Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận; quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trước đây là tội vi phạm quy
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HẢI ĐĂNG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HẢI ĐĂNG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2019
Tác giả
Trần Hải Đăng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 10
1.1 Những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 101.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 21
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI TỈNH QUẢNG NINH 31
2.1 Định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh 312.2 Quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh 49
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI TỈNH QUẢNG NINH 60
3.1 Yêu cầu của việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 603.2 Các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh 64
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQTHTT Cơ quan thi hành tố tụng
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông đường bộ luôn giữ vị trí và vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Trong những năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền các cấp đã nỗ lực tiến hành nhiều giải pháp nhằm kiềm chế, kéo giảm tình hình tai nạn giao thông nói chung và tình hình tội vi phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ nói riêng nhưng tình hình tai nạn giao cũng như tình hình tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thông vẫn diễn biến phức tạp, gây thiệt hại không nhỏ về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, trở thành vấn
đề xã hội hết sức bức xúc và làm đau đầu các cơ quan chức năng, các nhà quản
lý ở nước ta Đối với Quảng Ninh, điều đó cũng không phải là ngoại lệ
Trong thời gian qua, TAND các cấp tỉnh Quảng Ninh đã cùng với các
cơ quan bảo vệ pháp luật khác của tỉnh như Viện kiểm sát nhân dân các cấp,
Cơ quan điều tra… đã thực hiện nhiều biện pháp tích cực trong công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm vi phạm quy định về tham gia GTĐB nói riêng, Hội đồng xét xử đã đưa ra xét xử nghiêm minh, hợp tình, hợp lý nhiều vụ án vi phạm quy định về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh, qua
đó góp phần tích cực trong hoạt động phòng, chống tội phạm vi phạm quy định về tham gia GTĐB, bước đầu nâng cao được hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước cũng như hiệu quả của các cơ quan tư pháp tại Quảng Ninh
Tuy nhiên trong công tác vẫn còn bộc lộ những bất cập, khó khăn nhất định, như: Biên chế cán bộ chiến sĩ làm công tác phòng ngừa hiện nay còn thiếu; việc thực hiện trách nhiệm của các cơ quan có liên quan chưa thật sự tốt, còn đùn đẩy né tránh, nhiều trường hợp làm không hết chức năng, nhiệm
vụ Bên cạnh đó giữa cơ quan công an với các cơ quan có liên quan chưa có
sự phối hợp hoặc nếu có thì còn lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ Chế độ chính sách
Trang 7thiết bị đã cũ và thiếu hoặc trang bị mới nhưng không được tập huấn chuyển giao công nghệ nên nhiều phương tiện không phát huy được tác dụng Đối với hoạt động xét xử của TAND các cấp tại tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian qua vẫn còn một số vụ án về tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB chưa thật sự đảm bảo tính thuyết phục trong quá trình xét xử, gây nên những dư luận chưa được tốt trong nhân dân, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Xuất phát từ thực tiễn tình hình vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cũng như công tác xét xử các vụ án về loại hình tội phạm này của tỉnh Quảng Ninh, để hoạt động phòng, chống tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB có hiệu quả thì các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh và đặc biệt
là TAND cấp tỉnh, cấp huyện của tỉnh Quảng Ninh phải có giải pháp đúng đắn, linh hoạt, phù hợp và hiệu quả, có cơ sở lý luận khoa học trong quá trình triển khai các nhiệm vụ Đồng thời, phải có cơ chế phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa TAND, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan công an với nhau cũng như các cơ quan, ban ngành có liên quan, các đoàn thể chính trị, xã hội (Mặt trận tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên…); phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, viên chức, người lao động tham gia trong quá trình phòng, chống tội phạm; có sự nhìn nhận, đánh giá chuẩn xác và cụ thể về thực tiễn tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB trong những năm qua tại tỉnh Quảng Ninh để càm căn cứ xây dựng các kế hoạch phòng, chống tội phạm vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Để thực hiện được yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng nêu trên, việc trang bị một nền tảng lý luận vững chắc là rất cần thiết cho các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Quảng Ninh trong hoạt động đấu tranh, phòng chống với tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB trên địa bàn Quảng Ninh là rất quan trọng Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình, luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học… nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể và
Trang 8có hệ thống về hoạt động đấu tranh, phòng chống tội phạm theo chức năng của các cơ quan bảo vệ pháp luật tại tỉnh Quảng Ninh đối với tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB với bối cảnh và tình hình phức tạp của địa phương
Do vậy, tác giả chọn đề tài: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh”
để nghiên cứu, làm rõ hơn thực trạng, thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để phân tích làm rõ thực trạng tình hình tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, đề xuất các giải pháp phù hợp và hiệu quả thông qua việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, đề tài đã tổng quan các giáo trình của các trường đại học, các luận án, luận văn, sách báo, tạp chí, tài liệu tham khảo… đề cập đến loại tội phạm vi phạm quy định về tham gia GTĐB,
cụ thể:
Tác giả Ngô Hoàng Huy (2010), với luận văn tốt nghiệp thạc sĩ nghiên cứu tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh có tên: Đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bến Tre, đã phân tích và làm rõ hơn các nội dung về quy định liên quan đến tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB trên địa bàn cụ thể là tỉnh Bến Tre, đây là tài liệu hữu ích giúp tác giả xây dựng hệ thống lý luận về loại tội phạm này [20]
Tác giả Nguyễn Văn Nghiệp (2011), với luận văn thạc sĩ được triển khai tại Trường Đại học Luật Hà Nội: Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đã
hệ thống hóa hệ thống những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, phân tích và làm rõ thông qua các ví
Trang 9Tác giả Nguyễn Thế Anh (2013), hoàn thành luận văn thạc sĩ luật học tại Học viện khoa học xã hội với tên đề tài: Đấu tranh phòng chống tội vi phạm quy định về [1]
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung (2015), với luận văn thạc sĩ luật học, hoàn thành tại Trường Đại học Luật Hà Nội với tên đề tài: Phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh [25]
Ngoài ra, nghiên cứu về tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB đã có nhiều bài báo, đề tài, bài nghiên cứu ngắn phân tích và làm rõ các nội dung liên quan cụ thể:
Tác giả Lê Văn Luật (2011), với bài viết nghiên cứu khoa học “Xác định lỗi khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - một số vấn đề lý luận
và thực tiễn”, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tr 10-14 [22]
Tác giả Nguyễn Việt Cường (2014), đã nghiên cứu và làm rõ một số nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu là “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định tại Điều 202 BLHS 1999 tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân tối cao, tr 18-20 [10]
Có thể khẳng định rằng các công trình trên tập trung chủ yếu nghiên cứu về hoạt động đấu tranh đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện GTĐB, tập trung nêu lên thực trạng và phân tích nguyên nhân để đưa ra giải pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện GTĐB Tuy nhiên, khi tìm hiểu và làm rõ các nội dung nghiên cứu thì các công trình này chưa đi sâu phân tích tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh những năm gần đây, đặc biệt là hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận; quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (trước đây là tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ); thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội nói trên tại tỉnh Quảng Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để triển khai thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận, các dấu hiệu pháp lý cũng như các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước đây và hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn định tội danh cũng như quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh;
- Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hiệu quả, bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng, nghiêm minh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam về tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB, thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành luật hình
sự và tố tụng hình sự đối với tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gồm nhiều nội dung và chủ thể tiến hành khác nhau Tuy nhiên, luận văn này giới hạn ở hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ninh đối với tội này
Do vậy, các số liệu và các bản án điển hình phục vụ việc nghiên cứu đề tài được thu thập từ thống kê của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lênin với hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách pháp luật, nhất là chính sách hình sự của Nhà nước ta về tội phạm, về hình phạt, về bảo vệ công lý, quyền con người, về cải cách tư pháp… để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết các vấn đề
lý luận chung về tội vi phạm qui định về tham gia GTĐB, các vấn đề lý luận chung về định tội danh và quết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB và liên hệ với thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh, để từ đó phân tích và đưa ra giải pháp hoàn thiện
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài và phân tích làm rõ hơn các quy định
về vi phạm quy định về tham gia GTĐB, tác giả luận văn còn sử dụng kết hợp trong một tổng thể các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thu thập tài liệu thứ cấp là các sách chuyên khảo, các đề tài, luận án, các báo cáo…, phân tích,
so sánh đối chiếu, chứng minh, đánh giá, khái quát hóa và hệ thống hóa vấn
Trang 12đề và một số phương pháp khác liên quan để nghiên cứu đề tài thuộc chuyên ngành luật hình sự
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
vi phạm quy định về tham gia GTĐB
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên…), những người tham gia tố tụng như luật sư, giám định viên, trợ giúp viên pháp lý Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn là tài liệu hữu ích về tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB nhằm phục vụ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng ở tỉnh Quảng Ninh và các địa phương khác sử dụng làm tài liệu tham khảo, vận dụng trong công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục về hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và tội vi phạm qui định về tham gia GTĐB nói riêng
Đặc biệt, trong bối cảnh mới, hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng… thì tình hình tội phạm vi phạm qui định về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là khi vực thành phố Hạ Long, Uông
Bí và Móng Cái… ngày càng diễn biến phức tạp và nguy hiểm, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, các quy định pháp luật cũng như công tác tổng kết xét
xử, kiểm tra xét xử về vấn đề này… còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế như
Trang 13nhất định trong việc bảo đảm áp dụng đúng, nghiêm minh các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm qui định về tham gia GTĐB trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt và danh mục các bảng biểu, luận văn có kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI
VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.1.1.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội phạm là một khái niệm pháp lý được đề cập và định nghĩa cụ thể trong Bộ luật hình sự của nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam Tội phạm là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự [28, tr.18]
Tội phạm không chỉ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự mà đồng thời là hiện tượng xã hội tiêu cực được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, trong đó có khoa học luật hình sự và tội phạm học Khoa học luật hình sự và tội phạm học đều là khoa học về tội phạm Tuy nhiên, khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự là khoa học về tội phạm có tính pháp lý, còn tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm là khoa học về tội phạm không có tính pháp lý hay nói cách khác là khoa học về tội phạm hiện thực
Tất cả những hành vi bị coi là tội phạm đều có cùng bản chất xã hội và những đặc điểm nhất định Trước hết, tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xă hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác Nó là hiện tượng
xã hội-pháp lí [28] Hiện nay trong tội phạm học có khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tình hình tội phạm Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tình hình tội phạm đề tài luận văn chia sẻ quan điểm của tác giả Võ Khánh Vinh cho
Trang 15thay đổi về mặt lịch sử mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và khoảng thời gian nhất định [59, tr.60]
Khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng mỗi ngành đều có nội dung mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu riêng về đối tượng này Theo đó, trong một số ngôn ngữ tồn tại hai khái niệm khác nhau được dùng trong hai ngành khoa học này
Theo quy định tại điều 8 của BLHS năm 2015: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác” [39]
Ý thức chấp hành các quy định về tham gia giao thông đường bộ của người tham gia giao thông kém dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự [34][39]
Chủ thể của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
quy định tại điều 260 BLHS 2015 bao gồm tất cả những người tham gia giao thông đường bộ; người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ, người đi bộ trên đường bộ hoặc là người điều khiển, dẫn dắt súc vật lưu thông trên đường bộ chứ không phải chỉ đơn thuần là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như điều 202 BLHS 1999 [39] Sự thay đổi những quy
Trang 16định trên là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn, bởi lẽ trên thực tế đã
có rất nhiều người đi bộ, người điều khiển, dẫn dắt súc vật khi tham gia giao thông đường bộ và có những hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, trong một số trường hợp thì hành động trên đã và có thể sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho người và phương tiện khác khi tham gia giao thông, nên việc xử lý đối với họ là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và công bằng với những người tham gia giao thông khác
Theo quy định tại khoản 2 điều 260 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì các nhà làm luật quy định các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm này dựa trên các yếu tố thuộc về người tham gia giao thông như: không có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông, lái xe trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, chất ma túy hoặc chất kích thích khác…đây là yếu tố nhằm khẳng định người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có đủ điều kiện hoặc có đủ khả năng để điều khiển phương tiện giao thông đường bộ hay không, mà không hề có quy định chi tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào dựa trên loại phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà người điều khiển sử dụng khi tham gia giao thông, phương tiện
đó có đủ điều kiện an toàn kỹ thuật hoặc có được phép tham gia giao thông không? [39]
Bởi lẽ, phương tiện giao thông đường bộ, trong đó có nhiều loại được quy định và được coi là nguồn nguy hiểm cao độ bởi khả năng tiềm ẩn những rủi ro, những mối nguy hiểm đối với con người, tài sản khi tham gia giao thông Vì vậy nhà nước đã có các quy định rất chặt chẽ về các loại phương tiện được phép lưu hành, cấm lưu hành; việc tiến hành đăng kiểm, kiểm định
về an toàn kỹ thuật định kỳ cũng như việc thi, cấp giấy phép lái xe đối với từng loại phương tiện giao thông nhất định, nhằm đảm bảo các phương tiện và người điều khiển phương tiện phải hội đủ các điều kiện, tiêu chuẩn nhất định
Trang 17Như vậy, có thể khẳng định rằng những vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của người tham gia giao thông là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác
Như vậy, rõ ràng, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của nước ta đã có sự thay đổi rõ rệt so với quy định tại BLHS năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) khi có những quy định rộng hơn về chủ thể của hành vi tham gia giao thông gồm tất cả những người tham gia giao thông kể cả những người không tham gia giao thông như người đi bộ
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn và trên cơ sở so sánh, phân tích các quy định của BLHS năm 1999 và 2015, tác giả đưa ra khái niệm như sau:
“Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được hiểu là hành vi chủ thể tham gia giao đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định của BLHS hiện hành, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác”
1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
(1) Khách thể của tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Khách thể của tội phạm này là trật tự an toàn GTĐB Đối với những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà không có tính chất nguy hiểm, không gây thiệt hại cho người khác thì bị xử phạt vi phạm hành chính Đối tượng tác động của tội phạm này là phương tiện giao thông đường bộ bao gồm: xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ Điều này căn cứ vào Luật Giao Thông đường bộ để xử lý
Trang 18(2) Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Hành vi khách quan: Người phạm tội vi phạm quy định về tham gia
GTĐB đã có hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ
theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam Để xác định hành vi vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, trước hết phải xác định
phương tiện giao thông đường bộ bao gồm những loại nào Việc xác định hành
vi vi phạm các quy định về tham gia GTĐB không chỉ căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành mà phải căn cứ vào các quy định tại Luật giao thông đường bộ hiện hành và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm
quyền liên quan đến hoạt động giao thông đường bộ
Hậu quả: Tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB là tội phạm có cấu
thành vật chất theo quy định của Bộ Luật hình sự hiện hành Vì vậy, hậu quả
là dấu hiệu bắt buộc đối với tội này Nếu hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà chưa gây ra thiệt hại về tính mạng (làm chết người) hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ (gây thương tích), tài sản của người khác thì không cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 2015 Trên thực tế, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông thường gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe hoặc tài sản cho người khác Hậu quả của tai nạn giao thông là một trong những căn cứ để xác
định trách nhiệm đối với người gây tai nạn [39]
Thiệt hại cho tính mạng là làm người khác bị chết; Thiệt hại nghiêm
trọng cho sức khoẻ hoặc tài sản của người khác là làm cho người khác bị
thương nặng hoặc làm cho tài sản của người khác bị mất mát hư hỏng nặng
Khi xác định thiệt hại tài sản mà hành vi vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ gây ra cho người khác cần chú ý: Chỉ những tài sản do
hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trực tiếp gây ra, còn
Trang 19đối với người phạm tội như: Do bị thương nên phải chi phí cho việc điều trị và
các khoản chi phí khác (mất thu nhập, làm chân giả, tay giả, mắt giả…)
Hành vi tham gia giao thông đường bộ khi vi phạm các quy định của pháp luật về tham gia giao thông đường bộ có thể gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản mà người phạm tội gây ra là thiệt hại đối với người khác,
nên không tính thiệt hại mà người phạm tội gây ra cho chính mình
Theo quy định của Bộ luật hình sự và Luật giao thông đường bộ thì đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ, đây
là những cơ sở hạ tầng cốt lõi của đường bộ Còn phương tiện tham gia GTĐB gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ mà người tham gia GTĐB sử dụng để lưu thông trên đường bộ Phương tiện tham gia GTĐB theo quy định gồm phương tiện giao thông đường
bộ thông dụng (xe máy, ô tô, xe tải…) và xe máy chuyên dùng (xe máy thi công,
xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ)
Đối với phương tiện giao thông đường bộ, nói chung không khó xác định Tuy nhiên, đối với xe máy chuyên dùng, việc xác định có phải là phương tiện tham gia giao thông hay không trên thực tế gặp rất nhiều khó
khăn, có nhiều trường hợp phức tạp
Ngoài ra còn có những dấu hiệu khách quan khác như: Đường bộ, công trình đường bộ, đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ, phần đường
xe chạy, làn đường, khổ giới hạn của đường bộ, đường phố, dải phân cách, đường cao tốc… Các yếu tố này cũng rất quan trọng khi xác định hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ
(3) Chủ thể của tội phạm
Để nghiên cứu tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB thì việc xác định rõ chủ thể của loại tội phạm này là rất quan trọng, mặc dù không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng chỉ những người tham gia giao thông đường bộ mới là
chủ thể của tội phạm này Khi xác định chủ thể của tội vi phạm quy định về
Trang 20tham gia GTĐB cần chú ý: Người người tham gia GTĐB thì có thể không
phải là người điều khiển phương tiện GTĐB
Điều 202 BLHS 1999 quy định “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo đó chỉ những người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này [34]
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Luật Giao thông đường bộ năm
2008 quy định cụ thể về người tham gia giao thông đường bộ thì: “Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ” [36]…
Như vậy, hiểu theo Điều 202 của BLHS 1999 thì không thể xử lý trách
nhiệm hình sự đối với “người sử dụng phương tiện tham gia giao thông
đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ” [34]
mặc dù họ cũng tham gia giao thông và gây thiệt hại đến tính mạng, gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe, gây thiệt hại về tài sản của người khác
Điều 260 BLHS năm 2015 Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (sửa đổi, bổ sung 2017) đã sửa đổi tên điều luật theo hướng đầy đủ hơn về chủ thể phạm tội, tức là người nào tham gia giao thông đường
bộ mà vi phạm quy định về đảm bảo an toàn giao thông thì đều có thể bị xử lý trách nhiệm hình sự về tội này [39]
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì tội phạm này là tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý và không có trường hợp nào là tội đặc biệt nghiêm trọng (theo quy định tại điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Chủ thể của tội tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là người
từ đủ 16 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi [39]
Trang 21(4) Mặt chủ quan của tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB
Trường hợp người phạm tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ thực hiện hành vi của mình trong quá trình tham gia giao
thông là do vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả) Vô ý vì quá tự tin
được hiểu là người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc
có thể ngăn ngừa được nên tiếp tục thực hiện hành vi của mình nên gây ra những hậu quả nghiệm trọng Vô ý vì cẩu thả là người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó nhưng vẫn thực hiện hành vi
của mình khi tham gia giao thông đường bộ
Lỗi hỗn hợp trong vụ án tai nạn giao thông là điều rất dễ gặp trong thực tiễn, lỗi này được hiểu là cả hai bên đều có những sai phạm so với quy định của luật giao thông đường bộ Trong lập pháp thì “tội phạm có hai hình thức lỗi” là vấn đề còn bỏ ngỏ làm sáng tỏ hơn nữa về tội phạm có hai hình thức lỗi là việc làm rất cần thiết nhiều trường hợp cố ý phạm tội, nhưng vô ý gây hậu quả nguy hại cho xã hội loại tội thường được gọi là hình thức “hỗn hợp lỗi” hoặc “lỗi pha trộn” Lỗi hỗn hợp là trường hợp có hành vi gây thiệt hại nhưng đó là kết quả của nhiều bên có lỗi, có thể có lỗi của người phạm tội, người bị hại hoặc của những người thứ ba Chẳng hạn, tai nạn giao thông xảy
ra, có thể do lỗi của người lái xe, người bị hại bất cẩn, hoặc có một người nào
đó gây ra chướng ngại
1.1.2 Phân biệt tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ với một số tội phạm khác
1.1.2.1 Phân biệt tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ với tội giết người quy định tại điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015
Những điểm giống nhau: Chủ thể của tội phạm đều do những người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện và
Trang 22động cơ, mục đích đều không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của 02 tội này
Những điểm khác nhau:
(1) Về khách thể của tội phạm: tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ được xác định là xâm phạm đến sự an toàn, trật tự của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác khi gây ra lỗi trong quá trình tham gia giao thông, còn tội giết người theo quy định của BLHS thì xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng của con người, tức là tội giết người có thể được hình thành khi người tham gia giao thông cố ý gây tai nạn, đe dọa đến tính mạng của người khác để
phân biệt với hành vi vô ý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
(2) Về mặt khách quan của tội phạm thì hai loại tội phạm này có sự
khác biệt như sau: Hành vi giết người là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện việc tước đoạt trái pháp luật tính mạng hoặc có khả năng gây ra cái chết
cho người khác, được thể hiện dưới dạng hành động và không hành động (âm mưu giết người được chứng minh), trong khi đó, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của các chủ thể là hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ của người tham gia giao thông được thể
hiện dưới dạng hành động cụ thể trong quá trình tham gia giao thông
(3) Về mặt chủ quan của tội phạm: tội giết người được tội phạm thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp) nhằm thực hiện hành vi phạm tôi, còn tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi
vô ý (vì quá tự tin hoặc cẩu thả) Như vậy, một người dùng phương tiện giao thông để tước đoạt tính mạng của người khác trong quá trình tham gia giao thông một cách trái pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người
mà không phải là tội vi phạm quy định về tham gia giao thông
Trang 231.1.2.2 Phân biệt tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015
Những điểm giống nhau: Nghiên cứu và phân tích về tội vô ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì theo quy định tại điều 138 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được hiểu là hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên do người có năng lực trách nhiệm
hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc cẩu thả gây ra những hậu quả cho người khác và chính bản thân mình Như vậy, nếu so sánh với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ quy định tại BLHS năm 2015 và Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì loại tội phạm này có những điểm giống nhau như sau: Chủ thể của tội phạm là những người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tội phạm được thực hiện bởi hình thức lỗi vô ý, bao
gồm cả lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc cẩu thả trong quá trình thực hiện
Những điểm khác nhau:
Nhìn lại những quy định trước đây: Khoản 1 điều 108 và 202 BLHS năm 1999 (Điều 202 được hướng dẫn bởi mục 4 chương I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003) quy định: Cùng mức cấu thành vật chất
là tỷ lệ thương tật của nạn nhân từ 31% trở lên thì tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 202 được BLHS năm 1999 đánh giá có tính nguy hiểm cao hơn nhiều Điều đó thể hiện tại quy định về hình phạt Khoản 1 Điều 108 quy định hình phạt từ cảnh cáo đến cao nhất là tù có thời hạn đến hai năm; khoản 1 Điều 202 quy định hình phạt tiền là mức thấp nhất và mức cao nhất là tù có thời hạn đến năm năm [34]
Theo quy định của Luật số 100/2015/QH13 thì cấu thành vật chất quy định về hậu quả tại khoản 1 Điều 138 và một phần cấu thành của khoản 4
Trang 24Điều 260 là giống nhau (“gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác mà (với) tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%”) Nhưng về hình phạt thì chế tài quy định tại khoản 4 Điều 260 BLHS cao hơn (mức hình phạt tiền cao hơn) [39]
(1) Về khách thể của tội phạm: tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của con người, trong khi đó, khi nghiên cứu về tội vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ thì thể hiện ở việc xâm phạm đến sự an toàn của hoạt
động giao thông đường bộ và an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của
người khác trong quá trình thực hiện hành vi tham gia giao thông đường bộ
(2) Về mặt khách quan của tội phạm: hành vi vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy tắc an toàn gây nên thương tích cho nạn nhân mà các hành động này có thể cấu thành tội phạm theo quy định tại BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong khi đó, khi nghiên cứu về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ chúng ta có thể hiểu là hành vi vi phạm các quy định của người tham gia giao thông được thể hiện dưới dạng hành động về An toàn giao thông đường bộ và gây ra hậu quả có thể là thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác
Cần lưu ý rằng, hành vi điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ tham gia giao thông nhưng vi phạm quy định về an toàn giao thông tiềm ẩn tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn hành vi vô ý gây thương tích đơn thuần, vì nó xâm hại trật tự công cộng (nơi có nhiều người) còn hành vi vô ý gây thương tích thường mang tính đơn lẻ nhiều hơn; nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc
vi phạm quy định về an toàn giao thông đang trở nên phổ biến và đe doạ tính mạng, tài sản của nhân dân Đồng thời, việc sửa đổi này sẽ tiềm ẩn phát sinh
Trang 25truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không thành tâm sửa sai, hoà giải với nạn nhân, từ đó phát sinh những khiếu nại và khởi kiện không đáng có
1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1.2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
1.2.1.1 Trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, việc xử lý hành vi phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ được thực hiện theo quy định tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xử
lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn (Công văn số 949 -NCPL ngày 25/11/1968 của Toà án nhân dân tối cao) Theo quy định tại Bản sơ kết kinh nghiệm của Toà án nhân dân tối cao về đường lối xử lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn, thì:
Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm phạm nền an toàn giao thông, một bộ phận của nền trật tự, trị an vốn thuộc loại tội khinh xuất Đối với loại tội này, cần xác định chắc chắn là có hành vi phạm luật lệ giao thông,
có hậu quả tác hại cụ thể do hành vi phạm tội gây nên Đường lối, chủ trương
xử lý đối với người phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được pháp luật, các quy định dưới luật tại thời điểm đó quy định cụ thể như sau: “trừng trị thích đáng đối với những vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp với thận trọng để xem xét đầy đủ mọi tình tiết một cách toàn diện về loại tội phạm này”
Sau khi thống nhất đất nước, vào những năm 1976, nhận thấy sự bức thiết trong việc quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Chính phủ đã ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng, an
Trang 26toàn công cộng và sức khoẻ của nhân dân trong đó bao gồm các nội dung về loại tội phạm này Đặc biệt, tại Điều 9 của Sắc luật này có quy định “tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khoẻ của nhân dân” qua đó khái quát về các tội phạm liên qua đến giao thông đường bộ
1.2.1.2 Trong Bộ luật hình sự năm 1985
Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải, nên phạm vi xác định hành vi vi phạm rộng hơn, kể cả người không điều khiển phương tiện giao thông cũng vi phạm, nay tội phạm này chỉ quy định hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nên phạm vi xác định hành vi vi phạm có hẹp hơn Đường lối, chủ trương và các quy định về xử lý đối với người phạm tội liên quan đến tham gia giao thông đường bộ (điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ) so với các quy định trước đây về vấn đề này cũng nhẹ hơn, cụ thể chỉ xử phạt tối đa đến 20 năm tù cho những hành vi liên quan Các tình tiết định khung trách nhiệm hình sự được quy định
cụ thể, đầy đủ và rõ ràng hơn Điều này đã ảnh hưởng đến việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cũng như phân hóa trách nhiệm hình sự của hành
vi phạm tội
Kể từ khi được ban hành đến trước năm 1999, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 04 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Qua các lần sửa đổi, bổ sung, chỉ có sự thay đổi về tên tội danh (sửa đổi, bổ sung vào năm 1991) từ tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng thành tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải
1.2.1.3 Trong Bộ luật hình sự năm 1999
So với các quy định tại Điều 186 BLHS năm 1985, thì Điều 202 BLHS năm 1999 có nhiều điểm tiến bộ về tội vi phạm quy định tham gia GTĐB [39], cụ thể là:
Trang 27Thứ nhất, lần đầu tiên tội này được quy định thành một điều luật độc lập, có tên gọi riêng, cụ thể và rõ ràng với quy định có cấu thành tội phạm cơ bản trong điều luật, tên tội phù hợp với nội dung của hành vi phạm tội, bảo đảm tính chính xác cao, tránh sự nhầm lẫn giữa tội này với tội khác
Thứ hai, việc quy định thành một tội độc lập cụ thể hóa được các dấu hiệu của chủ thể tội phạm về tội vi phạm quy định về điều kiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, từ đó quy định loại và mức hình phạt tương xứng với loại tội phạm cụ thể này
Thứ ba, tuy chủ đề của tội phạm trong cả hai BLHS đều không đổi, vẫn
là hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông nhưng cách thể hiện hành vi khách quan của Điều 202 BLHS năm 1999 chính xác và ngắn gọn hơn các quy định tại Điều 186 của BLHS năm 1985 Theo đó, các nhà làm luật đã giới hạn hành vi khách quan của loại tội phạm này chỉ là vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Thứ tư, Điều 202 BLHS năm 1999 quy định hình phạt tiền là hình phạt chính trong cấu thành tội phạm cơ bản của điều luật
Thứ năm, thực hiện nghiên cứu và phân tích Điều 202 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho thấy đã bổ sung thêm 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 2 để phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội trong giai đoạn này, đó là: Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông và gây hậu quả rất nghiêm trọng [34]
Thứ sáu, Điều 202 BLHS năm 1999 với việc quy định hình phạt bổ sung ngay trong điều luật, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người áp dụng luật
Thứ bảy, hình phạt cao nhất được quy định tại Điều 202 BLHS năm
1999 là 15 năm tù [34]
Trang 281.2.2 Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Kế thừa các quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông của các văn bản pháp luật trước đây, đặc biệt là BLHS năm 1999, thì BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đã quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định chi tiết tại Điều 260, Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Theo Điều
260, BLHS năm 2015:
1 Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người
bị nạn;
Trang 29d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên
4 Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp
có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.” [39, tr.284]
So với Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
và Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội khóa 13 thông qua tại
kỳ họp thứ 10 thì có nhiều thay đổi quan trọng về kết cấu điều luật, khung hình phạt, mức hình phạt liên quan
Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được xây dựng với kết cấu gồm 05 khung hình phạt Trong đó, khung hình phạt cơ bản thuộc khoản 1, khung hình phạt dành cho trường hợp phạm tội chưa đạt thuộc khoản 4 và khung hình phạt quy định về áp dụng biện pháp tư pháp ở
Trang 30khoản 5 của BLHS năm 2015 có sự thay đổi và cơ cấu hợp lý hơn nhằm đánh giá khách quan, chính xác các mức độ phạm tội của người tham gia giao thông Trong khi đó, khi thực hiện nghiên cứu BLHS năm 1999, thi các tình tiết định khung tăng nặng về loại tội phạm này được phân thành các điểm ở khoản 2, các khoản còn lại không có điểm mà chỉ quy định điều kiện để áp dụng khung hình phạt nặng hơn cho từng loại tội phạm So sánh với các quy định trên thì Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
có 03 khung hình phạt, quy đinh các điểm (tình tiết) định khung, trong đó khoản 2 Điều 260 là có số tình tiết định khung nhiều nhất (7 điểm, từ điểm a đến điểm g), khoản 1 có 04 điểm và khoản 3 có 03 điểm Khi so sánh với các quy định của tội phạm này với Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) thì số khung hình phạt của Điều 260 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 không thay đổi, nhưng so với Bộ luật hình sự
1999 thì số khung hình phạt ở Bộ luật hình sự mới giảm hơn 01 khung hình phạt thể hiện sự tiếp thu, sửa đổi phù hợp với thực tiễn triển khai qua các vụ
án được xét xử Ngoài ra, quy định mới có sự thay đổi từ điều khiển giao thông thành từ tham gia giao thông so với Bộ luật hình sự năm 1999 [39]
Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013) quy định mức hậu quả do vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra bị truy cứu trách nhiệm hình sự là: Gây thương tích cho một người từ 31% trở lên; Hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng; Hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với
tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất
cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị
Trang 31từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng [34]
So với quy định của Điều 202 của Bộ luật hình sự cũ thì Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thay đổi quy định về mức
độ hậu quả do vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ làm cơ sở
để quy kết trách nhiệm hình sự Cụ thể, nghiên cứu và phân tích các quy định
về tham gia giao thông đường bộ cho thấy khi các chủ thể tham gia giao thông đường bộ có những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật hiện hành và gây ra một trong các hậu quả nghiêm trọng sau đây mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo BLHS năm 2015: Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng [34]
Với những thay đổi phù hợp với thực tiễn của hội nhập, hạ tầng giao thông đường bộ, sự phát triển của các phương tiện di chuyển trên đường bộ thì những quy định mới sẽ mang tính nghiêm minh và hiệu quả hơn, Điều 260 BLHS năm 2015 loại bỏ mức độ hậu quả gây tổn thương cơ thể của 01 người dưới 61%, loại bỏ mức độ hậu quả tổn thương cơ thể của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này dưới 61% và loại bỏ mức
độ thiệt hại vật chất dưới 100.000.000 đồng làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này Đồng thời, các quy định tại Điều 260 cũng loại bỏ quy định cộng chung mức độ thiệt hại kép về sức khỏe con người và vật chất như quy định ở điều 202 của luật cũ Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý
là, khi chưa có thiệt hại xảy ra thì người vi phạm vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các điều kiện quy định tại khoản 4 của Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 [34] [39]
Trang 32Bên cạnh đó, nghiên cứu sâu hơn về các quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về quy định hình phạt thấp nhất trong trường hợp tội phạm đã hoàn thành trên hành vi đã được thực hiện và hậu quả đã xảy ra là phạt tiền ba mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù 01 năm; hình phạt cao nhất là phạt tù đến 15 năm Như vậy, so với các quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì mức hình phạt thấp nhất về phạt tiền (là hình phạt chính) tăng lên gấp 6 lần (từ năm triệu đồng lên ba mươi triệu đồng) nhưng mức hình phạt cao nhất về hình phạt tù có thời hạn không thay đổi so với các quy định của luật cũ về vấn đề này Nhìn nhận một cách tổng thể về phần hình phạt liên quan đến tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì quy định của Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 so với quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 là không có lợi cho người phạm tội đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0h00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 Trên một khía cạnh nào đóm cụ thể như ở khía cạnh các yếu tố cấu thành tội phạm thì quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội so với Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (kể cả trường hợp tội phạm chưa đạt - khoản 4) khi thực hiện xét xử tại Tòa án Do vậy, trong quá trình giải quyết các vụ án về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông nếu xem xét mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra liên quan đến tội phạm này ở góc độ có tội hay không có tội thì căn cứ vào Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nếu xem xét để quyết định hình phạt của bị cáo (trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm) thì áp dụng Điều
202 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0h00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 [36] [39]
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự năm 2015,
Trang 33ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự Đối chiếu quy định này với khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 thì mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt này là 05 năm tù, người phạm tội nếu bị xét xử ở khung hình phạt này thì thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng và lỗi do vô ý Theo đó, khi nghiên cứu hành vi phạm tội thì nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì có thể họ được miễn trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và rõ ràng những quy định này là có lợi cho người phạm tội mà chúng ta cần phải chú ý khi áp dụng pháp luật đối với những hành vi phạm tội liên quan đến tội phạm này trong thực tiễn xử lý các
vụ án
Trang 34Tiểu kết chương 1
Hiện nay, ý thức chấp hành các quy định về tham gia giao thông đường
bộ của người tham gia giao thông kém dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông xảy ra thường xuyên và hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra những hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Chương 1 của luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về tội phạm vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ và thực trạng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm này Tác giả luận văn đã làm rõ khái niệm và các dấu hiệu pháp lý về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, trên cơ sở đó có sự so sánh tội phạm này với tội phạm giết người, tội phạm cố ý gây thương tích, tội đua xe trái phép
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định trong các văn bản pháp luật từ trường khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời, những thay đổi lớn được thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 1999 khi có có điều 202 quy định cụ về tội này Gần đây nhất, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có những thay đổi về tên, cấu thành tội phạm cũng như quy định về khung hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Tuy nhiên, việc hội nhập sâu rộng tại mọi lĩnh vực cũng như thực trạng ý thức tham gia giao thông của người dân, khiến các cơ quan chức
năng cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về tội phạm này
Trang 35Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TẠI TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Khái quát lý luận định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
2.1.1.1 Khái niệm định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Định tội danh là hoạt động vốn được coi cơ sở và là tiền đề cho hoạt động quyết định hình phạt Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 mang đậm những tư tưởng tiến bộ, nhân văn và bảo vệ quyền con người, quyền công dân Điều 31 đã quy định: “1 Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định
và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ” [38] Cho nên, để
có một bản án công minh, minh bạch, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật thể hiện sự hợp tình, hợp lý đòi hỏi việc định tội danh và quyết định hình phạt phải được các cơ quan có thẩm quyền thực sự đúng đắn và có căn cứ rõ ràng thì có như vậy mới bảo vệ các quyền và tự do của con người Do đó, công tác định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình xét xử các loại tội phạm chính thức đối với một người chỉ do duy nhất một cơ quan có thẩm quyền quyết định là Tòa án, trong đó, ban hành bản án của Tòa án nhằm xác định một người có tội hay không có tội và nếu có tội thì tên tội là tội gì sau đó, tội gì sẽ có hình phạt tương xứng phug hợp với loại tội đó theo quy định tại BLHS năm 2015
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, xung quanh khái niệm định tội danh và các vấn đề lý luận của nó đã được một số nhà khoa học - luật
Trang 36gia nghiên cứu (mặc dù chưa nhiều), tuy nhiên, các quan điểm đều thống nhất nội hàm của khái niệm đang nghiên cứu
Theo tác giả Võ Khánh Vinh: “Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức nội dung quy phạm pháp luật, quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định” [55, tr.26, 27]
Tuy nhiên, khi thực hiện các nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, khoa học tố tụng hình sự Việt Nam, tổng quan về các công trình nghiên cứu khoa học về luật học, tội phạm học, phòng chống tội phạm… thì khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết khách quan của vụ án hình sự đối chiếu, kiểm tra để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định thể hiện thông qua một văn bản áp dụng pháp luật
Quan điểm về định tội danh các loại tội phạm nêu trên là chỉ việc định tội danh trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung, mang ý nghĩa khoa học áp dụng cho toàn bộ các loại tội phạm (có thể là cả với tội phạm dân sự) Còn đối với việc định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Tòa án nhân dân các cấp là một hoạt động tố tụng cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng thực hiện, mang ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong nghiên cứu tình hình tội vi phạm quy định về
Trang 37việc định tội danh đối với một loại tội hình sự theo quy định tại BLHS năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Như vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, theo chúng tôi: định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia GTĐB là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự
2.1.1.2 Cơ sở của định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Để hoạt động thực hiện việc định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đúng, người có thẩm quyền định tội danh cần phải căn cứ vào cơ sở phương pháp luận của định tội danh và cơ sở pháp lý của định tội danh trước khi định tội theo quy định của pháp luật hiện hành
Cơ sở phương pháp luận của định tội danh bao gồm: Định tội danh nói chung và định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nói riêng được tiến hành trên cơ sở dựa vào các luận điểm khoa học đã được nêu
ra trong khoa học pháp lý về định tội danh Các luận điểm đó đến lượt mình được xây dựng xuất phát từ lý luận triết học Mác - Lê nin được thừa nhận
Cơ sở pháp lý của định tội danh bao gồm:
Quy phạm pháp luật hình sự chứa đựng những dấu hiệu đặc trưng, điển hình, bắt buộc không thể thiếu được của một loại tội phạm cụ thể Những dấu hiện đó sẽ trở thành khuôn mẫu pháp lý làm cơ sở cho người tiến hành tố tụng
so sánh, đối chiếu với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra ngoài thế giới khách quan, từ đó xác định được người phạm tội phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự Như vậy, pháp luật hình sự là cơ sở pháp
lý của việc định tội
Trang 38Cấu thành tội phạm được xem là cơ sở pháp lý duy nhất để định tội, là
mô hình pháp lý có các dấu hiệu cần và đủ để xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Bởi vì, một trong những đặc điểm của tội phạm là được quy định trong Luật hình sự Luật hình sự quy định tội phạm bằng cách
mô tả các dấu hiệu của hành vi phạm tội, từ cơ sở pháp lý đó, các nhà lý luận mới khái quát thành các dấu hiệu đặc trưng chung gọi là Cấu thành tội phạm
Vì thế, các cán bộ tiến hành tố tụng cần nhận thức đúng đắn bản chất các dấu hiệu Cấu thành tội phạm trong quá trình định tội [55]
Việc định tội danh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cần phải tiến hành trên cơ sở viện dẫn đến điều luật cụ thể của BLHS BLHS nước ta gồm hai phần là quy phạm pháp luật phần chung và quy phạm pháp luật phần các tội phạm cụ thể (có sự điều chỉnh, bổ sung phù hợp trong quá trình triển khai thực hiện) Vì vậy, khi tiến hành định tội danh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ Tòa án nhân dân các cấp và Hội đồng xét xử cần phải căn cứ vào cả quy phạm pháp luật phần chung lẫn quy phạm của ở phần các tội phạm của BLHS, cấu thành tội phạm thông qua việc viện dẫn một cách chính xác và đầy đủ điều, khoản hay một số điều luật liên quan, bao quát được toàn bộ hành vi vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ trong quá trình xem xét đánh giá và xử lý vụ
án tại tòa Bên cạnh đó, cũng cần phải chú ý tới hiệu lực về không gian và thời gian của điều khoản được viện dẫn Có như vậy việc định tội danh mới đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành
vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Với đặc tính là mô hình pháp lý của việc định tội danh CTTP là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ cho việc thừa nhận rằng người nào đó đã thực hiện tội phạm nhất định và phải bị truy cứu TNHS
Cũng như các loại tội phạm khác, CTTP tội vi phạm quy định về tham
Trang 39cụ thể là quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 và Điều 260 BLHS năm
2015 Do vậy, việc xác định, làm sáng tỏ cơ cấu của quy phạm pháp luật hình
sự, cấp thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông là một công việc có
ý nghĩa quan trọng trong quá trình định tội danh đối với loại tội phạm này Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại BLHS năm 2015 có hai phần cụ thể đó là quy định và chế tài xử lý đối với loại hình tội phạm này Phần quy định về tội phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là phần trung tâm trong quy phạm pháp luật về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông, nêu điều cấm không được làm Phần chế tài của loại tội phạm này nêu ra hậu quả pháp lý của việc không tuân thủ quy định trong phần quy định của quy phạm pháp luật về tội này trong BLHS
2.1.1.3 Các bước định tội danh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Để thực hiện việc định tội danh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đúng, người định tội danh tiến hành đồng thời ba bước:
Một là: cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của Nhà
nước phải xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án
Đó là việc Tòa án nhân dân các cấp, Hội đồng xét xử thực hiện việc xác định các tình tiết của vụ án phù hợp với hiện thực khách quan liên quan đến loại tội phạm này [55, tr.13]
Hai là, các cơ quan điều tra, khởi tố và xét xử phải nhận thức đúng nội
dung của các quy định về loại tội phạm được xét xử trong BLHS hiện hành Tính chất khái quát và phổ biến của quy phạm pháp luật và yêu cầu phải áp dụng nó một cách cụ thể là hai mặt của một sự thống nhất biện chứng
Ba là, tòa án nhân dân, hội đồng xét xử, thẩm phán phải lựa chọn đúng
quy phạm pháp luật hình sự hiện hành tương ứng để đối chiếu chính xác, đầy
đủ các dấu hiệu CTTP được quy định trong quy phạm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của BLHS năm 2015 với các tình tiết
Trang 40của hành vi được thực hiện trong thực tế diễn ra, trên cơ sở đó đưa ra kết luận
có cơ sở, có căn cứ về sự đồng nhất giữa hành vi thực tế đã được thực hiện với CTTP của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định trong điều hoặc khoản của điều luật tương ứng (BLHS năm 2015 và Luật giao thông đường bộ năm 2008)
2.1.1.4 Các giai đoạn của hoạt động định tội danh đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Quá trình định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định hiện nay của BLHS năm 2015 được tiến hành qua 3 giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn thứ nhất: các cấp có thẩm quyền cần phải làm sáng tỏ những dấu hiệu chung nhất của hành vi Khi thực hiện các nhiệm vụ tại giai đoạn này, Tòa án nhân dân các cấp phải xem xét hành vi cụ thể có dấu hiệu của tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ hay không, hay đó là hành
vi vi phạm pháp luật khác (hành chính, dân sự) theo quy định của BLDS năm
2015 và Luật về xử lý vi phạm hành chính
Giai đoạn thứ hai: Đối chiếu và so sánh các loại dấu hiệu tội phạm (tội
gì được quy định ở khoản nào, điều nào?) Sau khi thực hiện các bước, các nhiệm vụ cụ thể và đã xác định được hành vi đang xem xét của người tham gia giao thông có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của BLHS năm 2015, Tòa án nhân dân các cấp làm sáng tỏ các dấu hiệu của hành vi phạm tội đó có thuộc loại tội phạm nào được quy định ở chương nào của BLHS năm 2015 hiện hành, tức là xác định khách thể loại tội này
Giai đoạn thứ ba: xác định tội phạm cụ thể: Qua việc kiểm tra, đối chiếu, so sánh các tình tiết của vụ án với các quy định cụ thể tại BLHS hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, xác định rõ
cơ sở để tuyên án rõ ràng theo Điều 260, của BLHS năm 2015 về loại tội