên cứu nguồn lợi các loài đặc sản ở vùng biển xa bờ Việt Nam [65,67]
Tiếp đến, trong giai đoạn 1992-1995, đề tài KT.03.09 về nghiên cứu nguồn lợi cá Ngừ ở biển Việt Nam được thực hiện và đã thu được các số liệu về khu hệ cá Ngừ như: thành phần loài, phân bố và đánh giá nguồn lợi cá Ngừ ở vùng biển xa bờ Việt Nam [65,67]
Từ năm 1993-1997, đề tài “Điều tra tổng hợp nguồn lợi sinh vật biển và môi trường vùng biển quần đảo Trường Sa” đã tiến hành nghiên cứu nguồn lợi cá nổi bằng lưới rê, khu hệ cá rạn san hô quanh các đảo và thu thập các yếu tố môi trường
ở vùng biển này Tiếp theo từ năm 1999 đến 2003, đề tài đã được tiếp tục triển khai thu thập số liệu về nguồn lợi sinh vật vùng biển quần đảo Trường Sa Kết quả của các nghiên cứu này đã đưa ra được các đánh giá tương đối cơ bản về nguồn lợi cá nổi, khu hệ cá rạn san hô ở các đảo trong khu vực này [65,67]
Cùng với các kết quả đáng ghi nhận từ các đề tài nghiên cứu về nguồn lợi cá
xa bờ khác, từ năm 1995-1997, dự án “Đánh giá nguồn lợi cá nổi lớn ở biển Việt Nam” được tài trợ của tổ chức JICA (Nhật Bản) đã sử dụng tàu Biển Đông thực hiện 4 chuyến điều tra nghiên cứu nguồn lợi cá nổi lớn bằng lưới rê ở vùng biển ven
Trang 20tỉnh nghề cá trọng điểm và đã đánh giá được thành phần loài, thành phần các nhóm thương phẩm và tổng sản lượng khai thác hải sản của Việt Nam [65,67]
Bên cạnh đó, giai đoạn 1996-2000, Ban Chỉ đạo Chương trình Biển
KHCN-06 đã thực hiện chương trình điều tra nghiên cứu cấp nhà nước KHCN giai đoạn
1996-2000 và đến năm 2003 đã biên tập và cho xuất bản ấn phẩm Biển Đông gồm 4
tập I, II, III và IV (in tại NXB ĐHQG Hà Nội) đề cập đến các nội dung nghiên cứu rất đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của Biển Đông Việt Nam [8,65,67]
Từ năm 2000, dự án ALMRV-II kết hợp với đề tài “Nghiên cứu thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề
cá xa bờ” (gọi tắt là “đề tài xa bờ”) (giai đoạn 2000-2002) và dự án “Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng gần bờ biển nước ta” (gọi tắt là “dự án gần bờ”) (giai đoạn 1997-2003) đã tiến hành điều tra nguồn lợi hải sản sống đáy và gần đáy cũng như điều kiện môi trường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, ngoài ra còn điều tra thăm dò nguồn lợi cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ Trung Bộ và Đông Nam Bộ [65,67]
Những năm 2001-2003, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp với Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng, Trung tâm Khí tượng Thủy văn biển và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên-ĐHQG Hà Nội tổ chức thực hiện dự án “Đánh gia nguồn lợi sinh vật và hiện trạng môi trường biển quần đảo Trường Sa” thuộc chương trình Biển Đông-Hải đảo [65,67]
Năm 2003 đề tài “Nghiên cứu đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ (chủ yếu là cá Nục, Trích, Cơm, Bạc má, ) ở biển Việt Nam” (gọi tắt là
"đề tài cá nổi nhỏ") đã được tiến hành với mục đích nắm bắt được thành phần loài, sinh lượng trứng cá, cá con của các loài cá nổi nhỏ kinh tế, đánh giá được trữ lượng và hiện trạng khai thác cá nổi nhỏ ở vùng biển Việt Nam để tạo cơ sở cho quy hoạch, sử dụng hợp lý nguồn lợi này [64,65,67]
Từ năm 2002-2004 đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi (chủ yếu là cá Ngừ vằn, cá Ngừ vây vàng và cá Ngừ mắt to) và hiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ miền Trung và Đông Nam bộ” đã
Trang 21được thực hiện và cung cấp những dẫn liệu về trữ lượng và khả năng khai thác nguồn lợi cá nổi lớn tại các khu vực nghiên cứu [65,67]
Tiếp đó, năm 2005-2006, đề tài “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá Ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” cũng đã được thực hiện [65,67]
Giai đoạn 2001-2005 có “Chương trình điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển”, mã số KC.09 do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý Từ năm 2005, Dự án “Điều tra liên hợp Việt-Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng khai thác chung vịnh Bắc Bộ” nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được triển khai thực hiện với giai đoạn I (2005-2007), giai đoạn II (2008 -2010) và giai đoạn III (2011-2013) [65,67]
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản cùng các
cơ quan khoa học liên quan được tổng hợp khá tốt trong các tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển [63]
Một trong những kết quả nghiên cứu biển nổi bật sau năm 2005 là “Chương trình Khoa học Công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội”, mã số KC.09/06-10 (2006-2010) do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý
Tiếp đó, theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01/3/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên-môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” (gọi tắt là “đề án 47”)
Theo danh mục các nhiệm vụ-dự án của Đề án 47, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (trong đó có Bộ Thủy sản trước đây) đã triển khai thực hiện nhiệm
vụ số 8 với dự án “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hải sản vùng biển Việt Nam; quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụ phát triển bền vững”
Đến tháng 9/2011, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục ra quyết định thực hiện chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước với tên gọi
“Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển”, mã số KC.09/11-15
Trang 221.1.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản ở các hệ sinh thái tại vùng cửa sông ven biển
Ngoài các nghiên cứu lớn ở thềm lục địa, chủ yếu tại các nơi có độ sâu trên 20-30 mét nước, trong các thời kỳ trên còn nhiều cuộc điều tra khảo sát trong các khu vực cửa sông ven biển, nơi có độ sâu dưới 20-30 m nước vào bờ, bao gồm các cửa sông, đầm phá cũng như các hệ sinh thái đặc thù khác (rừng ngập mặn, các đai
cỏ biển, các rạn san hô gần bờ hay quanh các hải đảo thềm lục địa) hoặc các nghiên cứu về trứng cá-cá con tại các khu vực này Những nghiên cứu này cũng xuất hiện trong các đề tài thuộc các Chương trình biển hay các đề tài độc lập của các trường Đại học, các Viện, Trung tâm nghiên cứu và các cơ sở khoa học địa phương liên quan đến biển
Trước tiên phải kể đến những kết quả nghiên cứu của các cán bộ của Khoa Sinh học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) [52] Nghiên cứu đầu tiên về các loài cá nước lợ cửa sông (sông Ninh Cơ, Nam Định) có thể tìm thấy trong công trình của Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1960); nghiên cứu nghề cá ở miền Tây Thái Bình Dương (Đào Văn Tiến, 1961); sinh học và giá trị kinh tế của cá Mòi di cư vào sông Hồng (Mai Đình Yên
và Nguyễn Văn Thái, 1962), nguồn gốc và phân bố, ý nghĩa kinh tế, đặc điểm sinh vật học của khu hệ cá sông Hồng (Mai Đình Yên, 1963, 1964); cá cửa sông Bạch Đằng (Mai Đình Yên và Trần Định, 1969); hình thái và phân loại cá bột và cá con trên sông Hồng (Mai Đình Yên và nnk., 1971)
Các trường Đại học là những đơn vị tích cực triển khai nhiều đề tài nghiên cứu về khu hệ động vật, thực vật (thực vật nổi, thực vật đáy, động vật nổi, động vật đáy, cá và các nhóm động vật có xương sống khác ), về nguồn lợi thủy sản cũng như các điều kiện môi trường cửa sông, đầm phá thuộc dải ven biển từ Bắc đến Nam nhằm đề xuất cơ sở khoa học cho việc sử dụng tổng hợp tài nguyên cho phát triển bền vững
Ở miền Bắc, từ đầu những năm 1972, các đề tài khảo sát nghiên cứu về các loài cá cũng như thủy sinh vật và nguồn lợi hải sản cửa sông ven biển được triển khai bởi nhiều nhà khoa học của Khoa Sinh học (Vũ Trung Tạng, 1974-1976, 1977-
1980, 1980-1985, 1996-2000, 2006-2008, cùng các công bố vào các năm 1977,
Trang 231999, 2005, Vũ Trung Tạng và nnk., 1978, 1981, 1988, 2007, 2008, 2009; Nguyễn Xuân Huấn, 1998-1999, 2004-2005, 2006-2008, …) [15,52,57,62]
Đối với khu vực cửa sông ven biển miền Trung có thể gặp các công trình của trường Đại học Tổng hợp Huế trước đây hay Đại học Huế hiện nay (Hoàng Đức Đạt
và Võ Văn Phú, 1977; Phạm văn Miên và Nguyễn Mộng, 1982; Nguyễn Thị Phương Liên và nnk., 1981; Tôn Thất Pháp, 1993; Võ Văn Phú, 1995, 2001, 2003,
2004 [57,62]
Trường Đại học Thủy sản Nha Trang hay Đại học Nha Trang hiện nay thường triển khai các nghiên cứu của mình trong các đầm phá Nam Trung bộ như đầm Thị Nại (Nguyễn Chính, Ngô Anh Tuấn, 1982; Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982); đầm Nha Phu, Phú Khánh (Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982), [57,62]
Nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven biển và đồng bằng Nam bộ có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Nuôi trồng Thủy sản II cũng như các trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí minh, Đại học Cần Thơ Các nghiên cứu nổi bật ở khu vực này có thể kể đến là các nghiên cứu về “Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lí hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệ nguồn lợi và phát triển nuôi trồng thủy sản” (Trần Thanh Xuân và nnk.,1998); “Nghiên cứu về thủy sinh vùng cửa sông ven biển Tây thuộc bán đảo Cà Mau phục vụ yêu cầu phát triển thủy sản” (Lương Văn Thanh và Nguyễn Văn Khôi, 2002); [57,63,67]
Bên cạnh các kết quả nghiên cứu và công bố của các trường Đại học, các cơ quan nghiên cứu chuyên về biển và cá biển của Việt Nam ngoài việc vẫn chú trọng điều tra về khu hệ cá và nghề cá tại các khu vực rộng lớn của thềm lục địa cũng đã dần thực hiện thêm các đề tài nghiên cứu cụ thể tại các khu vực cửa sông ven biển nước ta
Trước năm 1975 có Nghiên cứu về thành phần các loài cá ở ven biển Quảng Ninh (Nguyễn Nhật Thi, 1971), cá ở biển Nam Hà (Hồ Sỹ Bình, 1974) Sau năm
1975, các đề tài nghiên cứu độc lập hay đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước khác do Viện Tài nguyên và Môi trường Biển chủ trì cũng được tiến hành trên các địa bàn khác như đầm Cái Tráp (Trương Ngọc An và nnk., 1984), đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, Thừa Thiên-Huế (Chương trình KT-03) [65,67]
Trang 24Cùng với đó, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển đã tham gia vào các chương trình khảo sát lớn cấp nhà nước và tổng kết, công bố nhiều công trình liên quan trực tiếp đến đa dạng sinh học và nguồn lợi tại các vùng cửa sông ven biển cũng như những hệ sinh thái đặc trưng của khu vực này Tiêu biểu như các công trình của Nguyễn Hữu Phụng và Bùi Thế Phiệt (1987) khi nghiên cứu về khu hệ cá rạn san hô vùng biển Nam Yết, Sơn Ca (Trường Sa) đã xác định được danh mục gồm 43 loài thuộc 21 giống, 15 họ, 9 bộ Đến năm 1989, chương trình biển 48 khảo sát ở các đảo Song Tử Tây, Phan Vinh, Trường Sa và các rạn đá ngầm Đá Nam, Tốc Tan, Vũng Mây, đã phân tích xác định được danh mục với 148 loài thuộc 67 giống, 37 họ cá rạn (Nguyễn Hữu Phụng, 1991) Sau khi chương trình Biển Đông -Hải đảo được triển khai, Nguyễn Nhật Thi (1997) đã tổng hợp được danh mục của
414 loài thuộc 138 giống, 46 họ cá rạn phân bố ở các rạn san hô ven đảo vùng biển Trung Bộ, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Trường Sa, [65,67]
Tổng hợp, phân tích toàn bộ các kết quả nghiên cứu liên quan đến nhóm cá rạn san hô phân bố ở vùng biển Việt Nam từ năm 1987-2001, Nguyễn Hữu Phụng (2002) đã thống kê được danh mục gồm 672 loài thuộc 204 giống, 65 họ Năm
2005, Nguyễn Nhật Thi và Nguyễn Văn Quân [44] đã xuất bản ấn phẩn “Đa dạng sinh học và giá trị sử dụng cá rạn san hô biển Việt Nam”, trong đó đã công bố danh mục của 1.206 loài, 451 giống, 118 họ cá trong đó có 779 loài cá rạn điển hình Ngoài công bố về đa dạng thành phần loài, phân bố, ấn phẩm này còn đăng tải các thông tin về giá trị kinh tế, khoa học, phân bố, nguồn lợi, hiện trạng khai thác, … Đây có thể được coi là công trình tổng hợp có giá trị tham khảo, ứng dụng trong quản lý nhóm cá rạn cho đến thời điểm hiện tại
Trong những năm 2005-2007, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp với Viện Hải dương học Nha Trang và Viện Tài nguyên và Môi trường Biển triển khai
đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam,
đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi” Một trong những sản phẩm nổi bật của đề tài là đã thống kê được danh mục của 514 loài cá rạn điển hình, ước tính được mật độ, sinh khối, nhóm kích thước, biến động quần xã, cùng với mẫu vật
và trên 3.500 ảnh cá và sinh cảnh chụp dưới nước phân bố tại 10 vùng biển đảo (Cô
Trang 25Tô, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hòn Mun, Nam Yết, Phú Quý, Côn Đảo và Phú Quốc) Song song với kết quả đó, việc ước tính trữ lượng, ngưỡng khai thác cho phép và xây dựng bộ atlas cho riêng nhóm cá rạn san hô phân bố ở vùng biển Việt Nam cũng đã được thực hiện Đây có lẽ là công trình nghiên cứu mang tính toàn diện và cập nhật nhất từ trước tới nay cho riêng nhóm cá rạn san hô
ở Việt Nam [65,67]
Trong năm 2007-2008, đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp bảo vệ trứng cá-cá con và ấu trùng tôm-tôm con ở vùng biển ven bờ Đông Tây Nam Bộ” cũng đã được Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện [63]
Tiếp đó năm 2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã triển khai dự
án “Điều tra tổng thể hiện trạng đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển bền vững” Hiện tại dự án
đã triển khai xong giai đoạn 1 (2009-2011) và đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2 (2011-2015) [67]
Ở phía Nam, Viện Hải dương học Nha Trang cũng đã tiến hành nhiều đề tài độc lập khác, tập trung chính vào các thủy vực ven bờ như đầm Ô Loan (Bùi Văn Dương, Nguyễn Hữu Sửu, 1980; Nguyễn Văn Chung và Huỳnh Quang Năng, 1980); đầm Nha Phu, Khánh Hòa (Nguyễn Ngọc Lâm và nnk., 2006); vịnh Bình Cang-Nha Trang (Nguyễn Văn Chung và nnk, 1978); vịnh Văn Phong và Cam Ranh, Khánh Hòa (Thái Ngọc Chiến và nnk., 2006), các rạn san hô ven bờ Nam Việt Nam (Võ Sỹ Tuấn và nnk., 1996), [15,60,63,67]
Bên cạnh những nghiên cứu về khu hệ, nguồn lợi và sinh học một số đối tượng cá kinh tế chủ yếu, những vấn đề liên quan đến hoạt động của con người như khai thác các dạng tài nguyên (quai đê lấn biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản, nạo vét luồng lạch phát triển giao thông, du lịch sinh thái biển), nhất là gây ô nhiễm môi trường vùng cửa sông ven biển cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm, bao gồm: Ô nhiễm môi trường do sông thải ra (Phạm Văn Ninh, 1991-1995 - Chương trình KT-03); đề tài KHCN.07.06 do Đặng Trung Thuận chủ trì (1997-1998); Khảo sát và đánh giá các dạng tài nguyên sinh học nhằm tạo cơ sở khoa học phục vụ cho khai thác, duy trì và phát triển tài nguyên (Huỳnh Quang Năng, Vũ Tự Lập và Vũ Trung Tạng-Chương trình Thuận Hải-Minh Hải; Huỳnh Quang Năng, Nguyễn Tác
Trang 26An, Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Đức Cự-Chương trình 48-06; Nguyễn Văn Chương trình 48B; Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Chu Hồi; Nguyễn Tác An-Chương trình KHCN.06; Nguyễn Văn Tiến (1999, 2002); Hồ Ngọc Đại (1998, 1999)), Đánh giá đa dạng sinh học và nguồn lợi cá vùng biển ven bờ bắc Trung bộ, cá rạn san hô vịnh Hạ Long của Nguyễn Nhật Thi (2001, 2002, 2003) [15,60,63,67]
Điệp-1.1.3 Lịch sử nghiên cứu cá tại vùng biển Bình Thuận
Các kết quả nghiên cứu về nguồn lợi cá biển Bình Thuận (cùng với tỉnh Ninh Thuận hợp thành tỉnh Thuận Hải trước đây) chủ yếu được tổng hợp chung trong các công trình nghiên cứu của khu vực và cả nước Như phần trên đã trình bày, nổi bật nhất trong công tác nghiên cứu về cá biển Thuận Hải là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải-Minh Hải” giai đoạn 1978-1980 với
ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” [62] do Viện Nghiên cứu Hải sản phát hành năm 1985 trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu từ đề tài này cùng nhiều tài liệu khác
Năm 1990, tác giả Lê Đức Tố và nnk., Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) dựa trên các kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu và các nghiên cứu trước đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và nguồn lợi vùng biển Thuận Hải” [46] và đưa ra những dẫn liệu
cơ bản về mối quan hệ giữa các đặc trưng môi trường và nguồn lợi hải sản cũng như xây dựng được bản đồ hải dương học nghề cá cho vùng biển Thuận Hải (trước đây)
Năm 1992, hai tác giả Vũ Huy Thủ và Trần Văn Bun đã cho ra đời ấn phẩm
“Nguồn lợi hải sản vùng biển Trung Bộ Việt Nam” [45] đề cập nhiều đến nguồn lợi hải sản cũng như điều kiện tự nhiên và một số vấn đề khác liên quan đến nghề cá của vùng biển miền Trung (với Thuận Hải là tỉnh cực nam)
Tháng 5-7/1993 và tháng 4-5/1995, Viện Hải dương học Nha Trang tiến hành khảo sát vùng biển Cù Lao Cau để tìm hiểu về ĐDSH và nguồn lợi cá RSH trong vùng biển này Kết quả phân tích dữ liệu đã xác định được 221 loài cá RSH thuộc 87 giống và 35 họ cũng như những thông tin về kích thước từng loài và tình hình nguồn lợi cá RSH [55]
Trang 27Năm 1996, Nguyễn Xuân Huấn đã thực hiện luận án Phó tiến sĩ Sinh học với
đề tài “Đặc điểm sinh trưởng, biến động trữ lượng và dự báo khả năng khai thác một số loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận - Ninh Thuận” [19]
Năm 1997-1998, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình thuận (trước đây) cùng với Viện Hải dương học Nha trang đã thực hiện đề tài “Xây dựng
cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học Quốc gia tại Cù Lao Cau tỉnh Bình Thuận” [29]
Từ năm 1998 đến 2000, Viện Hải dương học Nha Trang đã thực hiện đề tài
“Điều tra các điều kiện tự nhiên, môi trường, nguồn lợi vùng ven bờ vịnh Phan Thiết và xây dựng định hướng chính phát triển bền vững kinh tế xã hội địa phương” [56] Kết quả thực hiện của đề tài này đã cung cấp các số liệu khá cơ bản về điều kiện tự nhiên, môi trường vùng ven bờ vịnh Phan Thiết cũng như một số nhận định
về nguồn lợi và tình hình khai thác nguồn lợi thủy hải sản tại khu vực này
Trong năm 1999-2000, Xí nghiệp Khai thác Thủy sản thuộc Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận (trước đây) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cải tiến nghề vây rút chì khơi kết hợp chà nổi theo mô hình phát triển nghề cá Đông Nam Á” [68] Đề tài này đã thực hiện nhiều chuyến khảo sát thực tế và nghiên cứu ngư trường, nguồn lợi vùng biển Bình Thuận cùng với việc so sánh thiết kê và thi công, khai thác chà tại các nước trong khu vực để làm cơ sở cải tiến nghề vây rút chì khơi kết hợp chà nổi tại vùng biển Bình Thuận
Năm 2001, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả thả chà tập trung cá tại Bình Thuận” [31]
Tiếp đó, từ năm 2000 đến năm 2003, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận (trước đây) đã thực hiện đề tài “Khảo sát điều tra đánh giá thực trạng nghề cá khai thác ven
bờ tỉnh Bình Thuận” [32] Kết quả báo cáo của Đề tài đã cung cấp những thông tin
về đặc điểm tự nhiên-ngư trường nguồn lợi vùng biển Bình Thuận cũng như các số liệu điều tra có giá trị về nghề khai thác hải sản cũng như sản lượng khai thác tại vùng biển Bình Thuận
Đến năm 2005-2006, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận (nay thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã thực hiện đề án “Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Bình Thuận đến năm 2010” và sau đó là “Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Bình Thuận đến năm 2010, định hướng
Trang 282020” [33] Kết quả thực hiện đề án đã đề cập nhiều vấn đề xác thực đối với nghề
cá, quản lý nghề cá cũng như những định hướng phát triển cho kinh tế thủy sản của tỉnh Bình Thuận
Ngoài ra, từ năm 2005 đến 2007, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Bình Thuận cũng đã thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng ngộ độc thực phẩm có nguồn gốc tử hải sản tại Bình Thuận và giải pháp phòng chống” [51] với nhiều thông tin bổ ích về các loài hải sản có khả năng gây ngộ độc thực phẩm tại vùng biển Bình Thuận
Năm 2007, trong đề tài luận văn cao học, Nguyễn Thành Nam đã xác định được 178 loài cá thuộc 137 giống, 77 họ, 17 bộ và 2 lớp ở vùng biển ven bờ thành phố tỉnh lỵ Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận Trong đó, cá rạn san hô có 96 loài thuộc 43 họ và 10 bộ Kết quả từ nghiên cứu này đã được công bố trên các Tạp chí khoa học của ĐHQGHN vào năm 2007 và trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vào năm 2008 [41,90] Tuy vậy, những kết quả nghiên cứu này chỉ là bước đầu và cũng chỉ được thực hiện ở một vùng biển bộ phận của Bình Thuận Do vậy, nếu khảo sát trên toàn vùng biển Bình Thuận sẽ cho những kết quả đầy đủ và
có nhiều giá trị hơn nữa
Đến năm 2008, với sự tài trợ của WWF, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiếp tục thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học vùng biển xung quanh Cù Lao Cau tỉnh Bình Thuận” [57] Đề tài đã tiếp tục tiến hành khảo sát vùng biển Cù Lao Cau và thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận về phân bố và diện tích của các hệ sinh thái cũng như hiện trạng rạn san hô và quần xã sinh vật rạn san hô ở khu vực này Kết quả của đợt khảo sát năm 2008 đã ghi nhận được 246 loài, trong
đó có 133 loài trùng với các đợt khảo sát trước đây (vào năm 1993 và 1994 như đã trình bày ở trên) và bổ sung thêm 113 loài cho khu hệ cá rạn san hô tại khu vực này Theo đó, tổng hợp số loài cá tại khu vực này là 324 loài thuộc 115 giống và 41 họ
cá rạn san hô
Những nghiên cứu chi tiết trên nhiều lĩnh vực đối với khu vực Cù Lao Cau (Hòn Cau) là một trong những cơ sở quan trọng để Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận thực hiện đề án “Thành lập Khu Bảo tồn Biển Cù lao Cau” từ năm 2008 đến năm 2010 và đến ngày 15/11/2010 UBND tỉnh Bình Thuận
đã ra Quyết định số 2606/QĐ-UBND thành lập Khu Bảo tồn Biển Hòn Cau - tỉnh
Trang 29Bình Thuận và ban hành Quy chế quản lý các hoạt động trong Khu Bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận theo QĐ số 42/2012/QĐ-UBND ngày 17/10/2012
Tiếp đó, trong 2 năm 2009 và 2010, Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hành thực hiện dự án “Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu Bảo tồn Biển Phú Quý-Bình Thuận” [66] Kết quả khảo sát của dự án này đã xác định được 154 loài cá rạn san
hô thuộc 42 họ, 10 bộ tại vùng biển Phú Quý
Gần đây nhất, vào tháng 12/2011, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận với sự tư vấn của Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam đã công bố báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Bình Thuận thời kỳ 2011-2020” [30] Có thể nói, đây là các kết quả được công bố tổng quát và cập nhật nhất về điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển ngành thủy sản của tỉnh Bình Thuận đến thời điểm hiện tại, đưa ra các quy hoạch phát triển ngành thủy sản của tỉnh trong thời gian tới ở các lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản cũng như quy hoạch phát triển theo vùng kinh tế - xã hội biển cho toàn bộ tỉnh Bình Thuận đến năm 2020
1.1.4 Nhận xét, đánh giá chung về lịch sử nghiên cứu cá biển Việt Nam
1 Nhìn chung, những nghiên cứu trước năm 1954 đều thuộc các tác giả nước ngoài, được tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển
kế cận trong những lĩnh vực khoa học cơ bản như địa chất hải dương, khí tượng-hải văn, các quá trình động lực biển, nhất là sự trao đổi nước giữa Biển Đông với Thái Bình Dương Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng được chú trọng nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa
Sự kiện quan trọng của giai đoạn này là sự ra đời của Viện Hải dương học Đông Dương vào năm 1922 (nay là Viện Hải dương học, Nha Trang)
2 Thời kỳ 1954-1975, đội ngũ các nhà khoa học của đất nước trong các lĩnh vực khoa học nói chung hay trong sinh học, thủy sinh học nói riêng được hình thành
và ngày càng trưởng thành, các hoạt động khoa học được chuyển dần cho các cán
bộ khoa học trong nước
Thời kỳ này đánh dấu sự ra đời của các cơ quan nghiên cứu khoa học biển và
cơ sở giáo dục quan trọng của Việt Nam liên quan đến biển như Trạm Nghiên cứu
Trang 30Biển (1959) (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường Biển), Trạm Nghiên cứu cá biển (1961) (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản), Trường Trung cấp Nông Lâm (Chèm), Khoa Sinh vật (sau là Khoa Sinh học) Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), Khoa Thủy sản của Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Công trình nghiên cứu nổi bật ở miền Bắc trong thời kỳ này là của các dự án hợp tác Việt-Trung, Việt-Xô với những điều tra, khảo sát đa dạng trên quy mô lớn và có nhiều công bố quan trọng
3 Từ ngày đất nước được thống nhất (1975), các nhà khoa học Việt Nam đã trở thành chủ nhân thực sự trong nghiên cứu khoa học vùng ven bờ và biển Cũng từ đây, các chương trình nghiên cứu lớn đã ra đời: chương trình Thuận Hải-Minh Hải, các đề tài thuộc chương trình 52.02, các Chương trình Biển và các Chương trình nghiên cứu Khoa học cơ bản qua các giai đoạn như 48.06, 48B, KT.03, KT.04.01, KHCN.06, KC.09, Đề án 47,
4 Các khảo sát nghiên cứu không chỉ được trải ra trên hầu khắp các địa bàn thuộc thềm lục địa, từ Bắc đến Nam, từ các cửa sông, đầm phá vũng vịnh, các hải đảo gần bờ (Cô Tô-Cát Bà, Hòn Mê, Hòn Cau, Cù lao Chàm, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý ) mà còn ở vùng biển xa bờ (quần đảo Trường Sa)
Trước những năm 80-90 của thế kỷ trước, phần lớn các chương trình nghiên cứu biển đều được triển khai ở những vùng nước ngoài độ sâu trên 20-30 m Phía trong còn là những khu vực trống, ít được quan tâm, trừ những đối tượng nghiên cứu riêng lẻ gắn liền với các đặc trưng vùng triều (địa chất, địa mạo bờ biển, sinh vật vùng triều ) Chính trên địa bàn này, những cơ sở nghiên cứu ít có phương tiện
đi biển như các trường Đại học và một số cơ quan khoa học khác đã triển khai những nghiên cứu của mình một cách rầm rộ, làm thay đổi nhận thức của xã hội đối với một vùng có giá trị khoa học độc đáo, giàu tài nguyên và các tiềm năng khoa học khác trong phát triển kinh tế - xã hội của một nước có bờ biển dài trên 3.260 km
và thềm lục địa rộng lớn
5 Cho đến những năm 1970-1990, đại bộ phận các đề tài, chương trình nghiên cứu tập trung trong các lĩnh vực điều tra cơ bản thường tiến hành riêng lẻ theo các đối tượng, các vấn đề mang tính chuyên ngành, thiếu đồng bộ, phân tán cả
Trang 31về địa điểm, thời gian, thậm chí khác nhau về cả mục đích nghiên cứu do nhu cầu nghiên cứu của các ngành khác nhau
Tuy nhiên, cũng từ đầu những năm 1970, trên cơ sở những nhận thức mới về một vùng tiếp xúc sông - biển hay rộng hơn là tiếp xúc lục địa - đại dương và vai trò của nó trong phát triển kinh tế-xã hội, một hướng nghiên cứu mới ra đời - nghiên cứu các hệ cửa sông theo quan điểm sinh thái học cùng với sự xuất hiện các đề tài nghiên cứu tổng hợp, liên ngành mang tính cấu trúc của một hệ sinh thái cửa sông ven biển nói riêng hay cả vùng biển nói chung
Dạng nghiên cứu đầu tiên như thế được triển khai với tên “Cấu trúc sinh học của vùng cửa sông thuộc hệ thống sông Hồng” (Vũ Trung Tạng, 1974-1976) Theo quan điểm trên, các đề tài tiếp sau phần lớn đều mang tên điều tra, nghiên cứu tổng hợp với sự tham gia của nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau cùng với sự hợp tác của các nhà khoa học trong trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hay từ các cơ quan ngoài trường (địa chất - địa mạo, thổ nhưỡng - nông hóa, hải dương, khí tượng - hải văn, sinh học, .) như “Điều tra tổng hợp nguồn lợi các đầm phá phía Nam sông Hương” (1976-1977), “Điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông Cửu Long” (Vũ Tự Lập & Vũ Trung Tạng, 1977-1980), “Điều tra tổng hợp và đánh giá tài nguyên thiên nhiên vùng cửa sông thuộc hệ thống sông Hồng nhằm khai thác hợp lí và phát triển tài nguyên” (Vũ Trung Tạng, 1981-1985), cũng như các đề tài khác liên quan đến hệ sinh thái cửa sông (Vũ Trung Tạng, 1996-2000, 2001-2003, 2006-2008),
Nội dung các nghiên cứu trên không chỉ cung cấp những số liệu điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, thành phần các loài thủy sinh vật và nguồn lợi hải sản mà còn được tổng kết theo quan điểm sinh thái học của một thủy vực chuyển tiếp sông - biển, nơi có cấu trúc nội bộ thống nhất cao, theo thứ bậc chặt chẽ giữa các thành phần tồn tại và phát triển thông qua các con đường vận động của vật chất và năng lượng cũng như các mối quan hệ tương tác giữa toàn vùng với môi trường của nó: lục địa-biển, đặt cơ sở cho các quy hoạch sử dụng tổng hợp tài nguyên cho phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương ven biển một cách lâu dài
Kết quả của các hoạt động trên tạo cơ sở cho sự ra đời của chuyên khảo “Các
hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” [37] nay được tái bản có bổ sung dưới tên mới
Trang 32“Sinh thái học các hệ cửa sông Việt Nam” [39] cũng như quyển “Biển Đông - tài nguyên thiên nhiên và con người” [38]
6 Kết quả của các chương trình, đề tài hoạt động trong các thập kỉ qua đã được công bố trong 5 hội nghị Khoa học và Công nghệ biển quốc gia; Hội nghị về các vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học Sự sống; Hội nghị, hội thảo khoa học
về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật của các Trường đại học, các Viện nghiên cứu, v.v cùng nhiều ấn phẩm khoa học ra đời: Chuyên khảo biển do Trung tâm Khoa học và Công nghệ quốc gia ấn hành (1994); các Tuyển tập Nghiên cứu Biển (Viện Nghiên cứu biển trước đây hay Viện Hải dương học Nha Trang hiện nay) [58]; 4 tập
về Biển Đông của Chương trình biển KHCN.06; nhiều ấn phẩm của Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng và của Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, các Viện Nghiên cứu và Nuôi trồng Thủy sản (I, II và III), các Tuyển tập hay Tạp chí Khoa học của các trường Đại học Tổng hợp trước đây, của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Thủy sản, Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn và nhiều sách chuyên khảo khác của các nhà khoa học,
Các nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng ta nhiều hiểu biết ngày càng sâu
về mặt lí luận, tích lũy được nhiều nguồn tư liệu cơ bản và các bài học thực tiễn đối với việc quản lí tài nguyên và môi trường của đới biển ven bờ, bao gồm trong đó cả các thủy vực cửa sông ven biển
đó quy định sự tồn tại và phát triển của các dạng tài nguyên tái tạo và không tái tạo;
- Giúp chúng ta hiểu biết được lịch sử hình thành và những đặc trưng về cấu trúc của khu hệ sinh vật biển cũng như vị trí địa động vật của nó nói chung hay của từng khu vực địa lý nói riêng; bước đầu hiểu biết những quy luật biến động số
Trang 33lượng và sinh vật lượng của các nhóm loài thủy sinh vật chính, nhất là những đối tượng có giá trị trong khai thác hải sản
+ Về nguồn tư liệu cơ bản
- Cung cấp cho chúng ta các tập số liệu cơ bản về địa chất-địa mạo, các tập
số liệu về khí tượng thủy hải văn của Biển Đông nói chung hay của các thủy vực cửa sông ven biển nói tiêng;
- Cung cấp các dẫn liệu về thành phần loài, sự phân bố về số lượng và sinh vật lượng của các nhóm thủy sinh vật chính cũng như sự biến động của chúng liên quan với sự biến đổi của các nhân tố môi trường;
- Cung cấp các dữ liệu về thành phần loài, trữ lượng và khả năng khai thác các dạng nguồn lợi hải sản trong các vực nước
+ Về thực tiễn sản xuất
- Đánh giá được hiện trạng và mức độ khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên, đặc biệt là tình trạng khai thác quá mức dẫn đến sự thất thoát đa dạng sinh học, suy giảm nguồn lợi sinh vật, thu hẹp hay hủy hoại các hệ sinh thái cơ bản có sức sản xuất cao (cửa sông, rừng ngập mặn, đai cỏ biển, rạn san hô), ;
- Đánh giá được mức độ ô nhiễm vùng cửa sông ven biển và những nguyên nhân gây ra sự suy thoái và ô nhiễm môi trường trong các hoạt động nhân sinh (khai thác và sử dụng đất đai, thu hẹp và hủy hoại rừng ngập mặn, các thảm cỏ biển, rạn san hô, gây ô nhiễm môi trường bởi các chất thải rắn, chất thải lỏng, dầu, các hóa chất độc ), sự xuất hiện của thủy triều đỏ ở vùng nước cửa sông ven biển;
- Từ những hậu quả trên, buộc chúng ta phải nhận thức lại về các hoạt động kinh tế-xã hội, trước hết là sự định hướng trong các hoạt động từ khai thác và sử dụng bất hợp lí tài nguyên sang khai thác và sử dụng bền vững hơn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường Điều này có thể nhận thấy được trong các hoạt động khoa học Các đề tài, chương trình nghiên cứu chuyển dần từ nghiên cứu riêng lẻ các đối tượng sang nghiên cứu tổng hợp, đồng bộ, đa ngành và ngày càng tiếp cận với quan điểm sinh thái học hiện đại Trên cơ sở đó, các đề tài nghiên cứu khoa học có thể đề xuất các quy hoạch, các giải pháp khoa học nhằm khai thác và sử dụng tài nguyên một cách tổng hợp, phù hợp với chiến lược phát triển bền vững
Trang 34Từ nhận thức của các nhà khoa học và thực trạng suy thoái tài nguyên và môi trường một cách nghiêm trọng hiện nay, các chủ trương và chính sách quản lí của các ngành và nhà nước cũng đang dần thay đổi từ việc quản lí đơn ngành sang đa ngành Nhiều đạo luật, nghị định, quyết định của các cấp quản lí ngày càng chứa đựng hàm lượng khoa học cao hơn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường như Luật Môi trường, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Đa dạng sinh học, Chương trình nghị sự 21,
Đương nhiên, từ nhận thức đến hành động, từ chủ trương chính sách đến thực tiễn còn những khoảng cách không nhỏ Đó chính là những thử thách không nhỏ trên con đường khai thác, sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học cho phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
7 Những cơ quan đóng vai trò lớn trong công cuộc nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hải sản của Việt Nam có thể kể đến là Viện Hải dương học (Nha Trang), Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Thủy sản (Nha Trang) Trong đó, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên-ĐHQG Hà Nội và Trường Đại học Thủy sản (Nha Trang) không những là các đơn vị nghiên cứu mà còn đóng vai trò đào tạo, bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu khoa học to lớn
1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐỊA ĐỘNG VẬT CÁ BIỂN
1.2.1 Các vùng sinh thái chính của biển và đại dương
Hiện nay, các quan điểm phân chia các vùng sinh thái của biển và đại dương
có sự thống nhất cao bao gồm 4 vùng chính với đặc trưng cho đối tượng cá biển (khoảng hơn 16.000 loài) như sau [81]:
1 Cá nổi tầng mặt biển khơi (Epipelagic fishes): phân bố từ phần nước bề mặt vùng khơi đại dương xuống đến độ sâu 200 m nước Tổng số loài cá của vùng này vào khoảng 360 loài, chiếm 1,3% tổng số loài cá
2 Cá tầng giữa biển sâu (Deep pelagic fishes): có khoảng 1.400 loài (khoảng 5% tổng số loài cá) Cá biển sâu có thể được chia thành 2 nhóm dựa vào độ sâu phân bố gồm: cá tầng trung (Mesopelagic fishes) sống ở độ sâu 200-1000 m, và cá tầng sâu (Bathypelagic fishes) sống ở độ sâu lớn hơn 1000 m
Trang 353 Cá đáy biển sâu (Deep benthic fishes): có khoảng 1.800 loài (khoảng 6,4% tổng số loài cá) là những loài sống ở vùng đáy biển sâu hơn 200 m
4 Cá gần bờ hay cá thềm lục địa (Littoral or Continental fishes): là những loài cá sống ở biển nông vùng gần bờ và vùng thềm lục địa, từ tầng mặt đến độ sâu
200 m nước Đây là nhóm cá lớn nhất với khoảng 12.600 loài (chiếm 45% tống số loài cá)
1.2.2 Các vùng địa động vật ở biển và đại dương
Những đơn vị địa lý sinh vật biển toàn cầu đã được đưa ra bởi tác giả Ekman bằng tiếng Anh năm 1953 (đã được xuất bản bằng tiếng Đức năm 1935) [78], và Briggs (1974, 1995) [73,74] Briggs cũng tập trung vào xác định những tỉnh địa động vật ở vùng ven bờ và vùng thềm lục địa dựa vào mức độ đặc hữu của chúng Những năm gần đây, Sherman (1994) [95], Duda & Sherman (2002) [76],và Sherman et al (2009) [96] đã phát triển khái niệm về một hệ thống gồm 64 Hệ Sinh thái Biển Lớn-Large Marine Ecosystems (LMEs) Hệ thống này được mô tả dọc theo các thềm lục địa và dòng chảy ven bờ, bao gồm những đơn vị đồng quản lý nghề cá đa quốc gia và hiện có đến 80% sản lượng cá biển được đánh bắt tại 64 Hệ Sinh thái Biển Lớn này Những Hệ Sinh thái Biển Lớn (LMEs) này là những khu vực tự nhiên của biển bao gồm vùng nước ven bờ từ các lưu vực và vùng cửa sông
ra đến biển ở đường ranh giới vùng thềm lục địa và các dòng chảy ven bờ Chúng là những vùng biển có diện tích lớn từ 200.000 km2 trở lên với ranh giới tự nhiên dựa trên 4 chỉ tiêu sinh thái học: độ sâu (bathymetry), chế độ thủy văn (hydrography), năng suất sinh học (productivity), và những quần thể có mối quan hệ dinh dưỡng với nhau [95]
Sự phân chia đơn giản nhất về các vùng địa lý đối với sự phân bố của cá biển gần bờ là sắp xếp chúng vào 6 vùng biển chính theo mức độ giảm dần về đa dạng sinh học [81]: i) Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific), ii) Tây Đại Tây Dương (western Atlantic), iii) Đông Thái Bình Dương (eastern Pacific), iv) Đông Đại Tây Dương (eastern Atlantic), v) Bắc cực (Arctic) và vi) Nam cực (Antarctic) Ngoài ra còn có quan điểm phân chia ra các miền địa động vật đại dương như sau: 1) Miền nước lạnh phía Bắc hay miền Bắc cực (Arctic), 2) Miền nước ôn hòa Bắc Thái Bình Dương hay miền Bắc Thái Bình Dương (Boreo-Pacific), 3) Miền nước ôn hòa
Trang 36Bắc Đại Tây Dương hay miền Bắc Đại Tây Dương (Boreo-Atlantic), 4) Miền nước
ấm Ấn Độ-Thái Bình Dương hay miền Ấn Độ-Thái Bình Dương nhiệt đới (Tropical-Indo-Pacific), 5) Miền nước ấm Đại Tây Dương hay miền Đại Tây Dương nhiệt đới (Tropical-Atlantic), 6) Miền nước lạnh phía Nam hay miền Nam cực (Antarctic)
1.2.3 Hệ thống những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (MEOW)
Mark D Spalding et al (2007) [97] đề xuất hệ thống Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (Marine Ecoregions of the World-MEOW) cho các vùng biển gần bờ
và thềm lục địa Việc phân chia các miền địa động vật và các đơn vị cấp dưới theo nguyên tắc sau:
- Miền (Realms hoặc Regions): là đơn vị phân chia lớn nhất và dựa vào
thuật ngữ về miền được sử dụng cho các khu vực trên cạn do Udvardy đề xuất năm
1975 [99] như sau: “miền là khu vực có diện tích lục địa hoặc á lục địa với các đặc điểm thống nhất về địa lý và khu hệ động, thực vật” Đối với biển, phạm vi “miền” được xác định như sau:
“Miền là những vùng có diện tích rất lớn ở vùng gần bờ, vùng đáy hoặc vùng
nước mặt đại dương với những khu hệ sinh vật có mối quan hệ nội tại với nhau ở các bậc phân loại cao, là kết quả của lịch sử tiến hóa Các miền có mức độ đặc hữu cao, có
cả ở bậc giống và bậc họ ở một số nhóm Những yếu tố quyết định đến sự thống nhất của khu hệ sinh vật ở các miền là nhiệt độ nước (yếu tố sinh thái), sự cách ly về khoảng cách hoặc do lịch sử, và nền đáy (yếu tố lịch sử)”
Ở đây, miền chỉ tập trung vào vùng gần bờ và thềm lục địa, không đề cập đến các miền của bề mặt đại dương và vùng đáy sâu
- Tỉnh (Provinces): là những đơn vị nằm trong miền, được xác định như sau:
“Tỉnh là những vùng có diện tích lớn, đặc trưng bởi các khu hệ sinh vật ít nhất
có mối quan hệ về lịch sử tiến hóa Bậc tỉnh chứa đựng một vài bậc đặc hữu, đặc biệt là
ở bậc loài Mặc dù sự cách ly lịch sử vẫn có vai trò nhất định, nhưng nhiều khu hệ sinh vật phân biệt được hình thành là do các nhân tố phi sinh vật đã tạo nên các đường ranh giới Những nhân tố này bao gồm những yếu tố về địa mạo (liên quan đến hệ thống đảo
và rạn, những biển nửa kín), những yếu tố về thủy văn (dòng hải lưu, nước trồi, trạng thái động lực của băng), hoặc những ảnh hưởng của địa hóa học (phổ chất dinh dưỡng được cung cấp, phổ độ muối)”
Trang 37Tỉnh là những đơn vị hoàn chỉnh, ví dụ như bao trọn ranh giới vòng đời của nhiều bậc phân loại thành viên, bao gồm các loài có khả năng di chuyển hoặc phát tán Tại nhiều khu vực, giới hạn của tỉnh có thể xem là tương tự với hệ thống địa lý sinh vật biển toàn cầu được đề xuất bởi Ekman (1953) [78] và Briggs (1974, 1995) [73,74], và hệ thống Hệ Sinh thái Biển Lớn (LMEs) được đề xuất bởi Duda & Sherman (2002) [76] và Sherman et al (2009) [96]
- Vùng sinh thái (Ecoregions): là đơn vị địa lý sinh vật nhỏ nhất trong hệ
thống những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (MEOW) và được xác định là:
“Vùng sinh thái là những khu vực mà thành phần loài có mối quan hệ về nguồn
gốc, phân biệt rõ ràng với những vùng sinh thái lân cận Thành phần loài ở những vùng này có vẻ như được xác định bởi sự ưu thế của một số ít hệ sinh thái và/hoặc một tập hợp yếu tố riêng biệt về hải dương hoặc địa hình Những sự tác động mạnh của các yếu
tố hải dương ưu thế đến các vùng sinh thái rất khác nhau theo từng khu vực nhưng có thể bao gồm những yếu tố sau: do sự cách ly, các dải nước trồi, nguồn cung cấp chất dinh dưỡng, dòng chảy nước ngọt, chế độ nhiệt, chế độ băng/trạng thái động lực của băng, yếu tố thời tiết cực đoan, nền đáy, dòng hải lưu, và phức hợp về sự phân bố ở các
độ sâu khác nhau hoặc tổng hợp các yếu tố ở vùng bờ”
Vùng sinh thái ở đây là những đơn vị có sự liên quan chặt chẽ, có diện tích
đủ để hình thành các quá trình sinh thái hoặc vòng đời cho hầu hết các loài ít di chuyển Mặc dù một số vùng sinh thái ở biển có mức độ đặc hữu quan trọng nhưng đây không phải là yếu tố để xác định một vùng sinh thái ở biển (tiêu chuẩn về mức
độ đặc hữu là chỉ tiêu của vùng sinh thái trên cạn)
Từ những quan điểm trên, Mark D Spalding et al (2007) [97] đã đề xuất một hệ thống theo cấp bậc bao gồm 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển (thể hiện cụ thể ở bảng 1.1), bao hết toàn bộ vùng nước ven bờ và thềm lục địa của thế giới có độ sâu nhỏ hơn 200 m Những vùng được tô đậm ở các sơ đồ ở hình 1.1 được xác định ra đến 370 km (200 hải lý) tính từ bờ (hoặc là vùng nối các đường đẳng sâu 200 m nếu những đường này xa hơn khoảng cách 370 km nêu trên)
Trang 38Hình 1.1 Sơ đồ các cấp độ phân chia của những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới
(MEOW) (phần tô đậm)
a Miền, b Tỉnh, c, Vùng sinh thái [97]
c
Trang 39Bảng 1.1 Bảng mô tả 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển ven bờ ở hình 1.1
Tên miền được thể hiện chữ in đậm, tên tỉnh (từ 1 đến 62) là chữ nghiêng và tên vùng sinh
thái (từ 1 đến 232) dạng chữ thường [97]
Trang 40Bảng 1.1 Bảng mô tả 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển gần bờ ở hình 1.1
Tên miền được thể hiện chữ in đậm, tên tỉnh (từ 1 đến 62) là chữ nghiêng và tên vùng sinh
thái (từ 1 đến 232) dạng chữ thường (tiếp theo) [97]
Ghi chú: 1.Arctic-miền Bắc cực; 2.Temperate Northern Atlantic-miền nước ấm Bắc Đại Tây Dương; 3.Temperate Northern Pacific-miền nước ấm Bắc Thái Bình Dương; 4.Tropical Atlantic-miền nhiệt đới Đại Tây Dương; 5.Western Indo-Pacific-miền Tây Ấn Độ-Thái Bình Dương; 6.Central Indo-Pacific-miền Trung Ấn Độ-Thái Bình Dương; 7.Eastern Indo-Pacific-miền Đông Ấn Độ-Thái Bình Dương; 8.Tropical Eastern Pacific-miền nhiệt đới Đông Thái Bình Dương; 9.Temperate South America-miền nước ấm Nam Mỹ; 10.Temperate Southern Africa-miền nước ấm Nam Phi; 11.Temperate Autralia-miền nước ấm Châu Úc; 12.Southern Ocean-miền Phương Nam
1.2.4 Những quan điểm ban đầu về địa động vật cá biển Việt Nam
Nhìn chung, các nghiên cứu về địa động vật học cá biển của Việt Nam còn hạn chế và gần như không tìm thấy tài liệu, công trình nào đề cập trực tiếp đến vấn đề này Các nghiên cứu về cá biển Việt Nam hiện nay tập trung vào việc nghiên cứu khu hệ, nghề cá (trữ lượng, khả năng khai thác, ), sinh học, sinh thái học cá Do
đó, việc tập hợp các kết quả nghiên cứu này chỉ cho chúng ta những số liệu cơ bản
về thành phần loài và các thông tin liên quan đã trình bày ở phần trên
Trong quyển “Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam” do Bộ Thủy sản (trước đây) tổng hợp và NXB Nông nghiệp phát hành năm 1996 [3] đã đưa ra một số nhận xét như sau về yếu tố địa động vật của khu hệ cá biển Việt Nam: