1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích ngôn ngữ văn bản pháp luật qua văn bản hiến pháp hoa kì và hiên pháp việt nam

318 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 318
Dung lượng 23,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho tới gần đây các nhà ngôn ngữ học lí thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng bắt đầu nhận thấy tiềm năng to lớn của ngôn ngữ pháp luật và tầm quan trọng của việc nghiên cứu thể loại này để ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NỘI TRƯỜNG ĐẠỈ HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG THỊ HIỀN

P H Â N TÍCH N G Ô N N G Ữ VĂN BẢN PH Á P LUẬT

Q U A VĂN BẢN HIẾN PH ÁP HOA KÌ

VÀ HIẾN PH Á P VIỆT NAM

Trang 2

LỜI C AM Đ O A N

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do bản

thân tôi thực hiện Các số liệu và kết quả được nêu trong

luận án là trung thực và chưa từng được các tác giả khác

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 G iớ i th iệ u đề tài của luận á n 1

2 L í do chọn đề tà i 1

3 L ịc h sử vấn đ ề 2

4 Ý nghĩa của luận á n 5

5 Đ ố i tượng và phạm v i n g hiê n cứ u 5

6 Tư liệ u và phương pháp nghiên cứ u 5

7 Cấu trú c của luận á n 6

CHƯƠNG 1 C ơ SỎ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN » • 1.1 T ÌN H H U Ố N G D IỄ N N G Ô N V Ă N B Ả N P H Á P L U Ậ T - 8 - Đ Ố I TƯ Ợ N G C Ủ A L U Ậ N Á N 1.1.1 Tổng quan về văn bản pháp luật 8

1.1.2 Việc xây dựng và nghiên cứu văn bản Hiến pháp ở Việt Nam 10 1.1.3 Sơ lược về tình huống diẻn ngôn của Yăn bản Hiên pháp Hoa Kì 12

1.2.1 Ngữ pháp chức năng hệ thông: Ngón ngữ, ngôn cảnh và văn 13 bản

M Ụ C L Ụ C

T r a n

1.2.2 Phàn tích diễn ngôn và ứng dụng vào phân tích văn bản pháp 15 luật

Trang 4

1.2.3 Phàn tích d iễ n ngôn phê phán và ứng d ụ n g vào phân tích văn bản Hiến pháp

TƯ Ớ NG T R O N G V Ă N B Ả N H IÊ N P H Á P V I Ệ T N A M 1992

2.2.1 Hệ thuật ngữ pháp luật, thuật ngữ luật Hiến pháp trong Hiến pháp Việt Nam 1992 2.2 2 Từ Hán Việt trong văn bản Hiến pháp Việt Nam 1992 2.2.3 Danh hoá - phương tiện ngữ pháp tạo tính chính xác và bao trùm cho vãn b ả n Hiến pháp Việt Nam 1992 2.2.4 Câu có độ dài bất thường

2.3 C Á C B IỆ N P H Á P N G Ô N N G Ữ T H Ể H IỆ N C HỨ C N Ă N G L IÊ N

N H Â N T R O N G D IỄ N n g ô n h i ê n p h á p v i ệ t n a m 1992

2.3.1 Dẫn nhập 2.3.2 Câu ngôn hành và vị từ ngôn hành với chức năng giao tiếp đặc thù củ a d iễ n n g ó n Hiến pháp

2.3.3 Tình thái - phương tiện ngôn ngữ quan trọng góp phần tạo lập quyền và nghĩa vụ trong diễn ngôn Hiến pháp 2.4 CÁC BIỆN PHÁP NGÔN NGỮ THE HIỆN CHỨC NẢNG VẢN

22

32

34

34 49

54 58

60 60

61 68

Trang 5

BAN TRONG DIẺN n g ô n h iê n p h á p v i ệ t n a m 1992 82 2.4.1 Đé hoá - phương thức ngữ pháp quan trọng tạo lập tính chính

xác cho văn bản Hiến Pháp Việt Nam 1992 82 2.4.2 Phương thức liên kết văn bản 92 2.4.3 Đoạn văn - phương diện kết cấu phong cách đặc trưng trong văn 100 bản Hiến pháp Việt N a m l9 9 2

2.4.4 Cấu trúc thè loại tiềm năng của văn bản Hiến pháp Việt Nam

3.2.1 Hệ thuật ngữ luật trong văn bản Hiến pháp Hoa Kì 111

pháp Hoa Kì 117

3.2.3. N g ữ lưững kết và ngữ đa kết 122

K ì 133

Trang 6

3.3 CÁC BIỆN PHÁP NGÔN NGỮ THE HIÊN CHỨC NĂNG LIÊN NHÂN TRONG DlỄN n g ô n h iê n p h á p h ợ p c h ử n g Q ư ố c h o a

K ì 138 3.3.1 Câu ngôn hành và vị từ ngôn hành 138 3.3.2 Trợ vị từ tình thái (Modal auxiliary verbs) 141 3.4 CÁC BIỆN PHÁP NGÔN NGỮ THỂ HIỆN CHỨC NĂNG VÁN BẢN TRONG DIỄN NGÔN HIÊN PHÁP HOA KÌ 152 3.4.1 Dẫn nhập 152 3.4.2 Cấu trúc đề thuyết và hiện tưựng chủ đề trong diễn ngôn Hiên 152 pháp Hoa K ì

3.4.3 Phương thức liên kết văn bản trong d iễ n ngôn Hiến pháp Hoa

K ì 156 3.4.4 Đ o ạ n văn trong d iễ n ngôn Hiến pháp Hoa Kì 165 3.4.5 Cấu trúc thê loại tiềm năng của văn bản luật pháp và cấu trúc của văn bản Hiến pháp Hoa K ì 167

C H Ư Ơ N G 4

V Ấ N Đ Ể D ỊC H T O À N V Ả N V Ă N B Ả N H IẾ N P H Á P H O A K Ì

T Ừ T IẾ N G A N H SA N G T IÊ N G V IỆ T

4.1.1 Tình hình dịch thuật văn bản Hiến pháp Hoa Kì từ tiêng Anh sang tiếng Việt ở Việt N am 171 4.1.2 Một số quan điểm về dịch thuật và dịch thuật vân bản pháp luật 172

4.2. MỘT SỐ NHẬN XÉT V Ề VIỆC CHUYỂN d ị c h c á c b i ệ n p h á p

Trang 7

N G Ô N N G Ữ T H Ể H IỆ N CHỨ C N À N G T ư T U Ồ N G C Ủ A D IE N n g ô n

H IÊ N P H Á P H O A K Ì S A N G T IÊ N G V I Ệ T 175

4.2.1 Một sô khó khãn trong chuyển dịch do việc sử dụng biện pháp

danh hoá trong văn b ả n H iê n pháp H o a 175

4.2.2 Khó khản khi chuyên dịch các ngữ lưỡng kết 179

4.2.3 Phần định tính (Qualifications) và một sô khó khăn khi chuyên

dịch 179 4.3 M Ộ T SỐ N H Ậ N X É T V Ề V IỆ C C H U Y E N d ị c h c á c b i ệ n p h á p

N G Ô N N G Ữ T H Ế H IỆ N C HỨ C N Ă N G L IÊ N N H Â N C Ủ A D IỄ N n g ô n

Trang 8

1 G IỚ I T H IỆ U Đ Ể T À I C Ủ A L U Ậ N Á N

Luận án đặt vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật trong tiếng A nh và tiếng

V iệ t Đây là công trình ngôn ngữ học ứng dụng, nội dung chính được nghiên cứu là ngôn ngữ trong diễn ngôn H iến pháp Hoa K ì (H P H K ) và ngôn ngữ trong H iến pháp

V iệ t Nam năm 1992 (bản sửa đổi năm 2001) (H P V N ).

m ột cách hiệu quả nhất là điều hầu như còn ít được bàn đến H iện tại, trong xu thế hội nhập với thế giới của V iệ t Nam, nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu các văn bản pháp luật bằng tiếng A n h là rất lớn N hiều tài liệu pháp luật quan trọng đã được dịch từ tiếng A nh sang tiếng V iệ t và ngược lại Để hiểu và truyền tải các vãn bản luật m ột cách chính xác, hiệu quả, người nghiên cứu, người dịch cần nắm vững các đặc điểm ngón ngữ của thể loại văn bản này trong cả tiếng V iệ t và tiếng Anh.

H iến pháp là vãn bản pháp luật quan trọng nhất, là nguồn luật quan trọng nhất xét ở hiệu lực và nhừns, vấn đề cơ bản mà H iến pháp quy định như chế độ chính trị, k in h tế, xã hội của đất nước, quyền và nghĩa vụ công dân, thê chế nhà nước và các nguyên tắc cơ bán của việc tổ chức và hoạt động của các thể chế đó

w H iến pháp là văn bản có hiệu lực cao nhất Bất cứ văn bản pháp luật nào cũng không được trái với H iến pháp, v ề mặt ngôn ngữ, vãn bản H iến pháp là loại diễn ngôn tiêu biêu của ngôn ngữ luật, nó hội tụ những đặc điểm cơ bản của nhiều thể

M Ở Đ Ầ U

Trang 9

loại ngôn bản pháp luật cụ thể khác V iệc tìm hiểu và năm vững các đặc điếm về phương diện ngôn ngữ của loại văn bản này là cơ sờ đê hiểu và vận dụng các vãn bản pháp luật thuộc các ngành luật khác Cho tới nay V iệ t Nam đã ban hành bốn bản H iến pháp (H iến pháp 1946, H iến pháp 1959, H iến pháp 1980, H iến pháp 1992) Trên thế giới, bản H iến pháp có lịc h sử lâu đời nhất hiện vẫn còn hiệu lực là

H iến pháp Hợp chủng quốc Hoa K ì (ra đời nãrn 1787) Trong công trìn h này tác giả bắt đầu từ việc nghiên cứu tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ trong H iến pháp V iệ t Nam nám 1992 (bản sửa đổi năm 2001) và H iến pháp Hợp chủng quốc Hoa K ì, trên

cơ sở đó sẽ đề xuất m ột phương án dịch toàn văn văn bản H iến pháp Hoa K ì sang tiếng V iệ t.

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỂ

Những công trình nghiên cứu về ngữ pháp văn bản trên thế giới đã xuất hiện

từ những năm giữa thế k ỉ 20 Đ ó là những công trình đặt nền m óng cho bộ môn ngôn ngữ học văn bán (textual linguistics) Ở V iệ t N am , đã có m ột số công trình nghiên cứu về ngữ pháp văn bản chủ yếu dựa trên ngôn nẹữ văn bản nghệ thuật như

“ Hệ thống liên kết vàn bản tiếng V iệ t” của Trần Ngọc Thêm , 1985 ; “ Văn bản và liên kết trong tiếng V iệ t” , 1998 của D iệp Quang Ban; Nguyễn T h ị V iệ t Thanh nghiên cứu “ Hệ thống liên kết lời nói tiếng V iệ t” D o nhu cầu phát triển của xã hội, gần đây hình thành m ột xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong các văn bản chuyên ngành Đ ó là m ột số công trình nghiên cứu về m ột số thể loại văn bản cụ thể như:

“ Phân tích diễn ngôn thư tín thương m ạ i” , 1996 của Nguyễn Trọng Đàn; “ N ghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu háo chí tiếng A nh và tiếng V iệ t” ,

1999 cua N guyễn Hoà Trong xu thế đó, phân tích diễn ngôn thế loại văn bản pháp luật cũng có m ộ t số nghiên cứu mà chúng tôi sẽ đề cập ở phần tiếp theo.

3.1 Về tình hình nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, được nhà nước đặt ra và bảo đám thực hiện Hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật Pháp luật được nghiên cứu từ nhiều góc độ: Luật học, khoa học chính trị,

xã hội, nhân học, triế t học David M e lin k o ff đã cho rằng nghề luật là nghề của từ ngữ, câu chữ Nhưng trong hàng núi tài liệu về pháp luật, phần viết về ngôn ngữ luật

Trang 10

chỉ như m ột hạt cát Nghề luật (dường như) chỉ quan tâm đến quyền, nghĩa vụ, tới những th iế t chế, những hành vi vi phạm, thù tục tố tụn g Sự quan tâm tới ngôn ngữ pháp luật còn tương đối mới mẻ Cho tới gần đây các nhà ngôn ngữ học lí thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng bắt đầu nhận thấy tiềm năng to lớn của ngôn ngữ pháp luật

và tầm quan trọng của việc nghiên cứu thể loại này để phục vụ các m ục đích ứng dụng như xây dưng văn bản luật, giảng dạy ngôn ngữ luật và dịch thuật văn bản pháp luật.

3.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ luật trong tiếng Việt

Trước hết m ột số công trình viết về phong cách và văn bản có đề cập những đặc điểm chính và v ị trí của thể loại ngôn ngữ pháp luật Hầu hết các công trình nghiên cứu cứu về phong cách học tiếng V iệ t và phong cách học tiếng V iệ t hiện đại (V õ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đ ình Tú, N guyễn Thái Hoà, Đ in h T rọng Lạc, Hữu Đạt) đều xếp các văn bản luật vào phong cách hành chính - công vụ M ộ t số nhà nghiên cứu xác định các vãn bản như H iến pháp, các bộ luật, sắc lệnh, nghị định là một tiểu loại của phong cách hành chính - công vụ và chỉ ra m ột số đặc điểm chính của phong cách này như tính chất khuôn mẫu, tính chất có hiệu lực bắt buộc thực hiện, tính ngắn gọn và tính chính xác [7] Hữu Đạt [21] xếp các văn bản H iến pháp, luật, điều lệ, nội quy vào phong cách hành chính tiếng V iệ t và bổ sung đặc điểm riêng của phong cách này là mang thể thức nghiêm trang về hình thức M ộ t số tác giả khác như V õ Bình, Lê A nh H iề n [7 ]; N guyễn Đăng Dung và Hoàng Trọng Phiến [19] tập trung phân loại văn bản, mô tả thể thức và cấu trúc văn bản, đề ra yêu cầu, qu y trình của việc soạn thảo văn bản pháp luật tiếng V iệt T u v các công trình này không nghiên cứu sâu việc sử dụng ngôn ngữ trong văn bản pháp luậ t nhưng đã

mô tả m ột số đặc điểm của văn bản pháp luật tiếng V iệ t, có thể hữu ích kh i luận giải ngôn cảnh và mục đích giao tiếp của thê loại văn bản này trong tiếng V iệ t.

Trong các nghiên cứu về tiếng V iệ t, cho đến nay công trình duy nhất nghiên cứu về ngôn ngữ pháp luật với tư cách là m ột thể loại diễn ngôn độc lập là luận án của Lê Hùng Tiến [75] Luận án tìm hiểu m ột số đặc điểm cơ bản, nòng cốt về ngữ pháp và văn bản trong văn bản pháp luật nhằm nhận diện thể loại ngôn ngữ này trong tiếng V iệ t Đổng thời tác giả đã so sánh đối chiếu với các phương tiện ngôn

Trang 11

ngữ tương đương trong văn bản pháp luật tiếng A nh và từ đó rút ra gợi ý cho việc dịch thuật văn bán pháp luật từ tiếng V iệ t sang tiếng Anh.

3.3 Tình hình nghièn cứu ngôn ngữ luật trong tiếng Anh

N ghiên cứu ngôn ngữ luật trong tiếng A nh có các tác giả tiêu biểu như: Bhatia, V K ; Gibbons, J (1994); Gustaffsson, M (1975); Hager J.W (1960); M aley,

Y (1994); M e llin k o ff D; Swales J.M (1983); W rig h t, p (1979) Các tác giả A lie n [8 6 ], A ik e n [8 7 ], Hager [119], Christie [104] đã có những nghiên cứu về bản chất phức tạp, về sự mơ hồ và khác lạ của ngôn ngữ pháp luật M ehler [138] đề xuất vấn

đề nghiên cứu văn bản pháp luật làm nền tảng cho việc dạy ngôn ngữ pháp luật trong các khoá đào tạo luật Công trình nghiên cứu của M e llin k o ff [139] vào năm

1963 đã đưa ra một bức tranh tương đối toàn diện về ngôn ngữ pháp luật trong tiếng

A nh Tác giả đã phân tích k ĩ lịc h sử phát triển của ngôn ngữ luật và việc sử dụng ngôn ngữ luậ t trong thực tế M ộ t số nhà ngôn ngữ học khác đặt vấn đề nâng cao hiệu quả giao tiếp của ngôn ngữ pháp luật và vai trò to lớn của ngôn ngữ trong xây dựng

và áp dụng luật Tuy nhiên, các nghiên cứu về ngôn ngữ luật thời kì này chỉ là những nghiên cứu chung, chưa đi vào các chuyên ngành luật, chưa chỉ ra được đầy đủ các đặc thù của ngôn ngữ pháp luật, chưa lí giải rõ nguyên nhân của bản chất phức tạp, khác lạ của thể loại văn bản này.

Các nghiên cứu từ đầu năm 1980 trớ lại đây đã cố gắng lí giải điều này Trong đó có các công trình của Bhatia [91, 92] và Swales, Bhatia [151], M aley [136] Các tác giả này đã vận dụng những thành tựu mới của ngôn ngữ học chức năng để phân tích, xem xét bản chất của ngôn ngữ pháp luật và đưa ra nhiều kiến giải thuyết phục M a le y [136] nghiên cứu sâu các đặc điểm từ vựng, ngữ pháp và văn bán của văn bản pháp luật; tác giả đã lí giải nguyên nhân tồn tại của các đặc điểm khác ]ạ về mặt hình thức của vãn bản pháp luật bằng phương pháp phân tích ngôn ngữ dựa trên m ô hình chức năng hệ thống M a le y cũng đưa ra mô hình tổ chức vãn bán và cấu trúc thể loại tiềm năng (generic structure potential) của văn bản pháp luật Bhatia [9 2 ] đã phân biệt các tiểu loại ngôn ngữ pháp luật theo các bối cảnh giao tiếp pháp luật khác nhau với hai phân nhánh hơn là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói Trong các tiểu loại vãn bán viết thì loại văn bản thể chế chính thức (như H iến pháp.

Trang 12

các đạo luật ) là phần cốt lõ i và mang nhiều đặc trưng nhất của ngôn ngữ pháp luật nói chung.

N hìn vào số lượng các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ pháp luật trong thời gian gần đây ta thấy rõ m ột xu hướng là m ối quan tâm nghiên cứu về thể loại ngôn ngữ này ngày càng tăng do các yêu cầu ứng dụng đặt ra như dạy tiếng, xây dựng pháp luật, dịch thuật Các nghiên cứu cũng đi từ m ô tả bề mặt tới mô tả, giải thuyết cấu trúc tiềm ẩn để lí giải tính chất phức tạp, khác lạ của ngôn ngữ pháp luật.

4 Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN

Luận án sẽ góp phần cung cấp cho lí luận ngôn ngữ học m ột số cứ liệu về đặc điểm chức năng ngôn ngữ của văn bản pháp luật tiếng V iệ t và tiếng A nh, những nét tương đổng và khác biệt chính giữa chúng qua việc phân tích m ột văn bản pháp luật tiêu biểu V iệ c nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của m ột loại văn bản pháp luật tiêu biểu sẽ đóng góp th iế t thực vào việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng

A nh chuyên ngành luật, việc tìm hiểu và dịch thuật văn bản luật giữa hai thứ tiếng là tiếng V iệ t và tiếng A nh Đồng thời kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng nâng cao k ĩ năng xây dựng pháp luật, nghiên cứu so sánh pháp luật.

Đ ô i tượng nghiên cứu của luận án thể loại diễn ngôn pháp luật mà cụ thể

thể loại văn bản viết trong m ột lĩn h vực pháp luật quan trọng Luận án sẽ tập trung nghiên cứu ngôn ngữ luật (từ vựng, cú pháp và tổ chức văn bản) biểu hiện các chức năng ngữ nghĩa đặc thù của văn bản Hiến pháp V iệ t Nam 1992 trong sự đối chiếu với H iến pháp Hợp chùng quốc Hoa K ì.

Luận án sẽ phân tích những đặc điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ luật của diễn ngôn H iến pháp trong tiếng V iệ t và tiếng Anh Những kết quả này

sẽ làm cơ sở cho phần ứng dụng trước hết vào việc dịch thuật văn bản Hiến pháp Hoa K ì từ tiếng A nh ra tiếng V iệ t và tiếp theo là tìm hiểu và dịch thuật văn bản luật giữa hai ngôn ngữ tiếng V iệ t và tiếng A nh, vào công tác biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng A nh chuyên ngành luật.

6 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Trang 13

Nguồn tư liệu nghiên cứu chủ yếu lấy từ H iến pháp V iệ t Nam 1992 (bản sửa đổi năm 2001); H iến pháp V iệ t Nam 1946, H iến pháp V iệ t Nam 1959; H iến pháp

V iệ t Nam 1980 và m ột số văn bản luật khác Tư liệ u chính trong tiếng A nh là Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa K ì 1787 và 27 bán tu chính án Đồng thời, luận án có khai thác kết quả của các công trình nghiên cứu về văn bản pháp luật tiếng Anh Tư liệu để nghiên cứu việc dịch thuật là vãn bản dịch các bản H iến pháp nói trên và một

số văn bản pháp luật tiếng V iệ t đã được dịch sang tiếng A nh, và ngược lại, xuất bản chính thức trong và ngoài nước của các nhà xuất bản uy tín như Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia; Tạp chí V iệ t Nam L a w & Legal Forum , Law & Development, Nhà Xuất bản Thế giới; các ấn phẩm của Trung tâm thông tin tư liệu thuộc Đ ại sứ quán Hợp chủng quốc Hoa K ì tại V iệ t N am

Xuất phát từ tư liệu văn bản H iến pháp V iệ t Nam 1992 (bản sửa đổi năm 2001), và H iến pháp Hợp chủng Quốc Hoa K ì tác giả sẽ áp dụng phương pháp miêu

tả thông qua việc vận dụng các cơ sở lí thuyết của ngữ pháp chức năng hệ thống để

đi sâu nghiên cứu các bình diện cụ thể như từ vựng, cú pháp và cách tổ chức văn bản nhằm hiểu hiện các chức nâng ngôn ngữ cụ thể của vãn bản Phương pháp phân tích diễn ngôn được áp dụng trong luận án là phương pháp phân tích diễn ngôn ứng dụng

và phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán Tác giả sẽ kết hợp các nguyên tắc của phân tích diễn ngôn ứng dụng và phân tích diễn ngôn phê phán để nghiên cứu quá trình hiện thực hóa quyền lực trong hai văn bản Luận án không những chỉ nhận diện m ột sô đặc điểm ngôn ngữ luật của văn bản H iến pháp mà còn chú trọng lí giải

vì sao, cơ chế nào đã quy định những cách thể hiện đặc thù đó và cô gắng sơ đồ hoá, lượng hoá các cơ chế, kết quả đó Những lí giải chiều sâu về cơ chế của thể loại diễn ngôn này sẽ hữu ích cho mục đích ứng dụng trước hết của luận án là đề xuất m ột phưcmg án dịch toàn văn H iến pháp Hoa K ì sang tiếng V iệ t Đ ó cũng là cơ sở, là bước thử nghiệm cho những ứng dụng sau này như dịch thuật chuyên ngành luật, xây dựng giáo trình tiếng A nh chuyên ngành luật, giảng dạy ngôn ngữ tiếng A nh chuyên ngành luật, so sánh lu ậ t Các thủ pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Thủ pháp phân tích ngôn cảnh, vãn cảnh, thủ pháp thống kê, m ô hình hoá

7 C Ấ U T R Ú C C Ủ A L U Ậ N Á N

Trang 14

Ngoài phần mờ đầu và phần kết luận, luận án gồm 4 chương.

Chương 1: Cơ sở lí luận của luận án.

Chương 2: Phân tích ngòn ngữ trong diẻn ngôn Hiến pháp Vièt Nain 1992 Chương 3: Phân tích ngôn ngữ trong diẻn ngôn Hiến pháp Hoa Kì.

Chương 4 : Ván đề dịch toàn vãn vãn bản Hiến pháp Hoa Kì từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Trang 15

CHƯƠNG 1

C ơ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1 T ÌN H H U Ố N G D IỄ N N G Ô N V Ả N B Ả N PH ÁP L U Ậ T - Đ ố i TƯỢNG C Ủ A

L U Ậ N Á N

1.1.1 Tổng quan về văn bản pháp luật

Bhatia [94] cho rằng, chức năng chung nhất của thể loại văn bản pháp luật là đặt ra thể chế, nghĩa vụ, quy định quyền hạn và chế tài Cách tiếp cận này nhìn pháp luật từ góc độ ngôn ngữ Tuy nhiên, để có thê hiểu hết được chức năng của thể loại văn bản pháp luật, cần phải tìm hiểu chức năng chung của nó Pháp luật ỉà công cụ

để thực hiện quyền lực chính trị và xét theo nghĩa này nó luôn luôn gắn với hiện tượng nhà nước Pháp luật là các quy phạm pháp luật: “ là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những

đ ịnh hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất địn h ” [78] Quyền lực chính trị khó có thể giữ vững nếu như không có nhà nước và pháp luật X ét từ góc độ này, chức năng chính của pháp luật là chức năng điều chinh các quan hệ xã hội, hướng chúng phát triể n theo những mục tiêu được xác định bởi lợi ích của lực lượng nắm quyền lực chính trị trong xã hội K h i nghiên cứu pháp luật, các nhà luật học coi quy phạm pháp luật là cấu thành nền táng cúa nó M ộ t quy phạm pháp luật chứa đựng

m ột hoặc m ột vài xử sự mà chủ thể phải thực hiện X ét về cấu trúc, quy phạm pháp luật gồm 3 bộ phận cấu thành là: G iả định, Q uy định và chế tài Phần giả định nêu ra tình huống (hoàn cảnh, điều kiện) có thể xảy ra trong đời sống xã hội mà quy phạm pháp luật sẽ tác động đối với chủ thể nhất định Phần quy định nêu lên những cách

xử sự mà các chủ thế có thể hoặc buộc phái thực hiện gắn với những tình huống đã nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật Là m ột bộ phận của quy phạm pháp luật, phần chế tài chi ra các biện pháp mang tính trừng phạt mà các chú thể có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thực hiện không đúng những mệnh lệnh đã được nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật N gay từ kh i xây dựng cấu trúc của quy phạm, nhà làm luật đã phái cân nhắc từng yếu tố ngôn ngữ K hông sử dụng ngôn ngữ chính xác thì không mô tả được hoàn cảnh giả định.

Trang 16

không chế đinh được cách xứ sự mà chu thể phải thực hiện và chế tài sẽ áp dụng trong trường hợp vi phạm.

Về nguồn luật, quan điểm chung cúa nhiều nhà nghiên cứu là pháp luật có các nguồn sau: văn bản pháp luật; tiền lệ pháp và tập quán pháp Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thấm quyền ban hành theo thú tục trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chính các quan hệ xã hội, được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống [78: 83] Trong các vân bản quy phạm pháp luật được coi là nguồn của pháp luật, H iến pháp là vãn bản quan trọng nhất, là luật gốc, là nền tảng cho cả hệ thống pháp luật.

Luật của các nước đều do Quốc hội ban hành và nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước, Tổng thống ) công bố T uy nhiên, các dự thảo luật không nhất thiết do đại biểu quốc hội hay viên chức nhà nước soạn thảo N hiều trường hợp, người soạn thảo là các thành viên của các tổ chức xã hội V í dụ, việc soạn thảo Luật Bình đẳng giới do các chuyên gia của H ội Phụ Nữ V iệ t Nam soạn thảo và Pháp lệnh Trọng tài Thương m ại 2003 do các luật gia của H ội Luật gia V iệ t Nam soạn thảo Đ ố i tượng

áp dụng của các văn bản pháp luật có khi là tất cả công dân (ví dụ như Bộ Luật dân sự) hoặc có khi chỉ m ột Iihóm người cụ thể nào đó (ví dụ như Luật về luật sư) Tuy nhiên, trong m ọi trường hợp, các văn bản này được đọc và viện dẫn bởi các luật sư, các thẩm phán và viên chức nhà nước có thẩm quyền Đặc điểm quan trọng về ngôn cảnh của vãn bản pháp luật là yếu tố người tham gia giao tiếp, tức là người viết và người đọc của thê loại vãn bản này Đ ây là m ột điểm khác biệt nổi bật của văn bản pháp luật so với các loại văn bản khác Bhatia [94] nhấn mạnh tính chất đặc thù này của vãn bản pháp luật và vai trò của nó k h i giải thích các đặc điểm ngôn ngữ của thể loại văn bản pháp luật Tác giả chi ra rằng ở các thể loại văn bản khác thì tác giả vừa

là người phát (o rig in ator) vừa là người viết (w riter) của văn bản trong khi đó đối với văn bản luật thì người viết văn bản chi là những người soạn thảo pháp luật còn người phát lại là cơ quan lập pháp mà người viết không phải là đại diện Tương tự như vậy,

hầu hết các thể loại văn bản khác thì người đọc (reader) và người tiếp nhận (recipient) của vãn bản là m ột thì ở văn bản pháp luật người tiếp nhận vãn bản là các công dán bình thường nhưng người đọc thực sự của nó lại là các luật sư, thẩm phán.

Trang 17

những chuyên gia pháp luật có trách nhiệm viện dẫn và áp dụng các điều luật cho các công dân bình thường.

Nét đặc biệt về nhân tố tham gia giao tiếp như trên đã tạo ra m ột đặc điểm ngổn cảnh riêng cho vãn bản pháp luật Những công chức soạn thảo văn bản - những người viết thực sự của vãn bản - phải giải quyết m ột mâu thuẫn lớn trong quá trình viết văn bản, họ phải dùng các nguồn lực ngôn ngữ và các chiến lược diễn ngôn để vừa thể hiện được ý muốn của Quốc hội lạ i vừa phải tính tới sự tiếp nhận văn bản của những công dân bình thường không có chuyên môn pháp luật V à điều này được

C andlin [100] gọi là: “ Sự cân bằng của cơ hội giải thuyết” (The equalising o f interpretive oppo rtu n ity) khi ông phân tích về giao tiếp pháp luật Còn Bhatia [94] thì khẳng định dung hoà được mâu thuẫn này không dễ dàng Đê giải quyết mâu thuẫn này các nhà làm luật đã phái cố gắng rất nhiều M ộ t mặt các nhà làm luật phải xây dựng các quy phạm pháp luật rõ ràng, chính xác, không mơ hồ; mặt khác họ phải đám bảo cho các điều kiện có thể bao trùm hầu hết các sự kiện đa dạng, phong phú của đời sống theo những m ong muốn của cơ quan lập pháp Đ iều này dường như khó có thể đạt được V à đó chính là lí do chính làm cho vãn bản pháp luật có hình thức và đặc điểm khác lạ như hiện có.

Tóm lại, mục đích giao tiếp chung của thể loại văn bản pháp luật là thể hiện các quy phạm pháp luật cụ thể để điều chính các quan hệ xã hội, quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, đặt ra các chế tài H iến pháp với tư cách là luật cơ bản có chức năng quy định quyền và nghĩa vụ của công dân, xác định các nguyên tắc cơ bản xây dựng và tổ chức bộ m áy N hà nước Các nhân tố ngôn cảnh đặc biệt của thể loại văn bản pháp luật tạo cho nó các đặc tính riêng như tính chính xác, không mơ hồ nhưng đồng thời lại có tính khái quát, bao trùm hầu hết

m ọi sự kiện pháp luật có thể xảy ra.

1.1.2 V iệ c xâ y dựng và nghiên cứu văn bản H iế n p h á p ở V iệ t N am

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta là m ột nước thuộc địa không

có hiến pháp [66:11] Tuy nhiên vào những năm đầu thế k ỷ X X , do ảnh hưởng của các tư tưởng cách mạng từ các nước khác, trong giới trí thức V iệ t Nam đã xuất hiện

tư tướng lập hiến V à bản hiến pháp đầu tiên của V iệ t Nam đã ra đời vào năm 1946,

Trang 18

m ột nãm sau kh i cách mạng Tháng 8 thành công Người chủ trì soạn thảo là Chú tịch Hồ Chí M inh Đ ây là bản hiến pháp đặt nền móng cho các bán hiến pháp sau này Cho đến nay V iệ t Nam đã có 4 bản H iến pháp (1946, 1959, 1980, 1992) do những nhiệm vụ lịch sử cụ thê trong từng giai đoạn cách mạng quy định M ỗ i bản

H iến pháp đã và đang thực hiện sứ mệnh lịc h sử của mình Sự ra đời của H iến pháp năm 1946 mở đầu cho sự hình thành và phát triển của khoa học pháp lí nói chung và khoa học luật H iến pháp nói riêng M ỗ i bản H iến pháp sau này đánh dấu những đổi thay của đất nước và những tiến bộ trong k ĩ thuật lập pháp của chúng ta.

Từ khi hình thành cho đến nay, lịc h sử khoa học luật H iến pháp V iệ t Nam có thể được chia thành 3 giai đoạn chính G iai đoạn thứ nhất là từ sau cách mạng tháng Tám cho đến trước 1980, giai đoạn thứ hai từ năm 1980 đến 1992, giai đoạn ba từ

1992 cho đến nay Trên cơ sở ra đời của các bản H iến pháp, đã có nhiều bài viết, tác phấm về H iến pháp, về nội dung của H iến pháp như cuốn Nhà nước và Pháp luật

của H ộ i luật gia V iệ t Nam (1971), Hiến pháp là gì? Bình luận khoa học Hiến pháp nước CHXIỈCN Việt Nam năm 1992 của V iệ n N ghiên cứu Nhà nước và Pháp luật;

T ổ chức chính quyền Nhà nước ở địa phương Lịch sử và hiện tại N hìn chung, các tác giả đều cố gắng làm sáng tỏ nội dung các bản H iến pháp, phân tích khía cạnh pháp lí trong tổ chức và hoạt động của bộ m áy N hà nước M ộ t số công trình có đề cập tới vấn đề k ĩ thuật pháp luật nhưng mờ nhạt Cho đến nay, có thể nói hầu như chưa có bài báo nào nghiên cứu riêng về vấn đề ngôn ngữ trong các văn bản H iến pháp, trong khi đó hầu hết đều thống nhất rằng: D o tầm quan trọng to lớn của H iến pháp, “ Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước H iến pháp tạo cơ sở pháp l í cho việc xày dựng hệ thống pháp luật, thiết lập hệ thống chính t r ị” , nên phải xây dựng các quy định của Hiến pháp sao cho chúng vừa có tính khái quát, tính nguyên tắc, vừa có tính thích nghi cao đối với những thay đổi thường xuyên trong đời sống kinh

tế - xã hội của đất nước” [2 ]) Đê đạt được mục đích này cần phải nâng cao hơn nữa

kĩ thuật pháp luật mà trong đó sử dụng nguồn lực ngôn ngữ như thê' nào là m ột trong những yếu tố quan trọng.

Như vậy, từ chỗ là m ột nước thuộc địa không có hiến pháp (cho tới cuối năm 1945); nước ta đã giành được độc lập, từng bước phát triển và cho tới những năm

Trang 19

cuối của thế kỷ XX, chúng ta đã xây dựng được một bán Hiến pháp tiên tiến, hiện đại, là Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) Đây là bản Hiến pháp đang có hiệu lực

và chúng tôi chọn phân tích ngôn ngữ trong văn bản này trong sự đối chiếu so sánh với ngôn ngữ trong Hiến pháp Hoa Kì, bản Hiến pháp có lịch sử lâu đời nhất vẫn đang được áp dụng

1.1.3 T ình h u ốn g diễn ngôn của văn bản H iến pháp H ợp chủ n g qu ốc H oa Kì

Việc Anh thuộc địa hoá Bắc Mĩ là nhân tố cơ bản nhất của sự phát triển hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp Hoa Kì theo truyền thống Common Law (thông luật) Những người dân Anh di cư sang M ĩ và thành lập nhiều xứ thuộc địa độc lập

từ những thập niên đầu của thế kỷ XVII như bang Virginia, Maryland, Massachusettes, New York Các thuộc địa độc lập áp dụng Common Law của Anh

và đã đật nền móng cho ảnh hưởng của hệ thống pháp luật này tại Mĩ Vào những năm đầu của thế ký XVIII, Common Law của nước Anh được áp dụng rộng rãi ở các bang thuộc địa này Nhiều quy định của Common Law, nhiều đạo luật của Anh được áp dụng nguyên bản Việc áp dụng Common Law của Anh đã trở thành xu hướng chung ớ đây Năm 1776 các thuộc địa tuyên bố độc lập và vào năm 1783 Hợp chúng quốc Hoa Kì tuvên bố nền độc lập Trong thời kì này, dưới ảnh hường của tư tưởng cộng hoà, việc đấu tranh để xây dựng một nền pháp luật riêng cho Hoa Kì diễn ra mạnh mẽ Xu thế pháp điển hoá pháp luật lan nhanh Nhiều bang đã có Hiến pháp riêng và có xu hướng xây dựng chủ quyền Chính quyền liên bang trở nên yếu kém, không có đủ nguồn lực để đối đầu với các bộ lạc da đỏ và trả lãi những món nợ

đi vay từ thời chiến tranh giành Độc lập Liên bang có nguy cơ tan rã George Washington đã chủ trì Đại hội đại biểu gồm những chính khách lỗi lạc của nước Mĩ

để soạn thảo Hiến pháp Sự ra đời của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kì năm 1787

đã thực sự đặt nền móng cho một hệ thống pháp luật độc lập, đáp ứng những đòi hỏi, nhu cáu phát triển cúa chính nước Mĩ Sự hùng mạnh của Hoa Kì trên tất cả các mặt như hiện nay chắc chắn có phần đóng góp không nhỏ của văn bán pháp luật quan trọng này Cho đến nay Hiến pháp Hoa Kì đã được bổ sung 27 tu chính án Chính khách người Anh W illiam E Gladstone đã mô tả Hiến pháp Hoa Kì là “tác phấm tuyệt vời nhất được sản sinh ra vào một thời điểm lịch sử bới trí tuệ và mục đích của

Trang 20

con người” Trong một thế giới đổi thay và tranh đấu, nhân dân Mi không có tài sản nào quý giá hơn văn kiện vĩ đại này.

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

Từ những khảo sát về ngôn cảnh của văn bản cần phán tích ở phần trên, trong phần này chúng tôi sẽ trình bày và lựa chọn một số cơ sở lí thuyết phù hợp làm nền tảng cho luận án Đó là quan điểm ngữ pháp chức nâng hệ thống của Halliday về ngôn ngữ, phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán được phát triển dựa trên các nguyên lí cơ bản của ngữ pháp chức năng - hệ thống

1.2.1 N gữ pháp chứ c năng hệ thông: N gôn ngữ, ngôn cảnh và văn bản

Halliday phát triển dựa trên các thành tưu của ngôn ngữ học châu Âu với những nhà ngôn ngữ học tiền bối như F de Saussure, Hjelmslev, Firth Theo Halliday ngôn ngữ

là một hệ thống các lựa chọn có liên hệ tưưng tác với nhau Các lựa chọn này được hình thức hoá bằng các hệ thống như sô đơn đối lập với số nhiều, chủ động đối lập bị động, khẳng định đối lập phù định Đây là một phần nguồn gốc của tên gọi chức năng hệ thống [1371 Halliday tập trung vào các chức năng tạo cho ngôn ngữ một hình thức như hiện có, và cách nhìn nhận này thường được gọi là ngôn ngữ theo cách nhln nhận xã hội

kí hiệu học Halliday [122] nhận định: “ngôn ngữ như là một trong những hệ thống tạo nghĩa làm nên văn hoá loài người, ngôn ngữ gắn kết chủ yếu với một bình diện cụ thể của kinh nghiệm loài người, đó là bình diện cơ cấu xã hội” Q uan đ iểm của n gữ ph áp

ngôn ngữ học trước Halliday cho rằng để giải thích ý nghĩa của một câu người ta cần miêu tả bản thân câu đó và đồng thời cả ngôn cảnh mà câu đó được sử dụng [Martin 137] Phát triển các quan điểm của Malinowski và Firth, kết hợp với luận điểm của Sapir về Whorf, Halliday phân tích: “Hai truyền thống sáng lập việc nghiên cứu ngôn ngữ trong ngôn cảnh này, truyền thống Anh với Malinowski và Firth và truyền thống Mĩ với Sapir và Whorf bổ sung mật thiết cho nhau Truyền thống đầu nhấn mạnh vào tình huống làm ngôn cảnh cho ngôn ngữ là vãn bản và nó nhìn nhận ngôn ngữ như một hình thức hoạt động hay sự diễn tả các quan hệ và quá trình xã hội Truyền thống sau nhấn mạnh vào mặt văn hoá làm ngôn cảnh cho ngôn ngữ như là

Trang 21

một hệ thống và coi ngôn ngữ như một hình thức phán ánh hay sự sắp xếp kinh nghiệm thành lí thuyết hoặc mô hình hoá hiện thực” (Halliday [122:21]) Ông chứng minh rằng toàn bộ cấu trúc ngữ pháp tức là cách thức mà tất cả các ngôn ngữ dựa vào để tạo ra nghĩa gắn bó chặt chẽ với ngôn cảnh tình huống và vãn hoá mà trong đó ngôn ngữ tiến hoá Theo Halliday: “Một lí thuyết về ngôn ngữ trong ngôn cảnh không đơn thuần chi là một lí thuyết về cách mọi người sử dụng ngôn ngữ như thế nào mà nó còn là một lí thuyết về bản chất và sự tiến hoá của ngôn ngữ, giải thích tại sao hệ thống đó lại hoạt động như nó đang hoạt động nhưng là sự giải thích chức năng dựa trên sự diễn giải kí hiệu học xã hội về các mối quan hệ và quá trình

ngữ nghĩa” Thuật ngữ “ngôn cảnh” (context) theo Halliday [122: 20] là “một loại

môi trường nào đó, là những gì xảy ra xung quanh mà ngôn ngữ có liên quan đến”

và “môi trường phi ngôn trong đó ngôn ngữ được sử dụng” Các nhà ngữ pháp chức

nãng - hệ thông còn phàn hiệt hai loại ngôn cảnh là ngôn cảnh văn hoá (context o f

culture) và ngôn cảnh tình huống (context o f situation) Ngôn cảnh văn hoá là ngôn

cảnh của ngôn ngữ như một hệ thống, của “tiềm năng về nghĩa” (meaning

potential) ; CÒI1 ngôn cảnh tình huống là ngôn cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ là vãn bản, là những trường hợp cụ thể của ngôn ngữ “Văn hoá làm ngôn cảnh cho ngôn ngữ như-là-hệ-thống, còn tình huống thì làm ngôn cảnh cho những hiện tượng của ngôn ngữ - như là văn bản” [ Halliday 122: 23] v ề văn bản, Halliday [122]

quan niệm một văn bản (text) thực sự được tạo nên bởi các ý nghĩa, đó là một đơn vị nghĩa (a semantic unit) được mã hoá bằng một cái gì đó nhằm mục đích thực hiện giao tiếp, một văn bản vừa là sản phẩm (product) lại vừa là một quá trình (a

process) Cụ thể, văn bản là một sản phẩm theo nghĩa nó là một đầu ra, một cái gì

đó có thể ghi lại và nghiên cứu được, nó có một cấu trúc nhất định có thể được thê hiện ra một cách hệ thống Văn bản là một quá trình, theo nghĩa là một quá trình liên tục của các lựa chọn về nghĩa, một sự vận động qua các hệ thống tiềm năng về nghĩa trong đó mỗi một chuỗi chọn lựa lại tạo ra môi trường cho chuỗi tiếp theo, v ề

hữu của quá trình và sản phẩm của ý nghĩa xã hội trong một ngôn cảnh tình huống nào đó Và ngôn cảnh tình huống, ngôn cánh mà trong đó văn bản được thể hiện lại

Trang 22

được lồng ghép vào trong văn bản không phải theo lối từng đoạn một, hoặc cũng không phái theo bất cứ cách thức cơ giới nào, mà một mặt qua một quan hệ xã hội, mặt khác qua tổ chức, chức năng của ngôn ngữ” [Halliday, 122:11] Halliday đã chỉ

ra mối quan hệ của môi trường xã hội với tổ chức, chức năng cúa ngôn ngữ Môi

trường xã hội của văn bản được mô tả bàng ba khái niệm: Trường diễn ngôn (Field

o f discourse); Ý chỉ diễn ngôn (tenor of discourse) (quan hệ địa chỉ); Phương thức

diễn ngôn {mode o f discourse) Mỗi đặc điểm trên của ngôn cảnh được thê hiện qua

một chức năng của nghĩa: Trường được thể hiện qua chức năng quan niệm, ý chí diễn ngôn qua chức nâng liên nhân và phương thức qua chức năng vãn bản Mối quan hệ giữa ngôn cảnh tình huống và vãn bản được biểu hiện bằng sơ đồ sau:

1.2.2.1 Một sô quan điểm về phân tích diễn ngôn

Phân tích diễn ngôn với tư cách là một bộ phận trong ngôn ngữ học ứng dụng

và nghién cứu ngôn ngữ đặc biệt trong việc dạy và học tiếng trên thế giới nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ ớ cấp độ trên câu Các nhà ngôn ngữ học đã xem xét phân tích diễn ngôn theo một số góc độ Thứ nhất, xét từ góc độ lí thuyết thì các nghiên cứu về phân tích diễn ngôn có thể được xếp thành hai nhóm đối lập Một nhóm là các nghiên cứu được coi là phân nhánh của ngữ pháp hình thức với trọng tâm là mặt hình thức hoặc chức năng của việc sử dụng ngôn ngữ gồm cả ngữ nghĩa học và ngữ dụng học Nhóm kia bao gồm các nghiên cứu phân tích diễn ngôn tập trung vào sự

sử dụng mang tính chế ước hoá (institutionalised) của ngôn ngữ trong các bối cảnh vàn hoá - xã hội khác nhau trong đó sự giao tiếp bằng ngôn ngữ được coi là một hoạt động xã hội (communication as social action) Thứ hai là xét từ góc độ chung -

Trang 23

chuyên ngành : Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn của các hội thoại hàng ngày, các thể loại văn viết như mô tả, trần thuật, chính luận và ớ hướng chuyên ngành là các nghiên cứu phân tích diễn ngôn các thể loại vãn ban chuyên ngành như bài báo khoa học, văn bản pháp luật, các giao thoại bác sĩ-bệnh nhân, luật sư-khách hàng Thứ ba là góc độ ứng dụng: Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn xuất phát từ các mục tiêu ứng dụng khác nhau như dạy và học tiếng, dịch thuật .Thứ tư là xem xét dựa trên mức độ phân tích : Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn được phân loại theo mức độ từ phân tích hình thức bề mặt, tới phân tích theo chiều sâu chức năng của ngón ngữ hành chức Sự phân loại này đồng thời cũng phản ánh sự chuyển biến của phân tích diễn ngôn ứng dụng từ hình thức sang chức năng, từ ngữ pháp sang diễn ngôn và giao tiếp Trong tác phẩm “Analysing Genre” (Phân tích thể loại), Bhatia đã đánh giá một cách chi tiết các cấp độ mô tả ngôn ngữ mà phân tích diễn ngôn đã trải qua trong những năm gần đây như sau:

a Phân tích ngữ vực (register analysis) : Mô tủ ngôn ngữ ở cấp độ bề mặt Phân tích

diễn ngôn tập trung chủ yếu vào việc nhận diện các đặc điểm từ vựng - ngữ pháp có tần suất cao về mặt thống kê của một biến thể ngôn ngữ Theo Halliday “Ngôn ngữ biến đổi khi chức năng của nó thay đổi; nó khác biệt trong những tình huống

(situations) khác nhau” Tên gọi cho một biến thể ngôn ngữ được khu biệt theo sự

hành chức của nó là ngữ vực (register)” Và các ngữ vực cũng được coi là biến thể

phụ của một biến thể ngôn ngữ mà tiêu chí để phân biệt chúng là tần suất của các

đặc điểm từ vựng - ngữ pháp của một biến thể văn bản cụ thể (text-variety) Họ cũng

đề xuất các bình diện là Field (Trường), Mode (Phương thức) và Style (sau này là Tenor: Ý chỉ) của diễn ngôn (Discourse) để nhận biết các đặc điểm ngữ vực khác nhau Nhiều tác giả sau này như Crystal và David, Ellis hay Hasan, Gregory và Carroll đã phát triển cách phân loại tình huống và văn cảnh đó từ góc độ từ vựng - ngữ pháp và gần đây là góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng Hạn chế của các nghiên cứu này là mới dừng lại ớ sự phân tích các yếu tô bề mặt và chưa xem xét sâu vào các câu trúc nội tại và cách thức cấu trúc thông tin trong ngôn bản của biến thể ngôn ngữ Nhìn chung các nghiên cứu này chưa giải trình được vì sao một biến thể ngôn

Trang 24

ngữ lại có hình thức như nó hiện có, thiếu sự biện giải về cơ chê ngầm quyết định sự lựa chọn và phân bổ các yếu tố ngôn ngữ bề mặt.

b Phản tích ngữ pháp-tu từ: Mô tả ngôn ngữ về mặt chức năng Phân tích ngữ pháp

- tu từ là xem xét mối quan hệ giữa sự lựa chọn ngữ pháp và chức năng tu từ trong văn bản viết tiếng Anh (theo Selinker, Lackstrom và Trimble) Các tác giả này không chi cố gắng tìm ra các đặc điểm ngôn ngữ xuất hiện phổ biến nhất mà họ còn tập trung nghiên cứu các đặc điểm ngôn ngữ đặc thù của loại văn bản này tạo ra các giá trị riêng biệt và cấu trúc nên hình thức giao tiếp trong khoa học Cách nghiên cứu như vậy tập trung chủ yếu vào các quy ước đặc thù của chủ điểm và các đặc điểm tu từ hơn là các đặc điểm cú pháp hoặc ngữ nghĩa Trong phân tích ngữ pháp-

tu từ, người nghiên cứu chủ yếu xem xét văn bản từ vị thế của người viết và tìm hiểu cách thức chọn lựa các biện pháp ngữ pháp nào đó của người giao tiếp trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và mức độ phân tích chí giới hạn ớ một số đặc điểm cú pháp của loại văn bản này Sự phân tích có phần thiên lệch này dễ dẫn tới việc khái quát hoá thiếu chính xác các đặc điểm văn bán và dẫn tới những kết luận không hoàn toàn phù hợp với thưc chất của văn bản

c Phân tích tưrng tác: miêu tả ngôn ngữ như một diễn ngôn Phân tích tương tác (Interactionaì Analysis), còn được gọi là phân tích diễn ngôn ứng dụng, hay phân

tích chức nâng lời nói là sự giải thuyết vần bản từ góc độ người đọc hoặc người nghe Theo các tác giả trên thì nghĩa của văn bản không hiện diện sẵn trong một tiết đoạn văn bản mà người đọc hoặc người nghe chỉ việc nhận ra, mà nó là sự thoả thuận qua nỗ lực “tương tác” của các thành viên tham gia giao tiếp Sự thoả thuận này tạo ra cho các phát ngôn những giá trị đặc thù thích hợp Candlin và Loftipour - Saedi đưa ra quan niệm “thương lượng nghĩa” của người đọc qua phương tiện văn bản và đề ra mô hình phân tích diễn ngôn dựa trên sự cân bằng giữa các quá trình giao tiếp từ hai bình diện: người viết và người đọc Văn bản trong phân tích tương tác luôn được nhìn nhận với bản chất giao tiếp, được tạo thành do kết quá của sự giải thuvêì của người đoc đôi với diễn ngôn Chính bởi lẽ đó phân tích tương tác còn được gọi là phân tích diễn ngôn của người đọc Các tác giả này cho rằng trong văn bản viết, người viết thừa nhận một độc giả nhất định nào đó mà anh ta phải hướng

Trang 25

tới, dự đoán irước các phán ứng cúa độc giả này và điều chinh quá trình viết cho phù hợp để làm quá trình giao tiếp dễ dàng hơn Điển hình của cách nghiên cứu theo hướng này là công trình nghiên cứu về ngôn ngữ luật của Bhatia “An applied discourse analysis of English legislative writing” (Phân tích diễn ngôn ứng dụng vào văn bản pháp luật tiếng Anh) xuất bản nãm 1983 Phân tích tương tác có nhiều đóng góp quan trọng trong phân tích diễn ngôn Nó đã nhấn mạnh và khai thác sâu bản chất tương tác của diễn ngôn và đồng thời tập trung vào khái niệm tổ chức ngôn ngữ trong sự hành chức của nó.

d Phân tích th ể loại diễn ngôn: miêu tả ngôn ngữ theo hướng giải thích Phân tích

diễn ngôn theo ba đường hướng trên đây có chiều hướng chuyển dịch từ phân tích cấp độ bề mặt sang miêu tả ngôn ngữ hành chức theo cấp độ chiều sâu trên ba bình diện Trước hết là xem xét những giá trị mà các đặc điểm của ngôn ngữ được uỷ thác trong các diễn ngôn mang tính chuyên ngành Thứ hai là từ cách nhìn nhận về bản chất tưưng tác tiềm ẩn trong diễn ngôn giữa người viết và người đọc Thứ ba là phân tích chú trọng vào quá trình hình thành diễn ngôn Trong lĩnh vực giảng dạy ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng và ngôn ngữ học ứng dụng nói chung thì phân tích diễn ngôn ứng dụng trở nên quá sơ sài khi miêu tả ngôn ngữ hành chức và không phù hợp khi ứng dụng vào dạy tiếng và một sô mục đích phân tích ứng dụng khác Trước hết, nó thiếu các thông tin phù hợp cần đế lí giải lí do tồn tại của các loại hình diễn ngôn khác nhau nghĩa là thiếu sự biện giải về tác động văn hoá - xã hội, các chế ước mang tính hệ thống và tổ chức của lĩnh vực chuyên môn ảnh hưởng tới bản chất của một thể loại diễn ngốn cụ thể nào đó Thứ hai, nó ít chú ý tới các đặc điểm

đã dược chế ước hoá trong quá trình tổ chức các sự kiện giao tiếp khác nhau Mô hình phân tích này kết hợp được các khía cạnh văn hoá - xã hội (gồm cả dân tộc học) và tâm lí học (gồm cả nhận thức) tham gia vào quá trình kiến tạo vãn bản (text-construction) và giải thuyết quá trình đó bằng các phân tích ngôn ngữ ở bình diện sâu nhằm giải đáp câu hỏi quan trọng: Vì sao các văn bản chuyên ngành lại được viết và sử dụng theo cách thức riêng biệt như hiện có? Trong tác phẩm “Genre Analysis: English in academic and research settings” - một trong các công trình phân tích diễn ngôn theo mô hình này, Swales đã thực hiện trên các văn bản khoa

Trang 26

học-kĩ thuật và kết quả cho thấy rất nhiều mối quan hệ tương tác giữa hình thức và chức nâng của các vãn bản loại này, giúp ích rất nhiều cho giáo viên dạy tiếng, người dịch và các cán bộ khoa học kĩ thuật Cũng vì lí do này mà phân tích diễnngôn theo xu hướng này còn thường được gọi là phân tích thể loại ứng dụng củadiễn ngôn (applied genre analysis).

Trên đây là một số nét sơ lược về các hướng chính trong phân tích diễn ngôn

Ta có thể nhận thấy xu hướng ngày càng rõ là sự phân tích chuyển dịch từ mô tả bề mặt ngôn ngữ thuần tuý sang mô tả theo chiều sâu trên nhiều bình diện khác nhau của văn bản hoặc thể loại diễn ngôn, từ các đặc điểm cụ thể của hệ thống từ vựng - ngữ pháp tới cơ cấu tổ chức diễn ngôn Nó cũng cho thấy là để có được sự phân tích theo hướng chiều sâu phù hợp, nhiều kiến thức liên quan tới bản chất của diễn ngôn cần được sử dụng tới như xã hội học, tâm lí học, dân tộc học

1.2.2.2 Phương pháp phân tích thể loại ứng dụng của diễn ngôn

Phương pháp phân tích thể loại ứng dung của diễn ngôn tập trung vào nghiên cứu các yếu tố văn hoá-xã hội tham gia vào quá trình tạo lập văn bản và giải thuyết

vì sao văn bản, đặc hiệt là văn bản chuyên ngành được viết và sử dụng theo cách

thức riêng biệt như nó đang tồn tại Trong tác phẩm “Analysing Genre” , Bhatia đã đề xuất một số phương pháp phân tích thể loại diễn ngôn với mục đích đạt tới “một sự

phân tích sâu hơn các biến th ể chức năng của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói

Bhatia không chỉ đưa vào quá trình phân tích các nhân tô vãn hoá-xã hội mà còn cả nhân tố tâm lí - ngôn ngữ học và do đó đã mở rộng sự phân tích ngôn ngữ từ mô tả tới giải thích ngôn ngữ Cụ thê bảy bước Bhatia gợi ý để phân tích một thể loại diễn ngôn mới lạ là như sau :

1 Đặt thể loại diễn ngôn trong ngữ cảnh tình huống của nó: phân tích ngữ cảnh tình huống của văn bản và tìm các thông tin nền về văn hoá-xã hội, tâm lí- ngôn ngữ học liên quan tới văn bản

2 Khảo sát tư liệu hiện có: tìm hiểu các tài liệu về thể loại diễn ngôn đã có, các tài liệu liên quan tới thể loại diễn ngôn tương tự, chỉ dẫn của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực, sách hướng dẫn, tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan

Trang 27

3 Phân tích chi tiết và chọn lọc ngữ cảnh tình huống : Xác định người viết/ nói của văn bản, người đọc/nghe văn bản, mối quan hệ giữa họ và mục đích của họ; Xác định vị trí của cộng đồng sử dụng thể loại diễn ngôn về mặt lịch sử, văn hoá-xã hội và nghề nghiệp; Tìm hiểu hệ thống các văn bản và các tập tục ngôn ngữ liên quan tạo thành cơ sở cho thể loại văn bản; Tìm hiểu hiện thực ngoài ngôn ngữ mà văn bản đang thể hiện và mối quan hệ của văn bản với hiện thực đó.

4 Chọn tư liệu chính: Chọn tư liệu liên quan tới thể loại văn bản đủ để phân biệt với các thể loại vãn bản khác Dựa vào mực đích giao tiếp, ngữ cảnh tình huống

mà vãn bản hay được sử dụng và các đặc điem chung nổi bật trong các văn bản

5 Nghiên cứu ngôn cảnh chế ước (Institutional context/ settings) Tim hiểu bối cành chế ước sử dụng của văn bản, các nguyên tắc và thông lệ (về ngôn ngữ, xã hội, văn hoá, học thuật, nghề nghiệp)

6 Phân tích ngôn ngữ ở các cấp độ: Cấp độ I : Phân tích các đặc điểm từ vựng, ngữ pháp; Cấp độ 2 : Phân tích các đặc điểm thuộc văn bản; Cấp độ 3 : Phân tích giải thuvết cấu trúc thê loại vãn bản

7 Các thông tin mang tính chuyên môn nghề nghiệp trong phân tích thể loại diễn ngôn: Đây là bước cuối cùng người nghiên cứu có thể tiến hành để kiểm tra độ tin cậy và tính đúng đắn của các kết luận qua thông tin phản hồi từ các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan

1.2.2.3 ứng dụng phản tích diễn ngôn vào phân tích văn bản pháp luật

ứng dụng những thao tác trên vào việc phân tích ngôn ngữ pháp luật, trong tác phẩm “Language of the law” [91] Bhatia đã chỉ rõ: “Thể loại ngôn ngữ pháp luật bao gổm nhiều tiểu loại khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích giao tiếp mà chúng hoàn thành, ngôn cảnh sử dụng, mối quan hệ xã hội hoặc chuyên môn giữa các thành viên tham dự, kiến thức nền của các thành viên này được huy động vào giao tiếp và nhiều yếu tô nữa Nét khác biệt giữa các tiểu loại này cũng được phản ánh trong nguồn từ vựng ngữ pháp và văn bản được huy động theo những quy ước đặc thù nhằm đạt các kết quả giao tiếp trong những bối cảnh pháp luật khác nhau” Bahatia đã phân biệt các tiểu loại của ngôn ngữ pháp luật theo những bối cảnh giao tiếp pháp luật khác nhau với hai nhánh lớn là ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói theo sơ đồ dưới đây:

Trang 28

Nghị định

Sơ đỏ: Các tiểu loại ngôn ngữ pháp luật.

Nguồn: Bhatia: “Language o f the law ” in Language Teaching, 1987.

Theo hướng nghiên cứu này, các công trình tiếp theo của Bhatia như

“Cognitive structuring in legislative provisions” và một số tác phẩm của Swales và

Bhatia “/4/? approach to the linguistic study o f legal documents” đã chỉ rõ bản chất

phức lạp của văn bản pháp luật và đã lí giải hình thức phức tạp của thể loại diễn

Trang 29

ngôn này Các tác giả đã chi ra nguyên nhân của sự phức tạp này chính là sự cần thiết phải đảm bảo tính rõ ràng, chính xác đồng thời duy trì tính bao trùm của các điều khoản trong văn bản luật Cũng trong các tác phấm này, Bhatia đã tập trung mô

tá giải thích cấu trúc tiềm ẩn quy định hình thức bề mặt của văn bản pháp luật và miêu tá khá kĩ diện mạo của loại văn bản này trong tiếng Anh

1.2.2.4 Kế thừa, phát huy và ứng dụng những thành tựu của phân tích diễn ngôn mà

Bhatia và một số nhà ngôn ngữ học đã đạt được trong nghiên cứu ngồn ngữ pháp luật trong tiếng Anh, tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu riêng về ngôn ngữ pháp luật trong đó có công trình của Lê Hùng Tiến “Một số đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật tiếng Việt” Đây là một nghiên cứu phân tích diễn ngôn thể loại văn bản pháp luật tiếng Việt có đối chiếu với các đặc điểm tương ứng của diễn ngôn văn bản pháp luật tiếng Anh Tác giả khẳng định áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn để xem xét thể loại văn bản pháp luật tiếng Việt là phù hợp và có hiệu quả Như vậy bước đầu có thể thấy nghiên cứu theo hướng phân tích diễn ngôn ứng dụng đối với thể loại vãn bản pháp luật tiếng Việt là một hướng nghiên cứu hứa hẹn những đóng góp thiết thực về phương diện lí luân cũng như phương diện thực tiễn trong nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng hiện nay ớ nước ta Việc nghiên cứu này đang cần được phát triển tiếp để tự hoàn thiện và đạt tới những kết quả sâu hơn, góp phần nâng cao chất lượng một lĩnh vực hoạt động quan trọng trong đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước là lĩnh vực pháp luật

1.2.3 P h ân tích diễn ngôn phê ph án và ứng d ụ ng ph ân tích diễn n gôn phê phán vào phân tích vãn bản H iến pháp

1.2.3.ỉ Phán tích dién ngón phê phán

Theo Nguyễn Hoà [46], phân tích diễn ngôn phê phán (Critical Discourse

Analysis: CDA) là một đường hướng phân tích diễn ngôn được hình thành như một

chuyên ngành từ những năm 70 thê kỉ XX trên nền tảng ngữ pháp chức năng của Halliday Các nhà ngôn ngữ có vai trò quan trọng là Kress & Hodge (1979), Fowler

và các cộng sự (1979), Van Dijk (1985), Fairclough (1989) và Wodak (1989) Theo một sô' tác giả, CDA bắt nguồn từ tư tưởng của Mác về lí thuyết xã hội và tổ chức xã hội Chú nghĩa Mác coi ngôn ngữ như một hiện tượng xã hội Một số tác giả khác

Trang 30

cho rằng CDA gắn bó với trường phái Frankfurt (Đức) Mục đích của CDA không chỉ là miêu ta diễn ngôn, mà còn giải thích diễn ngôn đã được kiến tạo như thế nào

và vì sao nó lại tồn tại và hoạt động như vậy CDA thừa nhận vai trò của ngôn ngữ trong việc tổ chức quan hệ quyền thế (Power) xã hội và nó bắt đầu nổi lên như là một đường hướng phân tích diễn ngôn mới vào những năm 70 của thế kỉ XX Đây cũng là thời điểm các nhà ngôn ngữ học tập trung vào dụng học - ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngôn cảnh, hay ngôn ngữ xã hội học - nghiên cứu những biến đổi ngôn ngữ trong mối quan hệ với xã hội Chouliaraki và Fairclough (1999) coi CDA là một bộ phận của khoa học xã hội phê phán Một số nhà phân tích CDA coi đối tượng của CDA là quan hệ quyền thế được thê hiện trong diễn ngôn

Từ những ngày đầu, CDA đã đật trọng tâm vào việc nghiên cứu quan hệ quyền lực (Power) được thể hiện, tái tạo hay bị phản kháng qua văn bán và hội thoại trong hoàn cảnh xã hội và chính trị Với tư cách là một đường hướng nghiên cứu, CDA sử dung một loạt thao tác để nghiên cứu, phân tích thực tiễn sử dụng diễn ngôn hay ngôn ngữ như là các tập quán xã hội và vãn hoá Cơ sở lí thuyết chính của CDA là quan niệm bắt nguồn từ chú nẹhĩa hậu cấu trúc luận rằng diễn ngôn (discourse) hoạt động bên cạnh các thiết chế và văn bản có vai trò kiến tạo trong việc hình thành và định hình các hành động xã hội và đặc điểm riêng của con người CDA cũng dựa trên lí luận văn hoá Marxist rằng diễn ngôn được sản xuất và sử dụng trong các hệ thống kinh tế - chính trị, và rằng diễn ngôn tạo ra và thể hiện một cách tường minh các hình thái xã hội, lợi ích tư tưởng và các phong trào rộng lớn hơn trong các lĩnh vực này CDA là một lĩnh vực liên ngành dựa trên các nghiên cứu trong dụng học, lịch sử, ngôn ngữ học “Tất cả các ngành này đều có chung một quan điểm kiến tạo

xã hội, tư tưởng cho rằng thực tế và tính chú quan được kiến tạo ở trong và bởi ngôn ngữ, và rằng mục tiêu của việc nghiên cứu hay sử dụng ngôn ngữ là tạo ra một hệ thống chính trị cam kết với việc thực hiện thay đổi xã hội” (Nguyễn Hoà [46])

Trong thực tiễn nghiên cứu, hai thuật ngữ : Ngôn ngữ học phê phán (Critical

linguistics) và Phân tích diễn ngôn phê phán (Critical discourse analysis) thường

được sử dụng thay thế lẫn nhau Ngôn ngữ học phê phán là một cách tiếp cận do các học giả như Fowler (1981) Kress và các cộng sự (1979) tạo nên Các học giả này chịu

Trang 31

nhiều ảnh hướng của nhà ngôn ngữ học M.A.K Halliday và ngữ pháp chức năng hệ

thống của ông (systemic functional grammar: SFG) Các nhà nghiên cứu CDA dựa

trên SFG đã thừa nhận ba siêu chức nàng của ngôn ngữ là: a Chức nàng ý niệm ứng với kinh nghiệm của người nói về thế giới và các hiện tượng xã hội và tự nhiên; b Chức năng liên nhân ứng với các mối quan hệ xã hội trong đó có quan hệ quyền lực, quyền thế, sự bất bình đẳng và sự thống trị; c Chức nâng tạo văn bản Nhờ chức năng này ngôn ngữ mới thực hiện được hai chức năng trên Ngôn ngữ học phê phán quan tâm đến việc hiểu nghĩa trong vãn bản như những sự thể hiện của các quá trình

xã hội, nhìn nhận văn bản như những thực thể hoạt động về mặt lư tưởng và chính trị trong mối quan hệ với hoàn cảnh Như vậy, diễn ngôn hay sự hoạt động của ngôn ngữ được thể hiện qua các văn bản Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoà [46], khái

niệm phê phán - critical trong tên gọi “phân tích diễn ngôn phê phán” có liên quan đến trường phái Frankfurt, hay trường phái Habermas, theo đó uphê phún” tức là

làm rõ tính quan hệ của các sự vật, hiện lượng Có hai tên gọi là ngôn ngữ học phê phán và phân tích diễn ngôn phê phán, song hiện nay, thuật ngữ phân tích diễn ngôn phê phán được nhiều người sử dụng hơn và đã trở thành tên cho đường hướng phân tích này CDA nhìn nhận ngôn ngữ như một tập quán và thực tiễn xã hội, và hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ có một vai trò cốt yếu Với tinh thần như vậy, CDA đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và quyền lực, và là một đường hướng coi diễn ngôn không chỉ là một quá trình tương tác mà thực chất là tập quán, thực tiễn

xã hội và sự phản ánh tập quán này Fairclough và Wodak (1997 : 280), Kress (1989) đã xây dựng các căn cứ quan trọng của lí luận CDA Đó là: - Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội và CDA giải quyết các vấn đề xã hội; - Quan hệ xã hội được thể hiện qua diễn ngôn.; - Diễn ngôn là một phần của xã hội và văn hoá; - Diễn ngôn mang tính tư tưởng và lịch sử; - Mối quan hộ giữa văn bản và xã hội là mối quan hệ qua trung gian; - Phân tích diễn ngôn phải có khả năng hiểu và tường giải; - Diễn ngôn là một d ạ n g của hành động xã hội

Trong số các lí thuyết khung được sử dụng trong CDA, ngữ pháp chức nâng có một vai trò đặc biệt bới vì hệ ngữ pháp này đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội Halliday phân biệt ba siêu chức nãng cơ bản của ngôn ngữ có quan hệ

Trang 32

chặt chẽ với nhau Thứ nhất là chức năng biếu hiện các kinh nghiệm hay hiện tượng

xã hội (cấu trúc biếu hiện nằm trong mối quan hệ biện chứng với cấu trúc xã hội: vừa phản ánh vừa tác động đến cấu trúc xã hội) Thứ hai là, chức năng liên nhân thể hiện mối quan hệ giữa các thành viên cua xã hội Cuối cùng là quan hệ tạo văn bản mang tính mạch lạc và liên kết cho văn bản

1.2.3.2 Phân tích diễn ngôn phê phán và việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ, cấu trúc và tổ chức ván bản

Mác đã khẳng định “Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội” và “ Ngôn ngữ là

công cụ đấu tranh giai cấp" Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, các nhà phân tích

CDA hiện đại cho rằng: “Ngôn ngữ là thực tiễn và tập quán xã hội” Ngôn ngữ được

sử dụng để truyền bá tư tưởng về quyền lực và các tư tưởng khác Phân tích diễn

ngồn phê phán mang lại sự hiểu biết về mối quan hệ quyền lực xã hội được thể hiện trong ngôn ngữ Như vậy, CDA thừa nhận các quan hệ quyền lực và quan hệ xã hội

không chí được thê hiện mà còn tồn tại trong diễn ngôn Với quan niệm COI diễn ngôn như một quá trình, thể hiện sự tương tác xã hội, xuất phát từ góc độ ngôn ngữ

học, tác giả Nguyễn Hoà cho rằng: "Đối tượng chính của CDA phải là diễn ngôn

chứ không phải là quan hệ xã hội” [46] Và như vậy, việc phân tích hình thức ngôn

ngữ được sử dụng trong quá trình này sẽ là tiêu điểm của CDA Cụ thể, nhà phân

tích diễn ngôn phê phán phải quan tâm đến việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ, cấu trúc và sự tổ chức ở mọi cấp độ như ngữ âm và ảm vị học, từ vựng - ngữ nghĩa,

cu pháp và các dạng tổ chức ở cấp độ cao như cấu trúc diễn ngôn với mục đích lột

tả xem chúng đã được sử dụng như thế nào trong các tập quán tạo và hiểu diễn ngôn,

và tập quán vãn hoá - xã hội để xác lập, duy trì hay bảo vệ quyền lực và quan hệ xã hội; để ảnh hưởng và dẫn đến thay đổi thực tại xã hội Điều này cũng có nghĩa là trong mối quan hệ với quyền lực và quan hệ xã hội, thì diễn ngôn đóng vai trò là hình thức và sự miêu tả cụ thể hình thức như đã nêu trên chính là sự miêu tả nội dung của hình thức Các nhà phân tích CDA chịu ảnh hưởng của lí thuyết chức năng

hệ thống quan niệm rằng, mỗi văn bản là một không gian xã hội, ở đó có hai quá

trinh xã hội đồng thời diễn ra: (i) nhận thức và thể hiện thế giới; (ii) tương tác xã hội Và phân tích diễn ngôn cũng phải mang tính đa chức năng: quan niệm ứng với

Trang 33

thể hiện kinh nghiệm về thế giới, liên nhân ứng với tương tác xã hội, và văn bản ứng với việc tạo ra một chính thể diễn ngôn mạch lạc.

1.2.3.3 CDA và ngữ pháp chức năng hệ thông (Systematic functional grammar:SFG)

+ CDA và ngữ pháp chức năng hệ thống Tính chất kí hiệu của diễn ngôn là

một yếu tố không thể bỏ qua trong CDA Trong các lí thuyết ngôn ngữ học được đưa

ra trong thời gian qua thì lí thuyết ngữ pháp chức năng có nhiều ứng dụng nhất trong

phân tích CDA Trên thực tế, ngôn ngữ học phê phán (crictical linguistics) do

Fowler đưa ra được dựa trên lí luận SFG Lí do cơ bản là lí thuyết SFG có cách nhìn ngôn ngữ giống với CDA và khoa học xã hội phê phán SFG coi ngôn ngữ như một

hệ thống kí hiệu xã hội (social semiotic) Ngôn ngữ theo lí luận ngữ pháp chức nâng

hệ thống được tổ chức theo các tầng bậc, theo các quan hệ hiện thực hoá và cụ thể hoá Các tầng bậc ở lớp dưới vừa hiện thực hoá tầng bậc trên và lại là một trường hợp cụ thể của nó Nói một cách khác, các tầng bậc tạo ra một nguồn lực nghĩa, một tập hợp các khả năng lựa chọn Theo Halliday (1994), ngôn ngữ là một thực thể bao gồm bốn tầng : Ngồn cảnh (các phạm trù của tình huống xã hội) ngữ nghĩa học (các

hệ thống tạo nghĩa), ngữ pháp - từ vựng (các hộ thống tạo từ vựng), và âm vị học (các hệ thông tạo âm) Ngôn ngữ gắn kết ngữ nghĩa với cách biểu đạt và ngữ nghĩa giao diện trực tiếp với yếu tô ngoài ngôn ngữ tức là đòi sống xã hội Điều này có nghĩa là tầng ngữ nghĩa biểu hiện nội dung kinh nghiệm của thế giới bên ngoài Còn cách thức biểu đạt lại giao diện với những quá trình vật chất như cơ chế tạo âm trong một ngôn ngữ Tuy tầng ngữ pháp-từ vựng không giao diện trực tiếp với mặt xã hội,

mà lại giao diện trực tiếp với tầng ngữ nghĩa, song tầng bậc này lại được hình thành

về mặt lịch sử qua quá trình hình thành phát triển và thay đổi của mặt kí hiệu của ngôn ngữ, và quá trình này làm cho tầng bậc ngữ pháp-từ vựng mang tính chất xã hội Nói một cách cụ thể hơn, tầng bậc ngữ pháp từ vựng được hình thành trên căn

cứ chức năng xã hội mà nó đảm nhận Theo Halliday (1985), đó chính là ba siêu chức nâng của ngôn ngữ Thứ nhất là chức năng tư tưởng/phán ánh

{ideation/representation) hay dựng lại thế giới bên ngoài Chức năng thứ hai là chức

năng liên nhân (interpersonal) thể hiện các mối quan hệ và các vai xã hội giữa

những thành viên của cộng đổng ngôn ngữ Chức nâng thứ ba chính là chức năng tạo

Trang 34

văn bản, và đây chính là một dạng của thực tiễn sản xuất theo ý nghĩa triết học của

từ này Để đảm nhận vai trò là công cụ giao tiếp, hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ cũng được hình thành với ba mạng lưới tương ứng với ba siêu chức năng kể trên: hệ thống chuyển tác (transitivity) tương ứng với chức nàng biểu hiện; hệ thống tình thái

và thức (mood, modality) tương ứng với chức năng liên nhân; và thông tin qua cấu trúc đề/thuyết (theme/rheme), nội dung cho trước và thông tin mới (given/new) có

vai trò tổ chức mệnh đề theo lí thuyết của Halliday và suy cho cùng là diễn ngôn CDA sử dụng lí thuyết ngữ pháp chức nâng hệ thống là do SFG nhìn nhận ngôn ngữ như một nguồn lực tạo nghĩa, và việc sử dụng ngôn ngữ là sự lựa chọn các nguồn lực Do vậy, văn bản (tức mặt kí hiệu của diễn ngôn) chỉ là sự thể hiện các quyết định lựa chọn nguồn lực mà thôi Và để thể hiện các mối quan hệ xã hội, hay quyền thế khác trong xã hội người ta có thể tạo ra các diễn ngôn/ văn bản khác nhau thông qua các quyết định lựa chọn khác nhau Các thực tiễn xã hội khác nhau sẽ tạo ra các vãn bản khác nhau Thực tế cho ihấy có thê có sự khác biệt giữa các thực tiễn xã hội khác Iìhau và ngay trong bản thân một thực tiễn xã hội SFG có khả nàng ứng dụng cao đối với CDA là đo SFG đã quan lâm đến cả hai sự khác biệt kể trên Các khác

biệt giữa các tập quán xã hội được nói đến qua khái niệm ngữ vực (register) với ba

biến là trường diễn ngôn; ý chỉ diễn ngôn và cách thức diễn ngôn Các giá trị của ba hiến này có được qua sự lựa chọn nguồn lực ngữ nghĩa của ngôn ngữ, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh xã hội Sự khác biệt trong nội bộ tập quán xã hội được SFG xử lí qua khái niệm thể loại (genre) Người nói có thể lựa chọn thể loại để thể hiện thông điệp mà mình muốn chuyển đến cho người nghe/đọc Với tư cách là nguồn lực ngữ nghĩa, ngôn ngữ có thể mang lại cho người sử dụng sự lựa chọn về từ vựng, ngữ pháp, và cách thức tổ chức diễn ngôn

Những phân tích trên cho thấy khả nâng ứng dụng các nguyên lí của CDA và

lí thuyết ngữ pháp chức năng hộ thống để phân tích ngôn ngữ trong diễn ngôn Hiến Pháp Việt Nam 1992 và Hiến Pháp Hoa Kì Việc phân tích theo CDA sẽ làm bộc lộ thái độ của người viết/ bên phát đối với thực tiễn xã hội và đối với người nghe/ bên nhận, ứng dụng các nguyên tắc của SFG là vận dụng ngữ pháp của các lựa chọn ngữ nghĩa thê hiện ba chức năng của ngôn ngữ là thể hiện tư tưởng, mối quan hệ giữa

Trang 35

các tham thể qua hệ thống tinh thái và thức, và chức năng tạo văn bản qua sự tổ chức nội dung các phát ngôn.

+ Các đường hướng và phương pháp phán tích diễn ngôn phê phán chính:

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã phát triển một số phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán Trong số các nhà nghién cứu có nhiều đóng góp về mặt phương pháp luận

phải kể đến năm xu hướng VỚI đại diện là S.Jager, VanDijk, Wodak, Fairclough và

Scollon Wodak là đại diện cho đường hướng phán tích diễn ngôn lịch sư Fairclough đại diện cho cách tiếp cận chức năng - hệ thống của Halliday; Van Dijk thuộc về đường hướng xã hội học vi mô và Jager thuộc trường phái Duisburg của Đức dựa trên

lí thuyết hoạt động của Leontjev Do mục tiêu của luận án, chúng tôi đi sâu tìm hiểu

đường lối phân tích diễn ngôn phê phán chức năng hệ thống và lấy đó là cơ sở lí luận

cho các phần phân tích tiếp theo của công trình này Trong quá trình làm việc chúng tôi cũng tham khảo đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán tích hợp - thực chất

là sự tích hợp có chọn lọc tư tưởng của các nhà nghiên cứu tiền bối

Đường hướng phân tích diẻn ngôn phê p h án chức năng hệ thông dựa trên nền tảng ngữ pháp học chức năng hộ thống của Halliday Tính kí hiệu của diễn ngồn

là một mặt được đường hướng này quan tâm Các nhà ngôn ngữ học theo đường hướng này đã xây dựng một khung phân tích cho CDA Theo đó, trước hết cần phải

xác định được : a Các vấn đề quyền lực xã hội; b Tìm hiểu hoàn cảnh về vấn đề, bao

gốm các thông tin lịch sử, xã hội về vấn đề, hiện trạng, vai trò chức năng của vấn đề trong xã hội; c Phân tích diễn ngôn theo ba bước mà Fairclough đề nghị: Bước 1

Miêu tá (description) cấu trúc diễn ngôn, ngôn ngữ sử dạng (mặt kí hiệu), quá trình tương tác; Bước 2 Hiểu (interpretation); Bước 3 Giải thích (explanation); d Đánh

giá hay phản hồi công việc phân tích CDA CDA thường được bắt nguồn với một nhận thức về một vấn đề xã hội có liên quan tới diễn ngôn Các vấn đề có xảy ra trong hoạt động của một thực tiễn xã hội nào đó, hay là trong sự kiến tạo lại thực tiễn xã hội đó Các vấn đề liên quan tới hoạt động của thực tiễn có thể liên quan tới

chức năng tư tưởng (ideation), liên nhân (interpersonal) hay tạo văn bản (textual)

Quá trình tìm hiểu hoàn cảnh của vấn đề đòi hỏi cách tiếp cận lịch sử, sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan cũng như việc xác định mối quan hệ giữa vấn đề phân tích

Trang 36

với các vấn đề khác Phân tích diễn ngôn về thực chất là sự phân tích việc lựa chọn

và sư dụng ngôn từ, siêu cấu trúc diễn Iìgỏn cũng như phương thức tương tác được

thực hiện Thao tác miêu tả bao gồm việc trả lời mười câu hỏi sau đây thuộc về ba

phạm trù: Từ vựng, ngữ pháp và cấu trúc văn bản:

a T ừ vựng: a Từ ngữ có giá trị kinh nghiệm (experiential values) Các mô

hình phân loại nào được sử dụng? Các từ ngữ có nội dung hệ tư tướng tương phản

nhau? Có việc diễn đạt lại hay sử dụng quá nhiều từ ngữ nào đó hay không? Có mối

quan hệ ngữ nghĩa mang giá trị tư tưởng hay không (đồng nghĩa, trái nghĩa, bao

hàm)? b Từ có giá trị quan hệ gì? Có các biểu thức mĩ từ hay không? Có sử dụng từ

ngữ thuộc về các văn phong khác nhau hay không? c Từ ngữ có giá trị biểu cảm gì?

d Các ẩn dụ được sử dụng ?

b Niiũ pháp: e Các hiện tượng ngữ pháp sử dụng có giá trị kinh nghiệm gì?

Loại quá trình và tham thể nào là chủ yếu? Yếu tô tác nhân có rõ ràng không? Có

sử dụng các hiện tượng như danh hoá, bị động/ chu động câu phủ định/khẳng định

không? f Các hiện tượng ngữ pháp trong diễn ngôn có giá trị quan hệ gì? Các kiểu

phát ngôn nào được sử dụng ? (trần thuật, mệnh lệnh, hùng biện); Có tình thái quan hệ

không? Các đại từ như “chúng ta - we”, và các “bạn/anh - you” có được sử dụng

không? Nếu có thì như thế nào? g Các hiện tượng ngữ pháp có giá trị quan hệ gì ?

Có hiện tượng tình thái biểu cảm hay không? h Các câu/ mệnh đề được liên kết như

thế nào? Các liên ngữ ỉôgic nào được sử dụng? Các câu kết hợp (composite) theo

quan hệ đẳng lập hay chính phụ? Các phương tiện nào được sử dụng để quy chiếu

trong và ngoài văn bản?

c C áu trú c diẻn ngôn: i Các quy ước giao tiếp nào được sử dụng? k Diễn

ngôn có cấu trúc vi mô gì?

Đường hướng phân tích diẻn ngôn phê phán tích hợp Nguyễn Hoà [46]

dựa trên sự tích hợp tư tướng về phân tích diễn ngôn phê phán của các tác giả đi

trước và của Halliday, đã đề xuất một mô hình gồm các yếu tố chính như sau:

a Cân cứ tiếp cận Đường hướng này chủ trương dựa trên hai nguyên lí quan trọng của chủ nghĩa Mác, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật

lịch sử

Trang 37

b Hoàn cánh vàn hoá - xã hội Hoàn cảnh vãn hoá xã hội đây là một phạm trù rộng lớn hao trùm lên toàn bộ xã hội Gắn VỚI nó là các quan hệ xã hội, quan hệ quyền lực trong mối quan hệ tương tác biện chứng.

c Ngôn cảnh tình huống Mỗi văn bản là một sự cu thể hoá của thê loại và ngôn cảnh tình huống Mỗi khi diễn ngôn được kiến tạo, thì nó nằm trong mối quan

hệ không gian, thời gian rất cụ thể, với sự tương tác của tất cả các biến của hoàn cảnh văn hoá - xã hội Có thể xem xét ngôn cảnh tình huống qua các phạm trù như thời gian, không gian của sự kiện diễn ngôn, qua trường diễn ngôn, phương thức diễn ngôn và ý chỉ của diễn ngôn, ứng với mỗi kiểu tình huống điển hình ta có một thể loại điển hình

d Phương tiện ngôn ngữ sử dụng: theo mô hình ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday, có thê miêu tả theo sự tương ứng giữa nội dung của diễn ngôn với

chức nâng ý niệm (ideation) qua chuyển tác; tương ứng của mối quan hệ xã hội

giữa người tham gia diễn ngôn với chức năng liên nhân qua phạm trù thức và tình thái; và tương ứng cách thức tạo diễn ngôn, tạo văn bản với cấu trúc đề/ thuyết và liên kết hình thức

e Miêu tả, giải thích và tường giải Đây thực chất là các bước tiến hành phân

tích CDA được Fairclough đề cập trong “Language and P o w e r Quá trình phân tích

CDA cần phải hướng đến cả khía cạnh cấu trúc (tức nguồn lực ngôn ngữ) và chức năng (tức tương tác) Từ góc độ cấu trúc, cần phải quan tâm đến không chí các hệ íhống ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp - ngữ nghĩa, mà còn cả các thể loại diễn ngôn ứng với một loại hoat động xã hội nhất định (cấu trúc xã hội) Trên phương diện chức năng, cần quan tâm cách thức diễn ngôn đã sử dụng các nguồn ỉực ngôn ngữ, thê loại như thế nào trong việc thể hiện và thực thi quan hệ xã hội

I.2.3.5 ứng dụng phân tích diễn ngôn phé phán vào phân tích ván bản Hiến pháp

Pháp luật là biểu hiện tập trung nhất của chính trị và Hiến pháp xét ở khía cạnh nàv thực chất là bản cương lĩnh chính trị của bên nắm quyền lực trong xã hội

Sự ra đời của văn bản này đánh dấu một giai đoạn phát triển mới trong thực tiễn xã hội, nhận thức lại các vấn đề xã hội, kiến tạo lại thực tiễn xã hội Xét từ quan điểm

Trang 38

của CDA, các vấn đề liên quan tới hoạt động thực tiễn có thể liên quan tới chức năng tư tường, liên nhân hay tạo ra vãn bản Cụ thể, Hiến pháp là bản tuyên ngôn những tư tướng mới, đường lối, chính sách mới về xây dựng thể chế Nhà nước, về quan hệ giữa bên nắm quyền lực và bên chịu sự điều chính của quyền lực, giữa Nhà nước và công dân , nhằm kiến tạo lại thực tiễn xã hội Trong hệ thống pháp luật, hiến pháp là luật gốc - là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lí cao nhất và là văn bản điển hình cúa thể loại diễn ngôn pháp luật Trong diễn ngôn hiến pháp vai giao tiếp của bên phát và bên nhận rất đặc biệt - thể hiện sự bất bình đẳng về quyền lực rất lớn và khác với các tiểu loại diễn ngôn pháp luật khác Sự bất bình đẳng này quy định cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc vãn bản hay nói cách khác là mặt kí hiệu của diễn ngôn Vì vậy chúng tôi áp dụng các nguyên tắc của phân tích diễn ngôn phê phán - mà cụ thể là đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán tích hợp để nghiên cứu sự hiện thực hoá quyền lực trong hai văn bản cụ thể : Hiến pháp Việt Nam 1992 và Hiến pháp Hoa Kì Theo mô hình này, trước hết yếu tố ngữ cảnh tình huống sẽ được xem xét, phân tích Diễn ngôn Hiến pháp Hoa Kì và diễn ngốn Hiến pháp Việt Nam 1992 được kiến tạo trong mối quan

hệ không gian, thời gian cụ thể đặc thù, có sự tương tác với tất cả các biến của hoàn cảnh văn hoá - xã hội Luận án sẽ tập trung miêu tả sự tương ứng giữa nội dung diễn ngôn với chức năng tư tưởng, ý niệm (ideation), sự tương ứng giữa mối quan hệ xã hội giữa người tham gia diễn ngôn với chức năng liên nhân qua phạm trù tình thái,

và sự tương ứng giữa cách thức tạo diễn ngôn, tạo văn bản với cấu trúc đề/thuyết và liên kết hình thức Từ phương diện chức năng, công trình sẽ miêu tả, giải thích cách thức diễn ngôn sử dụng các nguồn lực ngôn ngữ để thể hiện và thực thi các quan hệ

xã hội Cụ thể, ứng dụng các thao tác của phân tích diễn ngôn phê phán, chúng tôi

sẽ phán tích việc lựa chọn và sử dụng ngôn từ thể hiện các siêu chức nâng ngôn ngữ : tư tưởng, liên nhân và tạo văn bản trong Hiến pháp Việt Nam 1992 (Chương2), trong Hiến pháp Hoa Kì (Chương 3) Các kết quả phân tích ở các chương 2 và 3

sẽ là cơ sở để chúng tôi đưa ra những kiến nghị về vấn đề dịch thuật vàn bản Hiến pháp Hoa Kì từ tiếng Anh sang tiếng Việt Đây là một xu hướng mới trong phân tích diễn ngôn

Trang 39

PHẢN TÍC H NGÔN NGỮ TRONG DIỄN NGÔN H IÊN PH ÁP V IỆ T NAM 1992

2 1 TÌNH HUỐNG DIỄN NGÔN CỦA HIẾN PHÁP VIỆT NAM 1992

Văn bản Hiến pháp 1992 là bản Hiến pháp thứ 4 của nước ta Mỗi bản Hiến pháp đánh dấu một thời kì hay một giai đoạn cách mạng, củng cô về mặt pháp lí những thắng lợi đã đạt được và bảo đảm phát huy những thắng lợi đó trong giai đoạn phát triển mới của đất nước Hiến pháp năm 1946 ra đời ngay sau cách mạng tháng Tám 1945, có nhiệm vụ củng cố nền độc lập mà nhân dân ta vừa giành được Đây là vàn bán ngàn nhất trong bốn bản Hiến pháp Hiến pháp 1946 chỉ có 7 chương bao gồm 70 điều Hiến pháp năm 1959 ban hành sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đề ra nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam Văn bản gồm 112 điều trong 10 chương Hiến pháp 1980 là Hiến pháp thống nhất đất nước, xàv dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước Về mặt văn bản, Hiến pháp 1980 dài hơn cả, bao gồm 147 điều trong 12 chương Hiến pháp 1992 xuất hiện trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, củng cố những thành tựu bước đầu trong công cuộc đổi mới kinh tế, chính trị, văn hóa từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam, định rõ nhiệm vụ cho những năm tiếp theo Hiến pháp năm 1992 được thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992 Văn bản này gồm 147 điều trong 1 2 chương

Trong giai đoạn từ 15/4/1992 đến 25/12/2001 bản Hiến pháp nãm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam đã có những tác động tích cực trong đời sống xã hội của đất nước trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc Giai đoạn khởi xướng của nền kinh tế thị trường, giai đoạn đổi mới hệ thống chính trị theo hướng phục vụ và phù hợp với sự ra đời và phát triển của cơ chế thị trường Đó cũng là giai đoạn của những thách thức đối với toàn bộ hệ thống bộ máy Nhà nước trước nhu cầu hội nhập

và hợp tác kinh tế và kéo theo sự hội nhập về vãn hoá, xã hội và tư duy chính trị Tuy nhiên, sau một thập kỉ, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội có những thay đổi

C H Ư Ơ N G 2

Trang 40

nhất định đòi hỏi Hiến pháp phải được bổ sung, sửa đổi nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Ngày 25/12/2001 Quốc hội khoá X đã thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 Trong 12 chương Hiến pháp 1992 chỉ có 4 chương (IV, IX, XI, XII) là được hoàn toàn giữ nguyên, còn lại từ lời nói đầu tới các chương khác đều có sửa đổi, bổ sung (24 vấn đề) Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 là một bước hoàn thiện chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, củng cố việc tổ chức, phân công

và phối hợp các nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vì mục tiêu dân chủ, văn minh, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá của thế kỉ XXI Hiến pháp 1992 đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lịch

sử lập hiến Việt Nam “Đây là bản Hiến pháp kế thừa có chắt lọc những tinh hoa của các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, đồng thời là bản Hiến pháp vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta Hiến pháp 1992 là tấm gương phản chiếu những đổi mói trong tư tưởng lập hiến và lập pháp của con người Việt Nam Đó là bản Hiến pháp thể hiện sự độc lập và lự chủ trên tiến trình phát triển của nền triết học pháp quyền Việt Nam, một nền triết học pháp quyền thể hiện bản sắc dân tộc, đồng thời thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn với tính quốc tế và hiện đại trên cơ sở phát huy những tinh hoa của nền văn hoá pháp lí Việt Nam và sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá pháp lí thế giới” [79] v ề mặt ngôn ngữ và văn bản, Hiến pháp Việt Nam năm 1992, bản sửa đổi năm 2001 (từ đây gọi ngắn gọn là Hiến pháp Việt Nam 1992 tạm viết tắt là HPVN) thể hiện trình độ lập hiến tiên tiến, kĩ thuật lập pháp hiện đại Văn bản có kết cấu chật chẽ, ngắn gọn Toàn bộ văn bản Hiến pháp Việt Nam 1992 gồm lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương Nội dung văn bản được thể hiện trong 322 câu, gồm 13 198 hình vị Ngôn ngữ trong văn bản là tiếng Việt hiện đại, tiếng Việt cuối thế kỷ XX và đầu thế ki XXI Mọi nguồn lực ngôn ngữ được sứ dụng nhằm thể hiện các chức năng tư tưởng, liên nhân và văn

Ngày đăng: 28/03/2020, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w