MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA MỘT QUỐC GIA Khoa học công nghệ là một phần không thể thiếu ở tất cả các lĩnh vực như giáo dục, y tế, kinh tế v.v. Đặc biệt KHCN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Nhờ có KHCN mà năng suất lao động của thế giới đã tăng gấp trăm gấp nghìn lần so với 100 năm về trước khi mà con người vẫn còn lao động thủ công bằng tay chân. Chính vì vậy KHCN là quốc sách hàng đầu, đòn bẩy chính thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển bền vững. Bất kì một quốc gia nào trên thế giới muốn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng thì đều phải chú trọng vào KHCN.
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu: 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA MỘT QUỐC GIA 2
1 Tổng quan về Đầu tư phát triển 2
1.1 Khái niệm, bản chất của đầu tư phát triển 2
1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển 3
1.3 Vai trò của đầu tư phát triển 4
1.4 Nguồn vốn đầu tư phát triển 6
2 Tổng quan về năng lực KHCN 10
2.1 Khái niệm: 10
2.2 Vai trò: 10
2.3 Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng lực khoa học công nghệ của một quốc gia 12
3 Lý luận về mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và năng lực khoa học công nghệ của một quốc gia 13
3.1 ĐTPT ảnh hưởng đến NLKHCN 13
3.2 NLKHCN ảnh hưởng đến ĐTPT 16
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ ĐTPT VÀ NLKHCN TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN (2014-2018) 19
1 Tình hình đầu tư phát triển tại việt nam trong giai đoạn 2014 – 2018 19
2 Tình hình khoa học công nghệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2018 .21
3 Mối quan hệ Đầu tư phát triển – Năng lực khoa học công nghệ tại Việt Nam 23
3.1 Đầu tư phát triển tác động đến Năng lực khoa học công nghệ 23
3.2 Năng lực khoa học công nghệ ảnh hưởng đến đầu tư phát triển 25
4 Đánh giá chung về mối quan hệ ĐTPT – NLKHCN 29
Trang 24.1 Tích cực đến năng lực khoa học công nghệ 29
4.2 Tiêu cực 30
CHƯƠNG III: Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực trong mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và năng lực khoa học công nghệ của Việt Nam 31
1 Định hướng Đầu tư phát triển và NLKHCN của Việt Nam trong thời gian tới 31
2 Biện pháp tích cực hóa 33
3 Hạn chế tiêu cực 34
4 Kết luận: 35
Tài liệu tham khảo 36
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4Lời mở đầu:
Khoa học công nghệ là một phần không thể thiếu ở tất cả các lĩnh vực như giáodục, y tế, kinh tế v.v Đặc biệt KHCN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩyphát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Nhờ có KHCN mà năng suất laođộng của thế giới đã tăng gấp trăm gấp nghìn lần so với 100 năm về trước khi màcon người vẫn còn lao động thủ công bằng tay chân Chính vì vậy KHCN là quốcsách hàng đầu, đòn bẩy chính thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển bền vững Bất kìmột quốc gia nào trên thế giới muốn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội một cáchnhanh chóng thì đều phải chú trọng vào KHCN
Chính vì thế nên các hoạt động đầu tư phát triển hiện nay hầu hết tập trung vàođầu tư về KHCN Chúng ta sẽ lấy Nhật Bản là một ví dụ Nhật Bản là một trongnhững cường quốc đi đầu về công nghệ thông tin và chính việc phát triển côngnghệ thông tin và tầm nhìn của người Nhật đã giúp cho đất nước Nhật trở thànhmột quốc gia lớn mạnh hàng đầu thế giới Khi mà bây giờ cả thế giới đang ở trongbối cảnh của cuộc các mạng công nghiệp 4.0 thì Nhật đã nói tới và đề ra nhiệm vụ
xã hội 5.0 Với Xã hội 5.0, có bốn yếu tố kỹ thuật đóng vai trò quan trọng nhất trí
tuệ nhân tạo (AI), big data, tự động hóa (robot) và IoT (internet vạn vật) Trong
Xã hội 5.0, một lượng dữ liệu vô cùng lớn được thu thập từ rất nhiều nguồn khácnhau, thông qua IoT, từ các cảm biến, camera v.v trong không gian thực được tíchlũy vào “không gian đám mây” (có thể gọi là không gian ảo) Tại không gian ảo
đó, trí tuệ nhân tạo với khả năng phân tích, dự đoán vượt cả trí tuệ của con người
sẽ phân tích khối dữ liệu khổng lồ nói trên, và truyền kết quả phân tích trở lại chokhông gian thực dưới rất nhiều hình thức khác nhau Trước đây, trong xã hội thôngtin (Xã hội 4.0), dữ liệu được thu thập về sẽ do con người phân tích, còn trong Xãhội 5.0, con người, vạn vật và các hệ thống được kết nối với nhau tại không gian
ảo, siêu thông minh Có thể ví von một cách hình tượng cho dễ hiểu là không gian
ảo có trí tuệ nhân tạo là bộ não, robot-tự động hóa là cơ bắp và IoT và các dữ liệulớn được phân tích làm nên hệ thần kinh, và kết quả phân tích được kỳ vọng lànhững kết quả tối ưu, vượt quá cả khả năng phân tích của con người Nếu trong xãhội 4.0, người máy thực hiện, thao tác theo sự điều khiển của con người, thì trong
Xã hội 5.0, sẽ có người máy siêu thông minh, biết cảm thụ và nhận thức, có thểđưa ra các quyết định thay cho con người Từ đây rút ra được rằng KHCN và phát
Trang 5triển kinh tế xã hội là tỉ lệ thuận với nhau Năng lực KHCN và đầu tư phát triển cómỗi quan hệ không thể tách rời trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA MỘT QUỐC GIA
1 Tổng quan về Đầu tư phát triển.
1.1 Khái niệm, bản chất của đầu tư phát triển
Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thờigian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trongđiều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là phương thức đầu tư trựctiếp nhằm duy trì và tao ra giá trị và năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của tàisản Qua hoạt động đầu tư này, năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của nền kinh
tế cũng gia tăng
Tìm hiểu cụ thể, thì bản chất của đầu tư phát triển bao gồm các nội dung chủyếu sau:
- Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực như: tiền vốn, đất đai, lao
động, máy móc, thiết bị, tài nguyên…
- Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định: Trên góc độ phân công lao động xã
hội thì hai nhóm đối tượng là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ Trên góc
độ tính chất và muc đích đầu tư, đối tượng là công trình vì mục tiêu lợi nhuận vàcông trình phi lợi nhuận Trên góc độ mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư gồmloại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại cấmđầu tư Trên góc độ tài sản, đối tượng là tài sản vật chất (tài sản thực: tài sản cốđịnh sử dụng cho sản xuất kinh doanh và tài sản lưu động) và tài sản vô hình (phátminh sáng chế, uy tín, thương hiệu)
- Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản: gồm tài sản vât chất
(nhà xưởng, thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹthuật…) và tài sản vô hình (phát minh sáng chế, bản quyền…)
- Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư: Đầu tư nhà nước nhằm thúc đầy tăng trưởng kinh tế,
Trang 6tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của cácthành viên trong xã hội Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợinhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
- Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi môt chủ đầu tư nhất định: Theo
Luật đầu tư năm 2005, chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý, sửdụng vốn đầu tư Bởi vậy, chủ đầu tư là người ra quyết định đầu tư hoặc được giaoquản lý quá trình thực hiện, vận hành kết quả đầu tư và được hưởng lợi từ thànhquả đầu tư đó; đồng thời chủ đầu tư cũng chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu
tư, chịu trách nhiệm toàn bộ về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu
tư đến môi trường, trực tiếp ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư
- Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài và tồn tại vấn đề “độ trễ” thời gian: Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian
đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư trong hiện tại nhưng kếtquả đầu tư có “độ trễ” do thời gian vận hành nằm ở tương lại
1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi vốn lớn, vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư: Đặc điểm này liên quan đến quyết định bỏ vốn của chủ
đầu tư Do quy mô vốn lớn nên đòi hỏi phải có giải pháp tạo và huy động vốn hợp
lý, xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý vốn đầu tưchặt chẽ, bố trí vốn theo đúng tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư đúng trọng tâm trọngđiểm Bên cạnh đó, trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, cần nghiên cứu kỹ từ luật phápliên quan đến hoạt động đầu tư, nghiên cứu nhu cầu thị trường, môi trường đầu tưđến yếu tố đầu vào, công nghệ sử dụng,… để đảm bảo nguồn vốn lớn được sửdụng đúng mục đích và đạt hiệu quả tối ưu
Hoạt động đầu tư phát triển có tính chất lâu dài: Tính lâu dài thể hiện trong cả
thời gian thực hiện đầu tư kéo dài cho đến thời gian vận hành các kết quả đầu tưcũng kéo dài
- Thời gian thực hiện đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự ánđến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do thời gian này có thểkéo dài hàng chục năm cùng với lượng vốn lớn nằm khê đọng dưới dạngcác công trình xây dựng dở dang, nên cần xem xét và phân tích kỹ lưỡng
để đưa ra các quyết định sử dụng vốn hợp lý, khắc phục tình trạng thiếu
Trang 7vốn, nợ đọng đồng thời nghiên cứu sự thay đổi các chính sách pháp luật,hay môi trường đầu tư để kịp thời điều chỉnh hoạt động đầu tư phù hợp
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi công trình đưavào hoạt động đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình Trongquá trình vận hành, công trình luôn chịu sự tác động, cả về mặt tiêu cựclẫn mặt tích cực, của các yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội,
Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian: Kết quả là sự so
sánh những gì đạt được với mục tiêu đã đề ra Hiệu quả là sự so sánh thành quả đạtđược với chi phí sử dụng Hoạt động đầu tư luôn diễn ra trong môi trường biếnđộng theo thời gian và không gian, nên đôi khi mục tiêu đề ra hay chi phí sử dụng
sẽ thay đổi theo sự biến động đó, cho nên thành quả đạt được cũng sẽ khác với dựkiến ban đầu Bởi vậy, kết quả và hiệu quả cũng đồng thời thay đổi linh hoạt theo
sự biến đổi của không gian và thời gian, nơi diễn ra hoạt động đầu tư
Thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng, thường phát huy tác dụng ở ngay nơi nó được tạo dựng nên, do đó quá trình thưc hiện đầu
tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân
tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng: Đặc điểm này liên quan đến việc lựa chọn địa
điểm cho việc thực hiện dự án với nhiều vấn đề cần xem xét như: vấn đề quy hoạchđịa phương nơi đặt dự án; vấn đề giá thuê đất, mua đất và giá thành xây dựng côngtrình; vấn đề tiêu thụ sản phẩm, chi phí vận chuyển
Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Do qui mô vốn đầu tư lớn, hoạt động đầu tư
có tính chất lâu dài, … nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thườngcao Nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như: quản lý kém, chất lượngsản phẩm không đạt yêu cầu, … Nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệutăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế, …
Vì vậy, cần đề ra các biện pháp quản lý rủi ro, gồm: nhận diện rủi ro đầu tư, đánhgiá mức độ rủi ro, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro nhằm hạn chế tốithiểu các thiệt hai có thể xảy ra
1.3 Vai trò của đầu tư phát triển
a Ở phạm vi nền kinh tế.
- Tác động đến tổng cầu, tổng cung của nền kinh tế
Trang 8+ Tác động đến tổng cầu: Xét mô hình kinh tế vĩ mô: AD = C + I + G + NX Đầu tư là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu Tácđộng của đầu tư thể hiện rõ nét nhất trong ngắn hạn Khi tổng cung chưa kịp thayđổi, gia tăng đầu tư (I) sẽ làm tổng cầu (AD) tăng
+ Tác động đến tổng cung: Cung trong nước phụ thuộc các yếu tố sản xuất:vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ, …: Q = F (K, L, T, R…)
Khi tăng qui mô đầu tư, sẽ làm gia tăng trực tiếp tổng cung của nền kinh tếkhi các yếu tố khác không đổi Đầu tư còn mang lại tác động nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, … gián tiếp làm tăng tổng cung
- Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượngtăng trưởng Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý góp phần nângcao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao sức cạnhtranh của nền kinh tế, … từ đó làm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
Biểu hiện cụ thể mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thông qua hệ sốICOR (tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa qui mô vốn đầu tưtăng thêm với mức gia tăng sản lượng hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn
vị sản lượng (GDP) tăng thêm
Đầu tư ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng thông qua các nhân tố chính:vốn (K), lao động (L) và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) Trong đó, TFPphản ảnh sự gia tăng chất lượng lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý
và tổ chức sản xuất TFP phụ thuộc tiến bộ công nghệ và hiệu quả sử dụng vốn, laođộng
- Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư tác động làm cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với qui luật vàchiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cânđối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, giữa các ngành, vùng và phát huy đượcnội lực của nền kinh tế
Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, qui mô nhiều hay ít, hiệuquả sử dụng vốn cao hay thấp, … đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, khả năngtăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển cácngành mới, … do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Trang 9Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư góp phần giải quyết những mất cân đối vềphát triển giữa các vùng lãnh thổ, đảm bảo chất lượng cho quá trình đô thị hóa…
Đối với cơ cấu theo thành phần kinh tế, đầu tư góp phần khuyến khích cácthành phần kinh tế, động viên mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế xã hội
- Tác động đến sự tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước
Đầu tư là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa họccông nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia Tùy vào mỗi thời kỳ phát triển màcác quốc gia sẽ có các chiến lược khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ
- Tác động tới tiến bộ xã hội và môi trường
Đầu tư là nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng xã hội tiến bộ Đầu tư đúngtrọng tâm trọng điểm và đồng bộ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh vàbền vững, qua đó nâng cao thu nhập người dân, cài thiện mức sống vật chất, tiếpcận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục Hoạt động đầu tư cũng trựctiếp cung cấp công ăn việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp
Đầu tư tác động tới môi trường: Ở góc độ tích cực, thông qua mục tiêu, kếhoạch đặt ra trong công tác huy động vốn và nguồn lực vào các vùng kinh tế, cácngành, thông qua hoạt động sử dụng vốn, đầu tư đã góp phần khắc phục và giảmbớt sự ô nhiễm, cân bằng lại môi trường sinh thái Những hình thức đầu tư pháttriển sản xuất đã sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng, tiết kiệm tài nguyên môitrường
Ở góc độ tiêu cực, hoạt động đầu tư trên cơ sở các nguồn lực sẵn có, khôngthể tái tạo đang ngày càng cạn kiệt; sử dụng đầu vào là nguồn tài nguyên có khảnăng tái tạo không hợp lý dẫn đến mất cân bằng sinh thái; thải chất độc hại ra môitrường khiến môi trường ngày càng ô nhiễm nặng nề
b Ở phạm vi doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư quyết định đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của cácdoanh nghiệp Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hìnhthành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh.Hoạt động này được thực hiện tập trung thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư
1.4 Nguồn vốn đầu tư phát triển
Trang 10a Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế baogồm tiết kiệm của khu vực tư dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiếtkiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội, bao gồm:
* Nguồn vốn Nhà nước
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách
Nhà nước cho đầu tư Đây là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lựơcphát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụngcho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự áncủa doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho cáccông tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng,lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
Trong nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư còn có một bộ phậnvốn sự nghiệp có tính chất đầu tư phát triển, được cấp cho các đơn vị hành chính
sự nghiệp để sửa chữa, cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất hiện có nhằm phục hồi hoặctăng giá trị tài sản cố định (bao gồm cả việc xây dựng mới các hạng mục công trìnhtrong các cơ sở đã có của các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp) Đây là loại chilưỡng tính, mang tính không thường xuyên do không đều đặn, ổn định hàng nămnhư chi lương, quản lý hành chính…, nhưng lại được cân đối vào chi thườngxuyên do dùng để phục vụ hoạt động sự nghiệp và không mang tính then chốt nhưchi đầu tư thông thường
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá trình
đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai tròđáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấpvốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốnnày phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đàu tư là người vay vốn phảitính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sáchsang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: Được xác định là thành phần
chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khốilượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách côngbằng thì khu vực thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh
Trang 11nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều thànhphần Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt độngcủa khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệpNhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tưcủa toàn xã hội.
* Nguồn vốn của dân cư và tư nhân: Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm
phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợptác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu mộtlượng vốn rất tiềm năng mà chưa được huy động tối đa
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trongdân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ tryuềnthống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồntại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt… Nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổngnguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân cư phụ thuộcvào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồn tiết kiệm nàyphụ thuộc vào:
● Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấpthường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp)
● Tập quán tiêu dùng của dân cư
● Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập vàcác khoản đóng góp với xã hội
b Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng hơn đó làdòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất, các dònglưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữacác quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ cácnước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ
ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức, mỗi hình thức cóđặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng Theo tính chất lưu chuyển vốn, cóthể phân loại như sau:
● Tài trợ phát triển chính thức (ODF - official development finance)
Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức (ODA -officaldevelopment assistance) và các hình thức viện trợ khác, trong đó, ODA chiếm tỷtrọng chủ yếu trong nguồn ODF
Trang 12ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nướcngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hìnhthức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác.Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờtrong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất25%.
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèmcác điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tụcchuyển giao vốn và thị trường…) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn nàyvới thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếukhông việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nềnkinh tế Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tàitrợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn đượcnhững mục tiêu có tính nguyên tắc
● Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồnvốn ODA Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràngbuộc về chính trị Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là tươngđối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao, gây trở ngại khôngnhỏ đối với các nước nghèo
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọngtrong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của thị trường thế giới và
xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mạithường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắnhạn Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển Tỷtrọng của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài,đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa
● Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
FDI có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhậnnguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận Thay vì nhận lãi suất trênvốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tưhoạt động có hiệu quả FDI mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nướcnhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngànhđòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Vì thế nguồn vốnnày có tác dụng rất to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu
Trang 13kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đangphát triển.
● Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trườngvốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng vế các nguồnvốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàncầu Ngay tại nhiều nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứngkhoán cũng gia tăng mạnh mẽ Mặc dù vào nửa cuối những năm 1990, có sự xuấthiện của một số cuộc khủng hoảng tài chính nhưng đến cuối năm 1999 khối lượnggiao dịch chứng khoán tại các thị trường mới nổi vẫn đáng kể Riêng năm 1999,dòng vốn đầu tư dưới dạng cổ phiếu vào Châu Á đã tăng gấp 3 lần năm 1998, đạt
tế xã hội v.v giúp phát triển kinh tế xã hội một cách có hiệu quả
2.2 Vai trò:
Đầu tiên, khoa học công nghệ góp phần gia tăng năng suất lao động của nền kinh tế
Trang 14Minh chứng điển hình là với sự phát triển tột bậc của khoa học công nghệ,năng suất lao động của thế giới hiện tại đã tăng gấp hàng trăm, nghìn lần so với
100 năm trước Một nền kinh tế với trình độ khoa học công nghệ thấp kém thì sẽmất rất nhiều năm để bắt kịp với các nền kinh tế khác nếu không chịu khó thay đổi.Khoa học công nghệ giúp con người khai thác các nguồn lực tự nhiên hiệu quảhơn Trình độ khoa học công nghệ sẽ đi đôi với năng lực sản xuất của nền kinh tế
Tiếp theo, sự phát triển của khoa học công nghệ giúp đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng tích cực, khoa học công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng Vì khoa họccông nghệ phát triển sẽ đi đôi với các ngành công nghiệp, dịch vụ có những bướcnhảy vọt thần kỳ Giúp tỷ trọng trong GDP của các ngành công nghiệp và dịch vụtăng dần, gián tiếp đẩy tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống
Điển hình là xu thế phát triển kinh tế gần đây của các hộ gia đình ở các tỉnhhuyện miền núi Rất nhiều nông dân đã tiếp cận được với máy móc công nghệ đại
Họ chuyển từ những nghề nông truyền thống quanh năm chân lấm tay bùn Sang
mở các xưởng sản xuất quy mô nhỏ Giúp họ nhanh chóng có được thu nhập cao,
ổn định Tất cả điều này đạt được nhờ sự phát triển của khoa học, công nghệ Khicác máy móc, dây chuyền tự động hiện đại đều rất dễ vận hành, không yêu cầuchuyên môn
Thứ ba, khoa học công nghệ phát triển góp phần gia tăng sức cạnh tranh hàng hóa, đẩy mạnh kinh tế thị trường.
Đặc biệt trong kinh tế hàng hóa, khi mục tiêu cuối cùng của các doanhnghiệp luôn là tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được điều này, họ phải tiếp cận từ nhiềuhướng, trong đó có giảm chi phí sản xuất Hay cải tiến hình thức mẫu mã sảnphẩm Tất cả những điều này được thực hiện đều dựa trên việc áp dụng các tiến bộkhoa học công nghệ mới nhất vào quy trình sản xuất
Cuối cùng, phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế như: chínhsách, thể chế chính trị, nguồn lực tự nhiên, đất đai, nguồn vốn, đặc điểm lực lượng
Trang 15lao động, các yếu tố về văn hóa, tôn giáo, dân tộc,… Trong đó khoa học và côngnghệ là yếu tố hàng đầu Nó quyết định sự thay đổi của năng suất lao động và chấtlượng sản phẩm dịch vụ Qua đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Những phát minhmới được ứng dụng vào sản xuất đã và đang giúp giảm bớt lao động tay chân Đặcbiệt là những công việc nguy hiểm, độc hại Khoa học công nghệ phát triển còngóp phần tạo nên những phương thức sản xuất mới.
Như vậy, năng lực KHCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc pháttriển nền kinh tế Do đó việc đầu tư phát triển cho KHCN là không thể thiếu đốivới bất kì quốc gia nào nhằm phát triển nền kinh tế bền vững và phát triển lớnmạnh
2.3 Các chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng lực khoa học công nghệ của một quốc gia.
Chỉ tiêu đầu tiên và là quan trọng nhất chính là tỷ trọng chi ngân sách nhànước cho khoa học công nghệ Giá trị này càng cao càng tốt, cho thấy khoa họccông nghệ là một lĩnh vực trọng điểm của Nhà nước Khỏng chỉ có vậy, đầu tưngày càng nhiều vào khoa học công nghệ, đặc biệt là đào tạo con người cho lĩnhvực này giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển quốc gia
Chỉ tiêu thứ hai cũng không kém phần quan trọng là HDI (chỉ số phát triểncon người) Chỉ số HDI càng cao chứng tỏ quốc gia phát triển con người đang điđúng hướng, dễ tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ tân tiến của thế giới
Chỉ tiêu thứ ba là cơ sở hạ tầng công nghệ Để phát triển năng lực khoa họccông nghệ không chỉ yêu cầu vốn đầu tư từ NSNN hay phát triển con người mà cầnphải có được một hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ tốt
Ngoài ra có thể dựa trên phương pháp Atlas, được khởi xướng từ một dự áncông nghệ do trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á Thái Bình Dương(APCTT) thuộc Ủy ban Kinh tế-Xã hội Châu Á Thái BÌnh Dương (UN - ESCAP)nghiên cứu và ban hành bộ tài liệu “Nguyên lý phát triển dựa trên cơ sở côngnghệ” dùng để áp dụng cho các quốc gia trong khu vực trong đó hướng dẫn khá chitiết các nội dung và phương pháp đánh giá hiện trạng công nghệ ở mỗi quốc gia.Phương pháp này tập trung khảo sát các chỉ số công nghệ ở 3 quy mô: doanh
Trang 16nghiệp, ngành công nghiệp, quốc gia Trong đó đặc biệt là quy mô quốc gia, ở đâyxem xét các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ dựa trên các thànhphần công nghệ (thành phần kỹ thuật, thành phần con người, thành phần thông tin,thành phần tổ chức) của các quy mô dưới nhằm xác định hàm lượng công nghệ giatăng, đánh giá năng lực và đưa ra chiến lược công nghệ.
3 Lý luận về mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và năng lực khoa học công nghệ của một quốc gia
3.1 ĐTPT ảnh hưởng đến NLKHCN
Về mặt tích cực:
Hiện nay, việc phát triển khoa học công nghệ là một vấn đề cấp thiết đối vớimỗi quốc gia Vì vậy cần đầu tư để phát triển khoa học công nghệ Đầu tư vốn chokhoa học công nghệ là một hướng đầu tư quan trọng và với đặc thù là đầu tư chiềusâu Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triểnkhoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia
Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ Pháttriển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu tư cho các hoạtđộng nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ Đầu tư nghiên cứu hoặc muacông nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao
Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước: Đầu tư
và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng năng lực sảnxuất, phục vụ của nền kinh tế và của các đơn vị cơ sở Chính vì vậy, đầu tư cũng làđiều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ củaquốc gia
Đối với đầu tư nước ngoài, hoạt động của doanh nghiệp FDI thường gắn vớicác chương trình chuyển giao công nghệ và phương thức sản xuất mới Đối với chiphí đầu tư trực tiếp của nhà nước cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệmới mặc dù vẫn còn nhỏ về quy mô, thấp về tỷ trọng nhưng đây cũng là một trongnhững biểu hiện của đầu tư và ở mức độ nhất định nó cũng tạo ra và tăng cườngnăng lực khoa học công nghệ nước ta (đạt được những thành tựu nhất định trong
Trang 17lĩnh vực nông nghiệp: giống mới, công nghệ gen, lĩnh vực phần mềm, công nghệvật liệu mới (Trích Giáo trình Lập Dự Án Đầu Tư PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt)
Công nghệ mà doanh nghiệp có được là do nhập khẩu từ bên ngoài hoặc tựnghiên cứu và ứng dụng Công nghệ được nhập khẩu qua nhiều đường như muathiết bị linh kiện rồi lắp đặt, mua bằng sáng chế, thực hiện liên doanh… Công nghệ
do tự nghiên cứu và triển khai được thực hiện qua nhiều giai đoạn, từ nghiên cứu,đến thí nghiệm, sản xuất thử, sản xuất thương, mất nhiều thời gian và rủi ro cao
Dù nhập hay tự nghiên cứu để có công nghệ cũng đều đòi hỏi lượng đầu tư lớn.Mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ cần có nhiều nước đi khác nhau phù hợp để lựachọn công nghệ thích hợp, Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế sosánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân
Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của khoa học vàcông nghệ, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ trọng vốn đầu tư đối mới công nghệ/ tổng vốn đầu tư Chỉ tiêu này chothấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kì
- Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực hiện Chỉtiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu Chỉ tiêu nàycho thấy tỉ lệ vốn là máy móc thiết bị sản xuất công nghiệp, khai khoáng chếtạo, lắp ráp, tỉ lệ này phải lớn
- Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/ tổng vốn đầu tư thực hiện Đầu tư chiềusâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ Do đó, chỉ tiêu này càng lớnphản ánh mức độ đầu tư đổi mới khoa học và công nghệ cao
- Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm Các côngtrình trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệhiện đại, mang tính chất đầu tư mồi, tạo tiền đề để đầu tư phát triển các côngtrình khác Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ
và gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công nghệ
Về mặt tiêu cực:
Bên cạnh những thành tựu to lớn tác động đến khoa học công nghệ, cuộcCách mạng KHKT cũng gây nhiều hậu quả đến sự phát triển kinh tế – xã hội, môitrường đối với từng quốc gia cũng như quy mô trên toàn thế giới Những thành tựu
Trang 18của cuộc Cách mạng KHKT đã giúp loài người sản xuất ra một khối lượng sảnphẩm hàng hóa lớn, song một lượng lớn tài nguyên bị khai thác và một khối lượnglớn chất thải được đưa vào môi trường đã dẫn đến các nguồn tài nguyên ngày càng
bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, khan hiếm nước sạch, suy giảm sự đa dạng sinhhọc… Các loại nguyên, nhiên liệu mà loài người sử dụng ngày càng tăng Năm
1983 nhu cầu về dầu mỏ của thế giới ở mức 59 triệu thùng/ngày Đến năm 2004nhu cầu về dầu mỏ của thế giới đạt mức 85,5 triệu thùng/ngày, mức tăng hằng năm
là 1,4% (trong khi đó sản lượng cung dầu lửa quý in năm 2004 là 82 triệuthùng/ngày và quý IV năm 2004 là 83,6 triệu thùng/ngày*) Sản lượng thép của thếgiới trong 10 năm trở lại đây kể từ năm 1994 có mức tăng hằng năm là 3,32%, mỗinăm tăng thêm 50 triệu tấn, Sản lượng thép của thế giới sản xuất năm 1994 là725,1 triệu tấn, đến năm 2004 là 1.000 triệu tấn
Những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT không những góp phần tạo ranhiều loại máy móc; thiết bị hiện đại; có nhiều phát minh tác động tích cực đến sựphát triển kinh tế – xã hội, mà còn không ít phát minh gây tác động tiêu cực đến sựphát triển kinh tế – xã hội và môi trường như: những phát minh ra vũ khí giếtngười, các chất hóa học gây ô nhiễm môi trường…
Nhiều phát minh sáng kiến khoa học chưa được kiểm nghiệm và đánh giáthấu đáo để thấy được những hạn chế đã đưa vào ứng dụng rộng rãi dẫn đến nhữngtác động tiêu cực lớn tới hiệu quả về kinh tế – xã hội cũng như môi trường… Nhưviệc ứng dụng những giống mới, những phương pháp độc canh, chuyên canh củacuộc “Cách mạng Xanh” thực hiện ở Hoa Kỳ, Ấn Độ, vùng Trung Đông của Liên
Xô (cũ)… thời kỳ 1965 – 1970 đã làm bạc màu, hoang hóa một diện tích lớn đấtcanh tác của các nước này Hay việc sử dụng các chất bảo vệ thực vật, phân bónhóa học trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia đã gây ô nhiễm môi trường
và suy thoái tài nguyên Sự cố các nhà máy hóa chất, vụ nổ các nhà máy điệnnguyên tử, việc khai thác và chuyên chở dầu mỏ… cũng đã gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng… Các phát minh sáng kiến khoa học còn được áp dụng đểsản xuất các loại vũ khí chiến tranh, đặc biệt là các loại vũ khí hóa học, vũ khínguyên tử nhằm sát hại con người, gây ô nhiễm môi trường Những nước phát triển
có nhiều vốn, nguồn lực để nghiên cứu và ứng dụng KHKT Do vậy, các nước nàyđược hưởng lợi nhiều hơn từ những thành tựu của cuộc Cách mạng KHKT và ngàycàng giàu thêm Ngược lại, các nước đang phát triển do không có nhiều nguồn lực
Trang 19đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng KHKT nền kinh tế chậm phát triển và ngày càngnghèo Như vậy, cuộc Cách mạng KHKT còn góp phần làm gia tăng sự chênh lệch
vể trình độ phát triển và khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia và các tầng lớptrên thế giới… Bình quân GDP theo đầu người giữa các nước giàu nhất và cácnước nghèo nhất năm 1950 là 24 lần, nhưng đến năm 2004 lên đến 74 lần
3.2 NLKHCN ảnh hưởng đến ĐTPT.
Về mặt tích cực:
Việc áp dụng công nghệ mới khiến cho năng suất tăng dẫn đến sản lượng vàtích lũy tăng làm cho phát triển công nghệ Công nghệ được phát triển sẽ giúp nềnkinh tế được phục hồi và đi lên
Những tác động của khoa học công nghê đến kinh tế:
Đầu tiên, khoa học công nghệ góp phần gia tăng năng suất lao động của nền kinhtế
Máy móc đang dần thay thế con người trong nhiều ngành sản xuất
Khoa học công nghệ còn mở ra cánh cửa phát triển kinh tế theo đồng thời cảchiều rộng và chiều sâu Các công nghệ mới, vật liệu mới, các công nghệ điện tửlinh kiện mới liên tục được ra đời Đó là phát triển theo chiều rộng Cùng với đó làviệc tăng trưởng theo chiều sâu, tức là sử dụng hiệu quả hơn các nguyên liệu đầuvào cho quá trình sản xuất Khoa học và công nghệ chính là chìa khóa để bước từnền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ và tri thức
Trang 20Tiếp theo, sự phát triển của khoa học công nghệ giúp đẩy mạnh quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế.
Thường trong một nền kinh tế lạc hậu, nông nghiệp sẽ chiếm tỷ trọng cao.Tuy nhiên, các nền kinh tế phát triển và xu thế trên thế giới Công nghiệp và dịch
vụ mới là những thành phần chiếm tỷ trọng cao nhất Nông nghiệp chỉ nên chiếmmột phần rất nhỏ trong nền kinh tế
Cơ cấu GDP Việt Nam theo ngành năm 2017
Thứ ba, khoa học công nghệ phát triển góp phần gia tăng sức cạnh tranh hàng hóa,đẩy mạnh kinh tế thị trường
Người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn hơn nhờ sự gia tăng cạnh tranhhàng hóa Việc áp dụng này không chỉ giúp tăng sức cạnh tranh của hàng hóa mà