1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho phát triển bền vững ở tỉnh hà giang

90 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên và mong muốn góp phần vào sự phát triển của tỉnh Hà Giang, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho phát

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

LĂNG THỊ DIỆU LINH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG Ở TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

LĂNG THỊ DIỆU LINH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG Ở TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Văn Thiện

TS Ngô Thị Tường Châu

Hà Nội, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả và số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Lăng Thị Diệu Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Lê Văn Thiện, Phó Chủ nhiệm Khoa Môi trường; PGS.TS Ngô Thị Tường Châu, cán bộ giảng dạy Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và ThS Phạm Anh Hùng, cán bộ Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, đã tận tình chỉ bảo,

giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Bộ môn Thổ nhưỡng và Môi trường đất, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Ngoài ra,em còn nhận được sự quan tâm,chia sẻ, động viên, giúp đỡ từ gia đình, bạn bè Điều đó đã tạo động lực cho em hoàn thành tất cả công việc

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Lăng Thị Diệu Linh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 14

1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài 14

1.2 Cơ sở lý luận của việc đánh giá tiềm năng đất theo hướng sử dụng đất bền vững 15

1.2.1 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 16

1.2.2 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 17

1.2.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất bền vững 19

1.2.4 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19

1.2.5 Cơ sở lý luận đánh giá đất đai 23

1.2.6 Vị trí, vai trò của đánh giá tiềm năng đất đai trong sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất 24

1.3 Thực trạng đánh giá đất đai ở trên thế giới và trong nước 25

1.3.1 Ở Hoa Kỳ 25

1.3.2 Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu 26

1.3.3 Phương pháp đánh giá đất đai của FAO 26

1.3.4 Đánh giá đất đai ở Viê ̣t Nam 27

1.3.5 Các nghiên cứu về đất và đánh giá đất ở Hà Giang 28

CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

Trang 6

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 19

2.3 Phạm vi nghiên cứu 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập các số liệu thứ cấp: thu thập và xử lý các số liệu và tài liệu gồm: 30

2.4.2 Phương pháp điều tra, các số liệu sơ cấp: 31

2.4.3 Phương pháp đánh giá đánh theo FAO: So sánh giữa chất lượng đất đai và yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất để đánh giá mức độ thích hợp đất đai 31

2.4.4 Phương pháp phân tích, xây dựng số liệu (sử dụng phần mềm Mirosoft Execl); Phương pháp GIS (sử dụng phần mềm MapInfor để biên tập các bản đồ liên quan) 32

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang 33 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

3.1.1.1 Vị trí địa lý 33

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 33

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết 36

3.1.1.4 Thuỷ văn 37

3.1.1.5 Thực vật 38

3.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động sản xuất của tỉnh Hà Giang 39

3.2 Tài nguyên đất của tỉnh Hà Giang 45

3.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 54

3.3.1 Cơ cấu sử dụng đất 54

3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 55

3.3.2.1 Đất trồng lúa 55

3.3.2.2 Diện tích đất đất trồng cây hàng năm còn lại 56

Trang 7

3.3.2.3 Đất trồng cây lâu năm: 56

3.3.2.4 Đất lâm nghiệp: 56

3.3.2.5 Đất nuôi trồng thủy sản: 58

3.3.2.6 Đất nông nghiệp khác: 58

3.3.3 Biến động sử dụng đất nông nghiệp 58

3.3.3.1 Đất sản xuất nông nghiệp: 58

3.3.3.2 Đất lâm nghiệp: 59

3.3.3.3 Đất nuôi trồng thủy sản: 60

3.3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của việc sử dụng đất nông nghiệp: 61

3.3.5 Tính hợp lý của việc sử dụng đất nông nghiệp 64

3.3.6 Những tồn tại trong việc sử dụng đất 64

3.4 Đánh giá tiềm năng đất đai cho phát triển nông nghiệp 65

3.4.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tỉnh Hà Giang 65

3.4.2 Xác định các loại hình sử dụng đất 69

3.4.3 Đánh giá khả năng thích nghi đất đai 70

3.4.3.1 Xác định yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất 71

3.4.3.2 Kết quả đánh giá mức độ thích nghi đất đai 74

3.5 Đề xuất sử dụng đất 78

3.5.1 Cơ sở, quan điểm sử dụng đất 78

3.5.2 Đề xuất sử dụng đất 80

3.5.2.1 Phân vùng phát triển 80

3.5.2.2 Đề xuất sử dụng đất 81

3.5.3 Biện pháp sử dụng đất bền vững 84

3.5.3.1 Đất sản xuất nông nghiệp 84

3.5.3.2 Đất lâm nghiệp: 84

3.5.3.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 85

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tăng trưởng kinh tế ở Hà Giang 29

Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Giang thời kỳ 2000-2012 30

Bảng 3.3 Phân loại đất tỉnh Hà Giang theo nhóm và loại đất 35

Bảng 3.4 Các yếu tố, chỉ tiêu phân cấp xác định đơn vị đất đai tỉnh Hà Giang 55

Bảng 3.5 Đơn vị đất đai theo tổ hợp nhóm đất 56

Bảng 3.6 Yêu cầu sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất 61

Bảng 3.7 Phân hạng thích nghi đất đai 63

Bảng 3.8 Mức độ thích cho từng loại hình sử dụng đất 66

Bảng 3.9 Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững 71

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng kinh tế ở Hà Giang từ năm 2000-2012 29

Biểu đồ 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Giang thời kỳ 2000-2012 30

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Hà Giang năm 2012 44

Biểu đồ 3.4 Biến động diện tích đất nông nghiệp thời kỳ 2000-2012 50

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Trình tự các bước đánh giá đất theo FAO 21

Hình 3.1 Bản đồ đất tỉnh Hà Giang 36

Hình 3.2 Sơ đồ quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 54

Hình 3.3 CSDL bản đồ đơn vị đất đai tỉnh Hà Giang Việt Nam 57

Hình 3.4 Bản đồ thích nghi đất đai tỉnh Hà Giang 65

Hình 3.5 Bản đồ đề xuất sử dụng đất tỉnh Hà Giang 72

Trang 11

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CPTG Chi phí trung gian

DTĐT Diện tích điều tra

DTTN Diện tích tự nhiên

ĐGĐĐ Đánh giá đất đai

ĐVĐĐ Đơn vị đất đai

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp

Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture Organization of the United Nations) GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross

Domestic Product) GTGT Giá trị gia tăng

TCVN Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên hiệp quốc WRB Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất thế giới

Trang 12

MỞ ĐẦU

Đất là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng Đồng thời đất là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, là hợp phần quan trọng của môi trường, là tư liệu chủ yếu để sản xuất các sản phầm từ cây trồng Chính vì vậy, công tác điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai rất được chú trọng nhằm mô tả các đặc trưng và giá trị sử dụng đất trên các vùng lãnh thổ khác nhau

Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đã và đang đối mặt với áp lực tăng dân số cũng như nhu cầu lương thực, việc duy trì và mở rộng diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là một nhu cầu cấp bách, nhưng đồng thời cũng phải có chiến lược sử dụng đất hợp lý để ngăn chặn suy thoái tài nguyên đất Sử dụng đất hợp lý và lâu bền là một vấn đề đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm giải quyết, đặc biệt ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nơi mà quá trình khai thác tài nguyên đất đang diễn ra ở mức độ báo động Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên đất phục vụ sử dụng đất bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao là một vấn đề cấp bách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Hà Giang đang trong thời kỳ điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao trong những năm gần đây, bình quân năm khoảng 12,7% Sự chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh

tế cao đã gây áp lực lớn đối với đất đai: việc chuyển đổi mục đích một diện tích lớn đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa; đất rừng phòng hộ; rừng đặc dụng,… cho các mục đích phi nông nghiệp; đất cho phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng còn chưa được giám sát chặt chẽ Bên cạnh đó, những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu như: lũ lụt, hạn hán, sạt lở hàng năm diễn ra ngày càng phức tạp làm cho nguy cơ suy thoái đất tăng, hạn chế khả năng sử dụng bền vững

Trang 13

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên và mong muốn góp phần vào sự phát triển của tỉnh Hà Giang, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất

nông nghiệp phục vụ cho phát triển bền vững ở tỉnh Hà Giang” nhằm xác định được

số lượng, chất lượng đất và phân bố của từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất về trình tự, nội dung, phương pháp đánh giá tiềm năng đất đai theo hướng sử dụng đất bền vững

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

+ Đất (Soil): là vật thể tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người + Đất đai (Land): một vùng đất xác định về mặt địa lý, là một thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực

mà thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghãi tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai

+ Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit – LMU): là một vùng đất đai với các tính chất riêng biệt được xác định trên bản đồ

+ Đặc trưng đất đai (Land Quanlity – LQ): là thuộc tính của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đất đai cho một loại sử dụng cụ thể

+ Loại hình sử dụng đất đai chính (Major kind of land use): là một sự phân chia chủ yếu đối với sử dụng đất ở nông thôn Thí dụ như nông nghiệp nhờ nước trời, nông nghiệp tưới, đồng cỏ, rừng, cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm, chuyên trồng lúa,…

+ Loại hình sử dụng đất đai (Land Uniliztion Type – LUT): một kiểu sử dụng đất đai cụ thể được miêu tả và xác định theo mức độ chi tiết từ các loại hình sử dụng đất chính

+ Hệ thống sử dụng đất đai (Land Use System – LUS): là một tổ hợp của các loại sử dụng đất và đơn vị đất đai LUS = LUT + LMU

+ Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement - LUR): Yêu cầu sử dụng đất đai được định nghĩa như là những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công và bền vững một loại hình sử dụng đất Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu

Trang 15

1.2 Cơ sở lý luận của việc đánh giá tiềm năng đất theo hướng sử dụng đất bền vững

Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa

về đất Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” [7] Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên

Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất

bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và

ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người

Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Theo Luật đất đai

2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [15]

Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm [8] Năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, dân số là 86210,6 nghìn người, mật độ dân số 260 người/km2 Bình quân diện tích đất tự nhiên là 3889 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực Trong đó đất nông nghiệp chỉ có

Trang 16

24997,2 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2899,55 m2/người [17] Năm 2008, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 156681,9 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 122,37 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 30938,6 tỷ đồng và nuôi trồng thủy sản là 3367,6 tỷ đồng Trong trồng trọt, cây lương thực đạt giá trị sản xuất là 70059,8 tỷ đồng; cây rau đậu đạt 10560,4 tỷ đồng; cây công nghiệp là 31015,4 tỷ đồng và cây

ăn quả đạt 9083,7 tỷ đồng Trong năm 2008, diện tích cây lương thực có hạt là 8542 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 805,8 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm là 1886,1 nghìn ha và cây ăn quả là 775,3 nghìn ha [17]

Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường) Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần

bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế, nếu được bố trí sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên

Trước áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp Vì vậy, định hướng sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả

và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia

1.2.1 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới

Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000 m2 Trong đó

Trang 17

ở Mỹ 2000 m2, ở Bungari 7000 m2, ở Nhật Bản 650 m2 Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha [4]

1.2.2 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp

Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng Trong điều kiện hầu hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất cây trồng đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón

Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới [24], cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng

Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu

Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống [24]

Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca và Mg Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên [24] Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp

lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất

Trang 18

như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hoá về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường” [28]

Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992), [25]: trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng

860 ha diện tích đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Theo kết quả điều tra của FAO (1993) [38], do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha

Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai

Trang 19

1.2.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất bền vững

Để phát triển nông nghiệp bền vững, việc sử dụng đất cần tuân theo các nguyên tắc sau:

- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên

cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu

- Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết

để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai

- Sử dụng đất nông nghiệp theo nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”

* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Phát triển nông nghiệp bền vững nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước, không khí bởi hệ thống nông nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của của các loài động thực vật, suy giảm giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài Một trong những cơ

sở quan trọng nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ thống sử dụng đất hợp lý [1] Thuật ngữ sử dụng đất bền vững được dựa trên quan điểm sau [9]:

- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất;

- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất;

- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;

- Có hiệu quả lâu bền;

- Được xã hội chấp nhận

Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai Theo FAO, phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau

1.2.4 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của

Trang 20

con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [29]

Kết quả hữu ích (gọi chung là kết quả) là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Con người luôn xem xét, nghiên cứu kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Nhằm khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên hữu hạn phục vụ cho nhu cầu vô hạn của con người

Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh

tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt

xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu… để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước) [29]

Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [29] Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các

Trang 21

nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn

là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [13] Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên

cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương Từ đó, nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao - đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

a Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội [10]

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề [10]:

- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật

“tiết kiệm thời gian”;

- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;

- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được

là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của

Trang 22

nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội

b Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất

Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác

Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn

Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [11], hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

c Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [2]

Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường

Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả

Trang 23

hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường [7] Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường

Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra

Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc tận dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào

1.2.5 Cơ sở lý luận đánh giá đất đai

Có thể nói rằng thuật ngữ đánh giá đất đai (ĐGĐĐ) được sử dụng từ năm

1950 tại Hội nghị các nhà khoa học đất thế giới ở Amsterdam (Hà Lan) Năm 1968, tại hội nghị chuyên đề về đánh giá đất đai tại Canbera, khái niệm đánh giá đất đai được đưa ra tương tự như định nghĩa của Stewart (1968) như sau: Đánh giá đất đai

là “Sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất đai…” Hay nói cách khác đi là “Đánh giá đất đai nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ cho việc đưa ra những quyết định cho sử dụng và quản lý đất đai”

Năm 1976 FAO đã đề xuất định nghĩa về: ĐVĐĐ là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có

Theo FAO, mục tiêu chính của đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích hợp (Suitability) các dạng đất khác nhau đối với các loại hình sử dụng đất riêng biệt đã lựa chọn Các dạng đất đai thường được mô tả và phân lập thành các đơn vị trên bản

đồ, được gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit)

Trang 24

Như vậy, trong đánh giá phân hạng đất đai người ta yêu cầu phải có hai nguồn thông tin: Những kết quả của công tác điều tra khảo sát đất đai xác định theo hệ thống phân loại đất và những khoanh đất, từ đó xác định được đặc tính, tính chất vốn có của từng khoanh đất Còn qua việc đề xuất những loại hình sử dụng đất, người ta sẽ nêu được đặc tính, tính chất đất đai ấy hoạt động có kết quả Đánh giá đất đai được tiến hành xem xét trên phạm vi rất rộng, bao hàm cả không gian, điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và môi trường Những đặc điểm của đất đai sử dụng trong đánh giá đất đai là những tính chất mà ta có thể đo lường hay ước lượng được những thuận lợi khó khăn, đề xuất được những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng đất hợp lý và đạt hiệu quả

1.2.6 Vị trí, vai trò của đánh giá tiềm năng đất đai trong sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất

Đánh giá đất đai là một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định các chính sách liên quan đến đất đai và người sử dụng đất Đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay khi dân

số đang gia tăng một cách nhanh chóng, nhu cầu lương thực, thực phẩm và chất đốt cũng gia tăng đến mức đáng báo động Sự gia tăng này cùng với tình trạng suy thoái dần những vùng đất đai thích hợp cho canh tác, từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng diện tích đất trồng trọt vào những vùng đất kém thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, hoặc là những vùng có điều kiện sinh thái mẫm cảm dễ bị hủy hoại Hàng năm, trong số tổng 1,5 tỷ ha đất nông nghiệp thế giới thì có khoảng 5 – 7 triệu ha bị

bỏ hoang do xói mòn hoặc thoái hóa

Đứng trước những yêu cầu trên, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học ở nhiều quốc gia đã tiến hành điều tra đánh giá tài nguyên đất không chỉ ở quy mô từng quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu Từ năm 1960, Hiệp hội Khoa học Đất Quốc Tế (International Society of Soil Science – ISSS) đã đề xuất một dự án điều tra tài nguyên đất trên toàn thế giới, kết quả của dự án này là sự xuất hiện Bản đồ Đất thế giới và các báo cáo về tài nguyên đất thế giới của FAO (1961 – 1988)

Trang 25

Những nghiên cứu nói trên là cơ sở cho việc xây dựng các chính sách phát triển và tối ưu hóa khả năng sử dụng đất đai trên phạm vi toàn cầu

Khả năng của các tài nguyên đất đai được xem xét một cách tổng hợp trên nhiều yếu tố có tính tương hỗ của đất đai đối với các kiểu sử dụng đất khác nhau, sao cho đáp ứng được nhu cầu và mục đích của người sử dụng đất cũng như của cộng đồng Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tiến trình “ Đánh giá khả năng thích hợp đất đai” ra đời và phương pháp cơ bản về “Đánh giá đất đai” (Land Evaluation)

đã được FAO hoàn chỉnh và triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới (FAO, 1976,

1983, 1991, 1993,…)

1.3 Thực trạng đánh giá đất đai ở trên thế giới và trong nước

Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Xuất phát từ những

nỗ lực riêng rẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất đai được nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm Những thành tựu nghiên cứu và các hệ thống đánh giá đất đai dưới đây được sử dụng khá phổ biến trên thế giới

1.3.1 Ở Hoa Kỳ

Phân loại khả năng thích nghi đất đai có tưới của Cục cải tạo đất đai thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ biên soạn năm 1951 Phân loại theo khả năng đất đai, phương pháp này do Klingebiel và Montgomery đề nghị năm 1961 Trong đó, các đơn vị bản đồ đất đai được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng đối với cây trồng cụ thể Phân hạng được thực hiện trên cơ sở thống kê năng suất cây trồng trên các loại đất khác nhau, thống kê chi phí và lợi nhuận thu được Kết quả ở Hoa Kỳ

đã phân ra làm 8 hạng đất dùng trong nông nghiệp Trong đó, đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp được phân thành 4 hạng chính còn đất hạng 5, 6, 7 dùng cho đất lâm nghiệp và đất hạng 8 là đất hoàn toàn không sử dụng được vào mục đích nông, lâm nghiệp

Trang 26

1.3.2 Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu

Việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện từ những năm 1960, đánh giá dựa vào quy luật phát sinh của thổ nhưỡng Nguyên tắc trong đánh giá đất đai là các yếu tố đánh giá đất xác định phải ổn định và phải nhận biết được rõ ràng, phải khách quan và có cơ sở khoa học Phải có những đánh giá về kinh tế và thống kê nông học của đất đai mới có giá trị trong việc đề ra những biện pháp sử dụng đất tối

+ Đánh giá kinh tế đất (đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất)

Phương pháp này chủ yếu chỉ thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối tượng đất đai mà chưa xem xét đầy đủ đến các khía cạnh kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất đai

1.3.3 Phương pháp đánh giá đất đai của FAO

Đặc điểm đất đai được sử dụng trong đánh giá phân hạng đất của FAO là những tính chất của đất đai mà có thể đo lường hoặc ước lượng được Người ta có thể chọn nhiều đặc điểm hoặc đôi khi chỉ có thể lựa chọn một số đặc điểm đất đai chính có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa đối với mục đích hay vùng nghiên cứu Trong đánh giá, yếu tố thổ nhưỡng là phần đặc biệt quan trọng, song các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng phải được xác định trong đánh giá

Có thể nói, đánh giá đất đai của FAO đã kết hợp và kế thừa giữa các phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) (thiên về yếu tố chất lượng đất) và của Hoa Kỳ (thiên về yêu cầu của cây trồng), trên cơ sở đó phát triển, hoàn chỉnh và đưa ra phương pháp đánh giá thích hợp cho từng mục đích sử dụng đất đai

Phương pháp của FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất là (FAO,1990):

Trang 27

- Các loại hình sử dụng đất đai được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển vùng hay quốc gia, cũng như phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vựa nghiên cứu

- Các loại sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và kinh tế - xã hội

- Việc đánh giá đất bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại hình sử dụng đất

- Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững

- Đánh giá khả năng thích hợp của đất bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của loại hình sử dụng đất

- Đánh giá đất đai đòi hỏi một số phương pháp tổng hợp đa ngành

1.3.4 Đánh giá đất đai ở Viê ̣t Nam

Ở Việt Nam phân hạng đánh giá đất đai đã có từ lâu, phân hạng điền thu thuế

là một trong những phương pháp được thực hiện đầu tiên và đã đưa ra khái niệm phân hạng ruộng tốt, ruộng xấu (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền,…) nhưng chưa xác định được nội dung, phương pháp cụ thể Về cơ bản có thể hiểu là: việc phân hạng dựa theo phương pháp chủ quan, kinh nghiệm và bình chọn

Từ đầu những năm 1970, công tác đánh giá đất mới được xem như là một môn khoa học với các công trình nghiên cứu phân hạng đất lúa Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện thổ nhưỡng Nông hóa đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá đất, phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh

Năm 1981, thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã ban hành dự thảo phương pháp phân hạng đất Đây là tài liệu hướng dẫn vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn có thể áp dụng trên một diện rộng nhưng không tránh khỏi mang tính chủ quan

Phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land suitability classification) của FAO

đã được áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu “Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam)” (Bùi Quang Toản và nnk,1985) Tuy nhiên trong nghiên cứu này việc đánh giá chỉ dựa vào các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng,điều kiện thủy văn,

Trang 28

khả năng tưới tiêu và khí hậu nông nghiệp) và việc phân cấp dừng lại ở lớp phân vị cấp thích hợp (Suitable – class)

Năm 1986, đánh giá phân hạng đất toàn quốc được thực hiện ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 dựa trên phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land Capability Classfication) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình Mục tiêu nhằm sử dụng đất đai tổng hợp Có 7 nhóm đất đai được phân lập cho sản xuất nông nghiệp (4 nhóm đầu), cho sản xuất lâm nghiệp (2 nhóm kế tiếp) và mục đích khác (1 nhóm cuối cùng) [3]

Năm 1989, trong chương trình 48C, Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa do Vũ Cao Thái chủ trì đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm Đề tài đã vận dụng phương pháp đánh giá khái quát

Từ năm 1992, phương pháp đánh giá đất của FAO và các hướng dẫn tiếp theo (1983, 1985, 1987, 1992) được Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp áp dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển Nhìn chung, trong nhiều công trình, căn cứ để xác định phân hạng đất đai thường gồm 5 yếu tố: chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện thời tiết khí hậu, điều kiện tưới tiêu

Về mặt kỹ thuật, đánh giá đất ở Việt Nam chủ yếu sử dụng các tính chất đất đai để xây dựng đơn vị đất (Land units) và phổ biến sử dụng phương pháp hạn chế nhiều nhất (Maximum limiting method) để phân cấp thích hợp

1.3.5 Các nghiên cứu về đất và đánh giá đất ở Hà Giang

Điều tra, phân loại, xây dựng bản đồ đất tỉnh Hà Giang đã được tiến hành từ những năm 1960 với tỷ lệ 1/100.00, một số nông trường và vùng kinh tế mới đã được điều tra bản đồ đất tỷ lệ 1/10.000 hoặc 1/25.000 Năm 1971, Vụ Quản lý ruộng đất với sự tham gia của Nguyễn Quang Huyến, Thân Văn Khoa, Đỗ Quốc Thước, Trần Miễn, Nguyễn Ngọc Đỉnh, Trần Thu Hương và các cán bộ đại học và trung học Thổ nhưỡng đã phối hợp với Ty Nông nghiệp Hà Giang và Trường Trung cấp Nông lâm Trung ương đã điều tra xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 tỉnh Hà Giang

Trang 29

Năm 1999, Trung tâm tài nguyên và Môi trường Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, phối hợp với Sở Địa chính tỉnh Hà Giang điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 theo phân loại đất quốc tế FAO – UNESCO

Bản đồ đất Hà Giang tỷ lệ 1/100.000 đã được tiến hành điều tra xây dựng qua các giai đoạn nêu trên đã có ưu điểm là tiếp cận được một hệ thống phân loại khá hoàn chỉnh, nội dung điều tra thống nhất Tuy nhiên còn có một số thông tin vẫn chưa được đầy đủ như: Thông tin về độ dày tầng đất mịn, chỉ thể hiện được 3 cấp,

độ dốc được 6 cấp, chưa xác định được địa hình tương đối Ngoài ra, dưới tác động của con người như xây dựng hệ thống thủy lợi, thay đổi cơ cấu mùa vụ, áp dụng kỹ thuật canh tác, đã làm thay đổi về lượng và chất của các loại đất

Năm 2004, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp được Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn giao phúc tra, chỉnh lý, cập nhật, bổ sung bản đồ đất, kiểm

kê số lượng, chất lượng đất đai tỉnh Hà Giang nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cấp tỉnh về lâu dài phục vụ cho quản lý sử dụng tài nguyên đất đai một cách lâu dài và bền vững

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đất canh tác nông nghiệp ở Tỉnh Hà Giang

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang

- Đánh giá tài nguyên đất (loại đất, quy mô, tính chất hóa-lý của đất)

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 trên địa bàn tỉnh

- Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính trên địa bàn tỉnh, đánh giá mức độ thích nghi đất đai

- Đề xuất một số giải pháp khai thác và sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập các số liệu thứ cấp: thu thập và xử lý

các số liệu và tài liệu gồm:

+ Số liệu khí tượng trung bình về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, thu thập tại trạm khí tượng tỉnh Hà Giang

+ Các nguồn số liệu có liên quan đến tài nguyên nước, khả năng tưới, tiêu và mức độ ngập úng, hạn hán,

Trang 31

+ Các nguồn số liệu về tình hình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất, bản đồ đất, quy hoạch định hướng sử dụng đất

2.4.2 Phương pháp điều tra, các số liệu sơ cấp:

- Điều tra thu thập các thông tin đánh giá và hiệu quả sử dụng đất bằng phương pháp: điều tra nông hộ (theo mẫu phiếu điều tra đánh giá sử dụng đất đã soạn sẵn)

- Điều tra tình hình sử dụng đất theo các tiểu vùng đặc trưng và nhóm nông hộ (đồng bằng, ven biển, đồi núi- địa hình cao, trung bình chuyển tiếp và đồng bằng ven biển- hộ giàu, trung bình và nghèo) Những thông tin về: các loại hình sử dụng đất, chỉ tiêu kinh tế sản xuất (tổng thu nhập, chi phí vật tư, lao động, ), yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất, tác động tới suy thoái đất và môi trường

2.4.3 Phương pháp đánh giá đánh theo FAO: So sánh giữa chất lượng đất

đai và yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất để đánh giá mức độ thích hợp đất đai

Đánh giá, phân hạng đất được tiến hành theo trình tự và nội dung sau:

8 Đề xuất phương thức sử dụng đất đai

(Trình tự đánh giá đất thể hiện quan sơ đồ hình 2.1)

Trang 32

Hình 2.1: Trình tự các bước đánh giá đất theo FAO

2.4.4 Phương pháp phân tích, xây dựng số liệu (sử dụng phần mềm Mirosoft

Execl); Phương pháp GIS (sử dụng phần mềm MapInfor để biên tập các bản đồ liên quan)

1 Đối chiếu

2 Tác động môi trường

3 Phân tích kinh tế - xã hội

Tính chất và chất lượng đất đai

Phân loại khả năng thích hợp đất đai

Đề xuất sử dụng

Giải pháp sử dụngđấtKiểm chứng

Trang 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh miền núi cao nằm ở địa đầu biên giới vùng cực bắc của

tổ quốc, có toạ độ địa lý từ 22o23' đến 23o23' độ vĩ Bắc và từ 104o20' đến 105o34' độ kinh Đông Trung tâm tỉnh là thành phố Hà Giang cách thủ đô Hà Nội khoảng 320

km, vị trí tiếp giáp được xác định như sau:

- Phía Bắc và Tây Bắc giáp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa với đường biên giới dài 277,52 km

- Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang;

- Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng;

- Phía Tây giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái

Hà Giang có diện tích 791.489 ha, bằng 2,4% diện tích cả nước, gồm 10 huyện, 1 thành phố và 195 đơn vị hành chính cấp xã, với 8 cửa khẩu, trong đó cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ đang được đầu tư xây dựng thành cửa khẩu quốc tế; ngoài ra trên địa bàn tỉnh có các trục đường Quốc lộ quan trọng như: Quốc lộ 2, 4C,

34 và 279 đã được rải nhựa, nâng cấp hiện đang hoạt động có hiệu quả góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Hà Giang có địa hình phức tạp, đặc trưng bởi sự xen kẽ giữa các đới nâng và

hạ từ Bắc xuống Nam, có nhiều dãy núi cao hiểm trở, trong đó có những dãy núi cao trên 2.000 m so với mực nước biển (dãy PuTaKha cao 2.274 m, dãy Tây Côn Lĩnh cao 2.418 m Độ dốc lớn làm cùng với hệ thống sông suối làm cho địa hình bị chia cắt mạnh, với các kiểu địa hình theo độ dốc:

- Độ dốc từ 0o đến 8o, có diện tích khoảng 36 nghìn ha, chiếm tỷ lệ 4,62% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê;

Trang 34

- Độ dốc từ 8o đến 15o, có diện tích khoảng trên 31 nghìn ha, chiếm tỷ lệ 4,00% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện Bắc Quang, Bắc Mê;

- Độ dốc từ 15o đến 20o, có diện tích khoảng trên 45 nghìn ha, chiếm tỷ lệ 5,80% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện trong Tỉnh;

- Độ dốc từ 20o đến 25o, có diện tích khoảng trên 102 nghìn ha, chiếm tỷ lệ 13,10% tổng diện tích tự nhiên, phân bố rải rác khắp các huyện (tập trung nhiều ở huyện Vị Xuyện, Bắc Mê);

- Độ dốc >25o, có diện tích khoảng trên 567 nghìn ha, chiếm tỷ lệ 72,21% tổng diện tích tự nhiên, tập trung nhiều ở các huyện Vị Xuyên, Bắc Mê, Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Mèo Vạc, Xín Mần;

- Sông, suối, hồ, mặt nước có diện tích khoảng gần 8 nghìn ha, chiếm 0,97% diện tích tự nhiên

Trên cơ sở độ dốc, đặc trưng đồi núi và kiến tạo địa hình có thể chia thành địa hình địa mạo của Hà Giang thành các kiểu chính như sau:

* Địa hình núi thấp và các dãy đồi

Phân bố ở 5 huyện (Quang Bình, Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê và thành phố Hà Giang) Dạng địa hình này được thành tạo chủ yếu từ các đá trầm tích và trầm tích biến chất, là vùng chuyển tiếp giữa núi cao và vùng núi thấp, chủ yếu là đất đồi với diện tích khoảng trên 400 nghìn ha Đây là vùng trọng điểm lúa của tỉnh

Hà Giang, với yếu tố thổ nhưỡng, khí hậu cho phép vùng phát triển nền nông nghiệp đa canh với nhiều loại cây trồng có giá trị như cam, quýt, chè, đậu tương,…

và chăn nuôi đại gia súc

Vùng có nhiều đồi đất thoải, nguồn nước sông, suối dồi dào, thuận lợi cho việc xây dựng đô thị và các điểm dân cư nông thôn, tuy nhiên khi có mưa lớn thường xảy ra trượt lở đất đá ven các sườn đồi, ven sông suối

* Địa hình vùng cao núi đất

Phân bố ở 2 huyện (Hoàng Su Phì, Xín Mần) và một phần phía Tây Bắc của huyện Bắc Quang và Vị Xuyên có diện tích khoảng gần 146 nghìn ha Dạng địa hình này bị phân cắt mạnh, khu vực này là đất cổ nhất miền Bắc Việt Nam được

Trang 35

hình thành trên nền đá đá granít, granít biến chất thành gơnai, đá phiến kết tinh, đá

phiến mica thạch anh và đá quăczit Đất ở đây có độ dốc lớn và cao Sông suối đều

ở dạng hẻm, có độ dốc lớn và chảy xiết, do sườn núi quá dốc nên đất đai bị quá trình xói mòn và rửa trôi mạnh, lại không có sự bồi tụ nên tầng đất mỏng Phần lớn đất nông nghiệp canh tác đều dựa vào nước trời, thậm chí trong mùa mưa cũng bị thiếu nước Vùng thích ứng với các cây trồng công nghiệp như cây chè, đậu tương, chăn nuôi đại gia súc và ong

Vùng có một số khu vực thung lũng hẹp, các núi đất có khả năng cải tạo để xây dựng cơ sở hạ tầng, tuy nhiên khi xây dựng phải san ủi và kè mái dốc ta luy chống trượt lở

* Địa hình vùng cao núi đá:

Phân bố ở 4 huyện (Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ và Yên Minh) nằm ở

phía Bắc Tỉnh, có diện tích khoảng trên 235 nghìn ha, chủ yếu là núi đá vôi Dạng địa hình hiểm trở, thiếu nước trầm trọng, các thung lũng hẹp, nhiều hang động Caster, mạch nước ngầm sâu Đất phần lớn là sản phẩm của quá trình phóng hóa đá vôi, bị xói mòn rửa trôi và khô hạn, cây trồng thường xuyên đói nước Tuy nhiên là vùng có khí hậu mát mẻ, thích hợp với nhiều loại cây trồng có nguồn gốc á nhiệt đới đến ôn đới và chăn nuôi gia súc

Vùng rất khó khăn trong việc phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng do độ dốc địa hình lớn, thiếu nước trầm trọng

Ngoài 3 dạng địa hình chính ở trên, Hà Giang còn kiểu địa hình thung lũng, các sông, hồ Phân bố chủ yếu ở các huyện Bắc Mê, Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình và thành phố Hà Giang Đây là những hố hoặc trũng giữa núi được bồi đắp bởi phù sa hiện đại hoặc trầm tích Neogen Ngoài ra ở rìa các sông suối đã hình thành được những dải phù sa nhỏ, hẹp có ý nghĩa rất lớn với nông nghiệp Hầu hết các đồng bằng và máng trũng giữa núi đã trở thành những cánh đồng lúa và hoa màu của các dân tộc trong vùng

Tóm lại: Địa hình, địa mạo của tỉnh Hà Giang chủ yếu là cao, có độ dốc lớn, phân cắt mạch, nhiều khe, vực gây khó khăn cho quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ

Trang 36

tầng, giao thông, thuỷ lợi Đất đai bị xói mòn rửa trôi mạnh, tầng đất mỏng, nghèo dinh dưỡng, đất chua, thường xuyên bị khô hạn, một số diện tích nhỏ nằm ở chân ruộng thấp lại hay úng vào mùa mưa; Đây là một khó khăn lớn cho tổ chức sản xuất lãnh thổ, chính vì vậy trong việc quy hoạch sử dụng đất của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cần có những giải pháp

sử dụng đất phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Khí hậu Hà Giang có tính chất nhiệt đới và á nhiệt đới, mùa đông lạnh kéo dài, mùa hè nóng mưa nhiều; khí hậu nhìn chung mát và lạnh hơn các tỉnh vùng Đông Bắc nhưng lại ấm hơn các tỉnh vùng Tây Bắc

- Nhiệt độ: Tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, tháng lạnh nhất là từ giữa tháng 12 đến tháng 1 Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,220C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 16,20

C; nhiệt độ cao tuyệt đối là 400C và thấp tuyệt đối là 2,20C; biên

độ dao động nhiệt độ trong năm là 120C và trong ngày là 6 - 70C Tổng lượng nhiệt trong năm từ 8.300 - 8.5000

C

- Lượng mưa: Mùa mưa ở Hà Giang kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tổng lượng mưa hàng năm toàn tỉnh đạt 2.400 - 2.700 mm, trong đó lượng mưa tập trung nhiều vào tháng 6 và tháng 7, địa phương có lượng mưa lớn nhất là huyện Bắc Quang (1.429,2 mm) và mưa ít nhất là huyện Hoàng Su Phì (24,2 mm) Ngoài ra Hà Giang còn có hiện tượng mưa phùn (32 ngày/năm) và ít có bão; tuy nhiên vào mùa mưa dễ gây lụt lội, lũ quét ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế của địa phương

- Độ ẩm: Hà Giang là một trong những vùng có độ ẩm cao ở hầu hết các mùa trong năm; độ ẩm bình quân là 85%, trong đó tháng lớn nhất là 87% (tháng 7 và 8), nhỏ nhất là 81% (tháng 3) Độ ẩm cao không diễn ra vào các tháng cuối mùa đông

mà diễn ra vào các tháng cuối mùa hạ (tháng 7 và 8)

- Nắng: Do cấu tạo phức tạp của địa hình nên ranh giới giữa mùa mưa và mùa khô ở Hà Giang là khác nhau, bốn huyện phía bắc gồm Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn hình thành 2 mùa mưa và khô, lượng mây ở đây khá nhiều (trung

Trang 37

bình khoảng 7,5/10, tập trung cao nhất là cuối mùa đông lên đến 8 - 9/10) và tương đối ít nắng Nhìn chung số giờ nắng bình quân cả tỉnh khoảng 1.454,9 giờ, trong đó tháng nhiều nhất là 181 giờ và tháng ít nhất là 74 giờ

- Gió: Các hướng gió chính ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng; gió trong các thung lũng thường yếu với tốc độ trung bình khoảng 1 - 1,5 m/s Ngoài

ra còn xuất hiện một số hiện tượng khí hậu khác biệt đó là số ngày có dông trong năm cao nhất trong vùng (103 ngày), sương mù trong năm khá nhiều (khoảng 40 ngày) và đặc biệt là ít bị sương muối hơn các tỉnh khác trong vùng

3.1.1.4 Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của Hà Giang chủ yếu chịu sự tác động của 2 con sông lớn là sông Lô và sông Gâm, ngoài ra còn có sông Chảy, sông Con, sông Miện…

- Hệ thống sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) ở độ cao trên 1.000

m vào địa phận Hà Giang tại Thanh Thuỷ chảy qua thành phố Hà Giang về Tuyên Quang tới Việt Trì (Phú Thọ) đổ ra sông Hồng Sông Lô chảy qua địa phận Hà Giang dài 97 km, mực nước mùa cạn là 100,46m, mùa lũ là 108,2 - 109m Lưu lượng dòng chảy trung bình 156m3/giây, cao nhất là 1.760m3/giây, thấp nhất là 23,3m3/giây Tốc

độ dòng chảy lớn nhất là 1,29m/giây, nhỏ nhất là 0,17m/giây

- Hệ thống sông Gâm: Sông Gâm bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua Đồng Văn, Mèo Vạc sang tỉnh Cao Bằng rồi lại về địa phận của huyện Bắc Mê Sông uốn khúc quanh co, len lỏi qua các dãy đá vôi, có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh

- Sông Chảy: Bắt nguồn từ Tây Côn Lĩnh theo hướng Đông Bắc xuống Tây Nam qua huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần rồi chảy vào Yên Bái Chiều dài sông chảy qua địa bàn tỉnh Hà Giang là 44 km Diện tích lưu vực là 816 km2 Lòng sông sâu, độ dốc lớn thường từ 400

đến 450 hai bên bờ là núi cao, việc lấy nước phục vụ sản xuất và đời sống gặp rất nhiều khó khăn

Nhìn chung, nguồn thuỷ văn của Hà Giang có tiềm năng lớn nhưng nguồn nước phân bố trên địa bàn tỉnh không đều, trong khi ở huyện Bắc Quang thừa nước thì ở huyện Hoàng Su Phì và Bắc Mê lại thiếu nước; vào mùa khô nhiều nơi bị thiếu

Trang 38

nước nghiêm trọng, nhất là các huyện vùng cao núi đá đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Trên các vùng đồi – núi thấp (<900m) thường xuất hiện các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Chúng phân bố rộng rãi ở các vùng Xíu Mần, Hoàng

Su Phì, Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc Mê…Thực vật gồm các cây trong các họ Giẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Dâu (Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae)… chiếm ưu thế là các cây giẻ, re, ngót, dồi, trám…

Các vùng núi trung bình cao trên 900m có kiểu rừng kín thường xanh mưa

ẩm á nhiệt đới núi thấp, thường phân bố ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ… Thực vật tự nhiên gồm các cây trong họ Giẻ, Re, Chè (Theaceae)…

Dưới các tầng cây gỗ cao của các kiểu rừng trên còn có tầng cây nhỏ thấp thuộc các họ đậu, xoan, tràm, bang… và những cây tre, nứa, song, mây…

Thảm thực vật tự nhiên có tác dụng che phủ cho đất ít bị rửa trôi, xói mòn vào mùa mưa, đồng thời giữ ẩm cho đất vào mùa khô

b Tập đoàn cây trồng

Ở những vùng đất đã khai thác để sản xuất nông nghiệp có tập đoàn cây trồng rất phong phú và đa dạng bao gồm các loại cây hoa mày, lương thực và cây ngắn ngày như : Lúa nước, ngô, lúa nương, khoai lang, đậu tương, cao lương, mía cây dược liệu quý như sâm, tam thất, thảo quả, xuyên khung và tập đoàn cây

ăn quả rất giá trị như cam, quýt, xoài, táo, hồng, lê, mơ, mận Đối với các loại cây trồng lâu năm sau mỗi vụ thu hoạch, các bộ phận gốc rễ còn lại trong đất đã tạo ra

Trang 39

một lượng hữu cơ Đối với cây lâu năm có tác dụng che phủ, giữ ẩm, cải thiện độ tơi xốp của đất

Các hoạt động con người phản ảnh hai mặt tích cực và tiêu cực trong sản xuất và phát triển kinh tế Việc chặt phá rừng bừa bãi, du canh, du cư, đốt nương làm rẫy, độc canh, quảng canh, không áp dụng các biện pháp canh tác tiến bộ đã làm cho môi trường đất ngày càng xấu đi : khô hạn, đất ngày càng chua hơn, nghèo mùa, mất cân bằng dinh dưỡng, lũ quét, trượt đất, thoái hóa và dần mất khả năng canh tác Diện tích rừng bị thu hẹp lại, diện tích đất trống đồi trọc tăng lên

Áp lức tăng dân số và tình trạng đói nghèo cũng là nguyên nhân làm cho người nông dân không đủ khả năng đầu tư thâm canh, cải tạo đất, không áp dụng các biện pháp canh tác tiến bộ trên đất dốc làm cho quá trình thoái hóa đất ngày càng nhanh hơn

Các hoạt động tích cực của con người như bê tong hóa kênh mương, tổ chức

sử dụng đất hợp lý theo phương thức nông lâm kết hợp, đa dạng sinh học, thâm canh, áp dụngquá trình và công nghệ canh tác tiến bộ trên đất dốc…sẽ góp phần bảo

vệ, cải tạo, nâng cao độ phì nhiêu của đất và cân bằng sinh thái dần được ổn định, tạo nên một nền sản xuất nông nghiệp bền vững

3.1.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động sản xuất của tỉnh

Hà Giang

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, trong giai đoạn 2000 - 2012 nền kinh tế của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, đã xuất hiện những nhân tố mới tạo đà để tiếp tục đổi mới và phát triển

Thời kỳ 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tương đối cao, đạt

10,58%/năm Thời kỳ 2006 - 2012 tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt ở mức tăng trưởng cao đạt 12,7% (tốc độ tăng trưởng cả nước đạt 7,2%), thu nhập bình quân trên đầu người đạt 7,5 triệu đồng/năm

Trang 40

Bảng 3.1: Tăng trưởng kinh tế ở Hà Giang (theo giá so sánh năm 1994)

Đơn vị: Tỷ đồng

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang và Nghị quyết số 06-NQ/ĐH của Đại

hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XV)

0 200

Năm 2000 Năm 2005 Năm 2012

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

Biểu đồ 3.1: Tăng trưởng kinh tế ở Hà Giang từ năm 2000-2012

Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 10,58% trong thời kỳ 2001 -

2005 và 12,70% trong thời kỳ 2006 - 2012, nên từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển so với trung bình của cả nước Tổng sản phẩm theo giá so sánh (1994) năm 2005 đạt 1.405 tỷ đồng gấp 1,7 lần năm 2000 Tổng hợp năm 2012 đạt 2.684

tỷ đồng gấp 1,9 lần năm 2005, GDP bình quân đầu người tăng từ 3,2 triệu người năm 2005 lên 7,5 triệu đồng năm 2010, vượt Nghị quyết Đảng bộ nhiệm kỳ 2001 -

2005 đề ra (6,5 triệu đồng/người) Thu ngân sách của tỉnh Hà Giang tăng mạnh, đạt

Tỷ đồng

Ngày đăng: 28/03/2020, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w