1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đa dạng sinh học, các chức năng chính và một số nhân tố tác động lên hệ sinh thái đất ngập nước khu vực bàu sấu (vườn quốc gia cát tiên) luận án TS sinh học 62 42 60 01

190 148 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 35,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp phần làm rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của HST ĐNN Bàu Sấu, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu "Đa dạng sinh học, các chức năng chính và một sỏ nhân tô tác động lên hệ sinh th

Trang 1

IN ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứu 4

IV Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN c ứ u 4

CHƯƠNG ì TỔNG QUAN 5

1.1 TỔNG QUAN ĐẤT NGẬP NƯỚC 5

1.1.1 Khoa học đất ngập nước (sinh thái học đất ngập nước) 5

1.1.2 Khái niệm về đất ngập nước 6

1.1.3 Định nghĩa về đất ngập nước 8

Ì Ì 4 Phân loại đất ngập nước 9

1.1.5 Thúy văn đất ngập nước l i

1.1.6 Cấu trúc thành phần sinh học hệ sinh thái đất ngập nước nội địa 13

1.1.7 Chức năng của hệ sinh thái đất ngập nước 15

1.1.8 V a i trò và giá trị của đất ngập nước 17

1.2 QUẢN LÝ VÀ BẢO TÔN ĐẤT NGẬP NƯỚC 18

1.2.1 Bảo tổn đất ngập nước 18

1.2.2 Quan điểm chung về quản lý đất ngập nước 19

1.2.3 Quản lý, bảo tổn hệ sinh thái đất ngập nước theo cách tiếp cận hệ sinh thái 20

1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN cửu VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC CÓ LIÊN QUAN 22

1.3.1 Những công trình nghiên cứu trên thế giới 22

1.3.3 Những công trình nghiên cứu trong khu vực Đồng Nai và Cát Tiên 27

1.3.4 Những vấn đề tổn tại 28

CHƯƠNG H Đ Ị A Đ I Ể M , T H Ờ I G I A N VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 30

2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN c ứ u 30

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 30

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 30

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIỀN cứu 33

2.2.1 Phương pháp tiếp cận 33

Trang 2

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 3.1

CHƯƠNG 3 K Ế T Q U Ả NGHIÊN cứu VÀ BÀN L U Ậ N 44

3.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM T ự NHIÊN C Ủ A V Q G CÁT TIÊN 44

3.2 ĐẶC ĐIỂM C H U N G C Ủ A HỆ SINH THÁI ĐẤT N G Ậ P NƯỚC BÀU SẤU 48

3.2.1 Địa hình và diện tích 48

3.2.2 Phân loại đất ngập nước Bàu Sấu 59

3.3 ĐẶC ĐIỂM THÚY VĂN C Ủ A KHU v ự c ĐẤT NGẬP NƯỚC BÀU SẤU 61

3.3.1 Lượng mưa 62

3 3.2 Mực nước 63

3.3.3 V ậ n tốc dòng chảy và lưu lượng nước 73

3.3.4 M ố i quan hệ giữa phân bố của thảm thực vật và chế độ thúy vãn 74

3.4 ĐẶC ĐIỂM ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC BÀU SẤU 80

3.4.1 Sinh vật sản xuất 80

3.4.2 Sinh vật tiêu thụ 82

3.5 CHỨC NĂNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA KHU v ự c ĐẤT NGẬP NƯỚC BÀU SẤU 93

3.5.1 Chức năng điều chỉnh (Regulation functions) 93

3.5.2 Chức năng mang tải (Carrier functions) 95

3.5.3 Chức năng sản suất (Production functions) 97

3.5.4 Chức năng thông tin (Information functions) 97

3.6 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 98

3.6 Ì Khái quát tình hình kinh tế - xã hội một số xã vùng đệm 98

3.6.2 Tình hình kinh tế - xã h ộ i xã Dãk Lua l o i

3.6.3 Đánh giá chung 102

3.6.4 Hiện trạng khai thác tài nguyên đất ngập nước 104

3.6.5 Tinh hình vi phạm lâm luật 105

3.7 QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN KHU v ự c ĐẤT NGẬP NƯỚC BÀU SẤU 107

3.7.1 Những thách thức 107

3 7 2 Thuận lợi 109

3.7.3 M ụ c đích quản lý hệ sinh thái đất ngập nước Bàu Sấu 110

3.7.4 Đ ề xuất một số biện pháp quản lý dựa trên cách tiếp cận hệ sinh thái 110

Trang 3

DANH L Ụ C CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Diện tích và chu vi một số bàu 51 Bàng 3.2 Số ngày nước chảy ngược hoặc ngập bằng suối Dăk Lua (năm 2000) 63

Bảng 3.3 Thành phần loài thực vật nổi khu vực Bàu Sấu 80

Bảng 3.4 Thành phần động vật nổi khu vực Bàu Sấu 82

Bảng 3.5 Thành phần động vật đáy khu vực Bàu Sấu (2000-2001) 83

Bảng 3.6 Thành phẩn cá khu vực Bàu Sấu so với V Q G C T - Sông Đổng Nai 84

Bảng 3.7 Thành phần lưỡng cư khu vực Bàu Sấu so với V Q G C T 84

Bảng 3.8 Thành phần bò sát khu vực Bàu Sấu so với V Q G C T 85

Bảng 3.9 Thành phần chim khu vực Bàu Sấu so với V Q G Cát Tiên 86

Bảng 3.10 Thành phần thú khu vực Bàu Sấu so với V Q G Cát Tiên 87

Bảng 3.11 Thành phần sinh vật ờ một số K B T ĐN N nội địa 88

Bảng 3.12 Số lượng khách đến tham quan V Q G Cát Tiên từ 1999 - 2003 96

Bảng 3.13 Số liệu về các cộng đồng dân cư trong V Q G Cát Tiên 99

Bảng 3.14 Diện tích và dân số xã Dãk Lua 102 Bảng 3.15 Lượng củi tiêu thụ tại một số ấp giáp ranh năm 2000 104

Bảng 3.16 Số vụ vi phạm lâm luật tại V Q G Cát Tiên và khu vực Bàu Sấu 106

Trang 4

DANH L Ụ C CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đổ lý thuyết về thúy vãn và chu chuyển vật chất và năng lượng 12

Hình 1.2 M ố i tương tác giữa các quá trình, cấu trúc và chức năng của Đ N N 16

Hình 2.2 V ị trí khu vực Bàu Sấu trong Vườn Quốc gia Cát Tiên 32

Hình 2.4 Thước đo mực nước 37 Hình 2.5 Dụng cụ đo vận tốc dòng chảy (lun tốc) 37

Hình 2.6 VỊ trí các điểm quan trắc 39

Hình 2.7 Dụng cụ khảo sát thực vật (quadrat) 40

Hình 2.8 Sơ đồ khảo sát thực vật theo độ cao 41

Hình 2.9 Máy trắc địa 42 Hình 3.1 H ệ thống các điểm ĐNN tại khu vực Bàu Sấu 49

Hình 3.2 Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực Bàu Sấu 50

Hình 3.3 Điểm suối Cựa Gà - đầu nguồn suối Dãk Lua 51

Hình 3.4 Cảnh quan Bàu Sấu 52 Hình 3.5 Cảnh quan Bàu Sen 53 Hình 3.6 Cảnh quan Bàu Tròn 54

Hình 3.7 Cảnh quan Bàu Cá 54 Hình 3.8 Cảnh quan Bàu Chim 56

Hình 3.9 Cảnh quan Bàu C4 57 Hình 3.10 Cảnh quan Bàu Ngang 57

Hình 3.11 Cảnh quan Bàu Thái 58

Hình 3.12 Cảnh quan Suối Dãk Lua 59

Hình 3.13 Tổng lượng mưa trung bình năm 2000 tại khu vực Cát Tiên 63

Hình 3.14 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Sấu năm 2000 64

Hình 3.15 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Chim năm 2000 65

Hình 3.16 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Sen Nh ỏ năm 2000 66

Hình 3.17 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Tròn năm 2000 66

Trang 5

Hình 3.18 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Góc năm 2000 67

Hình 3.19 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Cá năm 2000 68

Hình 3.20 Mực nước trung bình tháng tại Bàu C4 năm 2000 69

Hình 3.21 Mực nước trung bình tháng tại Bàu Ngang năm 2000 69

Hình 3.22 Mực nước trung bình tháng tại điểm Ì suối Dăk Lua năm 2000 70

Hình 3.23 Mực nước trung bình tháng tại điểm 2 suối Dăk Lua năm 2000 7 ỉ

Hình 3.24 Mực nước trung bình tháng tại Suối Cựa Gà năm 2000 72

Hình 3.25 Mực nước trung bình tháng tại trạm Tà Lài năm 2000 72

Hình 3.26 Lưu lượng nước trung bình tháng tại Tà Lài (2000) 74

Hình 3.27 Cấu trúc thành phần loài thực vật Bàu Sấu ở mức 2m so với mặt nước 75

Hình 3.28 Cấu trúc thành phần loài thực vật Bàu Sấu ở mức Im so với mặt nước 76

Hình 3.29 Cấu trúc thành phần loài thực vặt ngập nước tại Bàu Sấu 77

Hình 3.30 Phân bố của thực vật theo mực nước/độ cao tại Bàu Sấu 78

Hình 3.31 Tỷ l ệ chim nước so với tổng số loài chim tại khu vực Bàu Sấu 86

Hình 3.32 Tỷ lệ các loài thú liên quan chặt chẽ đến Đ N N so với tổng số loài 87

Hình 3.33 ĐDSH một số K B T ĐN N nội địa so với K V Bàu Sấu 89

Hình 3.34 Sinh cảnh bàu nước ngọt (C4) 90 Hình 3.35 Sinh cảnh suối (Dãk Lua) 91 Hình 3.36 Sinh cảnh đầm lầy/ đổng cỏ 92 Hình 3.37 Sinh cảnh đầm lầy cây gỗ 93 Hình 3.38 cổ rắn làm tổ tập đoàn (trái) và tổ xít (phải) tại khu vực Bàu Sấu 95

Hình 3.39 Số vụ vi phạm lâm luật tại Bàu Sấu so với V Q G Cát Tiên 106

Hình 3.40 Khai thác tài nguyên trái phép tại Bàu C4 108

Hình 3.41 Xâm lấn của tráp (trái) và trinh nữ đầm lầy (phải) 109

Trang 6

CÁC C H Ữ VIẾT T Ắ T

C H X H C N Cộng hoa Xã hội Chủ nghĩa

CITES Công ước Quốc tế về Ki ể m soát buôn bán động, thực vật hoang dã

HST ĐNN H ệ sinh thái đất ngập nước

I U C N Tổ chức quốc tế về bảo tổn thiên nhiên

JICA Tổ chức Phát triển Quốc tế Nhật bản

KÉT Khu bảo tổn

K H & C N Khoa học và Công nghệ

K T - X H Kinh t ế - x ã hội

K V Khu vực

M A B Uy Ban Con người và Sinh quyển

N N & P T N T Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

N X B Nhà xuất bản

R A M S A R Công ước quốc tế về các vùng ĐN N quan trọng như là nơi sống của

các loài chim di cư

R N M Rừng ngập mặn

TB Trung bình

V Q G Vườn Quốc gia

U N E S C O Tổ chức Văn hoa, Giáo dục, Khoa học Liên hiệp quốc

W M O Tổ chức Khí tượng Thúy văn T h ế giới

W W F Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên

Trang 7

MỞ ĐẦU

I LÝ D O C H Ọ N Đ Ể TÀI

Đất ngập nước (ĐNN) có mặt khắp mọi nơi trên thế giới, từ vùng ẩm nhiệt đới đến các vùng ôn đới và chiếm một diện tích khoảng 6% bề mặt của Trái Đất, nghĩa là

8 6 triệu lon2 (Mitsch và cs, 1993) [136] Tuy vậy, ĐNN vẫn đang còn nhiều điều bí

ẩn đối với các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý V i ệ c xác định một cách chuẩn xác về ĐNN là rất khó không chỉ bởi sự phân bố địa lý rộng lớn mà các điều kiện thúy văn cũng rất khác nhau ĐNN bao gồm các thuộc tính của cả HST trên cạn

và dưới nước, nhưng không phải là các HST này Vì vậy, khảo sát về ĐN N đòi hỏi cách tiếp cận hệ thống và đa ngành

Dù định nghĩa thế nào đi chăng nữa thì nước - chế độ thúy văn vẫn là yếu tố tự nhiên quyết định và đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định, duy trì và quản

lý các vùng ĐNN, đặc biệt là các vùng ĐN N nước ngọt nội địa

Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với đời sổng của các cộng đổng dân

cư Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thúy vực nước ngọt nội địa (Dugan, 1990) [103] Đất ngập nước còn

là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí hiếm

ở Việt Nam, ĐNN rất đa dạng với diện tích xấp xỉ 5.810.000 ha, chiếm khoảng 8% toàn bộ các vùng ĐNN của Châu Á (Lê Diên Dực, 1989a, 198%) [18, 127], Scott, 1989) [152]) Trong đó ĐN N nước ngọt chiếm khoảng 10% diện tích của các vùng ĐN N toàn quốc Trong số các vùng ĐN N của Việt Nam thì 68 vùng (khoảng 341.833 ha) là có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trường thuộc nhiều loại hình ĐN N khác nhau, phân bố khắp trong cả nước (Bộ Khoa học, Công nghệ và M ố i trường, 2001) [3]

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, ĐN N đang bị giảm diện tích và suy thoái ở mức độ nghiêm trọng

Ì

Trang 8

Năm 1989, Việt Nam đã tham gia công ước quốc tế Ramsar về bảo tổn ĐNN như

là nơi sống quan trọng của các loài chim nước Thêm vào đó, Việt Nam cũng đã có những cố gắng trong công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tổn ĐNN như: "Chương trình bảo tổn đất ngập nước quốc gia"; Nghị định 109/2003/NĐ-CP [9] về bảo tổn và phát triển bền vững các vùng ĐNN; "Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tổn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010" (số 192/2003/QĐ-TTg) [10], v.v

Tuy nhiên, bên cạnh những chương trinh và văn bản có tính chất vĩ mô nói trên, những nghiên cứu kỹ về ĐDSH, chức năng cũng như lợi ích của các HST ĐN N nội địa vẫn chưa được tiến hành một cách chi tiết và có hệ thống Những ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên cũng như các nhân tố kinh tế - xã hội đến các vùng ĐN N nói chung, đến HST ĐNN Bàu Sấu nói riêng vẫn chưa được tìm hiểu và nghiên cứu

ĐNN của Vườn Quốc gia Cát Tiên, với diện tích khoảng 3000 ha, là một hệ

sinh thái ĐNN nội địa ven sông rất độc đáo và đặc trưng của vùng rừng đất thấp miền Đông Nam Bộ Khu vực ĐN N này là sinh cảnh quan trọng của những loài

động vật quí hiếm của Việt Nam cũng như của thế giới như: cá sấu Xiêm

(Crocodylus siamensis), ngan cánh trắng (Cairina scutulata), bò tót {Bos gaurus) và

một số loài khác Bên cạnh đó, các chức năng của khu ĐN N này cũng rất quan trọng đối với lưu vực sông Đồng Nai, đặc biệt là trong việc kiểm soát lũ lụt

Một số nghiên cứu trước đây mới tập trung vào khảo sát sơ bộ thảm thực vật hoặc động vật của V Q G Cát Tiên mà chưa chú ý nhiều đến HST ĐN N Bàu Sấu Đặc biệt chưa có những nghiên cứu có tính chất hệ thống về cấu trúc thành phần của ĐDSH, các chức năng chính cũng như các tác động của tự nhiên và các nhàn tố

K T - X H lên HST này, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý và bảo tồn M ộ t trong những yếu tố quan trọng của vùng ĐN N là c h ế độ thúy vãn hầu như chưa được

đề cập

Nhằm góp phần làm rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của HST ĐNN Bàu Sấu,

chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu "Đa dạng sinh học, các chức năng chính và một

sỏ nhân tô tác động lên hệ sinh thái đất ngập nước khu vực Bàu Sấu (Vườn Quốc gia Cát Tiên)"

Trang 9

li MỤC ĐÍCH

Trên cơ sở vận dụng lý thuyết về sinh thái học ĐNN, tiếp cận hệ sinh thái, nhằm đóng góp vào những hiểu biết về ĐNN của Việt Nam cũng như góp phần vào công tác quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững các HST ĐNN, chúng tôi xác định mục tiêu của đề tài là:

- Tim hiểu ĐDSH của HST ĐNN Bàu Sấu (VQG Cát Tiên);

I Xác định các chức năng chính của vùng ĐNN cũng như các tác động cùa

một số nhân tố tự nhiên và K T - X H lên HST ĐNN này;

I Đưa ra những khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý

HST ĐNN Cát Tiên

Nội dung: Như đã trình bày, HST ĐNN là rất phức tạp và phong phú nên khi nghiên

cứu đòi hỏi sự tiếp cận đa ngành cả trên đất liền và thúy vực, cả địa lý, vật lý, hoa học, sinh học, sinh thái học và các ngành kinh tế- xã hội Chính vì thế, chúng tôi không có tham vọng đề cập đến toàn bộ các vấn đề liên quan đến cấu trúc thành phần ĐDSH hoặc cấu trúc chức năng của toàn khu vực ĐNN Bàu Sấu Thêm vào đó, do những khó khăn và hạn chế về thòi gian, kinh phí, địa bàn lại ở xa, đi lại khó khăn cũng như những khó khăn về chuyên môn nên dựa trên cơ sở sinh thái học ĐNN và mục tiêu đã đặt ra, đề tài tập trung chính vào:

Khảo sát và nghiên cứu chế độ thúy văn bao gồm lượng mưa, mực nước mặt lưu lượng, lun tốc dòng chảy và một số chức năng chính của HST ĐNN Bàu Sấu;

Khảo sát và nghiên cứu về cấu trúc thành phần ĐDSH của HST ĐNN Bàu Sấu bao gồm:

+ Sinh vật sản suất (thực vật nổi và thực vật bậc cao liên quan đến ĐNN); + Sinh vật tiêu thụ (động vật nổi, động vật đáy, các nhóm động vật có xương sống: cá, lưỡng cư, bò sát, chim, thú);

+ Một số sinh cảnh điển hình

3

Trang 10

Tim hiểu về các nhân tố tự nhiên và K T - X H của vùng nghiên cứu, đặc biệt là những mối đe doa lên HST ĐNN Bàu Sấu;

Đề xuất các định hướng quản lý và bảo tồn có hiệu quả vùng ĐNN Bàu Sấu theo cách tiếp cận HST

HI ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khu vực ĐNN Bàu Sấu thuộc Nam Cát Tiên của V Q G Cát Tiên với diện tích khoảng 3000 ha

Đề tài tập trung vào các lĩnh vực chính là sinh thái học ĐNN: cấu trúc thành phần đa dạng sinh vật, cấu trúc chức năng, chế độ thúy văn và một số nhân tố tác động lên HST của HST ĐNN Bàu Sấu và đề xuất các định hướng quản lý, bảo tổn theo cách tiếp cận HST

IV Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN C Ủ A Đ Ề TÀI NGHIÊN c ứ u

Đề tài đã tập trung vào nghiên cứu, khảo sát các vấn đề về thúy văn - một trong những yếu tố không thể thiếu của ĐN N mà lâu nay ít được tiến hành một cách có hệ thống trong các nghiên cứu khác tại Việt Nam Đ ề tài cũng đã góp phần hệ thống hoa tính ĐDSH của khu vực, đổng thời đưa ra được những chức năng chính của HST ĐN N Bàu Sấu trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hiện đại theo hướng tiếp cận HST

Đây sẽ là một mô hình nghiên cứu về ĐNN nội địa lun vực sông Đồng Nai đầu tiên của Việt Nam có tính chất hệ thống, tiếp cận với các công trình và m ô hình nghiên cứu hiện đại trên thế giới

Từ phân tích và vận dụng các kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc

đề xuất kế hoạch quản lý bảo tổn và sử dụng bền vững khu vực ĐNN Bàu Sấu có ý nghĩa thực tiễn to lớn giúp cho các nhà quản lý của V Q G Cát Tiên có thể lựa chọn các phương thức phù hợp để quản lý và bảo tổn đạt hiệu quả cao ở khu vực này Hy vọng của đề tài là nếu từ mô hình nghiên cứu, đề xuất được áp dụng trong quản lý và

sử dụng bền vững ĐNN nội địa thì những nội dung tương tự sẽ được triển khai cho các hệ thống sông và một số vùng ĐN N nước ngọt nội địa khác ở Việt Nam

Trang 11

C H Ư Ơ N G L T Ổ N G Q U A N

1.1 TỔNG QUAN ĐẤT NGẬP NƯỚC

1.1.1 Khoa học đất ngập nước (sinh thái học đất ngập nước)

Theo Mitsch & Gosselink (1986, 1993) [135,136], chuyên mồn hoa trong

nghiên cứu ĐNN thường được xem là khoa học ĐNN (Wetland Science) hay sinh

thái học ĐNN (Wetland Ecology), và những người tiến hành các khảo sát về ĐNN

được gọi là các nhà khoa học ĐNN (Wetland Scientists) hay các nhà sinh thái học

ĐNN (Wetland Ecologists) Có rất nhiều các lý do để coi sinh thái học ĐNN như là

một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt Điều này có thể được tóm tắt như sau:

ĐNN có những thuộc tính riêng không có hoặc chưa xác định được ở các mẫu hình sinh thái hiện tại;

Các nghiên cứu về ĐN N đã bắt đầu xác định một số các đặc tính chung của các kiểu ĐNN có vẻ khác nhau về bề ngoài;

Khảo sát về ĐNN đòi hỏi cách tiếp cận đa ngành hoặc đào tạo về nhiều lĩnh vực mà thông thường không được kết hợp

Các chứng cứ ngày càng chứng tỏ rằng với các đạc tính đặc trưng của nước đứng, đất ngậm nước, các điều kiện thiếu ôxy và những điều chính thích nghi của động vật và thực vật, ĐNN có thể có một số nền tảng chung cho những nghiên cứu không phải là sinh thái học trên cạn hay sinh thái học thúy vực ĐN N cung cấp những phép thử (tests) tốt cho các nguyên tắc và lý thuyết sinh thái học "phổ thông" trên các chủ đề như diễn thế và dòng năng lượng thường được phát triển cho các HST trên cạn và HST thúy vực ĐN N cũng cho ta một phòng thí nghiệm tuyệt vời cho các nghiên cứu về các nguyên tắc liên quan đến các đới chuyển tiếp, giao diện (interface) sinh thái và vùng chuyển tiếp (ecotone)

ĐNN là các vùng chuyển tiếp vì chúng là các đới chuyển tiếp giữa các hệ trên cạn và hệ thúy vực Cảnh quan bao gồm nhiều ổ sinh thái (niche) cho phép ĐN N cung cấp những chức năng giá trị như là "nhà" xuất khẩu các chất hữu cơ hay

5

Trang 12

những nơi chứa (sinks) các chất đinh dưỡng vô cơ Vị trí chuyển tiếp thường cũng dẫn đến tính ĐDSH cao của ĐNN vì chúng "mượn" các loài của cả các HST trên cạn

và HST thúy vực, và đổng thời cũng tạo ra một sự riêng biệt được coi như là những HST có năng suất cao nhất trên trái đất

Một SỐ nhà khoa học (Odum, 1978, 1979; Gosselink và Turner, 1978; Keddy, 2000) [40 41, 107, 118] đã bắt đầu xem xét các thuộc tính và chức năng chung hoặc được chia sẻ bởi ĐNN So sánh giữa các loại ĐNN với nhau cho ta thấy tầm quan trọng của dòng thúy văn đối với việc duy trì và năng suất của các HST này Các hoạt động của con người sẽ ảnh hưởng đến các chu trình này ở các kiểu ĐN N như thế nào? Các loài động vật, thực vật điều chỉnh thích ứng với điều kiện sống bắt buộc ở các kiểu ĐNN ra sao?

Vì các điều kiện thúy văn là rất quan trọng trong việc xác định cấu trúc và chức năng của HST ĐNN, nên nghiên cứu về ĐN N cần có đầy đù các kiến thức về thúy học nước mặt và nước ngầm Tương tự như vậy, để tìm hiểu về ĐN N như là nguồn, nơi chứa hoặc là nơi chuyển đổi của các chất hoa học phải sử dụng những kiến thức và các kỹ năng về sinh học và hoa học, v.v H i ể u được sự điều chỉnh thích ứng của các sinh vật ĐN N đ ố i với các điều kiện ngập nước đòi hỏi các kiến thức chuyên môn về hoa sinh học và sinh lý học v.v

1.1.2 Khái niệm về đất ngập nước

Thuật ngữ ĐNN ở Việt Nam hiện đang được dùng theo nghĩa của từ tiếng Anh

" Wetland" Trong một số tài liệu trước đây có dùng các các từ "đất ướt", "đất ẩ m " hoặc "đất trũng" (Lê Huy Bá và cs, 2000; B ộ N N & P T N T , 2004; C H X H C N Việt Nam, 1995; C H X H C N Việt Nam, 2003; Nguyễn Chí Thành v à c s , 1999) [ Ì , 6, 8, 10, 65] cũng được dịch từ danh từ "wetland1'

ĐNN rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền vãn hoa nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng ĐNN ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mạc dù ngày

Trang 13

nay người ta đã nhạn biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng (Dugan, 1990; Keddy, 2000; Misch và Gosselink, 1986&1993) [103, 118, 135, 136]

Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐN N đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hoa nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân huy chậm, và nuôi dưỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hoa nước Misch và Gosselink (1986&1993); Keddy (2000) [135, 136, 118] đã chỉ ra rằng:

ĐNN được phân biệt bởi sự tồn tại của nước;

ĐNN thường có các loại hình đất đặc trưng, khác với khu vực trên cạn ở xung quanh;

ĐNN nuôi dưỡng thảm thực vật thích ứng với điều kiện ẩm ướt (hydrophytes), và ngược lại được xác định bởi sự tồn tại hay vắng mặt của các loài thực vật này

Bên cạnh ba thành tố chính được nêu trên, ĐN N còn có một số đặc điểm phân biệt với các HST khác (Mitsch và Gosselink, 1993; Zinn và Copeland, 1982) [136, 166]:

M ặ c dù nước hiện diện trong một giai đoạn ngắn thì độ sâu và thời gian ngập cũng rất khác nhau ở các loại hình ĐNN;

ĐNN thường là vùng chuyển tiếp giữa vùng nước sâu và vùng đất trên cạn và chịu tác động của cả hai hệ này;

ĐNN có các độ lớn rất khác nhau;

ĐNN phân bố rất rộng, từ vùng nội địa đến các các vùng cửa sông, ven biển, từ vùng nông thôn đến các vùng đô thị;

Các vùng ĐN N ở các vùng khác nhau thì chịu những mức độ tác động không giống nhau của con người

Tuy thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bố cùng với những mục đích sử dụng khác nhau mà người ta định nghĩa về ĐN N rất khác nhau

7

Trang 14

1,1.3 Định nghĩa về đất ngập nước

Trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa về ĐN N khác nhau, hiện đã có trên

50 định nghĩa về ĐNN (Dugan, 1990; Mitsch and Gosselink, 1986 & 1993) [103,

135 136] Nhiều tài liệu ở các nước như Canada, Hoa K ỳ và ú c (Zoltai, 1979) [167], (Anonymous, 1998 - trong Nguyễn Chí Thành và cs, 1999) [65], (33 CFR323.2 (c); 1984) (trong Hoàng Vãn Thắng, 1995) [110], Ưỷ ban ĐNN của Liên Hiệp Quốc ( U N Committee on Characterization of Wetlands, 1995) (trong V ũ Trung Tạng, 2004b) [61] v.v đã định nghĩa về đất ngập nước theo nhiều mức độ và mục đích khác nhau

Định nghĩa về ĐNN của Công ước R A M S A R (Công ước về các vùng ĐNN có

tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước

-Convention on wetland of intranational importance, especially as waterfowl habitat)

có tầm khái quát và bao hàm nhất Theo định nghĩa này, ĐNN là: "Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đọng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ sâu không quá ỏm khỉ thúy triều thấp đểu là các vùng đất ngập nước" (Điều 1.1 Công ước Ramsar, 1971 Trong Davis, 1994) [100]

V ớ i định nghĩa trên, ĐN N bao gồm các địa hình hết sức phong phú và phức tạp, chiếm một phần không nhỏ của lãnh thổ bao gồm các vùng biển nông, ven biển, cửa sông, đầm phá, có thảm thực vật bao phủ hay không, đồng bằng châu thổ, tất cả các con sông, suối, ao, hổ, đầm lầy tự nhiên hay nhân tạo, các vùng nuôi trồng thúy sản, canh tác lúa nước đểu thuộc ĐNN

ở Việt Nam, thuật ngữ "Đất ngập nước" (wetlands) chưa được đề cập tới cho đến tận những năm 1980 (Lê Diên Dực, 1989a) [18] Trước đây, các nghiên cứu thường tập trung vào các "thúy vực" (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2002) [64] Từ những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ X X , nhiều tác giả như Lê Diên Dực (1989a) [18], (Phan Nguyên Hổng, 1997; Nguyễn Chu H ổ i và cs, 1996; Hông et ai., 1993;) [32,

34, 112] đã sử dụng định nghĩa của công ước R A M S A R cho các công trình nghiên cứu về ĐNN ở Việt Nam B ộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài

Trang 15

nguyên và Môi trường), đã sử dụng định nghĩa nêu trên khi tham gia vào Công ước Ramsar (1989) Nghị định 109 của Chính phủ C H X H C N Vi ệ t Nam [9], Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004) cũng đã sử dụng định nghĩa của Công ước Ramsar về ĐNN để áp dụng vào các hoạt động của mình cũng như áp dụng vào Tiêu chuẩn ngành 04TCN67-2004 ĐNN - H ệ thống phân loại (Quyết định số 646/QĐ

B N N - K H C N , ngày 17/3/2004 của Bộ trưởng Bộ N N & P T N T ) [6]

1.1.4 Phân loại đất ngập nước

1.1.4.1 Phân loại đất ngập nước trên thế giới

Từ rất sớm đã có khá nhiều cách xác định ĐNN cho các vùng đất than bùn phía bắc của Châu Âu và Bắc M ỹ Davis (1907 - trong Mitsch và Gosselink, 1986) [135] đã mô tả các bãi lầy Michigan theo ba tiêu chí riêng biệt: (1) dạng đất trên đó

có bãi lầy, ví dụ như các lưu vực sông nông hay châu thổ của các suối; (2) cách thức

mà theo đó bãi lầy được hình thành, chẳng hạn như từ dưới lẽn hay từ bờ trở ra và;

và (3) thảm thực vật bề mặt, ví dụ như cây thông rụng lá hay rêu Các tác giả như Moore và Bellamy (1974) [137] thì lại mô tả bảy loại hình đất than bùn dựa trên các điều kiện dòng chảy

Phân loại ĐNN có thể dựa vào các khu cư trú của các loài chim nước (Hancock, 1984) [109], hoặc theo hướng địa mạo ở một số nước, phân loại ĐN N được tiến hành theo hệ thống thứ bậc (Hoa K ỳ ) Việc phân loại ĐN N theo sinh thái học sẽ giúp cho việc quản lý và bảo tổn được tốt hơn Theo đó, các yếu tố địa mạo, thúy vãn và chất lượng nước sẽ là cơ sở cho việc phân biệt các lớp ĐNN về mạt sinh thái, v.v

Cơ quan Bảo vệ Động vật hoang dã và Cá Hoa K ỳ bắt đầu kiểm kê ĐNN trong các loại ĐNN quốc gia một cách nghiêm ngặt vào năm 1974 (Mitsch and Gosselink,

1986, 1993) [135, 136] Theo cơ quan này, lớp đất ngập nước cụ thể hay nơi cư trú nước sâu mô tả sự xuất hiện nói chung của hệ sinh thái cả dưới dạng thực vật ưu thế

và cả kiểu dạng chất nền K h i độ che phủ của thảm thực vật vượt quá 30% thì lớp thảm thực vật được sử dụng N ế u như chất nền bị che phủ bởi thảm thực vật nhỏ hơn 30% thì khi đó sẽ sử dụng lớp chất nền để phân hạng

9

Trang 16

Vào những năm đấu của thập kỷ 70, Công ước Ramsar (1971) đã phân ĐNN thành

22 loại hình mà không chia thành các hệ và lớp

Trong quá trình thực hiện Cồng ước và thực tiễn áp dụng vào các vùng và các quốc gia khác nhau, sự phân hạng này đã thay đổi Vào năm 1994, Annex 2B của Công ước Ramsar đã chia ĐN N thành 3 nhóm chính đó là: 1) ĐNN ven biển và biển ( l i loại hình); 2) ĐNN nội địa (16 loại hình); và 3) ĐN N nhân tạo (8 loại hình) (Davis, 1994 - Ramsar Convention Bureau) [100] với tổng cộng 35 loại hình Cũng theo Ramsar Convention Bureau (1997a,b - 2n d edition) [150, 151], thì các loại hình ĐNN đã được xem xét lại và chia thành 40 kiểu khác nhau

1.1.4.2 Phân loại đất ngập nước của Việt Nam

Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về phân loại ĐNN của Việt Nam (Bộ K H C N & M T , 2001; Lê Diên Dực, 1989ab; Lê Diên Dực, 1998a; Phan Nguyên Hồng và cs., 1997; V ũ Trung Tạng, 2004ab; Nguyễn Chí Thành và cs, 1999, 2002; Hoàng Văn Thắng và cs, 2002) [3, 18, 23, 127, 32, 60, 61, 65, 66, 71] Các công trình này dựa chủ yếu vào hệ thống phân loại của Công ước Ramsar và chỉ dừng l ạ i

ở mức nêu ra những vùng ĐN N mà chưa hoặc ít đưa ra các yếu tố để "xác định ranh giới" cũng như "phân biệt" giữa các loại hình ĐN N (Nguyễn Chí Thành và cs., 2002) [66] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004) [6] cũng đã đưa ra hệ thống phân loại tiêu chuẩn ngành với 2 hệ thống, 6 hệ thống phụ, 12 lớp, và 69 lớp phụ Tuy nhiên, việc áp dụng hệ thống phân loại này vào công việc quản lý và các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu HST ĐN N là rất khó khăn và phức tạp

H ệ thống phân loại chính thống hiện nay của B ộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2001) [3], trên cơ sở những điểu chỉnh cập nhật của Công ước Ramsar, theo chúng tôi, là phù hợp và dễ áp dụng vào thực tiễn Hơn thế nữa, là một thành viên của Công ước Ramsar, việc áp dụng hệ thống phân loại của công ước này cho quốc gia cũng như cho khu vực đất ngập nước Bàu Sấu là thoa đáng mang tính hội nhập với quốc tế Theo đó, ĐN N V i ệ t Nam được chia thành 39 loại hình hay kiểu (type) khác nhau thuộc hai nhóm chính là: ĐN N tự nhiên và ĐN N nhân tạo Trong hệ

Trang 17

thống này, ĐNN tự nhiên có 30 kiểu ( l i kiểu thuộc ĐNN ven biển; 19 kiểu thuộc ĐNN nội địa) và 9 kiểu thuộc ĐNN nhân tạo

Hệ thống phân loại này dựa vào H ệ thống phân loại các vùng ĐNN (Classification System for "Wetland Type") của Ramsar đã được chấp nhận trong Bản khuyến nghị 4.7 (Recommendation 4.7) và đã được sửa đổi trong Nghị quyết VI.5 của H ộ i nghị Cam kết giữa Các bên Tham gia Nhưng hệ thống phân loại này đã

được lược bỏ một số kiểu ĐNN không có ở Việt Nam (Bảng Ì Ì Phụ lục ì)

1.1.5 Thúy vãn đất ngập nước

Như nhiều vùng ĐNN khác, chế độ ngập nước quyết định đặc điểm của các đầm nội địa (Mitsch & Gosselink, 1993) [136] Mực nước ở các đầm lầy nội địa chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự cân bằng giữa lượng mưa và sự bốc hơi nước, đặc biệt đối với các đầm có lưu vực nhỏ với dòng chảy hạn chế Các nhân tố giới hạn quyết định đặc điểm của các vùng ĐN N này là sự có mặt của nước dư thừa và các nguồn nước khác không phải là từ lượng mưa trực tiếp Ở rất nhiều hồ xảy ra sự khô hạn theo mùa, nhưng các loài thực vật được tìm thấy ở đó cho thấy các điều kiện thúy vãn có gần như quanh năm

Một đầm lầy nói chung còn có các nguồn nước khác ngoài lượng mưa trực tiếp

Sự khác biệt đầu tiên giữa các đầm không có hướng dòng chảy với đầm lầy thấp có hướng dòng chảy là ở dòng nước trực tiếp đổ vào đầm - nguồn dinh dưỡng sơ cấp Một số đầm do các nguồn nước ngầm cung cấp Do đó mực nước phản ánh mức nước ngầm tĩnh tại chỗ (Millar, 1971) [133] Nguyên nhân mất nước do bị ngấm chủ yếu xảy ra ở dải đất ven bờ của vùng ĐNN có liên quan đến dung tích nước M ặ c dù chỉ

có ít hơn 20% nước bị giữ lại ở các vùng ĐN N nước ngọt đi vào nguồn nước ngầm, nhưng thể tích này có thể là một đóng góp quan trọng đối với lưu vực (Weller, 1981) [161] Các đầm lầy khác tập trung thu gom nước bề mặt và các chất dinh dường từ các lưu vực đủ lớn để duy trì các điều kiện thúy học trong phần lớn thời gian Thí

dụ, các hổ khi tràn nước sẽ cung cấp nước cho các đầm k ế bên, và các đầm ven sông được cung cấp nước bởi sự dâng lên và hạ xuống của mực nước ở các sông bên cạnh (Hình 1.1)

li

Trang 18

Lớp bùn bồi lắng dưởi đáy thủy vực

Hình LI Sơ đồ lý thuyết về thúy văn và chu chuyển vật chất và năng lượng

(E: Năng lượng)

Vì tất cả các nguồn nước này phụ thuộc vào lượng mưa, mà lượng mưa lại thay đổi, nên chế độ nước của phần lớn các đầm nội địa cũng thay đổi và chỉ có thể dự đoán dưới dạng thống kê Steward và Kantrud (1971) [156] đã nhấn mạnh tính ổn định của sự ngập nước trong cách phân loại của họ về các đầm lầy đồng cỏ trũng

H ọ phân loại ĐNN thành các dạng: nhanh suy thoái (ephemeral), tạm thời, bán ổn định theo mùa và ổn định Thêm vào đó, họ nhận thấy qua một số năm các đầm lầy

có thể chuyển dạng

Thành phần hoa học của các đầm nội địa được mô tả trong sự tương phản giữa hoa học của các đầm lầy than bùn do nước mưa tạo thành với các vùng Đ N N giàu dinh dưỡng vùng triều (Klopatek, 1978) [122] Các vùng ĐNN nội địa nói chung là giàu khoáng Tuy vậy, chúng không có khả năng nạp được dinh dưỡng cao

Một đặc trưng nữa về mặt cấu trúc của các đầm lầy là chu trình đặc thù từ 5 đến 20 năm qua các thời kỳ khô hạn, suy thoái, tái sinh (Weller và Spatcher, 1965; Van der Valk và Davis, 1978) [160, 158], đặc trưng này có liên quan tới các thời kỳ khô hạn

Trang 19

1.1.6 Câu trúc thành phần sinh học hệ sinh thái đất ngập nước nội địa

1.1.6.1 Sinh vật sản xuất

H ệ thực vật ở các đầm nước ngọt nội địa được nghiên cứu chi tiết trong rất nhiều công trình khác nhau (Kent, 1992; Mitsch and Gosselink, 1993; Keddy, 2000) [119 136, 118] Các loài chiếm ưu thế là khác nhau đối với các đầm ở các vùng khác

nhau Tuy nhiên, nhiều vùng đất ngập nước có các loài chung như Phragmỉtes

communis (sậy), Typha spp (cỏ nến), Zizania aquatica (lúa nổi), Scirpus spp (cỏ

ngạn) và Eỉeocharis spp (năn) Bên cạnh đó, còn có các loài cây một lá mầm rộng lá như Pontederia cordata và Sagiĩtaria (cây mũi mác) hoặc Polygonum spp (cây

nghề) M ộ t trong số những loài sinh sản nhiều nhất trên thế giới là cỏ lác nhiệt đới

Cyperus papyrus (Mitsch and Gosselink, 1986) [135]

Trong các đầm lầy, các loài thực vật điển hình này không xảy ra sự pha trộn ngẫu nhiên M ỗ i loài đều có noi sống thích hợp Các loài khác nhau thường xuất hiện trong các vùng khác nhau theo độ biến thiên ánh sáng, đặc biệt là độ biến thiên của sự ngập nước Các loài cói, lác và các loài cây lá hẹp nói chung thường chiếm lĩnh vùng bờ ngập nước nông của đồng trũng Vùng sâu nhất đ ố i với các thực vật thúy sinh thường có cỏ lõi bấc thân cứng mọc (Mitsch and Gosselink, 1993) [136] Bên cạnh những cây thúy sinh này là thực vật lá nổi trên mạt nước và thực vật chìm,

độ sâu phân bố của nó phụ thuộc vào độ xuyên sâu của ánh sáng

1.1.6.2 Sinh vật tiêu thụ

Giống như các HST ĐN N khác, các đầm nội địa là các HST khử (Mistch and Gosselink, 1986, 1993) [135, 136] Rất tiếc, chúng ta còn hiểu biết rất ít về các sinh vật tiêu thụ sơ cấp ở các vùng ĐNN, kể cả ở các đầm nội địa Chắc hẳn là vai trò của các sinh vật nhỏ bé - chẳng hạn như giun tròn - đ ố i với các đầm tương đ ố i quan trọng hơn so với vai trò của các sinh vật phân huy lớn hơn chúng ở các vùng rừng trên cạn Các loài động vật không xương sống dễ gặp nhất là ruồi, muỗi (Hai cánh - Diptera),

và nhiều loài côn trùng ăn cỏ, đạc biệt là ở giai đoạn trướng thành (Cragg, 1961) [98] Nhưng ở các giai đoạn ấu trùng, rất nhiều côn trùng là sinh vật đáy Thí dụ

13

Trang 20

Weller (1981) [161] đã phát hiện ra ràng ấu trùng muỗi vằn được tìm thấy lẫn trong tầng đất dưới đáy, làm thức ăn cho cá, ếch nhái và chim nước ân mò K h i nhộng trưởng thành nổi lên bề mặt, chúng dễ dàng bị khai thác bởi chim ăn trên mật và cá

Có một số động vật có vú sống ở các đầm nội địa Phẩn lớn các động vật đà được ghi nhặn ở đây là các loài thú móng guốc Các động vật ăn cỏ này sinh sản rất nhanh và quần thể của chúng đạt tới mức độ có thể tàn phá, gây ra những thay đổi lớn về đặc điểm của đầm Cũng giống như các loài thực vật, mỗi loài động vật có vú cũng có nơi sống ưa thích riêng

Các loài chim, đặc biệt là các loài chim nước, cũng rất đa dạng Phần lớn trong

số này là chim ân cỏ hay ăn tạp Chim nước rất phong phú ở tất cả các vùng ĐNN ,

có thể vì sự dổi dào về nguồn thức ăn của đầm và sự đa dạng của các nơi sống thích hợp cho việc làm tổ và nghỉ ngơi của chúng (Weller và Spatcher, 1965) [160] Các loài chim lặn thường chiếm giữ các vũng sâu trong đầm là những nơi có thể có cá hoặc nơi làm tổ M ộ t số loài vịt làm tổ ở vùng xa bờ, k i ế m ăn theo bề mặt giữa đầm

và nước và ở các vũng nông trong đầm Các loài khác (họ Vịt - Anatidae) làm tổ trên mặt nước và bắt cá bằng cách mò Ngỗng và thiên nga cùng với vịt là các loài ăn cỏ lớn trong đầm Các loài chim thuộc bộ Hạc (Ciconiiformes) thường làm tổ tập đoàn ở các vùng ĐNN và bắt cá dọc theo các dòng nước và các vũng nước nông Gà nước sống ở mọi chỗ trong khu vực ĐNN, trong đó có rất nhiều loài là chim sống đơn độc

và rất hiếm khi gặp được chúng Ớ bên trong và xung quanh các đầm cũng có rất nhiều các loài chim hót, chúng thường làm tổ hay đậu ở những vùng cao gần đó và bay đến đầm để kiếm ăn

1.1.6.3 Tính đa dạng sinh học của đất ngập nước

Định nghĩa về ĐDSH được đưa ra ở nhiều mức độ khác nhau K ế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (BAP) (1995) [8] xác định: "ĐDSH là một số lượng những nguồn sống trên hành tinh và bao gồm toàn bộ cây và con Chúng đa dạng và thay đ ổ i

về muôn loài trên thế giới và thay đổi HST mà chúng sống trong đó" Sự sống trên Trái đất phụ thuộc vào tính ĐDSH để duy trì những chức năng sinh thái để điều hòa nguồn nước, khí hậu, sự màu mỡ của đất đai và những nguồn tài nguyên có thể canh

Trang 21

tác Chúng ta phụ thuộc vào các loài tự nhiên để tìm ra những yếu tố hóa học mới có thể dùng làm thuốc và kiểm soát sâu bọ và cải thiện được mùa màng và chăn nuôi

Tuy nhiên, định nghĩa trên chưa đưa ra được những thay đổi có thể có của ĐDSH do tác động của các yếu tố tự nhiên, đặc biệt là những tác động của con người

- thành phần quan trọng trong ĐDSH Vì thế một định nghĩa có tính chất tổng quát hơn được đưa ra như sau: "ĐDSH là sự đa dạng của sự sống trên Trái đất ở các mức

độ khác nhau từ gen cho đến các vùng sinh thái, mối tác động qua lại giữa chúng với nhau, quá trình duy trì chúng, và các tác động của các hoạt động kinh tế, vãn hóa, xã hội của con người" (Primack và cs 1999; Phạm Bình Quyền, 2001) [48, 47]

Các nhà sinh học thường xem xét ĐDSH ở 3 góc độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng HST Từ 3 góc độ này người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở 3 mức độ khác nhau: mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ H S T (Phạm Bình Quyền, 2001; W W F , 2000; I U C N , 2003 [47,116, 53]

ĐDSH là thuộc tính đặc biệt và quan tong của ĐNN Tính ĐDSH ở các vùng ĐNN của Việt Nam rất cao và khác nhau ở mỗi vùng tuy điều kiện tự nhiên và vị trí ( C H X H C N Việt Nam, 2003) [9] Nhiều vùng ĐNN rất thích hợp cho sự tập trung của các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nước, trong đó có nhiều loài chim di trú

M ỗ i HST có tính ĐDSH với những đặc thù riêng Tính ĐDSH của các vùng ĐNN được thể hiện bằng thành phần và số lượng các loài sinh vật được phát hiện từ trước đến nay và đang chịu nhiều áp lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Mặc dù ĐDSH quan trọng như vậy, hiện nay ĐDSH nói chung, ĐDSH của các vùng ĐNN nói riêng đang bị suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau (Phạm Bình Quyền và cs, 2001; Phạm Bình Quyền, 2001; Hoàng Văn Thắng, 2002) [43,47,71]

1.1.7 Chức năn g của hệ sinh t h á i đất ngập nước

Các quá trình thúy văn, sinh học và vật lý của ĐN N hình thành nên các chức năng của HST, chẳng hạn như nạp và tiết nước ngẩm, kiểm soát lũ lụt, biến đổi các chất dinh dưỡng, duy trì hoặc phát triển nâng suất và sinh cảnh (Maltby et ai., 1999) [131]

15

Trang 22

Sự tương tác giữa các quá trình duy trì các thành tố hoặc hợp phần của HST như chế độ nước, đặc điểm thổ nhưỡng, nước, các quẩn thể động vật và thực vật, nguồn dinh dưỡng và đất hay các chất bồi lắng HST có thể sản sinh ra các sản phẩm như rừng, động vật hoang dã, cá, và các bãi chăn thả Bản thân HST sở hữu các thuộc tính bao gồm cả ĐDSH và tính đặc thù C ả ba khua cạnh này của HST sẽ mang đến các lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho con người Các thuộc tính này được các nhà kinh tế đạc biệt quan tâm Tuy nhiên, biến động của các qua trình sinh thái của ĐNN hình thành nên các đặc điểm chức năng khác nhau Do đó sẽ dẫn đến những khác biệt trong giá trị xã hội của các vùng ĐN N khác nhau Các cơ sở khoa học vẫn còn thiếu chính xác trong việc giải thích "hoạt động" của ĐN N khác nhau như thế nào? Các quá trình và các yếu tố môi trường tương tác khác nhau như thế nào để kiểm soát các chức năng? M ộ t trong các công trình của Maltby (1999) [131] đã phần nào giải thích được các mối tương tác giữa các quá trình và các yếu tố môi trường cũng như cấu trúc chức năng của ĐNN như dưới đây (Hình 1.2)

Câu trúc HST

Địa mạo Thúy văn Thổ nhưỡng Động vật và thực vật

Giá tri xã hôi

C á ' Chim

Hàng hoa

G ỗ Thúc vát

C á ' Chim

Thuộc tính

ĐDSH Độc đáo văn hoa

Di sản Khoa hoe

Hình 1.2 M ố i tương tác giữa các quá trình, cấu trúc và chức năng của ĐN N

(Phong theo Maltby, 1999) [131]

Trang 23

Tuy nhiên, mô hình tương tác và cấu trúc chức năng của Maltby như đã trình bày

ở trên chưa bao hàm hết các chức năng của sinh quyển, cũng như chưa hệ thống hoa một cách rõ ràng các nhóm chức năng của hệ sinh thái ĐNN Trên cơ sở các công trình của nhiều tác giả như Adamus et ai (1987), Bardecki et ai (1989), và Richardson (1995) (trong Keddy, 2000) [Ì 18], Keddy (2000) [118] đã tập hợp 15 chức năng chính của ĐNN trong sinh quyển vào bốn nhóm như sau:

ì Chức nâng điều chỉnh (regulation functions): cho thấy những khả năng của các HST trong việc điều chỉnh các quá trình sinh thái quan trọng/ chủ yếu cũng như các hệ thống cung cấp cho sự sống trên trái đất

2 Chức năng mang tải (carrier functions): cho thấy khoảng không gian hoặc các điều kiện phù hợp cần cho việc tiến hành các hoạt động của con người như sống, canh tác

và nghỉ ngơi, giải trí

3 Chức năng sản suất (production functions): cho thấy các tài nguyên do thiên nhiên

cung cấp bao gồm lương thực, nguyên liệu thô cho công nghiệp và các nguyên liệu

di truyền thô

4 Chức năng thông tin (information functions): cho thấy vai trò của các HST tự nhiên ương việc duy trì tinh thần (lành manh) bằng cách cung cấp sự phát triển về nhận thức, hiểu biết, sức mạnh tinh thần và đánh giá đúng về khoa học của thế giới

1.1.8 Vai trò và giá trị của đất ngập nước

ĐNN có vai trò quan trọng đối với con người, sự phát triển và bảo vệ môi trường và thiên nhiên (Lê Diên Dực,1998a) [23] Từ hàng ngàn năm trở lại đây, khoảng 70% dân số thế giới đã sinh sống ven các cửa sông, ven biển hoặc các vùng ĐNN nội địa Các lưu vực sông lớn trên thế giới như Niger, Nile, Tigris - Euphrate, Ganges và Mekong là nơi sinh sống, phát triển và thịnh vượng của một số lượng lớn dân số thế giới (Scott, 1989) [152] Sự đa dạng về văn hoa, tinh thần và tín ngưỡng của Châu Á đã được xây dựng trên cơ sở khai thác và kiểm soát các vùng ĐN N (Dugan, 1990) [103] ĐNN là một trong những HST có năng suất cao nhất trên thế giới Các chuyên gia đã ước tính là trong tổng số 500.000 tấn cá khai thác mỗi năm thì khoảng 236.000 tấn là từ các vùng ĐN N (Pantulu, 1986b) [146] Trong 20.000

17

ĐAI H Ọ C Q U Ố C GIA HÀ N Ộ ' TRƯNG TÀM THÒNG TIN THƯ VIỆN ị

Trang 24

loài cá trên thế giới thì có đến 40% số loài sống ở nước ngọt (Davis (ed.), 1997) [151] ĐNN là môi trường quan trọng cho các vật liệu di truyền của thực vật - chẳng hạn như lúa nước, làm thức ăn nuôi sống đến một nửa nhân loại trên toàn cẩu Bên cạnh đó, ĐNN còn là môi trường rất quan trọng cho sức khoe của con người (Dugan, 1990; Mitcsh và Gosselink, 1986, 1993; Pirot, J et ai., 2000; Davis (ed.), 1997;) [103, 135, 136, 147, 151]

1.2 QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC

1.2.1 Bảo tồn đất ngập nước

K ế t quả nghiên cứu của các tác giả (Isozaki và cs., 1992; Keddy, 2000; Mitsch

& Gosselink, 1993) [115, 118, 136] cho thấy rằng sự ổn định của các vùng ĐN N phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng nguồn nước cấp bổ sung Và do đó, những vùng này chịu ảnh hưởng của cả những hoạt động do con người từ những vùng thượng lưu xa xôi và lưu vực của các con sông, nhiều khi vượt ra ngoài biên giới của một nước Do vậy, ĐN N cũng bị đe doa bởi nguồn ô nhiễm không khí, đất

và nước từ những vùng lân cận M ộ t số vùng ĐNN là nơi dừng chân, tích luỹ năng lượng của nhiều loài sinh vật di cư như chim nước

Do có tầm quan trọng đặc biệt như vừa nêu, việc bảo tồn Đ N N là yêu cầu bức bách, có ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học to lớn, đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều ngành, của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế M ộ t số định hướng về nguyên tắc bảo tổn ĐNN có thể nêu như sau (Isozaki và cs (ed.), 1992) [115]:

- Khai thác sử dụng ĐNN một cách khôn khéo có nghĩa là không làm biến đổi các chức nâng dịch vụ và quá trình sinh thái của chúng;

- Tiến hành quản lý tổng hợp, nhất là quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng;

- Xây dựng thể chế, chính sách, quy hoạch, căn cứ pháp lý cũng như cơ sở khoa học để sử dụng khôn khéo, có hiệu quả và bền vững các vùng ĐNN;

- Quy hoạch và triển khai các hoạt động bảo vệ các vùng Đ N N quan trọng và các HST ĐNN là điểm nóng cần được bảo tồn;

Trang 25

- Lồng ghép quản lý ĐNN vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, nghĩa là phải xem ĐNN là một trong những tài nguyên quốc gia phục vụ cho phát triển;

- Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ về nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng khôn khéo các HST ĐN N trên cơ sở bảo tồn để phát triển bền vững;

- Tạo những thu nhập thay thế giúp cộng đổng giảm sức ép lên ĐNN Gắn hoạt động phát triển kinh tế với bảo tổn ĐNN;

- Đẩy mạnh cồng tác truyền thông, giáo dục môi trường nâng cao nhận thức

về ĐNN nói riêng và môi trường nói chung

Một trong những giải pháp quản lý, bảo tổn ĐNN được xem là có hiệu quả là thành lập các khu bảo tổn (IUCN, 2003) [Ì l ổ ] Các khu bảo tổn là thành tố quan trọng

để đạt được sự phát triển bền vững Các khu bảo tồn cung cấp các sản phẩm và dịch vụ vượt ra khỏi ranh giới của chúng đồng thời cũng góp phần quan trọng vào việc bảo tổn ĐDSH và xoa đói giảm nghèo Các quan điểm về bảo tồn và các khu bảo tồn cũng thay đổi theo thời gian IUCN(2003) [116] đã tổng kết các mô hình (paradigm) bảo tồn từ những năm đầu của thập kỷ 1960 trở lại đây (Bảng 1.2 Phụ lục ì)

1.2.2 Quan điểm chung về quản lý đất ngập nước

Quản lý ĐNN có nhiều cách thức khác nhau phụ thuộc vào mục đích của các nhà quản lý (Mitsch and Gosselink, 1993; Keddy, 2000) [136, 118] Đôi khi những mục đích này có thể mâu thuẫn lẫn nhau, chẳng hạn như việc ngăn chặn các chất thải ô nhiễm vào các khu vực ĐN N và sử dụng ĐN N làm các điểm xử lý và chứa nước thải Quản lý ĐNN còn phụ thuộc vào các thể chế, chính sách liên quan đến bảo tồn ĐNN

Quản lý ĐNN theo mục tiêu - dựa trên các chức năng của các vùng ĐNN mà lựa chọn các mục tiêu để quản lý là một trong những cách được áp dụng khá rộng rãi (Isozaki v à c s (e<±), 1992) [115]

19

Trang 26

1.2.3 Quản lý, bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước theo cách tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach)

Tiếp cận HST không phải là một công thức đem giản mà là tập hợp những nguyên tắc nhằm thúc đẩy quản lý tổng hợp đất, nước và tài nguyên sinh học

Theo Lê Trọng Cúc (1998), Maltby và cs (1999), Pirot và cs (2000), Smith và cs (2003) [14, 131, 147, 154] thì tiếp cận HST có nghĩa là:

Một chiến lược về quản lý tổng hợp đất, nước và tài nguyên sinh học nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững trong mối quan hệ bình đẳng;

Tạo ra sự cân bằng hợp lý giữa bảo tồn và sử dụng tài nguyên ĐDSH và nhấn mạnh rằng sự đa dạng về vãn hoa và sinh học là những thành tố quan trọng của cách tiếp cận HST;

M ộ t quá trình quy hoạch có sự tham gia của người dân qua cách quản lý thích ứng Quản lý phải bao gồm tất cả những người liên quan và cân đ ố i giữa quyền lợi địa phương với những bộ phận khác của xã hội;

Thúc đẩy sự tham gia đồng đều của tất cả các lĩnh vực trong xã hội và nó phải phân quyền đến tận cấp thấp nhất thích hợp Do đó, nó đem l ạ i tính hiệu quả

và công bằng lớn hơn;

Tất cả các loại thông tin liên quan bao gồm khoa học và kiến thức bản địa, nhập kỹ thuật mới và cách thực hành Tất cả các nguồn thông tin đều quan trọng cho những chiến lược quản lý HST hữu hiệu

Quản lý trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái cần đáp ứng ba khía cạnh, tất cả đều liên quan đến các thành phần nhân vãn của HST đó là: mục đích, ranh giới và hoạt động của HST Nói một cách khái quát thì mục tiêu của quản lý trên cơ sở tiếp cận

hệ sinh thái là sử dụng mà không làm mất HST Do đó Quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái là con người tìm cách để tổ chức việc sử dụng HST nhằm đạt được sự hài hòa giữa lợi ích thu được từ tài nguyên thiên nhiên của các thành phần và quá trình của HST trong khi duy trì được khả năng của HST để cung cấp những lợi ích đó ở mức độ bền vững (Pirot và cs, 2000) [147]

Trang 27

Trên cơ sở đó, quản lý trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái cần đáp ứng các nguyên tắc cơ bản như sau (Decision V/6 CBD, 2000; Smith and Maltby, 2003 (Bản dịch -

Bộ T N & M T , 2003)) [57]:

1 M ụ c tiêu của việc quản lý đất, nước và tài nguyên sinh vật là vấn đề lựa chọn của toàn xã hội;

2 V i ệ c quản lý cần được phân cấp rõ ràng cho đến cấp thực hiện trực tiếp;

3 Người trực tiếp quản lý HST cần quan tâm đến các ảnh hưởng (hiện tại và tương lai) của các hoạt động của mình đến các HST lân cận;

4 M ụ c đích cuối cùng của việc quản lý HST là các giá trị kinh tế Đó là:

Giảm ảnh hưởng tiêu cực của thị trường lên ĐDSH;

Khuyến khích bảo tồn ĐDSH và sử dụng bền vững;

Ước tính được chi phí và lợi ích của công tác bảo vệ

5 Quản lý phải giữ cho được cấu trúc và chức năng để H S T tiếp tục cung cấp các lợi ích lâu dài;

6 HST phải được quản lý ương giới hạn các chức nâng của nó;

7 V i ệ c quản lý phải dựa vào sự thay đổi của H S T theo thời gian và không gian;

8 Cần phải có k ế hoạch nhất quán, lâu dài để quản lý HS T theo từng giai đoạn thay đổi tự nhiên;

9 Quản lý HST cần nhớ là thay đổi sẽ không bao giờ có thể trở lại từ ban đầu;

10 Quản lý cần nhằm đến sự cân bằng giữa các bên, kết hợp bảo tổn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH;

11 Quản lý cần dựa trên mọi nguồn kiến thức, từ khoa học cho đến dân gian và áp dụng khôn ngoan, sáng tạo cho mỗi tình huống;

12 Quản lý cẩn có sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội

Khái niệm "phát triển bền vững" có giá trị đặc biệt trong quản lý trên cơ sở tiếp cận HST vì thực hiện các nguyên tắc của quản lý nói trên là phục vụ và đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Trên cơ sở đó, mục tiêu hành động của quản lý bảo tồn trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái là (Pirot và cs (2000) [147]:

1 Miêu tả những thành phần cơ bản của HST;

21

Trang 28

2 Phân tích chức năng, mối liên kết và ranh giới của HST;

3 Phân tích những cơ hội và thách thức;

4 Xác định mục đích quản lý HST;

5 Đề xuất những biện pháp quản lý sẽ được tiến hành

1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN c ứ u VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC c ó LIÊN

QUAN

1.3.1 Những công trình nghiên cứu trẽn thế giới

Trên thế giới hiện có khá nhiều các công trình nghiên cứu về ĐNN Những nghiên cứu về vai trò và giá trị của các vùng ĐNN, đặc biệt như là nơi sống của các loài chim nước di cư đã đưa đến việc ra đời của "Công ước các vùng ĐNN quan trọng như là nơi sống của các loài chưn di cư" (Công ước RAMSAR) được ký vào năm 1971

Một trong những công trình có tính chất tổng quát nghiên cứu tổng quan về ĐNN là "Wetland" (ĐNN) của hai tác giả Mitsch và Gosselink (1986 và 1993) [135, 136] Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về chức năng của các vùng ĐNN cũng được chú ý Trong các công trình nghiên cứu điển hình về HST và quản lý, bảo tồn ĐNN phải kể đến: Scott (1989); Dugan (1990); Malby, E và cs (1999); Mitsch and Gosselink(1986, 1993); Davis (1994) [152, 103, 131, 135, 136, 100], v.v Các công trình này đã đề cập một cách tổng quát về ĐNN, chức năng, giá trị, sức ép lên các hệ sinh thái ĐNN cũng như các phương cách quản lý và bảo tổn có hiệu quả

Trong số các công trình nghiên cứu về năng suất sơ cấp của ĐNN phải kể đến Kvet và Husak (1978) [123], Van der Valk và Davis (1978) [158], Mitsch & Gosselink (1986, 1993) [135, 136] Dòng năng lượng và các nguồn dinh dưỡng của ĐNN cũng được các tác giả Dykyjova và Kvet (1978), Cragg (1961), Dvorak (1978), Hudec và Stastny (1978), Klopatek (1978), Prentki, Gustafson và Adams (1978) [105,

98, 104, 114, 122, 148] đề cập

Hancock (1984) [109] đã có các nghiên cứu về xu thế suy thoái của ĐNN và chỉ

ra rằng chỉ có rừng là bị tàn phá nhanh giống như ĐNN Chim của các vùng ĐNN là các loài chỉ thị cho sự tàn phá này Keddy (2000), Hou (1983) Gilbertson và cs

Trang 29

(1985), de Groot (1992), Newbold và cs (1997) [118, 113, 106, 102, 142] đã đề cập đến mối tương tác giữa chế độ thúy vãn và phân bố của thực vật cũng như động vật

Trong khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về vùng ĐNN lun vực sông Mê Rông (Pantulu, 1986a, 1986b) [145, 146] tập trung nhiều vào lưu vực, nguồn tài nguyên nước và đặc biệt là tài nguyên thúy sản (cá) Baltzer et ai (2001) [94] đã tổng quan các vấn đề liên quan đến lưu vực sông Mê Kông, đặc biệt là vai trò của rừng đầu nguồn của các chi lưu thuộc các nước Campuchia, Lào, Thailand và Việt Nam

1.3.2 Những công trình nghiên cứu trong nước

ở Việt Nam, thúy sinh vật các thúy vực nước ngọt nội địa (thực vật, động vật không xương sống, cá) đã được nói đến rất sớm từ những năm cuối của thế kỷ

sinh vật nước ngọt nội địa mới thực sự được đẩy mạnh từ những năm đầu của thế kỷ

X X Tuy nhiên, các hoạt động nghiên cứu này cũng chỉ tập trung chủ yếu vào thành phẩn các loài thực vật nổi, động vật nổi và động vật nước ngọt như: trai, ốc, tôm, cua

và cá M ặ c dù vậy, ngay cả những nhóm thúy sinh hiện nay đã có số liệu, "chắc chắn cũng còn phải được tiếp tục xem xét và bổ sung, nhất là về phân loại học để có được tư liệu đẩy đủ, chính xác hơn" (Đặng Ngọc Thanh và cs, 2002 tr.64) [64]

Cho đến nay đã có một số lượng khá lớn các công trình nghiên cứu về các vùng ĐNN khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam (Phạm Bình Quyền và cs, 2002a) [44] Nếu lấy năm 1989 làm mốc khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước Ramsar và cũng từ giai đoạn này, các nghiên cứu về ĐNN của Việt Nam tập trung vào công tác quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững, thì có thể chia các công trình nghiên cứu về ĐN N của Việt Nam ra làm hai thời kỳ:

Trang 30

theo hướng hồ chiểu học (nghiên cứu về ao hổ) và hải dương học (nghiên cứu về biển và vùng cửa sông ven biển)

ở miền Nam, ngay từ năm 1964, V ũ Văn Cương đã nghiên cứu về hệ thực vật

và thảm thực vật của R N M vùng Sài Gòn - V ũ n g Tàu, và cũng tác giả trên năm 1965

đã công bố nghiên cứu về các họ thực vật của R N M Việt Nam như: họ Đước (Rhizophoraceae), họ Bần (Sonneratiaceae) trong B ộ Thực vật chí của Việt Nam, Lào và Campuchia M ộ t số nghiên cứu khác do các nhà khoa học nước ngoài tiến hành với chủ đề ảnh hưởng của chất độc hoa học đ ố i với R N M như: Báo cáo của

V i ệ n Hàn lâm Khoa học M ỹ (1974) về ảnh hưởng chất độc hoa học ở miền Nam Việt Nam; của Ross, p (1975) trong tài liệu: R N M miền Nam Việt Nam: ảnh hưởng của các chất độc hoa học dùng trong quân sự (Hoàng Văn Thắng và cs, 2002) [72]

ở miền Bắc, trong số các công trình/ tác giả V i ệ t Nam nghiên cứu về ĐN N cần phải nói đến là M a i Đình Yên Ông đã điều tra, nghiên cứu về các h ồ tự nhiên, các đập nước, các sông, suối ở Việt Nam Vào các năm của thập kỷ 1970, 1980, các công trình của ông tập trung theo hướng khai thác hợp lý các nguồn l ợ i thúy sản (Mai Đình Yên, 1979, 1982, 1996) [90, 91, 93] G ầ n đây, bên cạnh các công trình kinh điển về ngư loại học, ông đã tiến hành các công trình tập trung theo hướng bảo tổn (Mai Đình Yên, 1992, 1996) [92, 93] Ông cũng đã đề xuất hệ thống các vùng ĐNN cần phải bảo tổn ở Việt Nam thuộc các kiểu: hồ tự nhiên, đập nước, cửa sông, sông, suối, ven biển, đầm nước, v.v Cũng trong thời gian này, Phan Nguyên Hồng

đã tiến hành nghiên cứu về thảm thực vật và rừng ven biển, năm 1970 tác giả đã công bố tài liệu Sinh thái và phân bố thảm thực vật ven biển của miền Bắc Việt Nam (luận án phó tiến sĩ) Đặng Ngọc Thanh (Chủ biên) và cs (2002) [64] tập trung nghiên cứu về các thúy vực nước ngọt nội địa

Trong những năm đầu thập kỷ 80 và một số năm sau đó, một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn về các HST ĐNN ở miền Đông Nam B ộ , Đồng bằng Sông Cửu Long và các khu vực xung quanh u M i n h cùng khu hệ chim và các sân chim tại khu vực này (Vo Quy & Le Diên Due, 1984; Phùng Trung Ngân, Châu Quang Liêm, 1987; Lê Diên Dực, 1984; Lê Diên Dực và cs, 1986; Lê Diên Dực và Lê Đình Thúy, 1987; Morris, 1987, 1988a, 1988b) [159, 38, 125, 17, 126, 138, 139 140]

Trang 31

2 Giai đoạn từ 1989 trở lại đây

Sau ngày đất nước thống nhất, công tác nghiên cứu về R N M được đẩy mạnh ở

cả hai miền Nhiều công trình điều tra nghiên cứu ở cấp quốc gia và cấp ngành thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: điều tra rừng, điều tra hệ động vật, hệ thực vật, địa chất, địa lý, khí hậu đã tiến hành trên đối tượng R N M và cả HST vùng ven biển Việt Nam Các công trình nghiên cứu về ĐNN của Việt Nam đã chuyển theo hướng tiếp cận nghiên cứu về ĐNN theo đúng nghĩa của nó Tuy nhiên khái niệm ĐNN (wetland) phải đến cuối thập kỷ 80 mới được dùng nhiều ở Việt Nam Năm

1989, công trình " K i ể m kê ĐNN Việt Nam" của Lê Diên Dực [18, 127] đã mở đầu cho việc nghiên cứu một cách tổng hợp về ĐN N ở V i ệ t Nam

Từ năm 1990, Cục Môi trường thuộc B ộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho xuất bản nhiều tài liệu dịch về ĐN N như: Bảo vệ ĐN N - Tài liệu của I U C N (1990) hoặc tài liệu dịch "Bảo vệ ĐN N - Tổng quan các vấn đề hiện tại và hành động cần thiết" của Patrik J Dugan [103] Sau công trình này, các tài liệu và công trình được công bố có tính chất pháp lý hơn như " V i ệ t Nam - Chiến lược quốc gia về Bảo vệ và Quản lý ĐNN: Hiện trạng, Sử dụng, Bảo vệ và Quản lý" (Nguyễn Chu Hồi, Phan Nguyên Hổng, Lê Diên Dực, Nguyễn Khắc Kinh, 1996) [34] Các vùng ĐNN có giá trị ĐDSH và môi trường của Việt Nam cũng đã được đánh giá với 68 khu (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2001) [3]

Trong 2 năm 1998 và 1999, V i ệ n Điều tra Qui hoạch rừng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) [66] đã thực hiện đề tài "Xây dựng cơ sở khoa học cho việc qui hoạch các khu bảo tổn ĐN N của Việt N a m " do B ộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ quản Kết quả đã xây dựng hồ sơ khoa học cho 52 vùng ĐNN lớn của Việt Nam và đề xuất được 7 khu bảo tổn ĐN N để chính phủ phê duyệt Đ ề tài "Cơ sở khoa học Qui hoạch các khu Bảo tổn biển" do Phân viện H ả i dương học H ả i Phòng thực hiện năm 1998 cũng đã xây dựng hồ sơ cho 16 khu và lập Luận chứng khoa học -

K ỹ thuật cho 8 khu bảo tồn biển Đây là kết quả nổi bật trong công tác điều tra nghiên cứu ĐNN của Việt Nam trong giai đoạn gần đây

25

Trang 32

Lê Diên Dực và cs (1990) [19], Lê Diên Dực và cs (1992) [22] cũng đã có các công bố về khu hệ chim của VQG Tràm Chim cũng như đề xuất kế hoạch quản lý, bảo tổn Các tác giả này (Lê Diên Dực, Hoàng Văn Thắng, Lê Đình Thúy (1992a, 1992b) [20, 21] cũng đã công bố cống trình về khu hệ chim nước tại V Q G Xuân Thúy Lê Diên Dực (1998a) [23] đã tổng quan các vấn đề về ĐNN Việt Nam trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Khoa học, Công nghệ và Mõi trường

"Báo cáo tổng quan về ĐNN Việt Nam"

Phạm Trọng Thịnh và cs (1999), Nguyễn Chí Thành và cs (2002) [79, 66]; Vũ Trung Tạng (1994, 2000, 2004ab) [58, 59, 60, 61] đã tiến hành các nghiên cứu về HST ĐNN vùng đổng bằng sông Cửu Long và vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Hồng và đề xuất Hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam Một số tác giả khác nghiên cứu về các đầm phá (Đặng Trung Thuận và cs, 2000) [80] và tìm cách

khôi phục nguồn lợi ĐDSH nhằm phục vụ cho phát triển bền vững

Vùng Đồng tháp mười cũng đã được các tác giả Phạm Hoàng H ộ , Trần Phước Đường, Lê Công Kiệt, Võ Ái Quốc và Nguyễn Văn Khiêm (1992) [29] khảo sát với các nghiên cứu tập trung vào hệ thực vật của vùng ĐNN

Phạm Bình Quyền và cs (1997) [42] đã có những thống kê, đánh giá mức độ tổn thất và suy thoái một số vùng ĐNN quan trọng ở miền Bắc Việt Nam (Hổ Tây, Thanh Trì, Hà Nội; Đầm Ao Châu, Phú Thọ; Hổ Cấm Sơn, Bắc Giang), ở giai đoạn này, công trình có tính chất tổng quan hơn cả là "Báo cáo tổng quan về ĐNN Việt Nam của Lê Diên Dực (1998a) [23]

Phạm Bình Quyền và cs (2002c) [46] đã có những khảo sát, đánh giá về một số vùng ĐNN quan trọng của Việt Nam nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng Chương trình ĐNN Quốc gia

Phạm Bình Quyền và cs (2002a) [44] cũng đã có các công trình điều tra, nghiên cứu và đánh giá về điều kiện tự nhiên cũng như các vấn đề vãn hoa - xã hội của các vùng ĐNN Việt Nam

Gần đây, ở khu vực phía bắc đã có kết quả các công trình nghiên cứu về ĐNN nội địa như "Điều tra cơ bản ĐNN Vân Long" (Vũ Trung Tạng, 2004a) [60]; Quản

Trang 33

lý và bảo tồn ĐNN Hà N ộ i (Hoàng Vãn Thắng và cs, 2002) [70]; Nghiên cứu tài nguyên nước mặt khu vực Hà N ộ i sử dụng phương pháp viễn thám và GIS (Nguyễn Đình Minh và cs, 2002) [36]- Vũ Quyết Thắng (1997, 2000) [76, 77] đã áp dụng phương pháp quy hoạch môi trường trên cơ sở tiếp cận HST vào các vùng ĐNN Thanh Trì, Hà N ộ i ; Cũng trong giai đoạn này, Hoàng Vãn Thắng và cs (2003) [74]

đã tổng hợp và đề xuất Kế hoạch quản lý, bảo tồn cho các vùng ĐNN Hà Nội giai

đoạn đến 2010; khảo sát, đánh giá và đề xuất k ế hoạch quản lý và sử dụng bền vững

ĐNN cửa sông ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (Hoàng Văn Thắng và cs, 2002; Hoàng Văn Thắng và Đặng A n h Tuấn, 2004) [72, 75]

Bên cạnh những công trình nêu trên, một trong những cố gắng của Chính phủ Việt Nam và các nhà khoa học là việc tham gia Công ước Ramsar và đề xuất khu Ramsar và các khu ĐN N ở Việt Nam - K h u Ramsar Xuân Thúy là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á, nằm ở cửa sông Hồng thuộc huyện Giao Thúy, tỉnh N a m Định Hiện nay chúng ta chưa có một hệ thống khu bảo tồn ĐNN chính thức, nhưng thực tế nhiều vùng ĐNN có giá trị ĐDSH cao đã được bảo vệ khi chúng nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng do ngành Nông - Lâm nghiệp quản lý như V Q G Tràm

Chim, V Q G Ba Bể, Khu bảo tổn Vãn hoa - Lịch sử - Môi trường H ổ Lăk, V.V

1.3.3 Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã triển khai trong khu vực Đồng Nai và Cát Tiên

Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu được triển khai trong khu vực Đổng Nai và Cát Tiên Một trong những công trình được triển khai tương đ ố i sớm là

" M ộ t số kết quả về điều tra ngư loại sông Đổng N a i " của Nguyễn Văn Thiện (1981) [78] Cũng trong những năm đầu của thập kỷ 80 còn có một số công trình nghiên cứu khác về thảm thực vật cũng như động vật của khu vực là: Morris (1987, 1988a) [138, 139]; Nguyễn Phi Ngà (1999) [37]; Nguyễn Trần V ỹ và cs (2002) [89], Đoàn Cảnh và cs (2001) [12]; B ộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (1993) [4] đã xây dựng Luận chứng K i n h tế - K ỹ thuật V Q G Cát Tiên

Tuy nhiên, phần lớn các công trình này cũng mới chỉ dừng lại ở mức m ô tả về thảm thực vật của Cát Tiên hoặc động vật của Cát Tiên và Sông Đổng N a i Các

27

Trang 34

nghiên cứu và điều tra chi tiết về cấu trúc thành phẩn cũng như cấu trúc chức năng của khu vực Bàu Sấu vẫn chưa được tiến hành một cách có hệ thống

1.3.4 Những vấn đề tồn tại

Phạm Bình Quyền và các cộng sự (2002abc) [44, 45, 46] cho rằng trong nhữne năm gần đây, do sức ép về dân số và kinh tế, kể cả việc lấn chiếm và bồi lấp, nhiều vùng ĐNN nơi tập trung dân cư lớn nhất và có các hoạt động kinh tế sôi nổi nhất đã

bị tàn phá nặng nề, khó lòng phục hồi nếu không có những công trình nghiên cứu sinh thái nhân văn đầy đủ để tìm ra các biện pháp thích hợp và vốn đầu tư để phục hồi và sử dụng bền vững Nhưng rất tiếc, hiện mới có một số ít công trình nghiên cứu lẻ tẻ về các vấn đề kinh tế - xã hội cũng như về văn hóa - xã hội trong sử dụng ĐNN ở các vùng quan trọng này Đây là một trong những khó khăn lớn trong quá trình xây dựng chiến lược về ĐN N ở Việt Nam

V ề mặt luật pháp và chính sách đ ố i với việc quản lý ĐNN , đã có hàng chục vãn bản của Chính phủ và các bộ liên quan ban hành có liên quan đến quản lý, sử dụng ĐN N nhưng chưa đồng bộ Trong đó, hai văn bản đáng chú ý nhất là Nghị định 109/2003/NĐCP, ngày 23/9/2003 và Quyết định 646/QĐ/BNN-KHCN, ngày 17/3/2004 của Bộ N N & P T N T quy định các điều khoản cũng như tiêu chuẩn ngành

về ĐNN Nhưng hầu hết các văn bản mới chỉ tập trung vào khai thác sử dụng các giá trị kinh tế của loại đất này Các giá trị về sinh thái, bảo vệ môi trường và ĐDSH hầu như chưa được coi là vấn đề quan trọng nhất trong các văn bản pháp quy của Nhà nước

Các nội dung thuộc các điều khoản qui định ở Luật đất đai chưa được hướng dẫn vận dụng đầy đủ trong quản lý Nhà nước vé ĐNN Nhận thức của cán bộ cũng như cộng đổng người dân địa phương chưa đầy đủ về các chức năng, thuộc tính cũng như dịch vụ sinh thái của ĐN N nên việc quản lý khai thác sử dụng ĐN N không hợp lý đã dẫn tới những hậu quả nặng nề về môi trường cũng như thất bại về phát triển kinh tế của nhiều địa phương Chưa đưa ra được các biện pháp, phương hướng quản lý, bảo tổn phù hợp cho các vùng nhất định, đặc biệt là các vùng ĐN N ven sông thuộc vùng nhiệt đới như ở Việt Nam

Trang 35

Những nghiên cứu trong nước chưa đề cập một cách sâu sắc về cấu trúc thành phần và chức năng của các HST ĐNN, đặc biệt là các HST ĐNN ven sông hoặc vùng đầm lầy ven sông (bàu)

Một trong những tổn tại lớn của các công trình nghiên cứu về ĐNN nói chung, khu vực Bàu Sấu nói riêng là chưa triển khai các nghiên cứu về chức nâng cân bằng nước của các khu ĐNN, đặc biệt là chưa lưu ý đến các vùng ĐNN ven sông

Chưa gắn kết các nhóm ĐDSH thuộc thực vật (sinh vật sản xuất), động vật (sinh vật tiêu thụ) sống vừa ở cạn, vừa ở nước

Chưa đề cập vấn đề sử dụng bền vững ĐNN, mà chỉ hướng đến cải tạo thành các hệ sản xuất nhân tạo như ruộng lúa, hồ nuôi cá, v.v (không giữ l ạ i các cây thúy sinh; thay thế các sinh vật hoang dã của ĐN N bằng những sinh vật là cây trổng hoặc vật nuôi (cá, rau muống, lúa, dâu tằm)

Những hoạt động kinh tế - xã hội chưa quan tâm đúng mức đến nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân sống xung quanh các vùng đất ngập nước quan trọng nhằm giảm nhẹ tác động của cộng đồng lên các hệ sinh thái đất ngập nước này Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về ĐNN chưa rộng và chưa mạnh

Hiện tại, cũng chưa xây dựng được ngân hàng dữ liệu về ĐNN , cũng như đào tạo đội ngũ thực thi và quản lý ĐN N còn hạn chế

Đến nay công tác quản lý bảo vệ ĐNN và thực hiện công ước Ramsar về ĐNN

ở Việt Nam cũng còn có những bất cập

Đối với HST ĐNN Bàu Sấu, mặc dù đã có những cố gắng trong việc bảo tổn và một số nghiên cứu trên cơ sở bảo tổn ĐDSH, kể cả việc tái du nhập lại loài cá sấu Xiêm, nhưng c h ế độ thúy văn và các cách tiếp cận hợp lý về quản lý bảo tồn vẫn chưa được tiến hành

29

Trang 36

CHƯƠNG l i ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN cứu

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành tại khu vực Bàu Sấu thuộc Nam Cát Tiên của V Q G Cát Tiên (Hình 2.1)

Khu vực nghiên cứu là vùng ĐN N đặc trưng cho HST vùng đất thấp ven sồng

và các vùng đất thấp rừng ẩm mưa mùa nhiệt đới miền Đông Na m B ộ Vùng này là tập hợp của một loạt các đầm lầy (bàu) ven sông và hệ thống suối Dãk Lua Toàn bộ khu vực Bàu Sấu, V Q G Cát Tiên nằm ở phía Đông của khu N a m Cát Tiên thuộc

V Q G Cát Tiên M ộ t phần diện tích của khu vực này thuộc địa bàn của x ã Dăk Lua, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đổng (vùng đệm) Phần lớn còn l ạ i thuộc vùng lõi của

V Q G Cát Tiên Sông Đồng N a i chảy qua khu vực này dài khoảng 37km, bao bọc toàn bộ phía Đông - Bắc của khu vực ĐN N Bàu Sấu (Hình 2.2)

Toa độ địa lý của khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi:

11°26'85" đến 11°32'50" vĩ độ Bắc và

107°16'45" đến 107°24'50" kinh độ Đổng

2.1.2 Th ờ i gian n g h i ê n cứu

Đề tài được triển khai từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 12 năm 2003 Trong

đó thời gian thực địa được triển khai liên tục từ cuối năm 1999 đến hết năm 2000 và một số đạt khảo sát trong các năm 2001-2003 Thời gian còn lại là thu thập thêm số liệu thứ cấp và bổ sung, cập nhật các số liệu thực địa liên quan

Trang 37

HÌNH 2.1 VỊ TRÍ VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN

Đường đất nhỏ Đường đất lớn Đường rải đá Đường nhựa River, stream/ Sông, suối

Trang 38

HÌNH 2.2 VỊ TRÍ HỆ SINH THÁI BÀU SẤU

Trang 39

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.2.1 Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu sinh thái học ĐNN là một công việc rất khó khăn và phức tạp Việc nghiên cứu HST ĐNN đòi hỏi sự vận dụng kiến thức cũng như cách tiếp cận của nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh học, hoa học, vật lý, địa chất và thổ nhưỡng, khí tượng, thúy văn, K T - X H , v.v Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, đề tài áp dụng phương pháp tiếp cận các vấn đề trên cơ sở sinh thái học ĐNN theo phương thức:

- C ố gắng giữ nguyên hoặc phục hồi trở lại hiện trạng tự nhiên nguyên thúy và chức năng của ĐNN, hạn chế tối đa những tác động can thiệp bất hợp lý của con người;

- Loại bỏ các sinh vật ngoại lai;

- Duy trì các yếu tố môi trường hình thành nên ĐNN (chế độ thúy văn );

- Quản lý, bảo tồn ĐNN trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng yêu cầu đặt ra của đề tài, chúng tôi đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến và hiện đại khác nhau Các dụng cụ phục vụ cho công tác nghiên cứu được huy động từ nguồn riêng của cá nhân, tự chế tạo, mượn của Trường Đại học Tổng hợp London, Vương Quốc Anh hoặc mua của các cơ quan đo lường chất lượng của Việt Nam

2.2.2.7 Thu thập sô liệu thứ cấp, kế thừa các nghiên cứu liên quan

Thu thập số liệu thứ cấp được lưu trữ ở các thư viện, các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan quản lý nhà nước, và k ế thừa các nghiên cún có liên quan là việc áp dụng có hiệu quả cho nghiên cứu của đề tài

Về khí hậu và thúy vãn

Chúng tôi đã thu thập các số liệu quan trắc khí hậu và thúy văn tại trạm Tà Lài, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Các số liệu này cũng được truy cập tại Tổng cục Khí tượng, Thúy văn Quốc gia Số liệu được thu thập trong giai đoạn từ 1980 trở lại đây Riêng giai đoạn 1980-2000 chúng tôi chỉ thu thập theo chu kỳ 5 năm Từ 2000 đến

2003, chúng tôi thu thập số liệu đến hết tháng 12/2003

33

Trang 40

về thô nhưỡng

Hiện tại, các nghiên cứu về thổ nhưỡng tại khu vực còn rất ít được triển khai, vì vậy chúng tôi chỉ thu thập và kế thừa các thông tin và số liệu có được từ các tài liệu của V Q G Cát Tiên

Vê sinh vặt

Hiện đã có một số cồng trình nghiên cứu về động vật và thực vật cho toàn bộ

V Q G Cát Tiên và một số cho hệ thống sông Đổng Nai Các tài liệu này đã được truy cập từ thư viện của Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên - Chương trình Đống Dương (WWF), Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia

Về kinh tế- xã hội

Thu thập số liệu thống kê của U y ban Nhân dân các xã trong khu vực; các số liệu thống kê của Trung tâm Du lịch và Giáo dục Môi trường - V Q G Cát Tiên, Hạt

K i ể m lâm V Q G Cát Tiên Tham khảo và k ế thừa từ một số kết qua khảo sát của dự

án Bảo tồn V Q G Cát Tiên do W W F triển khai

2.2.2.2. Phỏng vấn điêu tra

Chúng tôi áp dụng phương pháp phỏng vấn và điều tra trong nhân dân và lực lượng kiểm lâm tại khu vực Trong các cuộc phỏng vấn, các tài liệu và sách hướng dẫn có hình màu được sử dụng để nhận biết Đồng thời các cuộc phỏng vấn cũng được lặp lại và kiểm chứng Đối với các vấn đề K T - X H có liên quan, các cuộc phỏng vấn được tiến hành với cán bộ lãnh đạo xã, ấp cũng như một số hộ dân trong

khu vực, đặc biệt là tại ấp 4 (Cầu sắt) của xã Dãk Lua

2.2.2.3 Thiết bị và phương pháp nghiên cứu

Các thiết bị được sử dụng cho đề tài bao gồm các thiết bị phục vụ cho nghiên cứu và khảo sát về khí tượng thúy văn, động vật, thực vật và xử lý số liệu Chúng tồi

áp dụng các phương pháp truyền thống cũng như hiện đại trong quá trình khảo sát thực địa Các phương pháp chuẩn của W M O về khí tượng, thúy văn; các phương pháp quan sát và định loại sinh vật của Việt Nam và thế giới

Ngày đăng: 28/03/2020, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm