1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIEU LUAN KTVM -Xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất ở Việt Nam

17 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 74,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong năm những năm gần đây, công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bám sát tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, kiên định với các mục tiêu lớn của nền kinh tế, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả. Trên cơ sở các nhiệm vụ, mục tiêu xác định, NHNN đã tiếp tục nỗ lực mạnh mẽ trong công tác điều hành, đảm bảo các chính sách, diễn biến tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, đồng thời đề cao tính khoa học trong điều hành. Nền kinh tế đã chứng kiến những nỗ lực mạnh mẽ của NHNN trong công tác điều hành CSTT hướng tới mục tiêu lớn như kiểm soát lạm phát, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Có thể thấy, CSTT ngày càng chứng tỏ được vai trò then chốt trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần quan trọng trong việc tăng cường tính ổn định của nền kinh tế. Vậy CSTT đã tác động trực tiếp đến khối lượng tiền tệ và lãi suất trong nền kinh tế như thế nào? Để tìm hiểu rõ vấn đề này tôi đã chọn chủ đề : “Xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất ở Việt Nam” làm đề tài chuyên đề cá nhân của mình. Chuyên đề gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề cơ bản về khối lượng tiền tệ và lãi suất Chương II: Xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất ở Việt Nam Chương III: Một số đề xuất cho xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất trong thời gian tới

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong năm những năm gần đây, công tác điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã bám sát tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, kiên định với các mục tiêu lớn của nền kinh tế, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả Trên cơ sở các nhiệm

vụ, mục tiêu xác định, NHNN đã tiếp tục nỗ lực mạnh mẽ trong công tác điều hành, đảm bảo các chính sách, diễn biến tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, đồng thời đề cao tính khoa học trong điều hành Nền kinh tế đã chứng kiến những nỗ lực mạnh mẽ của NHNN trong công tác điều hành CSTT hướng tới mục tiêu lớn như kiểm soát lạm phát, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu Có thể thấy, CSTT ngày càng chứng tỏ được vai trò then chốt trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô, góp phần quan trọng trong việc tăng cường tính ổn định của nền kinh tế Vậy CSTT đã tác động trực tiếp đến khối lượng tiền tệ và lãi suất trong nền kinh tế như thế nào? Để tìm hiểu rõ vấn đề này tôi đã chọn

chủ đề : “Xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất ở Việt Nam” làm đề tài chuyên đề

cá nhân của mình

Chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về khối lượng tiền tệ và lãi suất

Chương II: Xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất ở Việt Nam

Chương III: Một số đề xuất cho xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ và lãi suất trong thời gian tới

Dù có nhiều cố gắng nhưng nội dung chuyên đề không tránh khỏi còn nhiều khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 06 năm 2014

Trang 2

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỐI LƯỢNG TIỀN TỆ VÀ LÃI SUẤT

1 Các khái niệm cơ bản:

a Tiền tệ:

Tiền tệ là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa, dịch

vụ hoặc để hoàn trả các khoản nợ Tiền đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế vĩ mô Tiền là một loại trữ lượng tài sản được sử dụng để thực hiện giao dịch

Tiền có ba chức năng chính: trung gian trao đổi, dự trữ giá trị, đơn vị tính toán

b Khối lượng tiền tệ:

Các phép đo khối tiền tệ được đưa ra tuỳ thuộc vào các phương tiện được hệ thống tài chính cung cấp và thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp, nhưng nhìn chung các khối tiền tệ trong lưu thông bao gồm: Khối tiền giao dịch (M1) gồm những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán chi trả về hàng hoá dịch vụ, bộ phận này có tính lỏng cao nhất:

+ Tiền mặt trong lưu hành: Bộ phận tiền mặt (giấy bạc ngân hàng và tiền đúc) nằm ngoài

hệ thống ngân hàng

+ Tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng

Khối tiền mở rộng (M2) gồm:

+ M1

+ Tiền gửi có kỳ hạn

Bộ phận tiền gửi có kỳ hạn mặc dù không trực tiếp sử dụng làm phương tiện trao đổi, nhưng chúng cũng có thể được chuyển đổi ra tiền giao dịch một cách nhanh chóng và với phí tổn thấp Bộ phận này còn có thể được chia ra theo kỳ hạn hoặc số lượng

Khối tiền tài sản (M3) bao gồm:

+ M2

+ Trái khoán có mức lỏng cao như: Hối phiếu, tín phiếu kho bạc… Bộ phận trái khoán này là tài sản chính nhưng vẫn có thể được chuyển đổi ra tiền giao dịch tương đối nhanh chóng Mặc dù số liệu về các khối tiền tệ được công bố và sử dụng vào những mục đích nhất định, nhưng việc đưa ra các phép đo lượng tiền chỉ có ý nghĩa khi nó vừa tập hợp được các phương tiện trao đổi trong nền kinh tế, vừa tạo cơ sở dự báo lạm phát và chu kỳ kinh doanh Vì vậy,

Trang 3

hiện nay một số nước đang nghiên cứu để đưa ra phép đo “tổng lượng tiền có tỷ trọng” trong đó mỗi loại tài sản có một tỷ trọng khác nhau tuỳ theo độ “lỏng” của nó khi cộng lại với nhau Việc lựa chọn phép đo nào phụ thuộc vào nhận thức và khả năng của NHTƯ trong điều hành chính sách thực tế Tuy nhiên, sử dụng trực tiếp trong các giao dịch làm phương tiện trao đổi chủ yếu là khối tiền M1, vì vậy định nghĩa M1 được sử dụng thường xuyên khi nói tới cung-cầu tiền tệ

c Lãi suất:

Lãi suất (interest rate) là giá của tiền theo thời gian, hay là giá của việc giữ tiền Lãi suất cao khiến việc gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm hấp dẫn hơn, việc giữ tiền mặt trở nên đắt hơn, làm tiêu dùng chậm lại Lãi suất cao cũng khiến việc đầu tư là đắt đỏ hơn, nên làm đầu

tư chậm lại

2 Ảnh hưởng của khối lượng tiền tệ và lãi suất đến nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ:

a Ảnh hưởng của khối lượng tiền tệ:

Ngân hàng trung ương có thể tăng cung tiền bằng việc in thêm tiền Nhưng các ngân hàng và tổ chức trung gian tài chính cũng có khả năng “tạo ra tiền”, thông qua hoạt động vay và cho vay Việc tạo ra tiền này được diễn ra theo cấp số nhân, trong đó số nhân tiền phụ thuộc vào tỷ lệ tiền trong lưu thông so với tiền gửi, và tỷ lệ dự trữ bắt buộc Lưu ý rằng các ngân hàng với hệ thống dự trữ một phần và cho vay một phần có thể “tạo ra” tiền, nhưng không “tạo ra” của cải Khi một ngân hàng cho vay một phần từ dự trữ của mình, ngân hàng

đó đã làm cho người vay có khả năng dùng số tiền đó để mua bán hàng hóa, và vì thế, cung tiền tăng lên Người vay tuy mua được hàng hóa nhưng đã mang nợ của ngân hàng, và vì thế,

họ không giàu thêm Nói cách khác, việc tạo ra tiền từ hệ thống ngân hàng chỉ làm tăng tính thanh khoản của nền kinh tế, chứ không tạo ra của cải cho nền kinh tế Tiền có giá trị “danh nghĩa”, hàng hóa và dịch vụ có giá trị “thực”

Ngân hàng trung ương kiểm soát cơ sở tiền (Money base, MB), và qua đó kiểm soát cung tiền M (Money supply) Cơ sở tiền MB = C + R (tài sản nợ) = FR + Debts (tài sản có)

của ngân hàng trung ương, trong đó FR (foreign reserves) là dự trữ chính thức và Debts là

Trang 4

các khoản nợ mà ngân hàng trung ương cho chính phủ vay (trái phiếu) và các khoản tín dụng trong nước

Chính sách tiền tệ được thực hiện bởi ngân hàng trung ương thông qua những thay đổi

về cung tiền Các ngân hàng trung ương có 3 công cụ chính sách tiền tệ chủ yếu:

- Yêu cầu dự trữ, thông qua quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc Nếu ngân hàng trung ương tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cung tiền M sẽ giảm

- Lãi suất chính sách, là lãi suất mà các ngân hàng trung ương có thể kiểm soát trực

tiếp

- Nghiệp vụ thị trường mở: ngân hàng trung ương mua hay bán trái phiếu chính phủ trên thị trường mở Khi mua trái phiếu (bơm thêm tiền/thanh khoản ra): MB tăng làm cung tiền tăng, khi bán trái phiếu (hút bớt tiền/thanh khoản về): MB giảm làm cung tiền giảm

Chính sách tiền tệ mở rộng hướng về mục tiêu tăng tổng cầu, nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi suy thoái, bằng cách tăng cung tiền thông qua việc giảm lãi suất Chính sách tiền tệ thắt chặt hướng về mục tiêu giảm tổng cầu, nhằm đưa nền kinh tế ra khỏi trạng thái phát triển quá nóng với lạm phát, thông qua việc giảm cung tiền hay tăng lãi suất Xem xét một mô hình

về cung tiền, cầu tiền, và mức giá cân bằng Cung tiền (M = C + D) được gọi là cung tiền danh nghĩa, và M/P là cung tiền thực Cung tiền do ngân hàng trung ương kiểm soát Cầu tiền

là nhu cầu giữ tiền để thực hiện các giao dịch Một hàm cầu tiền đơn giản được thể hiện bởi

Md = kPY, trong đó Md là cầu tiền (Money demand), và k là hệ số thể hiện khối lượng giao dịch (k=1/V, được xác định trước và không thay đổi) Cầu tiền tỷ lệ với khối lượng giao dịch, và tỷ lệ với thu nhập Khi có nhiều thu nhập, người ta có nhu cầu mua nhiều hàng hóa hơn Mức giá cân bằng là giá trị mà ở đó cung tiền bằng cầu tiền: M = kPY, có nghĩa là PY (GDP danh nghĩa) tăng tỷ lệ với M (cung tiền) Đây là ý nghĩa của thuyết số lượng tiền, phát biểu rằng nếu Y là cố định, P sẽ thay đổi tỷ lệ với M Hay nói cách khác, %ΔM = %ΔPΔM = %ΔPM = %ΔM = %ΔPΔM = %ΔPP nếu Y không thay đổi

b Ảnh hưởng của lãi suất:

Giả sử trong điều kiện của một nền kinh tế bình thường tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm

là hợp lý để tăng tỷ lệ tiết kiệm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì biện pháp hiệu quả là tăng lãi suất huy động vốn Khi lãi suất vốn tăng nên thì trước hết các hộ gia đình phải xem

Trang 5

xét các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi

để tăng thêm khoản tiết kiệm trong tổng thu nhập Sau từ khoản tiết kiệm này họ sẽ hướng đầu tư gửi vào ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào thị trường chứng khoán khi thấy

có lợi hơn

Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Lãi suất phải trả cho khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp Do vậy, lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Ngược lại, lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đầu tư của các doanh nghiệp Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực Những ưu đãi về lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế

Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay

vì vậy sự biến động của lãi suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp lãi suất thấp kích thích đầu tư, kích thích tiêu dùng tăng tổng cầu sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ Lãi suất cao hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng, giảm tổng cầu, sản lượng giảm, giảm giá, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ… Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại: Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy động đồng thời để mở rộng quan

hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng mức lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa các NHTM Thực chất của quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng ra thị trường

Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi NHTM đều có chiến lược khách hàng của mình Chiến lược này được thực hiện bằng lãi suất ưu đãi Muốn vậy các NHTM đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Lãi suất là công

cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế: Người ta thấy rằng trong giai đoạn phát triển của

Trang 6

nền kinh tế lãi suất có xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất lại có xu hướng giảm xuống Do vậy, thông thường nhìn vào xu hướng biến động của lãi suất ta thấy được tình trạng sức khỏe của nền kinh tế Lãi suất

là biến số thường xuyên thay đổi trong nền kinh tế Căn cứ vào sự biến động đó của lãi suất người ta có thể dự báo được các yếu tố khác của nền kinh tế như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính mức thiếu hụt của ngân sách người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai…Lãi suất bị tác động bởi nhiều nhân tố như: mức cung cầu tiền tệ; lạm phát; sự ổn định của nền kinh tế; các chính sách của Nhà nước nghĩa là bị ảnh hưởng bởi vô số các yếu tố bên trong và bên ngoài, trong đó không thể không nói đến yếu tố tâm lý của các bên hữu quan

Trang 7

CHƯƠNG II: XU HƯỚNG THAY ĐỔI KHỐI LƯỢNG TIỀN TỆ VÀ LÃI SUẤT Ở

VIỆT NAM

1 Xu hướng thay đổi khối lượng tiền tệ:

Sự chênh lệch quá lớn giữa mức lạm phát thực tế với chỉ tiêu lạm phát mục tiêu, thể hiện

kỳ vọng cao của Chính phủ đối với mức lạm phát, muốn ổn định nhanh kinh tế vĩ mô đã gây

áp lực lớn cho điều hành CSTT, buộc phải sử dụng công cụ, các biện pháp hành chính, điều hành ngắn hạn, gây sốc cho nền kinh tế Việc cắt giảm cung tiền và tăng trưởng đột ngột trong thời gian qua của NHNN đã gây ra những hệ quả không mong muốn như lãi suất cho vay và

nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ thống Ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thị trường chứng khoán suy kiệt, thị trường bất động sản đóng băng

Thực tế điều hành CSTT trong thời gian qua, NHNN Việt Nam đã lựa chọn biến số Tổng phương tiện thanh toán M2 và Mức tăng trưởng tín dụng làm mục tiêu trung gian của CSTT Việt Nam Kết quả điều hành M2 giai đoạn 2011-2012 theo xu hướng thực hiện sát với mục tiêu đề ra hơn nhiều giai đoạn trước đó Tuy nhiên sự cắt giảm đột ngột và với mức độ giảm lớn M2 so với thực hiện bình quân giai đoạn 2004-2010, làm suy giảm nghiêm trọng tổng cầu của nền kinh tế, phát sinh thêm những khó khăn cho kinh tế vĩ mô Trong điều kiện nền kinh tế có tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt còn lớn; thực trạng đô la hóa, vàng hóa và thị trường tiền tệ phi chính thức vẫn chưa kiểm soát được hết; dẫn đến cơ sở tính toán, dự báo chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán M2 còn nhiều bất cập Do vậy sẽ ảnh hưởng đến sự tính toán, hoạch định các mục tiêu giữa cung tiền với lạm phát và lạm phát với tăng trưởng kinh tế khó chính xác Mục tiêu tăng trưởng tín dụng bình quân 2004-2010 là 24,14%ΔM = %ΔP/năm, thực hiện bình quân 35,17%ΔM = %ΔP/năm Mục tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng 2011-2012 là sự điều chỉnh hợp

lý với mục tiêu kiểm soát lạm phát và tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng Tuy vậy, kết quả thực hiện 2 năm liên tục thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra, làm suy kiệt tín dụng, tác động bất lợi cho nền kinh tế và ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng cho các năm sau

Các công cụ được NHNN sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở OMO, kiểm soát hạn mức tín dụng,…Năm 2011-2012 đã cho thấy một chính sách điều hành CSTT thận trọng của Chính phủ, các công cụ đã được sử dụng một cách linh hoạt hơn, cung tiền được kiểm soát chặt chẽ

Trang 8

Thị trường tiền tệ đã có nhiều biến động kể từ khi đồng nội tệ và ngoại tệ đảo chiểu từ năm

2010, đồng nội tệ mất giá dẫn đến nguy cơ đô la hóa cao trong nền kinh tế Tuy nhiên năm

2012 đã chứng kiến sự chuyển dịch từ đầu tư ngoại tệ sang nội tệ Đây là một dấu hiệu tốt đối với đồng tiền Việt Nam tuy nhiên lại gây ra tình trạng xấu đối với tín dụng ngoại tệ

Bảng 1: Quy mô giao dịch của thị trường liên ngân hàng năm 2012 - 2013

Đến năm 2013, hoạt động trên thị trường tiền tệ nhìn chung diễn biến khá tích cực, phản ánh sự chủ động của NHNN trong công tác kiểm soát khối lượng tiền cung ứng Trong năm này, khối lượng giao dịch (KLGD) trên thị trường liên ngân hàng diễn ra khá ổn định và đồng đều qua các quý so với năm 2012, đồng thời hoạt động bơm, hút tiền trên thị trường mở cũng rất nhịp nhàng, gần như là lượng cung tiền được dự báo phù hợp với nhu cầu và diễn biến của nền kinh tế và KLGD cũng giảm đáng kể so với năm 2012 Điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, kết hợp giữa điều hành theo lãi suất và điều hành lượng tiền cung ứng nhằm kiểm soát các chỉ tiêu tiền tệ, vừa góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, đảm bảo thanh khoản của các TCTD, vừa góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng chủ yếu, điều chỉnh linh hoạt, kịp thời theo cả hai chiều mua, bán kết hợp với phát hành tín phiếu NHNN để kiểm soát các chỉ tiêu tiền

tệ theo mục tiêu lạm phát, hỗ trợ thanh khoản, giảm mặt bằng lãi suất, ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối trong điều kiện NHNN thực hiện mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, đấu thầu tăng nguồn cung vàng cho nền kinh tế và thực hiện tất toán huy động vàng Chỉ

Trang 9

tiêu tổng phương tiện thanh toán tiếp tục tăng ở mức phù hợp với mục tiêu định hướng 14-16%ΔM = %ΔP đặt ra từ đầu năm, đến ngày 12/12/2013, tăng 14,64%ΔM = %ΔP so với cuối năm 2012; huy động vốn tăng 15,61%ΔM = %ΔP, trong đó bằng ngoại tệ tăng 13,7%ΔM = %ΔP, bằng VND tăng khá cao 15,93%ΔM = %ΔP so với cuối năm 2012

-150000 -100000 -50000 0 50000 100000 150000 200000 250000

Bảng 2: Trạng thái hoạt động trên thị trường mở năm 2012 - 2013

2 Xu hướng thay đổi lãi suất:

Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn NHTƯ của các nước trên thế giới cũng như NHNN VN là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó

Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển như Việt Nam, nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết (điển hình như quy tắc Taylor - giúp cho một NHTƯ xác định được các tỷ lệ lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được hai mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn), để hoạch định chính sách lãi suất cần có sự linh hoạt, bám sát mục tiêu định hướng phát triển kinh tế xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường Trong điều kiện như hiện nay, để đạt được mục tiêu định hướng nêu trên, hoạch định chính lãi suất của NHNN cần phải xem xét đến các yếu tố thực tế

Trước năm 2000, cơ chế điều hành lãi suất của NHNN chủ yếu dựa trên hệ thống khung lãi suất chỉ đạo hoặc mức lãi suất trần do NHNN quy định Từ tháng 8/2000, cùng với việc áp

Trang 10

dụng lãi suất cơ bản bằng VND làm lãi suất tham chiếu cho các quan hệ tín dụng trên thị trường, bên cạnh lãi suất tái cấp vốn, lãi suất trúng thầu nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thị trường liên ngân hàng cũng được NHNN theo dõi sát sao Có thể thấy rõ, trong mỗi giai đoạn khác nhau, trong điều hành thị trường tiền tệ, NHNN đã sử dụng tương đối linh hoạt phương

Giải pháp điều hành cũng như kết hợp các công cụ chính sách tiền tệ để phù hợp với bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới cũng như xu hướng phát triển của thị trường Từ năm

2008, khi thị trường tín dụng tăng trưởng quá nóng, lãi suất cho vay của các ngân hàng bị đẩy lên cao, NHNN đã liên tục bơm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua việc mua lại giấy tờ có giá của các ngân hàng thương mại trên thị trường mở Cùng với việc đẩy mạnh cung ứng tiền qua nghiệp vụ thị trường mở, giai đoạn này, NHNN ban hành các chỉ đạo yêu cầu các ngân hàng thương mại nghiêm túc thực hiện và duy trì việc cho vay lẫn nhau tập trung ở Hội sở chính, với mức lãi suất không vượt quá 150%ΔM = %ΔP lãi suất cơ bản do NHNN công bố, qua đó, đã góp phần không nhỏ hạ nhiệt lãi suất thị trường, cung ứng nguồn thanh khoản cho các thanh viên thị trường, nhất là những thành viên gặp khó khăn về nguồn vốn

Trong những năm gần đây, nền kinh tế trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn như lạm phát cao, sản xuất kinh doanh đình trệ, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, phá sản, sức mua của thị trường giảm, thị trường bất động sản đóng băng, nợ xấu tăng Từ

"đỉnh" 18%ΔM = %ΔP/năm với lãi suất huy động năm 2011, khiến lãi suất cho vay cao tới 23-25%ΔM = %ΔP/năm, đến nay, trần lãi suất huy động đã giảm về mức 7%ΔM = %ΔP/năm và chỉ áp dụng đối với kỳ hạn dưới 6 tháng Trần lãi suất cho vay đối với 5 lĩnh vực ưu tiên chỉ còn 9%ΔM = %ΔP/năm, đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác từ 9 - 11,5%ΔM = %ΔP/năm (ngắn hạn) và 11,5%ΔM = %ΔP - 13%ΔM = %ΔP/năm (trung hạn và dài hạn); những doanh nghiệp có tài chính lành mạnh được vay với lãi suất từ 6,5%ΔM = %ΔP - 7%ΔM = %ΔP/năm Lãi suất huy động trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại hiện phổ biến từ 6%ΔM = %ΔP -8,5%ΔM = %ΔP/năm Những khoản vay thông thường cũng không còn phải chịu mức lãi suất cho vay

"khủng", mà được điều chỉnh xuống mức hợp lý hơn, quanh ngưỡng 10-12%ΔM = %ΔP/năm, khiến tỷ trọng những khoảng cho vay có lãi suất đến 13%ΔM = %ΔP/năm chiếm hơn 70%ΔM = %ΔP tổng dư nợ cho vay trên toàn hệ thống Tốc độ tăng trưởng tín dụng không quá "nóng" như trước, mà đã trở về trạng thái cân bằng và ổn định hơn khi tín dụng cho nền kinh tế tăng gần 7%ΔM = %ΔP so với đầu năm Mặc

Ngày đăng: 28/03/2020, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w