Khảo sát các nội dung mang tính giáo dục và giải trí cho trẻ em trên ba chương trình “Vì tầm vóc Việt”, “Giọng hát Việt nhí 2018”, “Lớp học cầu vồng” lần lượt trên kênh VTV1, VTV3, VTV7
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ THÙY LINH
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát trên kênh VTV1,VTV3, VTV7 năm 2018)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THỊ THÙY LINH
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát trên kênh VTV1,VTV3, VTV7 năm 2018)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
MÃ SỐ: 60 32 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Bảo Khánh
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của Tiến sĩ Trần Bảo Khánh
Nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Những
số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng được chính tác giả thu thập, phân tích
và tổng hợp Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết cấu của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
ĐÀO THỊ THÙY LINH
Trang 4Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các phóng viên, biên tập viên của các kênh VTV1, VTV3, VTV7; Các thầy cô giáo trong chuyên ngành Báo chí – Truyền hình Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi suốt những năm học vừa qua
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành Luận văn này
Tác giả
ĐÀO THỊ THÙY LINH
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 13
7 Kết cấu của luận văn 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHO TRẺ EM CỦA ĐÀI TRUYÊN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 15
1.1 Một số khái niệm liên quan 15
1.1.1 Truyền hình 15
1.1.2 Chương trình truyền hình 17
1.1.3 Chương trình truyền hình giải trí, giáo dục 18
1.1.4 Trẻ em 19
1.1.5 Đặc trưng của Truyền hình 20
1.1.6 Khái niệm về Truyền hình chuyên biệt và Truyền hình chuyên biệt
dành cho thiếu nhi 21
1.1.7 Sự hình thành và phát triển của truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ em 23
1.1.8 Những yếu tố để các chương trình truyền hình trở thành công cụ giáo dục kỹ năng sống hiệu quả đối với trẻ em 27
1.1.9 Xã hội hóa chương trình Truyền hình dành cho trẻ em 30
1.2 Đặc điểm, vai trò của chương trình truyền hình dành cho trẻ em 30
1.2.1 Đặc điểm chương trình truyền hình dành cho trẻ em 30
1.2.2 Vai trò của chương trình truyền hình cho trẻ em của Đài Truyền hình
Việt Nam hiện nay 31
Trang 61.2.3 Giới thiệu về 3 chương trình khảo sát 32
Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM HIỆN NAY 44
2.1 Khảo sát các nội dung mang tính giáo dục và giải trí cho trẻ em trên ba chương trình “Vì tầm vóc Việt”, “Giọng hát Việt nhí 2018”, “Lớp học cầu vồng” lần lượt trên kênh VTV1, VTV3, VTV7 của Đài Truyền hình Việt Nam 44
2.1.1 Các nội dung giáo dục phát huy khả năng tư duy 44
2.1.2 Các nội dung giáo dục kỹ năng sống 50
2.1.3 Khảo sát hình thức cân đối giữa giáo dục và giải trí cho trẻ em trên ba chương trình “Vì tầm vóc Việt”, “Giọng hát Việt nhí”, “Lớp học cầu vồng” lần lượt trên kênh VTV1, VTV3, VTV7 của Đài truyền hình Việt Nam 55
2.1.4 Hạn chế và nguyên nhân 75
2.1.5 Nguyên nhân hạn chế 79
Tiểu kết chương 2 82
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN
VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHO TRẺ EM CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 84
3.1 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình
dành cho trẻ em có mang đủ cả yếu tố giáo dục lẫn giải trí 84
3.1.1 Các giải pháp nâng cao chất lượng về nội dung chương trình 84
3.1.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng về cách thể hiện chương trình 86
3.2 Các giải pháp khác 90
3.2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về nâng cao hoạt động giáo dục
đối với trẻ em 90
3.2.2 Tăng cường công tác quản lý tổ chức sản xuất chương trình 90
3.2.3 Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực sản xuất chương trình 91
3.2.4 Chú trọng đầu tư trang thiết bị sản xuất 93
Trang 73.2.5 Có cơ chế chính sách đãi ngộ hợp lý 93
3.3 Những kế hoạch dài hạn 94
3.3.1 Có chính sách và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có khả năng, trình độ khi tác nghiệp với trẻ em 94
3.3.2 Cần có bộ phận điều tra xã hội học, quan tâm đến nhu cầu thực sự
của người xem chương trình 95
3.3.3 Học hỏi những quy trình sản xuất và nội dung chương trình Truyền hình dành cho trẻ em 95
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều thay đổi cách làm truyền hình mới dành
cho trẻ em, như chương trình 95
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 PTTTDC Phương tiện truyền hình đại chúng
2 Sở VHTTDL Sở văn hoá thể thao và du lịch
3 PGS.TS Phó giáo sư tiến sĩ
4 Đài THVN Đài Truyền hình Việt Nam
7 VTV3 Ban Sản xuất các chương trình Giải trí
8 VTV7 Trung tâm sản xuất các chương trình Giáo dục
9 BVCSGDTE Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em
10 Bộ VH,TT&DL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 9Việt Nam năm 2018 59 Biểu đồ 2.2: Thể loại các chương trình được trẻ em yêu thích 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mở đầu bài luận văn này, tác giả xin được trích câu nói của nhà giáo dục người Ý Maria Montessori về tầm quan trọng của một đứa trẻ trong gia đình và xã hội:
“Trẻ nhỏ vừa là hy vọng, vừa là lời hứa hẹn của nhân loại.Vì vậy chúng ta cần coi trẻ nhỏ như là chìa khóa mở cánh cửa vận mệnh của tương lai chúng ta Chính đứa trẻ tạo nên người lớn, và không người lớn nào tồn tại mà không được tạo nên từ đứa trẻ trước kia
The child is both a hope and a promise for mankind We must therefore turn to the child as to the key to the fate of our future life.It is the child who makes the man, and no man exists who was not made by the child
he once was.”
Từ nhiều năm nay,việc nâng cao chất lượng, phổ cập giáo dục nâng cao trình độ dân trí là mục tiêu lớn của Đảng và nhà nước ta, tôn chỉ vì “một xã hội học tập” đã và đang được tôn trọng Thời gian gần đây thuật ngữ này được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng vì sự cần thiết của nó đối với sự phát triển của đất nước theo hướng hiện đại hóa Để thực hiện được điều này, cần thiết phải sử dụng nhiều kênh báo chí, truyền thông khác nhau để phổ biến kiến thức, trong đó, truyền hình là kênh rất hữu hiệu, nhất là khi công nghệ phát triển lại càng có cơ hội để triển khai các ý tưởng về giáo dục toàn dân hoặc xã hội học tập
Chương trình giáo dục dành cho trẻ em trên các phương tiện truyền thông đại chúng được chú ý từ trước cho đến nay Ngay đối với báo chí, truyền hình cũng dành vị trí quan trọng của khung và kênh phát sóng phát sóng những nội dung bổ ích phục vụ trẻ em
Ngày 7/9/1970, với chương trình truyền hình đầu tiên lên sóng, sau 48 năm Đài Truyền hình Việt Nam nay đã trở thành kênh truyền hình uy tín, Thủ
Trang 11tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: “Đài Truyền hình Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dòng chảy thời cuộc của đất nước, bám sát và tuyên truyền phong phú các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ đưa tin phản ánh phong phú mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội
Nhiều chương trình do Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất đóng vai trò như những chiến binh, phát súng trên mặt trận phòng, chống tham ô, tiêu cực, lãng phí Nhiều chương trình làm lay động lòng người, bảo vệ chân lý, xây dựng niềm tin.”
Đa dạng hình thức, phong phú về số lượng chương trình, bên cạnh việc
nỗ lực cải tiến, đổi mới, tăng thêm số lượng và chất lượng các chương trình phục vụ khán giả ở nhiều độ tuổi khác nhau thì có một “đối tượng” mà Đài Truyền hình Việt Nam luôn có sự quan tâm, phục vụ đó chính là chương trình dành cho trẻ em
Ngay từ ngày đầu lên sóng, Đài Truyền hình Việt Nam đã có sự định hướng đối tượng khán giả phục vụ rất rõ ràng Nhiều thế hệ đều nhớ đến chương trình “Những bông hoa nhỏ” với ngày đầu lên sóng chỉ là những hình giấy được cắt ghép cùng nhạc hiệu rất “bắt tai”, nội dung chương trình đơn giản nhưng “Những bông hoa nhỏ” đã trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu được cùa mọi nhà người Việt Nam lúc đó
Truyền hình dành cho trẻ em giờ đây khá phổ biến ở Việt Nam, nhiều chương trình với nhiều thể loại phong phú có thể kể đến vài chương trình tiêu biểu như: Lớp học cầu vồng, Khoa học vui, Robocon, Giọng hát Việt nhí, Bước nhảy hoàn vũ nhí Hiện nay, nội dung chương trình dành cho trẻ em được “bình đẳng” so với những chương trình dành cho người lớn, format chương trình dành cho người lớn có gì thì trẻ em đều có “phiên bản nhí” Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, hiện nay nhiều chương trình vì các lí do khác nhau đặt trọng tâm vào giải trí, quên đi tính giáo dục và ngược lại, nhưng
Trang 12cũng có chương trình ít quan tâm đến tính giải trí, làm mất đi tính hấp dẫn của
nó Vì vậy sự kết hợp giữa giáo dục và giải trí để chương trình vừ hấp dẫn, vừa đảm bảo khối lượng kiến thức cần thiết là yêu cầu không thể thiếu trong các chương trình giáo dục dành cho trẻ em
Các nước có nền báo chí phát triển, đặc biệt là có công nghệ truyền hình tiên tiến như Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản… đều có những đầu tư đẻ
có chương trình Giáo dục rất hay, bổ ích và vô cùng hấp dẫn dành cho trẻ em Đây là tiền để tốt để chúng ta có thể học hỏi, thực hiện và phát triển những ý tưởng, xây dựng những chương trình tốt mang tính giáo dục dành cho trẻ em phù hợp với nền giáo dục và văn hóa của nước ta
Tại Mỹ, đã có hẳn đạo luật quy định về những quy chuẩn về nội dung
và thời gian phát sóng chương trình Truyền hình dành cho trẻ em như:
Đạo luật Truyền hình cho Thiếu nhi yêu cầu mỗi đài phát sóng truyền hình Hoa Kỳ phải phát chương trình được thiết kế đặc biệt nhằm phục vụ cho nhu cầu giáo dục và thông tin của trẻ em Đạo luật cũng giới hạn thời lượng
mà các nhà phát sóng, nhà vận hành cáp, và nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh được dành cho quảng cáo trong các chương trình cho thiếu nhi
Vào ngày 10 Tháng Bảy, 2019, Uỷ ban đã thông qua các quy tắc mới, các đài Truyền hình (TV) sẽ được yêu cầu phải:
Phát sóng ít nhất 156 giờ hàng năm cho các chương trình cốt lõi, bao gồm ít nhất 26 giờ mỗi quý cho các chương trình hàng tuần được lên lịch thường xuyên
Phát sóng phần lớn các chương trình cốt lõi của họ trên kênh phát chương trình chính của mình Các đài phát đa phương nhiều hơn một kênh phát chương trình video có thể phát sóng lên đến 13 giờ mỗi quý cho các chương trình hàng tuần được lên lịch thường xuyên trên một trong các kênh phát đa phương của họ
Trang 13Một ưu thế của truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện
Với xu thế tự chủ chi tiêu hiện nay, nhiều người cho rằng những chương trình Truyền hình dành cho trẻ em sẽ không có nguồn thu, tuy nhiên, theo nghiên cứu của Trung tâm dịch vụ và quảng cáo truyền hình - Đài Truyền hình Việt Nam thì doanh thu quảng cáo của các chương trình truyền hình dành cho trẻ em không kém gì so với những chương trình truyền hình dành cho người lớn Tuy nhiên, cũng vì chạy theo những nhu cầu của nhà tài trợ về yếu tố “câu khách” có những chương trình truyền hình dành cho trẻ em không còn giữ được nét ngây thơ, hồn nhiên và mang tính giáo dục cao như vốn có của chương trình và như cam kết ban đầu giữa nhà sản xuất và nhà Đài
Vậy thực trạng việc các chương trình truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay có thành công và hạn chế gì? Những chương trình dành cho trẻ em có thực tác động đến công chúng, khán giả xem truyền hình? Việc thay đổi hướng nội dung, format các chương trình truyền hình dành cho trẻ em của Đài THVN đã đáp ứng được nhu cầu của công chúng hay chưa? Một chương trình truyền hình dành cho trẻ em cần đạt những tiêu chuẩn gì để đảm bảo tính giải trí và giáo dục, định hướng?
Việc nâng cao tính Giải trí, giáo dục trong các chương trình Truyền hình dành cho trẻ em sẽ là cần thiết trong việc thu hút tốt hơn nữa sự quan tâm không chỉ của trẻ nhỏ mà thêm cả các bậc phụ huynh, khán giả ở nhiều
độ tuổi với các chương trình Giáo dục, giải trí dành cho trẻ em nói riêng và
Trang 14chương trình Truyền hình nói chung Vì những lí do trên, cho nên tôi chọn đề
tài: Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay (Khảo sát trên kênh VTV1, VTV3, VTV7 từ tháng 1/2018 đến
tháng 12 năm 2018) làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới, việc nghiên cứu truyền hình, vấn đề ảnh hưởng và tác động của truyền hình đối với công chúng đã đạt được những thành tựu quan trọng Có thể kể đến một số tác giả và các công trình nghiên cứu mới về tác động của truyền hình, liên quan trực tiếp đến nghiên cứu công chúng như Denis McQuail (Mass Communication Theory, 2005, London), Claudia Mast
(Truyền hình đại chúng – Những kiến thức cơ bản, Trần Hậu Thái dịch, Nxb
Thông tấn, 2003)… Trong đó, Denis McQuail nhấn mạnh tầm quan trọng của
phương tiện truyền hình và làm thế nào để nó ảnh hưởng đến công chúng hơn
là tập trung vào các định nghĩa, mô hình chung Claudia Mast thì đề cập đến vấn đề hết sức cơ bản đối với những người làm công tác truyền hình đại chúng như: Lý thuyết và thực tiễn truyền hình, lĩnh vực nghề nghiệp báo chí; truyền hình, kinh tế và một số cách thức điều tra nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực truyền hình…
Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về Báo chí với trẻ em đáng chú ý sau:
- Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em của tác giả HelenaThorfinn, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản vào năm 2003 Đây là cuốn sách đúc kết những phẩm chất cần thiết của nhà báo viết về trẻ em
- Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em do PGS, TS.Nguyễn Văn Dững chủ biên,được xuất bản vào năm 2001 Cuốn sách này nêu rõ những kiến thức chung về trẻ em; vấn đề BVCS&GDTE; kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động báo chí cho trẻ em Năm 2004, cuốn sách được tái bản lần thứ hai, có sửa đổi,
Trang 15bổ sung một số vấn đề về kỹ năng cũng như kinh nghiệm trong quá trình làm báo cho trẻ em
- Tâm lý trẻ và giáo dục gia đình xuất bản năm 2005 của tác giả Trần Thị Cẩm, đã cơ bản phân tíchnhững đặc điểm tâm lý chủ yếu của trẻ em trong từng giai đoạn phát triển và một số cách giáo dục thường được áp dụng trong gia đình Việt Nam Ngoài những công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, chúng tôi còn tham khảo thêm các luận án,luận văn, khóa luận tốt nghiệp liên quan đến đề tài,như:
Ở góc độ tâm lý học, trong cuốn “Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo”
của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng (Nxb Thông tấn- 2013) đã khẳng định rất rõ về
cơ chế ảnh hưởng của tâm lý xã hội đến công chúng báo chí truyền hình Tác giả đã khẳng định sự hình thành và tác động tâm lý xã hội đến từng cá nhân trong xã hội và các nhóm công chúng theo 4 cơ chế sau: bắt chước, đồng nhất, dạy bảo và hướng dẫn Điều đó cho thấy báo chí đã tác động một cách có ý thức vào các đối tượng xã hội theo những cơ chế nhất định Tác giả khẳng định: “Vào giai đoạn thanh thiếu niên, vị thành niên và thanh niên, cơ chế đồng nhất mở rộng đối tượng “hình mẫu” không chỉ là người thân xung quanh, mà
có thể là ca sĩ, diễn viên, những nhân vật nổi tiếng, giỏi giang và cả hình mẫu trong văn học, điện ảnh” Trong nghiên cứu này, tác giả đã nhấn mạnh vai trò
và trách nhiệm của báo chí- truyền hình trong việc phản ánh hình ảnh người nổi tiếng: “ Một tờ báo không thể thiếu các bài viết về ngôi sao, thần tượng Nhưng nếu khai thác quá sâu và không cân nhắc hành vi của ngôi sao, thần tượng là hành vi chuẩn mực hay lệch chuẩn xã hội, có thể gây ra hậu quả lây nhiễm và bắt chước hành vi lệch chuẩn, gây tác động xấu về mặt giáo dục đến giới trẻ”
Ở một góc nhìn khác, cuốn “Báo chí với trẻ em” do PGS, TS Nguyễn
Văn Dững chủ biên – Nxb Lao động, năm 2004 đã quy định rõ đạo đức nghề nghiệp nhà báo với trẻ em, các góc độ tiếp cận đối với các vấn đề về trẻ em
và đề ra một số phương thức tổ chức sản xuất các sản phẩm báo chí …
Trang 16Bài viết “Giáo dục giá trị cho giới trẻ trên báo chí Việt Nam hiện nay” đăng trên tạp chí Tuyên giáo số tháng 7 /2015 của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng
đã khẳng định: “Báo chí tác động đến con người nói chung và giới trẻ nói riêng hàng ngày hàng giờ, mọi nơi, làm cho công chúng báo chí “thấm dần”
và dần hình thành tất cả các giá trị trong hệ giá trị” Bài viết đã khẳng định luận điểm: Báo chí có vai trò quan trọng và hiệu quả trong định hướng giá trị
và góp phần xây dựng hệ giá trị cho giới trẻ Với quan điểm phương pháp thiết kế thông điệp giáo dục giá trị gắn bó chặt chẽ với kỹ thuật quản lý hình ảnh và phân tích nhân vật trong truyền hình giáo dục, bài viết nêu lên những thách đối với cơ quan báo chí và những nhà báo trong việc ứng dụng phương pháp tiếp cận giá trị Để giáo dục giá trị trên báo chí truyền hình, bản thân mỗi nhà báo, nhà truyền hình trước hết phải là một nhà giáo dục, và hơn thế là một nhà báo có đủ kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm xã hội và tuân thủ và tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp
Luận văn “ Vấn đề giáo dục kỹ năng sống dành cho trẻ em trên kênh BiBi của
Truyền hình Cáp Việt Nam” của Nguyễn Thị Thanh Huyền (Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017) là khái quát, phân tích, tổng hợp, luận giải, xây dựng được cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có tính nội dung tương đồng với Luận văn của tác giả Đó là mối quan hệ giữa truyền hình và giáo dục kỹ năng sống của thiếu nhi Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã xây dựng, Luận văn đã khảo sát, đánh giá thực trạng của nội dung, hình thức thông tin về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ emtrên kênh Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay Từ cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn đã nghiên cứu, khảo sát, Luận văn đưa ra những đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống trong các chương trình dành cho trẻ emtrên kênh Đài Truyền hình Việt Nam như:
Đề xuất xây dựng lại khung giờ phát sóng và nội dung chương trình truyền hình trẻ em phù hợp hơn trên kênh Đài Truyền hình Việt Nam Các giải pháp
Trang 17đổi mới về quản lý và tổ chức sản xuất chương trình dành cho trẻ em Đây có
lẽ là luận văn gần với nội dung của tác giả, tuy nhiên, nội dung của bản luận văn này chỉ tập trung vào đánh giá vai trò của chương trình hoạt hình, giải trí vận động của các chương trình đang phát trên hệ thống Truyền hình Cap Việt Nam
- PGS TS Dương Xuân Sơn (2009) Giáo trình báo chí truyền hình
với các nội dung chính liên quan đến THTT được tác giả đề cập là: Sản xuất chương trình THTT; Vai trò của các chương trình THTT; Đặc điểm của chương trình Cầu truyền hình; Quá trình chuẩn bị một chương trình Cầu truyền hình; Thực hiện ghi hình và phát sóng
- TS Trần Bảo Khánh (2003) Sản xuất chương trình truyền hình Cuốn
sách này đề cập chủ yếu đến các phương pháp sản xuất chương trình truyền hình, các yếu tố cấu thành một sản phẩm truyền hình Đặc biệt, cuốn sách trình bày tương đối kỹ lưỡng tới quy trình sản xuất các thể loại trong truyền hình như: tin, phóng sự, ký sự, cầu truyền hình…
- TS Đinh Thị Xuân Hòa (2014) Xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách đề cập chủ yếu đến sự phát triển
hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam, các hình thức hợp tác sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam gồm: hợp tác sản xuất chương trình, đặt hàng sản xuất chương trình, khai thác chất liệu và sản phẩm truyền hình và trao đổi sản phẩm
- Bài viết”Sức hấp dẫn của thể loại trò chơi truyền hình”, (TS Tạ
Bích Loan, Trích trong cuốn “Báo chí những điểm nhìn thực tiễn”, tập 2, Nxb Văn hoá Thông tin) Bài viết nói sơ lược về lịch sử của chương trình trò chơi truyền hình tại Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những đặc điểm của một chương trình trò chơi truyền hình cần có, phân tích tâm lý tiếp nhận của công chúng truyền hình để có thể xây dựng nên những chương trình trò chơi truyền hình đạt hiệu quả cao hơn
Trang 18Bên cạnh đó, trong nhiều năm trở lại đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu
và có giá trị tham khảo như:
- Luận văn”Chương trình trò chơi truyền hình với khán giả Việt Nam” (Đỗ Thi Bạch Dương - Luận văn Thạc sĩ báo chí, ĐH KHXH&NV -
ĐH Quốc gia, HN, 2003) đây là luận văn gần nhất với nội dung của tác giả
tuy nhiên đây là một luận văn đã tương đối cũ tại thời điểm nghiên cứu hiện tại bởi sau hơn 15 năm thì việc tổ chức sản xuất đã thay đổi và có nhiều cải
tiến Nội dung chính của luận văn là mối quan hệ, vai trò, vị trí, chức năng của
trò chơi truyền hình trong đời sống theo dõi truyền hình nói chung Qua đó
liên hệ đến khán giả Việt Nam
- Luận văn “Nâng cao tính hấp dẫn của các chương trình giải trí trên truyền hình thông qua việc áp dụng một số thủ pháp sân khấu” (Bùi Thu
Thuỷ - Luận văn Thạc sĩ báo chí, ĐHKHXH&NV - ĐH Quốc gia, H, 2003) Luận văn đề cập đến các phương thức, cách khai thác, tận dụng tốt các yếu tố cần thiết, các thủ pháp sân khấu để nâng cao tính hấp dẫn của các chương trình giải trí trên truyền hình
Kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học của các đồng nghiệp và những người đi trước, dựa vào những nguồn tài liệu trao đổi tại các chương trình hội thảo nghiệp vụ luận văn này xin tập trung đi sâu về đánh giá nội dung và những đổi mới của các Chương trình Truyền hình cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay nhằm tìm tòi, phát hiện và đúc rút kinh nghiệm về những bất cập trong việc xử lý nội dung, những định hướng trong từng chương trình dành cho trẻ em, tìm nguyên nhân và những giải pháp tác động trong công tác điểu chỉnh nội dung và hình thức thể hiện cho một chương trình truyền hình dành cho trẻ em cụ thể để so sánh, phân tích và khái quát lên một chương trình truyền hình dành cho trẻ em với nội dung và hình thức phù hợp với xu hướng vận động, phát triển của xã hội Việt Nam trong thời
Trang 19gian qua Tóm lại, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về
Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, các nghiên cứu trên là tiền đề cho việc khảo sát, phân
tích đề tài: “Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình
Việt Nam hiện nay” (Khảo sát 1 số chương trình điển hình dành cho trẻ em
trên KÊNH VTV1, VTV3, VTV7 năm 2018)
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về nội dung và hình thức thể hiện các chương trình truyền hình dành cho trẻ em mà cụ thể là những chương trình truyền hình ca nhạc, giáo dục dành cho trẻ em đề tài tiến hành khảo sát, đánh giá và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí thuộc các thể loại: trò chơi trí tuệ, cuộc thi và chương trình vận động có yếu tố format nước ngoài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu đặt ra, luận văn giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Khảo sát, phân tích thực trạng các chương trình truyền hình dành cho trẻ em phát sóng trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam trong năm 2018
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tính giáo dục và giải trí cho trẻ em trong phương thức thể hiện nội dung của các chương trình giải trí thông qua 3 chương trình: Giọng hát Việt Nhí – phát sóng trên kênh VTV3,Vì tầm vóc Việt - phát sóng trên kênh VTV1, Lớp học cầu vồng – phát sóng trên kênh VTV7
- Khảo sát, đánh giá thực trạng cân bằng giữa tính giải trí và giáo dục trong các chương trình truyền hình dành cho trẻ em hiện nay mà cụ thể là 3
Trang 20chương trình thuộc 3 thể loại là: Giọng hát Việt Nhí – phát sóng trên kênh VTV3,Vì tầm vóc Việt - phát sóng trên kênh VTV1, Lớp học cầu vồng – phát
sóng trên kênh VTV7
- Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của các giải pháp nâng cao chất lượng nội dung đáp ứng được cả 2 tiêu chí giáo dục và giải trí của chương trình truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và cải thiện Chương trình truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: 3 chương trình tiêu biểu: Vì tầm vóc Việt, Giọng hát Việt Nhí và Lớp học cầu vồng của 3 kênh, người viết có
thể nghiên cứu và đưa các ra những điểm chung cho Chương trình Truyền
hình cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tác giả tập trung khảo sát, nghiên cứu nội dung của 3 chương trình:
Vì tầm vóc Việt, Giọng hát Việt Nhí và Lớp học cầu vồng được chọn là đại diện của 3 kênh, các bài viết mang nội dung đánh giá, nhận xét, phân tích những chương trình Truyền hình cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
- Lựa chọn 3/9 kênh chính của Đài Truyền hình Việt Nam để khảo sát vì: + VTV1 – Ban Thời sự là 1 trong những kênh Truyền hình ra đời đầu tiên của Đài Truyền hình Việt Nam.Đây là kênh Thời sự, chuyên phát sóng những chương trình chính luận, mang tính thông tin thời sự cập nhật, đánh giá
đa chiều, sâu sắc
+ VTV3 – Ban sản xuất xuất các chương trình Giải trí là kênh duy nhất phát sóng chuyện biệt những chương trình Giải trí của Đài Truyền hình Việt Nam
Trang 21+ VTV7 – Trung tâm sản xuất các chương trình Giáo dục là kênh ra đời muộn hơn 2 kênh VTV1, VTV3 chuyên sản xuất và phát sóng những chương trình khoa giáo, giáo dục cho trẻ em với nhiều lứa tuổi
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về báo chí; Lý luận chung về báo chí - truyền hình
- Luận văn vận dụng, kế thừa, phát triển các công trình khoa học của các tác giả đi trước đã nghiên cứu nội dung có liên quan đến luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, khảo sát thực trạng sản xuất một tquá trình tổ chức sản xuất của các biên tập viên để thực hiện 1 chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định chất lượng, hiệu quả những chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài hiện đang được phát trên sóng Đài truyền hình Việt Nam Phương pháp này được dựa chủ yếu vào việc tác giả phải lưu giữ, xem lại các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài hiện đang được phát trên sóng Đài truyền hình Việt Nam
- Phương pháp so sánh
Phương pháp này được thực hiện nhằm so sánh các chương trình truyền hình giải trí đang được sản xuất và phát sóng trên sóng Đài truyền hình Việt Nam so với các chương trình gốc và các bản sản xuất từ bản quyền ấy ở các quốc gia khác
Trang 22- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này được thực hiện với các lãnh đạo phòng, các phóng viên, các chuyên gia, đạo diễn chương trình, tổ chức sản xuất nhằm thu thập thêm những thông tin, phương pháp, quy trình tổ chức khi thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài Suy nghĩ, đánh giá khách quan của họ về Chương trình Truyền hình cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn lý luận về vai trò, chức năng của báo chí; việc xây dựng và cân bằng giữa yếu tố giáo dục và giải trí trong một chương trình truyền hình dành cho trẻ em Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một minh chứng về vai trò và tác động to lớn của các chương trình truyền hình dành cho trẻ em
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho bản thân Những kết luận của luận văn có thể được ứng dụng trong quá trình tác nghiệp của các phóng viên, các biên tập viên trẻ và những người hướng đến công việc nghiệp vụ là xây dựng nội dung truyền hình giáo dực, giải trí cho trẻ em Hy vọng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên truyền hình
khóa sau
Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu sau này
về báo chí, truyền hình, giáo dục, giải trí, …; các cơ sở đào tạo báo chí; tổ chức sự kiện, xây dựng kênh truyền hình …
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn có 3 chương:
Trang 23Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
Chương 2: Nội dung, hình thức về thông tin giáo dục và tính giải trí cho trre em qua các chương trình truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay được khảo sát qua 2 chương trình đại diện cho kênh VTV1, VT3, VTV7
Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao Chương trình Truyền hình dành cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự các chương trên
Trang 24CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHO TRẺ EM CỦA ĐÀI TRUYÊN HÌNH VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Truyền hình
Có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình, như hai tác giả người
Pháp Brigitte và Didier Deormeax, trong cuốn Phóng sự truyền hình, quan
niệm rằng truyền hình là “truyền thanh có minh họa”
Tác giả Tạ Ngọc Tấn, trong cuốn Truyền thông đại chúng, NXB Chính
trị quốc gia Hà Nội, 2001 cho rằng: Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình được bắt đầu từ hai chữ Tele có nghĩa là “ở xa” và vision nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [34, tr.143]
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “truyền hình là truyền hình ảnh và âm
thanh bằng sóng điện vô tuyến” [52, tr.1734]
PGS.TS Dương Xuân Sơn chỉ ra rằng truyền hình xuất hiện vào đầu thế
kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Từ chỗ chỉ là một phương tiện giải trí ở thập kỉ 50 của thế kỷ XX, truyền hình đã dần trở thành một loại hình báo chí có tác động xã hội mạnh mẽ nhất hiện nay
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức
và phong phú hơn về nội dung
Trang 25Và trong “Tập bài giảng môn Truyền hình”, kho Báo chí truyền ĐH
KHXH và NV, ĐH QG Hà Nội, tác giả Dương Xuân Sơn cũng đã định nghĩa:
Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kĩ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm: hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh Âm thanh là lời nói (lời bình, lời phát thanh viên, lời phóng viên ) tiếng động hiện trường (cường độ, cao độ, tiết tấu)” [49, tr 3]
PGS.TS Nguyễn Văn Dững đưa ra quan niệm: Truyền hình là kênh
truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa được các thế mạnh của các kênh trước đó như điện ảnh, báo in, phát thanh Và ngày nay đang tận hưởng tối
đa môi trường truyền thông số trên mạng internet Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc
và cảm thụ Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được “làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức”, được chắt lọc hơn về ý tưởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh thần giúp người xem nhận thức rõ hơn, đúng hơn, trúng hơn, gần gũi và sinh động hơn về những sự kiện và vấn đề của cuộc sống [12, tr118]
Như vậy, các khái niệm trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh Đây cũng chính là đặc trưng của truyền hình, yếu tố phân biệt truyền hình với các loại hình thông tin báo chí khác Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này đã tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải các nội dung phong phú của đời sống xã hội, khả năng đặc biệt trong việc
đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu càu thông tin cho đông đảo công chúng
Kế thừa những khái niệm trên, tác giả xin được mạnh dạn đưa ra quan
niệm: truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải
thông tin đến công chúng thông qua âm thanh và hình ảnh, có tác động mạnh
mẽ đến giác quan cảm xúc của người xem
Trang 26Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu trong mỗi gia đình ở mỗi quốc gia, mang lại lợi ích cho từng cá nhân, tác động đến mọi mặt của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội
1.1.2 Chương trình truyền hình
Khán giả xem truyền hình nhưng không xem những thông tin lộn xộn Mọi thông tin, tác phẩm trên truyền hình để đến được với công chúng đều phải được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện cho người xem dễ dàng theo dõi và tiếp nhận thông tin, đồng thời tạo cho truyền hình một cấu trú thông tin ổn định, hoàn chỉnh Việc tổ chức, sắp xếp ấy sau cùng tạo nên chương trình truyền hình
Theo “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn thì:
Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu, hình ảnh và âm thanh, được mở đầu bằng lời giới thiệu nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả [34, tr 113]
Theo nguồn sản xuất chương trình truyền hình chuyên nghiệp thì:
Chương trình truyền hình hay chương trình ti-vi hay chương trình TV (tiếng Anh: television program, television show) là một phân đoạn của nội dung dự định để phát sóng trên truyền hình, mà không phải là một đoạn quảng cáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim Nó có thể là một bản sản xuất duy nhất, hoặc phổ biến hơn, một loạt các phần liên quan (cũng được gọi là một phim bộ truyền hình)
Chương trình phát sóng chỉ 1 lần có thể được xem là một chương trình
“đặc biệt” Một bộ phim truyền hình (“phim sản xuất cho truyền hình” hay
“bộ phim truyền hình”) là một bộ phim mà ban đầu được phát sóng trên truyền hình, thay vì so với một bộ phim được công chiếu lần đầu ở các rạp chiếu phim Một chương trình có thể được ghi lại như trên băng video hoặc các vật lưu trữ khác nhau, hoặc không lưu trữ mà để truyền hình trực tiếp
Trang 27Tóm lại, có thể hiểu “chương trình truyền hình” là một sản phẩm báo
chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình (chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh) Hầu hết các chương trình truyền hình đều có tính ổn định về nội dung, hình thức, được phát sóng theo định kỳ”
Ngoài ra, chương trình truyền hình còn có những đặc điểm sau:
- Mỗi chương trình truyền hình đều có nội dung và mục đích riêng: Tùy từng đối tượng mà có nội dung khác nhau, song mục đích cuối cùng của các chương trình trò truyền hình đều hướng đến phục vụ nhu cầu của công chúng như thư giãn, giải trí, giáo dục lành mạnh
- Kết cấu của mỗi chương trình trò chơi truyền hình ổn định: một chương trình truyền hình thường có một hoặc nhiều phần, có thể có những chủ đề riêng tuy nhiên kết cấu tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người theo dõi
- Thời lượng của mỗi chương trình thường ổn định, ngắn gọn: thời lượng của chương trình phụ thuộc vào vai trò, vị trí, chức năng và quy mô của chương trình đó Đồng thời còn phụ thuộc vào nội dung chương trình, tâm lý tiếp nhận của người xem và từng lứa tuổi Khung thời lượng thường thấy của các chương trình thường là 15, 30 hoặc 45 đến 60 phút
- Thời điểm phát sóng của các chương trình cụ thể, rõ ràng, ổn định Mỗi chương trình thường có thời điểm phát sóng cố định dựa trên mục đích
và lượng khán giả xem chương trình
1.1.3 Chương trình truyền hình giải trí, giáo dục
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì “ giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi bằng các hoạt động nghỉ ngơi, vui chơi, thư giãn.”[52,tr 215]
Còn theo từ điển tiếng Việt do Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
và Viện ngôn ngữ học biên soạn thì: Giáo dục là hoạt động nhằm tác động
một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng
Trang 28nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra
Như vậy, chương trình truyền hình giải trí là cách phân loại về thể loại các chương trình truyền hình, nó làm rõ hơn các chức năng của chương
trình “Chương trình truyền hình giải trí có thể hiểu là sản phẩm báo chí có
nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình có nội dung và tính giải trí cao hướng đến mục tiêu giải tỏa và thư giãn trí óc cho khán giả.”
Đây có thể nói là mục tiêu và cũng là định hướng phân loại chức năng dành cho mỗi chương trình truyền hình nói chung và cả kênh truyền hình nói riêng Đó cũng là lí do khiến cho Đài THVN đã có quyết định tách riêng Ban Thể thao - Giải trí và Thông tin kinh tế thành 2 đơn vị là Ban Sản xuất các chương trình Giải trí và Ban Sản xuất các chương trình Thể thao; Trung tâm sản xuất chương trình Giáo dục được hình thành trên nên móng của Ban Khoa giáo – Đài Truyền hình Việt Nam Theo đó, chương trình truyền hình giáo dục, giải trí là các chương trình truyền hình được sản xuất với mục đích cơ bản là mang lại những thông tin có tính giải trí, thú vị, hấp dẫn, mang lại kiến thức, kỹ năng cũng nhưu tiếng cười và sự thư giãn cho mọi người Nó bao gồm những chương trình tạp kĩ, điện ảnh, trò chơi truyền hình (trò chơi vận động, trò chơi kiến thức, trò chơi mang tính trình diễn, trò chơi may rủi…),
chính luận, khoa giáo
1.1.4 Trẻ em
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ
là "mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ
em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn."[5][6] hiệp nước này được 192 của 194 nước thành viên phê duyệt Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.[7]
Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao gồm thai nhi.[8]
Về mặt sinh học, một
Trang 29đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành Trẻ em nhìn chung có ít quyền hơn người lớn và được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết định quan trọng, và về mặt luật pháp phải luôn có người giám hộ
Công nhận thời thơ ấu như là một trạng thái khác nhau từ bắt đầu tuổi trưởng thành xuất hiện trong các thế kỷ XVI và XVII Xã hội đã bắt đầu liên quan đến trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ nhưng là một người của một cấp dưới của sự trưởng thành cần người lớn bảo vệ, thương yêu và nuôi dưỡng Sự thay đổi này có thể được xem xét trong các bức tranh: Trong thời Trung cổ, trẻ em được mô tả trong nghệ thuật như người lớn thu nhỏ với không có đặc điểm trẻ con Trong thế kỷ XVI, hình ảnh của trẻ em bắt đầu có
sự khác biệt về yếu tố trẻ con Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, trẻ em đã được hiển thị qua các trò chơi Đồ chơi và văn học cho trẻ em cũng bắt đầu phát triển vào thời điểm này
1.1.5 Đặc trưng của Truyền hình
- Truyền hình có thông tin mang tính thời sự
- Ngôn ngữ của truyền hình là: hình ảnh và âm thanh
- Truyền hình mang tính phổ cập và quảng bá là phương tiện truyền thông đại chúng
- Khả năng thuyết phục công chúng: truyền hình truyền hình ảnh đi xa cho công chúng theo dõi nên có tính thuyết phục hơn
- Khả năng tác động dư luận mạnh mẽ
- Khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân
=> Nên tạo ra sự tương tác của xã hội đối với người xem truyền hình
Cụ thể, truyền hình mang những đặc điểm đặc trưng, chi tiết:
Trang 301.1.6 Khái niệm về Truyền hình chuyên biệt và Truyền hình chuyên biệt dành cho thiếu nhi
Kênh truyền hình chuyên biệt (Chaîne de télévision spécialisée) được
hiểu là một kênh truyền hình mà các chương trình của nó nhắm vào một chủ
đề nhất định hoặc một nhóm khán giả cụ thể Nó trái ngược với chương trình
truyền hình tổng hợp là chương trình dành cho phần đông khán giả
Sự phát triển của kinh tế - xã hội đã làm thay đổi thói quen của công chúng, thay vì công chúng bị động tiếp nhận thông tin như nhau từ mọi phương tiện truyền thông như trước đây, thì nhu cầu của họ lại hướng ra nhiều khía cạnh khác nhau Sự tan rã của cộng đồng công chúng truyền thông
đã làm xuất hiện nhiều nhóm công chúng chuyên biệt với thói quen hưởng thụ thông tin từ hướng công cộng sang cá thể Điều này đòi hỏi các nhà cung cấp nội dung phải chia các gói nội dung và thông tin để phù hợp với nhu cầu của từng nhóm công chúng
Sự chuyên biệt về nội dung chương trình tạo sự sâu sắc, hấp dẫn, phù hợp với người xem Sự chuyên biệt này tạo sự đa dạng kênh kéo theo sự phong phú
và hài lòng trong chọn lựa khi giải trí hay tìm thông tin cụ thể của khán giả Đồng thời đây là một chiến lược phát triển thương mại hiệu quả của các đài truyền hình, bởi lợi nhuận luôn đi kèm với sự mới lạ, cuốn hút của chương trình
Như vậy, có thể hiểu “Truyền hình chuyên biệt là một hình thức truyền
hình dịch vụ được xây dựng chuyên nghiệp phát sóng hàng ngày có nội dung chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định (âm nhạc, thể thao, tài chính…) hoặc có nội dung chỉ dành cho một nhóm đối tượng khán giả mục tiêu (có những đặc điểm chung về lứa tuổi, giới tính, địa lý ) nhằm mục tiêu phục vụ tốt nhất nhu cầu của công chúng xem truyền hình”
Và Truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ em được hiểu là: “Truyền
hình chuyên biệt dành cho trẻ em là một hình thức truyền hình dịch vụ được xây dựng chuyên nghiệp phát sóng hàng ngày các chương trình có nội dung chuyên sâu dành cho đối tượng là trẻ em.”
Trang 31Trong xu thế phát triển của truyền hình, truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ emđã có quá trình hình thành và phổ biến rất nhanh trên toàn thế giới
Từ những chương trình truyền hình dành cho trẻ em tại Mỹ, Anh,… cho đến nhiều chương trình đặc biệt khác nhau trên toàn thế giới Điều này càng cho thấy việc nghiên cứu về truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ em có vai trò rất
quan trọng
Trên thế giới, các nước quy định khá rõ ràng về các kênh truyền hình dành cho trẻ em được phép phát sóng, truyền tải các nội dung, thời lượng ra sao Năm 1990, Quốc hội và Thượng viện tại Hoa Kỳ đều thông qua tiêu chuẩn về “Hành vi trên truyền hình dành cho trẻ em” bao gồm:
Điều 1, Quy định về kênh truyền hình dành cho trẻ em:
Khoản 101, Quốc hội yêu cầu
(1) bắt buộc các kênh truyền hình phải giúp cho trẻ em tiếp thu về các thông tin quan trọng, kĩ năng, giá trị, và các hành vi, trong đó có tính giải trí và tạo sự thú vị cho trẻ em tìm hiểu kiến thức về thế giới (2) đây là một phần trong việc phục vụ công chúng, các đơn vị truyền hinh và các nhà cung cấp nên cung cấp các nội dung có thể phục vụ các yêu cầu đặc biệt dành cho trẻ em
(3) hỗ trợ tải chính trong việc quảng cáo nhằm hỗ trợ cho việc cung cấp các nội dung cho trẻ em
(4) cần bảo vệ đặc biệt trẻ em khỏi việc quá mức thương mại hoá các kênh truyền hình
(5) các đơn vị truyền hình và nhà cung cấp nên hợp tac trong việc thực hiện các chương trình truyền hình dành cho trẻ em và việc quảng cáo luôn có cân nhắc đến nhân cách của người xem là các em
(6) cần có sự phê chuẩn từ Cơ quan Liên bang Truyền thông đối với nội dung này
Trang 321.1.7 Sự hình thành và phát triển của truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ em
1.1.7.1 Sự hình thành và phát triển của truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ
em trên thế giới
Truyền hình chuyên biệt trên thế giới được biết đến với sự mở đầu của HBO (viết tắt của Home Box Office), thuộc tập đoàn truyền thông giải trí nổi tiếng của Mỹ -Time Warner, có trụ sở tại New York, ra đời vào ngày 8 tháng
11 năm 1972, tiền thân là kênh "The Green Channel", do Charles Dolan xây dựng Tuy nhiên, lúc mới ra đời, lượng khán giả của HBO khá thấp Điều này khiến cho ông chủ đầu tiên của kênh này - Dolan bị phá sản HBO rơi vào tay đối tác truyền thông của Dolan - Time Life năm 1973 [2] Bắt đầu từ ông chủ mới này, kênh HBO phát triển mạnh mẽ và trở thành kênh truyền hình thu phí phát triển nhanh nhất nước Mỹ ở thời điểm đó
Cùng với sự bùng nổ của thể loại truyền hình chuyên biệt, truyền hình chuyên biệt dành riêng cho đối tượng là trẻ em cũng ngày một được chú trọng đầu tư và xuất hiện ngày càng nhiều
Nickelodeon: Đây là kênh truyền hình dành cho trẻ em đầu tiên trên
thế giới Đối tượng khán giả chủ yếu của kênh này là thiếu niên độ tuổi từ 08 tới 17 tuổi, ngoài ra còn có các chương trình giáo dục cho trẻ từ 02- 08 tuổi
vào mỗi buổi sáng Tiền thân của nó là kênh Pinwheel bắt đầu phát sóng từ tháng 01/1977 Ngày 01/04/1979 thì Nickelodeon chính thức lên hình trên hệ
thống cáp của Warner và phát qua vệ tinh trên RCA Satcom
Disney Channel: Xuất hiện như một kênh truyền hình chuyên biệt
được đông đảo khán giả trên thế giới yêu mến, Disney Channel là một kênh truyền hình chuyên biệt của Mỹ, được phát trên mạng lưới truyền hình vệ tinh
từ ngày 18 tháng tư năm 1983, thuộc sở hữu của Tập đoàn Disney-ABC, Disney là kênh truyền hình dành cho thanh thiếu nhi, phát sóng 24h/ngày bằng tiếng Anh, có phụ đề Việt ngữ 8 - 10 tiếng/ ngày Kênh bao gồm những
bộ phim hoạt hình Disney nổi tiếng, phim hoạt hình nhiều tập, các chương
Trang 33trình đặc biệt, phim hài, phim truyền hình nhiều tập dành cho gia đình, các bộ phim hành động và phiêu lưu kỳ thú Tuy khởi đầu Disney Channel chỉ là kênh truyền hình dành cho lứa tuổi trẻ emnhưng trong những năm gần đây,
sự đa dạng của người xem đã tăng lên với khán giả lớn tuổi hơn, thường là thanh thiếu niên, người lớn trẻ tuổi và gia đình trẻ
Kênh Cartoon Network: được biết đến bởi cái tên thân thuộc CN là kênh
hoạt hình đặc sắc dành cho trẻ em và thiếu niên nổi tiếng trong và ngoài nước Kênh thuộc quyền sở hữu của Time Warner được hình thành từ những năm
1992 Kênh được trẻ em yêu thích vì sở hữu số lượng phim đa dạng, hấp dẫn cuốn hút đến lạ thường Những bộ phim đặc sắc nhất đã đi sâu vào thế hệ trẻ như: Tom & Jerry, Mr Bean, Teen Titans, Ben 10, The Powerpuff Girls,…Kênh Cartoon Network giờ bị khóa trên hệ thống đài truyền hình Việt Nam nhưng vẫn hợp tác với 1 số nhà mạng khác như K+, SCTV, HaNoiCab, hoặc xem kênh này qua một số ứng dụng xem tivi online như: FPT Play, Flix, FlyTV,
Các kênh chương trình chuyên biệt đã được xây dựng một cách chuyên nghiệp, gây được sự chú ý của người xem Sự chuyên biệt về nội dung chương trình đã tạo được sự hấp dẫn, phù hợp với đối tượng là trẻ em Gây được niềm yêu thích của trẻ nhỏ với chương trình truyền hình Bên cạnh đó, việc xây dựng kênh chương trình chuyên biệt sẽ có lợi thế lớn trong việc thu hút quảng cáo theo những chương trình hấp dẫn của kênh Đây cũng là xu hướng quy hoạch kênh và hướng phát triển kênh mới của các Đài Truyền hình hiện nay
1.1.7.2 Sự hình thành và phát triển của truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ
em tại Việt Nam
Kênh HTV3 là kênh truyền hình đầu tiên dành riêng cho trẻ em tại khu
vực miền Nam cũng như cả nước Chương trình do Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh quản lý và sản xuất HTV3 phát sóng liên tục 24 giờ mỗi ngày (từ 06 giờ sáng đến 05 giờ 45 của ngày hôm sau), các chương trình mới
và đặc sắc sẽ được phát sóng vào các mốc giờ cố định
Trang 34Kênh Đài Truyền hình Việt Nam: ra đời năm 2006, có thể coi Kênh
truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ em trên hệ thống truyền hình cáp Việt Nam - Đài Truyền hình Việt Nam từ lâu đã trở thành lựa chọn của mỗi gia đình dành cho các em Những ngày đầu lên sóng Đài Truyền hình Việt Nam đã thu hút nhiều hứng thú của khán giả nhí bởi đây là lần đầu tiên trên hệ thống truyền hình cáp Việt Nam các em có riêng cho mình một kênh truyền hình Kênh Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng nhiều bộ phim hoạt hình hấp dẫn có bản quyền hợp pháp từ các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Úc, Pháp , Mỹ… và các phim hoạt hình Việt Nam đặc sắc Các phim hoạt hình được Việt hóa giúp các em dễ dàng đón xem những bộ phim mình yêu thích
Kênh VTV6 là kênh truyền hình dành cho giới trẻ của Đài Truyền hình
Việt Nam, hướng tới đối tượng khán giả là những người trẻ 8x, 9x, 10x, - thế hệ được tiếp cận các thiết bị thông minh trong thời đại công nghệ 4.0 như máy tính, smartphone, và đang dần có xu hướng sử dụng những thiết bị này nhằm tìm kiếm các thông tin hữu ích cũng như thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình thay cho chiếc TV truyền thống vón chỉ phát sóng các chương trình theo lịch phát sóng Các chương trình của kênh VTV6 tập trung khai thác mọi khía cạnh trong đời sống, văn hóa của giới trẻ, với những người dẫn chương trình hầu hết đều là những người trẻ tuổi
Tuy là kênh truyền hình tập trung khai thác đời sống giới trẻ do Ban Thanh thiếu niên (VTV6) làm nòng cốt, nhưng hầu hết các chương trình do Ban Thể thao (S-VTV) sản xuất (bao gồm tường thuật trực tiếp và phát lại các trận đấu, các chương trình tạp chí khai thác, phóng sự và bản tin) đều được phát sóng trên kênh này, vì thế kênh cũng được nhiều khán giả biết tới là kênh chuyên truyền hình trực tiếp các sự kiện thể thao của Đài Truyền hình Việt Nam Đồng thời, VTV6 còn sản xuất nhiều chương trình truyền hình trực tiếp
và cầu truyền hình trực tiếp đặc biệt để phát sóng trên VTV1
Trang 35Kênh VTV7: là kênh truyền hình giáo dục quốc gia trực thuộc Đài
Truyền hình Việt Nam, nhằm mục đích dạy học, phổ biến và nâng cao kiến thức Kênh VTV7 là sản phẩm của sự hợp tác giữa Trung tâm sản xuất các chương trình giáo dục của VTV với Bộ giáo dục và Đào tạo, cùng đối tác là các đài truyền hình EBS (Hàn Quốc) và NHK của (Nhật Bản) Kênh VTV7 được hình thành sau khi Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam ký quyết định tách Phòng Nhà trường ra khỏi Ban Khoa giáo để thành lập Trung tâm Sản xuất các Chương trình Giáo dục - Đài Truyền hình Việt Nam
VTV7 được phát sóng thử nghiệm từ 11h30 ngày 20/11/2015[2]
và được phát sóng chính thức vào lúc 06h00 ngày 1/1/2016[1][3][4] Thời lượng phát sóng của VTV7 là 18 giờ (06h đến 24h hằng ngày) Giống như các kênh VTV khác, VTV7 cũng có hai phiên bản: Độ nét tiêu chuẩn (SD) và độ nét cao (HD) VTV7 HD được phát sóng thử nghiệm cùng với VTV7 Từ ngày 25/9/2017, kênh VTV7 chuyển sang phát sóng phiên bản mới
Với vai trò của một kênh truyền hình chuyên biệt về giáo dục, mục tiêu chính của VTV7 là hỗ trợ người học trên khắp mọi miền Tổ quốc học tập tất cả các môn học qua sóng truyền hình Thông qua đó, học sinh trên khắp cả nước, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa sẽ được tiếp cận các kiến thức mới qua những chương trình, hình ảnh của VTV cũng như của các kênh truyền hình khác trên thế giới (do VTV hợp tác và mua bản quyền) Bên cạnh phần lớn thời lượng cho chương trình giáo dục, VTV7 cũng có các khung chương trình giải trí hay các chương trình có ý nghĩa nhân văn Các chương trình có liên quan trực tiếp đến giáo dục trong trường học đã và đang được chuyển từ VTV2 sang kênh này, với nội dung được biên tập và chất lượng ngày càng được cải tiến hơn.[5]
Đối tượng khán giả của kênh VTV7 chủ yếu là học sinh, sinh viên Ở giai đoạn đầu lên sóng, VTV7 hướng đến các trẻ em mầm non và tiểu học Ngoài ra, kênh cũng có những chương trình phù hợp với các đối tượng khác
Trang 36như học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông, người thành niên, đồng bào dân tộc thiểu số hay những người khuyết tật, người kém may mắn
Yeah1TV - VTC4 - Kênh dành cho tuổi teen của SCTV - Đài Truyền
hình Việt Nam Ra mắt từ tháng 8/2008, kênh truyền hình này mang đến cho khán giả trẻ hàng loạt chương trình giải trí, văn hóa, thể thao, đời sống, giáo dục với nội dung hấp dẫn và hình thức sáng tạo mới lạ, có tính tương tác cao với người xem Để đáp ứng nhu cầu các khán giả trẻ ở những khu vực Công
ty Truyền hình cáp Saigon Tourits (SCTV) chưa phủ sóng đến, Yeah1TV đã hợp tác với kênh truyền hình kỹ thuật số VTC để đưa các chương trình sôi động này đến với khán giả cả nước
1.1.8 Những yếu tố để các chương trình truyền hình trở thành công cụ giáo dục kỹ năng sống hiệu quả đối với trẻ em
1.1.8.1 Truyền hình phát tín hiệu bằng hình ảnh và âm thanh
Truyền hình có sự hấp dẫn đặc biệt nhờ khả năng giao tiếp với con người bằng cả thính giác và thị giác – hai giác quan quan trọng nhất Vì vậy, đưa một thông điệp giáo dục đến công chúng qua truyền hình, rõ ràng sẽ hiệu quả hơn rất nhiều so với các loại hình báo chí khác
Hình ảnh là đặc điểm thể hiện của truyền hình, thủ pháp để phát huy ưu thế của truyền hình Trong truyền hình thì hình ảnh chủ yếu và đặc trưng là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp Ngoài ra truyền hình còn sử dụng các loại hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu, mô hình, sơ đồ, biểu đồ, chữ in Hình ảnh giúp cho trẻ em dễ hiểu về vấn đề đang đề cập và tạo nên sự sinh động cho mỗi chương trình, giúp trẻ em hứng thú tiếp nhận thông tin
Âm thanh là cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng của truyền hình
Âm thanh trong truyền hình bao gồm: lời nói của con người, âm nhạc, tiếng động và các âm thanh của hiện trường ghi hình Nếu như hình ảnh tác động vào thị giác của con người thì âm thanh giúp thông tin được truyền đi trọn vẹn
Trang 37hơn qua thính giác Yếu tố âm thanh qua lời nói giúp trẻ có thêm kiến thức, thêm hiểu biết mà hình ảnh không thể diễn tả hết được
Sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh và âm thanh tạo cho truyền hình khả năng truyền tải các nội dung thông tin vô cùng phong phú và giúp cho đối tượng công chúng là trẻ em dễ dàng tiếp thu
1.1.8.2 Truyền hình giáo dục trực quan sinh động
Truyền hình có ưu điểm nổi bật khi kết hợp rất khéo léo giữa hình ảnh và
âm thanh giúp tạo cho khả năng truyền tải thông tin nội dung vô cùng phong phú gần gũi với người xem Các sự kiện hiện tượng, vấn đề nổi bật đều được cập nhật thể hiện qua các chương trình truyền hình ngày càng chuyên nghiệp
và sáng tạo riêng Còn đối với trẻ em thì Truyền hinhg có lợi thế vô cùng lớn khi bằng hình ảnh và âm thanh một cách sống động, chân thực và khách quan,
là một công cụ giáo dục trực quan vô cùng hiệu quả đối với trẻ em
Nếu như các loại hình báo chí khác như: báo mạng, báo in, báo phát thanh có thể phải mất thời lượng để làm rõ sự vật hiện tượng thông qua câu chữ, âm thanh mô tả, đôi khi vẫn còn tạo cho người xem, người nghe sự nhầm lẫn, mơ hồ nhất định thì báo hình có thể làm cho người ta tin tưởng tuyệt đối
và dễ dàng hình dung ngay sự việc thông qua những hình ảnh chuyển động và
âm thanh sống động đựơc ghi lại từ hiện trường Mặt khác đó là những hình ảnh được ghi lại từ nhiều góc độ khác nhau của ống kính máy quay và màu sắc sinh động của hình ảnh cho công chúng là trẻ em sự hứng thú với chương trình Điều này sẽ giúp các em nhớ lâu, và có hiểu biết sâu sắc về sự việc
Ví dụ như khi giới thiệu về loài vật cho các em nhỏ thì thay vì miêu tả
về thế giới loài khủng long, loài gấu Bắc Cực để các em phải tự tưởng tượng, hình dung, thì thông qua truyền hình, các em được thấy loài khủng long, loài gấu Bắc Cực qua những thước phim chân thực, sống động giàu cảm xúc và chính xác nhất về đặc điểm cũng như tập quán sinh sống của nó Cách tiếp cận những kiến thức mới thông qua công cụ truyền hình giúp trẻ có được sự mới mẻ trong cách học và từ đó khơi gợi sự say mê tìm hiểu của các em
Trang 38Đặc biệt, với các em nhỏ, truyền hình là công cụ giáo dục trực quan quan trọng hơn tất cả các loại hình báo chí khác ở điểm, các em nhỏ chưa biết đọc, biết viết vẫn có thể tiếp nhận thông tin, nội dung giáo dục kỹ năng sống một cách trọn vẹn thông qua hình ảnh và âm thanh của chương trình
1.1.8.3 Truyền hình được kết nối rộng rãi
Để xem truyền hình, trẻ em không cần phải rời căn nhà của mình, phụ huynh không phải đưa con đến những cụm rap hay mất tiền mua vé Các em
có thể xem truyền hình trong sự thoải mái cùng với gia đình, chỉ cần nhà có một chiếc tivi Đây là lý do tại sao truyền hình thường được coi là một phương tiện giải trí trong nước Nó cung cấp giải trí và thông tin ngay bên trong nhà của các em nhỏ và đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người Truyền hình thực sự có thể mô phỏng
các hoạt động hàng ngày của thế giới
1.1.8.4 Truyền hình được phát sóng với tần suất thường xuyên
Với giáo dục, nhất là giáo dục dành cho trẻ nhỏ thì việc nhắc đi nhắc lại một vấn đề mấu chốt được coi là quan trọng nếu ta muốn trẻ ghi nhớ điều đó
Theo nghiên cứu thì trẻ em từ độ tuổi 01-12 là độ tuổi luôn luôn có sự
tò mò về thế giới xung quanh, trí nhớ và nhận thức cũng trong giai đoạn hình thành và phát triển Đây cũng là giai đoạn vàng để trẻ ghi nhớ những thông tin, kiến thức mà mình thu nạp được và chính vì vậy những gì trẻ em học được, nhận biết được ở lứa tuổi này các em sẽ nhớ rất lâu
Trong khi đó, truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng được phát sóng với tần suất dày đặc Hầu hết các chương trình dành cho trẻ em đều được phát sóng từ khung giờ 6h00 – 24h00 và có rất nhiều khung giờ phát lại tùy vào mỗi kênh truyền hình
Các chương trình được sếp vào khung giờ phát lại thường là các chương trình phim hoạt hình và các chương trình có nội dung giáo dục kỹ năng sống Đây là yếu tố rất cần thiết giúp các chương trình giáo dục kỹ
Trang 39năng sống mang lại hiệu quả cao trong việc tác động đến tư duy và hành động của trẻ
Có những chương trình khi phát sóng trẻ bỏ lỡ hoặc chưa thể ghi nhớ hết, thì việc phát lại lần thứ hai sẽ giúp trẻ củng cố những kiến thức đã xem đồng thời ghi nhớ lại những phần đã bỏ lỡ trước đó Như vậy, tần suất phát sóng một chương trình sẽ giúp cho những nội dung giáo dục kỹ năng sống được trẻ em tiếp thu một cách dễ dàng và không hề cứng nhắc Đây cũng là yếu tố giúp cho truyền hình trở thành công cụ giáo dục kỹ năng sống thiết thực và hiệu quả Đây là ưu thế lớn của Truyền hình khi tiếp cận và đồng hành lâu dài với trẻ em
1.1.9 Xã hội hóa chương trình Truyền hình dành cho trẻ em
“Xã hội hóa” hiện là một khái niệm không còn xa lạ, không còn mới nhưng hiện nay nó vẫn đang được phát biểu và đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, nước ta thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Cũng từ đó, nhiều lĩnh vực không còn bó hẹp trong sự hoạch định của Nhà nước mà được phát triển theo quy luật cung - cầu Càng ngày chúng ta càng thừa nhận tính đúng đắn của sự chuyển đổi đó Cùng với đó, khái niệm Xã hội hóa không còn xa lạ
Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình của Đài THVN đã được hiểu là “huy đông toàn bộ xã hội tham gia sản xuất chương trình” hay
“làm cho chương trình mang tính xã hội”
1.2 Đặc điểm, vai trò của chương trình truyền hình dành cho trẻ em
1.2.1 Đặc điểm chương trình truyền hình dành cho trẻ em
Trẻ em – là đối tượng luôn được ưu tiên trong xã hội Trẻ em luôn được đặt là đối tượng trung tâm, như chúng ta cũng đã biết, sinh thời Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình thương yêu và quan tâm đặc biệt Bác thường xuyên quan tâm nhắc nhở và giao nhiệm vụ
Trang 40bảo vệ, chăm sóc trẻ em Qua các bài nói, bài viết và bằng những việc làm cụ thể, Người đã đặt nền tảng tư tưởng và nêu tấm gương sáng về việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Để có chương trình truyền hình dành cho trẻ thì nội dung chương trình phải tuân thủ như sau:
Chương trình phai được thiết kế đặc biệt để phục vụ cho nhu cầu giáo dục và thông tin của trẻ em từ 16 tuổi trở xuống, bao gồm các nhu cầu của trẻ về tri thức/nhận thức và xã hội/xúc cảm
Phục vụ cho các nhu cầu giáo dục và thông tin của trẻ em như là mục đích quan trọng nhất
Chương trình có độ dài ít nhất là 30 phút, ngoại trừ rằng các đài TV được cho phép phát sóng một thời lượng giới hạn các chương trình ở dạng ngắn ít hơn độ dài 30 phút, bao gồm các thông báo dịch vụ công cộng và các chương trình xen kẽ, và tính cho các chương trình này được cộng vào chương trình cốt lõi
Được phát sóng trong khoảng giữa 6:00 buổi sáng và 10:00 buổi tối
Là chương trình hàng tuần được lên lịch thường xuyên, ngoại trừ rằng các đài TV được cho phép phát sóng một thời lượng giới hạn các chương trình cốt lõi mà không được lên lịch thường xuyên trên cơ sở hàng tuần, chẳng hạn như là các chương trình giáo dục đặc biệt và chương trình không phải hàng tuần được lên lịch thường xuyên, và tính cho các chương trình này được cộng vào chương trình cốt lõi
1.2.2 Vai trò của chương trình truyền hình cho trẻ em của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay
Có thể nói giữa hàng trăm nghìn chương trình truyền hình đang có hiện nay thì những chương trình dành cho trẻ em vẫn luôn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, giải trí và khoa học Những chương trình dành cho trẻ
em luôn có tính định hướng cao về nội dung, đảm bảo yếu tố giáo dục, thẩm mỹ