LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoà
Trang 1BÙI THỊ KIỀU
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CÓ SỬ DỤNG DỊCH VỤ KẾ TOÁN THUÊ NGOÀI TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh-Năm 2019
Trang 2BÙI THỊ KIỀU
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CÓ SỬ DỤNG DỊCH VỤ KẾ TOÁN THUÊ NGOÀI TRÊN ĐỊA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng dịch vụ
kế toán thuê ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi theo sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Văn Dương Các
số liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp.Hồ Chí Minh, Ngày 27 tháng 11 năm 2019 Người cam đoan
Bùi Thị Kiều
Trang 4TÓM TẮT
Trong nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ như hiện nay, xu hướng các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng dịch vụ kế toán nhằm thực hiện các chức năng kế toán nói chung cũng như lập và trình bày báo cáo tài chính nói riêng là rất phổ biến Đối tượng sử dụng thông tin BCTC của các DNNVV chủ yếu là chủ sở hữu và các tổ chức tín dụng hay nhà cung cấp và đặc biệt là cơ quan thuế trong quản lý nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, từ đó, một báo cáo tài chính chất lượng là vô cùng cần thiết đối với các đối tượng này trong việc đưa ra các quyết định kinh tế của mình
Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong đó nghiên cứu định tính được kết hợp với nghiên cứu định lượng, luận văn xác định được các nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng dịch vụ
kế toán tại thành phố Hồ Chí Minh Các nhân tố này gồm: thời gian thuê ngoài dịch
vụ kế toán, quy mô công ty, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tuổi công ty Trong đó, quy mô công ty có mức độ tác động lớn nhất và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản có mức độ tác động thấp nhất Cuối cùng, tác giả đề xuất các hàm ý thực tiễn quản lý liên quan đến từng nhân tố nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng dịch vụ kế toán
Luận văn cũng trình bày những hạn chế trong quá trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, từ đó mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng dịch vụ kế toán
Trang 5ABSTRACT
In today's fast-growing and strong market economy, the trend of small and medium-sized businesses using accounting services to perform general accounting functions as well as preparing and presenting financial statements In particular, it is very common The main users of the financial statements of SMEs are owners and credit institutions or suppliers, and especially the tax authorities, in managing tax obligations of enterprises It is quality that is essential for these actors to make their economic decisions
Using a mixed research method, in which qualitative research is combined with quantitative research, the thesis identifies the factors affecting the quality of financial statements of small and medium-sized enterprises using accounting services in Ho Chi Minh City These factors include: the time outsourced accounting services, firm size, profitability ratio of total assets, cash flow from operating activities of enterprises, financial leverage, company age In particular, the size of the company with the largest level of impact and the lowest rate of return
on total assets Finally, the author proposes recommendations related to each factor
to improve the quality of financial statements of small and medium-sized enterprises that use accounting services
The thesis also presents limitations in the research process and research results, thereby opening the next research direction for the research topic on the quality of financial statements of small and medium-sized enterprises using accounting services
Trang 6MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa của đề tài 3
6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.1 Nghiên cứu về đo lường CLBCTC doanh nghiệp 6
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp 7
1.1.3 Các nghiên cứu về sử dụng dịch vụ thuê ngoài kế toán ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp 9
1.2 Các nghiên cứu trong nước 10
1.2.1 Nghiên cứu về đo lường CLBCTC doanh nghiệp 10
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp 11
1.2.3 Các nghiên cứu về sử dụng dịch vụ thuê ngoài kế toán ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp 12
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu 13
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17
2.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
2.1.1 Về doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
2.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
2.1.1.2 Đặc điểm hoạt động và quản lý của DNNVV ở Việt Nam 18
2.1.1.3 Các khó khăn và thách thức đối với DNNVV ở Việt Nam hiện nay 19
2.1.2 Cơ sở lý thuyết về CLBCTC của doanh nghiệp 20
2.1.2.1 BCTC của doanh nghiệp 20
2.1.2.2 CLBCTC của doanh nghiệp 20
2.1.3 Thuê ngoài DVKT của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 22
2.2 Các lý thuyết nền liên quan 23
2.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội 23
2.2.2 Lý thuyết mối quan hệ (Relationship Theory) 24
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các doanh nghiệp có sử dụng DVKT 25
2.3.1 Thời gian thuê ngoài DVKT của doanh nghiệp 25
2.3.2 Quy mô doanh nghiệp 26
2.3.3 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản 27
2.3.4 Dòng tiền của doanh nghiệp 27
2.3.5 Đòn bẩy tài chính 28
2.3.6 Tuổi công ty 28
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 31
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 32
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 33
Trang 83.2 Thiết lập mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng DVKT thuê ngoài 34
3.2.1 Mô hình nghiên cứu chính thức 34
3.2.2 Các biến trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu 37
3.2.2.1 Thời gian thuê ngoài DVKT của doanh nghiệp 37
3.2.2.2 Quy mô doanh nghiệp 38
3.2.2.3 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản 38
3.2.2.4 Dòng tiền từ HĐKD của doanh nghiệp 39
3.2.2.5 Đòn bẩy tài chính 39
3.2.2.6 Tuổi công ty 40
3.3 Thiết kế nghiên cứu 41
3.3.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu và thu thập thông tin 41
3.3.2 Mô hình hồi quy 41
3.3.3 Đo lường biến trong mô hình 42
3.3.3.1 Đo lường biến phụ thuộc 42
3.3.3.2 Đo lường biến độc lập 44
3.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
4.1 Phân tích thống kê mô tả 48
4.1.1 Mô tả các biến trong mô hình 48
4.1.2 Thống kê mô tả chung về chỉ số CLBCTC 48
4.2 Phân tích hồi qui, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 48
4.2.1 Phân tích tương quan giữa các biến 48
4.2.2 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội 49
4.2.3 Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính bội 50
4.2.4 Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của các hệ số hồi quy 51
4.2.5 Kiểm tra các giả định mô hình hồi quy bội 52
4.2.6 Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 52
Trang 94.2.7 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn 53
4.2.8 Kiểm tra giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (Hiện tượng đa cộng tuyến) 56
4.2.9 Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV sử dụng thuê ngoài kế toán tại TP.HCM 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý THỰC TIỄN QUẢN LÝ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Hàm ý thực tiễn quản lý 62
5.2.1 Đối với các công ty sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM 62
5.2.1.1 Quy mô của doanh nghiệp 62
5.2.1.2 Đòn bẩy tài chính 62
5.2.1.3 Tuổi công ty 63
5.2.1.4 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản 63
5.2.1.5 Dòng tiền HĐKD của doanh nghiệp 64
5.2.1.6 Thời gian thuê ngoài DVKT 65
5.2.2 Đối với các công ty cung cấp DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM 65 5.2.2.1 Trình độ nhân viên kế toán 65
5.2.2.2 Hoàn thiện công tác quản lý, kiểm soát chất lượng dịch vụ cung cấp 66
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 68
KẾT LUẬN CHUNG 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCTC: Báo cáo tài chính
CEO: Giám đốc điều hành
CLBCTC: Chất lượng báo cáo tài chính
CLLN: Chất lượng lợi nhuận
DN: Doanh nghiệp
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DVKT: Dịch vụ kế toán
FASB: Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ
HĐKD: Hoạt động kinh doanh
HĐQT: Hội đồng quản trị
IASB: Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế
PPNC: phương pháp nghiên cứu
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 30
Hình 3.1: Lưu đồ thiết kế nghiên cứu 34
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu chính thức 37
Hình 4.1 Biểu đồ phân tán giữa các giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy 53
Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 54
Hình 4.3 Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 55
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát chuyên gia 36
Bảng 3.2: Các giả thuyết nghiên cứu và kỳ vọng ảnh hưởng của các nhân tố đến CLBCTC 40
Bảng 3.3: Đo lường biến độc lập trong mô hình 44
Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả chỉ số CLBCTC 48
Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 49
Bảng 4.3 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính bội 50
Bảng 4.4 Bảng phân tích ANOVA 51
Bảng 4.5 Bảng kết quả hồi quy 52
Bảng 4.6: Kiểm định về tự tương quan phần dư 55
Bảng 4.7 Bảng so sánh kết quả mô hình và kỳ vọng 57
Bảng 5.1: Mức độ tác động của các nhân tố đến biến phụ thuộc 61
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam (Số liệu thống kê năm 2018) Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho xóa đói giảm nghèo và đầu tư phát triển Các nghiên cứu cho thấy, các DNNVV có những điểm khác biệt
so với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt liên quan đến các loại nguồn lực, lãnh đạo, cơ cấu tổ chức, thị trường và mức độ linh hoạt (Banham Heather C., 2010)
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán nói chung và thông tin BCTC của các DNNVV tập trung chủ yếu vào chủ sở hữu và các tổ chức tín dụng hay nhà cung cấp và đặc biệt là cơ quan thuế trong quản lý nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, việc đầu tư vào trang thiết bị, nguồn nhân lực cho công tác kế toán ở nhiều DNNVV còn nhiều hạn chế nên nhiệm vụ kế toán ở các doanh nghiệp này thường được thuê từ một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài (Everaert, Sarens, và Rommel, 2007; Niemi Kinnunen, Ojala , & Troberg, 2012; Ojala, Niskanen, Collis
& Pajunen, 2014) Điều này có nghĩa trách nhiệm lập và trình bày BCTC được chuyển sang cho các công ty bên ngoài Các bài nghiên cứu đã cho thấy việc thuê DVKT từ bên ngoài có hiệu quả hơn so với việc sử dụng kế toán của doanh nghiệp (Barrar, wood, Jones, & Vedovato, 2002)
Theo tìm hiểu của tác giả, đến nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam được thực hiện nhằm xác định và đo lường sự tác động của các nhân tố đến CLBCTC của các DNNVV được lập bởi các công ty DVKT Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh” để nghiên cứu Trong nghiên cứu này tác giả lấy bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng DVKT thuê ngoài để lập và cung cấp BCTC tại TP.HCM để nghiên cứu, các doanh nghiệp được điều tra được xem là thành phần rất quan trọng của nền kinh tế không chỉ ở TP.HCM và cả ở Việt Nam, từ đó cung
Trang 14cấp một môi trường để khám phá CLBCTC của các công ty sử dụng DVKT thuê ngoài trong lập BCTC, qua đó xác định cũng như đo lường sự tác động của các nhân tố đến CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM Mục tiêu cụ thể:
Để giải quyết mục tiêu chung vừa nêu, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể như sau:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Thứ nhất, các nhân tố nào ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM như thế nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian nghiên cứu: Các DNNVV có sử dụng DVKT
thuê ngoài tại TP.HCM
+ Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện năm 2019
- Khách thể nghiên cứu: các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài tại
TP.HCM
Trang 154 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện bằng PPNC hỗn hợp, trong đó PPNC định lượng được kết hợp sử dụng với PPNC định tính Cụ thể như sau:
- PPNC định tính: tác giả nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam kết hợp với các lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu,
từ đó tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất Tiếp đó, thông qua phỏng vấn chuyên gia, tác giả xác định mô hình nghiên cứu chính thức Như vậy, mục đích của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trong luận văn này là giúp hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu đề xuất, cũng như cách thức đo lường các biến cho phù hợp Từ đó, xây dựng được mô hình nghiên cứu chính thức, cách thức đo lường của các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài
- Phương pháp định lượng: tác giả thu thập dữ liệu có liên quan đến đề tài từ BCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT tại TP.HCM Dữ liệu sau khi được thu thập được tổng hợp thành dạng bảng (panel data), tiếp đó, tác giả sử dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để hỗ trợ cho việc tính toán, phân tích dữ liệu và lập các bảng biểu có liên quan Qua đó, tiến hành kiểm định tính đa cộng tuyến, tính tương quan, tiến hành hồi quy mô hình, phân tích các chỉ số cần thiết để đảm bảo là
mô hình phù hợp Mục đích của phương pháp nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu này nhằm giúp kiểm định các nhân tố mà tác giả đề xuất có ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài hay không, và nếu có ảnh hưởng thì mức độ ảnh hưởng và hướng tác động của nhân tố này đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài như thế nào
5 Ý nghĩa của đề tài
Về ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu: Qua nghiên cứu, luân văn góp phần hệ thống cơ sở lý thuyết liên quan đến chất lượng báo cáo tài chính, về chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán Xây dựng được mô hình các biến, và đo lường các biến này trong mối quan hệ tác động đến chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Tiếp đó, qua phân tích hồi quy, nghiên cứu
Trang 16xác định được các nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính của các DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài
Nghiên cứu tìm ra các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT ở TP.HCM Kết quả nghiên cứu sẽ là
cơ sở giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin BCTC như: các cơ quan nhà nước, các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn, đồng thời góp phần đưa ra các hàm ý thực tiễn quản lý giúp nâng cao CLBCTC của các DNNVV có sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài tại TP.HCM
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước Chương này trình bày tổng
quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã thực hiện trước đây liên quan đến
đề tài nghiên cứu, trên cơ sở, nêu lên những nhận xét về những điểm làm được, chưa được của những nghiên cứu này, từ đó xác định khe hổng nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm có liên quan
đến nghiên cứu như DNNVV, CLBCTC, thuê ngoài DVKT Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày các lý thuyết nền có liên quan đến nghiên cứu và xác định mô hình nghiên cứu đề xuất của đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về PPNC, mô
hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương này tác giả trình bày
kết quả nghiên cứu về các nhân tố cũng như mức độ tác động của các nhân tố đến CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT tại TP.HCM và bàn luận kết quả của nghiên cứu này
Chương 5: Kết luận và hàm ý thực tiễn quản lý Chương này đưa ra các kết
luận và đề xuất một số hàm ý thực tiễn quản lý đối với các đối tượng có liên quan đến
Trang 17việc lập, trình bày, sử dụng và quản lý CLBCTC của các DNNVV có sử dụng DVKT
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Phần này tác giả trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
đề tài nghiên cứu như các nghiên cứu về đo lường CLBCTC của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC và ảnh hưởng của thuê ngoài DVKT đến CLBCTC của các doanh nghiệp
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
1.1.1 Nghiên cứu về đo lường CLBCTC doanh nghiệp
Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin hữu ích cho việc đưa ra quyết định BCTC không chỉ là kết quả cuối cùng, chất lượng của quá trình kinh doanh phụ thuộc vào từng phần của nó, bao gồm cả các giao dịch của doanh nghiệp, thông tin về sự lựa chọn, các phương pháp kế toán được sử dụng và tác động của các phương pháp này Hai quan điểm chung được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá CLBCTC đó là quan điểm dựa trên nhu cầu của người sử dụng thông tin và quan điểm tập trung vào việc bảo vệ cho các nhà đầu tư và cổ đông Với quan điểm thứ nhất, CLBCTC được xác định dựa trên cơ sở của tính hữu ích của thông tin đối với người sử dụng thông tin đó và quan điểm thứ hai CLBCTC được định nghĩa chủ yếu liên quan việc cung cấp cho cổ đông với “công bố đầy đủ và hợp lý” Francis cùng cộng sự (2005) tranh luận rằng chất lượng lợi nhuận là một khái niệm rộng bao gồm cả chất lượng kế toán và CLBCTC
Theo nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (2010) nghiên cứu tổng hợp các nghiên cứu về CLLN cho rằng CLLN càng cao đem lại nhiều thông tin về tình hình tài chính của một công ty mà có liên quan đến việc ra quyết định cụ thể ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin của người đưa ra quyết định Nói cách khác CLLN càng cao sẽ giúp đưa ra quyết định tốt hơn dựa trên tình hình tài chính của công ty Qua đó có thể thấy CLLN rất quan trọng khi đánh giá về CLBCTC của một công ty
Theo Choi và Pae (2011) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và CLBCTC tại Hàn Quốc đã đo lường CLBCTC theo 3 cách đó là QTLN (sử dụng biến kế toán dồn tích), kế toán thận trọng và tính chính xác của dồn
Trang 19tích về dòng tiền hoạt động trong tương lai Kết quả cho thấy các doanh nghiệp thể hiện sự cam kết cao hơn sẽ có CLBCTC cao hơn Những doanh nghiệp này cùng cho thấy hạn chế việc QTLN thì BCTC nhất quán hơn, và dự báo dòng tiền chính xác hơn Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn ảnh hưởng đến việc duy trì CLBCTC trong tương lai.
Theo Bauwhede và cộng sự (2015) việc đo lường CLBCTC theo CLLN thông qua việc sử dụng mô hình đo lường CLLN dựa trên biến kế toán dồn tích có hai ưu điểm gồm: CLLN có khả năng dự báo dòng tiền trong tương lai tốt hơn, là chìa khóa để đánh giá rủi ro vỡ nợ của doanh nghiệp mà các chủ nợ thường xem xét trước khi ký kết các hợp đồng tín dụng
Như vậy, để đo lường CLBCTC có thể chia làm 2 nhóm phương pháp chính:
đo lường theo đặc điểm chất lượng và đo lường theo CLLN Nhược điểm của CLBCTC đo lường theo đặc điểm chất lượng là việc đánh giá CLBCTC sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người đánh giá, dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất lượng của BCTC mà các công
ty đã công bố Còn theo phương pháp đánh dựa trên CLLN, các dữ liệu phục vụ cho việc phân tích này dựa trên thông tin sẵn có trong BCTC và báo cáo thường niên của các công ty (dữ liệu thứ cấp) và việc đánh giá CLBCTC được thực hiện trực tiếp trên các dữ liệu sẵn có này, chính điều này góp phần làm cho dữ liệu đáng tin cậy hơn Ngoài ra, đo lường CLBCTC theo CLLN cũng rất hữu ích vì dựa trên quan điểm người sử dụng BCTC, các nhà đầu tư, chủ nợ và các nhà soạn thảo chuẩn mực
kế toán Để lượng hóa CLBCTC từ việc đo lường CLBCTC theo CLLN, các tác giả trước đây như Bauwhede (2015); Choi và Pae (2011) thường sử dụng 2 nhóm mô hình đó là mô hình biến kế toán dồn tích và mô hình giá trị thích hợp của TTKT
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp
Việc nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp được nhiều tác giả lựa chọn thực hiện
Nghiên cứu của Houqe và cộng sự (2010) thực hiện nghiên cứu nhằm mục
tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, bằng phương
Trang 20pháp nghiên cứu định lượng, Houqe và cộng sự (2010) đã sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 648 quan sát là các doanh nghiệp ở Bangladesh trong giai đoạn từ 2001 –
2006 Nghiên cứu này cho kết quả các nhân tố ảnh hưởng thuận chiều đến CLBCTC của các doanh nghiệp gồm QSH bởi nhà nước, QSH bởi nhà quản lý, QSH bởi tổ chức, QSH của gia đình, quy mô hội đồng quản trị, loại công ty kiểm toán
Nghiên cứu của Klai, N., & Omri, A (2011) thực hiện nghiên cứu nhằm
mục tiêu kiểm định về sự ảnh hưởng của cơ chế quản trị tác động đến CLBCTC của
các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tunis giai đoạn 1997-2007 Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng cùng chiều với CLBCTC gồm có quy mô ban giám đốc, tỷ lệ thành viên ban giám đốc độc lập, tính kiêm nhiệm của CEO, QSH bởi tổ chức Các nhân tố ảnh hưởng ngược chiều với CLBCTC gồm quy mô công ty, triển vọng phát triển, QSH bởi nước ngoài, QSH của các thành viên trong gia đình, sự tập trung QSH
Chalaki và cộng sự (2012) cũng thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm
định các đặc điểm quản trị công ty ảnh hưởng đến CLBCTC Nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu đặt ra, các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng,
dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 2003-2011 của 136 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa các thuộc tính quản trị doanh nghiệp bao gồm quy mô hội đồng quản trị, tính độc lập của hội đồng quản trị, sự tập trung QSH, QSH tổ chức và CLBCTC Ngoài
ra, không có bằng chứng nào được tìm thấy để hỗ trợ mối quan hệ đáng kể giữa các biến kiểm soát (quy mô kiểm toán, quy mô doanh nghiệp và tuổi công ty) đến CLBCTC
Tiếp đó, Hassan (2013) đã thực hiện một đề tài nhằm nghiên cứu, kiểm tra
các đặc điểm quản lý ảnh hưởng đến CLBCTC của 32 công ty sản xuất niêm yết ở Nigeria trong giai đoạn 2007-2011 Theo đó, Hassan (2013) sử dụng mô hình của Dechow và Dichev (2002) để đo lường CLBCTC, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC bao gồm đòn bẩy tài chính, tính độc lập của ban
Trang 21giám đốc, quy mô ban kiểm soát, tỷ lệ sở hữu của tổ chức, tính độc lập của ban kiểm soát, số cuộc họp của hội đồng quản trị, sự tập trung QSH
1.1.3 Các nghiên cứu về sử dụng dịch vụ thuê ngoài kế toán ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp
Barrar và cộng sự (2002) với nghiên cứu “The efficiency of accounting
service provision Business Process Management Journal’’ Nghiên cứu được thực
hiện tại các doanh nghiệp ở Anh Và Ý, bằng cách sử dụng phương pháp phân tích
số liệu (data envelopment analysis _ DEA) nhằm mục đích so sánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có thuê ngoài DVKT và các doanh nghiệp tự thực hiện công việc kế toán Bên cạnh đó nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của nhân tố quy mô và trình độ chuyên môn để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty khi lựa chọn thuê ngoài hay tự thực hiện công việc kế toán Kết quả nghiên cứu cho thấy ở các DNNVV việc thuê ngoài DVKT tạo nhiều lợi thế vì vậy giúp gia tăng hiệu quả hoạt động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trình độ chuyên môn kế toán viên nội bộ chưa đáp ứng ứng được nhu cầu, việc thuê ngoài DVKT sẽ giúp các DNNVV quản
lý công tác kế toán hiệu quả hơn so với việc tự tổ chức kế toán tại doanh nghiệp Ngoài ra việc sử dụng DVKT giúp các DNNVV tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi cho quá trình cạnh tranh
Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016) nghiên cứu sự ảnh hưởng của
việc thuê ngoài các DVKT đến CLBCTC ở các DNNVV ở Phần Lan Nghiên cứu khảo sát 1386 DNNVV ở Phần Lan giai đoạn 2010-2013, trong đó có 78% DNNVV
ở Phần Lan có thuê ngoài DVKT để thực hiện các công việc kế toán Ở nghiên cứu này CLBCTC được đo lường bằng cách nhận diện các hành vi QTLN thông qua mô hình dồn tích của Jones (1991) Kết quả là thuê ngoài DVKT để thực hiện các nhiệm vụ kế toán như chuẩn bị BCTC theo luật định thì thời gian thuê ngoài DVKT càng dài càng làm tăng chất lượng báo cáo Những phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đây khi cho rằng các doanh nghiệp nhỏ nói chung đều thiếu nguồn lực và chuyên môn để chuẩn bị các BCTC chất lượng cao, vì vậy họ quyết định lựa chọn thuê ngoài DVKT để thực hiện các chức năng kế toán Ngoài ra nghiên cứu
Trang 22cũng chỉ ra các biến như quy mô DNNVV, thời gian hoạt động của doanh nghiệp,
số lượng thành viên trong ban quản trị, tính độc lập của hội đồng quản trị, ngành kinh doanh, đòn bẩy và dòng tiền của HĐKD có ảnh hưởng đến CLBCTC của DNNVV có sử dụng DVKT thuê ngoài
1.2 Các nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nghiên cứu về đo lường CLBCTC doanh nghiệp
Theo Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), CLBCTC có thể được đánh giá thông qua các thang đo được xây dựng dựa trên các đặc điểm chất lượng thông tin quy định bởi các tổ chức nghề nghiệp, phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá mức độ hữu ích của thông tin bằng cách đánh giá kích thước và các khía cạnh của thông tin bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính của BCTC
mà không nhằm vào mục đích đo lường CLLN Ưu điểm của phương pháp này là chất lượng thông tin được đo một cách trực tiếp, tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là kết quả thu thập được có độ tin cậy không cao, mang tính chất cảm tính cao vì đánh giá dựa trên cơ sở thang đo dẫn đến phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người đánh giá, bên cạnh đó khó xác định thang đo cho các đặc điểm chất lượng vì vậy chưa phản ánh đúng thực trạng chất lượng thông tin trên BCTC Cũng theo Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), CLBCTC cũng được đo lường thông qua việc phân tích đánh giá các thông tin về lợi nhuận dựa trên dữ liệu thông tin có sẵn trên BCTC và báo cáo thường niên (thông tin thứ cấp), phương pháp đo lường này có ưu điểm là đáng tin cậy Ngoài ra đo lường CLBCTC thông qua CLLN cũng rất hữu ích dựa trên quan điểm người sử dụng BCTC, nhà đầu tư, chủ nợ, các nhà soạn thảo chuẩn mực kế toán
Ngô Thị Khánh Linh và Nguyễn Thị Mai Lê (2018) với nghiên cứu “Điều chỉnh lợi nhuận: Góc nhìn tổng quan từ một số nghiên cứu”, theo các tác giả này độ tin cậy của lợi nhuận là một trong các chỉ tiêu đại diện cho CLBCTC dựa trên cơ sở
kế toán, do đó, nghiên cứu về điều chỉnh lợi nhuận đóng vai trò quan trọng đối với người sử dụng thông tin Việc thực hiện QTLN về lâu dài sẽ làm giảm chất lượng
và mức độ tin cậy của thông tin BCTC
Trang 231.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp
Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013) với nghiên cứu “Một số ý kiến về
chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”, bài báo
đăng trên tạp chí Kinh tế-Kỹ thuật, Trường Đại học Kinh tế-Kỹ thuật Bình Dương Nghiên cứu đã phân tích các đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt chú trọng về sự khác biệt về quy mô và quản lý của loại doanh nghiệp này từ đó dẫn đến
sự khác biệt so với các doanh nghiệp lớn về thông tin trình bày trên BCTC Theo tác giả tổng hợp, các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm: công tác tổ chức quản lý, người làm công tác kế toán, khung pháp lý về kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin Nghiên cứu cũng cho thấy sự yếu kém trong công tác kế toán và quản lý ở các DNNVV đã làm ảnh hưởng lớn đến CLBCTC
Đặng Thị Kiều Hoa (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa – bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM” Dữ liệu nghiên
cứu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định các nhân tố và sử dụng mô hình hồi quy đa biến nhằm kiểm định các nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố đến CLBCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa – bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM Kết quả nghiên cứu cho thấy có bốn nhân tố bao gồm: quy định
về thuế, quy mô công ty, người lập BCTC, các quy định pháp lý về kế toán có ảnh hưởng đến CLBCTC
Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán-bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” Trong nghiên cứu này, CLBCTC của công ty
niêm yết tại Việt Nam được đo lường theo CLLN dựa trên cơ sở kế toán và thị trường Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu là các BCTC đã được kiểm toán và báo cáo thường niên trong giai đoạn 2012-2014 của các công ty niêm yết tại Việt Nam Tác
Trang 24giả nghiên cứu sự tác động của 5 nhóm nhân tố độc lập gồm nhóm biến liên quan đến cơ cấu sở hữu vốn (quyền sở hữu nước ngoài, quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu nhà quản lý, quyền sở hữu tổ chức, sự tập trung quyền sở hữu), nhóm biến liên quan đến quản trị công ty (quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp HĐQT, mức
độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại của kế hoạch thưởng), nhóm biến liên quan đến cơ cấu vốn (đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành), nhóm biến liên quan đến đặc điểm thị trường (quy mô công ty, tuổi công ty, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC, loại ngành công nghiệp), nhóm biến liên quan đến hiệu quả công ty (lợi nhuận, triển vọng phát triển, chính sách tỷ lệ chia cổ tức) Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 23 nhân tố độc lập thuộc 5 nhóm biến nghiên cứu, chỉ có 17 nhân tố tác động đến CLBCTC của doanh nghiệp, 6 nhân tố không ảnh hưởng đến CLBCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán gồm: QSH nhà nước, QSH nhà quản
lý, sự tập trung QSH, quy mô công ty, mức độ thường xuyên của các cuộc họp HĐQT, tuổi công ty Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng CLBCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa cao
và có nhiều sự khác biệt so các quốc gia khác, từ đó giúp cho các đối tượng liên quan cải thiện CLBCTC của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
1.2.3 Các nghiên cứu về sử dụng dịch vụ thuê ngoài kế toán ảnh hưởng đến CLBCTC doanh nghiệp
Nguyễn Thị Yến Trinh (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định thuê ngoài dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tp
Hồ Chí Minh”, nghiên cứu nhằm nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến quyết định thuê ngoài DVKT của các DNNVV tại TP.HCM Qua nghiên cứu, đề tài xác định 9 nhân tố tác động đến quyết định thuê ngoài DVKT là: Tần suất thực hiện các công việc kế toán, tính chất đặc thù của công ty, sự phù hợp của giá phí dịch vụ, lợi ích thuê ngoài DVKT, định hướng thuê ngoài, mối quan hệ giữa hai bên, uy tín của công ty cung cấp DVKT, dịch vụ chăm sóc khách hàng,
Trang 25CLBCTC Trong đó mối quan hệ giữa CLBCTC và quyết định thuê ngoài DVKT được xem là nhân tố mới BCTC là kết quả đầu ra của kế toán vì vậy khi bên cung cấp DVKT cung cấp BCTC kịp thời, chính xác, thông tin được trình bày trung thực,
dễ hiểu sẽ tăng sự hài lòng của bên đi thuê
Lê Nguyễn Bích Trâm (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính do công ty dịch vụ kế toán cung cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - nghiên cứu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”
Bằng PPNC hỗn hợp, trong đó nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, đề tài xác định được 6 nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC
do công ty DVKT cung cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - nghiên cứu trên địa bàn TP.HCM là: hệ thống pháp lý, nhận thức người quản lý, trình độ nhân viên kế toán, hoạt động kiểm tra giám sát, giá phí DVKT, mối quan hệ giữa doanh nghiệp
và công ty DVKT Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC giúp các DNNVV tiết kiệm chi phí và có thời gian tập trung vào HĐKD cốt lõi mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Lâm Nhật Vi (2018) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của các yếu tố thuê ngoài
dịch vụ kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh”, nghiên cứu nhằm xác định và đo lường mức độ
ảnh hưởng các yếu tố của thuê ngoài DVKT ảnh hưởng đến CLBCTC ở TP.HCM
Qua nghiên cứu, đề tài xác định 5 yếu tố của thuê ngoài DVKT ảnh hưởng đến CLBCTC gồm năng lực kế toán, tần số công việc, niềm tin chủ sở hữu, đặc tính tài sản và thời gian thuê ngoài đều ảnh hưởng đến CLBCTC Từ kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất các kiến nghị để nâng cao CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
sử dụng kế toán thuê ngoài bằng cách tăng cường các yếu tố thuê ngoài DVKT
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu
Qua việc trình bày tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến đề tài nghiên cứu có thể thấy có nhiều công trình nghiên cứu về CLBCTC được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, lựa chọn thực hiện
Trang 26Đối với các nghiên cứu nước ngoài, các tác giả tập trung nghiên cứu về CLBCTC cũng như nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLBCTC của các doanh nghiệp Riêng mảng nghiên cứu liên quan đến CLBCTC của các công ty thuê ngoài DVKT tiêu biểu phải kể đến nghiên cứu của tác giả Höglund và Dennis Sundvik (2016), tuy nhiên mô hình nghiên cứu của tác giả này hiện vẫn chưa có bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam, trong khi đó đặc thù về môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý,… của các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Phần Lan là không giống nhau do đó không thể vận dụng rập khuôn kết quả của nghiên cứu này vào điều kiện các DNNVV ở Việt Nam có sử dụng DVKT trong việc cung cấp BCTC của doanh nghiệp
Tại Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về CLBCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của doanh nghiệp được thực hiện, các nghiên cứu phần lớn tập trung vào BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng có nghiên cứu chọn DNNVV là đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên các nghiên cứu này hướng đến việc doanh nghiệp có thực hiện tổ chức bộ máy kế toán tại đơn
vị để cung cấp các thông tin kế toán hay đặc biệt là cung cấp BCTC, còn các DNNVV sử dụng DVKT thuê ngoài để lập và trình bày BCTC thì chưa được nghiên cứu Bên cạnh đó, chưa có nghiên cứu nào đo lường CLBCTC thông qua CLLN mà chủ yếu lựa chọn đo lường BCTC theo đặc điểm chất lượng thông tin, hạn chế của phương pháp này là kết quả thu thập có thể có độ tin cậy không cao, mang tính chất cảm tính cao vì đánh giá dựa trên cơ sở thang đo dẫn đến phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người đánh giá, bên cạnh đó khó xác định thang đo cho các đặc điểm chất lượng
Theo số liệu thống kê năm 2018, DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, các doanh nghiệp này có đặc thù quy mô nhỏ nên còn rất nhiều hạn chế liên quan đến nguồn lực tài chính cũng như nguồn lực con người trong thực hiện các hoạt động của tổ chức Một đặc điểm quan trọng trong các doanh nghiệp này là họ không có đủ nguồn lực cần thiết để lập bộ máy kế toán nội
bộ, thiết lập BCTC trong nội bộ đơn vị Vì vậy các công ty này thường thuê ngoài
Trang 27các nhiệm vụ kế toán từ một nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài (Everaert, Sarens và Rommel 2007; Niemi et al 2012) Thực tế cho thấy, số lượng DNNVV sử dụng DVKT để lập và cung cấp BCTC ở Việt Nam là rất lớn, BCTC của các doanh nghiệp được nhiều bên liên quan sử dụng như cơ quan thuế, tổ chức tín dụng, nhà cung cấp,… việc BCTC của các doanh nghiệp này đảm bảo chất lượng đóng vai trò rất quan trọng cho việc ra quyết định của các đối tượng này, cũng như hiệu quả của các quyết định đưa ra
Những phân tích vừa nêu trên góp phần thể hiện khe hổng của đề tài nghiên cứu, đồng thời cho thấy việc thực hiện nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” hiện nay là rất cần thiết
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu liên quan đến những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu đồng thời giúp cho người đọc nắm được bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến đề tài mà tác giả thực hiện Từ các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nghiên cứu về CLBCTC của các doanh nghiệp được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu, tuy nhiên nghiên cứu về CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM thì chưa có tác giả nào nghiên cứu, do vậy việc thực hiện đề tài “Các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có
sử dụng dịch vụ kế toán thuê ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” trong điều kiện hiện nay vẫn còn là một vấn đề mới mẻ, tác giả sẽ kết hợp cả PPNC định tính và định lượng để đề tài sát hơn nữa với thực tiễn, đồng thời góp phần xác định các nhân tố cũng như đo lường mức độ tác động của các nhân tố này đến CLBCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có sử dụng DVKT thuê ngoài trên địa bàn TP.HCM, từ đó đề xuất các hàm ý thực tiễn quản lý thiết thực nhằm nâng cao CLBCTC của các doanh nghiệp này
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.1 Về doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa
có từ 50 đến 300 lao động, ở mỗi nước người ta có tiêu chí riêng để xác định
DNNVV ở nước mình
Ở Việt Nam, theo thông tư số 16/2013/TT-BTC ngày 8/2/2013 của Bộ Tài Chính thì DNNVV được nhận dạng như sau: Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động, làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm
không quá 20 tỷ đồng);
Theo điều 6 nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, ban hành ngày 11 tháng 3 năm 2018 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được chia thành doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, cụ thể tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
- Thứ nhất doanh nghiệp siêu nhỏ gồm:
+ Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
+ Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
- Thứ hai doanh nghiệp nhỏ:
+ Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân
Trang 30năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ
+ Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ
- Thứ ba doanh nghiệp vừa:
+ Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ
+ Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ
Mục đích phân loại DNNVV như vậy, vừa là để triển khai các chủ trương, chính sách trợ giúp phát triển DN; mặt khác để tăng cường quản lý nhà nước về trợ giúp phát triển DNNVV ở nước ta.Việc phân loại này thể hiện sự đặc biệt coi trọng vai trò, vị trí quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
Như vậy từ những khái niệm vừa nêu trên về doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong nghiên cứu này, tác giả xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là các doanh nghiệp có tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, trong đó, nếu là doanh nghiệp lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng thì số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người, và doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì số lao động tham gia bảo hiểm xã hội không quá 100 người
2.1.1.2 Đặc điểm hoạt động và quản lý của DNNVV ở Việt Nam
Trang 31Trong các DNNVV thì DN nhỏ và siêu nhỏ chiếm đại bộ phận (khoảng 90%, theo Bộ kế hoạch và đầu tư) Hình thức sở hữu gồm đủ các hình thức sở hữu như Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp Về loại hình DN thì chủ yếu là DN tư nhân, Công ty TNHH một thành viên và Công ty TNHH hai thành viên trở lên Ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh của DNNVV rất đa dạng nhưng tập trung chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ Đối với lĩnh vực sản xuất, các
DN nhỏ và siêu nhỏ vẫn hoạt động theo phương thức thủ công, bán thủ công hoặc
gia công
Phần lớn DNNVV có năng lực tài chính kém, công nghệ thiết bị lạc hậu, sử dụng lao động thủ công Sản phẩm chủ yếu của họ thường tiêu thụ trong thị trường nội địa, sức cạnh tranh yếu Trình độ và hiệu quả quản lý còn thấp DNNVV thường được quản lý theo kiểu gia đình, mang nặng tính kinh nghiệm Hầu hết các DN đều hoạt động độc lập, việc liên doanh liên kết còn nhiều hạn chế và có nhiều khó khăn Hiệu quả kinh doanh của DNNVV thường không cao và chịu áp lực cạnh tranh lớn nên tuổi thọ bình quân của DN thường rất thấp Tuy nhiên, cũng có một số DN hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản có sản phẩm xuất khẩu với giá trị
kinh tế cao
2.1.1.3 Các khó khăn và thách thức đối với DNNVV ở Việt Nam hiện nay
DNNVV ở Việt Nam hiện nay vẫn bị phân biệt đối xử dù đã có sự nỗ lực từ phía cơ quan Nhà nước Cụ thể là so với các thành phần kinh tế khác như DN Nhà nước, DN ngoài quốc doanh, DN có vốn đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn tín dụng, thì DNNVV vẫn chưa được đối xử công bằng
Với việc nền kinh tế Việt Nam gia nhập vào thị trường thế giới, cơ hội mang lại cho các DNNVV là vô cùng lớn nhưng thách thức đặt ra cũng không hề nhỏ, đặc biệt tính cạnh tranh trong HĐKD ngày càng khốc liệt Do phần lớn DNNVV ở Việt Nam đều xuất phát từ tập quán kinh doanh mang nặng tính gia đình, nhà quản trị có
ít kinh nghiệm về quản trị (Phạm Trà Lam, 2012) việc điều hành HĐKD tập trung chủ yếu trong tay một vài cá nhân có quan hệ huyết thống, tính đa nghi còn tồn tại
Trang 32và rất nhiều DNNVV ở Việt Nam chưa có tầm nhìn, chiến lược trong dài hạn dẫn đến tính bền vững trong HĐKD không cao Hoạt động hiện tại của các DNNVV chủ yếu là do chủ sở hữu – nhà quản trị điều hành theo kinh nghiệm Đây chính là rào cản lớn nhất mà các DNNVV phải đương đầu trong quá trình phát triển lâu dài của mình
Ngoài ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV ở Việt Nam còn bị tác động bởi các yếu tố như: tính bất ổn của nền kinh tế, lạm phát, sự thay đổi lãi suất,
tỷ giá hối đoái, thuế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, đối thủ cạnh tranh, thị phần, nhà cung cấp, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
2.1.2 Cơ sở lý thuyết về CLBCTC của doanh nghiệp
2.1.2.1 BCTC của doanh nghiệp
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21) - Trình bày BCTC thì: báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; Các luồng tiền
Theo IASB (2012), BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, phản ánh tình hình, kết quả tài chính của công ty, đáp ứng yêu cầu số đông của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng là kết quả quản lý của ban giám đốc đối với nguồn lực được giao phó cho họ
Theo Nguyễn Trọng Nguyên (2015), BCTC phải phản ánh được thông tin về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền thông qua hệ thống báo cáo: BCTC, báo cáo thu nhập, báo cáo vốn chủ sở hữu, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC
2.1.2.2 CLBCTC của doanh nghiệp
Trang 33Thứ nhất, CLBCTC theo quan điểm VAS
Việc lập và trình bày BCTC tại đoạn 9 của VAS 21 có nêu về việc trình bày BCTC trung thực hợp lý như sau: “Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành”
Và tại đoạn 12 VAS 21 có nêu doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:
- Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
- Đáng tin cậy, khi:
+ Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;
+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
+ Trình bày khách quan, không thiên vị;
+ Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
+ Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
Thứ hai, CLBCTC theo FASB và IASB
Theo FASB và IASB trong khuôn mẫu khái niệm đều cho rằng CLBCTC cao đạt được bằng việc tuân thủ các mục tiêu và các đặc điểm chất lượng của thông tin BCTC Các đặc điểm chất lượng là những đặc tính tạo ra tính hữu ích của thông tin giúp cho người sử dụng thông tin BCTC có thể đưa ra quyết định dựa trên những thông tin này FASB và IASB đưa ra 2 đặc tính chất lượng cơ bản của thông tin là:
Trang 34- Tính thích hợp: Là thông tin có khả năng tạo ra sự khác biệt trong việc ra các
quyết định của người sử dụng thông qua việc dự báo cho họ về các kết quả trong tương lai và khả năng xác nhận hoặc điều chỉnh các đánh giá trước đó
- Trình bày trung thực: Để thông tin hữu ích và đáng tin cậy thông tin cần
được trình bày đầy đủ, chính xác và các thông tin phải trung lập không thiên vị Ngoài 2 đặc điểm cơ bản trên còn có 4 đặc điểm chất lượng bổ sung: có thể so sánh, có thể kiểm chứng, tính kịp thời và có thể hiểu được
- Có thể so sánh: Thông tin của tổ chức kinh tế này có thể so sánh với thông
tin tương tự của các tổ chức kinh tế khác hoặc của chính tổ chức kinh tế đó nhưng vào thời điểm hoặc thời kỳ khác Sự so sánh thông tin giữa các tổ chức kinh tế hoặc việc áp dụng tính nhất quán trong phương pháp so sánh qua thời gian giúp tăng giá trị hữu ích của thông tin trong việc đánh giá các cơ hội kinh tế và tình hình HĐKD
- Có thể kiểm chứng: Để đảm bảo với người dùng rằng thông tin được trình
bày trung thực và đáng tin cậy thì thông tin phải có thể kiểm chứng được Thông tin
có thể kiểm chứng được khi: có sự hợp tác giữa những người xem xét thông tin, thông tin đảm bảo phản ánh đúng bản chất của sự kiện kinh tế và có thể xác minh trực tiếp hoặc gián tiếp
- Tính kịp thời: Thông tin cần được cung cấp cho người sử dụng trong một
khoản thời gian hợp lý Thông tin sẽ mất đi tính hữu ích nếu như thông tin không được cung cấp kịp thời hoặc cung cấp sau khi xảy ra một sự kiện nào đó
- Có thể hiểu được: Thông tin cần được phân loại, làm rõ bản chất và trình bày
rõ ràng và giúp người sử dụng thông tin có thể hiểu được ý nghĩa của chúng
2.1.3 Thuê ngoài DVKT của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Luật kế toán 2015, kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật này cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
Dong-Hoon Yang và cộng sự (2007) cho rằng: “Thuê ngoài là khi DN thuê một nhà cung ứng dịch vụ ở bên ngoài để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc
Trang 35trong DN” Việc này mang lại lợi ích, như: cắt giảm chi phí, gia tăng chất lượng, tiếp cận được công nghệ mới (Kremic và cộng sự, 2006), và tập trung vào hoạt động cốt lõi cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh cho DN (Gilley và cộng sự, 2000) Tuy nhiên, DN phải đối mặt với các rủi ro, như: thiếu khả năng kiểm soát, không chắc chắn về kết quả, tốn kém chi phí, rò rỉ thông tin và dữ liệu, cũng như chất lượng dịch vụ không tốt
Everaert et al (2010) cho rằng thuê ngoài kế toán là một chiến lược chuyển một phần hoặc toàn bộ chức năng kế toán ra bên ngoài để duy trì hoạt động kinh doanh, thuê ngoài các công việc kế toán có thể bao gồm các công việc thường xuyên gồm các công việc hóa đơn đầu ra-đầu vào và ghi chép sổ sách kế toán hằng ngày và công việc không thường xuyên bao gồm các báo cáo thuế và chuẩn bị các BCTC theo luật định
Theo Quélin & Duhamel (2003), những lý do liên quan đến quyết định thuê ngoài có thể bị ảnh hưởng bởi việc giảm chi phí, tiếp cận chuyên môn và sẵn sàng tập trung vào các HĐKD cốt lõi của doanh nghiệp Đầu tiên, giảm chi phí thường là một trong những lý do quan trọng nhất đối với việc thuê ngoài DVKT Hơn nữa, một lập luận phổ biến là các doanh nghiệp nhỏ thường thiếu các kỹ năng cần thiết
để tự xử lý các nhiệm vụ kế toán dẫn đến nhu cầu về thuê ngoài DVKT (Gooderham, Tobiassen, Døving, & Nordhaug, 2004; Marriott & Marriott, 2000)
Kế toán dịch vụ thuê ngoài cũng được coi là một trong những nguồn tư vấn được các doanh nghiệp nhỏ sử dụng thường xuyên nhất trong công tác kế toán của doanh nghiệp (Collis & Jarvis, 2002) Ngoài ra, việc xử lý nội bộ các chức năng kế toán tiêu tốn nhiều thời gian, nguồn lực của doanh nghiệp, trong khi đó, thuê ngoài chức năng kế toán cho phép các công ty tập trung vào các HĐKD cốt lõi (Gilley & Rasheed, 2000; Quinn & Hilmer, 1994)
2.2 Các lý thuyết nền liên quan
2.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội
Lý thuyết này lần đầu được giới thiệu bởi George Homans (1958) Một cuộc trao đổi phải là một giao dịch hai chiều và tuân theo các quy tắc trao đổi, cam kết
Trang 36nhất định giữa các bên và theo thời gian mối quan hệ giữa các bên sẽ phát triển, gia tăng sự tin cậy, trung thành và tin tưởng lẫn nhau
Thuê ngoài DVKT thể hiện sự trao đổi xã hội giữa các doanh nghiệp thuê dịch vụ và doanh nghiệp được thuê dịch vụ Bởi vì doanh nghiệp thuê DVKT lo ngại rằng việc thuê ngoài kế toán có thể dẫn đến mất mát thông tin, hoặc bên cung cấp dịch vụ không thực hiện đúng, thực hiện đầy đủ các nội dung công việc mà hai bên đã thương lượng, do đó, để hạn chế những lo ngại này, các công ty cung cấp DVKT phải cam kết bảo mật thông tin, đồng thời đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ của mình theo cam kết Thông qua lý thuyết trao đổi xã hội, để tránh việc xung đột phát sinh giữa hai bên thì sự tin tưởng lẫn nhau là vô cùng cần thiết Khi các bên tin tưởng lẫn nhau sẽ làm tăng khả năng trao đổi thông tin, từ đó tạo điều kiện để công ty DVKT có các dữ liệu chất lượng, tiếp cận và hiểu được môi trường hoạt động, các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thuê DVKT, từ đó thiết lập và trình bày các BCTC chất lượng hơn
2.2.2 Lý thuyết mối quan hệ (Relationship Theory)
Theo Dwyer et al., (1987) cho rằng việc kéo dài mối quan hệ theo thời gian, tiếp tục hợp tác trong tương lai được thực hiện dựa trên việc xem mối quan hệ này trong quá khứ Khi các chủ sở hữu doanh nghiệp mong muốn có mối quan hệ lâu dài họ sẽ có động lực tìm hiểu, khai thác lẫn nhau, làm việc cùng nhau để đạt được lợi ích chung
Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và thời gian thuê ngoài tiêu biểu như nghiên cứu của Myers, Myers, and Omer (2003), theo đó, khi mối quan hệ giữa DNNVV và đơn vị cung cấp DVKT càng dài sẽ giúp các nhân viên kế toán của đơn vị cung cấp DVKT tiếp cận, phát triển các năng lực cần thiết
để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực mà DNNVV hoạt động, nắm được đặc thù trong HĐKD của doanh nghiệp ảnh hưởng đến các thông tin kế toán trình bày trên BCTC liên quan đến doanh thu, chi phí, thuế, của các doanh nghiệp này
Trang 37Lý thuyết này được vận dụng vào nghiên cứu nhằm giải thích sự tác động của nhân tố thời gian thuê ngoài DVKT ảnh hưởng đến CLBCTC của các DNNVV thuê ngoài DVKT
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLBCTC của các doanh nghiệp có sử dụng DVKT
2.3.1 Thời gian thuê ngoài DVKT của doanh nghiệp
Myers, Myers, and Omer (2003) khẳng định mối quan hệ giữa doanh nghiệp
và đơn vị cung cấp DVKT càng lâu thì CLBCTC mà công ty DVKT cung cấp cho doanh nghiệp càng chất lượng Trong nghiên cứu này, các tác giả xác định thời gian thuê ngoài dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp được xác định bằng số năm tính từ ngày sử dụng DVKT Cụ thể các tác giả này đã vận dụng lý thuyết mối quan hệ để giải thích điều này, theo đó, thời gian hợp tác lâu dài sẽ tạo điều kiện cho nhân viên công ty DVKT hiểu hơn về các nghiệp vụ tài chính, các quy định pháp lý, cũng như đặc thù môi trường hoạt động của doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ cung cấp các thông tin
kế toán nói chung và đặc biệt là BCTC chất lượng hơn Đồng thời cũng nhờ vậy mà công ty DVKT làm hài lòng khách hàng và kéo dài thời gian ký kết hợp đồng, sử dụng DVKT của họ
Nghiên cứu của Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016) trên mẫu của các công ty nhỏ tư nhân ở Phần Lan đã kiểm tra tác động của việc thuê ngoài các nhiệm
vụ kế toán đối với CLBCTC của công ty Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty thuê DVKT từ nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài có chất lượng báo cáo cao hơn so với các công ty thực hiện các nhiệm vụ kế toán trong nội bộ Kết quả này có thể được giải thích bởi thực tế là một kế toán bên ngoài sẽ đóng vai trò là người giám sát bên ngoài trong quy trình BCTC của công ty và do đó làm giảm cơ hội để thực hiện các hành vi làm giảm CLBCTC Một kế toán viên bên ngoài cũng có thể có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm cao hơn là một nhân viên kế toán nội bộ thực hiện các nhiệm vụ kế toán của công ty Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy chất lượng báo cáo cao hơn có liên quan đến các nhiệm kỳ thuê ngoài DVKT dài hơn, theo đó, khi doanh nghiệp có thời gian thuê ngoài DVKT lớn hơn sáu năm thì
Trang 38thời gian thuê ngoài DVKT càng dài CLBCTC của doanh nghiệp thuê dịch vụ càng tăng lên
2.3.2 Quy mô doanh nghiệp
Một số nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa quy mô của doanh nghiệp và CLLN cũng như CLBCTC, cụ thể theo Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016) các công ty lớn hơn có CLBCTC cao hơn do họ có đủ nguồn lực và muốn tạo uy tín với các bên liên quan Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016) đã sử dụng logarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE) làm biến kiểm soát trong nghiên cứu của mình liên quan đến CLBCTC của các doanh nghiệp thuê ngoài chức năng kế toán
và điều này được giải thích rằng quy mô của công ty có thể là biến thay thế cho nhiều biến bị bỏ qua, không đề cập trong nghiên cứu (Becker, DeFond, Jiambalvo,
& Subramanyam, 1998) Trong khi theo Roodposhti và Chashmi (2011) quy mô công ty lớn thì QTLN nhiều hơn vì vậy CLBCTC thấp hơn hay Klai, N., & Omri,
A (2011) cũng tìm thấy mối quan hệ tác động ngược chiều giữa nhân tố này và CLBCTC Còn theo nghiên cứu của Chalaki và cộng sự (2012) quy mô của công ty không có tác động đến CLBCTC
Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013) đã phân tích các đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa liên quan đến sự khác biệt về quy mô của loại doanh nghiệp này từ đó dẫn đến sự khác biệt so với các doanh nghiệp lớn về chất lượng thông tin trình bày trên BCTC Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Kiều Hoa (2016) cho thấy nhân tố này tác động cùng chiều đến CLBCTC, trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), hay nghiên cứu của Nguyễn Hồng Thảo (2017) cho kết quả nghiên cứu ngược lại Phạm Quốc Thuần (2016) chỉ ra rằng sự khác biệt về quy mô doanh nghiệp có làm thay đổi mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng thông tin BCTC
Để đo lường quy mô doanh nghiệp, phần lớn các nghiên cứu sử dụng tổng tài sản hoặc Logarit của tổng tài sản để đo lường
Trang 392.3.3 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Nghiên cứu của Dechow, Sloan, & Sweeney (1995); Kothari et al (2005) đo lường CLBCTC bằng mô hình Jones cho thấy hiệu suất của công ty đo lường bằng ROA có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp Trong đó, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản được đo lường bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia tổng tài sản (ROA) Theo nghiên cứu Moradi et al., (2012), Shu et al., (2014), cho rằng giữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được tính bằng ROA có mối quan hệ tích cực với hành vi QTLN, điều này làm giảm CLBCTC của doanh nghiệp Ball và Shivakumar (2005) cho rằng các mục tiêu BCTC của các DNNVV bị ảnh hưởng phần lớn bởi thuế Mà thu nhập chịu thuế chủ yếu lấy từ lợi nhuận kế toán, vì vậy DNNVV có thể giảm thu nhập chịu thuế bằng cách quản trị làm giảm lợi nhuận Đối với các nghiên cứu trong nước, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương
Hồng (2016) cho kết quả công ty có lợi nhuận càng cao thì CLBCTC càng thấp
2.3.4 Dòng tiền của doanh nghiệp
Về khái niệm dòng tiền của doanh nghiệp, theo Nguyễn Thị Đoan Trang (2017) thì dòng tiền là những thay đổi của tài khoản tiền mặt diễn ra trong thời kỳ
kế toán Bên cạnh đó, theo nghĩa hẹp, trong phân tích đầu tư, dòng tiền được hiểu là lợi nhuận, hay thu nhập ròng, cộng với lượng tiền trích vào quỹ khấu hao
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các khoản tích lũy bất thường được ước tính với mô hình Jones tương quan với và dòng tiền (Jeter & Shivakumar, 1999) Theo Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016) dòng tiền từ HĐKD có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc là biến kế toán dồn tích tự định Trong khi Dechow (1994), Sloan (1996) kết luận rằng khoản dồn tích và lưu chuyển tiền tệ trung bình có quan
hệ nghịch chiều với nhau
Theo Nguyễn Thị Đoan Trang (2017) trình bày trong “Vai trò của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp” thì nếu bỏ qua việc phân tích lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp thì các đối tượng sử dụng thông tin BCTC của doanh nghiệp sẽ dễ dàng bị qua mặt bởi các báo cáo lợi nhuận
tốt đẹp mà không hiểu được tính bền vững của các lợi nhuận này
Trang 402.3.5 Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính được xác định là tỷ lệ giữa tổng nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp Các công ty có đòn bẩy tài chính cao hầu như đều vi phạm các giao ước nợ, điều này có thể là động lực họ để thực hiện hành vi QTLN, từ đó làm giảm CLBCTC của đơn vị (DeFond và Jiambalvo, 1994; Sweeney, 1994) Theo Klai, N.,
& Omri, A (2011), Hassan (2013) các công ty có đòn bẩy lớn hơn có mối liên hệ
tích cực với các biến phụ thuộc CLBCTC, CLLN có nghĩa là các công ty mắc nợ nhiều hơn cung cấp báo cáo BCTC với chất lượng thấp hơn vì các công ty này muốn được hưởng các lợi ích từ các điều khoản từ hợp đồng vay khi BCTC “đẹp” Theo Waweru và Riro (2013) cho thấy doanh nghiệp có tỷ lệ nợ càng cao thì mức
độ QTLN càng thấp Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Liu (2012) lại cho thấy nhân
tố đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng CLBCTC
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) cho biết công ty
có đòn bẩy tài chính càng cao thì CLBCTC càng thấp
2.3.6 Tuổi công ty
Trong các nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính, một số nghiên cứu xác định biến này bằng số năm tính từ ngày công ty thành lập, tuy nhiên, đối với các nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết, thì hầu hết các tác giả trước đây đều xác định tuổi công ty tính bằng số năm từ khi công ty bắt đầu niêm yết Mối quan hệ giữa tuổi công ty và CLBCTC cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Các công ty cũ có xu hướng ổn định hơn và có độ biến động hoạt động thấp hơn (Hribar & Nichols, 2007), do đó có thể dẫn đến tích lũy bất thường thấp hơn Hơn nữa, Xie, Davidson và DaDalt (2003) đã chỉ ra rằng doanh nghiệp có tuổi lớn hơn có liên quan đến mức QTLN thấp hơn Theo Henrik Höglund và Dennis Sundvik (2016), Liu (2012) các công ty có thời gian hoạt động dài hơn thì có CLBCTC cao hơn Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Chalaki và cộng sự (2012)
cho thấy nhân tố thời gian hoạt động không có ảnh hưởng đến CLBCTC.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) cho thấy nhân tố
thời gian hoạt động không có ảnh hưởng đến CLBCTC