1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô thức tự sự chiến tranh trong tác phẩm “chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” của svetlana alexievich

90 175 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN TRỌNG TRƯỜNG MÔ THỨC TỰ SỰ CHIẾN TRANH TRONG TÁC PHẨM CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ CỦA SVETL

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN TRỌNG TRƯỜNG

MÔ THỨC TỰ SỰ CHIẾN TRANH TRONG TÁC PHẨM CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ

CỦA SVETLANA ALEXIEVICH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN TRỌNG TRƯỜNG

MÔ THỨC TỰ SỰ CHIẾN TRANH TRONG TÁC PHẨM CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ

CỦA SVETLANA ALEXIEVICH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học

Mã số: 60220120

Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Khánh Thành

Hà Nội – 2019

Trang 3

Lời cảm ơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Khánh Thành

– người thầy đã chỉ dẫn đề tài và tận tình theo sát em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Em xin gửi lời tri ân tới các thầy cô giáo khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho em những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập tại trường

Mặc dù đã cố gắng để thực đề tài một cách hiệu quả nhất, song luận văn của em tất yếu không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì thế, em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để đề tài nghiên cứu của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 8

3.1.Đối tượng nghiên cứu 8

3.2.Mục đích nghiên cứu 8

3.3.Phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1 10

Khái lược về tự sự học và sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich 10

1.1 Giới thuyết tự sự học 10

1.2 Khái lược sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich 13

1.3 Tiếp nhận sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich 18

1.3.1 Tiếp nhận từ phương diện tự sự học nữ quyền 18

1.3.2 Tiếp nhận trên bình diện chính trị, xã hội 22

Tiểu kết 27

Chương 2 28

Khuôn mẫu tự sự trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ 28

2.1 Khái lược về mô thức tự sự……….28

2.2 Khái lược về diễn ngôn 30

2.3 Diễn ngôn của nữ cựu binh – người kể chuyện 33

2.3.1 Chiến tranh gắn liền sinh mệnh dân tộc, ý thức hệ cộng đồng 33

2.3.2 Chiến tranh gây ra chấn thương 38

2.3.3 Chiến tranh phơi lộ bản chất người 44

2.4 Diễn ngôn của tác giả - chủ thể dẫn dắt 49

2.4.1 Cái nhìn đa diện về con người và cuộc chiến 49

2.4.2 Phụ nữ - những tiếng nói lịch sử bị dồn nén sau chiến tranh 52

Tiểu kết 56

Chương 3 57

Trang 5

Phương thức tự sự trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

3.1 Tự sự đa điểm nhìn hay sự chồng ghép của các mảng màu lịch sử cá

nhân 58

3.2 Không – thời gian lập thể hay sự phản tư của con người về lịch sử 67

3.3 Lối trần thuật phi hư cấu 72

3.4 Giọng điệu 75

Tiểu kết 79

Kết luận 81

Danh mục tài liệu tham khảo 84

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Năm 2015, nhà văn Alexievich được trao giải Nobel văn học Trong

chùm tác phẩm khai thác những tiếng nói cá nhân, mảnh đời bất hạnh, Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ trở thành hiện tượng, khuấy động văn

đàn thế giới Giám khảo – thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển – nhận định tác phẩm có lối viết phức điệu, một đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong cuộc sống Giải thưởng ghi nhận những đóng góp, đánh dấu dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển văn học Belarus Hội đồng nghệ thuật vinh danh một “nền văn học thiểu số” không chỉ bởi tác phẩm đó truyền tải thông điệp mạnh mẽ, chứa đầy xúc cảm về vấn đề bị đè nén sau chiến tranh thế giới thứ hai, mà còn do cách viết mới lạ, cấu trúc tác phẩm có

sự cách tân so với kết cấu truyền thống trên hành trình kiến tạo những giá trị thẩm mỹ mới

Ở đó, phụ nữ kiến tạo diễn ngôn về lịch sử chiến tranh, lịch sử ở đây được kể qua hàng trăm chủ thể - những phụ nữ là nhân chứng, nạn nhân của cuộc chiến – và kể không liền mạch Họ cho thấy nhãn quan lập thể về cuộc sống trước, trong và sau cuộc chiến Lịch sử được nhìn không theo một cái nhìn duy nhất và thống nhất mà trở thành những mảnh vỡ - những mảnh vỡ liên hồi Trong tác phẩm, số phận con người cũng chỉ là những mảnh vỡ Những mảnh vỡ mang trong đó chân lý về cuộc đời Cứ như thế, mỗi sự kiện lịch sử được đưa ra để gợi nhắc về một quá khứ, một thực tại hay nhiều quá khứ, thực tại chồng chất Mỗi phụ nữ là nhân chứng lịch sử và họ nhìn lịch sử theo cách riêng Cách nhìn ấy không chủ đích nhắm đến việc đánh giá lại lịch

sử mà hướng đến tiếng nói cá nhân, quyền phát ngôn của nữ giới với vai trò chủ thể kiến tạo lịch sử

Trang 7

Tác phẩm là cuộc hành trình hồi sinh những mảnh ký ức, đoạn đời chiến đấu của những nữ cựu binh dành trọn tuổi xuân gắn mình vào đạn khói chiến

tranh Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ không miêu tả mặt phải

tấm huy chương mà đi vào những vết thương tổn, khoảnh khắc sinh tử của người lính Hàng trăm cuộc trò chuyện giữa nhà báo Alexievich với những nữ cựu binh dẫn người đọc vào cuộc thám hiểm đầy ham muốn và tò mò Ngoài những trận đánh, chiến thắng và thất bại, còn có những cuộc chiến khác mà người ngoài cuộc không biết Đó là cuộc đấu tranh trong chính bản thể người lính, những xung đột tinh thần hay vật lộn thích nghi cuộc sống hậu chiến

Với đề tài “Mô thức tự sự chiến tranh trong tác phẩm Chiến tranh không

có một khuôn mặt phụ nữ”, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu tác phẩm trên nền

tảng lý thuyết diễn ngôn và trần thuật học Từ hướng tiếp cận này, ở bình diện thẩm mỹ, người kể chuyện thực hiện một chiến lược giao tiếp, đặt trong quan

hệ tương tác lẫn nhau Trong hệ quy chiếu của chiến lược giao tiếp diễn ngôn, chiến tranh được nhìn nhận đa chiều thông qua chủ thể phát ngôn (người kể), đối tượng tiếp nhận và cái được biểu hiện/ bức tranh thế giới đặc thù (sự kiện)

Nghiên cứu chủ thể trần thuật góp phần nghiên cứu văn bản tự sự từ phương diện cấu trúc Chủ thể tự sự có vai trò trung tâm trong yếu tố cấu trúc của nghệ thuật tự sự Tz.Todorov khẳng định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng (…) không thể có trần thuật thiếu

người kể chuyện”[48] Trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ,

trước sự kiện lịch sử - chiến tranh thế giới thứ hai, cụ thể ở Liên Xô – có hàng trăm người kể chuyện chuyển tải thông điệp, tư tưởng đến người nghe Người

kể chuyện với kết cấu tác phẩm có mối quan hệ tương quan Ở đó, bản chất của tác phẩm nghệ thuật được bộc lộ và quyết định tính khuynh hướng, triển khai tác phẩm Ngoài ra, đặt tác phẩm dưới nhãn quan lập thể, chúng tôi khai thác chiến lược tự sự và khả năng tiếp cận hiện thực đa chiều, đa diện của nhà văn Những khoảnh khắc đồng hiện trong hồi ức nhân vật chính là lát cắt sự

Trang 8

sống của con người Lần hiếm hoi, lịch sử được khúc xạ qua tiếng nói của những người từng bị đẩy ra ngoài rìa của chiến thắng – tiếng nói của những người phụ nữ Alexievich lên tiếng cho quyền dân chủ của nữ giới, bước qua những diễn ngôn của nam giới về lịch sử, chủ nghĩa anh hùng

2 Lịch sử vấn đề

Sau khi nhận giải Nobel văn chương năm 2015, nữ nhà báo Alexievich trở thành hiện tượng văn học, lan tỏa giá trị nhân văn tới độc giả quốc tế Những sáng tác của bà ngày càng được đông đảo công chúng đón nhận cũng như mối quan tâm sâu sắc đến đất nước, con người, văn hóa Belarus Không ít lần những sáng tác của Alexievich và bản thân nữ nhà văn bị đánh trượt bởi

sự kiểm duyệt khắt khe Điều này thêm khẳng định cho những giá trị chân chính, quyền tự do và đấu tranh vì một xã hội công bằng, dân chủ

Hướng nghiên cứu tiếp cận tác phẩm văn chương từ các lý thuyết tự sự bên cạnh những cách tân về mặt thi pháp đã không còn mới đối với các nhà

nghiên cứu Về nhà văn Alexievich và tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, hiện nay, trên diễn đàn học thuật trong nước lẫn quốc tế

không nhiều công trình, bài phê bình, chuyên luận khảo cứu về những sáng tác của nữ nhà văn Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng Năm 2016, nhà

văn Nguyên Ngọc chuyển ngữ Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

sang tiếng Việt Một số bài báo, bài phỏng vấn trên các trang mạng, tạp chí

xoay quanh tác phẩm và tác giả như: http://www.alexievich.info/indexEN.html với tiêu đề A search for enternal man (Tạm dịch: Tìm kiếm gương mặt người đàn ông) cung cấp thông tin tiểu sử nhà văn, sự nghiệp sáng tác Bàn về chất triết luận trong tác phẩm, tiểu luận Triết luận và nghệ thuật tự sự trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ làm nổi bật tư tưởng, tinh thần thời đại

của nhà văn khi lấy cảm hứng viết từ đề tài chiến tranh, thân phận con người Bằng vốn sống, trải nghiệm, những người phụ nữ mang cảm thức về sự sống

và cái chết, về tính nhân bản – phi nhân trong mối quan hệ đồng loại Thân

Trang 9

phận và tiếng nói nữ giới nổi bật trên trang viết của Alexievich Vì lẽ đó,

Đặng Hồng Hạnh thực hiện đề tài Diễn ngôn nữ quyền trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ Người viết trình bày vị thế của phụ nữ Nga

trong truyền thống văn hóa gia trưởng và Kito giáo Những giá trị truyền thống đó cùng với “khung tri thức” thời đại Xô viết đã khiến những nữ cựu binh trong tác phẩm trở thành những bóng hình câm lặng suốt bốn mươi năm, không muốn nhớ lại những kỷ niệm chiến trường mà họ trực tiếp trải nghiệm Nhưng sức mạnh ký ức khi được nữ nhà văn khơi dậy đã cháy lên thành ngọn lửa soi tỏ những góc khuất trong tâm hồn họ, cho thấy cả một thế giới phụ nữ trong Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (CTVQVĐ) Trong thế giới đó, không chỉ

có Tổ quốc lâm nguy, cuộc chiến khốc liệt, người đàn ông yêu thương ngã xuống, kẻ thù tàn bạo, đứa trẻ Đức đói ăn bên kia chiến tuyến mà còn có đàn sếu bay ngang bầu trời, vườn hoa anh đào nở rộ mùa xuân… Gần một triệu phụ nữ đã phục vụ trong các binh chủng khác nhau của quân đội Xô viết dưới thời CTVQVĐ cũng là chừng ấy khuôn mặt mà những nhân vật nữ cựu binh trong tác phẩm là đại diện Họ cho người đọc thấy một cuộc “chiến tranh nữ” với “những hình mẫu có tên là cuộc sống” Cái hình mẫu đó được kết tinh từ những người mẹ, người chị, người em, người vơ bước ra khỏi CTVQVĐ, qua bao ki bịch, được thanh lọc để bảo toàn được thiên tính nữ của mình

Trần Thị Sinh (2017, Đại học sư phạm Hà Nội 2) trong khóa luận tốt

nghiệp Diễn ngôn về giới nữ trong tiểu thuyết Chiến tranh không có một

khuôn mặt phụ nữ đã đặt ra về vấn đề giới, phái tính trong văn học Tác giả

khai thác diễn ngôn ngoại biên về giới nữ - nạn nhân của chiến tranh, khẳng định năng lực sức mạnh của phụ nữ, song song ngợi ca vẻ đẹp

Xuất phát từ nhu cầu bổ sung nguồn tư liệu cho công cuộc khai phá, giải

mã những lớp văn bản sóng sánh chất liệu ngôn từ về cuộc đời, thân phận, tâm hồn của những người lính trong khói lửa chiến tranh, chúng tôi tiếp tục kiến giải tác phẩm xoay quanh cách kể, chủ thể phát ngôn về chiến tranh từ

Trang 10

bối cảnh lịch sử xã hội qua đề tài Mô thức tự sự chiến tranh trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mô thức tự sự chiến tranh trong tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

3.2 Mục đích nghiên cứu

Khi tiến hành đề tài này, chúng tôi nghiên cứu tác phẩm trên hai phương diện nội dung và hình thức, tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn học, bên cạnh phân tích chất tự sự, làm sáng tỏ mẫu hình tự sự thông qua lý thuyết diễn ngôn Hơn nữa, đi vào tác phẩm, chúng tôi lý giải một số quy luật, hiện tượng

xã hội, đặt vấn đề trong tính đa chiều để nhận thức lại thực tại Cụ thể, trong

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, người viết lựa chọn nghiên cứu

lịch sử cuộc chiến tranh dưới lăng kính của những người trần thuật Từ đó, công trình chỉ ra những đặc sắc trong tư tưởng Alexievich khi luận giải những vấn đề cấu trúc tác phẩm, lịch sử, con người và chiến tranh, đồng thời khẳng định tài năng văn chương và sự nhạy bén trong cách tiếp cận hiện thực cuộc sống

Trong luận văn, người viết dành một chương để nghiên cứu, phân tích

những giá trị thi pháp của tác phẩm Thể loại của Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ vừa mang tính chất văn chương, vừa mang tính báo chí

Giao thoa thể loại cũng là một trong những bản chất của văn xuôi hậu hiện đại Từ đó, người viết nhấn mạnh sự chuyển động mau lẹ của cảm quan hậu hiện đại, quan điểm sáng tác và phong cách nhà văn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn đi sâu khảo sát tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp tiếp cận thi pháp học kết hợp tự

sự học nhằm khai thác những đặc trưng thẩm mỹ - nghệ thuật, phong cách của hiện tượng văn học, cấu trúc trúc bên trong của tác phẩm văn học Ngoài ra, một số phương pháp khác được sử dụng trong quá trình nghiên cứu tác phẩm như: Phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận văn hóa học

Trong nghiên cứu, chúng tôi so sánh hiện tượng văn học chiến tranh xuất phát từ người phụ nữ với văn học chiến tranh phổ quát được dẫn dắt bởi nam giới Việc so sánh như vậy giúp chúng tôi xác định được vị trí của hiện tượng trong một hệ thống và đánh giá được ý nghĩa của nó trong hệ thống đó

Phương pháp tiếp cận văn hóa học dùng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm Từ cách tiếp cận văn hóa học, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại, nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức quan niệm về con người, về không – thời gian trong tác phẩm Luận văn khai thác quan niệm về con người (cụ thể là người phụ nữ) gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể

5 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Khái lược về tự sự học và sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich

Chương 2: Khuôn mẫu tự sự trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

Chương 3: Phương thức tự sự trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

Trang 12

Chương 1 Khái lược về tự sự học và sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich 1.1 Giới thuyết tự sự học

Xét về từ nguyên, tự sự học (narratology) là khoa học về trần thuật Trong thập kỷ 70 của thế kỷ trước, các nhà phê bình theo chủ nghĩa cấu trúc

đã dùng thuật ngữ này trong sự phân tích có tính cấu trúc, cụ thể hơn là theo

xu hướng cấu trúc chủ nghĩa về trần thuật Do đó, định nghĩa về tự sự học bị rút gọn lại Hiện nay, tự sự học được hiểu theo các định nghĩa rộng hơn và hẹp hơn Theo nghĩa rộng, lí thuyết về tác phẩm tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của Chủ nghĩa cấu trúc Tự sự học nghiên cứu quy luật vận động, phát triển, hình thức, tính chất của tác phẩm tự sự với nhiều chất liệu khác nhau, cũng như nghiên cứu đối tượng tiếp nhận tác phẩm, năng lực tự sự của tác giả (chủ thể sản sinh) Đối với Aristote, trần thuật là một tác phẩm có một cốt truyện (ví dụ sử thi, bi kịch, hài kịch) Trần thuật gồm nhiều loại hình, trong đó có cả diễn ngôn phi văn học như quảng cáo, kịch, phim, lịch sử Ở cách hiểu hẹp, nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn tự đối với các

sự kiện câu chuyện Theo đó, tự sự học tập trung quan tâm đến diễn ngôn tự

sự, không tập trung vào bản thân câu chuyện Các nhà tự sự học không đi vào các vấn đề nội dung, chủ đề của tự học mà nghiên cứu các phương thức tạo nên văn bản tự sự Ngày nay, trần thuật học nghiên cứu các phương tiện có tính chất trần thuật của nhiều thể loại và diễn ngôn văn học hay phi văn học

mà không được xác định một cách chặt chẽ là trần thuật, như thơ trữ tình, phim ảnh, kịch, lịch sử, quảng cáo

Tự sự học là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, có lịch sử lâu đời Thời Hi Lạp cổ đại, Platon đã đối lập mô phỏng tự sự Sang thế kỷ 20, Thomas Lister bàn về điểm nhìn, John Lockhart chú ý đến khái niệm khoảng cách, các học giả Nga V.Shklovski, V.Propp, B.Tomashevski đã làm cho các học giả

Trang 13

phương Tây chú ý với những đề xuất của họ về cấu trúc tự sự Ban đầu, chủ nghĩa cấu trúc lấy truyện kể làm đối tượng nghiên cứu nhưng chỉ tập trung vào hành động, sự kiện mà bỏ qua nghiên cứu cách kể, nhân vật và ý nghĩa của truyện Về sau, tự sự học phát triển theo khuynh hướng chủ nghĩa cấu trúc kinh điển là nghiên cứu lời kể, cách kể hoặc nói cách khác là nghiên cứu diễn ngôn tự sự Các nhà nghiên cứu như Todorov, Genette, Chatman tập trung nghiên cứu lớp ngôn ngữ trần thuật và các yếu tố tạo nên nó: người kể, hành động kể, ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu Khi đề xuất tự sự học, Tz.Todorov nêu quan điểm: “Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự Để phát hiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy, người nghiên cứu đem hiện tượng tự sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định chức năng và mối quan hệ qua lại của chúng” [20] Nhà nghiên cứu người Hà Lan - Mieke Bal - trong

cuốn Trần thuật học – Dẫn luận lí luận tự sự (1999) đã kết hợp nghiên cứu

cấu trúc chuyện với văn bản và định nghĩa về tự sự học khác Todorov: “Tự sự học là lí luận về trần thuật, văn bản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản phẩm văn hóa „kể chuyện‟” [23] M.Bal chia tự sự làm ba tầng bậc: văn bản trần thuật (gồm người kể chuyện, trần thuật, bình luận phi trần thuật, miêu tả), chuyện kể (gồm trật tự sắp xếp, nhịp điệu, tần xuất, không gian, tiêu điểm), chất liệu (gồm sự kiện, kẻ hành vi, thời gian, địa điểm).Trong chức năng và mục đích kể chuyện, các tầng bậc đan kết, xuyên thấm vào nhau

Các nhà tự sự học không nghiên cứu văn bản tự sự cụ thể mà chỉ nghiên cứu cấu trúc nội tại của tự sự Từ đây, đối tượng của tự sự học được xác định

là ngữ pháp, các nguyên tắc tạo ra văn bản, không nghiên cứu nhân vật, hành động, chỉ nghiên cứu chức năng Tóm lại, tự sự học không nghiên cứu các yếu

tố bề ngoài mà nghiên cứu các mối quan hệ bề sâu của tự sự

Ngành tự sự học phát triển như ngày hôm nay nhờ vào công sức đóng góp lớn của một số nhà tự sự học như: M.Bakhtin, Roland Barthes, Todorov, Mieke Bal… M.Bakhtin (1895 – 1975) là nhà khoa học nhân văn lỗi lạc, đỉnh

Trang 14

cao của thi pháp học và đặt nền tảng cho tự sự học Nga Phạm trù nền tảng ông nghiên cứu là đối thoại, phức điệu, đa thanh, bản chất ngôn từ của tiểu thuyết Tính đa thanh trong văn chương được Bakhtin quan niệm như một thuộc tính phổ biến của tư duy con người Nó là biểu hiện của nguyên tắc đối thoại Đối thoại chính là bản chất của diễn ngôn Roland Barthes là nhà phê bình văn học, nhà văn hóa học Pháp, một trong những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái ký hiệu học Pháp, đã đi từ chủ nghĩa cấu trúc đến giải cấu trúc, có đóng góp lớn cho nghiên cứu tự sự học Phạm trù nền tảng trong các công trình của R.Bathes là tự sự có mặt ở khắp mọi nơi Tự sự là cuộc sống

Trong cuốn Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (1966), ông viết: “Việc kể

chuyện với muôn hình vạn trạng luôn tồn tại khắp nơi, mọi thời, trong mọi xã hội Con người ta bắt đầu kể chuyện ngay từ buổi sơ khai của lịch sử loài người Vâng! Không bao giờ và cũng chẳng ở đâu lại có tồn tại một dân tộc

mà lại không biết kể chuyện Tất thảy mọi giai cấp, các nhóm xã hội đều có những “tâm sự” riêng của mình Nhiều khi những con người thuộc các nền văn hóa khác nhau, nếu không muốn nói là đối lập nhau, lại cùng dõi theo một câu chuyện” [32] Tự sự trong quan niệm của R.Barthes là bỏ qua mọi cách biệt giữa văn học có giá trị hay tầm thường, xé bỏ những rào cản về văn hóa, lịch sử và dân tộc, nó tồn tại trong thế giới như chính bản thân cuộc sống Một trong những đóng góp lớn của Todorov là ông đã đề xướng thuật ngữ

“narratologie”, một khoa học nghiên cứu tự sự học, khoa học của truyện kể, là

lý thuyết về một môn khoa học cho đến lúc bấy giờ chưa hề có, một lý thuyết đúng nghĩa, chứ không phải chỉ là những kinh nghiệm Từ đây, thuật ngữ này được sử dụng như thuật ngữ chính thức của ngành nghiên cứu tự sự Công

trình khai sinh ra thuật ngữ này chính là Ngữ pháp “Truyện mười ngày” được

Todorov viết năm 1969 Todorov quan tâm nhất đến ngữ pháp có thể áp dụng cho bất cứ ngôn ngữ nào chứ không phải chỉ là thứ ngữ pháp mang những quy

tắc riêng của mỗi ngôn ngữ Điều này được ông làm rõ thêm trong Ngữ pháp của truyện kể để minh chứng cho sự tồn tại của ngữ pháp phổ quát Mike Bal

Trang 15

(sinh năm 1949 tại Hà Lan) đóng góp công trình Tự sự học – giới thiệu về lý thuyết tự sự (1985) Nhà khoa học Hà Lan được xếp vào cùng một nhóm với

các nhà nghiên cứu lấy G Genette làm trung tâm, có xu hướng quan tâm nghiên cứu đến lớp ngôn từ của người trần thuật, đồng thời, bà là một trong những đại diện tiêu biểu cho xu hướng tam phân trong lĩnh vực nghiên cứu tự

sự Bal cũng là người mở rộng đối tượng nghiên cứu của tự sự học sang điện ảnh, nghệ thuật thị giác…Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là một trong những nhà khoa học có công lớn trong việc giới thiệu lý thuyết tự sự học vào Việt Nam Ông đã đề xướng tổ chức hai cuộc hội thảo về tự sự học vào năm 2001 và 2008

1.2 Khái lược sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich

Svetlana Alexievich sinh năm 1948 tại thị trấn Ivano – Frankovsk miền Tây Ukraina trong một gia đình có cha là người Belarus, mẹ là người Ukraina Bà là con của một quân nhân, sau khi cha bà giải ngũ, cả gia đình đã quay trở lại chính quê hương Belarus để ổn định cuộc sống S.Alexievich đã trở thành phóng viên cho một số tờ báo địa phương trước khi tốt nghiệp Đại học Lenin (1972), nay là Đại học Nhà nước Belarus ở Minsk và sau này trở thành phóng viên của tạp chí văn học Neman (1976)

Khởi nghiệp từ ngành báo chí, hiện thực cuộc sống là nơi Svetlana thuộc

về và sự thật là nguồn nuôi dưỡng chính nghiệp bút của bà Khi còn là phóng viên cho một tờ báo địa phương vào những năm 70 của thế kỉ 20, bà đã bắt đầu cuộc hành trình truy tìm công lý của mình bằng việc ghi âm lời kể của những nữ binh sĩ từng tham gia chiến tranh thế giới thứ II, nói về những điều chưa hề được đề cập tới trong bất kì trang viết nào của lịch sử cuộc chiến

ngày ấy Và cũng từ đây, Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ đã ra

đời – cột mốc đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của cây bút S.Alexievich trên diễn đàn văn nghệ vào năm 1983 Từ sức nóng và độ vang của tác phẩm đầu

tiên, Alexievich cho ra mắt Những nhân chứng cuối cùng vào năm 1985, Quan tài kẽm ( Zinky Boys: Soviet Voices from the Afghanistan War) xuất

Trang 16

bản năm 1989, đặc biệt vào năm 1998 bà được giải sách Leipzig về Thông

cảm Châu Âu cho cuốn sách mang tựa đề “Voices from Chernobyl” (Tiếng vọng từ Chernobyl, sáng tác năm 1997) Cuốn sách phơi bày thảm trạng kinh

hoàng của những người công nhân dọn phóng xạ sau thảm họa hạt nhân ở Ukraina

Svetlana Alexievich viết những tác phẩm truyện ngắn, những bài luận (essays) và cả những bài phóng sự Người mà theo như bà có chia sẻ là đã có ảnh hưởng nhất định tới giọng văn (voice) của mình đó là Ales Adamovich, một nhà văn người Belarus, người đã phát triển thể loại tiểu thuyết qua nhiều cách tiếp diện : “collective novel” (tiểu thuyết có tính sưu tập), “novel – evidence”, the “epic chorus” (hợp xướng thiên sử thi) Theo Sara Danius, người thư ký kì cựu của học viện Swedish, mỗi khi đã nhắc tới S.Alexievich,

bà luôn ngợi ca, khâm phục nữ nhà văn như một cây bút mang trong mình một sức mạnh “phi thường” (extraordinary)

Từ chính những sự “phi thường” ấy, công chúng đón nhận tài năng của S.Alexievich bằng niềm tin yêu cảm mến bởi những gì bà phơi mở– đó là máu, là tận cùng của nỗi khổ đau trong vết trượt dài bi thương của cuộc tồn sinh Thành công trong sự nghiệp của nữ nhà văn còn là những dấu mốc của

sự tôn vinh thông qua các giải thưởng quốc tế, như: giải Leninsky Komsomol

ở Liên Xô (năm 1986), từ năm 1996 đến năm 1999, bà vinh dự nhận được các giải thưởng uy tín trên lĩnh vực văn học nghệ thuật: Tucholsky, Andrei Sinyavsky, Herder…Bước sang những năm đầu thế kỉ 21, tài năng của Alexievich tiếp tục được vinh danh ở các giải thưởng lớn như: National Book Critics Circlr Award (2005), Oxfam Novib (2007), award for literary reportage (2011), Peace Prize of the German Book Trade (2013) Và năm

2015, giải thưởng Nobel văn học– một giải thưởng uy tín danh giá bậc nhất

trên thế giới – đã được trao cho tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn

mặt phụ nữ Với cộng đồng học giả thế giới, những đóng góp của bà không

chỉ dừng lại trong lĩnh vực văn chương, hay đóng góp chỉ riêng cho nền văn

Trang 17

hóa cộng đồng Belarus, mà Alexievich xứng đáng vì tác phẩm của bà đã chạm tới những giá trị mang tính nhân loại Cùng ngày, sau khi nhận giải, phát biểu trong một cuộc phỏng vấn báo chí tại một văn phòng tòa soạn ở Minsk, bà trả lời “Đây không phải là một phần thưởng cho tôi mà là cho nền văn hóa, một quốc gia nhỏ bé của chúng tôi, mà đã bị rơi vào một cối xay trong suốt lịch sử” [9] Nhân cách và phẩm tính trung lập, khách quan của

“người thư kí thời đại” đã mở ra những khoảng trời của một thế giới mới – thế giới của những “vùng biên” trước nay luôn bị ẩn đi quên lãng, bị những tượng đài đổ bóng che khuất

Alexievich là cây bút tiếng Nga thứ sáu nhận được giải Nobel, sau Alexander Solzhenitsyn và Joseph Brodsky Ivan Bunin, Boris Pasternak, Mikhail Sholokhov Bà trở thành cây bút nữ thứ 14 đoạt giải thưởng này kể từ lần đầu tiên tổ chức vào năm 1901, người phụ nữ đoạt được giải này trước bà gần nhất là Alice Munro, nhà văn người Canada

Alexievich luôn kiếm tìm cho mình những con đường gần nhất đến với đời sống hiện thực của con người và đó phải là những cảnh tượng được chuyên chở vào trong trang viết của mình thông qua đôi mắt và đôi tai nghe

nhìn từ chính cuộc sống Chiến tranh không có một khuôn mặt người phụ nữ

tập hợp của những con người hi sinh, hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc Tác phẩm không chỉ gợi lại ánh hào quang của những tấm huy chương mà còn khơi sâu tận cùng nỗi đau thương mất mát của những phụ nữ mang trong mình tinh thần hiện sinh cao đẹp

Trong một cuộc phỏng vấn với chủ đề “Kí ức chân thật và cay đắng” trên tạp chí văn học Xô Viết số 3/1985, khi được hỏi về cảm nhận bản thân

và những người anh hùng trong đoàn thiên tiểu thuyết của mình, Svetlana giãi bày: Bà xuất thân từ một gia đình làm nghề giáo ở nông thôn Tuổi thơ của nhà văn trôi qua với tháng ngày vui thú đọc sách và nô đùa giữa thiên nhiên Rồi sau đấy vào trường đại học và nghề làm báo Tháng năm trôi qua, dần dà một tình cảm kỳ lạ đã chiếm ngự lòng Alexievich Gần đến năm ba mươi tuổi

Trang 18

bà còn chưa sáng tác được gì, chưa làm nên điều gì đáng kể Ngày tháng cứ biến mất đi như bị vùi trong cát Rồi bất ngờ một công việc đã làm thay đổi cuộc đời nữ tác giả Hằng trăm sinh mệnh đã rơi xuống đời tôi như tuyết lở

Và hiện giờ, bà đã sống, đã chắt chiu được một ít kinh nghiệm, kinh nghiệm của kẻ khác biến thành kinh nghiệm của bà Một trong những nữ cựu chiến binh đã nói rằng, trở về từ mặt trận, bà cảm thấy già hơn biết bao so với những bạn bầu cùng tuổi, vì bà đã trải, đã chứng kiến bao sự biến trên đời Cuốn sách giống như một thứ tài liệu quý giá trong kho tàng tư liệu lịch sử chiến tranh của nhân loại Ở đó, những người phụ nữ mang vai trò và sứ mệnh chẳng khác những người đàn ông Lịch sử cuộc chiến tranh còn là sinh mệnh của những người phụ nữ Vậy họ là ai trong hàng triệu người ưu tú ấy? Họ là người Xô Viết, là người Nga và cũng là người Belarus, Ukraina, Tadjik, là bất

kể người phụ nữ nào trên trái đất này đầm mình vào con đường đánh tranh đòi công lý, khát khao bình yên và cháy mình trong một tình yêu vĩnh cửu – tình yêu quê hương đất nước Tuy nhiên, điểm đặc biệt trong hành trình thu thập những thước tư liệu sống động của tác giả là ở chỗ Alexievich không chú trọng gợi tìm kí ức bao chứa những trận đánh hay sự kiện chính trị - cái mà trước đó đã được rất nhiều người ghi chép lại trong những ấn phẩm, trên mặt báo và đã được trình hiện trước toàn nhân loại - mà bà lắng nghe và ghi chép lại lịch sử được tổng hòa nên từ những xúc cảm của chính chủ thể/nạn nhân/ chứng nhân của lịch sử, họ luôn đan xen vào trong dòng hồi tưởng của mình bằng những tình tiết, một kỉ vật hay dấu ấn hình ảnh không thể nào quên Công cuộc “phục hưng quá khứ” bắt đầu cùng với chiếc máy ghi âm – thứ để ghi lại cuộc trò chuyện giữ S.Alexievich với những người phụ nữ được

bà phỏng vấn, tiếp theo đó là những cuốn sổ dày đặc những dòng ghi chép

Trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, người phụ nữ đối diện

với chiến trường khắc nghiệt và chiến đấu như những người đàn ông thực thụ

Họ chỉ huy đa dạng những loại động cơ máy móc, trang thiết bị chiến trường một cách thuần thục và để rồi giáp mặt với quân địch trên mọi trận Họ trở

Trang 19

thành những người lái phi công, lái xe tăng, pháo thủ, lính bắn tỉa…tất cả đều tham chiến khi tuổi đời còn rất trẻ Cuộc chiến kết thúc, họ trở về với biết bao tổn thất, bao gồm cả chấn thương về mặt tâm lý Nếu lịch sử của người đàn ông thường được miêu tả thông quả những thành tích, chiến công thì trong khi

đó, người phụ nữ lại viết lịch sử của chính mình theo những cách rất riêng Tác phẩm này là sự chọn lọc của những câu chuyện, mảnh đời trong hàng trăm phỏng vấn của S.Alexievich với người phụ nữ Xô Viết trở về sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai Những vấn đề bấy lâu nay bị che đi, chôn vùi bởi hào quang của những người đàn ông đã được “người đàn bà thép” Alexievich phơi mở “Cú hích” để đưa S.Alexievich đi sâu tìm hiểu vào không gian của những miền kí ức, theo bà, đó là nhờ lời khích lệ động viên của nhà văn Alex Adamovich Trên tờ báo “Ký ức chân thật và cay đắng”, nhà văn đã nhắc tới Alex Adamovich như người “mồi lửa”, thuyết phục bà trong lúc còn thời gian, nên ghi chép lại những kỉ niệm của những người phụ

nữ đã chiến đấu Thẳm sâu nỗi niềm “người thư kí” trung thành của lịch sử,

nữ nhà văn được trao giải Nobel luôn tự niệm “Chúng tôi tự mình phải thấu hiểu Tổ quốc mình, nỗi đau khổ đã xuyên suốt từng mái ấm, nỗi khiếp hãi đã

ẩn nấp trong mỗi một con người Điều này đã trở thành một yêu cầu Theo ý tôi chiến thắng sẽ bị làm cho nhỏ đi bằng những lời nhắc nhở long trọng và bằng những phát pháo hoa Chiến thắng là vĩ đại, bởi vì con đường dẫn đến đấy đã kinh qua cả một tấn bi kịch của con người trong từng phút giây”[11] Nhà văn hoàn thành tác phẩm vào năm 1983 và xuất hiện lần đầu tiên trên tạp chí văn học Xô Viết dưới dạng những mẩu chuyện ngắn vào năm

1984 Năm 1985, cuốn sách được xuất bản và được in đi in lại nhiều lần trong vòng 5 năm với số lượng trên 2.000.000 bản Đây được coi như cuốn tiểu thuyết được viết từ những lời bộc bạch của những người phụ nữ trong chiến tranh, họ nói về những khía cạnh của chiến tranh – vấn đề mà trước kia chưa bao giờ được đề cập

Trang 20

1.3 Tiếp nhận sáng tác của nhà văn Svetlana Alexievich

1.3.1 Tiếp nhận từ phương diện tự sự học nữ quyền

Tự sự học nữ quyền là một nhánh của tự sự học hậu kinh điển Nếu tự sự học kinh điển xác lập những cấu trúc, mô hình tự sự phổ quát, không quan tâm đến những bình diện thuộc ngữ cảnh văn hóa, lịch sử ý thức hệ… thì tự

sự hậu kinh điển trái ngược hoàn toàn Tự sự học nữ quyền gắn bó hai lĩnh vực: tự sự học và phê bình nữ quyền

Từ cuối thập niên 1970, những nghiên cứu chú ý đến khả năng can thiệp của nhân tố giới vào các chiến lược tự sự, sự hình thành, tiến trình phát triển của các thể loại hay việc diễn giải các văn bản tự sự bắt đầu xuất hiện Những nghiên cứu ra đời trong bối cảnh bản chất giao tiếp của tự sự ngày càng được chú ý, nhận thức về thi pháp học tự sự không thể tách rời ngữ cảnh tự sự, nội dung Sang thập niên 1980, vấn đề nữ quyền của tự sự học nữ quyền đậm tinh thần muốn phá bỏ bất bình đẳng, phân biệt đối xử của xã hội đối với phụ nữ nhưng đóng khung lại trong ngữ cảnh văn chương đặc thù Bước sang thế kỷ

21, tự sự học nữ quyền trở nên đa nguyên, không dễ dàng chấp nhận ý niệm phổ quát về phụ nữ, phái tính

Năm 1949, Simone de Beauvoir (1908 – 1986) – nhà văn, nhà triết học,

nhà nữ quyền người Pháp xuất bản tác phẩm Giới tính thứ hai Tác phẩm

được coi như một bước tiến lớn trong nghiên cứu về giới tính, đặc biệt là nghiên cứu về phụ nữ Trong tác phẩm, Beauvoir đã bàn đến vấn đề nữ quyền với tư cách là một nhà triết học Bà trích dẫn, nhận xét, bình luận quan điểm của nhiều nhà triết học trong lịch sử về vấn đề phụ nữ, từ Platon, Aristot đến Kant, Heghen, Heidegger, Husserl, v.v Trong quá trình nghiên cứu vấn đề này, Beauvoir còn liên hệ với thực tiễn phong trào nữ quyền trong lịch sử, chính sách đối với phụ nữ ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Liên Xô Đối với Beavoir, tự do và bình đẳng của phụ nữ không phải chỉ là sự lựa chọn thuần túy trong tư tưởng mà gắn liền với hành động thực tiễn, tức lao động và đấu tranh

Trang 21

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ quan tâm đến cuộc sống nữ

giới suốt chiều dọc lịch sử chiến tranh Tác phẩm được tạo lập nhằm hướng đến người tiếp nhận sống trong điều kiện văn hóa, xã hội tiến bộ Alexievich thực hiện tác phẩm, dựa trên tiền đề về sự khác biệt có tính chất đối lập giữa giọng của đàn ông và đàn bà Nhà văn khám phá hiện thực từ nhiều giọng nữ Chúng là hiện thân của nhiều bản ngã Những “bản ngã” ý thức và chịu trách nhiệm về phát ngôn của mình Họ không náu mình dưới lớp ngôn từ mà qua

đó bộc lộ cảm xúc, cá tính riêng Những phụ nữ tâm sự thông qua cảm xúc, trải nghiệm bản thân để nói tiếng nói của mình và tác động đến người nghe Cùng viết về đề tài chiến tranh, thân phận con người hậu chiến, nhiều cây bút tập trung ghi chép mô tả, khoác lên mình những ấn định về hiện thực phải diễn ra như “những” sự mong muốn có điều hướng , kể cho thật nhiều và miễn sao đừng chạm vào cái “tự nhiên chủ nghĩa” Nguyên lý tìm tòi bị coi nhẹ và làm cho văn học nghèo nàn không chỉ về nội dung mà còn khiến nó đơn điệu và nhợt nhạt về hình thức thể hiện Tác phẩm nào ra đời cũng hao hao giống nhau, đều cùng phát triển tư tưởng theo một lối mòn tư duy, phong cách nhạt nhòa, người sáng tác thì luôn bị ám ảnh bởi tâm lý về “hiện thực lớn”, “vĩ đại”[49] Nếu như văn chương trở thành công cụ truyền bá và chỉ phục vụ lợi ích nhu cầu cho giai cấp luận thì sẽ dẫn tới tình trạng “suy tư

tưởng” cho một nền văn học (“suy tư tưởng” – Lê Ngọc Trà trong cuốn Lý luận văn học) Cường điệu những lập trường quan điểm thì sẽ làm nhạt đi

chất triết học trong văn chương, “chiều sâu của sự khái quát, khả năng vươn tới những tư tưởng có tầm nhân loại cũng như cách lý giải hiện thực độc đáo,

bộ lộ bản lĩnh và cách nhìn riêng của nhà văn về thế giới” [24]

Hiện thực phải là điều đã và đang xảy như nó vốn có chứ không thể tồn tại môt hiện thực được tái hiện theo ý muốn chủ quan Thế giới hiện thực phải được soi rọi đa diện, đa chiều kích, mở rộng không gian của các “vùng ngoại biên” – vùng hiện thực bấy lâu nay luôn bị coi nhẹ hoặc cố tình bị làm mờ đi bởi những định kiến Hiện thực không bao giờ đơn sắc, bên cạnh cái tốt còn là

Trang 22

cái xấu, đối nghịch với cái cao cả là cái thấp hèn, đằng sau tiếng cười reo vui

là tiếng nấc chua chát, nghẹn đầy đắng cay của đời sống nhân sinh và đôi lúc

vô tình còn là sự đối lập nghiệt ngã bậc giá trị giữa người đàn ông và người phụ nữ

Viết Chiến tranh không có một khuôn mặt người phụ nữ Svetlana

Alexievich đã cởi trói và phá vỡ mọi khuôn thước, làm nảy lên từ cuộc chiến tranh những dòng xúc cảm chân thật Lịch sử cuộc chiến được tái hiện bằng lịch sử của cảm xúc và đồng hiện những mảnh kí ức đã “găm” thẳm sâu trong miền hồi tưởng của người tham chiến Vượt qua mọi giới hạn chật ních của đề tài viết về cuộc chiến tranh Vệ quốc, nữ nhà văn đã liều lĩnh và mạo hiểm ghi lại toàn bộ những cuộc trò chuyện của mình với những người phụ nữ từng tham gia chiến trận, để rồi phơi lên trang sách là chủ đề về sự sống còn – tồn vong, về những nỗi tuyệt vọng, bi kịch thời đại, những chấn thương tinh thần trải dọc suốt chiều dài lịch sử cuộc chiến tranh của người lính Xô-viết

Cuốn sách là thành phẩm kết tinh từ hàng trăm những cuộc phỏng vấn và Alexievich khúc xạ nó lên trang viết của mình bằng một lối viết phức điệu, sắp xếp lại tư liệu của cuộc phỏng vấn mà đọc lên như những mẩu truyện ngắn Chính lối viết thông tục đã khiến tác phẩm của bà dễ được cảm nhận Những câu chuyện được dàn xếp đi, dàn xếp lại thành những bài văn, mẩu truyện, không còn thô cứng dưới dạng tư liệu Nhà văn không hư cấu các tình tiết, thông tin mà hoàn toàn trung thành với những sự kiện và lối nói của người được phỏng vấn Hướng đến vấn đề nóng bỏng của thời đại, nhà văn đã không đi vào mô tả hay tái hiện lại những chiến thắng vẻ vang mà bà khơi tìm, tập hợp chất liệu tươi sống từ tiêu cự cá nhân – ngay cả những thứ riêng

tư nhất, thầm kín nhất: “Không ở đâu, cá nhân phơi mình ra rõ như vậy, bộc

lộ chính mình ra nhiều như trong chiến tranh, và cũng có thể trong tình yêu

Nó phơi lộ những bí ẩn riêng tư nhất của họ Có thể nhìn thấu họ qua tận lớp

da Lớp vỏ tầm thường của họ rách ra, phơi lộ một vực thẳm mà chính họ không sẵn sàng đối mặt Dù đó là câu chuyện của chính họ”[28,21]

Trang 23

Kí ức đối với Alexievich cũng là nhân tố làm nên lịch sử và là chất liệu làm nên văn học Lịch sử không được nhìn duy nhất qua một lăng kính mà nó

là sự “tiêu hóa” qua các lăng kính khác nhau Mỗi trang viết của nhà văn là mỗi trang đời “ẩn chứa niềm vui nguyên thủy và phơi trần cái bi thảm của cuộc sống”[28,18] Ẩn tang trong đó có cả cái hỗn độn và cái phi lý, sự ghê tởm và dã man…tất cả hiện lên không chút ngụy tạo Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng, tác giả tiếp cận vấn đề của thời đại khởi thủy từ những giá trị nguyên gốc để đi đến những chiêm nghiệm về con người

Sức mạnh để chiến thắng giải Nobel văn chương và sức hút thế kỉ nơi

độc giả của Chiến tranh không có một khuôn mặt người phụ nữ không đóng

khung ở những thước tài liệu sống vô giá, những nhịp điệu hình ảnh chuyển động không ngừng mà sức mạnh và sức hút ấy được hun đắp từ giá trị vĩnh hằng của con người - đó là phần người luôn hiện diện trong con người Giá trị của mỗi tác phẩm văn chương không phải chỉ ở hiện thực mà còn phải ở tầm

tư tưởng của nó Những tư liệu tưởng chừng như khô khan đã được nhà văn tổ chức, sắp xếp dưới hình thức của một cuốn tiểu thuyết đã tạo ra niềm cảm hứng nơi người đọc Lần hiếm hoi, lịch sử được khúc xạ qua tiếng nói của những người trong cuộc bị đẩy ra ngoài rìa của chiến thắng – tiếng nói của những người phụ nữ Alexievich lên tiếng bênh vực cho thế giới của người phụ nữ, giương cao ngọn cờ bình đẳng, bước qua những diễn ngôn “tự quay quanh trục truyền thống” của lịch sử để tìm đến một hình thức diễn ngôn khác, trượt qua sự rỗng nghĩa của trục xoay để có kiến giải sâu sắc về con người Tiếp nhận tác phẩm trên địa hạt văn chương, ta sẽ thấy một chiều sâu, tầm cỡ và chuyển mình bắt nhịp theo khuynh hướng xã hội – lịch sử đã quyết định ý nghĩa và khả năng tác động xã hội của tác phẩm Ở đây, người viết đi đến khái quát về tính nhân loại của tác phẩm “Những phẩm chất chung của con người như tình yêu, lẽ phải, yêu chuộng hòa bình, ghét giả dối, ghét cái xấu, thích cái đẹp…tất cả những điều đó là cơ sở tính nhân loại trong văn chương” [15,49], cho nên, mỗi nhà văn khi xuất phát từ cội nguồn dân tộc

Trang 24

mình luôn có xu hướng vươn đến tính nhân loại và Alexievich cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Thu thập tư liệu sống từ những con người trở về

từ cuộc chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh những câu chuyện xoay quanh người lính Xô Viết, trong tinh thần quả cảm dốc sức cho những điều được gọi

là “sự thật”, ngòi bút Alexievich đã khoan sâu vào hiện thực cá nhân và mở rộng đa chiều kích tầm tiếp nhận của con người đương thời Họ truy vấn

“truyền thống”, hoài nghi những “mẫu mực”, đả phá những giá trị “minh họa”, giả dối và tự mình thôi thúc sự tri nhận trong cách hiểu về thế giới, thời cuộc, về dân tộc và về những phẩm cách của con người Cốt cách thời đại được phác họa từ lằn ranh giữa sự sống và cái chết, cuộc sinh tồn của con người trong cuộc chiến phân định mạnh – yếu, thắng – thua, nhân bản – phi nhân… Và chất nhân bản là đỉnh cao mà mỗi nhà văn đều muốn khám phá, chinh phục để định hướng con người, điều hướng xã hội vươn đến những giá trị sống cao đẹp

1.3.2 Tiếp nhận trên bình diện chính trị, xã hội

Sáng tác của Alexievich luôn thể hiện quam điểm rõ ràng và quyết liệt

về các vấn đề chính trị, có phần trái ngược quan điểm với chính phủ Belarus

Do vậy, những sáng tác của bà không được chào đón tại quê hương Năm

2000, nhà văn đã buộc rời bỏ quê hương và sống tị nạn Sau đó, được tổ chức

The International Cities of Refuge Network cung cấp nơi ở trong vài năm tại

Pari (Pháp)

Ở bình diện này, khi đi sâu khảo sát nghiên cứu, người viết tiếp cận vấn

đề thông qua lát cắt tiếp nhận từ bề mặt đời sống xã hội – một bối cảnh môi sinh được “trị vì” bởi hệ thống thiết chế, quan niệm lịch sử, ý thức hệ và cảm

quan chính trị Để Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ có một vị trí

xứng đáng và được đông đảo độc giả toàn thế giới đón nhận như hiện nay, Alexievich cùng “đứa con tinh thần” của mình đã phải trải qua vô vàn khó khăn và thử thách, phải vượt qua cả những sự rào cản của hệ ý thức chính trị của giới cầm quyền Từ nhãn quan “nhân sinh quan”, Alexievich dũng cảm

Trang 25

đứng lên đương đầu, chọc thủng những áp chế về nội dung phản ánh hiện thực – “điển phạm” trong tư tưởng hay sự điều hướng mang tính chính trị, phục vụ lợi ích cho những “diễn ngôn” nhất định Bởi vậy mà sau khi tác phẩm ra đời, vì bị cho là có khuynh hướng chống cộng, bà bị cho nghỉ việc Cuốn sách này chỉ được xuất bản tại Liên Xô năm 1985 khi chính sách Perestroika bắt đầu (Perestroika: chính sách cải tổ của Mikhail Sergeyevich Gorbachyov) Tại thời điểm đó, cuốn sách đã được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau nhưng không được xuất bản ở quê hương bà – Belarus – nơi bà bị kiểm duyệt vì bất đồng chính kiến với tổng thống Alexander Lukasheko Cuốn sách

đã gây ra rất nhiều sự tranh cãi, phẫn nộ của nhà chức trách, giới cầm quyền Tuy nhiên, ở mặt khác, lịch sử của cuộc chiến tranh đã được phơi bày trần trụi, mảnh ghép mang bóng dáng cuộc đời của những người phụ nữ đã làm hoàn thiện lên bức tranh sinh động về một cuộc tồn sinh của lớp người trong thế kỉ 20

Để có thêm tư liệu về quá trình kiểm duyệt khắt khe đối với sáng tác của S.Alexievich, đặc biệt là đối với những chương đã bị đơn vị kiểm duyệt yêu cầu loại bỏ khỏi trang sách, người viết xin trích lại nội dung cuộc trao đổi được nhà văn ghi lại trong cuốn nhật ký của mình từ năm 1978 – 1985:

“Đúng, chúng ta đã trả giá cho Chiến thắng bằng bao nhiêu đau khổ, nhưng

cô phải tìm những tấm gương anh hùng Có hàng trăm Nhưng cô trưng ra bùn lầy của chiến tranh Những thứ dơ bẩn Với cô, chiến thằng trở thành ghê tởm…Cô theo đuổi mục đích gì vậy?” (Đây là lời của người kiểm duyệt) Alexievich đáp rằng “Nói lên sự thật” “Cô tưởng cô sẽ tìm được sự thật trong cuộc sống? Ở ngoài đường? Dưới chân cô? Với cô, nó thấp tệ đến thế sao? Sè

sè dưới đất thế sao? Không, sự thật, đấy là cái ta mơ ước Cái ta mong được thế” (Người kiểm duyệt)[28,27] Hay ở một đoạn ghi chép khác trong cuốn nhật kí “Đấy là nói dối! Một sự phỉ báng nhằm bôi nhọ những người lính của chúng ta đã giải phóng một nửa châu Âu Nhằm bôi nhọ những người du kích của chúng ta Nhân dân chúng ta Chúng tôi không cần lịch sử nhỏ của cô,

Trang 26

chúng tôi cần lịch sử lớn Lịch sử chiến thắng Cô không yêu ai cả! Cô không yêu những tư tưởng lớn của chúng ta” (Lời người kiểm duyệt) “Đúng thế Tôi không yêu những tư tưởng lớn, tôi yêu những tư tưởng nhỏ và hèn mọn

Và hơn thế nữa, tôi yêu cuộc sống” (Alexievich) [28,30]

Những cạnh khía vấn đề xoay quanh người phụ nữ luôn bị tiếp nhận trong tâm thế coi nhẹ và nó tự khắc mờ đi trong ánh hào quang sáng rực của

chiến công oai hùng mang dáng vóc sử thi Lịch sử trong Chiến tranh không

có một khuôn mặt phụ nữ không phải là lịch sử của hệ thống các sự kiện mà

nó là lịch sử của cảm xúc, của đời sống tinh thần người phụ nữ gách vác sứ mệnh như những người đàn ông Về tác phẩm của mình, Alexievich tự nhận định “Tôi không chỉ ghi nhận lại các sự kiện khô khan của lịch sử Tôi viết về lịch sử của cảm xúc con người Những gì con người suy nghĩ, hiểu và nhớ về những sự kiện Những gì họ tin vào, hay đã đặt sự tin cậy sai chỗ, những ảo tưởng, hi vọng và cả những nỗi sợ mà họ trải nghiệm” [33] Tại quê hương Belarus, nhà viết kịch và phim kịch Andery Kureychyk đã gọi S.Alexievich như một lãnh tụ quốc gia mới xuất hiện ở Belarus, tiếng nói của bà có thẩm quyền hơn một chính trị gia nào, dù đó là tổng thống hay bộ trưởng Tiếp nhận cuốn sách giống như cuộc cải tổ trong tư tưởng, về sau này, bộ ngoại giao Belarus đưa ra lời đánh giá: “Nó sẽ đi vào lịch sử của sự phát triển quốc gia, xã hội và chính quyền Belarus”[33] Trong tương lai, những tác phẩm của Alexievich sẽ được bộ giáo dục Belarus giới thiệu, trở thành ngữ liệu học tập tại bậc trung học phổ thông Khi Alexievich nhận giải Nobel hòa bình, giới chức Nga im lặng không phản ứng bởi trong thời gian, chính quyền bị nữ nhà văn chỉ trích về các chính sách, đặc biệt là kế hoạch sáp nhập Krimea vào Nga Nhà báo độc lập Nga Oleg Kashin nói trên đài truyền thanh Ekho Moskvy: “Bà đại diện cho thế giới Nga không có Putin, thế giới của ngôn ngữ

và văn chương Nga, mà đối lập với chính phủ Nga Giải thưởng Nobel đã cho chúng tôi một lãnh tụ tinh thần”[33] Theo báo The Moscow Times, cả thế giới văn học Nga vui mừng Dmitry Bykov, một nhà văn và nhà phê bình

Trang 27

thành đạt nhất ở Nga, nói với đài truyền thanh Ekho Moskvy rằng: “Những tác phẩm Alexievich đại diện cho thế giới người Nga, chỉ không cho thế giới Nga mà loan truyền trên hình Không phải thế giới của xâm lược, dối trá và theo chủ nghĩa sô vanh, mà là thế giới của những tranh đấu cho sự thật, một thế giới tử tế và nhân bản, một thế giới của lòng nhân đạo”[34]

Như vậy, sau khi ra đời vấp phải “hố chông” phán xét rồi đi đến nhận giải Leninsky Komosol vào năm 1986 ở Liên Xô và bước sang thế kỷ 21, qua

sự thăng trầm của thời gian, Chiến tranh không có một khuôn mặt người phụ

nữ đã được trao giải thưởng Nobel văn chương cho những đóng góp mang

tính toàn cầu Điều này phản ánh đúng thực quy luật vận động của một “sinh thể” văn chương: tác phẩm ra đời và ngay lập tức nhận được rất nhiều phản ánh từ phía độc giả, các cơ quan công quyền, tổ chức, hiệp hội (được thực hiện trong quá trình “gặp gỡ”, xúc tiếp của văn bản với độc giả, và đến lượt mình, nhờ “liên hệ ngược” độc giả lại tác động đến tác phẩm ấy), trước nhất

họ luôn tìm cách không chấp nhận, chối bỏ, thay thế hiện thực bằng định kiến hiện thực và sau những sự kiểm duyệt hà khắc luôn là sự đánh/định giá lại, kiến tạo nên những hệ giá trị mới Bàn tới tính quy luật của sự phát triển văn chương, nhà nghiên cứu văn học Lê Nguyên Long nhấn mạnh “những yếu tố lệch chuẩn sẽ được xem như là một sự phá cách, hoặc bị xem là lạc nhịp, hoặc được đánh giá là có công lao trong việc thúc đẩy văn chương tiến lên Một bảng giá trị mang tính chuẩn sẽ được thiết lập để xác định tác phẩm nào là điển phạm, thuộc về truyền thống, và tác phẩm nào là phi điển phạm, ngoại

vi, là thiểu số, thứ cấp”[13] Bàn về thực trạng bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, triết học gia người Pháp – Simone de Beauvoir – cho rằng tất cả những

gì được người đàn ông viết về phụ nữ đều phải được xem xét đến sự nghi ngờ, bởi vì học vừa là quan tòa, vừa là bè phái Những thuộc tính tâm lý, sinh học,

xã hội của người phụ nữ như sự phụ thuộc hay yếu kém, thụ động… đều là tư tưởng của nam giới, áp đặt của xã hội Dưới con mắt của nam giới, phụ nữ bị coi là “kẻ khác” và ngay cả những phụ nữ cũng tin một cách sai lầm rằng họ

Trang 28

vốn yếu kém so với đàn ông Trong tác phẩm Giới tính thứ hai (The Second Sex), Beauvoir đã viết “ One is not born, but rather becomes woman” (Người

ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ) đã nói lên lập trường hiện sinh chủ nghĩa của nhà triết học người Pháp về vấn đề bình đẳng giới

Để cho khuynh hướng nghệ thuật phát triển trên đại lộ riêng rẽ của nó,

mỹ học là góc tiếp cận cần thiết để soi chiếu vào Khi đã bước vào một thế giới hoàn nguyên của môi trường văn học nghệ thuật, cần xác định rõ người đọc, họ là ai? Bởi nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của mỗi đối tượng tiếp nhận là khau nhau, không thể gượng ép gán ghép hay gò bó một “sinh thể” nghệ thuật theo bất kì khuôn phép, mẫu chung nào cả R.Ingarden khi mô tả

cụ thể hoá như tâm thế thẩm mỹ của độc giả, có sự lệ thuộc về chức năng vào nhiệm vụ chiếm lĩnh tác phẩm văn học Có vô số sự cụ thể hoá của cùng một tác phẩm: mỗi lần đọc lại tạo ra một sự cụ thể hoá mới, khác sự cụ thể hoá cũ R.Ingarden phân chia bốn kiểu khác nhau của quá trình cụ thể hoá: Một là từ chỗ đứng người tiêu dùng “hồn nhiên”; hai là từ lập trường thẩm mỹ chuyên biệt, ba là từ lập trường của những quyền lợi chính trị và tôn giáo nhất định với mục tiêu cổ động; bốn là từ lập trường nghiên cứu khoa học Ingarden cho rằng chỉ có sự cu thể hoá diễn ra theo kiểu thứ hai – từ lập trường thẩm mỹ chuyên biệt - mới đáp ứng trọng trách của tác phẩm nghệ thuật và khẳng định

“tất cả những kiểu cụ thể hoá khác đều là sự chối bỏ ít hay nhiều lý tưởng nội quan của tác phẩm”

Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ chạm đến nhiều chủ đề

cấm kỵ trong thời Liên Xô như sự thanh trừng tàn bạo, chiến lược quân sự thất bại của Stalin, phụ nữ tham chiến và bị đối xử tồi tệ khi trở về Một triệu phụ nữ Liên Xô trên khắp mặt trận những họ lại vắng mặt trong bản tường thuật chiến tranh chính thức Nhiều phụ nữ chìm khuất trong sự bẩn thỉu của chiến tranh Lịch sử cuộc chiến trở thành chủ đề mang nhiều chất vấn, hoài nghi Bởi lẽ đó, lời khai của những phụ nữ trong cuốn sách trở nên quan trọng, thu hút các nhà nghiên cứu lịch sử, văn học quan tâm

Trang 29

Tiểu kết

Nhà văn, nhà báo S.Alexievich thuộc số ít tác giả nữ viết về chiến tranh với nhân chứng sống là phụ nữ Bà nhận ra chiến tranh hiếm khi được kể theo quan điểm của phụ nữ và nhà văn không quan tâm đến những câu chuyện anh hùng mà tìm tòi, cóp nhặt ký ức, ghi lại cảm xúc của những cựu binh Chính

sự ghi chép chân thực, hé lộ nhiều góc khuất mà trước đó trở thành điều cấm

kỵ, cho nên, ngay khi xuất bản Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

chịu chỉ trích, kiểm duyệt khắt khe của giới cầm quyền Tác phẩm là đại diện cho thế giới của những tranh đấu vì sự thật, một thế giới tử tế và nhân bản, một thế giới của lòng nhân đạo Lịch sử được cởi trói khỏi sự kiểm soát của thể chế, quyền lực cũng như tính quan phương trong diễn ngôn Nhiều góc nhìn, cách nghĩ mở ra, kích thích sự tò mò, tìm tòi của người tiếp nhận Chiến tranh không diễn ra tự nhiên mà do con người tạo ra Những khoảng trống về lịch sử cần được lấp đầy, bên cạnh những điểm mù cần được chất vấn

Trang 30

Chương 2

Khuôn mẫu tự sự trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ

2.1 Khái lược về mô thức tự sự

Từ cuối thế kỷ 19, thuật ngữ “mô thức” (paradigm) được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau Khởi đầu, chữ này được dùng chỉ văn phạm – quy tắc chủ yếu trong cấu trúc ngôn ngữ Trong ngôn ngữ học, Saussure dùng từ mẫu hình (mô thức) để chỉ một lớp các phần tử có nhiều tính chất tương tự nhau Một cách hiểu thông thường, thuật ngữ này chỉ kỹ thuật chỉ dùng trong nghệ thuật tu từ, như một cách gọi cho một truyện ngụ ngôn hay một truyện cổ dân gian có minh họa Bên cạnh đó, nó dùng để miêu tả tập hợp các kinh nghiệm, các tin tưởng, các giá trị mà nó ảnh hướng đến nhận thức, thế giới quan

Sang thế kỷ 20, mô thức tự sự (narrative paradigm) là lý thuyết truyền thông được khái niệm hóa bởi học giả Walter Fisher Bản chất của mô thức tự

sự chỉ ra rằng tất cả các giao tiếp có ý nghĩa xảy ra thông qua cách kể chuyện hoặc báo cáo các sự kiện Con người tham dự với tư cách là người kể chuyện

và quan sát các câu chuyện kể Lý thuyết này tiếp tục khẳng định rằng những câu chuyện có sức thuyết phục hơn những lý lẽ Mô thức tự sự giúp chúng ta giải thích làm thế nào con người có thể hiểu được thông tin phức tạp qua lời

kể

Tự sự là nền tảng của giao tiếp Mọi người giao tiếp bằng cách kể hoặc quan sát một câu chuyện Mô thức tự sự cho phép mọi giao tiếp được xem như là một câu chuyện, kể cả khi nó có thể không phù hợp với yêu cầu của văn chương truyền thống Con người nhìn thế giới như một tập truyện và họ chấp nhận những câu chuyện phù hợp với giá trị niềm tin của mình

Walter Fisher đã phát triển khái niệm này từ hình thức giao tiếp truyền thống lâu đời nhất của con người, đó là kể chuyện Ông khẳng định tất cả các giao tiếp có ý nghĩa là ở dạng kể chuyện Kinh nghiệm trong quá khứ của con

Trang 31

người người ảnh hưởng đến nhu cầu giao tiếp, hành vi của chính họ Do đó,

mô thức tự sự hữu ích trong việc phân tích bản chất giao tiếp của con người

Giao tiếp xảy ra giữa người kể chuyện và người nghe dưới dạng một câu chuyện Câu chuyện bao gồm các sự kiện mà người kể muốn giao tiếp với người nghe và không bị cố định trong một thể loại duy nhất Bất kỳ nội dung nào trong giao tiếp chỉ có hiệu quả nếu nó có ý nghĩa, tạo ra cảm giác gắn kết với người nghe Ba yếu tố làm nên sự hiệu quả, đó là: Cấu trúc của những câu chuyện, cách kể và sự tín nhiệm của nhân vật Bên cạnh đó, độ trung thực xác định, độ tin cậy của câu chuyện được kể lại cũng tạo hấp dẫn cho cuộc đối thoại Những thông tin góp phần thuyết phục người nghe dù người đó có chấp nhận câu chuyện hay không

Trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, những nữ cựu binh

đã phá vỡ các khuôn mẫu tự sự về chiến tranh trước đó của nam giới Họ thiết lập nên mô thức tự sự mới, phơi lộ những thông tin chưa từng được tiết lộ để đặt lại giá trị, niềm tin của chính những người phụ nữ Lần đầu tiên giọng nói

nữ, tâm hồn nữ, trải nghiệm nữ hiện hữu trong cuốn tiểu thuyết Tác phẩm của Svetlana Alexievich vượt ra khỏi những quy phạm thể loại, khó quy nó về một cái khung thể loại có sẵn Do đó, khi người viết mô tả mô thức tự sự trong tác phẩm này cũng là lúc xác lập một mẫu hình thể loại mới, điển hình cho sự pha trộn, giao thoa, kết nối nhiều hình thức văn bản thường thấy trong văn chương hậu hiện đại

Ở tác phẩm, sự thật chiến tranh được nói lên bằng chính những trải nghiệm cá nhân của người trong cuộc Điều này cho thấy, cách chạm tay vào

sự thật của nhà văn sẽ tạo ra những tác phẩm không giống như tin tức báo chí hay các tư liệu thống kê sự kiện, con số Tác phẩm văn học tư liệu này cuốn hút người đọc ở chỗ sự kiện được thấu qua chính những gì tồn tại hiện sinh nhất của con người (thân thể, xúc cảm, chấn thương…) Mặt khác, chiến tranh được kiến tạo qua các diễn ngôn Văn học tư liệu là một cách tiếp cận sự thật, một cách nói về cái đã xảy ra, từ thẩm quyền diễn ngôn (của người viết)

Trang 32

Diễn ngôn trở thành phương tiện chính để chúng tôi mô tả mô thức tự sự trong tác phẩm Đó là mô thức mới đầy sáng tạo trong một kiểu truyện kể mà sức mạnh của nó nằm ở sự kết dính những mảnh ghép hiện thực, những tiếng nói thiểu số, nhỏ lẻ, những cảm nhận cá nhân riêng biệt Qua lời trần thuật của hơn hàng trăm người phụ nữ, cuốn sách đầu tay của Svetlana Alexievich đã

nỗ lực không chỉ viết nên lịch sử tâm hồn phụ nữ Nga trong chiến tranh Vệ quốc, mà còn trở nên một điển hình của lối viết nữ Bằng lối biểu đạt đặc thù, người phụ nữ viết văn sẽ phá vỡ cấu trúc và trật tự những biểu tượng được xác lập và cố định trong diễn ngôn nam giới

2.2 Khái lược về diễn ngôn

Những năm gần đây, thuật ngữ “diễn ngôn” xuất hiện nhiều trong các bài viết, công trình nghiên cứu Dưới nhiều góc độ lại có những định nghĩa, cách hiểu khác nhau về diễn ngôn Trong Từ điển Longman về ngôn ngữ Anh (1984), diễn ngôn được định nghĩa là sự giao tiếp bằng lời nói, trò chuyện, đàm thoại hoặc cách xử lý mang tính khuôn mẫu về một chủ đề trong nói hoặc viết Nó là một đơn vị của văn bản được các nhà ngôn ngữ học sử dụng

để phân tích các hiện tượng ngôn ngữ có phạm vi lớn hơn một câu Hành động của diễn ngôn gồm: năng lực diễn giải, thuyết trình, nói hoặc viết cái gì

đó theo một khuôn mẫu, tổ chức buổi thảo luận, tuyên bố… Với nghĩa này, diễn ngôn chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ

Khái niệm “diễn ngôn” trở thành thuật ngữ khi nhà ngôn ngữ học F de Saussure đem đối lập ngôn ngữ với lời nói và ngôn ngữ học chỉ nghiên cứu hệ thống ngữ âm, từ vựng, cú pháp P.Ilin, nhà nghiên cứu người Nga cho rằng, khái niệm diễn ngôn được các nhà cấu trúc luận đặt ra đầu tiên Cách hiểu được luận chứng lí thuyết kĩ lưỡng về diễn ngôn do A I Greimas và J Courtès đưa ra trong công trình Từ điển giải thích lí luận ngôn ngữ Cả Greimas và Courtès đều đồng nhất diễn ngôn với quá trình kí hiệu hóa, tức quá trình tạo kí hiệu, sử dụng kí hiệu, và cho rằng quá trình này được thực

Trang 33

hiện ở những dạng thức thực tiễn diễn ngôn khác nhau Các nhà ngữ nghĩa học cấu trúc đã phủ định mối liên hệ giữa ngôn ngữ với thực tại trong giao tiếp

Nhận thấy hạn chế của ngữ học Sausure khi không thừa nhận mối quan

hệ văn học với ý thức hệ xã hội, Bakhtin đã đề xuất hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học” Ông nghiên cứu lời nói, văn bản, đối lập với hướng đi của Saussure, đồng thời phê bình lối nghiên cứu ngôn từ tách khỏi đời sống xã hội

và ý thức hệ Trong sách Chủ nghĩa Mác và triết học ngôn ngữ, Bakhtin

khẳng định, “ngôn ngữ với tư cách là sáng tạo ý thức hệ, là một hoạt động vật chất đặc thù, tác dụng của nó vẫn chưa được đánh giá đầy đủ”[30,345] Theo

đó, đặc điểm của diễn ngôn là tính ký hiệu thuần túy, tính thích ứng phổ biến

về ý thức hệ cũng như tính tham dự giao tiếp cộng đồng

Chung quan điểm với Bakhtin, M Foucault tạo thêm nghĩa mới cho khái niệm “diễn ngôn” Trong lịch sử tư tưởng thế kỷ 20, thuật ngữ “diễn ngôn” trở nên quan trọng và được nhiều bài viết, công trình nghiên cứu sử dụng Đối với Foucault, diễn ngôn biểu hiện thông qua ngôn ngữ Tuy nhiên, nó không phải ngôn ngữ thuần túy mà là phương thức biểu hiện của tư tưởng và lịch sử Ông cho rằng “Diễn ngôn là một thực tiễn đặc thù”[36] Theo Sara Mills:

“Diễn ngôn không đơn giản là sự truyền dẫn hiện thực vào trong ngôn ngữ, diễn ngôn cần được nhìn nhận như một hệ thống cấu trúc nên cái cách thức chúng ta nhận biết về hiện thực”[44] Cũng như Sara Mills, M Jorgensen và L.Phillips định nghĩa “diễn ngôn như là một phương thức đặc biệt để nói về

và cắt nghĩa thế giới” [43,1]

Ở Việt Nam, vấn đề về diễn ngôn xuất hiện sớm nhất trong lĩnh vực

ngôn ngữ học, qua một số công trình biên khảo như: Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp (2003) của Nguyễn Hoà, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (1985) của Trần Ngọc Thêm, Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Đại cương ngôn ngữ học (2001) của Đỗ Hữu Châu, Dụng học Việt ngữ (2000) của Nguyễn Thiện Giáp

Trang 34

… Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài

được dịch sang tiếng Việt, điển hình như: Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule do nhóm tác giả Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch năm 1997, Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan do

Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch năm 1998 Năm 2002, Trần Thuần dịch Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule Năm 2004, Hoàng Văn Vân chuyển ngữ cuốn Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday… Các

công trình này bàn đến vấn đề diễn ngôn là gì, đặc điểm, chức năng, vấn đề ngữ cảnh, ý nghĩa, bản chất của diễn ngôn

Nhiều định nghĩa “diễn ngôn” được đưa ra, trên nhiều góc độ như ngôn ngữ, văn hóa… Thế nhưng, có rất ít định nghĩa “diễn ngôn” trong lĩnh vực văn học Dưới góc nhìn ngữ nghĩa học, ngôn từ văn học có sự thống nhất giữa ngôn từ và ý thức xã hội Ngôn ngữ là biểu hiện của ý thức, tư duy, tinh thần của con người về thực tại trong giao tiếp Marx và Engels trong Hệ tư tương Đức có chung quan điểm “Ngôn ngữ cũng xưa như ý thức Ngôn ngữ chính là

ý thức thực tế, thực tiễn, tồn tại cả đối với những người khác, vậy lần đầu tiên cũng tồn tại đối với chính tôi”[35]

Diễn ngôn văn học như một phạm trù tu từ học và thi pháp học Trong

Ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ nghệ thuật, Bakhtin cho rằng bất kỳ từ ngữ

nào đó được nói ra một cách hiện thực, chứ không phải là từ ngữ ngủ quên trong từ điển, đều là biểu hiện và sản phẩm của sự tác động qua lại của ba yếu

tố xã hội là người nói, người nghe và cái được bàn luận hoặc là sự kiện, nhân vật Như vậy, diễn ngôn là một sự kiện xã hội, không đơn thuẩn chỉ bó hẹp trong ý thức chủ quan của người nói Diễn ngôn là ngôn ngữ có tư tưởng, hoạt động xã hội Trong văn học, diễn ngôn còn chỉ hình thức nghệ thuật, kiểu tư duy, phản ánh chiến lược tự sự của nhà văn Ở đó, nhà văn như là chủ thể phát ngôn, có lập trường, tư duy thẩm mỹ và diễn ngôn thể hiện qua các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật

Trang 35

Do vậy, tìm hiểu chủ thể của diễn ngôn văn học là tìm hiểu tác giả cụ thể sáng tạo ra tác phẩm – diễn ngôn ấy với những đặc điểm cụ thể về tiểu sử, cá tính, xu hướng tư tưởng… song song các yếu tố nội tại trong tác phẩm Các yếu tố trực tiếp và gián tiếp hợp lại, đưa ra cái nhìn toàn diện về chủ thể diễn ngôn, về tiếng nói riêng của người sáng tác trong việc kiến tạo bức tranh thế giới của mình, hướng tới đối tượng tiếp nhận đặc thù Lối viết nữ biểu hiện qua cách thức tư duy, cách thức tổ chức câu chuyện của những nữ cựu binh Khi họ kể về chính họ, tái hiện ký ức về cuộc chiến tranh, thì ngay cả ngôn ngữ trong tác phẩm cũng thay đổi so với thứ ngôn từ nam quen thuộc.

2.3 Diễn ngôn của nữ cựu binh – người kể chuyện

2.3.1 Chiến tranh gắn liền sinh mệnh dân tộc, ý thức hệ cộng đồng

Berdiaev Nikolai Aleksandrovich, một triết gia Nga lớn mà tên tuổi được

cả thế giới biết đến đã đánh giá cuộc đại chiến thế giới đặt ra vấn đề tự nhận thức dân tộc Nga một cách sâu sắc của con người Nga Tư duy dân tộc Nga cảm thấy nhu cầu và nghĩa vụ giải đáp câu đố về nước Nga, thấu hiểu tư tưởng của con người Nga và xác định nhiệm vụ và vị trí của nó trong thế giới

Từ sự vĩ đại của nền văn hóa Nga, sứ mệnh lịch sử của con người Xô viết, những mâu thuận nội tại gay gắt của tâm hồn Nga dẫn đến hàng tấn bi kịch mà dân tộc Nga phải nếm trải đã thôi thúc người đọc tìm kiếm những

giải đáp triết học nằm ngoài lĩnh vực kinh tế - xã hội Đọc Chiến tranh không

có một khuôn mặt phụ nữ, chúng ta thấy rất rõ tinh thần tự nhận thức dân tộc

của nhân dân Nga Berdiaev Nikolai Aleksandrovich chỉ ra rằng: “Dân tộc Nga luôn thích sống trong hơi ấm tập thể, trong sự hoà tan nào đó vào môi trường thân thuộc của xứ sở, vào lòng mẹ Tinh thần hiệp sĩ rèn đúc cảm giác phẩm hạnh và danh dự cá nhân, tạo nên sự tôi luyện cá tính” và “Dân tộc Nga hoàn toàn không mang óc chủ nghĩa dân tộc xâm lược, không có thiên hướng Nga hoá cưỡng bức Người Nga không chơi trội, không phô diễn, không khinh thường người khác”[27] Dostoievski đã tuyên bố thẳng rằng con người Nga là con người nhân loại, tinh thần Nga là tinh thần thế giới Chủ nghĩa siêu

Trang 36

dân tộc, chủ nghĩa phổ quát chính là đặc tính căn bản của tinh thần dân tộc Nga: “Chính chủ nghĩa siêu dân tộc, sự tự do của nó khỏi chủ nghĩa dân tộc lại mang tính dân tộc ở Nga; về phương diện này nước Nga độc đáo và không giống với bất kỳ nước nào trên thế giới Nước Nga có sứ mạng là người giải phóng các dân tộc Sứ mạng ấy nằm trong tinh thần đặc biệt của nó Và tính chính đáng về các nhiệm vụ thế giới của nước Nga đã được tiền định bởi những sức mạnh tinh thần của lịch sử Sứ mạng này của nước Nga bộc lộ trong cuộc đại chiến ngày nay Nước Nga không có những khát vọng vụ lợi

Đó là một luận đề về nước Nga, mà người ta hoàn toàn có quyền nói ra.”[27] Chiến tranh đã lùi xa, một kỉ nguyên mới cho độc lập tự do được mở ra nhưng không bao giờ con người đi qua nó lại không để lại trong đó một phần dấu vết – những dấu vết còn trượt dài đến tận ngày hôm nay Dưới nền đất của vinh quang là chất chồng máu xương của những người đã vì lí tưởng, vì hoài bão, vì khát vọng dân tộc mà ngã xuống không phân biệt giới tuyến Có xung đột và đấu tranh thì ta mới thấy và cảm nhận thấu đáo giá trị của hòa bình Có phân tán chia ly thì ta mới thấy trân quý những giây phút đoàn viên

ấm áp Với người phụ nữ, lý tưởng duy nhất của mọi sự phấn đấu, nỗ lực đó chính là gia đình Bước vào lãnh địa của người phụ nữ, bên cạnh thiên chức của người vợ, người mẹ, người giữ gìn tổ ấm, Alexievich đã vén mở trước thế giới hình ảnh của những người phụ nữ gan góc, kiên cường mang sức mạnh của những người đàn ông trong cuộc chiến sinh tử Tinh thần vệ quốc, lí tưởng thời đại đã đặt người phụ nữ vào trong vai trò của người “kiến tạo” lịch

sử - một lịch sử được viết ra từ máu Cuộc chiến tranh của người phụ nữ có ngôn ngữ riêng của nó: nếu như người đàn ông náu mình trong các sự kiện, trong sự đối kháng tư tưởng thì chiến tranh với người phụ nữ lại được cảm nhận qua những xúc cảm Có một định nghĩa về chiến tranh được lọc qua tri giác của người phụ nữ “Chiến tranh trước hết là một cuộc giết người, sau đó

là một lao động mệt nhoài Rồi cuối cùng thì đơn giản là cuộc đời thường: người ta hát, người ta phải lòng nhau, người ta đặt những lô cuộn tóc” và “họ

Trang 37

cảm nhận giết người là điều không thể tha thứ, bởi vì phụ nữ ban sự sống, biếu tặng sự sống”[28,20] Những cô thanh nữ, tất cả đều đem vào cuộc đời rộng lớn những giấc mơ, dự định tương lai vả cả hạnh phúc tuổi trẻ Trước một thành phố đang sục sôi trong tiếng khóc – chiến tranh đến và họ không thấy lo sợ vì điều sắp xảy ra Ho không thể hiểu “chiến tranh nào?”, họ chỉ bắt đầu hiểu ra khi những tin báo tử đầu tiên về tới nới Điều đã thôi thúc những người phụ nữ nhập cuộc với tinh thần “hiện sinh”, sẵn sàng đảm đương những công việc nặng nhọc nhất, nguy hiểm nhất trong cuộc chiến là ở một ý thức hệ sâu sắc, lòng tự tôn dân tộc: “Chúng ta thuộc một thế hệ tin rằng có một điều

gì đó lớn hơn cuộc sống của con người: Tổ quốc, ý thức hệ”[28,120] và niềm tin vào cuộc chiến đấu nơi mà cái thiện, công lý, lẽ phải luôn giành được chiến thắng

Trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, chúng ta thấy tuổi

xuân của cả một thế hệ khuất chìm và lụi tàn trong chiến tranh Những thiếu

nữ tuổi đôi mươi đua nhau xin ghi danh tòng quân, xông pha ra trận và họ cũng đâu có biết trước rằng những hiểm nguy mình phải đối diện, họ phải chiến đấu với cả một liên quân tinh nhuệ thiện chiến, thậm chí đó là cuộc chiến sinh ra chỉ để dành riêng cho những người đàn ông Ở họ tràn đầy tinh thần lạc quan và dám thể hiện bản thân trước thách thức gian nan: “Chúng tôi

đi đâu? Chúng tôi không hề biết Nói cho cùng chúng tôi không quan tâm nhiều đến việc chúng tôi sẽ trở thành như thế nào Miễn là người ta đưa chúng tôi ra mặt trận Mọi người đều chiến đấu, chúng tôi cũng phải vậy” [28,41] Xuất phát từ giá trị tự thân của con người cá nhân luôn chảy trong mình dòng huyết dân tộc, phá bỏ mọi ranh giới biệt lập trong các mẫu hình về con người, những cô gái lâm trận cũng đều mang trong mình hoài bão, theo đuổi lý tưởng Cách mạng vĩ đại, lập chiến công và khát vọng giành tự do độc lập Chiến tranh buộc con người phải dấy lên lòng căm thù và dâng cao lòng yêu nước Alexievich là một nhà văn luôn tìm chất liệu sáng tạo từ những cái nhìn nội quan hiện thực, bà đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn với hàng trăm

Trang 38

người phụ nữ trở về từ cõi sinh tử và họ xuất hiện trên từng trang văn, gây ấn tượng với độc giả trước hết bằng chính sức trẻ sục sôi và sự hòa điệu trong tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: “Khi chiến tranh nổ ra, tôi chưa đủ mười tám tuổi Tôi có những bím tóc dài đến tận gối…Tôi không phải là người duy nhất muốn ra mặt trận, tất cả các cô gái tuổi tôi đều nói lên cùng nguyện vọng Bố tôi đã ở ngoài mặt trận” [28,38] Vera Danilovseva, trung sĩ, một xạ thủ bắn tỉa khi được người anh hùng thời nội chiến, chiến đấu ở Tây Ban Nha đến kể cho họ nghe kinh nghiệm và họ tự thấy mình ngang hàng với con trai Trong một trận tuyến không phân biệt sắc tộc, màu da, không phân biệt giới tính, nơi mà chỉ có hai sự chọn lựa: hoặc sống hoặc chết, nhưng cô gái như Vera vẫn lao mình vào chiến trận, xả thân cho lí tưởng vĩ đại “Chúng tôi mơ ước bảo vệ đất nước vĩ đại của mình! Đất nước tươi đẹp nhất! Đất nước yêu quý của chúng tôi! Chúng tôi sẵn sàng chết.” [28,71] Hay như lời của một nữ y tá tuổi mới đôi mươi bộc bạch: “Tất cả các bạn tôi đều đã ra trận Tôi khóc kinh khủng vì tôi thấy mình rất đơn độc và người ta không chịu nhận tôi Không cần có tuyên truyền, mọi người đều nóng lòng được ra trận Người ta van xin” [28,71] Nonna Smirnova, binh nhì, xạ thủ phòng không đứng trước cuộc tồn sinh “Chúng tôi mơ ước…Chúng tôi muốn được chiến đấu…”[28,98], “tôi yêu cầu được ra mặt trận”[2,94], “tôi viết đơn, tôi đòi, tôi van người ta tuyển tôi vào quân đội”[2,286], “tôi chạy đến phòng tuyển quân Tôi vừa khỏi viêm họng, tôi vẫn còn sốt Nhưng tôi không thể chờ.”[28,65]

“Chủ nghĩa dân tộc” đã trở thành hệ quy chiếu mọi giá trị, chuẩn mực, trong đó ý thức hệ, giá trị tự thân của mỗi con người trong một cộng đồng tập thể là hạt nhân, đặc trưng cơ bản Nghị lực con người, sức mạnh tập thể kết thành vận mệnh dân tộc được rọi chiếu xuất phát từ giá trị cơ tầng nhất thúc đẩy mọi hành động chiến đấu, đó là gia đình Gia đình là đơn vị xã hội cơ sở, nơi con người được thừa hưởng những loại “di truyền”, là môi trường văn hóa đầu tiên để cá thể người tiếp nhận văn hóa của cộng đồng Gia đình đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và trong việc truyền đạt

Trang 39

các giá trị văn hóa, tinh thần tập thể Như vậy, nơi để con người nhập thân vào trách nhiệm xã hội, văn hóa xã hội hóa cá nhân đầu tiên chính là gia đình Bối cảnh môi sinh gia đình cùng với giá trị truyền thống bên trong tạo nên ý thức hệ luân chuyển giữa các thế hệ: “Ông nội tôi trở thành chủ tịch Xô viết nông thôn Ông bị đầu độc bằng strychnine đổ vào nước uống…Bố tôi là một anh hùng thời nội chiến, ông đã chỉ huy một đoàn tàu bọc thép tham gia chống vụ nổi loạn của binh đoàn Tiệp Khắc Năm 1931 ông được thưởng Huân chương Cờ Đỏ Bố tôi đã nhận mười chín vết thương, người đầy sẹo…Làm sao tôi có thể dửng dưng khi kẻ thù lại đến xâm chiếm đất đai của tôi, khi tôi đã lớn lên trong một gia đình như thế, với một người cha như thế? Máu của ông chảy trong huyết quản tôi…Tôi là thịt, là thịt của ông…”[28,161], “chúng tôi đã được nuôi dưỡng trong ý tưởng rằng chúng tôi

và Tổ quốc là một” [28,94], “chúng tôi đã được học rằng không có việc gì được làm trên đất nước này mà không có chúng tôi Chúng tôi được dạy yêu đất nước này Vì khi có chiến tranh, chúng tôi thấy cần cống hiến sức mình Nếu người ta cần y tá thì phải trở thành y tá” [2,286], có cô gái bất chấp quyết định lao vào cuộc chiến, tìm mọi cách ra trận để trả thù cho người anh đã anh dũng hi sinh như một cảm tử quân hay là lời nhắc nhở như một khẩu hiệu bảo

vệ danh dự gia đình của người bà, người mẹ nói với những đứa con của mình

“ Bố mày đã ra trận, mày cũng phải đi mà đánh nhau”[28,200], “Bảo vệ Tổ quốc đã, những chuyện khác chúng ta sẽ xem sau Mọi người đều yêu Tổ quốc”[28,65] Tính chất hiểm nguy của cuộc chiến nằm ở chỗ: đây không phải là cuộc giao tranh giữa các giai cấp mà là sự đụng độ của cả dân tộc đối đầu quân phat-xit thiện chiến được trang bị vũ khí tân tiến có sức hủy diệt tàn bạo Những người phụ nữ như bao người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, họ đồng sức đồng lòng đứng lên bảo vệ chính nghĩa, hạnh phúc gia đình, tương lai thế hệ và nhất là chiến đấu cho một dân tộc tự do độc lập

Chảo lửa chiến tranh nung nấu ý chí, nuôi dưỡng khát vọng và nâng tầm vóc sử thi của con người khi bước ra từ cuộc chiến Họ được ngợi ca, được

Trang 40

gắn lên ngực những tấm huy chương đủ đầy màu sắc nhưng sẽ là ích kỉ nếu hiện thực luôn chỉ được phép phủ lên mình nó một lớp sơn bóng nhẫy hào nhoáng vinh quang Nếu sự hi sinh là tột cùng của đau thương thì cuộc chiến này không tồn tại người thắng cuộc Không có niềm tự hào nào đi ra từ cái chết và không có một chiến thắng nào vẻ vang hơn sinh mệnh con người Con người bao giờ cũng cô đơn trước cái chết Sức mạnh của một dân tộc được làm nên bởi sức mạnh của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân cùng cộng sinh, cộng cảm và cộng mệnh với dân tộc, cùng dân tộc viết nên thiên sử hào hùng

Như vậy, ở tuổi đôi mươi còn non nớt, giàu ước mơ và yêu đời, những

cô gái trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ đã trở thành niềm tự hào của toàn thể đại đồng dân tộc Nga Xô – viết nói riêng và là những tấm gương giàu nghị lực , lòng can đảm, biết hi sinh vì mạch huyết dân tộc trước nhân dân yêu hòa bình và công lý trên toàn thế giới nói chung Giá trị tự thân hay tinh thần sẵn sàng cầm súng đứng lên bảo vệ Tổ quốc của người chiến binh là sự quyện hòa của lòng yêu nước, lòng tự tôn, lí tưởng cá nhân và tinh thần thời đại trước mọi sự xâm lăng Những người phụ nữ, họ đoàn kết với nhau và với những người đàn ông để làm nên lịch sử Trong bản anh hùng ca không thể thiếu sự hòa giọng của những người phụ nữ Họ là những người anh hùng, sát cánh bên cạnh người đàn ông trong chiến trận, họ không còn mang khuôn mặt phụ nữ Qua lời tâm sự của hàng trăm cựu chiến binh, ta có thể thấy rằng tầm quan trọng, sứ mệnh và vai trò của người phụ nữ trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của lịch sử dân tộc Chúng ta không thể phủ nhận mà phải ghi nhận những đóng góp to lớn của người phụ nữ trong chiến tranh cũng như chúng ta đã khắc ghi sâu đậm chiến tích của những người đàn ông Tất cả người đàn ông hay phụ nữ, đứng trước Tổ quốc, họ là công dân với tinh thần trách nhiệm cao nhất

2.3.2 Chiến tranh gây ra chấn thương

Chiến tranh đã gây ra cho con người những vết sẹo không chỉ trên thân thể mà còn trong cả tâm hồn với biết bao điều khuất lấp và đầy bất trắc

Ngày đăng: 28/03/2020, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w