1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn học đàng trong thế kỷ XVII – XVIII trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc

156 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, chúng tôi không viết lại văn học sử Đàng Trong theo cách các tác giả Nguyễn Văn Sâm, Huỳnh Ái Tông, Nguyễn Văn Trung… đã làm mà chỉ lựa chọn những dữ kiện, văn liệu, thi liệu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THANH THỦY

VĂN HỌC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII - XVIII

TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN

CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

TRẦN THANH THỦY

VĂN HỌC ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII – XVIII

TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN

CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS TS TRẦN NGỌC VƯƠNG

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA LUẬN ÁN THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Trần Ngọc Vương

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN

GS.TS Trần Nho Thìn

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong luận án là kết quả nghiên cứu của tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung này

Hà Nội, ngày 22 tháng 03 năm 2017

NGHIÊN CỨU SINH

Trần Thanh Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến GS TS Trần Ngọc Vương – người thầy đã tận tình chỉ dạy, định hướng, góp ý cho tôi trong suốt thời gian học tập, làm việc, giúp tôi hoàn thành luận án trong điều kiện tốt nhất có thể

Xin cảm ơn gia đình, người thân, các thầy cô, bạn bè đã động viên, ủng hộ và giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn Khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án

Xin cảm ơn Thư viện Thông tin Khoa học xã hội (Viện Thông tin Khoa học xã hội

- Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn tới thành viên trong các Hội đồng đánh giá luận án bởi những góp ý của Hội đồng sẽ giúp tôi có những tiến bộ nhanh hơn trên con đường học tập và nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn và kính chúc mọi điều tốt đẹp!

NGHIÊN CỨU SINH

Trần Thanh Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 6

1.2.1 Văn học Đàng Trong và các công trình nghiên cứu văn học sử 16 1.2.2 Văn học Đàng Trong như một đối tượng khảo sát chuyên biệt 25

Chương 2 VĂN HÓA – XÃ HỘI ĐÀNG TRONG THẾ KỶ

2.1.2 Học phong không chuộng từ chương cử nghiệp: điều kiện để

văn học Nôm phát triển

43

2.2 Sự đặc biệt trong thành phần cư dân: ưu thế vượt trội cho việc phát

triển các loại hình văn học diễn đạt bằng hình thức dân gian

46

2.3 Xã hội thị dân: tiền đề cho sức trẻ của văn học Đàng Trong 48

Trang 6

Chương 3 VĂN HỌC ĐÀNG TRONG XÉT TRONG MỐI TƯƠNG

QUAN VỚI VĂN HỌC ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII – XVIII

3.3 Tương quan với văn học Đàng Ngoài: nhìn từ phương diện nội

3.4.2 Lối đi riêng của văn học Đàng Trong với những thể loại đặc

thù phương Nam (vãn, vè, tuồng)

92

3.5 Tương quan với văn học Đàng Ngoài: nhìn từ phương diện ngôn ngữ 100

Chương 4 VAI TRÒ CỦA VĂN HỌC ĐÀNG TRONG ĐỐI VỚI

VĂN HỌC DÂN TỘC

108

4.1.1 Đào Duy Từ và sự hình thành trung tâm văn học Thuận - Quảng 110 4.1.2 Mạc Thiên Tích, Chiêu Anh các và trung tâm văn học Hà Tiên 114 4.1.3 Gia Định tam gia và trung tâm văn học Gia Định 123 4.2 Sáng tạo hình tượng văn học mới (người hào kiệt, người anh

Trang 7

KẾT LUẬN 137

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

141

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đánh dấu sự ra đời tương đối muộn mằn so với văn học miền Bắc,

nhưng dường như văn học viết miền Nam1

chưa bao giờ phải “lép vế” trong thân phận của kẻ “đến sau” với những giới hạn về giá trị Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy, từ khi định hình, văn học miền Nam gần như luôn có xu hướng đi đầu cho những thể nghiệm mới mẻ của các thể loại văn học: từ truyện Nôm bác học, vãn, tuồng… (thời trung đại) cho đến báo, tạp chí, truyện ngắn, truyện dài, truyện phóng tác… (thời cận hiện đại) và dội tầm ảnh hưởng ngược trở lại miền Bắc Có thể, chính số phận lịch sử của miền Nam đã quy định cho tính tiên phong của vùng văn học này trên rất nhiều góc độ, góp phần hình thành nên một vùng văn học mang nhiều biệt sắc so với vùng văn học truyền thống ở miền Bắc

Điều đó dẫn đến, dù là trên thực tế hay ở tầm lý luận, rằng: sẽ là bất khả thi

và thiếu thuyết phục nếu hình dung về sự phát triển của văn học Việt Nam vốn được đánh giá là đa dạng, muôn màu mà không lưu tâm đến bộ phận văn học được sản sinh trên mảnh đất phương Nam

1.2 Có một thời kỳ, dường như văn học miền Nam chưa được đánh giá ở

đúng tầm của nó Phần lớn các nghiên cứu chỉ căn cứ vào thành tựu văn học cụ thể khi đánh giá về một vùng văn học, dẫn đến sự “xem nhẹ” văn học miền Nam trước

bề dày truyền thống của văn học miền Bắc, thậm chí, từng có người cho rằng “Văn nghệ miền Nam không có quá khứ”2 Mặc dù cùng với thời gian, văn học miền Nam

đã được các thế hệ nghiên cứu nhìn nhận lại với lối tư duy toàn diện, hệ thống và thực sự cầu thị nhưng do khó khăn trong điều kiện tiếp cận và xử lý tư liệu, nên sự quan tâm tới văn học miền Nam nói chung, và văn học giai đoạn Đàng Trong nói riêng, chưa được đầy đủ Hầu hết các công trình mới chỉ lẩy ra một “lát cắt”, một đặc điểm, một điển hình nào đó, chứ chưa tái hiện một cách đầy đủ, toàn diện diện

1

Ở đây, chúng tôi tạm gọi là văn học miền Nam trong ý nghĩa bao hàm tổng thể nền văn học tại miền đất phía Nam của

Tổ quốc ở tất cả các thời kỳ, trong đó có giai đoạn Đàng Trong

2

Phát biểu của Trần Thanh Hiệp, luật sư, nhà lý luận văn học của nhóm “Sáng tạo” chủ trương thơ tự do [Dẫn theo:

Nguyễn Văn Trung (2015), Hồ sơ về Lục Châu học – Tìm hiểu con người ở vùng đất mới dựa vào tài liệu văn, sử bằng

Trang 9

mạo văn học miền Nam nói chung và văn học Đàng Trong nói riêng Điều đáng nói là, ngay trong một số giáo trình giảng dạy ở bậc đại học của các trường đầu ngành khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề này cũng chưa được quan tâm đầy đủ, đúng mức

1.3 Lịch sử đã chứng minh, trong giai đoạn đối kháng Đàng Trong - Đàng

Ngoài, sự đối kháng diễn ra ở tất cả các mặt: quân sự - chính trị - kinh tế Hiển nhiên, xét về mặt biện chứng lịch sử, đó chính là điều kiện tồn tại của một vùng lãnh thổ độc lập Tuy nhiên, điều lý thú là trong suốt thời kỳ phân tranh ấy, chưa bao giờ thấy thật sự đặt ra sự đối kháng, cạnh tranh văn hóa giữa hai Đàng Có thể,

đó chính là yếu tố bảo lưu đậm đặc nhất, vững bền nhất sự thống nhất dân tộc và diện mạo quốc gia, để rồi sau mấy trăm năm chia cắt, lại hợp nhất Trong - Ngoài về một chỉnh thể văn hóa Việt

Tuy nhiên, thực tế chia cắt 200 năm, dù muốn hay không, hẳn vẫn tạo ra những sự khác biệt Không chỉ xét trên tổng thể nền văn hóa nói chung, mà bản thân văn học Đàng Trong cũng phát triển trong tình trạng lưỡng nan vừa thống nhất vừa khác biệt như thế Thống nhất nhờ sự bảo lưu những giá trị văn học, mà rộng hơn là giá trị văn hóa truyền thống Khác biệt vì trên đường hướng ly khai, người Việt ở phương Nam phải không ngừng sáng tạo ra cái mới, để sinh tồn và cũng để khẳng định sự tồn tại độc lập của vùng lãnh thổ - vùng thể chế Vấn đề đặt ra là những sự khác biệt có thực ấy trong văn học nơi vùng đất mới có tạo ra sự xung khắc với văn học Đàng Ngoài nói riêng và với nền văn học dân tộc đã định hình từ lâu đời nói chung; hay chính những biệt sắc đó lại góp phần vào sự phong phú của nền văn học dân tộc? Nói cách khác, văn học Đàng Trong nằm ở vị trí nào và xác lập vai trò gì trong nền văn học dân tộc? Chúng tôi tin rằng, lần giở lại những trang văn học Đàng Trong thời kỳ phân tranh, sẽ là một trong những hướng đi hứa hẹn để tìm ra lời giải cho những câu hỏi đó

Trên đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng tôi lựa chọn Văn học Đàng

Trong thế kỷ XVII - XVIII trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc làm đối

tượng nghiên cứu

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện luận án này, chúng tôi hướng tới ba mục tiêu cơ bản:

2.1 Hình dung tổng thể về văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII Tuy

nhiên, chúng tôi không viết lại văn học sử Đàng Trong theo cách các tác giả Nguyễn Văn Sâm, Huỳnh Ái Tông, Nguyễn Văn Trung… đã làm mà chỉ lựa chọn những dữ kiện, văn liệu, thi liệu phục vụ cho quá trình nhận thức, đánh giá một cách

cơ bản đặc điểm, vị trí, vai trò của văn học Đàng Trong đối với văn học dân tộc

2.2 Đặt sự vận động của văn học Đàng Trong vào mối tương quan với văn

học Đàng Ngoài và trên lịch trình phát triển của văn học dân tộc để nhận thức những biệt sắc, những dấu ấn chung, từ đó định vị vai trò của nó trong nền văn học dân tộc Mục đích của chúng tôi qua nghiên cứu này là vừa cụ thể hóa vùng văn học quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ này, vừa hình dung toàn diện về văn học dân tộc một thời kỳ

2.3 Đặt các dữ kiện văn học vào bối cảnh lịch sử - văn hóa khi ấy để hình

dung về sự phát triển thực sự của nền văn học và cố gắng trong chừng mực có thể, tìm ra logic nội tại của sự phát triển ấy

3 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Hướng tiếp cận

Đối tượng khảo sát của luận án là những dấu ấn văn chương ở một vùng đất mới, trong một giai đoạn đặc biệt của tiến trình văn hóa khu vực Vì vậy, nghiên cứu chủ yếu được thực hiện theo hướng tiếp cận hệ thống trong miêu tả lịch sử văn học và hướng nghiên cứu vùng văn học Tuy nhiên, thực tế là cho đến nay, chưa từng xuất hiện một công trình mang tính phương pháp luận nào bàn chuyên sâu về những tiêu chí xác định một vùng văn học viết, cũng như đặt ra cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu văn học vùng Vì vậy, để có thể giải mã vùng văn học Đàng Trong

ở các chiều cạnh khác nhau, chúng tôi tiếp thu một cách có chọn lọc những tác

phẩm mang màu sắc lý thuyết, thể hiện quan điểm nghiên cứu của các học giả uy tín

Điển hình trong đó là các quan niệm:

- Quan niệm về một công trình văn học sử thực thụ

Theo Trần Ngọc Vương, một công trình văn học sử phải hình dung cho được

lịch sử vận động của đối tượng là văn học, vừa thông qua việc trình bày diện mạo tổng thể của từng thời đại, thời kỳ, giai đoạn, thời đoạn văn học, vừa giới thiệu và

Trang 11

đặt định vị trí của các tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong tiến trình văn học của thời đoạn, giai đoạn, thời kỳ, thậm chí tác động của các tác giả ấy, tác phẩm ấy đến cả thời đại văn học Bên cạnh việc trình bày nội dung văn học, công trình văn học sử

cần trình bày cho được những gì làm nên diện mạo của bản thân văn học, tức thực

trạng chất nền và cấu trúc của nền văn học: ngôn ngữ và hệ thống thể loại [189, tr

9] Việc hình dung, đánh giá về văn học Đàng Trong cũng tiến hành theo xu hướng đó

- Quan niệm về việc “đọc” tác phẩm văn học bằng văn hóa, nói cách khác là

quan niệm về tính khả thi của phương pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học trung đại

Theo Trần Nho Thìn, phương pháp này ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ quan niệm về con người… từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, ngôn ngữ… Nó thiên về nhiệm vụ giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nét thời đại của tác phẩm [189,

tr 47] Chọn góc độ văn hóa để quan sát và giải thích các hiện tượng văn học, đặc biệt là văn học trung đại, sẽ giúp giảm thiểu khả năng suy diễn, khả năng hiện đại hóa văn học quá khứ, cắt nghĩa văn học bằng cặp mắt của người hiện đại, chịu ảnh hưởng cách nhìn của thế giới hiện đại, do vậy mà góp phần đưa người đọc “có nhiều cơ may đến gần sự thật lịch sử văn học” [151, tr 6]

- Quan niệm về sự phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc

Mặc dù việc phân biệt Nam - Bắc, trong một số bối cảnh, ở một vài thời

điểm lịch sử cụ thể, có thể bị coi là “trái đạo lý” khi “chia rẽ” tính thống nhất của dân tộc, tuy nhiên, Trần Đình Hượu cho rằng, “ở một số mặt nào đó trong nghiên cứu khoa học điều đó là cần thiết” [67, tr 189] Luận đề này đã chứng minh được tính khả dụng khi áp dụng cho nghiên cứu trường hợp Nguyễn Thông, xét “từ góc

độ phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc”1 Theo ông, tư tưởng, phong cách – phong cách làm việc, nghiên cứu và sáng tác – của Nguyễn Thông có liên quan với vùng đất mới Nam Kỳ và học phong ở đó, nơi mà “trong sự phát triển có

1

Xem thêm bài viết: “Từ góc độ phát triển không đồng đều của văn hóa dân tộc nhìn ánh sáng của ngôi sao Nguyễn

Thông”, Tuyển tập, Tập 2, Trần Đình Hượu (2007), NXB Giáo dục, Hà Nội

Trang 12

nhược điểm là thiếu truyền thống lâu đời nhưng vì là mới nên lại dễ tiếp nhận cái đương đại nhanh chóng, đi vào tương lai nhẹ nhõm” [67, tr 194] Con người ở những vùng đất ấy, có thể là chưa có cái nhuần nhị do truyền thống rèn giũa trở thành tinh hoa, nhưng vì còn chất phác nên lại hoạt bát, tự nhiên, năng động hơn Ngôi sao Nguyễn Thông, nếu có ánh sáng khác thường, so với các ngôi sao khác của Bắc Hà lúc đó, thì chính là do đặc điểm đó Nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục triển khai theo hướng tiếp cận về sự phát triển không đồng đều đó của các vùng văn hóa – văn học

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp văn học sử

Để hình dung về văn học Đàng Trong đúng như “bản lai diện mục” vốn có, chúng tôi triển khai nội dung khảo cứu theo các tiêu chí của văn học sử, từ đó chọn lọc những dữ kiện, văn liệu, thi liệu hữu ích cho quá trình tư duy để đi đến nhận thức, đánh giá về đặc điểm, vị trí, vai trò của văn học Đàng Trong

3.2.2 Phương pháp so sánh

Đặt văn học Đàng Trong vào mối tương quan với văn học Đàng Ngoài thế kỷ XVII – XVIII và trong toàn tiến trình văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi hy vọng có thể trên cơ sở đó thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa tác phẩm của các tác giả Đàng Trong và Đàng Ngoài giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII, đồng thời chỉ ra được những điểm kế thừa, những sáng tạo mới, những dấu hiệu biệt sắc của văn học – văn hóa phương Nam so với tổng thể văn học – văn hóa Việt Từ

đó xác lập vị trí, vai trò của văn học Đàng Trong trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc

3.2.3 Phương pháp liên ngành

Ở đây, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học - văn hóa Một mặt, từ việc mô tả, phân tích, đánh giá những đặc điểm đặc thù của các tác phẩm văn học viết Đàng Trong giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII mà

“đọc” ra một số mã văn hóa của vùng đất này Mặt khác, đặt tác phẩm văn học vào bối cảnh ở đó nó đã phát sinh và phát triển, trên cơ sở đó nhận diện những đặc điểm văn học mang tính quy luật, tính lịch sử cụ thể, nói cách khác là lý giải các đặc trưng văn học từ góc nhìn văn hóa Theo chúng tôi, đó là mối quan hệ biện chứng hai chiều: văn học hàm chứa trong nó nhiều mã văn hóa, và văn hóa bao

Trang 13

hàm, chi phối, hình thành nên không ít đặc điểm của nền văn học Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa với đối tượng là văn học Đàng Trong Bởi vì khác với nhiều bộ phận văn học địa phương khác, văn học Đàng Trong xuất hiện đúng vào một giai đoạn có nhiều biến động trong lịch sử khu vực mà cũng là một thời kỳ mới của tiến trình văn hóa Đại Việt và là một bộ phận địa phương đặc biệt tiêu biểu cho một giai đoạn văn học đặc biệt, do đó “cũng mang trong các đặc điểm và giá trị của nó những động thái văn hóa đặc thù” [142, tr 270]

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát chính của đề tài là các tác phẩm văn học Đàng Trong thời kỳ

1600 - 1802, trên các khía cạnh: đội ngũ sáng tác, nội dung phản ánh, thể loại, ngôn ngữ… Đây thực chất đều là những vấn đề của văn học sử Tuy không thể coi

là cách đặt vấn đề mới nhưng theo chúng tôi, là những thao tác cần thiết khi muốn hình dung về một thời đoạn văn học, làm cơ sở cho sự định vị vai trò của vùng văn học đó

Do giới hạn về thời gian, khuôn khổ luận án, đặc biệt là năng lực nghiên cứu của bản thân, nên trong luận án này, chúng tôi chỉ khảo sát sáng tác của những tác giả ở vùng đồng bằng và chỉ giới hạn trong phạm vi những tác phẩm văn chương hình tượng Còn một bộ phận sáng tác của các tộc người khác, và những tác phẩm văn chương chức năng, chúng tôi hy vọng sẽ có dịp hoàn thiện ở một công trình nghiên cứu “dài hơi” và hệ thống hơn

4.2 Nguồn tư liệu

- Để có một cái nhìn đại lược về văn học Đàng Trong, chúng tôi tiếp cận tư liệu về sáng tác của các tác giả Đàng Trong thời kỳ 1600 - 1802 và những tư liệu/ công trình nghiên cứu về vùng văn học này của các thế hệ đi trước Về căn bản, những phân tích, bình luận của chúng tôi được thực hiện chủ yếu trên cơ sở những

tư liệu đã được dịch ra quốc ngữ

- Đồng thời, để có thể nhận biết biệt sắc của văn học Đàng Trong cũng như xác định vai trò, vị trí của nó trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, bên cạnh việc khảo sát các tác phẩm Đàng Trong (đối tượng chính), chúng tôi cũng tiếp cận các sáng tác văn học Đàng Ngoài cùng thời kỳ và nhóm tư liệu/ công trình nghiên cứu về văn học cổ trung đại Việt Nam nói chung

Trang 14

- Mặt khác, để có thể hiểu hơn về bối cảnh văn hóa mà ở đó văn học Đàng Trong đã phát sinh và phát triển, chúng tôi thấy cần thiết phải tiếp cận với nhóm tư liệu về lịch sử - văn hóa Đàng Trong

Nhận diện bản chất, cội nguồn của văn học Đàng Trong với tư cách là một thành tố văn hóa, một mặt chịu sự tác động và là hệ quả của những động thái văn hóa đặc thù, mặt khác tác động ngược trở lại, tạo nên sự sinh động cho không gian

văn hóa vùng

6 Cấu trúc luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận án được triển khai theo bốn chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Chương 2: Văn hóa - xã hội Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII

- Chương 3: Văn học Đàng Trong xét trong mối tương quan với văn học Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII

- Chương 4: Vai trò của văn học Đàng Trong đối với văn học dân tộc

Trang 15

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Một số thuật ngữ cơ bản

1.1.1 Đàng Trong - danh xưng miền đất mới

Thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, hai họ quân phiệt cát cứ hai miền Nam - Bắc, lấy sông Gianh (tức Linh Giang, thuộc địa phận Quảng Bình) làm phân giới; khu vực từ sông Gianh trở vào là xứ Đàng Trong/ Đường Trong, thời kỳ đó còn gọi

là Nam Hà (nhiều tài liệu của người nước ngoài gọi là “Quảng Nam quốc”); và khu vực từ sông Gianh trở ra là Đàng Ngoài/ Đường Ngoài, tức Bắc Hà Theo đó, tên gọi Đàng Trong/ Đường Trong - Đàng Ngoài/ Đường Ngoài, hay Nam Hà - Bắc Hà chỉ có ý nghĩa lịch sử trong giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII, khi cục diện non sông chia cắt làm đôi miền

Vậy lịch sử Đàng Trong, lịch sử nửa phần đất phương Nam của Tổ quốc, chính thức bắt đầu từ khi nào? Nhiều công trình nghiên cứu trước nay vẫn xác nhận

đó là thời điểm Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, năm 1558 Nhưng cũng có

ý kiến cho rằng, “sự phân kỳ ấy hoàn toàn không có cơ sở”, rằng “lịch sử Đàng Trong chỉ bắt đầu sau khi Nguyễn Hoàng ngầm đem binh thuyền về Thuận Quảng năm 1600, khiến vết nứt rạn giữa hai phe Trịnh - Nguyễn trong nội bộ triều Lê Trung hưng trở thành không sao hàn gắn được nữa” [142, tr 271] Lại có ý kiến cho rằng, trong suốt thời kỳ Nguyễn Hoàng cầm quyền ở Đàng Trong, không bao giờ công khai công bố sự cát cứ, mà vẫn nhận mệnh lệnh của Lê - Trịnh Phải đợi đến khi chúa Nguyễn Phước Nguyên ngầm tuyên bố “Dư bất thụ sắc” (năm 1630) thì cục diện Đàng Trong - Đàng Ngoài mới chính thức được phân định Vậy cần phải lựa chọn mốc giới khởi đầu như thế nào? Đứng từ giác độ của một người nghiên cứu văn học, tìm hiểu về bối cảnh văn hóa của một vùng đất trong một thời kỳ lịch

sử đặc biệt, chúng tôi cũng mạo muội góp đôi lời bàn

Thiết nghĩ, sự hình thành một vùng đất phải được tiếp nối trên những chặng đường dài lịch sử Không phải đến tận thế kỷ XVII, người Việt mới tiến về phương Nam Và sự kiện Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa theo lệnh chỉ của vua Lê (năm 1558), dẫu xuất phát từ mục đích tìm chốn dung thân, bảo toàn gia tộc sau những biến loạn triều chính, nhưng xét về bản chất chính trị, có lẽ cũng không khác là mấy

Trang 16

so với quá trình “mang gươm đi mở cõi” của các triều đại Lý, Trần, Lê trước đấy từng thực hiện Bởi trên danh nghĩa, thiết chế chính quyền Đàng Trong lúc này, vẫn nằm trong chính thể của triều đình nhà Lê, mà Nguyễn Hoàng, vẫn chỉ là một vị tỉnh thần Thậm chí từng có thời điểm, Nguyễn Hoàng tự mình “đích thân đem tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lạy chào, đem sổ sách về binh lương, tiền, lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam dâng nộp” [31, tr 287] Từ đó cho đến tận năm 1600, Nguyễn Hoàng ở lại Thăng Long, tích cực tham gia “tiễu phạt” các nhóm cát cứ ở Đàng Ngoài, trong đó có những trận do ông xung phong tình nguyện, cũng có những trận do Trịnh Tùng nhân danh vua Lê

mà ban lệnh

Mặt khác, tuy rằng phải đợi đến năm 16301, Nguyễn Phước Nguyên mới chính thức tuyên bố về sự bất tuân sắc chỉ của vua Lê mà thực chất là mệnh lệnh của chúa Trịnh; nhưng thời điểm Nguyễn Hoàng quyết tâm “dứt áo ra đi”, ngầm đem binh thuyền về Thuận - Quảng năm 1600 và không bao giờ trở ra Bắc, có thể xem là mốc đánh dấu sự ly khai hoàn toàn và chấm dứt mối quan hệ quân thần trên thực tế giữa lực lượng Nguyễn Hoàng với lực lượng Lê - Trịnh2 Ý niệm “Đàng Trong” với tư cách là một khu vực địa - chính trị trong ý nghĩa phân biệt, đối sánh

và cả đối đầu với khu vực địa - chính trị Đàng Ngoài chính thức được xác lập

Tương tự, về thời điểm khép lại lịch sử Đàng Trong, cũng có nhiều quan điểm tiếp cận Năm 1774, quân Lê - Trịnh do Hoàng Ngũ Phúc chỉ huy đã đánh đuổi tập đoàn chúa Nguyễn vào đất Gia Định Lúc này, cấu trúc Đàng Trong về cơ bản bị giải thể Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, dẫn tới sự xác lập vương triều Tây Sơn vào năm 1778 (đánh dấu bởi sự kiện Nguyễn Nhạc lên ngôi), đã làm chấm dứt trên thực tế gần hai thế kỷ chia cắt đất nước; ý niệm Đàng Trong căn bản không còn Nhiều người coi đây là những mốc đánh dấu sự tan vỡ của chính thể Đàng Trong Đó cũng là lý do nhiều nhà nghiên cứu coi năm 1778 là thời điểm khép lại lịch sử văn học Đàng Trong; và các sáng tác trong giai đoạn 1778 - 1802 được xếp

là văn học thời nội chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh

Trang 17

Tuy nhiên, trên thực tế, sau năm 1774, ở khu vực “Đàng Trong cũ” có sự tồn tại của ba thế lực chính trị: thế lực thừa hành sự cai trị của Lê - Trịnh (từ Phú Xuân trở ra), thế lực Tây Sơn, và thế lực các chúa Nguyễn (dù yếu ớt, mờ nhạt) Cần phải thừa nhận rằng, nếu như vào thời điểm Tây Sơn khởi nghĩa, thiết chế quyền lực của chúa Nguyễn ở Thuận Quảng đã suy thoái trầm trọng thì ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đất rộng người thưa, sự suy thoái này hiện ra một cách mờ nhạt hơn Trong khi đó, do sự bất lực và thiển cận của chính quyền Đông Định vương Nguyễn

Lữ, lực lượng Tây Sơn ở Nam Bộ lại không tạo được ảnh hưởng chính trị rộng rãi

và sâu sắc đủ để đẩy lùi và đánh bại ảnh hưởng của thế lực chúa Nguyễn đã tồn tại hai trăm năm Tất cả những điều này khiến cho ngay cả trước năm 1789, một bộ phận trí thức và nhân dân vùng này vẫn thừa nhận họ Nguyễn như vương triều chính thống Đặc biệt từ sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định lần cuối (1788), xây dựng chính quyền “quân quản”, văn hóa nơi đây đồng thời cũng có những bước chuyển mình, và Gia Định đã nhanh chóng trở thành trung tâm văn hóa - chính trị dưới thiết chế chính quyền Nguyễn Ánh - hậu nhân của dòng dõi Nguyễn Hoàng

Do vậy, trên thực chất, ý niệm về quyền lực và ngôi vị chúa Nguyễn vẫn tồn tại, thậm chí là quyết liệt trong niềm tin chân thành của phần lớn cư dân ở phía Nam Tổ quốc Hệ quả là, thời kỳ này, trong văn học vẫn tồn tại một bộ phận sáng tác chống Tây Sơn, tiếp tục cảm hứng khẳng định các thời kỳ của chúa Nguyễn, đặc biệt là vẫn giữ được những dấu hiệu biệt sắc của văn học thời kỳ Đàng Trong đặt dưới

quyền cai trị chính thức của các chúa Nguyễn, mà Hoài Nam khúc (của Hoàng

Quang) là một tác phẩm tiêu biểu Do vậy, theo chúng tôi, sự hình thành, tồn tại của

ý niệm Đàng Trong song hành cùng với sự tồn tại của ý niệm về ngôi vị chúa Nguyễn Bởi vậy, dù Đàng Trong đã trải qua mấy thập kỷ biến loạn, suy tàn, nhưng phải đợi đến khi Gia Long lên ngôi, hoàn thành sự nghiệp thống nhất sơn hà (năm 1802) cả trên thực tế lẫn chính trị, khép lại hai thế kỷ tồn tại ngôi vị “Chúa Nguyễn” thì hoài niệm về Đàng Trong mới có cơ sở ép buộc phải chấm dứt và những sáng tác mang hơi hướng Đàng Trong cũng chấm dứt từ đây

1.1.2 Văn học Đàng Trong

Với quan điểm về sự tồn tại của danh xưng Đàng Trong như đã nói ở trên, nên “văn học Đàng Trong” mà chúng tôi đề cập đến trong luận án này là chỉ toàn bộ

Trang 18

những sáng tác (bằng chữ Nôm và chữ Hán)1, được viết tại khu vực địa - chính trị Đàng Trong, tức khu vực phía Nam sông Gianh trở vào trong (về mặt địa lý), khoảng thời gian từ 1600 – 18022

Tuy nhiên, phải chăng tác phẩm nào ra đời tại mảnh đất phía Nam sông Gianh cũng có thể coi là thuộc về văn học Đàng Trong? Một phép cộng như thế, tưởng chừng quá giản đơn!

Nếu nói rằng một trong những yếu tố quan trọng tạo nên vùng văn hóa chính

là những đặc trưng chung (có thể phân biệt với các vùng văn hóa khác) thể hiện

trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân – những phương diện cấu thành văn hóa, thì chắc chắn, một trong những yếu tố quan trọng tạo

“vùng” văn học cũng phải là những đặc trưng chung của những đại lượng cấu thành

văn học, đó là hệ thống những tư tưởng mang tính thẩm mỹ và quan niệm văn học, chủ đề - đề tài, hình tượng trung tâm, thể loại và ngôn ngữ Tuy nhiên, tất cả những tiêu chí này vận động như thế nào trong lịch sử văn học lại phụ thuộc rất lớn vào sự vận động của hệ thống loại hình chủ thể sáng tạo, tức loại hình tác giả Nói cách

khác, những đặc trưng chung hình thành nên một vùng văn học phụ thuộc rất lớn

vào chủ thể sáng tác, tức đội ngũ tác giả Theo đó, việc khoanh vùng văn học có liên hệ trực tiếp với việc xác định tọa độ tác giả Điều này càng phù hợp với trường hợp văn học Đàng Trong – nền văn học được tạo sinh trên mảnh đất thường xuyên

có sự mở rộng về không gian và thành phần dân cư

Chúng tôi cho rằng, một tác giả chỉ có thể được coi là tác giả Đàng Trong khi

họ sáng tác với tâm thức mình là người Đàng Trong Họ có thể là những người sinh

trưởng tại Đàng Trong, thụ hưởng bầu không khí, văn hóa, chính trị và nền giáo dục Đàng Trong từ nhỏ (nên đương nhiên họ đã là người Đàng Trong từ trong bản chất) như những tác giả thế kỷ XVIII, bất kể tư tưởng hướng đến ngôi vị chúa Nguyễn (như Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thế Lân, Nguyễn Dưỡng Hạo, Phạm Lam Anh, Hoàng

1

Văn học Hán Nôm mà chúng tôi đề cập đến ở đây là chỉ những sáng tạo nghệ thuật được sáng tác một cách có ý thức bởi những tác giả cụ thể (có thể khuyết danh hoặc hữu danh) Nó không đồng nhất với khái niệm “thư tịch Hán Nôm” có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả những loại văn bản hành chính như hộ tịch, công văn, hoặc sách thuốc, sách bói, sách gia

lễ, sách Lỗ Ban… được biên soạn hay sao chép bằng chữ Hán – Nôm

2

Mặc dù đề tài nghiên cứu của chúng tôi là Văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII trong tiến trình phát triển của văn

học dân tộc, nhưng chúng tôi nhận thấy những sáng tác xuất hiện ở dải đất phía Nam sông Gianh trong khoảng vài năm

đầu thế kỷ XIX (1800 - 1802) như sáng tác của Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh,

Lê Quang Định…, căn bản vẫn mang âm hưởng, không khí, chất liệu, cảm hứng và những đặc sắc của văn học vùng thế

kỷ XVII – XVIII nói chung; hơn nữa, bộ phận “văn học Đàng Trong”, theo quan điểm của chúng tôi, chỉ tồn tại trong khoảng thời gian hơn 200 năm ấy (1600 - 1802), vì vậy, chúng tôi tiến hành khảo cứu thêm một số trường hợp kể trên,

Trang 19

Quang…) hay vọng tưởng vương quyền chúa Trịnh (như Lý Minh, Lê Duy Trung…) Họ có thể là những nhân sĩ Bắc Hà đến Đàng Trong từ buổi đầu, tuy hành trang mang theo chủ yếu là kinh nghiệm sáng tác của Đàng Ngoài nhưng lại sẵn tâm thế ly khai chính quyền Lê - Trịnh, hướng về phụng sự chúa Nguyễn, chủ động gắn bó, hòa hợp với Đàng Trong, coi Đàng Trong là vùng đất sống, là tiền đồ tương lai, như Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Dật… Họ có thể di trú từ Trung Hoa sang, hoặc tổ tiên vốn người Trung Hoa, nhưng đã có quãng thời gian đủ dài để gắn bó, hòa nhập, thấu hiểu cuộc sống ở Đàng Trong, từ bỏ tâm sự di thần, coi Đàng Trong

là quê hương, là Tổ quốc, như cha con họ Mạc, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh

Với quan niệm như thế, nên chúng tôi không coi tất cả những tác giả - tác phẩm xuất hiện ở phương Nam khoảng thế kỷ XVII – XVIII đều thuộc về văn học Đàng Trong Như trường hợp hòa thượng người Quảng Đông Thích Đại Sán (từng lưu trú ở Đàng Trong một năm để hoằng dương Phật pháp), hay những vị quan Đàng Ngoài đến “công cán” sau khi Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh, đánh đuổi tập đoàn chúa Nguyễn chạy vào Nam (Lê Quý Đôn, Phạm Nguyễn Du) , mặc dù từng trước tác tại dải đất Đàng Trong, ghi lại phong tục tập quán, đời sống văn hóa,

xã hội, thuế khóa, lòng sùng đạo của người dân xứ Đàng Trong (Hải ngoại kỷ sự -

Thích Đại Sán), ghi lại sự tích khai thiết khôi phục hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam, cùng hình thế, núi sông, thành lũy, bến đò, đường sá, số ngạch công tư điền trang,

hình thức, nhân tài, thơ văn, vật sản, phong tục… (Phủ biên tạp lục – Lê Quý Đôn),

tức đối tượng miêu tả, ghi chép đều là đất và người xứ Đàng Trong, nhưng tâm thế của họ là ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy tại “xứ người” Thời gian lưu lại dải đất này quá ngắn, chưa đủ để tạo nên bất kỳ dấu ấn nào, nên tác phẩm của

họ, thực chất vẫn thuộc về và chịu sự chi phối của một truyền thống sáng tác ở xứ

Trang 20

trước đó Trong khi đó, các văn thần, nhân sĩ Tây Sơn ở Phú Xuân, vốn dĩ không mang tâm thức Đàng Trong, chưa bao giờ coi mình là người Đàng Trong, lại càng không có tâm lý phân biệt hai đàng Trong - Ngoài biệt lập… (như Nguyễn Văn Danh, Lê Ngọc Hân…), không thể coi là tác giả của văn học Đàng Trong Hơn nữa, các tác phẩm của họ mang một âm hưởng khác gắn liền với hào khí Tây Sơn, không giống giọng điệu chung của văn học Đàng Trong hai thế kỷ Sáng tác của họ thuộc

về một nền văn học khác mà nhiều nhà nghiên cứu đã định danh là “Văn học thời Tây Sơn”

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2.1 Văn học Đàng Trong và các công trình nghiên cứu văn học sử

Văn học Đàng Trong nói riêng, văn học miền Nam cho đến những năm 30 đầu thế kỷ XX nói chung, vốn từng một thời bị xem nhẹ, “bỏ quên” và thậm chí là

“bỏ qua” Tuy rằng cùng với thời gian, các nhà nghiên cứu đã tỏ ra lưu tâm hơn tới vùng văn học đặc biệt này, song căn bản vẫn còn khá khiêm tốn so với vùng văn học Đàng Ngoài truyền thống Có thể dễ dàng nhận thấy điều này ở tần suất xuất hiện và mức độ quan tâm đối với các dữ kiện về văn học Đàng Trong trong các công trình văn học sử vốn được coi là “cẩm nang” của nhiều thế hệ nghiên cứu

Việt Nam văn học sử yếu1 (Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1950) là một trong những công trình văn học sử đầu tiên, quy mô và

“toàn diện nhất”2

Việt Nam từ năm 1945 đến 1954 Trong đó, thông tin liên quan đến văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII được đề cập ở chương thứ chín: “Hán văn trong thời kỳ Lê trung hưng” và chương thứ mười: “Việt văn trong thời kỳ Lê trung hưng” (thuộc thiên thứ tư: “Thời kỳ Nam Bắc phân tranh - thế kỷ XVII và XVIII”), với những giới thiệu vắn tắt về Mạc Thiên Tích, Nguyễn Cư Trinh, Hoàng Quang, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành, mà tổng dung lượng có lẽ chỉ được chừng đôi ba trang Diện khảo sát như thế có phần chưa thích đáng Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng điều đó đồng nghĩa với việc tác giả coi nhẹ khu vực văn học này Bởi xét trong mục tiêu lập một “bức bản đồ giản ước theo đó các bạn thanh niên biết được phương hướng và đường lối chính để đi vào khu vườn văn

Trang 21

học” [47, tr 6], tương ứng với chương trình giảng dạy của trường công thời Pháp thuộc, lại mong muốn khái quát được hết các vấn đề về tư liệu, đối tượng (các tác phẩm văn học có giá trị về tư tưởng và văn từ), thể loại văn học, ngôn ngữ văn học, phân kỳ văn học thì việc phải “chia vụn” kiến thức ra thành nhiều phân mảnh (dẫn theo sự trích lược tư liệu về văn học Đàng Trong) cũng là điều dễ hiểu

Việt Nam văn học sử trích yếu (Hạo Nhiên Nghiêm Toản, Nhà sách Khai Trí,

Sài Gòn, 1968)1, đúng như tinh thần tựa sách, chỉ có “tính chất trích yếu, để dành riêng cho các bạn không có nhiều thì giờ rảnh, nhưng muốn có một cái nhìn gọn gàng, khái quát về văn học Việt Nam” [142, tr 5], nên tiến trình văn học Việt Nam được tái hiện như một “bản giản lược các nhận định thống quan” [163, tr 6] Tuy nhiên, ngay cả trong quá trình “trích yếu” ấy, tỷ lệ quan tâm tới văn học Bắc Hà vẫn dày dặn và đậm đặc hơn hẳn Trong tổng cộng 329 trang sách, chỉ có chưa đầy chục trang điểm tên và giới thiệu sơ lược về nội dung một số tác phẩm của các tác giả Mạc Thiên Tích, Trịnh Hoài Đức (trong phần “Văn học bác học - Chữ Nho”, chương 2: “Những tác phẩm bằng Hán văn”, mục III: “Thời kỳ Nho học độc tôn”),

và Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Cư Trinh, Hoàng Quang (phần “Văn học vừa bình dân vừa bác học - Chữ Nôm và quốc ngữ”, chương I: “Chữ Nôm”, mục II: “Thời kỳ thứ hai: từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII”) Trong đó không có những đánh giá, biện luận theo chiều sâu Về sự thiên lệch này, bản thân tác giả cũng ý thức rất rõ ràng rằng: “Đứng về phương diện tỷ lệ, hình như chúng tôi nói

về các tác phẩm và soạn giả Trung bộ, Nam bộ quá sơ sài; nhiều chương, nhiều

mục hầu như bị hy sinh; đó là một điều khổ tâm, vì đi lại bất tiện, hoàn cảnh khó khăn, sách vở nghiên cứu chúng tôi không có quyển2

, vậy thiếu sót là sự bất đắc

dĩ, chứ không phải cố tình” [163, tr 8] Vì thế, với chúng tôi, công trình chủ yếu

có ý nghĩa về mặt tư liệu tham khảo, cung cấp cái nhìn tổng lược

Ba tập Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn, trình

bày khái quát về các thời đoạn văn học, từ nguồn gốc đến năm 1945 Trong đó, cuốn tập II: “Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX” (Vũ Đình Liên - Đỗ Đức Hiểu -

Lê Trí Viễn - Huỳnh Lý - Trương Chính - Lê Thước, NXB Xây dựng, Hà Nội, 1957)

có liên quan đến giai đoạn khảo sát của đề tài Tuy nhiên, “nhặt” trong hơn 300

Trang 22

trang sách, chúng tôi chỉ có thể tham khảo chút ít tư liệu về Đào Duy Từ (trình bày trong sự đối sánh với Nguyễn Hàng ở Đàng Ngoài) và Nguyễn Cư Trinh (trong phần “Các tác giả phụ”)

Bộ sách Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Ban Văn - Sử - Địa (7 quyển,

xuất bản từ năm 1957 đến 1964) bước đầu sưu tầm tài liệu nghiên cứu và lược trình toàn bộ lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy đến nửa đầu thế kỷ XIX Chúng tôi đặc biệt chú ý đến Quyển II (lược về các tác giả, tác phẩm Hán - Nôm từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII), Quyển III (lược về các tác giả, tác phẩm Hán văn thế kỷ XVIII) và Quyển IV (lược về các tác giả, tác phẩm văn học Nôm thế kỷ XVIII) Trong quá trình phân chia nhóm tác giả, các soạn giả đã nhắc đến một số tác giả văn học Đàng Trong như Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Chiêu Anh các, Ngô Thế Lân

(tác giả Hán văn), Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Cư Trinh (với tác phẩm Sãi Vãi), Mạc

Thiên Tích, Hoàng Quang (phần sáng tác bằng chữ Nôm) Tuy nhiên, mọi phân tích chỉ trải trên trục ngang, coi tất cả trong một chỉnh thể văn học Việt, chứ không phân biệt hai miền văn học, do đó, không cung cấp một cái nhìn toàn cảnh, trực diện đối với văn học Đàng Trong Dù vậy, các soạn giả cũng đã đưa ra cho chúng tôi những gợi ý rất ý nghĩa khi kết luận: “Người Việt Nam hồi thế kỷ XVIII ở Đường Ngoài cũng như người Việt Nam hồi thế kỷ XVIII ở Đường Trong tuy sống ở hai khu vực

hoàn toàn cách biệt, nhưng vẫn có chung một ngữ ngôn và khi sáng tạo nghệ thuật vẫn vận dụng những phương pháp chung của cả dân tộc1” [136, tr 286]

Văn học Việt Nam - văn học sử giảng văn của Phạm Văn Diêu (Tân Việt xuất

bản, Sài Gòn, 1960), thực chất là một cuốn giáo trình văn học sử để giảng dạy ở các cấp trung học I, II và đại học Văn khoa khi đó Mặc dù không dành một mục khảo sát về văn học Nôm Đàng Trong nhưng một số tác giả Đàng Trong đã được Phạm Văn Diêu viết riêng trong mục “Các tác giả và các tác phẩm”, như Đào Duy Từ, Hoàng tử Tứ, Nguyễn Cư Trinh, Hoàng Quang, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn

Thành; trong đó, Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu (Đặng Đức Siêu), Văn tế trận vong tướng sĩ (Nguyễn Văn Thành) được chọn giới thiệu riêng ở mục “Giảng văn” Theo ông, sự xuất hiện của những Song Tinh Bất Dạ, Hoa tình đã “tỏ rõ dấu hiệu

của văn chương sắp phát đạt: văn chương không còn là môn độc quyền của Đường Ngoài và đã lan vào đến Đường Trong”, “báo hiệu cho những tác phẩm văn học sắp

Trang 23

tới mang lại trong văn học nước Việt cái khí sắc mới mẻ của hoàn cảnh thiên nhiên

và xã hội riêng mình” [23, tr 592] Đây là một nhận định hoàn toàn chính xác Tuy nhiên, do chỉ giới hạn trong văn học Nôm, lại khảo sát toàn bộ lược sử nền văn học Việt, nên đối tượng quan tâm của chúng tôi - tức toàn bộ nền văn học Đàng Trong giai đoạn XVII - XVIII mới chỉ được dựng nên với đôi ba phác thảo chưa hoàn thiện Giá trị tham khảo, với chúng tôi, vì thế còn hạn chế

Bùi Văn Nguyên khi khảo cứu về văn học Việt Nam thế kỷ XVI - giữa thế kỷ

XVIII, trong cuốn Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam - Tập II của Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội (Bùi Văn Nguyên - Phan Sĩ Tấn biên soạn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1961) khẳng định: “Văn học từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII đã phân ra thành văn học Bắc và Nam sông Gianh Văn học Đàng Ngoài kế tục và phát triển văn học viết từ xưa của dân tộc nên phong phú và có chất lượng hơn nền văn học Đàng Trong, là nền văn học xây dựng trên cơ sở mới khai thác” [107, tr 193] Điểm đáng quý của công trình này là tác giả đã dành hẳn một mục riêng tìm hiểu về “Văn học Đàng Trong hay văn học bên kia sông Gianh” Trong đó, các gương mặt tiêu biểu cho văn học Đàng Trong thời kỳ này lần lượt được giới thiệu: một Đào Duy Từ đóng “vai trò quan trọng trong việc phát triển văn hóa buổi khai nghiệp của chúa Nguyễn” [107, tr 221], một Mạc Thiên Tích tiên khởi cho sự hình thành tao đàn

Chiêu Anh các ở xứ Hà Tiên, một Nguyễn Cư Trinh nổi tiếng với bài hoạt kê Sãi Vãi, một Nguyễn Hữu Hào mở đầu cho sự hình thành của thể loại truyện Nôm bác học với tác phẩm Song Tinh Bất Dạ Dù chưa thực sự khảo sát sâu, nhưng Bùi Văn

Nguyên đã khái quát được một số đặc điểm tiêu biểu của văn học Đàng Trong thời

kỳ này: “tuy về số lượng cũng như chất lượng chưa cao, nhưng đã phát triển được khá đầy đủ các mặt như tình yêu thiên nhiên đất nước, tính tiết tháo, tính trữ tình, tính tố cáo hiện thực xã hội, và do đó đã phản ánh được phần nào chế độ phong kiến Đàng Trong thời bấy giờ” [107, tr 228] Chúng tôi không hoàn toàn tán thành cách đánh giá văn học nói chung và văn học Đàng Trong nói riêng từ quan điểm mác xít

cơ giới như thế nhưng cũng phải thừa nhận đóng góp của các tác giả khi nỗ lực đặt văn học Đàng Trong vào một góc nhìn riêng

Tuy nhiên, đến cuốn tập III của bộ giáo trình này (Lê Trí Viễn - Phan Côn - Đặng Thanh Lê - Phạm Văn Luận - Lê Hoài Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1962), nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến 1858, thì chỉ có một

Trang 24

số tác giả văn học Đàng Trong được điểm tên khi cần minh định cho một vấn đề

nào đó Chẳng hạn, Phong trúc tập của Ngô Thế Lân được nhắc đến khi nhóm nghiên cứu phân tích khuynh hướng đấu tranh và tố cáo hiện thực; Hoài Nam khúc

của Hoàng Quang là điển hình cho khuynh hướng bi quan và bảo thủ phản động Không có bất kỳ tác giả nào được nhắc đến ở phần viết riêng Cũng như không có bất kỳ đánh giá nào dành riêng cho văn học Đàng Trong thời điểm này

Tình hình như thế tiếp tục tái diễn ở bộ giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau này là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội)1

Trong cuốn Văn học cổ Việt Nam, Tập II (Thế kỷ XVI - thế kỷ XVII) (Đinh

Gia Khánh - Bùi Duy Tân, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1964), nhóm tác giả không có bất kỳ một nhận định hay một lưu ý đặc biệt nào về sự xuất hiện của vùng văn học Đàng Trong trên bản đồ văn học Việt Mặc dù đã dành một mục riêng giới thiệu về Đào Duy Từ như một gương mặt “tiêu biểu của văn học miền Nam sông Gianh thế

kỷ XVII”, nhưng ngoài việc cung cấp hiểu biết thông dụng về hai tác phẩm nổi bật

của họ Đào - Ngọa Long cương vãn và Tư Dung vãn, ấn tượng để lại không thực sự

sắc nét Người đọc khó có thể có những hình dung tổng lược về diện mạo của một

vùng văn học Về sau, khi tái bản, lập thành bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, giai đoạn văn học này gần như được viết lại trong hai tập Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X nửa đầu thế kỷ thứ XVIII (Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương,

NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tập I - năm 1978, tập II - năm 1979), nhưng thành tựu của nhóm tác giả chủ yếu tập trung ở việc khắc họa diện mạo văn học Đàng Ngoài/ miền Bắc các thế kỷ Sáng tác của các tác giả Đàng Trong/ miền Nam vẫn còn là một “vùng đất trống” chưa được “canh tác” kỹ lưỡng Mặc dù Bùi Duy Tân khi khảo về “Văn học từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII” đã nhắc đến khu vực văn học này, thậm chí tần suất nhắc đến các tác giả, tác phẩm Đàng Trong có phần dày đặc và thường xuyên hơn nhiều công trình nghiên cứu khác,

1

Riêng trong phần trình bày về bộ giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi không tuân thủ cách sắp xếp theo trật tự thời gian xuất bản Để thuận tiện cho tư duy logic, chúng tôi trình bày hai cuốn do Đinh Gia Khánh chủ biên, khảo về “Văn học cổ Việt Nam (thế kỷ X - thế kỷ XVII)” (xuất bản lần đầu năm 1964) trước cuốn của Hoàng Hữu Yên - Nguyễn Lộc, khảo về “Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX” (xuất bản lần đầu năm 1962)

Và cũng vì mục đích tương tự, nên chúng tôi trình bày “liền khối” những cuốn sách liên quan trong bộ giáo trình văn

học sử kể trên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chứ không xen kẽ cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập II: “Văn học lịch triều – Việt văn” của Phạm Thế Ngũ, và Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản của nhóm Văn Tân -

Hồng Phong, dù lượt in đầu tiên là năm 1963, trước cuốn của Hoàng Hữu Yên – Nguyễn Lộc và cuốn của Đinh Gia

Trang 25

nhưng căn bản chỉ coi đó như những cứ liệu cần thiết minh chứng cho “Sự phong phú về mặt đề tài và thể loại văn học biểu hiện những xu thế mới của xã hội Đại Việt từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII”1 Và dù rằng Bùi Duy Tân đã khẳng định: “Nói về văn học trong các thế kỷ này cần chú ý đến lực lượng sáng tác ở Đàng Trong”, nhưng với cách trình bày về các tác giả, tác phẩm lẩn khuất giữa đông đảo tác giả - tác phẩm Đàng Ngoài vốn đã quá quen thuộc với nhận thức thông thường, người đọc chưa thể có một ấn tượng đặc biệt nào về vùng văn học Đàng Trong

Tương tự, trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX (Hoàng Hữu Yên - Nguyễn Lộc, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1962), về sau Nguyễn Lộc tái bản, chỉnh sửa, bổ sung thành hai tập Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội,

1976 - 1978)2, chất liệu nghiên cứu chủ yếu là các sáng tác ở Đàng Ngoài Ngoại trừ “Tuồng” (chương mười hai) [89, tr 391 - 420] là chương duy nhất được Nguyễn Lộc dành riêng để khảo sát về một loại hình văn học - nghệ thuật đặc biệt khởi phát

từ Đàng Trong, còn tất cả các dẫn liệu liên quan đến văn học Đàng Trong khác chỉ được điểm xuyết một cách sơ sài Hoàng Hữu Yên khi “Sơ bộ giới thiệu văn học chữ Hán thế kỷ thứ XVIII và nửa đầu thế kỷ thứ XIX”, đã xếp những sáng tác miêu

tả xã hội Đàng Trong nửa đầu thế kỷ XVIII của Ngô Thế Lân vào “bộ phận thơ văn chữ Hán ưu tú” [193, tr 379] và bản thân Ngô Thế Lân cũng được xếp vào lớp “nhà

thơ ưu tú” [193, tr 384] Nhưng cũng chỉ có hai bài thơ của ông (Thiệp thế ngâm - Từng trải việc đời, Trư điểu đề - Tiếng chim lợn kêu) được dẫn trong phần chú

thích Cùng với Ngô Thế Lân, chỉ còn nhóm Chiêu Anh các với chùm thơ “Hà Tiên thập vịnh” được nhắc qua khi đề cập đến bộ phận thơ vịnh cảnh [193, tr 394] Ngô Thế Lân, Hoàng Quang cũng được Nguyễn Lộc điểm tên khi trình bày chung về

“Các xu hướng trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX”; đặc biệt, Ngô Thế Lân được đánh giá là “nhà thơ xuất sắc nhất” của văn học Đàng Trong cuối thế kỷ XVIII [88, tr 132] Ngoài những trình bày sơ lược nhằm chứng minh cho một luận điểm nghiên cứu nào đó (mà chúng tôi vừa kể ở trên), không một tác giả nào của văn học Đàng Trong được đề cập ở phần viết

Trang 26

riêng Điều đó phản ánh phần nào sự thiếu hụt tư liệu và diện quan tâm của các nhà nghiên cứu

Bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ được biên

soạn khá chu đáo, kỹ lưỡng với những tư liệu phong phú, các nhận định đánh giá

được cân nhắc thận trọng Chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến cuốn Tập II - Văn học lịch triều: Việt văn (Quốc học tùng thư, 1963, Sài Gòn), vì liên quan trực tiếp đến

giai đoạn khảo sát của đề tài Đáng quý của công trình này là, khi trình bày sơ lược

về nội dung - hình thức của “Văn Nôm Nam Hà” và giới thiệu một số tác giả Nôm tiêu biểu của Đàng Trong (Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Quang…), Phạm Thế Ngũ đã đưa ra một số bình luận tái hiện được phần nào không gian văn hóa - văn học đặc biệt của xứ Đàng Trong (so với Đàng Ngoài), rằng: “Miền Nam nói chung thiếu cái phong vị văn học, cái không khí thông thái cao đạt” [106, tr 201]; “Đất Nam Hà thiếu bóng nhà nho, và thơ phú văn chương chẳng dễ nảy nở như ở miền Bắc Những danh nhân miền Nam đều là người có công trạng đánh dẹp, khai thác, chẳng phải là nhà khoa bảng hay văn học” [106, tr 201];

“Do đó mà Nam Hà thiếu sự đào luyện lâu đời của Hán học, thiếu không khí văn học, phần Việt văn cũng không có gì kiệt xuất, vì chỉ mới đi những bước đầu tiên” [106, tr 202] Đây được coi là những gợi ý quý giá khi chúng tôi tiếp cận, tìm hiểu về “căn nguyên” văn học Đàng Trong Tuy nhiên, về căn bản, công trình này mới chỉ cung cấp những nhận định sơ giản về một vài thể loại, một lối văn Nôm của Đàng Trong (vãn, vè), chưa đủ để khái quát toàn bộ diện mạo văn học vùng giai đoạn này

Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong, khi trình bày Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản (NXB Khoa học, Hà Nội, 1963) đã giới thiệu sơ lược về các tác giả, tác phẩm

tiêu biểu trong từng thời kỳ lịch sử văn học, với tiêu chí lựa chọn là “do ở giá trị tiêu biểu của nó, ở nội dung phản ánh hiện thực của nó phản ánh được một vài khía cạnh cơ bản của cuộc sống” [135, tr 8] Tuy nhiên, với tiêu chí đó, trong tổng số

198 trang sách viết về văn học thế kỷ XV - XVIII, chỉ có bốn trang giới thiệu sơ lược về một tác giả duy nhất của văn học Đàng Trong thế kỷ XVII: Đào Duy Từ Điều đó phản ánh phần nào vị trí của văn học Đàng Trong trên thang điểm giá trị

mà các nhà nghiên cứu đặt ra

Trang 27

Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng (Trình Bầy xuất bản, Sài

Gòn, 1967) “là những nét bút chì” phác họa sơ giản lược trình văn học Việt Nam Quyển Thượng đã tái hiện toàn bộ “Nền văn học cổ điển (từ thế kỷ XIII đến 1862)”, trong đó có hai chứng nhân văn học Đàng Trong được nhắc đến và được giới thiệu riêng: Đào Duy Từ (nhân chứng cho “văn học thời kỳ gặp gỡ Tây phương” - cách

định danh của tác giả) và Nguyễn Cư Trinh với bài vè Sãi Vãi (nhân chứng cho nền

biệt lập về văn hóa: văn học Đàng Trong chỉ là một bộ phận của văn học dân tộc nảy nở trong hoàn cảnh đặc biệt1” [161, tr 147] Văn chương Đàng Trong đã phải

đi “hia bảy dặm” [161, tr 147] từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX: bắt đầu bằng thể điệu bình dân lục bát, lướt nhanh sang thể song thất lục bát và vào giữa thế

kỷ XIX, tạo được những thơ Đường luật hoàn mỹ (như văn chương Bắc Hà đầu thế

kỷ XIX), sau đó là thể hát nói, thơ trào phúng Những nhận định trên đây của Bùi Đức Tịnh tuy không phải là những phát kiến mới mẻ, nhưng “hợp âm” cùng sự tìm tòi của các nhà nghiên cứu khác, đã một lần nữa khẳng định những giá trị và đặc trưng của văn học miền Nam nói chung và văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII nói riêng Tuy nhiên, như giới thuyết của tác giả ở đầu cuốn sách, tư liệu về các tác giả và tác phẩm trong mỗi thời kỳ được lựa chọn “căn cứ vào chương trình văn học trung học phổ thông và các bài báo cập nhật thông tin về các tác giả và tác phẩm tiêu biểu” [161, tr 6], hơn nữa diện khảo sát tương đối rộng (toàn bộ văn học Việt Nam - bao gồm cả văn chương truyền khẩu - suốt từ khởi thủy đến năm 1945)

1

Phần in nghiêng do tác giả luận án nhấn mạnh

Trang 28

nên thông tin về các tác giả, tác phẩm còn sơ lược, chỉ dừng ở việc giới thiệu chứ không chú trọng phân tích, bình giá Do vậy, đối với mục tiêu luận án, giá trị tham khảo của cuốn sách còn hạn chế

Điểm lại tiến trình xuất hiện các dữ kiện về văn học Đàng Trong trong các công trình văn học sử như thế, chúng tôi nhận thấy: tuy rằng văn học Đàng Trong

đã được nhắc đến nhưng phần lớn chỉ là những phác thảo mang tính chất điểm luận, giới thiệu một số gương mặt văn nhân tiêu biểu, và thường xen lẫn vào các dữ kiện

về văn học Đàng Ngoài, rải rác có vài ba công trình đã bước đầu chú ý đến văn học Đàng Trong như một vùng văn học biệt lập Đáng chú ý là hầu hết các nghiên cứu

đều chỉ chú trọng giới thiệu về bản thân văn học Đàng Trong để xem nó như thế nào một cách độc lập, chứ không đặt văn học vùng vào trong tiến trình lịch sử văn

học để xem xét Các công trình văn học sử (với nhiệm vụ trọng tâm là chú trọng đến tính quá trình) còn như thế, thì các công trình coi văn học Đàng Trong là đối tượng khảo sát chuyên biệt có thể góp phần xác lập một “chỗ đứng” của văn học vùng trong tiến trình phát triển văn học dân tộc không?

1.2.2 Văn học Đàng Trong như một đối tượng khảo sát chuyên biệt

Điều đầu tiên cần phải ghi nhận là số lượng công trình coi văn học Đàng Trong (hoặc một bộ phận của văn học Đàng Trong) là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt, độc lập không nhiều

Đặc biệt chú ý đến vùng văn học ở phía Nam Tổ quốc trong suốt thời gian giảng dạy tại các trường đại học Văn khoa Huế và Sài Gòn, năm 1965, Phạm Việt

Tuyền đã xuất bản cuốn sách Văn học miền Nam thời Nam Bắc phân tranh (các thế

kỷ XVI - XVIII) (Khai Trí xuất bản, 1965, Sài Gòn) Như tác giả tự giới thiệu, cuốn

sách là kết quả sưu tầm và thu thập các tài liệu về lịch sử, địa lý, xã hội từ sông Gianh trở vào đến miền Hà Tiên, nhất là các tác phẩm văn chương đã xuất hiện ở Đàng Trong khoảng gần hai thế kỷ Phạm Việt Tuyền đã phân tích, giải thích chúng bằng cách đem đối chiếu với tiểu sử các tác giả cùng những hoàn cảnh xã hội, địa lý, lịch sử trong đó họ sống và làm ra thơ văn, từ đó rút ra kết luận về các đặc tính và

sự tiến triển của văn chương miền Nam Theo ông, “văn chương Đàng Trong ở hai thế kỷ XVII và XVIII không những ghi lại vết tích của một số nhân tài xuất sắc như Đào Duy Từ, Mạc Thiên Tích, Nguyễn Cư Trinh, Võ Trường Toản, mà còn phản ánh những nỗ lực phi thường của các chúa Nguyễn và toàn thể dân chúng trong việc

Trang 29

chống đối với họ Trịnh để tồn tại, nhất là trong cuộc Nam tiến để xây dựng hoàn thành nền quốc gia Việt Nam” [161, tr 22], với xu hướng tiến triển ngày càng “địa phương hóa” và “đại chúng hóa” [177, tr 39] Mỗi một tác giả tiêu biểu đại diện cho ba giai đoạn văn học Đàng Trong (mà theo cách gọi của ông là ba “trào lưu văn học” [177, tr 40]) đều được giới thiệu, phân tích, phẩm bình, đánh giá kỹ lưỡng Tuy nhiên, chính sự tỉ mỉ, chỉn chu đúng theo thiết kế bài giảng như vậy (hầu như tác giả nào cũng có một chương viết về “Tiểu sử”, một chương giới thiệu “Văn chương”, một chương “Phê bình” tư tưởng và nghệ thuật, tương ứng với từng tiết giảng, khiến cho cuốn sách chỉ tập trung được vào một vài điển hình cụ thể, xét ở một phương diện nào đó là đúng với mục đích của tác giả, nhưng không đủ để giúp người đọc hình dung về một diện mạo văn chương tổng thể Hơn nữa, cả thiên khảo luận chỉ chú mục vào thơ ca chữ Nôm, với quan niệm các tác phẩm văn chương chữ Hán “thường có giá trị lịch sử hơn là văn chương” [177, tr 40] đã làm hạn chế phần nào giá trị tiếp nhận của cuốn sách

Nguyễn Văn Sâm, với Văn học Nam Hà - Văn học xứ Đàng Trong (Tái bản,

Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn, 1974), đã thực hiện “tham vọng trình bày bộ mặt của văn học miền đất từ Thuận Hóa đến Hà Tiên thời gian từ khi Nguyễn Hoàng thật

sự rời đất Bắc (Canh Tý 1600) đến lúc Nguyễn Ánh lên ngôi (Nhâm Tuất 1802)” [118, tr IX] Để thấu hiểu toàn bộ hệ thống tư tưởng của các tác giả, Nguyễn Văn Sâm chủ trương khảo sát một cách hòa đồng tác phẩm Hán - Nôm, không phân biệt hình thức văn tự Theo tác giả, “Những tác phẩm ở Nam Hà phản ảnh được tình trạng qua phân, phe nhóm vì tác giả hầu hết phục vụ cho chúa Nguyễn, liên quan đến người cầm quyền nên nói lên tiếng nói của những người muốn mở mang vùng đất mới Trong khi đó nhà văn đất Bắc, nối tiếp truyền thống văn hóa cũ nên chưa

có đường hướng đặc biệt” [118, tr XI] Tuy chúng tôi không nhất trí hoàn toàn với nhận xét này, nhưng cũng cần ghi nhận nỗ lực của tác giả khi đã bước đầu so sánh văn chương hai Đàng, đặt trong một chỉnh thể văn học dân tộc Thành công của Nguyễn Văn Sâm là đã phác thảo được phần nào diện mạo văn học Đàng Trong (mà trong cuốn sách, ông gọi tên là văn học Nam Hà) với những nét khái quát chủ đạo về tư tưởng đặc thù, hình thức đặc biệt, để trên cơ sở đó khẳng định “văn học Nam Hà có con đường đi riêng không giống bất cứ giai đoạn nào của lịch sử văn học Việt Nam” [118, tr 119], đồng thời hệ thống, giới thiệu, phân tích kỹ sáng tác

Trang 30

của các đại diện như: Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Quang, Ngô Thế Lân, Mạc Thiên Tích và nhóm Chiêu Anh các, Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Văn Thành, Đặng Đức Siêu Điều này đã giúp ích cho chúng tôi rất nhiều khi hình dung bức tranh nền văn học Đàng Trong, để trên cơ sở

đó tri nhận và đưa ra những kiến giải cần thiết về đặc điểm, vị trí, vai trò của văn học vùng một thời kỳ

Nguyễn Q Thắng, với ý thức trân trọng một vùng văn học “góp phần làm lớn lên đối với toàn bộ di sản văn hóa truyền thống Việt Nam”, “làm sáng giá cho văn hóa sử dân tộc” [148, tr 9], đã dành thời gian tìm tòi, suy ngẫm và trình hiện

diễn tiến của bộ phận văn học nơi miền đất mới sinh sau đẻ muộn này Từ Tiến trình văn nghệ miền Nam: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (NXB An Giang, An Giang, 1990) đến bốn tập khảo cứu Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (NXB Văn học, Hà Nội, 2007), đường đi của hơn 500 năm văn học miền Nam, từ Ngọa Long cương vãn, Nguyễn triều khai quốc công nghiệp diễn chí, Ô châu cận lục, Song Tinh Bất Dạ, Sãi Vãi, Hoài Nam khúc… đến các tác phẩm của những nhà văn cuối

thế kỷ XX, đã được lược trình một cách sơ giản Kế thừa những đánh giá, nghiên cứu của “nhà Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân suốt từ thập niên 60, Nguyễn Q Thắng một lần nữa khẳng định lại một đặc trưng nổi bật của văn chương Đàng

Trong là “nặng về nói và trình diễn” [145, tr 25], đồng thời giới thiệu được sơ bộ

nội dung tác phẩm và tiểu sử một số tác giả tiêu biểu, như Đào Duy Từ, Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Phước Chu1, Nguyễn Hữu Hào, Hoàng Quang, Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tích và thi phái Chiêu Anh các, Võ Trường Toản (những tác giả tiên hiền - theo cách gọi của Nguyễn Q Thắng), Đặng Đức Siêu, Nguyễn Văn Thành, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh, Trịnh Hoài Đức, Đặng Văn Hòa, Phan Thanh Giản (những tác giả thời kỳ thịnh Nguyễn)… Tuy nhiên, như chính tác giả tự giới thuyết, công trình mới chỉ là một “phác đồ” [148, tr 9], sắp xếp theo thể biên niên, không giảng bình, cho nên căn bản có giá trị về mặt tư liệu hơn là một công

trình nghiên cứu thực thụ Trong phạm vi khảo sát của đề tài, cùng với các bộ Tổng tập văn học Việt Nam từ tập 6 đến tập 8, 9, 11, 13, 14 (Trung tâm Khoa học Xã hội

1

Một số trường hợp tên tác giả có những cách đọc khác nhau do âm vựng hai miền Nam - Bắc như Nguyễn Phước Chu/ Nguyễn Phước Châu/ Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phước Tứ/ Nguyễn Phúc Tứ, Ngô Nhân Tĩnh/ Ngô Nhơn Tĩnh/ Ngô Nhơn Tịnh , chúng tôi sẽ trích dẫn theo đúng nguyên tác của các cuốn sách tham khảo Với những lập luận, phân tích của riêng chúng tôi, tên các tác giả sẽ được phiên theo cách đọc của người đương thời trên vùng đất mà tác giả sinh sống

Trang 31

và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập II: Văn học Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII (Đinh Gia Khánh - Bùi

Văn Nguyên - Nguyễn Ngọc San - Ngô Lập Chi - Nguyễn Sỹ Lâm, NXB Văn hóa -

Viện Văn học, Hà Nội, 1962), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập III: Văn học thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX (Huỳnh Lý chủ biên, NXB Văn học, Hà Nội, 1978)…, và đặc biệt là những ghi chép trong Nam hành ký đắc tập của Phạm Nguyễn Du, Nam

Hà tiệp lục của Lê Đản, Nam Hà ký văn (không rõ tên tác giả), Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, các công trình sử học của Quốc sử quán triều Nguyễn (như Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam chính biên liệt truyện) , thì công trình của Nguyễn Q

Thắng, đặc biệt là Tiến trình văn nghệ miền Nam: Văn học Việt Nam nơi miền đất

mới và Văn học Việt Nam nơi miền đất mới - Tập 1, đã góp phần cung cấp những

“nguyên liệu” cơ bản để chúng tôi thực hiện các nghiên cứu cần thiết

Văn học miền Nam của Huỳnh Ái Tông (Hiên Phật học,

Bộ sách Văn học miền Nam lục tỉnh của Nguyễn Văn Hầu (3 tập, NXB Trẻ,

Thành phố Hồ Chí Minh, 2012) lần lượt tái hiện diện mạo văn học dân gian, văn học Hán Nôm thời khai mở và xây dựng đất mới, văn học Hán Nôm thời kháng Pháp và thuộc Pháp của miền Nam Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến tập 2

(Văn học Hán Nôm thời khai mở và xây dựng đất mới) vì có một phần tư liệu liên

quan trực tiếp đến giai đoạn khảo sát của đề tài Đáng quý là không chỉ dừng ở việc

mô tả bức tranh văn học với những giới thiệu sơ giản về một số tác giả - tác phẩm tiêu biểu (nội dung chủ đạo của cuốn sách), Nguyễn Văn Hầu đã bước đầu có

Trang 32

những quan tâm nhất định về “sinh hoạt nhân dân thế kỷ XVIII”1, đặc biệt là vấn đề

“Ý thức văn học viết”, “Việc học hành thi cử từ phủ Chúa”, “Việc học hành thi cử tại đất Gia Định”2 - những vấn đề có ý nghĩa then chốt, tác động đến tâm thức sáng tác của các tác giả Tuy nhiên, phạm vi khảo sát của cuốn sách chỉ giới hạn trong không gian vùng Nam kỳ lục tỉnh, chứ không phải là toàn bộ khu vực Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII như định hướng của đề tài luận án Hơn nữa, Nguyễn Văn Hầu mới chủ yếu dừng ở mức độ mô tả, ít đưa ra những bình luận, đánh giá về đặc trưng, vai trò, vị trí của văn học miền Nam

Trong các công trình coi văn học Đàng Trong là đối tượng nghiên cứu trực tiếp, đáng chú ý có những nghiên cứu chuyên sâu về các “tiểu vùng” cụ thể, giúp hình dung từng bộ phận văn học vùng miền một cách rõ nét hơn

Cuốn Văn học miền Nam, Văn học Hà Tiên: Chiêu Anh các - Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh của Đông Hồ (Xuất bản Quình Lâm, Viện Văn nghệ - Hiên Biên

khảo, Sài Gòn, 1970) coi văn học Hà Tiên, mà cụ thể là thi phái Chiêu Anh các, là đối tượng khảo sát chính Trong công trình này, điểm nhìn của Đông Hồ thu hẹp dần, từ “Khái quan về tính cách đặc thù của văn học miền Nam”, nhìn lại “Văn học

Hà Tiên”, rồi cuối cùng khảo cứu “Tương quan giữa thơ Hán và thơ Nôm của thi phái Chiêu Anh các”, “Tác phẩm và thi phẩm Hán của thi phái Chiêu Anh các”3

Khi phác thảo về văn học miền Nam4 buổi đầu, Đông Hồ ghi nhận sự xuất hiện của hai dòng văn học, tương ứng với hai cuộc di cư lớn trong lịch sử: dòng văn học từ Đàng Ngoài đem vào Đàng Trong rồi tràn vào miền Nam, do đường bộ (song hành với cuộc di dân Nam tiến của dân tộc Việt) và dòng văn học từ Hoa Nam trực tiếp truyền sang miền Nam, do đường bể (song hành với cuộc di cư tị nạn chính trị của dân tộc Trung Hoa đến miền Nam hồi thế kỷ XVII), từ đó khẳng định “văn học miền Nam khởi thủy phôi thai đã trực tiếp chịu ảnh hưởng sâu đậm văn học Trung Quốc” [54, tr 19] Trên cơ sở đó, tác giả trình bày cụ thể về các hoạt động của thi phái Chiêu Anh các trên đất Hà Tiên, mà ông định danh là nền “văn học Minh hương” - “nền văn học đặc thù” [60, tr 26] Đáng quý là Đông Hồ không chỉ trình bày kết quả khảo cứu của riêng mình mà còn cần mẫn ghi chép những điều “Chung

Trang 33

quanh sách Hà Tiên thập vịnh của Mạc Thiên Tích”, “Sử liệu và văn liệu về Chiêu

Anh các 1736 - 1771”, “Sử liệu Hà Tiên và một bài sấm truyền tác phẩm và thi phẩm Nôm của thi phái Chiêu Anh các”, “Tiểu truyện Mạc Thiên Tích”, “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh”1 Công trình vì vậy, vừa có ý nghĩa gợi mở ý tưởng, vừa có giá trị tham khảo đặc biệt về mặt tư liệu Diện mạo tiểu vùng văn học Hà Tiên, với điển hình là nhóm Chiêu Anh các, từng bước được tái hiện khá chi tiết Tiếc rằng vì

bị chi phối bởi mục đích giảng dạy, nên cách dẫn giải còn đơn giản, mang tính chất giới thiệu kiến thức hơn là tranh biện học thuật

“Văn học Hán Nôm ở Gia Định” của Cao Tự Thanh, tuy chỉ là một chương

trong cuốn Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Tập 2 (Trần Văn Giàu, Trần

Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988), nhưng đã thực sự thành công trong việc khái quát diện mạo nền văn học Hán Nôm của tiểu vùng Gia Định2 - tức thành phố Hồ Chí Minh, theo giới thuyết của tác giả Cao Tự Thanh không đơn thuần khảo sát văn học Gia Định như một đối tượng biệt lập mà đặt trong cái nhìn quy chiếu với văn hóa Trong hầu hết các công trình nghiên cứu văn học của mình, Cao Tự Thanh đều đặt đối tượng trong trục văn hóa để khám phá, tìm hiểu, và ông đã gặt hái được nhiều thành

tựu với hướng đi này Chuyên luận “Văn học Đàng Trong” in trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử do Giáo sư Trần Ngọc

Vương chủ biên là một điển hình (mà chúng tôi sẽ có dịp trình bày kỹ hơn ở phần sau) Trở lại với bài viết “Văn học Hán Nôm ở Gia Định”, xuất phát từ quan điểm muốn “có được một cách nhìn phù hợp về văn học Hán Nôm ở Gia Định thời gian

này, cần xem xét nó trong mối liên hệ3 với nội dung và tính chất của sự phát triển văn hóa ở Gia Định” [138, tr 60], Cao Tự Thanh đã phân tích bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù có thể tác động đến hoạt động nhận thức của những người sáng tác ở Gia Định hồi cuối thế kỷ XVIII, và chỉ ra rằng: “cho tới 1802, các nhà nho Gia Định chưa biết tới sự khủng khoảng tư tưởng mà các nhà nho Bắc Hà đã gặp phải,

vì xã hội họ sống, trong sự phát triển có tính chất cục bộ và ở phạm vi địa phương

3

Phần in nghiêng do tác giả luận án nhấn mạnh

Trang 34

của nó vẫn chưa rơi vào quỹ đạo suy thoái chung của tổ chức và ý thức hệ xã hội phong kiến Việt Nam Chính vì vậy mà thơ văn của họ nhìn chung đều thể hiện tâm trạng lạc quan và thái độ nhập cuộc của tầng lớp trí thức ý thức được vai trò xã hội của mình và sẵn sàng chờ ngày được đại dụng” [138, tr 67] Trong khoảng ba mươi năm phát sinh và phát triển, văn học Hán Nôm ở Gia Định đến 1802 đã tích lũy được một lực lượng sáng tác và công chúng văn học của mình, “và quan trọng hơn,

đã bước đầu tạo dựng được một truyền thống địa phương1

để rồi trên cơ sở đó tiếp thu và đóng góp vào truyền thống văn học viết dân tộc” [138, tr 74] Những nhận định trên thực sự là những gợi ý quý giá khi chúng tôi tiếp cận tiểu vùng văn học Gia Định trong quá trình tìm hiểu về tổng thể văn học Đàng Trong hồi thế kỷ XVII - XVIII

Bên cạnh đó, cũng có một số nhà nghiên cứu chú ý đến một số tác giả tiêu

biểu, như: Bùi Văn Lăng - Tô Văn Cần quan tâm đến Lịch sử Đào Duy Từ (Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1937); Dương Tụ Quán viết Đào Duy Từ tiểu sử và thơ văn (Đông Tây thư quán, Hà Nội, 1944); Trần Thị Liên tìm hiểu Đào Duy Từ con người

và tác phẩm (NXB Văn hóa, Hà Nội, 1992); Bùi Duy Tân đề cao “Mạc Thiên Tích

và Chiêu Anh các”, giới thiệu “Đào Duy Từ - một sự nghiệp văn chương khiêm

tốn” (trong cuốn Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999) Tuy nhiên, phần lớn các công trình

này chỉ là những giới thiệu sơ giản về hành trạng tác giả và nội dung những tác phẩm tiêu biểu, không chú tâm đưa ra những bình luận, đánh giá chuyên sâu Có thể coi đây là những nghiên cứu trường hợp, chưa đủ để tái hiện toàn bộ diện mạo văn học Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII

Cùng với thời gian, nhiều cuốn sách liên quan đến các tác giả - tác phẩm cụ thể lần lượt được công bố, tuy nhiên, chúng tôi đánh giá chỉ có ý nghĩa về mặt tư

liệu - văn bản học, như: Lê Ngọc Trụ, Phạm Văn Luật sao lục Sãi Vãi của Nguyễn

Cư Trinh (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969), Hoàng Xuân Hãn biên khảo Truyện Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào (NXB Văn học, Hà Nội, 1987), Hoài Anh biên dịch - chú giải Gia Định tam gia (Huỳnh Văn Tới - Bùi Quang Huy hiệu đính, giới

thiệu, NXB Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, 2005) Như các công trình Tổng tập,

Trang 35

Hợp tuyển đã giới thiệu ở trên, chúng tôi coi đây là nguồn tư liệu quý giá, phục vụ cho quá trình phục dựng, tái hiện diện mạo văn học vùng

Năm 2012, Lê Quang Trường hoàn thành luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Gia Định tam gia thi trong tiến trình văn học Hán Nôm Nam Bộ, tại trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Theo đó, tác giả không chỉ nghiên cứu thơ Tam gia ở phương diện nội dung tư tưởng và nội dung nghệ thuật, mà còn đặt thơ Tam gia trong bối cảnh văn học Hán Nôm ở Nam Bộ giai đoạn này để thấy được những đặc điểm riêng và chung của chúng, từ đó xác định giá trị cũng như những đóng góp của Tam gia đối với nền văn học Hán Nôm1

ở Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung Mặc dù đối tượng khảo sát của chúng tôi (sáng tác của Gia Định tam gia cuối thế kỷ XVIII - tức thời kỳ Đàng Trong) chỉ

“gặp gỡ” một phần với đối tượng khảo sát của Lê Quang Trường (toàn bộ thơ của Gia Định tam gia trải dài từ thế kỷ XVIII đến hết nửa đầu thế kỷ XIX - thời kỳ thịnh đạt của vương triều Nguyễn), nhưng về đại thể, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với đánh giá của Lê Quang Trường khi khẳng định: “Xét trong tiến trình văn học Hán Nôm Nam Bộ, Gia Định tam gia thi vừa kế thừa tinh hoa của thơ ca cổ điển Trung Quốc và dân tộc ở phương diện đề tài, thể loại, vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ở phương diện nội dung phản ánh, đặc biệt là tình cảm yêu quê hương, đất nước, tình cảm chân thành với gia đình, bè bạn… Có thể nói, trong nền văn học Nam Bộ, Gia Định tam gia là những người có đóng góp lớn cho văn hóa, văn học Nam Bộ Các ông là lớp người sau hội Tao đàn Chiêu Anh các, nhưng trước nhóm Bạch Mai thi xã - thành lập nên nhóm thơ Gia Định Sơn hội (Bình Dương thi xã) Việc thành lập thi xã là kiểu chơi thơ đặc thù của khu vực Nam Bộ,

và là một kiểu trau dồi ấn chứng thơ ca với nhau Nếu xét trong tiến trình của văn học Hán Nôm Nam Bộ, bản thân nó cũng đã đóng góp trong việc hình thành đội ngũ trí thức miền Nam ” [170, tr 204] Trong phạm vi khảo sát của đề tài, chúng tôi đã kế thừa một phần những kiến giải của tác giả về đặc điểm sáng tác của Gia Định tam gia giai đoạn cuối thế kỷ XVIII Đặc biệt, những đóng góp của tác giả luận án trong việc xử lý, phiên dịch hầu như hoàn chỉnh tư liệu thơ Gia Định tam gia một cách có hệ thống từ nguồn tư liệu gốc Hán Nôm (bao gồm cả những bài tự,

1

Theo giới thuyết của Lê Quang Trường, văn học Hán Nôm Nam Bộ chính là nền văn học viết bằng chữ Hán Nôm thuộc khu vực từ Biên Hòa - Đồng Nai trở vào Nam, mà trung tâm chính là Sài Gòn - Gia Định Đây cũng là một nhánh trong không gian nghiên cứu của chúng tôi

Trang 36

bạt trong các tập thơ Tam gia; những lời bình về thơ Lê Quang Định của Ngô Thì

Vị, Nguyễn Du ) đã hỗ trợ chúng tôi rất nhiều trong công tác tiếp cận văn bản, để

từ đó tiến hành những nghiên cứu cần thiết

Bản thân chúng tôi, khi thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ Văn học, năm 2010, cũng đã chọn khảo sát một tác phẩm truyện Nôm tiêu biểu của xứ Đàng Trong, đồng thời theo những văn bản hiện tồn, cũng là tác phẩm truyện Nôm bác học đầu

tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, với tiêu đề: Song Tinh Bất Dạ và bước khởi đầu của truyện Nôm bác học Trong công trình này, chúng tôi đã khảo sát một số

bình diện nghệ thuật (cốt truyện - kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ) và nhấn mạnh vào một số yếu tố văn hóa vùng miền đặc thù (thể hiện ở phương ngữ và nghệ thuật

“nguyên hợp”), đồng thời tìm hiểu cơ sở lịch sử - xã hội, văn hóa - văn học dẫn đến

sự hình thành thể loại truyện Nôm ở Đàng Trong nói riêng và chi phối sự hình thành các dấu hiệu biệt sắc của vùng văn học Đàng Trong nói chung Trong một chừng mực nhất định, có thể coi luận án này là sự tiếp nối định hướng mà chúng tôi

đã theo đuổi từ nhiều năm nay: nghiên cứu văn học Đàng Trong đặt trong bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù của vùng đất

Điểm qua tình hình nghiên cứu về văn học Đàng Trong như thế, có thể thấy phạm vi khảo sát của các nhà nghiên cứu tương đối rộng Bên cạnh những công trình, bài viết, chuyên khảo mang tầm khái quát về các giai đoạn trong lịch sử văn học miền Nam nói chung và Đàng Trong nói riêng, đã có những nghiên cứu chuyên sâu về các tiểu vùng văn học của xứ này, hoặc chú ý đến tầm ảnh hưởng của một số tác giả tiêu biểu Tuy nhiên, như đánh giá của Giáo sư Trần Ngọc Vương trong tiểu luận “Tiến tới xác lập hệ quy chiếu mới cho việc nhận thức lại văn chương truyền thống” thì đóng góp của các nhà nghiên cứu (kể cả các nhà nghiên cứu ở miền Nam trước đây, vốn sống và làm việc trên miền đất Đàng Trong cũ, sớm có điều kiện khai thác thư tịch lưu trữ ở các thư khố lớn như ở Huế, Sài Gòn, Đà Lạt ,

do đó có điều kiện quan tâm hơn và thực tế đã phần nào khắc phục được sự thiếu hụt trong các công trình văn học sử miền Bắc liên quan tới vùng văn học Đàng Trong) vào việc nhận thức văn chương truyền thống nói chung và văn học Đàng

Trong nói riêng, chỉ “gây ấn tượng về điểm (các vấn đề cụ thể, những thành tựu của

cá nhân một số tác giả cụ thể) hơn là về diện” [189, tr 19]

Trang 37

Theo ghi nhận của chúng tôi, Khi những lưu dân trở lại của Nguyễn Văn

Xuân (in lần đầu năm 1967, NXB Văn nghệ; chúng tôi tham khảo bản in trong

Tuyển tập, 2002, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng) là chuyên luận đầu tiên đề cập, tái hiện

một cách sâu sắc không gian văn hóa và sinh khí văn nghệ của dải đất phương Nam Những nhận định của Nguyễn Văn Xuân về văn nghệ miền Nam nói chung, văn học Đàng Trong nói riêng, đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nghiên cứu tiếp sau Có lẽ,

ông là người đầu tiên nhận ra và khẳng định: “văn học miền Nam căn bản là nói và trình diễn” [180, tr 543], với ba loại căn bản là: hò vè, truyện và các thể thơ, tuồng Đặc biệt, tuồng hát bộ, tuồng chính lẫn tuồng diễu, “mới là phương tiện văn nghệ

quan trọng nhất của miền Nam Trung, nơi luôn luôn chỉ có khán giả hơn độc giả, chỉ thích hoạt động hơn suy tư, chỉ thích đời sống giữa trời hơn là thu vào một phòng hẹp” [180, tr 564] Điều đáng quý là Nguyễn Văn Xuân không chỉ ghi nhận

yếu tố nói và trình diễn trong đặc điểm văn nghệ miền Nam, cẩn trọng hơn, ông đã

lần giở trở lại những trang sử Nam tiến của dân tộc Việt để mong tìm lời giải cho câu hỏi “tại sao văn học miền Nam căn bản là nói và trình diễn” Và ông nhận thấy, trong đoàn lưu dân từ đất Bắc xa xôi tiến về phía Nam thời kỳ đầu, phần lớn là:

“Hạng người nghèo khổ mà có óc phiêu lưu, hoặc hạng anh chị, hạng liều lĩnh, lính tráng, thường ít học song lại có khiếu về ca hát”, và “Chính từng lớp nông dân di cư này sẽ quyết định sự phát khởi, trưởng thành của văn nghệ miền Trong theo đường lối riêng của nó, không còn giống với phương thức phát triển từ đây của miền Ngoài”, để rồi từ đây sẽ “bắt đầu một biến cố lớn và vĩnh viễn ảnh hưởng tới văn

học Việt Nam” [180, tr 547 - 548] Chính cuộc sống “chỉ có hành động, hoạt động

mà rất kém suy tư” ở Đàng Trong thuở ấy đã khiến cho “sự giải trí thật cần thiết mà môn giải trí nào cũng phải lấy dân chúng làm căn bản”; trong khi đối tượng này lại

“không cần đọc, ngẫm nghĩ bằng xem, nghe, xúc động, cười cợt, hoa chân, múa tay trước những bộ môn trình diễn, những bài thơ, vè, chuyện kể, ca hát, ca kịch rất

dễ hiểu, rất cụ thể, vui ra vui, buồn ra buồn rõ ràng” [180, tr 549] Ông khẳng định:

“Văn chương miền Nam Hà đã gần như có hẳn những phương pháp, những quy luật,

một cá tính tách biệt hẳn sự phát triển của văn chương Bắc Hà từ ngã rẽ Nguyễn Hoàng” [180, tr 550] Trong khi văn chương Đàng Ngoài phát triển trên hai con

đường: văn chương bác học và bình dân, mà ở đó, “loại thành văn bao giờ cũng lấy đối tượng trí thức làm căn bản” [180, tr 551] thì văn chương Đàng Trong “bao giờ

Trang 38

cũng cố gắng bình dân hóa, và đối tượng là đại quần chúng lao động” [180, tr 551]

Đó là lý do, theo ông, khiến cho văn chương Đàng Ngoài “nặng về xem”, trong khi

văn chương Đàng Trong lại thiên về nói và trình diễn Những nhận định xác đáng

trên đây của Nguyễn Văn Xuân đã tái hiện toàn bộ không gian văn học và sinh hoạt

văn hóa - văn nghệ của vùng đất từng một thời tồn tại khá độc lập, “phải tự tạo cho

mình một nền kinh tế tự túc và một nền văn hóa riêng biệt, dù vẫn còn liên quan với cội nguồn, song phát triển theo một lề lối khác” [180, tr 580] Đây thực sự là những gợi ý quý giá cho chúng tôi trong quá trình lội ngược dòng, tìm về với cội nguồn văn hóa - văn nghệ Đàng Trong một thuở

Cùng với tập khảo luận kể trên của Nguyễn Văn Xuân, tiểu luận “Văn học

Đàng Trong” của Cao Tự Thanh (trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử do Trần Ngọc Vương chủ biên, NXB Giáo dục, Hà

Nội, 2007) cũng có ý nghĩa định hướng quý giá cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về đặc điểm văn học Đàng Trong Có thể coi đây là chuyên luận bàn sâu nhất

về văn học Đàng Trong như một đối tượng riêng biệt, đặc thù Đặt văn học Đàng Trong vào bối cảnh và động thái văn hóa đặc thù của nó, Cao Tự Thanh đã phân tích, chỉ ra một số đặc điểm nổi bật giúp hình dung về diện mạo văn học vùng, như: văn học Đàng Trong “phản ánh quá trình hình thành thoát ly xã hội cũ của một cộng đồng mới” [142, tr 282]; “ý thức hệ Nho giáo chi phối văn học Đàng Trong là một loại Nho giáo đã ít nhiều nhân dân hóa” và văn học là “phương tiện để con người tự thể hiện, đồng thời thông qua đó thực hiện chính mình cũng như đều đề cao vai trò

cá nhân trong việc đồng hóa thẩm mĩ hiện thực - nhấn mạnh tới tài năng trong sáng tác văn chương” [142, tr 334] Trên cơ sở đó, hệ thống đề tài và hình tượng trung tâm của văn học Đàng Trong “là một điển hình về sự ăn khớp giữa văn chương và lịch sử” [142, tr 334], mà hai chủ đề nổi bật là “tán dương nhân vật lãnh đạo” và

“ngợi ca phong cảnh thiên nhiên” [142, tr 335] Về thể loại, văn học Đàng Trong

có biệt sắc là sự tích hợp của nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, biểu diễn, hội họa Ngôn ngữ đậm màu sắc nhân dân với “ý thức Việt hóa ngôn ngữ và điển cố văn chương bác học” [142, tr 341] Thực tế, trong công trình của mình, Cao Tự Thanh đã chứng minh khá thuyết phục cho những luận điểm đó Có thể nói, chúng tôi, trong quá trình thực hiện luận án, đã coi chuyên luận của nhà nghiên cứu Cao

Tự Thanh là cuốn sách “gối đầu giường” bởi những nhận định xác đáng, thấu hiểu

Trang 39

không chỉ văn học mà cả văn hóa Đàng Trong một thuở Tuy nhiên, Cao Tự Thanh quan niệm văn học Đàng Trong chỉ bao gồm các sáng tác xuất hiện ở thế kỷ XVII - XVIII, nhưng giới hạn ở năm 1778, còn thời kỳ từ 1778 đến 1802 lại được xếp vào văn học thời nội chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh Điều này dẫn đến phạm vi khảo sát của nhà nghiên cứu chỉ dừng đến năm 1778, bỏ qua tiểu vùng văn học Gia Định phát triển rực rỡ vào những năm 1778 - 1802 Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của Cao Tự Thanh, như chúng tôi đã trình bày, về cơ bản vẫn đậm tính chất mô tả, phục dựng diện mạo, có thể coi là những cứ liệu chân thực, đáng tin cậy để từ đó, chúng tôi đưa ra những đánh giá về vị trí và vai trò của văn học Đàng Trong trên tiến trình văn học dân tộc - mục tiêu trọng tâm của luận án này

Tiểu kết:

Như vậy, cùng với thời gian, văn học Đàng Trong đã dần dần giành được sự quan tâm của học giới với những mức độ và hình thức công bố khác nhau: sách chuyên khảo (coi văn học Đàng Trong là một đối tượng độc lập, chuyên biệt), công trình văn học sử (coi văn học Đàng Trong là một bộ phận, một thành tố trong quá trình nhận diện tiến trình văn học), luận văn, luận án (sự phổ biến trong nhà trường)… Từ đó có thể thấy “diện” quan sát của các nhà nghiên cứu tương đối rộng Bên cạnh những công trình, bài viết, chuyên khảo mang tính khái quát về các giai đoạn trong lịch sử văn học miền Nam nói chung và văn học Đàng Trong nói riêng,

đã có những nghiên cứu chuyên sâu về các tiểu vùng văn học của xứ này, hoặc chú

ý đến tầm ảnh hưởng của một số tác giả tiêu biểu, sức sống của một số thể loại đặc thù… nhưng tất cả mới chỉ gây ấn tượng về “điểm” (tức là những vấn đề cụ thể, những thành tựu của một số cá nhân tác giả cụ thể); đặc biệt, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu đặt văn học Đàng Trong vào cái nhìn so sánh với văn học Đàng Ngoài và xét trên lịch trình thời gian để xác định dấu ấn, vai trò của văn học vùng trong tiến trình văn học dân tộc

Trang 40

Chương 2 Văn hóa - xã hội Đàng Trong thế kỷ XVII - XVIII

Như chúng tôi từng hơn một lần nhấn mạnh, văn học Đàng Trong, khác với nhiều bộ phận văn học địa phương khác, đã xuất hiện trong một thời kỳ mới của nền văn hóa Đại Việt Với tư cách là một thành tố văn hóa, văn học, do đó, cũng hiển nhiên vừa là kết quả vừa là ánh phản của những dấu tích văn hóa đặc thù ấy, và trên một số phương diện, lại tác động ngược trở lại, làm nên sinh sắc của vùng văn hóa mới Do vậy, tìm hiểu về lịch sử - văn hóa của vùng đất, cũng có thể xem là một trong những hướng đi hữu hiệu để tiếp cận, lý giải sâu hơn về cội nguồn, bản chất của văn học Đàng Trong Tuy nhiên, không phải toàn bộ hệ thống văn hóa – xã hội đều có ý nghĩa tác động “bình đẳng” đến sự hình thành đặc điểm văn chương Chúng tôi chỉ chọn ra đây những dữ kiện văn hóa – lịch sử mà chúng tôi cho rằng

có tác động sâu sắc đến văn học vùng, góp phần làm nên bản sắc, định vị vai trò của văn học vùng trong mối tương quan với văn học Đàng Ngoài đương thời và trong dòng chảy văn học viết thời trung đại

2.1 Nho học vùng đất mới và những dấu tích văn chương

2.1.1 Mô hình Nho giáo không thuần nhất: điều kiện để văn chương phát triển theo xu thế tự nhiên

Thực tế cho thấy, tập đoàn phong kiến Đàng Trong, tiến vào phía Nam trong hoàn cảnh vừa phải khẳng định sự độc lập trên đường hướng ly khai chính quyền Lê - Trịnh vừa phải khẳng định sự chính nghĩa của mình trong quá trình xây dựng lực

lượng cát cứ, đã phát triển theo một mô hình Nho giáo không thuần nhất về cả căn

bản tư tưởng lẫn nền tảng pháp quyền Rõ ràng, tình thế chính trị và tương quan lực lượng đương thời đã khiến cả họ Trịnh khuynh loát triều chính lẫn họ Nguyễn ly khai trung ương đều vẫn phải lấy Nho giáo với những thánh mô hiền phạm làm chuẩn mực về cả tri thức lẫn cách thức để lựa chọn phương sách đối phó cũng như thái độ ứng xử trước những tình huống chính trị nảy sinh trong quá trình tranh bá đồ vương Điều này, vô hình trung, góp phần duy trì sự thống nhất về lý thuyết chính trị cũng như quan điểm lịch sử của trí thức ở hai vùng Lẽ dĩ nhiên, cả Trịnh lẫn Nguyễn, chẳng bên nào thực sự trung thành với vua Lê theo đúng đạo nghĩa quân thần, nghĩa

là, cũng chẳng bên nào nghiêm túc tuân thủ các điều mục cương thường theo đúng

Ngày đăng: 28/03/2020, 23:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn An (Biên soạn) (1997), Ô châu cận lục, Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn Nguyên dịch nghĩa, chú thích, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục
Tác giả: Dương Văn An (Biên soạn)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
2. Phạm Quỳnh An (2008), Sáng tác văn học của Gia Định tam gia thi xã thời Nguyễn, Luận văn Thạc sĩ Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác văn học của Gia Định tam gia thi xã thời Nguyễn
Tác giả: Phạm Quỳnh An
Năm: 2008
3. Phạm Văn Ánh (2014), Thể loại Từ trong văn học trung đại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại Từ trong văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Ánh
Năm: 2014
4. Lại Nguyên Ân (Chủ biên) - Bùi Văn Trọng Cường (1997), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Tái bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân (Chủ biên) - Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
5. Lại Nguyên Ân (2013), “Trở lại vấn đề trung tâm - ngoại vi nhìn từ góc độ văn hóa”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (10), tr. 97 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề trung tâm - ngoại vi nhìn từ góc độ văn hóa”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2013
6. Nguyễn Quang Ân, Phạm Đình Nhân, Phạm Hồng Toàn (Sưu tầm) (2000), Tạp chí Tri Tân 1941 – 1946: Các bài viết về lịch sử và văn hóa Việt Nam, Tập 1, Trung tâm UNESCO - Thông tin Tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tri Tân 1941 – 1946: Các bài viết về lịch sử và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Ân, Phạm Đình Nhân, Phạm Hồng Toàn (Sưu tầm)
Năm: 2000
7. J. Barrow (2008), Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793), Nguyễn Thừa Hỷ dịch, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793)
Tác giả: J. Barrow
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2008
8. Tôn Thất Bình (1995), Kể chuyện chín chúa - mười ba vua triều Nguyễn, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện chín chúa - mười ba vua triều Nguyễn
Tác giả: Tôn Thất Bình
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1995
9. Philiphê Bỉnh (1968), Sách sổ sang chép các việc, Viện Đại học Đà Lạt xuất bản, Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách sổ sang chép các việc
Tác giả: Philiphê Bỉnh
Năm: 1968
10. Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên - Nguyễn Nghị dịch, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Cristophoro Borri
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
11. Trương Bá Cần (1992), Công giáo Đàng Trong thời giám mục Pigneau (1771 - 1799), Tủ sách Đại Kết, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo Đàng Trong thời giám mục Pigneau (1771 - 1799)
Tác giả: Trương Bá Cần
Năm: 1992
12. Phạm Tú Châu (1997), Hoàng Lê nhất thống chí: Văn bản, tác giả và nhân vật, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê nhất thống chí: Văn bản, tác giả và nhân vật
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
13. Nguyễn Huệ Chi (2003a), “Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX”, Tạp chí Văn học (5), tr. 7 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy đặc trưng loại biệt của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX”, "Tạp chí Văn học
14. Nguyễn Huệ Chi (2003b), “Một vài gợi ý về phương pháp văn học sử”, Tạp chí Văn học (6), tr. 15 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài gợi ý về phương pháp văn học sử”, "Tạp chí Văn học
15. Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên) (2010), Gương mặt văn học Thăng Long, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gương mặt văn học Thăng Long
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
16. Nguyễn Khoa Chiêm (1994), Việt Nam khai quốc chí truyện, Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga dịch, chú và giới thiệu, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam khai quốc chí truyện
Tác giả: Nguyễn Khoa Chiêm
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1994
17. Phan Huy Chú (1974), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập IX: “Văn tịch chí”, Nguyễn Thọ Dực dịch, Tủ sách Cổ văn - Ủy ban Dịch thuật - Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí, "Tập IX: “Văn tịch chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Năm: 1974
18. Nguyễn Tiến Cường (1998), Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến
Tác giả: Nguyễn Tiến Cường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
19. William Dampier (2007), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, Hoàng Anh Tuấn dịch, chú thích và viết lời giới thiệu - Nguyễn Văn Kim hiệu đính, Tái bản, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688
Tác giả: William Dampier
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
20. Nguyễn Văn Dân (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w