1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt Theo Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam Hiện Nay Từ Thực Tiễn

85 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 778,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại nhiều thành phố, thị xã ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu vệ sinh và bảo vệ môi trường, không có những bước đi thích

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU THANH PHƯƠNG

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU THANH PHƯƠNG

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Kinh Tế

Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

HÀ NỘI, NĂM 2019

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHU DÂN CƯ 4

1.1 Khái niệm về chất thải 4

1.2 Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 6

1.3 Những tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường 12

1.4 Khái quát về quản lý chất thải 14

1.5 Pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 17

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 27

2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 27

2.2 Thực tiễn công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 55

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN 67

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 67

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 67

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 71

3.4 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn thị xã Quảng Yên 72

3.5 Một số kiến nghị khác 77

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng cùng với sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch kéo theo mức sống của con người ngày càng cao đã làm nảy sinh nhiều vấn đề và khó khăn hơn trong công tác bảo vệ môi trường

và sức khoẻ của con người Lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động sinh hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất Bên cạnh những mặt tích cực do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống con người thì việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, xả thải các chất độc hại vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường đã gây ra ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân khác nhau song nguyên nhân chủ yếu vẫn do hoạt động sống của con người Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người như; ăn, ở, tiêu dùng, mức sống của con người càng cao thì nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc gia tăng chất thải sinh hoạt Mặt khác, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt cho đến nay mới chỉ đạt 60- 80%, phần còn lại được thải tự do vào môi trường, ở một vài nơi chất thải sinh hoạt còn là nguyên nhân phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, gây bệnh cho con người, vật nuôi, cây trồng, nó còn làm mất đi cảnh quan văn hoá đô thị và nông thôn

Cách quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại nhiều thành phố, thị xã ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu vệ sinh và bảo vệ môi trường, không có những bước đi thích hợp, những quyết sách đúng đắn và những giải pháp đồng bộ, khoa học để quản lý chất thải trong quy hoạch, xây dựng và quản lý các đô thị sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất lượng môi trường, kéo theo những mối nguy hại về sức khoẻ cộng

Trang 6

Với mong muốn nghiên cứu kỹ những quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn khu dân cư, từ đó có thể đưa ra những giải pháp để phát huy hiệu quả các quy định của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường khu dân cư nói chung, quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng và nâng cao ý thức của người dân trong việc phân loại chất thải tại nguồn, xả thải đúng quy định thông qua thực tiễn trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, người viết lựa chọn

đề tài “Quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo pháp luật bảo vệ môi trường

Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Quảng Yên, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt nhằm mục tiêu phát triển bền vững

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải rắn sinh hoạt; nghiên cứu các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh, các vi phạm pháp luật để

từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói chung và tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy luân văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của quản lý chất thải mà chủ yếu đề cấp đến các vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Trang 7

Về không gian, luận văn đi sâu nghiên cứu thực tiễn quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo pháp luật trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử, tổng hợp, so sánh, đánh giá, phân tích, dẫn chiếu…để làm rõ các vấn đề mà đề tài đặt ra

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Bảng từ viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 Chương, cụ thể là:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn sinh

hoạt

- Chương 2: Quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý chất

thải rắn sinh hoạt và công tác quản lý trên địa bàn thị xã Quảng Yên

Trang 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI

RẮN SINH HOẠT KHU DÂN CƯ

1.1 Khái niệm về chất thải

Có nhiều khái niệm khác nhau về chất thải, Theo tác giả Lê Văn Khoa:

“chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường” Chất thải là các chất hoặc vật liệu

mà người chủ hay đối tượng thải ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị

thải bỏ [9, tr 20-21]

Còn theo tác giả Nguyễn Thị Anh Hoa, Chất thải là sản phẩm được sinh

ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các loại vật liệu khác [8, tr 3-5]

Theo Điều 2, khoản 2 Luật Bảo vệ môi trường 1993 định nghĩa: “Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc các hoạt động khác - chất thải có thể ở dạng khí, lỏng, rắn hoặc các dạng khác”

Theo Điều 3, khoản 10, Luật BVMT 2005 định nghĩa: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”

Theo Điều 3, khoản 12, Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Chất thải là

vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”

Định nghĩa về chất thải qua các thời kỳ về cơ bản không có sự thay đổi

về nguồn gốc phát thải, đó là “vật chất thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch

Trang 9

vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” Luật Bảo vệ môi trường 1993 nhấn mạnh

về các dạng tồn tại của chất thải, hay theo tác giả Nguyễn Thị Anh Hoa nêu khái niệm có đề cập đến các nguồn phát sinh chất thải rất cụ thể Riêng Luật BVMT 2014 không giới hạn dạng tồn tại của chất thải, không hạn chế ở các dạng rắn, lỏng, khí mà gồm tất cả những vật chất ở tất cả các dạng được thải

ra từ các hoạt động của con người

- Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác

- Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người từ các khu dân cư, làng mạc, trường học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng lượng và bảo vệ môi trường

Khoản 2,3, Điều 3, Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải rắn đã nêu rất rõ:

Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại

Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp

Theo Điều 3, khoản 13, Luật BVMT 2014 chất thải rắn nguy hại được hiểu

là: “Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một

trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác”

Trang 10

Các khái niệm trên đã được thay thế bởi các khái niệm quy định tại Điều

3, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24//4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu Cụ thể như sau:

“1 Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác

2 Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại

3 Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người.”

Như vậy, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24//4/2015 của Chính phủ

quy định về quản lý chất thải và phế liệu đã ghi nhận thêm một dạng tồn tại

nữa của chất thải rắn là dạng sệt (hay còn gọi là bùn thải)

1.2 Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt

1.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt được thải ra từ mọi hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng trong đời sống xã hội, trong đó lượng rác thải chiếm khối lượng lớn chủ yếu ở khu dân cư và các nhà máy, xí nghiệp [5, tr22-24]

Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu từ các hoạt động:

- Hộ gia đình (nhà ở riêng, khu trung cư, khu tập thể): Chất thải phát sinh

từ nguồn này bao gồm các loại như thực phẩm thừa, thùng carton, hộp nhựa,

vỏ chai, lọ thủy tinh, … và các chất độc hại được sử dụng trong gia đình như: dược phẩm bị thải bỏ, ăc quy

- Cơ quan, trường học, khu hành chính, chất thải rắn thường là giấy, túi nilong, vỏ lon, hộp nhựa,

- Nông nghiệp sử lý rác thải, thu hoạch vụ mùa, khu chăn nuôi: các chất thải rắn thường là vỏ bao, lọ thuốc bảo vệ thực vật …

Trang 11

- Du lịch giải trí như các khu công viên, tượng đài, chất thải rắn là rác cành cây, túi nilong và đồ hộp, …

- Bệnh viện cơ sở y tế chất thải rắn thường là túi nilong, kim tiêm, ống nhựa, thùng cartong, …

- Giao thông xây dựng, di rời, sửa chữa nhà cửa, đương xá, công trình,

… các chất thải rắn thường là gạch ngói vỡ vụn, bê tông, sắt thép, …

Hình 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 1.2.2 Phân loại chất thải rắn

1.2.2.1 Các loại chất thải rắn

* Chất thải rắn sinh hoạt

Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải sinh ra từ các hoạt động hàng ngày của con người…Theo phương diện khoa học có thể phân các loại chất thải rắn như sau:

- Chất thải thực phẩm bao gồm các loại thức ăn dư thừa, rau, quả được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ các gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể

Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH)

Khu công nghiệp, nhà máy

Bệnh viện,

cơ sở y tế

Du lịch giải trí

Trang 12

của trường học bệnh viện, ký túc xá, chợ Loại chất thải này mang bản chất

dễ bị phân huỷ sinh học, trong quá trình phân huỷ tạo ra mùi gây khó chịu, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm

- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người

và phân của các loại động vật khác

- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư

- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: Các vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá cây ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp [7, tr31-33]

- Các chất thải rắn từ đường phố như lá cây, củi, nilon, vỏ bao gói

* Chất thải rắn công nghiệp

Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn được phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp bao gồm:

- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện

- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất

Các phế thải trong quá trình công nghệ sản xuất

- Bao bì đóng gói sản phẩm

* Chất thải xây dựng

Chất thải xây dựng là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình Chất thải xây dựng bao gồm:

- Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng

- Đất đá do việc đảo móng trong xây dựng

- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo [4, tr18-25]

Trang 13

* Chất thải từ nhà máy xử lý

Chất thải từ nhà máy xử lý là chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước, nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp

* Chất thải nông nghiệp

Chất thải nông nghiệp bao gồm các vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như gốc rơm rạ, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón

và hoá chất bảo vệ thực vật

* Chất thải y tế nguy hại

Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa các chất có chứa một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người Theo quy chế quản lý chất thải y

tế, các loại chất thải y tế được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá và các trạm y tế

Các nguồn phát sinh chất thải bệnh viện bao gồm:

- Các loại bông băng, gạc, nẹp, dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật

- Các loại kim tiêm, ống tiêm

- Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ

- Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân

- Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thuỷ ngân, cadimi, asen, cianua

- Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện [6, tr28-31]

1.2.2.2 Lợi ích của phân loại chất thải

* Lợi ích kinh tế

Phân loại chất thải rắn mang lại nhiều lợi ích kinh tế Trước hết, nó tạo nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất phân compost Giảm khối lượng chất thải mang đi chôn lấp, diện tích đất phục vụ cho việc chôn lấp rác cũng sẽ

Trang 14

giảm đáng kể Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ giảm được gánh nặng chi phí trong việc xử lý nước rỉ rác cũng như xử lý mùi [10, tr45-53]

* Lợi ích môi trường

Ngoài lợi ích kinh tế có thể tính toán được, việc phân loại chất thải rắn tại nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường Khi giảm được khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm Nhờ đó, các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như: giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính do khí của bãi chôn lấp Ở các bãi chôn lấp, các khí chính gây nên hiệu ứng nhà kính gồm CH4, CO2, NH3 Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên Thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng, chúng ta có thể sử dụng các sản phẩm tái sinh tái chế này như một nguồn nguyên liệu thứ cấp [10, tr54-57]

* Lợi ích xã hội

Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường Để công tác phân loại này đạt được hiệu quả như mong đợi, các ngành các cấp phải triệt để thực hiện công tác tuyên truyền hướng dẫn cho cộng đồng Lâu dần, mỗi người dân sẽ hiểu được tầm quan trọng của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt cũng như tác động của nó đối với môi trường sống Lợi ích xã hội lớn nhất do hoạt động phân loại chất thải rắn tại nguồn mang lại chính là việc hình thành ở mỗi cá nhân nhận thức bảo vệ môi trường sống [10, tr.60]

1.2.2.3 Khó khăn trong phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt lạc hậu, chủ yếu là chôn lấp; việc phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt còn nhiều hạn chế; phí thu gom, xử lý rác thải thấp Vì vậy chưa có nhiều tổ chức, doanh nghiệp

Trang 15

mạnh dạn đầu tư trong lĩnh vực thu gom, xử lý rác thải, nhất là chất thải rắn sinh hoạt Người dân mới được hướng dẫn tập trung rác thải sinh hoạt để đội

vệ sinh môi trường các xã, phường thu gom vận chuyển đến nơi tập kết song chưa được hướng dẫn, tuyên truyền về phân loại rác, nhất là chất thải rắn sinh hoạt , gây khó khăn cho đơn vị thu gom trong quá trình phân loại, xử lý Thêm vào đó, hiện phương pháp chủ yếu để xử lý chất thải rắn sinh hoạt vẫn

là chôn lấp, không chỉ gây lãng phí cả về tài nguyên đất lẫn rác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước mặt, nước ngầm, đất và không khí ở khu vực bãi rác Chưa kể, rác thải sinh hoạt thường có độ ẩm cao, nên việc tìm kiếm công nghệ xử lý triệt để, phù hợp rất khó khăn Mặt khác, việc phân loại rác tại nguồn dù có được triển khai đại trà thì với công nghệ xử lý như hiện

nay, để đạt thành công cũng là điều rất khó [12, tr 15-17]

Lực lượng thu gom rác chưa đào tạo nhằm đáp ứng với yêu cầu của chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn.Ý thức của người dân chưa cao, đặc biệt thói quen vứt đổ rác bừa bãi của người dân, khả năng phân loại của người dân kém

tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố, …)

Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau:

- Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27 - 62,22%);

Trang 16

- Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg) [1, tr 29-32]

1.3 Những tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường

1.3.1 Làm ô nhiễm môi trường đất

Các chất hữu cơ còn phân hủy được trong môi trường đất tương đối nhanh chóng trong điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các khoang chất đơn giản như nước, khí cacbonic Nếu trong điều kiện yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH4, H2O, CO2 gây ngộ độc cho môi trường đất

Khi thải ra môi trường một lượng chất thải rắn sinh hoạt quá nhiều làm cho môi trường đất quá tải, không kịp làm sạch và tiêu hủy hết các chất thải

sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm, sự ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt trong đất [13, tr 47-48]

1.3.2 Làm ô nhiễm môi trường nước

Các loại chất thải rắn sinh hoạt nếu là rác hữu cơ, trong môi trường nước

sẽ được phân hủy một cách nhanh chóng Phần nổi trên mặt nước sẽ có quá trình khoáng hóa chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian, sau đó là những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước

Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí để tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH4,

H2S, H2O, CO2 Tất cả các chất trung gian đều gây mùi thối và là độc nhất Bên cạnh đó còn có bao nhiêu là vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước

Các loại chất thải rắn sinh hoạt phân hủy tạo ra các yếu tố độc hại ngấm dần vào trong đất và chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nguồn nước quan trọng này

Trang 17

Nếu rác thải là những chất kim loại thì nó gây nên hiện tượng ăn mòn môi trường nước Sau đó quá trình ôxy hóa có ôxy và không có ôxy xuất hiện gây nhiễm bẩn cho môi truờng nước Những loại rác thải độc như Hg, Pb hoặc các chất phóng xạ còn nguy hiểm hơn [14, tr 68-73]

1.3.3 Làm ô nhiễm môi trường không khí

Các loại chất thải rắn sinh hoạt thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí Cũng có những loại rác thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp Cũng có loại rác thải trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35oC và độ ẩm 70 - 80%) sẽ có quá trình biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật làm ô nhiễm môi trường không khí [14, tr 75-93]

1.3.4 Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt đối với sức khỏe con người

Tác hại của chất thải rắn sinh hoạt lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng là các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn

Tại các bãi rác, nếu không áp dụng theo đúng các quy định về kỹ thuật chôn lấp và xử lý thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh Chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh

Chất thải rắn sinh hoạt còn tồn đọng tại các khu vực và bãi rác không hợp

vệ sinh là nguyên nhân làm phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25% dân

số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25% [1, tr 35-38]

Trang 18

1.3.5 Chất thải rắn sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị

Chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm

Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ [6, tr 22]

1.4 Khái quát về quản lý chất thải

Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản

lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người

Tại khoản 13, Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 định nghĩa: Quản lý

chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải

Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về chất thải rắn sinh hoạt đô thị có vai trò kiểm soát các vấn đề

có liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt liên quan đến vấn đề về quản lý hành

chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật

1.4.1 Các hoạt động quản lý chất thải rắn

Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm nhiều bước và các nội dung công việc khác nhau, từ phân loại chất thải rắn, thu gom, lưu giữ, vận chuyển

và đem đi xử lý Tất cả các công đoạn này đòi hỏi phải được tiến hành một cách triệt để mới mang lại hiệu quả

Trang 19

Hoạt động quản lý chất thải rắn: Bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người

Phân loại chất thải rắn: Trước khi chất thải rắn sinh hoạt được xử lý thì cần thiết phải qua công tác phân loại Hoạt động phân loại chất thải rắn có thể được tiến hành tại hộ gia đình, các điểm trung chuyển và các bãi rác xử lý tập trung

Thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận Công tác thu gom xử lý chất thải cần được hợp lý hóa, cần xác định mức độ phục vụ đề ra như thu gom thường xuyên, phân tích kho chứa tạm thời và phương pháp thu gom đã

áp dụng cũng như các tuyến đường thu gom vận chuyển

Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý

Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ,trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng

Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn

Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh [16, tr 9 -10]

Trang 20

1.4.2 Nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Công tác quản lý chất thải rắn cần được thực hiện dựa trên những nguyên tắc cơ bản như: Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải chất thải rắn sinh hoạt phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái sử dụng, xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng Đặc biệt, Nhà nước khuyến khích việc xã hội hoá công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Việc quản lý chất thải phải tuân theo nguyên tắc chung về quản lý chất thải được quy định tại Điều 4, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu Cụ thể:

“1 Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tăng cường áp dụng các biện pháp

về tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; sử dụng tài nguyên, năng lượng tái tạo

và sản phẩm, nguyên liệu, năng lượng sạch thân thiện với môi trường; sản xuất sạch hơn; kiểm toán môi trường đối với chất thải và các biện pháp khác

để phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải

2 Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn nhằm mục đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi năng lượng

3 Việc đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải phải tuân thủ theo quy định pháp luật về xây dựng và pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan

4 Nước thải phải được thu gom, xử lý, tái sử dụng hoặc chuyển giao cho đơn vị có chức năng-phù hợp để tái sử dụng hoặc xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi thải ra môi trường

5 Khí thải phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường tại cơ sở phát sinh trước khi thải ra môi trường

6 Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải và thu hồi năng lượng từ chất thải

Trang 21

7 Tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải có trách nhiệm nộp phí, giá dịch vụ cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật

8 Khuyến khích áp dụng các công nghệ xử lý chất thải thân thiện với môi trường Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải phải tuân theo quy định của pháp luật.”

1.4.3 Các công cụ quản lý môi trường và chất thải rắn sinh hoạt

Công cụ quản lý môi trường và chất thải rắn sinh hoạt là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:

Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương

Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường

Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các đánh giá môi trường, giám sát môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào

1.5 Pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

1.5.1 Khái niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Biện pháp pháp lý là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong bảo vệ môi trường Nó đảm bảo cho các hành vi, các mối quan hệ trong xã hội phải tuân thủ pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường và

Trang 22

đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ của con người khi có quan hệ pháp luật môi trường

Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người

Khái niệm trên đây của luật môi trường cho thấy cần phải nhận thức

rõ một nguyên tắc cơ bản sau: Các quan hệ xã hội phát sinh thuộc phạm vi tác động của luật môi trường phải gắn với việc bảo vệ môi trường sống của con người Điều này có nghĩa là không phải bất cứ sự tác động nào của các chủ thể vào các yếu tố của môi trường cũng làm phát sinh quan hệ pháp luật môi trường Các vấn đề pháp luật môi trường chỉ nảy sinh khi nào sự tác động đó gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hạn đến môi trường Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá ở nước ta đang diễn

ra nhanh và mạnh Thông qua các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, sinh hoạt,

y tế,…con người thải ra môi trường một lượng lớn chất thải và ngày càng gia tăng Lượng chất thải rắn sinh hoạt có nguy cơ ảnh hưởng xấu với tốc độ rất nhanh đến cả môi trường sống lẫn sức khỏe cộng đồng Vì vậy, vấn đề về công cụ quản lý chất thải nói chung và chất thải rắn sinh hoạt nói riêng là một vấn đề tất yếu được đặt ra Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã chứng minh rằng, muốn quản lý tốt chất thải thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải có cơ sở pháp lý để quản lý [12, tr 18-23]

Tại Việt Nam, Nhà nước cũng đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các vần đề liên quan đến môi trường, trong đó có các quy định

về quản lý chất thải rắn sinh hoạt như: Luật bảo vệ môi trường , các văn bản hướng dẫn luật, nghị định, thông tư,… Pháp luật về quản lý chất thải (trong

Trang 23

đó có chất thải rắn sinh hoạt ) là một bộ phận không thể thiếu của pháp luật môi trường

Từ định nghĩa về quản lý chất thải rắn sinh hoạt ta có thể thấy:

- Đối tượng điều chỉnh của pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình phân loại, thu gom, vận chuyển

và xử lý chất thải rắn sinh hoạt …(đối với chất thải rắn sinh hoạt nguy hại còn

là các quan hệ phát sinh trong cả quá trình lưu giữ)

- Mục đích của pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt là phòng ngừa, giảm thiểu, hạn chế chất thải rắn sinh hoạt phát sinh vào môi trường nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng

Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa về pháp luật quản lý chất

thải rắn sinh hoạt sinh hoạt như sau: Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt

là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong các hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt như: phân loại, thu gom, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời (đối với chất thải rắn sinh hoạt nguy hại), vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe con người

1.5.2 Ý nghĩa và vai trò của pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường có vị trí đặc biệt quan trọng Môi trường bị hủy hoại chủ yếu do các hoạt động của con người trong quá trình phát triển của chính mình Do vậy, hơn bất kỳ biện pháp nào khác, việc tác động, điều chỉnh các hành vi của con người sẽ là biện pháp

có hiệu quả nhất trong bảo vệ môi trường

Ý nghĩa của pháp luật trong bảo vệ môi trường thể hiện qua những khía cạnh sau:

Trang 24

- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường Môi trường vừa là điều kiện sống, vừa là đối tượng của sự tác động hàng ngày của con người

Sự tác động của con người làm biến đổi rất nhiều tình trạng của môi trường theo chiều hướng tiêu cực, làm suy thoái các yếu tố thành phần môi trường Và trong một mối quan hệ hữu cơ giữa con người và môi trường, con người sẽ phải chịu những tác động bất lợi từ phía môi trường Chính

vì lý do đó, việc khai thác có định hướng, có tính đến sự cân bằng của môi sinh có tác dụng rất lớn trong bảo vệ môi trường

- Pháp luật quy định các chế tài hình sự, hành chính, kinh tế để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình với môi trường Việc đưa ra các tiêu chuẩn để định hướng các hành vi khai thác các thành phần môi trường có ý nghĩa quan trọng

- Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bảo

vệ môi trường Bảo vệ môi trường là một công việc khó khăn và phức tạp Nhiều yếu tố của môi trường có phạm vi rộng lớn, có cấu tạo phức tạp nên việc bảo vệ chúng đòi hỏi phải có hệ thống các tổ chức thích hợp Thông qua pháp luật, nhà nước tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức bảo vệ môi trường

- Pháp luật quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường

mà thông qua pháp luật, chúng trở thành những tiêu chuẩn pháp lý mà tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải tuân theo khi khai thác, sử dụng các thành phần của môi trường

- Pháp luật giải quyết các tranh chấp liên quan đến môi trường, sử dụng các thành phần môi trường và bảo vệ môi trường

Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt có vai trò hết sức quan trọng trong quản lý CTR sinh hoạt

Thứ nhất, pháp luật quản lí chất thải rắn sinh hoạt là công cụ phòng

ngừa, khắc phục ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường

Trang 25

Điều 3, khoản 8, Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa: Ô nhiễm môi

trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy

chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

Ô nhiễm môi trường là quá trình tích luỹ chất thải (vật lý, hoá học, sinh học) ở mức vượt quá khả năng đồng hoá của môi trường (hay vượt quá năng lực tải của môi trường) Vượt quá ngưỡng tải sẽ gây độc hại cho môi trường sống của con người và các động thực vật

Ô nhiễm môi trường có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu do các chất gây ô nhiễm Thông thường các chất gây ô nhiễm là các chất thải Vì vậy, việc phát thải các chất thải trong đó có chất thải rắn sinh hoạt là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, suy giảm chất lượng môi trường, đe doạ tính mạng và sức khoẻ con người và sinh vật

Điều 3, khoản 10, Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa: Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng

Sự cố môi trường có thể xảy ra do:

- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;

- Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ

sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;

- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;

Trang 26

- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ

Pháp luật quản lý CTR sinh hoạt với những quy định đối với các chủ thể phát sinh chất thải; quy định về thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý… chất thải góp phần hạn chế, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường

Thứ hai, pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt góp phần nâng cao

ý thức bảo vệ môi trường của người dân, đảm bảo cho họ quyền được sống trong môi trường trong lành

Quyền được đảm bảo về chất lượng môi trường sống là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia ghi nhận Trong tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất về môi trường năm 1972 tại Stockholm ghi nhận: “Con người có quyền cơ bản được sống trong môi trường có chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá

và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế

hệ hôm nay và mai sau”

Sau đó 20 năm tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai về môi trường, Tuyên bố RIO một lần nữa khẳng định lại quyền cơ bản này của con người trong lĩnh vực môi trường Đó là: “Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hoà với thiên nhiên Tuy nhiên, thực trạng ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó

có Việt Nam đang là một thách thức không nhỏ cho việc đảm bảo quyền cơ bản này của con người [2,tr 8-16]

Tuy nhiên, trên thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế kéo theo sự đô thị hoá ngày càng tăng, sự gia tăng dân số, thói quen sinh hoạt hàng ngày của con người theo hướng sử dụng ngày càng

Trang 27

nhiều các sản phẩm bao gói… đang xâm phạm đến quyền được sống trong môi trường trong lành của con người Vì vậy, pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt bằng những quy định về quy tắc xử sự mà các chủ thể phải thực hiện khi tiến hành những hoạt động có liên quan đến phát thải chất thải vào môi trường với các chế tài cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện; quy định cụ thể thiết chế thực thi quản lý chất thải rắn sinh hoạt … góp phần quan trong để đảm bảo quyền này cho con người

Thứ ba, pháp luật quản lí chất thải rắn sinh hoạt tạo điều kiện thuận lợi

cho sự hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách pháp luật quan trọng về việc hình thành và phát triển công nghiệp môi trường Theo

quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 thì “Công nghiệp

môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường” Tại Việt Nam, công

nghiệp môi trường bước đầu được phân nhóm thành bảy lĩnh vực hoạt động hay nhóm sản phẩm chính, đó là: xử lí chất thải; tái chế chất thải; kiểm soát

và phòng ngừa ô nhiễm; dịch vụ tư vấn, xây lắp và hỗ trợ kĩ thuật khác; sản xuất công nghệ thiết bị bảo vệ môi trường, sản phẩm thân thiện môi trường; khôi phục tài nguyên và làm sạch môi trường; hoạt động hiệp hội và đoàn thể,

tổ chức phi chính phủ Thông qua việc quy định những điều kiện hoạt động đối với các cơ sở xử lí chất thải nguy hại về cơ sở vật chất, trình độ công nghệ… pháp luật quản lí chất thải không chỉ giải quyết tình trạng gây ô nhiễm môi trường từ chính hoạt động xử lí chất thải mà còn thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ môi trường này theo hướng hiện đại hơn về công nghệ, an toàn hơn trong hoạt động từ đó đạt hiệu quả cao hơn về kinh tế Điều đó cũng

có nghĩa là pháp luật quản lí chất thải nguy hại sẽ tạo hành lang pháp lí thuận

Trang 28

lợi cho sự phát triển của các dịch vụ xử lí và tái chế chất thải, một trong những lĩnh vực hoạt động khá quan trọng của ngành công nghiệp môi trường

Thứ tư, pháp luật quản lí chất thải rắn sinh hoạt góp phần thay đổi và

nâng cao nhận thức của cộng đồng theo hướng có lợi cho bảo vệ môi trường

Pháp luật quản lí chất thải rắn sinh hoạt định hướng cho cộng đồng về cách xử sự có lợi cho môi trường khi tiến hành các hoạt động có liên quan đến chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại Sự định hướng này góp nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi trường Mặt khác, pháp luật quản lí chất thải nguy hại còn có các quy định buộc con người không được thực hiện những hành vi gây hại cho môi trường trong quá trình phát sinh hay xử lí, tiêu huỷ chất thải nguy hại Việc phải tuân thủ những quy định này dần dần làm thay đổi những thói quen xấu của con người đối với môi trường Ngoài ra, pháp luật quản lí chất thải góp phần nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong việc sử dụng những sản phẩm thân thiện với môi trường, an toàn cho sức khoẻ con người

Một số giải pháp để phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt cụ thể:

- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của chất lượng môi trường đối với sức khỏe và ảnh hưởng của nó đến chất lượng cuộc sống

- Tổ chức các hoạt động để cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý môi trường nói chung và quản lý chất lượng môi trường nói riêng Ví dụ: Tham gia đóng góp thực hiện các văn bản về bảo vệ, quản lý chất lượng môi trường; tham gia đóng góp các dự án, các đánh giá tác động môi trường, các dự án quy hoạch khu dân cư, cụm công nghiệp, các văn bản về quản lý chất thải rắn

- Công khai thông tin, các số liệu liên quan đến tình hình ô nhiễm môi trường, ô nhiễm do chất thải rắn sinh hoạt và các nguồn chính gây ô nhiễm trên các phương tiện thông tin đại chúng để cộng đồng có nhận thức đúng về

Trang 29

ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt và nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường

1.5.3 Các yếu tố tác động tới pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Thứ nhất, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước

Hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt liên tục được điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới Xây dựng Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn sinh hoạt là kết hợp các phương pháp theo tiếp cận tổng thể để quản lý chất thải trong toàn bộ vòng đời chất thải từ khi phát sinh đến xử lý cuối cùng; được thực hiện liên vùng, liên ngành, đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường

Thứ hai, ý thức của người dân

Trình độ học vấn của người dân có cơ hội học tập, tiếp cận với nhiều kiến thức hơn về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ đó có suy nghĩ đúng hơn và thực hiện các biện pháp xả, thải chất thải rắn sinh hoạt hợp lý Điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến nhận thức của người dân về vấn đề thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt, cùng với đó là phong tục, tập quán, giới tính, tuổi tác cũng ảnh hưởng nhiều đến nhận thức của người dân về quản lý chất thải rắn sinh hoạt Đồng thời nhu cầu của người dân được hưởng không khí sạch, thức ăn, nước uống và chỗ ở, chỗ sinh hoạt đảm bảo cuộc sống của cá nhân và gia đình, và yếu tố tâm lý chỉ cần sạch nhà mình cũng chi phối nhiều đến nhận thức của người dân Đặc biệt là người dân ở khu vực nông thôn Thứ ba, lợi ích kinh tế của doanh nghiệp

Công tác đầu tư tài chính cũng được tăng cường, Nhà nước cũng khuyến khích mọi tổ chức trong và ngoài nước tham gia đầu tư những dự án lớn sử dụng nguồn vốn ODA, nguồn vốn ngân sách hay nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thực hiện các dự án phân loại rác từ nguồn, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt với công nghệ hiện đại xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù

Trang 30

hợp với điều kiện Việt Nam nhằm tái sử dụng, tái chế, xử lý thu hồi năng lượng

Huy động mọi nguồn vốn đầu tư, tăng cường xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải rắn sinh hoạt , giảm dần hỗ trợ tài chính

từ ngân sách nhà nước; tiến tới thực hiện cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt phải trả toàn bộ chi phí cho dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý; hộ gia đình, cá nhân phải trả toàn bộ chi phí thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt sinh hoạt và một phần chi phí xử lý

1.5.4 Nội dung chủ yêu của pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Từ những phân tích ở trên có thể xác định nội dung chủ yếu của pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:

Thứ nhất, các quy định đối với chủ thể phát sinh chất thải rắn sinh hoạt Thứ hai, Các quy định về thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt thông thường

Thứ ba, Các quy định về tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý chất thải rắn trong sinh hoạt

Thứ tư, Các quy định về cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Thứ năm, Các quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Việc quản lý chất thải nói chung được quy định tại Chương IX, Luật Bảo

vệ môi trường năm 2014, từ Điều 85 đến Điều 98, trong đó quy định cả việc quản lý chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại Quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt được cụ thể tại chương III, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu Theo đó, quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt; chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt; Trách nhiệm của chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt

2.1.1 Quy định đối với chủ thể phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

Chủ thể phát sinh chất thải rắn sinh hoạt là các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có những hoạt động làm phát sinh chất thải trong sinh hoạt hàng ngày (gọi là chủ nguồn thải) Đây là đối tượng trực tiếp và đầu tiên phải chịu trách nhiệm trong quá trình kiểm soát chất thải Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định trách nhiệm và đưa ra những yêu cầu đối với chủ thể phát sinh chất thải rắn theo từng khu vực, trong từng hoạt động Nhưng nhìn chung, chủ thể phát sinh chất thải đều phải có trách nhiệm giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải Chủ thể phát sinh chất thải không nhất thiết phải thực hiện tất cả các công đoạn trong quá trình quản lý chất thải mà có thể ủy quyền hoặc ký hợp động với các chủ thể khác

để thực hiện những công việc vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải Mục đích

Trang 32

hạn chế độ độc hại của chất thải Thực tế, chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt hầu hết là chất thải rắn thông thường, bản thân nó không chứa những yếu

tố độc hại nhưng trong quá trình quản lý không có hướng xử lý phù hợp cũng

có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường do quá trình phân hủy (đặc biệt là chất thải hữu cơ) của chất thải Vì vậy, trong hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt các chủ thể đều phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình Chủ nguồn thải trong khu dân cư gồm: các hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp, trường học

Tuy nhiên, quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 và Nghị định 38/2015/NĐ-CP không đề cập đến trách nhiệm giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt của chủ thể là hộ gia đình và cá nhân Khoản 2, Điều 86, Luật Bảo

vệ môi trường 2014, quy định: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải hoặc chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng

Theo Khoản 1, Điều 16 Nghị định 38/2015/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt: Thực hiện việc phân loại, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt theo quy định tại Điều 15 Nghị định này

Như vậy, theo quy định hiện hành, trách nhiệm giảm thiểu chất thải chỉ thuộc về các chủ thể có hoạt động kinh doanh (chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) Nhưng thực tế đối tượng làm phát sinh chất thải rắn trong sinh hoạt rất đa dạng và việc quy định trách nhiệm của các đối tượng này trong giảm thiểu chất thải đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng Đây cũng là nội dung cần

bổ sung vào quy định pháp luật hiện hành

Pháp luật bảo vệ môi trường hiện hành, quy định trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải rắn sinh hoạt như sau:

Trang 33

Thứ nhất, Chủ nguồn thải có trách nhiệm giảm thiểu lượng chất thải

phát sinh vào môi trường

Trong những năm qua, ô nhiễm chất thải rắn là một trong những vấn đề môi trường trọng điểm Trên phạm vi toàn quốc, chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là chất thải rắn sinh hoạt đô thị, 17% chất thải rắn sinh hoạt từ hoạt động sản xuất công nghiệp; còn lại là chất thải rắn sinh hoạt nông thôn, làng nghề và y tế Đối với khu vực đô thị, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 tiếp tục gia tăng và có xu hướng tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2006 - 2010 [2,tr.8-16]

Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và đô thị có thành phần khác nhau Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, khu chợ và khu kinh doanh ở nông thôn chưa một tỷ lệ lớn các chất hữu

cơ dễ phân hủy (chiếm 60 -75%) Ở các vùng đô thị, chất thải có thành phần các chất hữu cơ dễ phân hủy thấp hơn (chỉ chiếm khoảng 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt) Sự thay đổi về mô hình tiêu thụ và sản phẩm là nguyên nhân dẫn đến tăng tỷ lệ phát sinh chất thải nguy hại và chất thải không phân hủy được như nhựa, kim loại và thủy tinh [3, tr 27-36]

Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thị chiếm đến hơn 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước mỗi năm Đến năm 2015, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày Trong khi năm 2014, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Riêng tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn từ 2011 - 2015 đạt trung bình 12% mỗi năm

Trang 34

và về xu hướng, mức độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị tiếp tục tăng trong thời gian tới [2,tr.8-16]

Chất thải rắn đang là vấn đề bức xúc ở nước ta hiện nay Mỗi năm có khoảng hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh trên cả nước và theo dự báo thì tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong những thập kỷ tới đây, đặc biệt ở các đô thị lớn, khu du lịch [9,tr.34-38]

Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2015, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 ÷ 16 % mỗi năm Tại hầu hết các đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm khoảng

60 - 70% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%)

Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh vào khoảng 8.700

- 8.900 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn sinh hoạt trung bình từ 6.200 - 6.700 tấn/ngày Ước tính tỷ lệ gia tăng khoảng 8 - 10%/năm Một số loại chất thải rắn sinh hoạt đô thị như: rác khu thương mại, xà bần, rác công nghiệp, trước đây ít thì những năm gần đây mức độ tăng (khối lượng và thành phần chất thải) ngày càng cao Tỷ trọng nguồn phát sinh cụ thể như sau:

+ Chất thải từ hộ dân chiếm tỉ trọng 57,91% tổng lượng chất thải

+ Chất thải rắn đường phố chiếm tỉ trọng 14,29% tổng số

+ Chất thải rắn từ công sở chiếm tỉ trọng 2,8% tổng số

+ Chất thải từ chợ chiếm tỉ trọng 13% tổng số

+ Chất thải thương nghiệp chiếm tỉ trọng 12% tổng lượng chất thải Thành phần chủ yếu trong chất thải rắn sinh hoạt đô thị là chất hữu cơ (rác thực phẩm), chiếm tỷ lệ khá cao từ 60 - 75% / tổng khối lượng chất thải

Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị bình quân đầu người tăng theo mức sống Theo thống kê năm 2003, lượng chất thải rắn sinh hoạt trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và 0,4-0,5 kg/người/ngày ở các

Trang 35

đô thị nhỏ, thị trấn thị tứ Đến năm 2008 và đầu 2009, tỷ lệ này ở các đô thị lớn đã tăng lên tương ứng là 0,9-1,3 kg/người/ngày [11, tr.5-9]

Trong các vùng trọng điểm, vùng Đông Nam Bộ có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất tới 6.713 tấn/ngày hay 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 4.441 tấn/ngày hay 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%).[11, tr.5-9]

Ngoài ra, tình trạng chất thải hỗn hợp bao gồm cả chất thải khó phân hủy

và chất thải nguy hại phát sinh trong sinh hoạt hàng ngày của con người đang ở mức báo động Các thành phần chất thải gồm: Chất thải hữu cơ, giấy, vải, nhựa, cao su, da, gỗ, lông (tóc), lông (gia cầm), kim loại, thủy tinh, chất trơ,… Dẫn đến việc khó kiểm soát và gây khó khăn trong công tác xử lý chất thải

Như vậy, để hạn chế và kiểm soát tốt lượng chất thải rắn phát sinh ra môi trường thì vai trò của chủ nguồn thải là hết sức quan trọng Chủ nguồn thải phải chủ động kiểm soát lượng và loại chất thải vào môi trường và phải bằng mọi cách giảm thiểu chất thải Đối với chủ nguồn thải là đơn vị sản xuất kinh doanh, họ phải cải tiến công nghệ sản xuất, sử dụng nguyên liệu có thể tái chế Đối với chủ nguồn thải là các hộ gia đình, cá nhân cần phải hạn chế sử dụng các sản phẩm khó tiêu hủy như túi nilon, thủy tinh và các loại sản phẩm khó tiêu hủy khác

Việc tự giảm thiểu lượng chất thải phát sinh của chủ nguồn thải sẽ giúp giảm chi phí cho các hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải Theo tính toán, nếu giảm được 10% lượng chất thải phát sinh như hiện nay sẽ tiết kiệm được

Trang 36

200 tỷ đồng cho hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt và hơn 139 tỷ đồng cho việc xử lý rác thải y tế

Thứ hai, Chủ nguồn thải có trách nhiệm phân loại chất thải rắn tại nguồn

Công tác phân loại chất thải rắn tại nguồn có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải Việc phân loại rác nếu được quan tâm và thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thu gom, vận chuyển và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp đối với từng loại chất thải, hạn chế được mức

độ ảnh hưởng của chất thải đối với môi trường

Để quản lý tốt nguồn phát sinh trên cả nước, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường Theo các chuyên gia môi trường, nếu thực hiện phân loại rác tại nguồn ( chỉ có rác vô cơ mới phải đưa đi chôn lấp) thì sẽ giảm ít nhất 50% khối lượng và các vấn đề môi trường cũng giảm nhiều Ở Hà Nội, từ tháng 3/2007, thành phố đã tiến hành triển khai dự án phân loại rác tại nguồn áp dụng cho 4 quận: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình và Đông Đa Việc phân loại rác tại nguồn ở thành phố Hà Nội đem lại nhiều lợi ích:

+ Tổng giá trị thu được từ phế liệu có thể tới 800 triệu đồng/ ngày;

+ Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nước;

+ Tiết kiệm năng lượng;

+ Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhờ giảm thiểu lượng khí mêtan (CH4 ) và CO2 phát sinh từ các bãi chôn lấp, vốn là những khí gây hiệu ứng nhà kính;

+ Giảm tối đa khối lượng nước rác rò rỉ,đồng thời nước rò rỉ được xử lý

dễ dàng hơn;

+ Giảm gánh nặng ngân sách chi cho công tác vệ sinh đường phố, vận chuyển và xử lý Điều quan trọng hơn, việc" phân loại rác tại nguồn"

Trang 37

thì những công nhân vệ sinh môi trường không còn là những người làm công việc thu dọn vệ sinh thầm lặng mà chính họ là những người hướng dẫn gần gũi nhất với người dân về cách thức phân loại rác tại nguồn [11, tr.5-9]

Tại một số địa phương trên cả nước, đầu năm 2016 đã triển khai Đề án phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn Để thực hiện có hiệu quả Đề án,

Ủy ban nhân dân các thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, từng bước hình thành thói quen trong việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn ở các tổ chức, cơ quan, trường học, hộ gia đình, cá nhân, các khu vực công cộng và cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn Bước đầu việc triển khai Đề án đã nhận được

sự đồng tình ủng hộ của đại đa số người dân, rác thải được phân loại tại nguồn

Rác thải được phân loại đựng vào 2 thùng rác vô cơ và thùng rác hữu cơ Nhóm chất thải hữu cơ bao gồm: Rác thải nông lâm sản, thực phẩm như rau,

củ, quả, thức ăn thừa, vỏ trứng, bã trà, bã cà phê, hoa tươi, thực vật thải bỏ, giấy ăn, giấy vệ sinh,… Loại chất thải này được lưu chứa trong thùng có ký hiệu màu xanh Chất thải vô cơ là những chất không có khả năng tự phân hủy bao gồm: Giấy loại và các sản phẩm từ giấy; sắt, thép và các sản phẩm từ kim loại; đồ dùng nhà bếp; vỏ lon, vỏ hộp, các sản phẩm từ cao su; thuỷ tinh, sành, sứ… Đối với chất thải phát sinh trong quá trình thi công các công trình xây dựng như đất đá thải, vật liệu xây dựng,… phải đổ đúng nơi quy định Kết quả, nhiều phường, xã trên địa bàn các thành phố đã thực hiện tốt công tác phân loại; nhiều khu dân cư, tổ dân phố đã có trên 90% hộ gia đình thực hiện tốt Tuy nhiên, vẫn có một số nơi trên địa bàn thành phố tỷ lệ phân loại rác tại nguồn còn thấp [3, tr.30-32]

Khi phân loại chất thải rắn, Chủ nguồn thải phải thực hiện các quy

Trang 38

thải và phế liệu Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt được phân loại thành 03 nhóm:

- Nhóm hữu cơ dễ phân hủy (nhóm thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động vật);

- Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (nhóm giấy, nhựa, kim loại, cao

su, ni lông, thủy tinh);

- Nhóm còn lại: Các sản phẩm tiêu dùng chứa các hóa chất độc hại (pin,

ắc quy, dầu mỡ bôi trơn ); Các loại chất thải rắn khác không thể tái sử dụng Chất thải rắn sinh hoạt sau khi được phân loại được lưu giữ trong các bao bì hoặc thiết bị lưu chứa phù hợp; Việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt phải được quản lý, giám sát, tuyên truyền và vận động tổ chức, cá nhân, hộ gia đình chấp hành theo quy định, bảo đảm yêu cầu thuận lợi cho thu gom, vận chuyển và xử lý

Thứ ba, chủ nguồn thải có trách nhiệm nộp phí vệ sinh môi trường

Việc bảo vệ môi trường được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như khắc phục sự cố môi trường

Bên cạnh các biện pháp hành chính, các quốc gia đang phổ biến sử dụng các biện pháp kinh tế để bảo vệ môi trường, bao gồm hệ thống thuế, phí và lệ phí môi trường và một số công cụ khác (hệ thống đặt cọc – hoàn trả, ký quỹ môi trường, côta ô nhiễm…

Khoản 2,3, Điều 16, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định trách nhiệm của hộ gia đình, cá nhân, chủ nguồn thải chất thải rắn sinh hoạt:

- Hộ gia đình, cá nhân phải nộp phí vệ sinh cho thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định

Trang 39

- Chủ nguồn thải chất thải rắn sinh hoạt có trách nhiệm ký hợp đồng dịch

vụ thu gom, vận chuyển và xử lý; thanh toán toàn bộ chi phí theo hợp đồng dịch vụ

Theo đó các hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm nộp phí vệ sinh cho việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt

Phí vệ sinh môi trường là một trong những loại phí môi trường, là khoản thu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đầu tư cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trong phạm vi địa phương Mức phí do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định, do vậy có thể khác nhau giữa các địa phương Các hộ gia đình, cá nhân đều phải có trách nhiệm nộp phí vệ sinh này

2.1.2 Quy định của pháp luật về thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt

Hiện nay, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại khu vực nội thành của các

đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa [11, tr.5-9]

Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt do Công ty môi trường đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện Bên cạnh đó, trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị [11, tr.5-9]

Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, tỷ lệ thu gom vẫn chưa đạt yêu cầu Tuy tỷ lệ

Trang 40

thu gom ở các đô thị tăng từ 72% năm 2004 lên 80% - 82% năm 2008 và đạt khoảng 83 - 85% năm 2010 nhưng vẫn còn khoảng 15 - 17% chất thải rắn sinh hoạt đô thị bị thải bỏ bừa bãi gây ô nhiễm môi trường [3, tr 27-28] Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40 - 55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt do Công ty Môi trường đô thị, Công ty Công trình đô thị hoặc các đơn vị tư nhân thực hiện Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phần lớn là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom thỏa thuận với người dân, đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương [19, tr1]

Theo Khoản 1, Điều 96, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Chất thải rắn thông thường phải được thu gom, lưu giữ và vận chuyển đến nơi quy định bằng phương tiện, thiết bị chuyên dụng

Theo đó, chủ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phải thực hiện các quy định tại Điều 18 Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản

lý chất thải và phế liệu:

- Bảo đảm đủ yêu cầu về nhân lực, phương tiện và thiết bị chuyên dụng

để thu gom, vận chuyển toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt tại những địa điểm đã quy định

- Thông báo rộng rãi về thời gian, địa điểm, tần suất và tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các điểm dân cư

Ngày đăng: 28/03/2020, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w