Xuất phát từ yêu cầu bảo về quyền lợi Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, luật tố tụng hình sự quy định trình tự xét xử vụ án hình sự phải bảo đảm đúng ngườ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực mà các tác giả, nhà khoa học đã nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên
Vũ Minh Nguyệt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN 7
1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 7
1.2 Đặc điểm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 8
1.3 Vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 14
Chương 2:QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 27
2.1 Các quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án 27
2.2 Thực tiễn thực hiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án tại địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh 43
2.3 Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân 45
Chương 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 51
3.1 Các yêu cầu bảo đảm nâng cao hiệu quả về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 51
3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện đúng về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 55
KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp những kết quả đạt được từ năm 2015 đến 2018 45
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự, thủ tục xét xử sơ thẩm được coi là giai đoạn rất quan trọng, vì để xác định một người có tội và chịu hình phạt, thì người đó phải bị đưa ra xét xử trước phiên tòa; Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định trong bản án về một người có tội hay không có tội Bởi lẽ
đó,Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 1 Điều 31: “Người bị buộc tội được coi là không có tội ……đã có hiệu lực pháp luật” Hoạt động xét xử của
Tòa án là sự thể hiện tính nghiêm minh của hệ thống các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng, cuối cùng Tòa án thay mặt Nhà nước đưa ra những phán quyết để tuyên người đó có tội hay không có tội hoặc chịu hình phạt như thế nào
Xuất phát từ yêu cầu bảo về quyền lợi Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, luật tố tụng hình sự quy định trình tự xét xử
vụ án hình sự phải bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ xét
xử sơ thẩm, đến xét xử phúc thẩm khi có những điều kiện nhất định Trường hợp phát hiện có sự vi phạm quy định nghiêm trọng trong quá trình giải quyết
vụ án hoặc khi phát hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án thì bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể được đưa ra xem xét theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Theo thực tiễn thì trong tổng số các vụ án hình sự mà hệ thống Tòa án
đã giải quyết thìtỷ lệ lớnthuộc về án sơ thẩm Tại Tòa án nhân dân Quận 10, hàng năm, Tòa án phải thụ lý giải quyết khoảng 200 vụ án hình sự, trong đó các vụ án được xét xử sơ thẩm chiếm 80% Nếu việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự không tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng hình sự, thì sẽ dẫn
Trang 8đến việc xét xử của Tòa án bị sai sót, dẫn đến những hậu quả xấu cho xã hội, làm giảm đi niềm tin của người dân đối với pháp luật Việt Nam
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh” mang tính cấp thiết, không những về mặt lý luận mà còn đòi hỏi thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tại Quận 10 nói riêng
và địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến thủ tục xét xử của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên viết và trình bày trong tạp chí, sách, luận văn như:
Cuốn sách “Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam” của
GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, năm 2001) đã phân tích hệ thống tư phápmột hệ thống thống nhất của quá trìnhtố tụng dẫn đến xét xử và phán quyết của Tòa án và hệ thống thống nhất của quá trình áp dụng pháp luật, trong đó có thủ tục tố tụng hình sự; và chỉ rõ giữa việc ban hành pháp luật, bảo vệ pháp luật và áp dụng pháp luật có mối liên hệ khăng khít, thúc đẩy lẫn nhau mà vai trò tích cực của khâu áp dụng pháp luật đối với việc điều chỉnh pháp luật [18]
Cuốn sách “Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc giaSự thật, năm 2005) và “Thủ tục xét xử sơ thẩm trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000) của ThS Đinh Văn Quế đã phần nào làm sáng tỏ thủ tục xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự, đồng thời nêu ra một số vấn đề còn vướng mắc về tố tụng hình
sự để trao đổi với các nhà chuyên môn và các nhà làm luật nhằm góp phần
Trang 9tiếp tục hoàn thiện thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay [25]
Bài viết “Đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử” đăng trên tạp trí Luật học, số 06/2007
của TS Vũ Gia Lâm nghiên cứu đề xuất việc tổ chức Tòa án theo cấp xét xử với thành lập các Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm theo khu vực, giúp thu gọn đầu mối, tiết kiệm ngân sách… để đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và chuyên môn hóa cán bộ làm công tác xét xử ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm
Bài viết “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” đăng trên tạp trí Luật học số
01/2015 của TS Vũ Gia Lâm đã làm rõ cơ sở pháp lý, sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo hướng bảo đảm tranh tụng giữa các bên buộc tội và gỡ tội Trên cơ sở phân tích thực trạng tại phiên tòa sơ thẩm, tác giả đã lý giải nguyên nhân của những hạn chế trong tranh tụng tại phiên tòa, chủ yếu là phương diện lập pháp, bài viết đưa ra kiến nghị hoàn thiện một số điều của BLTTHS hiện hành về trình
tự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo hướng bảo đảm tranh tụng, đặc biệt là quy định về xét hỏi, tranh luận
Tiến sỹ Phạm Minh Tuyên với công trình: “Kỹ năng xét xử các vụ án hình sự” theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Nxb Thanh
niên, Hà Nội, 2018) đã nêu rất rõ về trình tự và thủ tục tố tụng tại phiên Tòa Đặc biệt là các tình huống, lưu ý mà Thẩm phán, Kiểm sát viên, cũng như các nhà làm luật có thể vận dụng vào thực tiễn xét xử hoặc công việc chuyên môn của mình.[34]
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả nói trên tập trung chủ yếu đến những vấn đề lý luận chung về thủ tục xét xử sơ thẩm trong
Trang 10luật tố tụng hình sự hoặc phân tích các quy định của pháp luật tố tụng thực định Các công trình khoa học và bài viết kể trên đều mang tính giá trị về lý luận và thực tiễn, là tài liệu tham khảo bổ ích cho quá trình nghiên cứu, đề xuất trong luận văn này.Tuy nhiên, các công trình và bài viết này chưa phổ quát một cách toàn diện và đầy đủ đến pháp luật về thực tiễn áp dụng thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong điều kiện cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là thực tiễn tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Vì những lý do trên mà Học viên đã lựa chọn vấn đề “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu theo đề tài luận văn đặt ra về thủ tục xét xử sơ thẩm đó là:
Nghiên cứu những vấn đề về lý luận liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nghiên cứu các quy định trong BLTTHS 2015 liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Đánh giá thực trạng một cách toàn diện, khách quan từ thực tiễn thực hiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11 Theo đó xác định được nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xét xử vàđưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quan điểm của nhiều tác giả về hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Tác giả tập trung nghiên cứu về quy định trong BLTTHS liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm của Tòa án
Việc nghiên cứu các bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 10, giúp cho việc đánh giá chất lượng các bản án hình sự sơ thẩm có bị kháng cáo, kháng nghị hay không thể hiện tính đúng đắn trong hoạt động xét
xử
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Việc đưa vụ án hình sự ra xét xử sơ thẩm mà Tòa án nhân dân cấp quận, huyện tiến hành thì phải trải qua quá trình tiến hành tố tụng, quy trình, thủ tục pháp lý theo quy định Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và TAND Quận
10 nói riêng hiện nay là một đề tài rộng, có nhiều vấn đề liên quan đến lý luận
và thực tiễn, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách khoa học, khách quan Vì vậy phạm vi nghiên cứu là:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của Bộ luật tố tụng năm 2015 liên quan đến thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Tác giả chọn không gian nghiên cứu đó là tình hình xét xử sơ thẩm VAHS trên địa bàn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm VAHS của Tòa án nhân dân Quận 10 từ năm 2015 đến 2018
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Phương pháp lý luận được đúc kết từ những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa họcliên quan Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự; Tư duy triết học của chủ nghĩa Mác–Lê nin, tư thưởng Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả còn sử dụng trong một số các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: hệ thống, so sánh, tổng hợp, dự báo, lịch sử, kết hợp với phương pháp sử dụng ý kiến nhà khoa học, chuyên gia để chọn lọc vấn đề kinh nghiệm thực tiễn và lý luận khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7 Kết cấu của Luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận vềthủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự của Tòa án
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ tục xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố
Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN 1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
Ngay từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại, người ta đã khẳng định: ở đâu có pháp luật thì ở đó phải có hệ thống bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh Sự bảo đảm đó, trước hết phải bằng hoạt động của cơ quan nhà nước có chức năng xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp luật mà nhà nước ban hành Nói cách khác, sự bảo đảm đó chính là hoạt động xét xử của cơ quan chức năng trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện
Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân của Việt Nam quy định
“Cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làTòa án”; hoạt động xét xử là nhiệm vụ chủ yếu vàquan trọng của Tòa án Vì thế việc xét xử phải xác định làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Trên cơ sở của
sự thật khách quan, Tòa án nhân danh Nhà nước, đưa ra phán quyết cuối cùng liên quan đến bản án
Với nhiệm vụ và chức năng là cơ quan xét xử của nước ta, hệ thống Tòa án nhân dân cùng với các cơ quan tư pháp như cơ quan thi hành án, cơ quan tổ chức bổ trợ tư pháp, cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, thì mọi hoạt động phải bảo đảm pháp luật được thi hành nghiêm minh Tại Tòa án, các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định được đưa ra xét xử và sử dụng một cách công khai thông qua các thủ tục tố tụng, để từ đó đưa ra những phán xét cuối cùng Tòa án là nơi thể hiện công lý, sự đối xử công bằng,bình đẳng trong tất cả các mối quan hệ; Tòa án cũng là nơi thể hiện chất lượng, trình độ hoạt động và uy tín của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống tư pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Trang 14Xét theo khoa học pháp lý thì việc lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử ở Tòa án có thẩm quyền đó là xét xử sơ thẩm Tòa án đưa ra quyết định về bản
án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Hay nói cách khác, xét xử sơ thẩm chính là giai đoạn thứ tư của hoạt động tố tụng Bản án của Tòa án, nếu có hiệu lực pháp luật thì đó là quyết định kết thúc cả bốn giai đoạn hoạt động tố tụng là khởi tố; điều tra; truy tố; xét xử
Xét xử sơ thẩm là giai đoạn tố tụng độc lập trong đó Tòa án có thẩm quyền thực hiện chức năng của mình để xem xét, giải quyết vụ án, ra quyết định đối với bản án theo quy định của pháp luật Việc giải quyết vụ án hình sự
sẽ trải qua các giai đoạn khác nhau.Tại phiên tòa, hội đồng xét xử trên cơ sở đánh giá công khai những chứng cứ đã được kiểm tra, sẽ ra bản án xác định
có tội hay không có tội Bên cạnh việc ra bản án, Tòa án còn có thể ra các quyết định khác để giải quyết vụ án
Cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, song đa phần các nhà khoa học đều cho rằng: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc xét xử lần thứ nhất ở cấp thứ nhất, do Tòa án thực hiện theo thẩm quyền mà pháp luật đã quy định Bản thân tác giả cũng hoàn toàn đồng
ý với quan điểm này
1.2 Đặc điểm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
1.2.1.Hoạt động xét xử do Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện bằng quyền lực nhà nước
Pháp luật hiện hành đã quy định, Cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp là Viện kiểm sát; cơ quan xét xử chính là Tòa án, thực hiện quyền tư pháp Như vậy, chức năng thực hiện quyền tư pháp là thuộc Tòa án nhân dân, thông qua quyền hạn, nhiệm vụ thì cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện chủ yếu bằng chức năng xét xử, giải thích pháp luật
Hiến pháp năm 2013 tại Điều 102 đã quy định cơ quan xét xử của nước
Trang 15Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Tòa án nhân dân, có nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp Đây là quy định trong toàn hệ thống chính trị, Tòa án là
cơ quan duy nhất có chức năng xét xử và thực hiện quyền tư pháp, tức là có chức năng xét xử các vụ án, giải quyết các vụ việc có tranh chấp theo thẩm quyền quy định Hiến pháp 2013 quy định cơ chế kiểm soát quyền tư pháp từ phía cơ quan lập pháp, thể hiện qua việc Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, lấy phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh do mình bầu, như Chánh
án Toàn án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Dù vậy, việc kiểm soát quyền lực này gần như mang tính một chiều chưa mang tính ngược lại
Là cơ quan có vai trò thực hiện quyền tư pháp, Tòa án sẽ thực hiện chức năng kiểm soát việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp, theo quyền hạn, nhiệm vụ được giao Theo đó, Tòa án nhân dân thực hiện quyền lập pháp; kiến nghị sửa đổi, bổ sung luật nếu thông qua hoạt động xét xử thấy văn bản luật trái Hiến pháp, mâu thuẫn với luật khác hoặc không phù hợp với thực tiễn Bên cạnh đó, Tòa án còn có thẩm quyền xét xử các vụ án hành chínhcủa các cơ quan hành chính nhà nước đối với các hành vi hành chính, quyết định hành chính; cũng như các phán quyết về vi phạm quyền con người…
Ở nước ta, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều bắt nguồn từ nhân dân Cả ba quyền này tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều là những yếu tố tạo nên sự thống nhất của quyền lực nhà nước Hiến pháp năm
2013 ra đời là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo dựng cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả
Trang 161.2.2 Hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành theo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và chỉ do Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân tiến hành
Độc lập là biểu hiện của việc chỉ tuân theo pháp luật Do vậy,khi xét
xử, Thẩm phán và Hội thẩm được pháp luật quy định hoạt động theo nguyên tắc độc lập Đó là nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp cho tới các luật chuyên ngành Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chịu bất kỳ
sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan,
vô tư, quyết định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật Điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật là thực hiện nguyên tắc độc lập
Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử Xét ở khía cạnh chung của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật Khi nắm rõ kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm sẽ có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong phán quyết của mình Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp luật là sẽ loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, từ đó họ mới có được sự độc lập
Có một nguyên tắc mà khi xét xử Hội thẩm và Thẩm phán phải tuân theo đó là phán quyết độc lập, chỉ tuân theo pháp luật:
“Độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” có mối quan hệ qua lại, khăng khít với lẫn nhau
Độc lập chính là điều kiện cần thiết để Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử Như vậy tuân theo pháp luật chính là cơ sở cần thiết để hội thẩm, thẩm phán độc lập khi xét xử Cả haimối quan hệ này ràng buộc nhau Như vậy, trường hợp chỉ độc lập mà không tuân theo quy định của pháp luật thì sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khách quan trong xét xử,
Trang 17ngoài ra còn phải tùy thuộc vào ý chí chủ quan của thẩm phán mà dẫn đến việc không công bằng
Các quy định trong bốn bản Hiến pháp của nước ta đối với nguyên tắc này tại điều 69 Hiến pháp 1946, điều 100 Hiến pháp 1959, điều 131 Hiến pháp 1980, điều 130 Hiến pháp 1992 Và tại sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946 và các luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, 1981, 1992 cũng đều ghi nhận nguyên tắc này Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, qua đó bảo đảm cho Tòa án xét xử khách quan, đúng pháp luật Khi thực hiện chức năng xét xử Tòa án đặc biệt lưu ýcác nội dung
chính của nguyên tắc này như sau:
Một là: Khi xét xử, Hội đồng xét xử không chi phối bởi bản luận tội
của Viện kiểm sát; và cũng không bị ảnh hưởng các ý kiến của thành viên trong hội đồng xét xử Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình trong từng vấn đề của vụ án hình sự
Hai là:Tất cả thành viên của Hội đồng xét xử cũng phải giữ vững
nguyên tắc độc lập khi xét xử trong việc xác định chứng cứ, căn cứcác quy phạm pháp luật áp dụng nhằm đảm bảo định tội và lượng hình chính xác đối với các vụ án hình sự và quyết định quyền cũng như nghĩa vụ của các đương
sự trong vụ án hình sự
Ba là: theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm thì bản án chưa có hiệu lực pháp luật sẽ phải tiếp tục được đưa ra xét xử
ở cấp cấp cao hơn Hay các bản án xét xử sơ thẩm nếu không thật sự cần thiết thì không phải xin ý kiến của Tòa án cấp trên chỉ đạo Cũng như vậy khi xét
xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa sẽ không bị ảnh hưởng bởi kết quả của phiên xét xử sơ thẩm
Độc lập khi xét xử của Hội thẩm và Thẩm phán là phải căn cứ vào các quy định của pháp luật từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn của mình
Trang 18Tòa án thực hiện hoạt động xét xử căn cứ từ bản chất của hoạt động tư pháp Và Tòa chỉ hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công lý, Tòa án xét
xử như cơ quan trung lập, người đứng giữa, không phụ thuộc vào các bên như người bị hại hay người phạm tội, từ đó sẽ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật, lúc này Tòa chính là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người một cách đúng đắn
Căn cứ từ chế độ dân chủ nhân nhân ở nước ta Việc xét xử của Tòa án
có sự tham gia của Hội thẩm đã được hiến pháp và pháp luật quy định, đó là một trong những nguyên tắc thể hiện rõ tư tưởng nhà nước Xã hội Chủ nghĩa:
“Nhà nước của dân, do dân và vì dân” Hội thẩm nhân dân có trách nhiệmlà thay mặt nhân dân tham gia xét xử, giám sát, hạn chế những tiêu cực trong hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm bảo vệ pháp chế,công lý củanước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để việc xét xử của Tòa án được minh bạch, chính xác với tình hình thực tế và góp phần đáp ứng vớitâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân
1.2.3 Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân được tiến hành chủ yếu tại phiên tòa và mang tính công khai
Trong BLTTHS năm 2015 có điểm mới là việc bổ sung hai yêu cầu khác của hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án đó là yêu cầu
phải xét xử“công bằng” và “kịp thời”
Việc bổ sung hai yêu cầu này vào tên gọi là bảo đảm sự phù hợp với Hiến pháp năm 2013, đúng với tinh thần và với tiêu chuẩn quốc tế, đó là bảo đảm quyền con người Tại Điều 9 Công ước về các quyền dân sự, chính trị
1966 đã ghi nhận: “Bất kỳ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình
sự phải được sớm đưa ra Tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do”; tại Điều 14 Công ước cũng khẳng định “Mọi người đều có
Trang 19quyền xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị…”
Nguyên tắc “công bằng” và “kịp thời” cần được bổ sung trong tố tụng
hình sự như một yếu tố bắt buộc, làm rõ việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong TTHS ngày nay Người bị buộc tội vẫn được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục, tức là đúng với trình tự thủ tục tố tụng, cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án và phải là bản án có hiệu lực pháp luật, và cũng vì vậy mà quyền con người phần nào cũng bị ảnh hưởng do sẽ bị cơ quan thi hành áp dụng các biện pháp cần thiết theo luật định Khi quá trình tố tụng diễn ra, các biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn được người có thẩm quyền áp dụng đều có thể đưa ra đối với người vi phạm tức là người bị buộc tội khi có căn cứ luật theo pháp luật, lúc này quyền con người bắt đầu bị hạn chế nhất định Bởi lẽ đó, quá trình giải quyết vụ án hình sự thường bị kéo dài, hay việc xét xử không kịp thời trong một số trường hợp đều gây ảnh hưởng bất lợi đến người bị buộc tội Do vậy, vấn đề đặt ra đối với Tòa án là phải bảo đảm xét xử kịp thời trong thời hạn luật định vì như thế sẽ bảo đảm quyền con người được tôn trọng, quyền công dân được xác định rõ, có bị giới hạn hay không trong TTHS
Cụm từ “ kịp thời” trong BLTTHS năm 2015 phải đi liền với cụm từ
“công bằng” Vì khi xét xử công bằng tức là Tòa sẽ không thiên vị ai, không thiên vị bên nào, tuân theo pháp luật, theo đúng lẽ phải Điều này hết sức có ý nghĩa trong hoạt động xét xử, qua đó thấy rằng Tòa án phải bảo đảm xét xử theo đúng quy định của pháp luật, không phân biệt địa vị xã hội, tôn giáo, dân tộc, không phân biệt thành phần, giới tính, của người bị buộc tội Ở một khía cạnh, có thể coi đây là sự cụ thể hóa nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật được quy định tại Điều 9 BLTTHS năm 2015
Nguyên tắc phân chia thành các giai đoạn trong quá trình tố tụng, việc
Trang 20giải quyết vụ án không đúng thời hạn chủ yếu ở giai đoạn khởi tố, điều tra
Do đó, để bảo đảm công lý được thực thi, bảo vệ quyền con người, thì tính kịp thời trong việc xử lý không chỉ là yêu cầu cần thiết mà còn là yêu cầu bắt buộc đối với cả quá trình tố tụng từ lúc khởi tố, đến giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, và sau cùng là xét xử TạiBLTTHS năm 2015 được bổ sung thêm Điều 19, quy định về tuân thủ pháp luật trong quá trình điều tra là đề cập
đến yêu cầu phát hiệnchính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội
1.3 Vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1 Vai trò của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Ngày 02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết
số 49NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhằm xác định
rõ nhiệm vụ cải cách tư pháp, bảo đảm việc xét xử của Tòa án là hoạt động trọng tâm Ở nước ta, việc cải cách tư pháp được Đảng và nhà nước đưa vào nghị quyết, qua đó đề cao vai trò của Tòa án trong việc hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩ, đây được xem là điều tiên quyết mà cả hệ thống chính trị phải thực hiện Bên cạnh đó, về mặt nhận thức cũng như quá trình thực hiện, tổ chức thực tiễn và xây dựng, hoàn thiện pháp luật, phải bảo đảm Tòa án đóng vai trò là trung tâm của hệ thống tư pháp và hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động trọng tâm của tố tụng hình sự ở nước ta Vì vậy, khâu đầu tiên đó là vấn đề nhận thức, trên cơ sở đó sẽ triển khai thành các giải pháp, thông qua hoạt động thực tiễn, sau đó hoàn thiện pháp Nghị quyết
số 49NQ/TW đã có về cải cách tư pháp, mặc dù đã đưa vai trò của Tòa án trong hệ thống tư pháp lên trên nhưng thực tiễn cho thấy vẫn chưa có chuyển biến đáng kể trong nhận thức của những người hoạt động pháp luật Có nhiều nguyên nhân dẫn điện hiện trạng này nhưng đầu tiên phải kể đến nhận thức
về Tòa án phải là "khâu trung tâm" của hệ thống tư pháp Muốn chuyển ý chí
và nhận thức thành những cơ chế pháp lý, thì cần phải đưa vào quy định pháp
Trang 21luật nhằm bảo đảm về chức năng, thẩm quyền làm cho Tòa án đóng vai trò là
trung tâm còn hoạt động xét xử xét cho cùng sẽ là hoạt động trọng điểm
Thứ nhất: Hoạt động xét xử các vụ án hình sự với vai trò kiểm tra, kiểm soát xã hội
Trong bất kỳ xã hội nào, để tôn trọng và bảo vệ các lợi ích chung của Nhà nước, của cộng đồng, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đòi hỏi mỗi cá nhân công dân phải tôn trọng trật tự xã hội Cơ chế nhằm đảm bảo trật tự xã hội chính là thiết chế xã hội Các thiết chế xã hội về kinh tế, chính trị, phải tuân thủ theo chuẩn mực giá trị xã hội, các quy định của pháp luật đối với hành vi Những thiết chế xã hội này nhằm đảm bảo sự ổn định cho xã hội hiện tại, biết trước tương lai nhằm điều chỉnh hành vi, đảm bảo quyền con người thực thi theo pháp luật, ngược lại, nếu hành vi vi phạm các thiết chế chung thì sẽ bị điều chỉnh bởi pháp luật của nhà nước Vì vậy cho thấy sự kiểm soát của pháp luật đối với các hành vi, thông qua các thiết chế
xã hội, luôn tác động và ảnh hưởng đến hành vi cũng như xử sự của mỗi cá nhân trong xã hội Nếu có hành vi vi phạm pháp luật, dù là ai, thuộc tầng lớp nào, nam hay nữ thì khi đó pháp luật sẽ ngăn chặn các hành vi này, chức năng giáo dục của pháp luật sẽ điều chỉnh cho hành vi vi phạm trở lại đúng quỹ đạo
xã hội Về vấn đề này, trước đây và hiện nay các nhà Xã hội học đã không ngừng để làm phát triển lý thuyết xã hội học nói chung, vấn đề kiểm soát xã hội nói riêng (trong đó có nội dung kiểm soát xã hội đối với tội phạm), vì Xã hội học là ngành khoa học không chỉ có trách nhiệm tìm ra chân lý khách quan, phản ánh thực tế đời sống xã hội, mà còn thực hiện tốt chức năng thực tiễn của nó - cung cấp những thông tin cần thiết cho việc giải quyết các vấn
đề xã hội và phục vụ việc xây dựng, quản lý và duy trì trật tự xã hội, qua đó bảo đảm ổn định và bền vững các quan hệ xã hội
Một trong những vai trò, chức năng cơ bản của Nhà nước là quản lý xã
Trang 22hội kiểm soát xã hội, và kiểm tra xã hội Để thực hiện hoạt động này được thực thi thì các cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước phải phối hợp đồng bộ Các cơ quan cần có sự phân công, phân nhiệm khi thực hiện quyền lực nhà nước, nhà nước giao chức năng giám sát cho cơ quan tư pháp đối với việc thực thi pháp luật, việc tổ chức thực hiện và kiểm tra thực hiện pháp luật là
cơ quan hành pháp Khi có những hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm hại đến tổ chức; những tranh chấp liên quan đến pháp lý, công bằng xã hội thì được thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Toà án Hoạt động này có các đặc trưng cơ bản sau:
Chỉ diễn ra khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc mâu thuẫn, tranh chấp màcá nhân, tổ chức cũng như Nhà nước không thể giải quyết được bằng những cơ chế kiểm tra, giám sát khác
Phải được thực hiện thông qua hoạt động tranh luận công khai, dân chủ và bình đẳng giữa các bên tại toà án Tòa án có quyền nhân danh Nhà nước, nhân danh công lý trong các phán quyết xử lý
Thứ hai: Hoạt động xét xử có vai trò bảo vệ pháp luật
Bảo vệ pháp luật là chức năng cơ bản của bộ máy Nhà nước Toà án là thiết chế trung tâm của quyền tư pháp có vị trí và vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ pháp luật Trong nhà nước pháp quyền, bảo vệ pháp luật chính là bảo
vệ những giá trị công bằng, bình đẳng và dân chủ của xã hội
Nói đến nhà nước pháp quyền tức là nói đến nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, xã hội dân chủ là phải dựa trên nguyên tắc nhà nước pháp quyền Pháp luật trong nhà nước pháp quyền mang trong mình những tâm tư, nguyện vọng, quyền cũng như lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội
Nó là hệ thống chuẩn mực giá trị trong đời sống xã hội mà thông qua nó để đánh giá hành vi của con người đã tương xứng với trình độ văn minh của xã
Trang 23hội hay không, và thông qua đó sẽ điều chỉnh được mối quan hệ giữa người dân và cơ quan có thẩm quyền, ngoài ra đây còn nguyên tắc xử sự chung mà thông qua nó nhà nước sử dụng như phương tiện để bảo vệ trật tự xã hội, điều hoà các mâu thuẫn, đề cao giá trị lợi ích của xã hội Bên cạnh đó, Pháp luật trong nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa, mang một giá trị to lớn mà thông qua pháp luật sẽ giúp cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà người dân, chính quyền, nhà nước, Đảng đang hướng đến Trái lại, việc triển khai và
mở rộng dân chủ trong mọi mặt đời sống xã hội lại củng cố cơ sở pháp luật và trật tự pháp luật, làm phong phú thêm các quyền tự do của công dân và bảo đảm thực hiện những quyền đó Do vậy, dân chủ và pháp luật xã hội chủ nghĩa không thể tồn tại tách rời nhau Dân chủ về chính trị và pháp luật chân chính thể hiện bản chất sâu xa của chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Những hành vi xâm hại các chuẩn mực pháp luật trong xã hội pháp quyền bị coi là những hành vi xâm hại công lý, công bằng, bình đẳng xã hội, dân chủ XHCN Vì thế, trong nhà nước pháp quyền, bảo vệ pháp luật không còn đơn thuần là phục vụ nhu cầu quản lý xã hội của nhà nước mà trở thành hoạt động bảo vệ công bằng, bình đẳng xã hội, quyền tự do dân chủ của công dân, quyền con người và dân chủ XHCN Vai trò bảo vệ pháp luật của toà án được biểu hiện ở các khía cạnh sau:
Toà án áp dụng pháp luật: Hoạt động áp dụng pháp luật của toà án là hình thức áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật khỏi sự vi phạm Thông qua hoạt động xét xử, Toà án đưa ra các hành vi tranh chấp pháp lý khiến những con người cụ thể áp vào các chuẩn mực pháp luật, đối chiếu làm sáng tỏ mối tương quan giữa sự riêng biệt là hành vi vi phạm, tranh chấp với cái khuôn chung là quy phạm pháp luật để đánh giá, phán xét bản chất pháp lý, tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi, tranh chấp Từ đó đi đến một phán quyết có tính bắt buộc thi hành đối với những người có quyền và lợi ích liên quan
Trang 24 Toà án tuân thủ pháp luật: Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền nói chung và nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng là Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp, pháp luật Toà án là một bộ phận cấu thành nên bộ máy Nhà nước nên quyền hạn, nhiệm vụ và chức năng của toà án được xác định trong Hiến Pháp và các văn bản pháp luật Vì thế, toà án tuân thủ Hiến Pháp, pháp luật, đặc biệt là tuân thủ các nguyên tắc có tính chất nền tảng về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước được vận dụng trong lĩnh vực tư pháp, như: Nguyên tắc tính tối thượng của Hiến Pháp và pháp luật trong hoạt động của Nhà nước và đời sống
xã hội; các quan hệ xã hội cơ bản phải được điều chỉnh bằng pháp luật; trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân; bảo đảm quyền con người trong quá trình xét xử; quyền lực Nhà nước thống nhất và có sự phân công phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; tôn trọng và tận tâm thực hiện các điều ước quốc tế mà Nhà nước đã ký kết hoặc tham gia… là những biểu hiện rõ rệt nhất vai trò bảo vệ pháp luật của Toà án
Thứ ba: Hoạt động xét xử các vụ án hình sự có vai trò bảo đảm sự công bằng của con người
– Hiến pháp năm 2013 đã quy định người bị buộc tội được Tòa án xét xử công bằng, công khai và kịp thời đúng thời hạn luật định
Việc tuyên án cần công khai cho dù việc xét sử là kín theo quy định của pháp luật Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật là theo quy định trình tự thủ tục tố tụng, do đó nếu để xảy ra oan sai trong giai các giai đoạn này thì có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, nhân phẩm một cách chính đáng Trái lại, nếu người nào vi phạm pháp luật mà cơ quan tiến hành tố tụng
đã áp đúng quy định của pháp luật thì người đó phải bị xử lý theo pháp luật và
Trang 25không được phản ứng lại với các phán quyết đó
– BộLTTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật: tố tụng hình sự phải được tiến hành theo đúng nguyên tắc và tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội, ngược lại, người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế” đồng thời quy định nguyên tắc tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng,mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định
Thứ tư: Hoạt động xét xử các vụ án hình sự có vai trò bảo đảm quyền con người
Nền văn minh nhân loại ghi nhận quyền con người là quyền thiêng liêng có giá trị cao nhất của con người, có cội nguồn xã hội và tư tưởng từ rất lâu đời trong quá trình phát triển của nhân loại, trải qua thăng trầm lịch sử để loài người phát triển quyền tối thượng đó, cho dù các thời kỳ có thể xảy ra các chế độ bất công, chuyên chế tàn bạo, thì quyền con người vẫn không thay đổi
Để bảo vệ quyền con người thì trong hoạt động xét xử cũng phải hướng đến các quy định có lợi cho người vi phạm, hướng đến những giá trị nhằm bảo vệ các quyền con người một tất yếu mà ngành Toà án phải thực hiện theo tinh
thần Nghị quyết 49/BCT là đảm bảo cải cách tư pháp
Thứ năm: Hoạt động xét xử tại phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật trong quần chúng nhân dân cần được tăng cường với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, trong đó Tòa
án cần tăng cường xét xử lưu động để góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân Đây cũng là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu
Trang 26quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bên cạnh đó, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc thực hiện các hoạt động nói chung và hoạt động xét xử nói riêng là một chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Tòa án, được ghi nhận tại Luật Tổ chức
TAND các năm 1992, 1995, 2002 và năm 2014 như sau: “Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác”
Hoạt động xét xử của Tòa án chính là việc Tòa án nhân danh Nhà nước ra bản
án hoặc quyết định có tính chất kết luận về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp pháp lý xảy ra trong xã hội; xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước nhằm giữ vững kỷ cương
xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các
tổ chức và công dân Tòa án thông qua phiên tòa (đặc biệt là các phiên tòa xét
xử lưu động) để góp phần tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân
1.3.2 Ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc thực hiện thủ tục tố tụng thông qua việc giải quyết các vụ án một cách đúng đắn, khách quan, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, vì vậy
mà xét xử sơ thẩm mang ý nghĩa hết sức quan trọng Ở nước ta, theo quy định những người tham gia tố tụng phiên tòa là bình đẳng lẫn không phân biệt trong tranh luận cũng như đưa ra các chứng cứ, chứng minh, hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng nếu vi phạm các điều cấm , tại phiên toà xét
xử sơ thẩm thể hiện đầy đủ tính công bằng và dân chủ Thủ tục tố tụng tại phiên tòa bao gồm việc tranh luận, tranh tụng, sau đó hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt được quy định trong BLHS để tuyên đối với người phạm tội,
Trang 27qua đó người phạm tội sẽ bị răn đe và giáo dục để tránh không bị vi phạm pháp luật nữa Chính vì vậy, việc bảo vệ quyền con người sẽ giúp nâng cao ý thức pháp luật của công dân mà Nhà nước luôn hướng đến Xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự là bắt buộc khi Tòa án nhận thấy rằng có đủ cơ sở để mở phiên tòa
và việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử thì đây được coi là bước xét xử lần đầu, nhưng không phải vụ án nào cũng sẽ trải qua hai cấp xét xử, vì khi có kháng cáo, kháng nghị đối với vụ án chưa có hiệu lực pháp luật thì mới bắt đầu diễn ra xét xử phúc thẩm Chính vì vậy, một phiên toà khi tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định sẽ tạo điều kiện để người tham gia tố tụng được tranh luận công khai còn là cơ sở để có được bản án, quyết định khách quan, toàn diện, chính xác sẽ tạo được lòng tin trong nhân dân, làm giảm tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm Vì vậy, một bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật cũng sẽ góp phần tiết kiệm được tiền bạc, công sức, thời gian của nhân dân và nhà nước và hình ảnh Tòa án trong mắt người dân được nâng cao, ngành tòa án ngày càng chất lượng, uy tín trong hệ thống các cơ quan tư pháp
Có thể khẳng định, để góp phần có hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của toàn xã hội thì xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự đặc biệt quan trọng, qua đó giúp bảo vệ các quyền công dân, quyền con người Xét xử sơ thẩm mang tính quan trọng được thể hiện qua các nội dung như sau:
Thứ nhất, thủ tục xét xử các vụ án hình sự là hình thức pháp lý thể hiện quyền tư pháp
Quyền lực nhà nước bao gồm ba bộ phân chủ yếu hợp thành: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Việc thực thi quyền tư pháp thông qua các thiết chế tổ chức và phương thức hoạt động theo các nguyên tắc đặc thù và quy trình thủ tục chặt chẽ để bảo vệ pháp luật, duy trì công lý có tác
Trang 28động đến niềm tin của nhân dân vào Nhà nước và chế độ xã hội, là thước đo mức độ dân chủ của Nhà nước, tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng Về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự là cơ sở pháp lý để các bên có vị trí độc lập với nhau về lợi ích, khác nhau về chức năng tố tụng (buộc tội, bào chữa) thực hiện việc tranh tụng với nhau, trên cơ sở đó, Tòa án nhân danh Nhà nước thực thi công lý, đưa ra phán xét về hành vi phạm tội, về tính đúng đắn, hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của các chủ thể tố tụng ngoài Tòa án nhằm duy trì trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự ổn định chung của xã hội Không một cơ quan tổ chức nào có quyền nhân danh quyền lực Nhà nước để xét xử, kết tội đối với một người phạm tội, ngoại trừ Tòa án, cơ quan thực hiện quyền tư pháp Thông qua việc áp dụng các quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án nhân danh Nhà nước ra bản án hoặc quyết định có tính chất kết luận về vụ án, gồm nội dung quan trọng như: có hay không có hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành
vi phạm, tội, lỗi, tính chất mức độ thiệt hại, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp, nhằm bảo đảm việc xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật
Thứ hai, thủ tục xét xử vụ án hình sự là cơ sở bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Với ý nghĩa là hoạt động thực tiễn, quyền lực nhà nước, xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự luôn bảo vệ lợi ích của hai nhóm, đó làlợi ích công và lợi ích cá nhân Hai nhóm lợi ích này có mối quan hệ biện chứng như cặp phạm trù thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập Lợi ích công thể hiện ở việc điều tra kịp thời và dầy đủ, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, xét xử và áp dụng hình phạt công minh, đúng pháp luật đối với người phạm tội, còn lợi ích
cá nhân thể hiện ở việc bảo đảm cho người vô tội không bị truy cứu trách
Trang 29nhiệm hình sự oan, người bị truy tố, xét xử oan được minh oan, và bồi thường thiệt hại; các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, của bị can, bị cáo, không bị hạn chế trái pháp luật [17, tr.304] Lợi ích Nhà nước và xã hội đòi hỏi việc thực thi quyền lực công phải mạnh mẽ, tích cực và kiên quyết Việc nhận thức không đúng, quá đề cao lợi ích công sẽ dẫn đến xem nhẹ lợi ích cá nhân, xem nhẹ những giá trị quyền con người Ngược lại, quá chú trọng đến lợi ích cá nhân thì lợi ích công sẽ bị xâm phạm Cụ thể là Nhà nước thực hiện quyền trừng phạt người phạm tội nhưng đồng thời cũng bảo vệ người vô tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan Tòa án được xem là công cụ quan trọng nhất đảm bảo quyền con người khi các quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm Xét xử vụ án hình sự chính là thành trì vững chắc cho việc bảo vệ quyền con người, quyền tự do và dân chủ của các cá nhân trước sự xâm phạm của bất cứ chủ thể nào, trong đó có cả đối với các chủ thể là cơ quan nhà nước
Thứ ba, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với các quy định chặt chẽ
về trình tự, thủ tục nhằm tìm ra chân lý của vụ việc để đi đến kết luận về hành
vi phạm tội và người thực hiện tội phạm
Để đảm bảo cho việc truy tố bị can ra trước Tòa án và thực hiện việc buộc tội bị cáo tại Tòa án Bộ luật tố tụng hình sự quy định trách nhiệm thu thập, điều tra chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội, và người thực hiện tội phạm thuộc về bên buộc tội (Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát) Kết quả hoạt động của các cơ quan này được thể hiện trong hồ sơ vụ án, trong các quyết định tố tụng Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc pháp lý được thừa nhận chung của nền văn minh pháp lý đó: không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, do vậy mọi nhận định thể hiện trong các tài liệu, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chuyển sang Tòa án chưa có giá trị kết luận về hành vi
Trang 30phạm tội của người bị tình nghi Về bản chất ở giai đoạn điều tra, truy tố, các chủ thể ở bên buộc tội cũng như bên bào chữa chỉ mới làm công tác chuẩn bị, thu thập chứng cứ, tài liệu về vụ án, các văn bản pháp lý cần thiết để thực hiện chức năng của mình tại phiên tòa Toàn bộ chứng cứ, tài liệu đã thu thập trước đó được Tòa án đưa ra kiểm tra công khai nhằm đánh giá tính khách quan, tính hợp pháp để kiểm tra tính có căn cứ của những chứng cứ, tài liệu này Các chủ thể tại phiên tòa sơ thẩm được công khai tranh tụng, đưa ra lập luận, căn cứ để bảo vệ hoặc bác bỏ những lý lẽ khác thông qua việc cung cấp chứng cứ, kiểm tra chứng cứ hoặc đưa ra các yêu cầu [33, tr.19]
Thứ tư, thủ tục xét xử sơ thẩm hình sự là thước đo, là điều kiện để bảo đảm sự dân chủ, bình đẳng, công bằng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự
Hiện nay, vấn đề vai trò, ý nghĩa của tố tụng hình sự nói chung về thủ tục sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng còn được nhìn nhận ở góc độ xã hội học, xem đó như là một giá trị xã hội khách quan vì nó cần trước hết cho xã hội Hoạt động TTHS được pháp luật ghi nhận có cội nguồn xã hội sâu xa, từ chính bản chất của xã hội, cũng như sự trừng trị của luật hình sự được dựa trên quyền trừng trị của xã hội Giá trị xã hội của Tố tụng hình sự thể hiện ở chỗ là cái bảo đảm vững chắc cho lợi ích Nhà nước và mọi cá nhân Nhà nước ngày càng chuyển dần từ phương thức nặng về trừng trị sang phương thức pháp lý diễn ra theo trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ, do luật định để bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Xu thế điều chỉnh này của pháp luật tố tụng hình sự đòi hỏi cần thiết hoàn thiện cơ chế bảo vệ cá nhân trước hành vi quyết định trái pháp luật của các cơ quan và người có thẩm quyền Mục đích, nhiệm vụ của TTHS là bảo đảm tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục, truy cứu trách nhiệm hình sự và xét xử, áp dụng hình phạt
Trang 31đối với người phạm tội, phải công minh, kịp thời, đúng luật định Trình tự xét
xử vụ án hình sự đúng luật định cũng góp phần đảm bảo cho người vô tội không bị xét xử oan; quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không bị hạn chế trái pháp luật Trình tự, thủ tục xét xử vụ án hình
sự được luật quy định chặt chẽ và bắt buộc tuân thủ còn là yếu tố bảo đảm pháp chế, phòng ngừa tội phạm, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân
Hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là hoạt động phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân vì trong tố tụng hình sự, quyền con người là vấn đề dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nặng nề nhất khi nó tác động đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của con người, của công dân [13, tr.369] Hoạt động xét xử mang tính quyền lực, sức mạnh cưỡng chế của nhà nước đối với người phạm tội Chính vì vậy, những bảo đảm về thủ tục xét
xử là rất quan trọng, do đó pháp luật quy định rất khắt khe về thủ tục xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự nhằm bảo đảm quyền con người, nhằm bảo đảm cho người bị buộc tội quyền được xét xử thông qua Tòa án, bằng thủ tục xét
xử chặt chẽ, công khai, minh bạch, nhanh chóng, kịp thời
Tiểu kết Chương 1
Tòa án nhân dân của Nhà nước ta đã trải qua các cuộc cải cách, đổi mới
về tổ chức cũng như phương thức hoạt động nhằm đáp ứng nhiệm vụ ngày càng cao của ngành tư pháp, đặc biệt trong giai đoạn xây dựng, phát triển Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Tòa án nhân dân đã thể hiện rất rõ sự vận dụng đường lối lãnh đạo, nghị quyết của Đảng trong tổ chức và hoạt động để ngày càng phát triển và lớn mạnh, tạo được niềm tin đối với người dân Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án cấp quận, huyện là một cấp xét
xử trong tố tụng hình sự,hoạt động này được tiến hành liên tiếp sau hoạt động
Trang 32điều tra, truy tố Nó còn được thực hiện bởi công tác chuẩn bị xét xử cho đến quá trình xét xử tại phiên tòa, các giai đoạn này được quy định thành quy trình xét xử, chính xác là thủ tục tố tụng trong pháp luật hình sự Sự phán quyết của Tòa án để đưa ra bản án sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan, đến quyền con người
Trang 33Chương 2:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Các quy định của pháp luật về thủtục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
2.1.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm
a Thẩm quyền xét xử theo việc (Theo cấp Tòa án)
Sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp với nhau và căn
cứ vào mức độ, tính chất nguy hiểm của tội phạm theo quy định sẽ là thẩm quyền xét xử theo sự việc Do Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa hai cấp Tòa án: Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án cấp quân khu và Tòa án cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực
Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực, Tòa án nhân dân cấp Huyện:
Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì Tòa án cấp huyện (Tòa án cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực) là cấp xét xử đầu tiên trong trình tự các cấp xét xử
BLTTHS năm 2015 có Điều 268 quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp Tòa án quân sự khu vực hoặc Tòa án cấp huyện quy định sẽ xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng, trừ những tội phạm:
+ Các tội phạm an ninh quốc gia;
+ Các tội liên quan đến phá hoại hòa bình, tội phạm chiến tranh và chống loài người;
Trang 34+ Các tội vi phạm thực hiện ngoài lãnh thổ nước Việt Nam;
+ Tội phạm quy định tại các Điều 123 “tội giết người”; Điều 125 “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh’; Điều 126 “Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”; Điều 227 “Tội vi phạm các quy định về thăm dò, nghiên cứu, khai thác tài nguyên”; Điều 277 “Tội vi phạm các quy định về điều khiển tàu bay”; Điều 279 “Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không đảm bảo an toàn”; Điều 280 “Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiền giao thông đường không”; Điều 282 “Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy”; Điều 283 “Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Điều 284 “Tội điều khiển phương tiện hàng hải
vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Điều 286 “Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho chương trình của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử”; Điều 287; Điều 288; Điều 337; Điều 368; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 399, Điều 400 của Bộ luật hình sự
Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015, Tòa án quân sự khu vực và Tòa án nhân dân cấp huyện cóthẩm quyền xét xử các loại tội phạm có mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù, còn các tội phạm quy định tại điểm a, b,
c, d khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015 thì Tòa án quân sự khu vực và Tòa
án nhân dân cấp huyện không có thẩm quyền
So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có bổ sung thêm quy định của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực không có thẩm quyền xét xử đối với “Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (điểm
d khoản 1 Điều 268)
Trang 35 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không ….khu vực;
b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, … ở nước ngoài;
c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền … người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.”
Theo quy định mới của BLHS năm 2015, thì tất cả các trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 điều này sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân
sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp Tỉnh mà không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực, Tòa án nhân dân cấp huyện Vì vậy, khi thụ lý vụ án, nếu xét thấy các căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều này thì Tòa án quân
sự khu vực,Tòa án nhân dân cấp huyện phải trả hồ sơ vụ án cho VKS đã truy
tố theo quy định tại khoản 1 Điều 274 của Bộ luật này
Quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268, đã tháo gỡ được những vướng mắc trước đây theo quy định của BLTTHS năm 2003 và đã đưa ra các điều kiện để lấy vụ án của cấp huyện lên tỉnh xét xử trong quy định của điều luật
và không phụ thuộc vào hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày
12 tháng 01 năm 1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số quy định của
Trang 36BLTTHS năm 1988 nữa Trước đây, BLTTHS năm 2003 không có điều luật nào quy định cụ thể về các điều kiện để Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy các vụ
án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện để xét xử, mà hoàn toàn phụ thuộc vào đánh giá của Cơ quan điều tra và VKS Việc lấy hay không lấy các vụ án của cấp huyện lên tỉnh để xét xử hay không đều do hai cơ quan này quyết định
Tuy nhiên, việc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268 cũng sẽ có những vướng mắc và tranh chấp về thẩm quyền nếu không có văn bản hướng dẫn rõ như trường hợp nào được coi là “Cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương” Cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải chăng chỉ là Bí thư, Chủ tịch hay cả cấp phó của Huyện ủy, Ủy ban, các ban Đảng, hoặc các phòng ban của Ủy ban nhân dân…
b Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Việc phân chia, xác định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân sẽ căn cứ vào đối tượng phạm tội, theo đó:
Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
Tại BLTTHS năm 2003 chưa có điều luật cụ thể nêu rõ đối tượng nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Tuy nhiên trong Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm 2002, tại Điều 3 có quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và BLTTHS 2015 cũng quy định vấn đề này tại Điều 272,
cụ thể Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự quy định tại Điều 272 BLTTHS năm 2015 cụ thể như sau:
“1 Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:
a) Vụ án hình ….Quân đội nhân dân;
b) Vụ án hình sự mà bị cáo … Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ
2 Tòa án quân sự … thiết quân luật.”[29, tr.235]
Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân