Môi trường hoạt động của CPĐT cho phép cải thiện mối quan hệ và giao dịch của người dân và với cơ quan chính quyền, giúp người dân nắm bắt thông tin kịp thời, chủ động tham gia giám sát
Trang 1ĐẠI HỌC QƯỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC BÁO CHỈ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ DUY THÔNG
HÀ NỘI - 2007
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép từ bất cứ công trình nghiên cứu nào Các số liệu kết quả trong luận văn này là trung thực, được hoàn thành bởi nghiên cứu của cá nhân tôi Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này
Tác giả
Kim Nguyệt Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Cảm ơn các thầy cô trong Khoa Báo chí - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu
Cảm ơn đồng nghiệp, gia đình, đặc biệt là Mẹ đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Cuối cùng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Duy Thông
- người thầy đã tận tình chỉ dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Kim Nguyệt Hằng
Trang 4C Á C T Ù V I Ế T T Ắ T
Trang 5D A N H M Ụ C H Ì N H
D A N H M Ụ C B Ả N G •
CPĐT tại Việt Nam 67
D A N H M Ụ C B I Ẻ U Đ Ò
Biểu đồ 3.1: Số bài theo từng báo 91Biểu đồ 3.2: Số bài theo phương diện đóng góp 94
Trang 6A - P H Ả N M Ỏ Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Chính phủ điện tử” (CPĐT) giò' đây đã trở thành một từ nổi bật, phổ biên trên các phương tiện truyền thông đại chúng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xây dựng và phát triển CPĐT là một xu hướng tất yếu mà các quốc gia không thế đứng ngoài Đây là một trong các ứng dụng CO' bản và quan trọng của công nghệ thônơ tin (CNTT), làm thay đổi phương thức và nâng cao hiệu quả mối tương tác giữa Chính phủ với người dân, tối đa hóa khả năng cung cấp thông tin, dịch vụ công của các cơ quan chính quyền cho mọi công dân, tổ chức đến mức 24h/ngày, 7 ngày/tuần và 365 ngày/năm Từ đó đẩy nhanh quá trình Cải cách hành chính (CCHC)
Việt Nam cũng dành một sự quan tâm, đồng thuận cao trong việc xây dựng CPĐT Ngay từ khi mới ra đời, Chính phủ Việt Nam đã khẳng định tôn chỉ “Chính phủ của dân, do dân và vì dân” Công nghệ ihông tin đã và đang
"CPĐT là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới, nâng cao năng lực và chất lượng cuộc sống" [27], chính phủ Việt Nam đã khởi xướng một kế hoạch tổng thể về CPĐT và nhiều dự án ở các bộ, ngành, tỉnh, thành phố
Là loại hình hoạt động thông tin chính trị - xã hội, báo chí Việt Nam là một lực lượng đi đầu trong việc thông tin, tuyên truyền cho sự nghiệp đổi mới Do đó, báo chí Việt Nam có một vai trò không nhỏ trong việc xây dựng CPĐT, góp phần vào thành công của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đât nước Tuy nhiên vai trò của báo chí đối với việc xây dựng CPĐT tại Việt Nam chưa được quan tâm nghiên cứu và nhìn nhận đúng mức Hiện nay chưa
Trang 7có một luận án thạc sĩ báo chí nào nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về vấn đề
n a y
Xuât phát từ những nhận thức đó, chúng, tôi quyết định chọn và làm đề tài khóa luận tốt nghiệp là "Vai trò của báo chí trong việc xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam”
2 Đoi tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong việc xây dựng CPĐT, các loại hình báo chí đều thể hiện rõ vai trò của mình Tuy nhiên, trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi chỉ chọn điểm
vồ mặt đối tượng để khảo sát tư liệu, gồm 4 tờ báo: Tuổi Trẻ điện tử (http://www.tuoitre.com.vn), Báo điện tử Vietnamnet (http://www.vnn.vn), Báo Bưu điện Việt Nam, Tạp chí Thế giới Vi tính (Pcworld)
Trước hết đó là những tờ báo có tầm ảnh hường sâu rộng như Tuổi trẻ
nước, lần lượt là 37% và 34% người sử dụng internet
vẫn đảm bảo sự phong phú về loại hình Do điều kiện có hạn chúng tôi chọn 2 loại hình báo chí tiêu biểu để khảo sát là: Báo in (Báo Bưu điện Việt Nam, Tạp chí Thế giới Vi tính) và báo điện tử (báo Tuổi Trẻ điện tử, Vietnamnet) Chúng tôi cũng chọn 2 báo chuyên ngành Công nghệ thông tin và Viễn thông
là Báo Bưu điện Việt Nam và Tạp chí Thế giới Vi tính để có cái nhìn trực diện và sâu rộng hơn
Thêm nữa, trên thực tế, đây cũng là những tờ báo mà chúng tôi quan sát
vả đánh giá là có những bài viết liên tục và theo sát vấn đề xây dựng CPĐT tại Việt Nam
‘T h e o số liệu t h á n g 1 /2 0 0 7 c ủ a C ô n g tỵ n g hiê n cứu thị tr ư ờ n g N ie l s e n V ie t n a m về m ứ c độ truy cập
c á c w e b s ite c ủ a n g ư ờ i s ử d ụ n g internet tại hai khu v ự c nội th à n h H C M C và H à N ội X em th ê m tại
h t t p : / / v i e t n a m n e t.v n / k in h te /2 0 0 7 /0 3 /6 7 4 8 3 8 /
Trang 8về mặt không gian khảo sát, để có những đánh giá toàn diện, chúng tôi khảo sát vấn đề trên 4 báo này từ tháng 11/2000 đến 8/2007 Bởi ngày 24/11/2000 đánh dấu sự khởi động xây dựng CPĐT của Việt Nam bằng việc
ký Hiệp định Khung ASEAN điện tử (E-ASEAN), cam kết triển khai Thương mại điện tử và CPĐT đồng bộ với các nước ASEAN Với độ dài thời gian gần
7 năm trên các đối tưọ-ng được khảo sát là nhật báo, tạp chí, báo điện tử, báo chuyên ngành, kết quả có được sẽ chính xác Đây cũng là một trong những đóng góp của đề tài về neuồn tư liệu tham kháo
3.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ cần giải quyết
3.2.Nhiệm vụ cần giải quyết
Khóa luận cần giải quyết những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu để có cái nhìn chung nhất, đầy đủ nhất về vấn đề xây dựng CPĐT Tìm hiểu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về xây dựng CPĐT tại Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho khóa luận
Tống hợp, phân tích tư liệu để làm rõ và đánh giá vai trò của báo chí trong việc xây dựng CPĐT tại Việt Nam
Rút ra một số giải pháp nhằm phát huy ho'n nữa hiệu quả của báo chí trong việc xây dựng CPĐT tại Việt Nam
Trang 94.Phương pháp nghiên cứu
Đe giải quyết những nhiệm vụ khoá luận dặt ra, chúng tôi dựa trên đường lôi, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chiến lược xây dựng CPĐT tại Việt Nam Đây là cơ sở phương pháp luận để tiếp cận vấn đề này, đế xử lý thông tin cũng như nhận diện những thành tựu và hạn chế của tiến trình xây dựng CPĐT tại Việt Nam Chúng tôi cũng dựa trên hệ thống lý luận báo chí nước ta, làm cơ sở khoa học định hướng cho việc nghiên cứu đề
Đồng thời, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh - phân tích - tổng hợp, tiến hành khảo sát một cách hệ thống tư liệu trên Báo Tuổi trẻ điện tử,
từ tháng 11/2000 đến 8/2007 Ngoài báo điện tử Vietnamnet, báo Tuổi Trẻ điện tử (có thể dễ dàng khoanh vùng thông tin cần khảo sát nhờ công cụ tìm kiếm), chúng tôi dựa trên nguồn cơ sở dữ liệu tin bài được mã hóa online của
liộu cụ thể, chính xác giữa một lượng lớn tin bài trong thời gian gần 7 năm.Chúng tôi cũng khảo sát và phân tích các bài viết về CPĐT trên các tờ báo khác của Việt Nam, được thông qua e,oogle - công cụ tìm kiếm lớn nhất thế giới Từ đó có những đánh giá, so sánh với 4 tờ báo được chọn Các kết quả khảo sát này là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ cho những đánh giá, nhận định của đề tài Ngoài ra chúng tôi có tham khảo các tham luận, báo cáo khoa học, cuốn sách và giáo trình có liên quan đến vấn đề này
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu quy mô, tổng kết, đánh giá tổng quát dựa trên những chứng cứ, cứ liệu thực tiễn, khoa học và khách quan Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của báo chí trong việc xây dựng CPĐT tại Việt Nam Do đó sẽ có giá trị lý luận và thực
Trang 10tiễn nhât định cho hoạt động của hệ thống báo chí Việt Nam trong việc xây dựngCPĐT tại Việt Nam.
Luận văn cũng e,óp phần bổ sung vào công tác lý luận báo chí nói chung,
CPĐT tại Việt Nam
6.Nội dung chính của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm 3 chương:
Chương I: Xây dựng CPĐT là một xu thế phát triển tất yếu
Chương II: Vai trò của báo chí trong việc xây dựng CPĐT tại Việt Nam.Chương III: Một số đánh giá và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí trong việc xây dựng CPĐT tại Việt Nam
Trang 11B - P H À N N ộ i D U N G
CH Ư Ơ NG I: XÂY DỤNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỦ
LÀ M ỘT XU THÉ PHÁT TRIẺN TẤT YẾU 1.1 Khái niệm CPĐT
Cụm từ “Chính phủ điện tử” là một thuật ngữ mới, xuất phát từ tiếng Anh là “E-government” hay viết tắt là “E-gov” Từ điển Anh-Việt do NXB Đồng Nai xuất bản năm 1996 dựa trên cuốn “The Oxford Modem English Dictionary” cho biết danh từ “government” có tới 7 nghĩa như sau: “sự cai trị,
sự thống trị, chính phủ, nội các, chính quyền, chính thể, nhà nước” Còn tiếp đầu ngữ “e-” ngụ ý việc sử dụng các phương tiện điện tử để lên mạng Có lẽ nếu chuyển ngữ không thể diễn tả hết nội hàm của khái niệm nên nước Đức
và một số nước tiên tiến khác để nguycn văn không dịch thuật ngữ “e- govemment” Ở Việt Nam, thuật ngữ “E-govemment” được hiểu thành nhiều nghĩa: “hành chính điện tử”, “chính quyền điện tử”, “nhà nước điện tử” Nhưng cách định danh phổ biến và thống nhất trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các văn bản của nhà nước ta là
- T h e o T ậ p đ o à n n g h i ê n c ứ u chiến lược C N T T G artn e r: C h í n h p h ủ đ iệ n tử là m ộ t cá ch trao đổi các
q u an hệ b ê n t r o n g v à b ên n goài c ủ a khu v ự c c ô n g t h ô n g q u a c á c h o ạt đ ộ n g d ự a vào C N T T & T T nhất là in te rn et n h à m tối ưu h ó a hoạt đ ộ n g c ủ a to àn bộ hệ t h ố n g q u ả n lý h à n h c h ín h công; tồi ưu
h ó a v iệc c u n g c ấ p d ịc h vụ c ủ a chính phù cho nh ân dân tr o n g đó bao g ồ m cả các tồ ch ứ c kin h tê - xã hội và tối ư u h ó a c á c q u á trìn h th a m g ia c ủ a n h â n d â n vào việc xây d ự n g các c h í n h sách lớn, các
q u y ế t đ ịn h q u a n tr ọ n g c ủ a đất nước.
Trang 12nhất trong cách định nghĩa thuật ngữ "Chính phủ điện tử” là của Ngân hàng
các cơ quan của Chỉnh p h ủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viên thông đê thực hiện các quan hệ với công dân, với doanh nghiệp và các tô chức x ã hội N hờ đó, giao dịch của các cơ quan Chính p h ủ với công dân và các tô chức sẽ được cải thiện, nâng cao chât lượng Lợi ích thu được
là táng năng suất, tăng chất lượng và giảm thiểu tham nhũng thông qua tăng cường tính công k h a i”. Cách hiếu này đã đưọ’c nêu trong nhiều chiến lược về CPĐT của các quốc gia và được diễn đạt lại trong nhiều tham luận, báo cáo khoa học ở nước ta Bởi vậy, chúng tôi coi đây như một khái niệm chung nhất, tương đối hoàn thiện, làm cơ sở khoa học cho luận văn
Môi trường hoạt động của CPĐT cho phép cải thiện mối quan hệ và giao dịch của người dân và với cơ quan chính quyền, giúp người dân nắm bắt thông tin kịp thời, chủ động tham gia giám sát và góp ý cho công tác quản lý điều hành đất nước cũng như thừa hưởng các quyền lợi hợp pháp của mình, tăng cường sự minh bạch, hạn chế tham nhũng, và đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Một mô hình CPĐT hiệu quả sẽ bao gồm các
mô thức giải quyết quan hệ tương tác về thông tin theo các cấp độ sau:
-Thứ nhất là giữa Chính phủ với nhau (G2C - Government to Government): Đây là cấp độ thường được khỏ’i động trước tiên khi xây dựng một CPĐT Cấp độ tương tác này giúp cho các cơ quan hành chính chia sẻ dữ liệu, trao đổi công việc thuận tiện hon, giảm thiểu chi phí và thời gian hội họp không cần thiết
-Thứ hai là giữa Chính phủ với doanh nghiệp (G2B - Government to Bbusiness): Đây là một cấp độ kỳ vọng nhất của bất cứ đề án CPĐT nào Có nhiều hoạt động trực tuyến có thể được kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp
và chính phủ từ mức độ chuyên nghiệp như là mua sắm hàng hóa công, đấu
Trang 13tháu các dự án chi tiêu công cho đến những ứng dụng đơn giản như đăng ký kinh doanh, cấp phép đầu tư, hỏi đáp pháp luật.
-Và cuối cùng là giữa Chính phủ với dân chúng (G2C - Government to Citizen): Ở cấp độ tương tác này chính phủ sẽ cung cấp các dịch vụ công như làm hoặc cấp mới các giấy tờ cá nhân, các chứng chỉ, đóng và hoàn thuế thu nhập, nhận trợ cấp
Như vậy, CPĐT không phải là một hình thức tổ chức thay thế Chính phủ truyền thống, không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để giúp Chính phủ truyền thống hoạt động hiệu quả hơn, minh bạch hơn và hướng về nhân dân nhiều hơn Nội dung của CPĐT thực chất là sử dụng Công nghệ thông tin
và Truyền thông (CNTT&TT) để tăng cường việc truy cập và phân phối các dịch vụ của các cơ quan thuộc hệ thống quản lý hành chính công (hay dịch vụ của Chính phủ) cho cán bộ công chức của mình, cho các cơ quan khác trong
hệ thống, cho công dân và cho các tổ chức kinh tế - xã hội khác
Sự khác biệt chủ yểu giữa CPĐT và Chính phủ truyền thống là ở mức độ
tự độne; hoá và tốc độ xử lý các thủ tục hành chính, theo đó CPĐT cho phép
xử lý các thủ tục hành chính nhanh hơn rất nhiều lần Mặt khác, các thông tin cần thiết cho việc ra quyết định cũng được cung cấp cho mọi người nhanh, đầy đủ và dễ dàng hơn CPĐT lý tưởng là một chính phủ cung cấp đầy đủ thông tin, đúng thời điểm cho những người ra quyết định, đó là một lợi thế lớn nhất của CNTT Các đặc điểm tiêu biểu của CPĐT có thể được cụ thể như sau:
Trang 14s Với hai nguyên tắc hỗ trợ cơ bản: an ninh và tin cậy; thống nhất công việc một cách công khai và thích hợp.
- Các dịch vụ công: Chính phủ tập trung vào việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả dịch vụ, cung cấp cho các đối tác liên quan như doanh nghiệp, người dân, các tổ chức phi Chính phủ Điều đó được thực hiện thông qua các kênh khác nhau Đây là một hình thức giao dịch khác ngoài những hình thức đang tồn tại hiện nay là gặp trực tiếp (face to face), chẳng hạn qua Internet, các ki-ốt (trạm giao dịch điện tử) và thậm chí qua điện thoại di động Mục đích là để tạo thuận lợi cho khách hàng có thể sử dụng các dịch vụ của Chính phủ mọi lúc, mọi nơi Ví dụ, một công dân có thể đăng ký làm hộ chiếu và gửi ảnh qua Internet
- Tiếp cận thông tin: Chính phủ phải mở rộng việc kết nối với các đốitác liên quan Họ có thể kết nối vào hệ thống thông tin của Chính phủ thông qua Internet và qua các ki-ốt (trạm giao dịch điện tử) Mọi người không phảitới các cơ quan quản lý nhà nước để lấy thông tin Thay vào đó, người ta sẽtiếp cận thông tin theo phương thức tự phục vụ CPĐT giúp những người quản lý có trách nhiệm hơn vì tính minh bạch cao hơn; giảm thiểu nhũng gì không hiệu quả và tệ quan liêu Một trong những thách thức lớn nhât đôi với các Chính phủ là tổ chức lại quy trình hoạt động hiện tại để khai thác các lợi ích của CNTT&TT Đồng thời, Chính phủ phải xem xét và cải tổ lại chính sách hành chính, đào tạo lại cán bộ nhà nước về CNTT và kỹ năng hành chính công mới
- Sự tương tác giữa chính phủ và công chúng: CNTT sẽ làm choChính phủ quản lý cởi mở và dễ tiếp cận hơn bằng việc cho phép công chúng cùng tham gia vào các công việc của các cơ quan nhà nước CPĐT cũng tạo thêm cơ hội phát triển cho các đối tác liên quan, đặc biệt là cộng đồng người
Trang 15nghèo ở n h ữ n g nước kém phát triển hay những người ở nông thôn N h ờ hiệu quả của CNTT&TT, Chính phủ có thể vươn tới cả những đối tượng ở khu vực nông thôn, vùno sâu, vùng xa.
Việc phát triên CPĐT phải trải qua một số giai đoạn khác nhau Qua từng giai đoạn (thực hiện và duy trì) thì tính phức tạp lại tăng thêm, nhưng giá trị mà nó mang lại cho ngưò'i dân và doanh nghiệp cũng tăng lên (trong đó cũng có phần tăng lợi ích cho chính phủ qua việc có thêm nguồn gián thu hay trực thu)
Một mô hình CPĐT đã được sử dụng rộng rãi, do Tập đoàn nghiên cứu chiến lược công nghệ thông tin Gartner xây dựng nên, chỉ ra bốn giai đoạn (hay thời kỳ) của quá trình phát triển CPĐT
Hình 1.1: Các giai đoạn của CPĐ T theo mô hình của Garner
Tăng thêm giả trị cho doanh nghiệp vả nqười dân
Mức độ phức tạp táng lên
-Giai đoạn “T hông tin” :
Trong giai đoạn đầu, CPĐT có nghĩa là hiện diện trên trang web và cung cấp cho công chúng các thông tin (thích hợp) Giá trị mang lại ở chỗ công chúng có thể tiếp cận được thông tin của Chính phủ, các quy trình trở
Trang 16nên minh bạch hơn, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ Với G2G, Chính phủ cũng có thế trao đổi các thông tin bàng các phương tiện điện tử, như Internet, hoặc trong mạng nội bộ.
-G iai đoạn “T ương tác” :
Trong giai đoạn thứ hai, sự tương tác giữa Chính phủ và công dân (G2C
và G2B) được thông qua nhiều ứng dụng khác nhau Người dân có thể hỏi qua thư điện tử, sử dụng các công cụ tra cứu, tải xuống các biểu mẫu và tài liệu Các tương tác này giúp tiết kiệm thời gian Thực tế, việc tiếp nhận đơn
từ có thê thực hiện trực tuyến 24 giờ trong ngày Thông thường, những động
mặt nội bộ (G2G), các tổ chức của chính phủ sử dụng mạng LAN, intranet và thư điện tử để liên lạc và trao đổi dữ liệu
-G iai đoạn “Giao dịch” :
Với giai đoạn thứ ba, tính phức tạp của công nghệ có tăng lên, nhưng giá trị của khách hàng (trong G2C và G2B) cũng tăng Các giao dịch hoàn chỉnh
có thể thực hiện mà không cần đi đến cơ quan hành chính Có thể lấy ví dụ về các dịch vụ trực tuyến như: Đăng ký thuế thu nhập, đăng ký thuế tài sản, gia hạn/cấp mới giấy phép, thị thực và hộ chiếu, biểu quyết qua mạng Giai đoạn
3 là phức tạp bởi các vấn đề an ninh và cá thể hóa, chẳng hạn như chữ ký số (chữ ký điện tử) là cần thiết để cho phép thực hiện việc chuyển giao các dịch
ứng dụng mua bán trực tuyến Ở giai đoạn này, các quy trình nội bộ (G2G) phải được thiết kế lại để cung cấp dịch vụ đưọc tốt Chính phủ cần những luật
và quy chế mới để cho phép thực hiện các giao dịch không sử dụng tài liệu hằng giấy
Giai đoạn 4 “Chuyển hóa” :
Trang 17Giai đoạn thứ tư là khi mọi hệ thống thông tin được tích hợp lại và công chúng có thế hưởng các dịch vụ G2C và G2B tại một bàn giao dịch (điểm giao dịch ảo) Ở giai đoạn này, tiết kiệm chi phí, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu khách hàng đã đạt được các mức cao nhất có thể được.
Việc triển khai xây dựng CPĐT không nhất thiết phải tuần tự theo các giai đoạn kê trên Người ta có thể triển khai cùng một lúc các ứng dụng của CPĐT theo đồng thời các giai đoạn, tùy theo mức độ phức tạp, phạm vi, đối tượng sử dụng của ứng dụng CPĐT cụ thể
1.2 L ọi ích của CPĐT
Việc xây dựng CPĐT là nội dung quan trọng, chiếm tỷ lệ rất lớn trong các hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT Đây là một xu thế phát triển tất yếu của các quốc gia trên toàn thế giới bởi những ích lợi mang lại là vô cùng
to lớn
Thứ nhất, ngay khái niệm khỏi đầu đã cho thấy, CPĐT là phương tiện cải tô khu vực công, mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động quản lý nhà nước của Chính phủ Mô hình CPĐT sẽ làm cho các dịch vụ của chính phủ được cung cấp trực tuyến 24 giờ/7 ngày thay vì theo lịch làm việc truyền thống Từ đó chi phí giao dịch được giảm thiểu nhưng hiệu quả của nền hành chính công quyền lại tăng cao Ví dụ như trường họp Bộ Kinh tế và Tài chính của Ý đã xây dựng hệ thống đấu thầu các hoạt động mua sắm khu vực công qua mạng vào năm 2000 Việc này không những giảm bớt thời gian mà còn giảm được 30% chi phí so với cách thức mua sắm truyền thống trước đó [42].Thứ hai, chất lượng dịch vụ cung cấp của Chính phủ được cải thiện với tiêu chí lấy người dân là trung tâm Cách thức giao tiếp vả làm việc giữa nhà cung cấp dịch vụ (Chính phủ) và khách hàng (người dân) bằng mô hình CPĐT không những giúp người dân nắm được nhiều thông tin hơn qua các phương tiện tự phục vụ mà còn khuyến khích họ tham gia vào quá trình xây
Trang 18dựng chính sách, ra quyết định về những vấn đề quan trọng của đất nước Do vậy ý thức kỷ luật, tính cộng đông, sức sáng tạo của nhân dân có điều kiện được phát huy tốt hơn Một ví dụ cho thấy sự tham gia của người dân trong xây dựng các chính sách vĩ mô đó là cổng du lịch điện tử được Tây Ban Nha
sử dụng vào năm 2002 Địa chỉ trực tuyến wwvv.spain.info là cầu nối tất cả các thông tin thu nhận từ dữ liệu của cơ quan công quyền lẫn tư nhân Thông tin thu nhận này là cơ sở để giới quản lý du lịch cải thiện hoạt động của ngành mình Từ những việc rất nhỏ như thiết kế một sách hướng dẫn du lịch như thế nào, với ngôn ngữ gì cho đến việc xây dựng chiến lược du lịch quốc gia
Thứ ba, CPĐT xây dựng và tăng cường lòng tin giữa Chính phủ và người dân Đây là lợi ích chính trị cực kỳ nền tảng mà bất cứ một Chính phủ nào cũng hướng đến Bởi lẽ, một khi thiếu vắng sự tin tưởng thì vai trò của pháp luật, hiệu quả cưỡng chế của các quyết định Chính phủ cũng như các chương trình đôi mới của Chính phủ thường được người dân đón nhận mờ nhạt Với CPĐT, các dịch vụ trực tuyến, các buổi đối thoại trực tuyến sẽ cải thiện, tăng cường hiệu quả tương tác giữa Chính phủ với người dân, từ đó tạo dựng và duy trì lòng tin của nhân dân đổi với Chính phủ Ví dụ minh hoạ thuyết phục nhất cho trường hợp này là sáng kiến của Hàn Quốc trong việc cung cấp các thông tin về dự án công trên mạng và đấu thầu trực tuyến tại trang web www.g2b.go.kr Hình thức này đã minh bạch hóa các hoạt động của Chính phủ trước nhân dân, và dĩ nhiên nó đã tăng cường đáng kể sự tín nhiệm của dân chúng đối với Chính phủ trong quản lý chi tiêu công Bởi trước kia, hàng hóa và dịch vụ cho các dự án công thường được cung cấp bỏi một mạng lưới các nhà cung cấp tư nhân một cách mờ ảo và dính dáng nhiều đến tham nhũng, rò rỉ
Thứ tư, để đảm bảo xây dựng thành công CPĐT, bước khởi đầu phải đảm bảo được quyền riêng tư của mỗi cá nhân và tổ chức Chính đòi hỏi này
Trang 19góp phần phát huy cao tính dân chủ, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của công dân và các tô chức kinh tể - xã hội Đảm bảo quyền riêng tư liên quan đến nhiêu vấn đề an ninh khác nhau, được quan tâm hàng đầu khi triển khai xây dựng CPĐT.
Thứ năm, việc cung cấp điều kiện để truy cập các dịch vụ CPĐT cho tất
cả công dân và tổ chức là cần thiết cho sự thành công của CPĐT Khi các điều kiện này được đảm bảo thì chúng ta thực sự tiến tới xây dựng một xã hội dân chủ hơn, một nhà nước gần dân hon
Cụ thể, theo tài liệu của Liên Hợp Quốc thì CPĐT mang lại những lợi ích sau:
-Đối với lĩnh vực công cộng:
ngưò’i lao động khi truy nhập và sử dụng dịch vụ của chính phủ;
nước (đồng nghĩa với giảm sự trì trệ - quan liêu);
^ Đáp ứng nhu cầu và sự thoả mãn (satisfaction) ngày càng tăng của
xã hội nói chung và mọi công dân nói riêng;
(cá nhân, tổ chức)
-Đối với Chính phủ:
thoại (face-to-face);
Tóm lại CPĐT hỗ trợ cho hai mục tiêu then chốt của một Chính phủ:
Trang 20s Tăng cường sự tin tưởng của công chúng vào bộ máy nhà nước và cung cấp các dịch vụ xã hội "tốt hơn": CPĐT sẽ tăng năng lực hạp tác giữa các cơ quan, tổ chức của Chính phủ, tăng cường mối quan
hệ giữa công chúng và nhà nước thông qua các cơ hội tham gia, cung cấp các cơ hội cho lĩnh vực Nhà nước để hoàn thiện tính hiệu quả của các dịch vụ công cộng trong khi đồng thời giảm thiểu chi phí chuyển giao;
ích cho mọi người: CPĐT sẽ là một ví dụ của việc sử dụng một cách đổi mới các công nghệ và tri thức cho phát triển, cung cấp các phương tiện quan trọng để phát triển xã hội và kinh tế đối với mỗi cá thể cũng như toàn xã hội
1.3 Tình hình xây dụng CPĐT trên thế giói và khu vực Châu Á
Từ thập niên 70 của thế kỉ trước, Chính phủ nhiều nước đã xây dựng các
hệ thống thông tin Khi mạng Internet phát triển thành xa lộ thông tin toàn cầu vào những năm 1990, nhiều chương trình tin học hoá hoạt động của Chính phủ đã được thực thi và người ta bắt đầu nói đến “cuộc cách mạng CPĐT” Đặc biệt nhiều tài liệu có nêu rằng: CPĐT là cuộc cách mạng tiếp theo của nước Mỹ [ 1 ]
Có thể nói CPĐT sẽ trở thành hiện thực trên toàn thế giới tronẹ tương lai gần, dù hầu hết các quổc gia vẫn đang triển khai ở giai đoạn đầu và chưa có quốc gia nào tuyên bố đã hoàn thành CPĐT Một số nơi như: Châu Âu, Mỹ,
Ưc, Singapore đã có một sự khởi đầu rất tốt Chính phủ Mỹ từ năm 1993 đã
đề xướng chương trình “Đổi mới chính phủ”; Singapore có chương trình
“Chính phủ nối mạng” từ năm 1995; người Anh thực hiện dự án “Chính phủ hiện đại” từ năm 1997; Hàn Quốc có chương trình “Người điều khiển Hàn quốc thế kỷ XXI” từ năm 1998; nước Nhật có dự án “Thiên niên kỷ” từ năm
Trang 211999 Hiệp định ASEAN điện tử năm 2000 là quyết tâm mới của các nhà lãnh đạo ASEAN nhàm thực hiện CPĐT trong 10 nước thành viên Theo tổng kết của ngân hàng thế giới thì 20 quốc gia có mức độ triển khai CPĐT hàng đầu thế giới hiện nay là: Mỹ, Singapore, ôxtrâylia, Canada, Pháp Anh, Hồng Kông, New Zealand, Nauy, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, Nam Phi, Italia, Nhật Bản, Ireland, Mêhicô, Bỉ, Malayxia, Brazil Các chính phủ trên thế giới ngày càng thây rõ vai trò của CNTT&TT trong việc cải thiện chất lượng công tác điều hành của chính phủ và năng lực cạnh tranh của quốc gia Những năm gần đây đã chứng kiến sự tiến bộ đáng kể trong việc phát triển CPĐT trên toàn cầu Một nghiên cứu vào năm 2005 của trường Đại học Brown (Mỹ) điều tra hơn 1.797 website chính phủ tại 198 quốc gia đã chỉ ra rằng các chính phủ ngày càng chú trọng hon tới một số khía cạnh nội dung trong các trang tin của mình như: 89% các trang có thông tin về những ấn phẩm xuất bản của chính phủ, 53% các trang có đường dẫn tới cơ sở dừ liệu và 19% các trang có những dịch vụ hoàn toàn có thể thực hiện trực tuyến Tại các nước phát triển, trong những năm tới, chắc chắn chính phủ và người dân của họ cũng sẽ nhận thức được lợi ích của CPĐT.
Đối với Châu Á, một cuộc cách mạng trong việc quản lý CPĐT cũng đang phát triển mạnh mẽ Chính phủ và người dân nơi đây là một trong những thành phần tiên phong nhất về CPĐT trên thế giới Việc sử dụng CPĐT ở 75% các nước châu Á được phân tích trong một nghiên cứu gần đây do hãng thông tin thị trường Taylor Nelson Sofres cho thấy đã vượt mức trung bình toàn cầu là 30% Ở Singapore, hơn một nửa dân số sử dụng các dịch vụ CPĐT Đất nước này chỉ đứng thứ 2 sau Canada, một nước có CPĐT tiên tiến nhất trên thế giới
Động lực cho các chính phủ Châu Á thực hiện cuộc cách mạng CPĐT là giải quyết các công việc thuộc khu vực công rõ ràng, nhanh chóng Một số
Trang 22chuyên gia cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 như một sự thức tinh, thúc đẩy chính phủ nâng cao chất lượng và tốc độ tiếp cận thông tin Công thức hành động rất đơn giản: tiếp cận thông tin tốt hơn nhờ sự đầu tư lớn hơn, cụ thể là từ các nguồn lực bên ngoải Sự xuất hiện của môi trường thương mại toàn cầu ngày càng lớn có nghĩa là mỗi nước ỏ' châu Á - bất kể lớn hay nhỏ - cần hành động mạnh mẽ để nâng cao khả năng của người lao động nhằm duy trì tính cạnh tranh trên thương trường quốc tế Cuối cùng, sự phát triển của Internet và khả năng truy nhập băng rộng ở nhiều nưó'c trong toàn khu vực đã làm thay đổi những hy vọng và yêu cầu của mọi người dân.Hiện nay công chức, viên chức, cán bộ trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở các nước như Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc đã quen dần với khái niệm CPĐT về cơ bản, hầu hết các nước trong khu vực Châu Á đã hình thành một chiến lược CPĐT và hiện đang trong giai đoạn triển khai hành động Tuy nhiên, tốc độ triển khai ở các nước trong khu vực không đồng đều bởi sự khác nhau về hạ tầng kỹ thuật cũng như trình độ CNTT [19] Các điển hình về CPĐT tại Châu Á có thể kể đến là:
S ingap ore
Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, Singapore là nước nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á, tiên phong thực hiện CPĐT từ những năm 80 của thế kỷ 20 Chính phủ cố gắng theo đuổi khẩu hiệu "cảm nhận và đáp ứng" với mục tiêu dự đoán trước những nhu cầu của người dân bằng cách ứng dụng CNTT
Những năm vừa qua, chính phủ nước này đã đầu tư hàng tỷ USD đê xây dựng hệ thống CPĐT Singapore nổi tiếng về mô hình "một cửa" trong dịch
vụ công và đã triển khai thành công CPĐT Năm 1997, Singapore đã ban hành 4 luật cơ bản để hỗ trợ triển khai CPĐT và TMĐT, bao gồm: Luật Giao Dịch Điện Tử, Luật Sở Hữu Trí Tuệ sửa đổi, Luật Sử Dụng Máy Tính Sai
Trang 23Mục Đích để hỗ trợ truyền thông kỹ thuật số và Luật Bằng Chứng Điện Tử dùng trong xét xử các vụ án Các luật này cùng với các sána, kiến băng thông rộng toàn quốc đã giúp đưa Singapore tiến tới nền kinh tế toàn cầu Singapore cũng đã phát triển hạ tầng dịch vụ công (Public Service Infrastructure - PSI) vào năm 1999 để cung cấp hạ tầng chung giúp các cơ quan chính phủ nhanh chóng phát triển dịch vụ điện tử thông qua kiến trúc tích họp chung Từ năm
1995, Singapore có chương trình "Công vụ hướng tới thế kỷ 21" (Pulbic Service - PS 21) nhằm làm cho tất cả các cơ quan của chính phủ trở nên thân thiện hon với người dân và doanh nghiệp Hiện tại 2000 dịch vụ hành chính (khai sinh, khai tử, dự thi tuyển sinh, đăng ký thành lập doanh nghiệp, cấp giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá, đăng ký tham gia các trung tâm thể thao ) đã được đưa lên website www.ecitizen.gov.sg của chính phủ Mọi công dân Singapore có thể ngồi nhà làm các thủ tục hành chính qua mạng chứ không cần phải đến các công sở để xếp hàng Theo thống kê, có khoảng 75% dân Singapore đã sử dụng các công cụ điện tử trong giao dịch với chính quyền và mỗi tháng trung bình có 100.000 lượt giao dịch
T ru n g Q u ốc
Một điển hình nữa trong lĩnh vực CPĐT tại khu vực Châu Á là Trung Quôc CPĐT ở Trung Quốc đi theo một logic được thấy ở mọi nơi là nhà nước công nhận tiềm năng của Internet và các hoạt động dựa trên web để hỗ
chương trình trực tuyến để thúc đẩy tốc độ của chính phủ trong việc triển khai
và sử dụng nền kinh tế thông tin bằng cách hoàn thiện các hệ thống quản lý thông tin của chính phủ và hỗ trợ để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế quốc gia.Trung Quốc hiện có hon 103 triệu người sử dụng Internet, hầu hết ở trong độ tuổi từ 18 đến 45 Internet đã trở thành một nơi cho người dân Trung Quốc bước vào bàn bạc chuyện công việc với các quan chức Chính phủ Ở
Trang 24đây người dân có thê bày tỏ chính kiến cũng như quan điểm của họ về những
sự kiện quan trọng liên quan đến đất nước mình Một số các quan chức cấp cao, thậm chí chính quyền địa phương cũng tận dụng Internet để xin ý kiến đóng góp của người dân Cho đến thời điểm này, hầu hết các tỉnh đã hoàn thành việc xây dựng mạng lưới CPĐT Gần 2400 loại mẫu đơn từ, hồ sơ có thổ download từ mạng cho phép thực hiện 703 loại kinh doanh cần liên hệ làm thủ tục với chính quyền Việc thành lập công ty thông qua cổng CPĐT cũng giúp cho các doanh nghiệp tiết kiệm đuợc thời gian và chi phí Ngoài ra, các Ban, ngành khác nhau ở Trung Quốc cũng có thể truy nhập lấy thông tin từ cổng CPĐT
Hàn Quốc
Là quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến ở châu Á, Hàn Quốc là một trong những ví dụ điển hình về xây dựng thành công CPĐT xét trên khía cạnh phối họp và tập trung hóa Chính phủ đã chuyển đổi nhanh chóng và không tiếc chi phí triển khai các công nghệ mới nhất Ngân sách cho CNTT là một trong 10 khoản chi tiêu hàng đầu của nước này, chính phủ nước này đã chi gần 1 nửa ngân quỹ CNTT (khoảng 435 triệu) cho các chương trình CPĐT Từ năm 1986, Hàn Quốc đã khởi động CPĐT với 4 kế hoạch tổng thể Năm 2000, phần lớn các cơ quan thuộc chính phủ Hàn Quốc đã làm việc trực tuyến và kết nối với đường trục tốc độ cao, và hơn 55% các văn bản của chính phủ được thực hiện bàng phương tiện điện tử Chính phủ Hàn Quốc cũng đã thiết lập hệ thống thông tin để hỗ trợ nền hành chính quốc gia như tài chính, giáo dục, quản lý nhân sự chính phủ, hệ thống trao đổi văn bản của chính phủ
Để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ TMĐT và CPĐT, Hàn Quốc đã xây dựng hệ
Quốc đã triển khai cổng thông tin trên các lĩnh vực sau: trung tâm dịch vụ điện tử dành cho người dân (www.egov.go.kr), dịch vụ an sinh xã hội tích
Trang 25hợp (www.4insure.go.kr), dịch vụ thuế trong nước (www.hometax.go.kr) và mua bán điện tử ở cấp chính phủ (www.g2b.go.kr) Giai đoạn mới nhất trong chiến lược CPĐT của Hàn Quốc là "Hàn Quốc điện tử đứng đầu thế giới" vói mục tiêu nâng cấp hạ tầng truyền thông Chính phủ có kế hoạch chi 53 tỷ USD cho CNTT trong vòng 5 năm tới với mục tiêu hơn 90% dân số Hàn Quốc được trực tuyến và khuyến khích các trường học sử dụng các ứng (lạng CNTT.
1.4 V iệt Nam với nỗ lực xây dựng CPĐT
1.4.1 Sự cần thiết phái xây clụng CPĐT tại Việt Nam
CPĐT hiện là chủ đề trung tâm trong chính sách xây dựng xã hội thông tin ở tất cả các mức: địa phương, quốc gia, vùng và toàn cầu CPĐT đang được xem là giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Đối với Việt Nam, việc xây dựng CPĐT càng trở nên cấp bách và cần được coi trọng, vì những lý do chủ yếu sau đây:
M ột là, nhằm tận dụng tốt thời cơ và vượt qua thách thức do quá trình toàn cầu ho á và hội nhập quốc tế đặt ra.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện là xu thế phổ biến trên thế giới Toàn cầu hoá đã dẫn đến phải chuyên môn hoá và vì thế cạnh tranh quốc
tế ngày càng trở lên khốc liệt hơn Phần bất lợi trong cuộc canh tranh ấy thường thuộc về những nước kém phát triển, bị hạn chế về tài chính, về công nghệ và nguồn lực con người
Toàn cầu hoá đòi hỏi chính phủ mỗi nước, mỗi doanh nghiệp phải có khả năng thu thập, xử lý nhanh một khối lưọng lớn các loại thông tin dữ liệu cần thiết nhằm dự báo và ra quyết định chính xác, kịp thời trước tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong nước cũng như biến động phức tạp của thế giới và khu vực
Trang 26Đồng thời, với việc gia nhập tổ chức WTO, hội nhập quốc tế của Việt Nam diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện Trong điều kiện kinh
tế mơ, có tính toàn cầu, đòi hỏi phải nhanh chóng tạo lập đồng bộ hệ thốns thể chế kinh tế, thể chế hành chính phù hợp với thông lệ chung của thế giới; phải đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao trình độ, năng lực, trách nhiệm của cán bộ, công chức để có thể hòa nhập vào cộng đồng quốc tế, cộng đồng khu vực, trong khi Việt Nam đang ờ một khoảng cách khá xa so với thế giới
Nhờ sự phát triển và ứng dụng sâu rộng của CNTT&TT, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhanh hơn với phạm vi ngày càng rộng lớn hơn Thực tiễn kết quả triển khai xây dựng CPĐT ở nhiều nước trong những năm qua cho thấy đang hình thành xu thế xem CPĐT là một trong những giải pháp quan trọng góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội để những nước nghèo tận dụng được những cơ hội to lớn do toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế tri thức mang lại, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn
Hai ìà, nhằm góp phần đây mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Để xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
từ một nước nghèo nàn lạc hậu, nông nghiệp là chủ yểu, chưa có tir tưởng và thói quen của nền sản xuất lớn thì tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực nông thôn nhằm làm thay đổi đất nước có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp thành một nước công nghiệp, chuyển đối một xã hội nông thôn là chủ yếu thành xã hội đô thị và thay đổi tư duy sản xuất nhỏ manh mún trong lực lương lao động
đa số là nông dân thành tư duy sản xuất công nghiệp
Việc xây dựng CPĐT, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ giúp người nông dân có điều kiện tiếp cận các chủ trương chính
Trang 27sác! , phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; tiếp cận và ứng dụng khoa học kỳ thuật mới, thậm chí có thể tham gia sáng tạo công; nghệ trons sản xuất nông nghiệp; nhanh chóng, kịp thời có được những thông tin liên quan cần thiết đến hoạt động sản xuất của mình; dễ dàng hơn trong việc chia sẻ thông tin, kinh nghiệm cho nhau và có thể quảng bá rộng rãi sản phẩm của họ
ra thị trường trong nước và ngoài nước, tù đó hình thành tư duy sản xuất nông nghiệp mang tính chất hàng hoá
Có thế nói, CNTT&TT chính là phương tiện dẫn dắt người nông dân làm cuộc cách mạng xã hội và kinh tế trong khu vực nông thôn và trong sản xuất nông nghiệp [24],
Ba là, để xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh, chống quan liêu, tham nhũng.
Thực tiễn quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao thảnh nền kinh tế thị trường được điều tiết tốt bởi Nhà nước trong những năm qua ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho hệ thống hành chính nhà nước mà muốn vượt qua được thì Chính phủ cần trở lên mạnh hơn, hoạt động của Chính phủ cần hiệu quả và minh bạch hơn, phục vụ tốt hơn các nhu cầu của nhân dân Việc sử dụng CNTT&TT trong hệ thống các cơ quan hành chính được xem là giải pháp quan trọng để Chính phủ đáp ứng dược những yêu cầu đó
CPĐT nếu được thực hiện sẽ đem lại thay đổi căn bản cho nền hành chính công quyền tại Việt Nam vốn mang nặng các đặc tính của xã hội phương Đông Trong khi nền hành chính phương Tây đạt được hai ưu điếm rõ rệt là tinh giản và hiệu quả thì nền hành chính phương Đông lại chú trọng quản lý con người hơn là quản lý công việc và những giá trị truyền thống được đề cao hơn là tính hiệu quả Hệ lụy kéo theo là tham nhũng, quan liêu, gia đình trị và trong chừng mực sẽ cản trở hiệu quả trong bối cảnh toàn câu
Trang 28hoá hiện nay Sự ứng dụng của CPĐT sẽ làm giảm thiểu các mối tương tác không đáng có giữa con người với con người trong quá trình giao dịch giữa chính phủ với các bộ phận có liên quan Đây thực sự là một ý tưởng khả dĩ để thúc đẩy nhanh quá trình CCHC ở Việt Nam cũng như nhiều nước phương Đông - vốn thường dậm chân tại chỗ bởi gặp ngay trở ngại đầu tiên là con nẹười.
Thực chất, CPĐT không làm thay đổi bản chất nhà nước, bản chất giai cấp mà chỉ góp phần xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh hơn, có trách nhiệm với dân cao hơn Nhà nước Việt Nam vẫn là nhà nước của dân,
do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam Nhưng
hướng đa ngành, đa lĩnh vực); biến đổi về phương thức quản lý, điều hành (nhờ sử dụng mạng máy tính và hệ thống thông tin); tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước nói riêng, hiệu quả xã hội nói chung CPĐT đảm hảo tính công khai, dân chủ, đặc biệt là công khai về thông tin Sự thiếu thông tin đã cản trở đáng kể việc tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động hoạch định, thực thi pháp luật và các chính sách, chương trình phát triên kinh tế- xã hội Bởi vậy tính công khai và dân chủ mà CPĐT mang lại sẽ là một nhân tố chống quan liêu, tham nhũng hiệu quả Ví dụ, Quốc Hội phân bô ngân sách cho từng dịa phương; đến lượt chính quyền địa phương phải công khai ngân sách đó trên mạng để người dân theo dõi, kiểm tra nhằm loại trừ nạn tham nhũng
Bổn là, góp p h ầ n dân chủ hóa đời sông xã hội
Cùng với quá trình cải cách kinh tế và hội nhập, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội cũng đã trở thành một xu thế không thể cưỡng lại được Ket quả của nó đặt ra những yêu cầu cao hơn về phát huy dân chủ cơ sở, đòi hỏi thu hút mạnh mẽ sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước, đòi hỏi
Trang 29phải đảm bảo tính công khai, minh bạch trong thể chế, chính sách, thủ tục hành chính cũng như trong thực thi công vụ, đòi hỏi các cơ quan Nhà nưỏ'c và các công chức trong bộ máy hành chính phải thích ứng cả về nội dung lẫn phương thức hoạt động.
Việc triển khai xây dựng CPĐT thực chất là một cách ẩn dụ của hoạt động CCHC nhà nước nhằm chuyển đổi Nhà nước “cai trị” thành Nhả nước
“dịch vụ”, hướng về dân, lấy nhân dân làm trung tâm và lấy các hoạt động cung cấp dịch vụ cho nhân dân là chức năng chủ yếu của mình CPĐT thực sự
là công cụ hiệu quả để xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đảm bảo dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân tham gia vào các quyết định quan trọng của Nhà nước
N ăm là, để xây dựng thành công nền kinh tế trí thức.
Trong nền kinh tế tri thức, tri thức đối tượng chủ yếu của sản xuất, phân phối, tiêu thụ và là nguồn gốc, động lực của tăng trưởng kinh tế Thông tin và lao động có tri thức là yếu tố sản xuất quan trọng nhất Tăng trưởng kinh tế được chuyển hoá từ mô hình dựa trên tiêu hao nguồn tài nguyên vật chất sang loại hình dựa trên thông tin, tri thức và kỹ thuật
Xu thế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ đòi hỏi nước ta phải xây dựng và phát triển nền kinh tế dựa trên việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT&TT; tiến hành cải tiến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển trong các doanh nghiệp bao gồm sản xuất, phân phối, quản lý, tiếp thị vả tài chính; hình thành những ngành cône; nghiệp thông tin
và cơ cấu lại nền kinh tế .Nói cách khác, cần xây dựng và phát triển nền kinh
tế tri thức Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã khẳng định một trong những mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội nước ta 5 năm 2006 - 2010 là: “tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức
Trang 30Sẽ có rât nhiều khó khăn nếu trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức người dân và cộng đồng doanh nehiệp khôns, tiếp cận đưọc nhanh chóng
và đầy đủ các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước; các thủ tục hành chính cho việc đăng ký thành lập và hoạt động doanh nghiệp vẫn rườm rà phức tạp và được xử lý chậm chạp; người dân và cộng đồng doanh nghiệp vẫn có ít cơ hội phản ánh thực tiễn sản xuất kinh doanh và được tham gia với các cơ quan quản lý nhà nước vào quá trình hoạch định các chủ trương chính sách phát triển kinh tế quan trọng Có thể nói, kết quả xây dựng nền kinh tế nước nhà sẽ rất hạn chế nếu không tiến hành xây dựng CPĐT
Sáu là, C P Đ T ở Việt Nam triển khai chậm và ở mức độ thấp hơn so với mức trung bình cùa các nước trong khu vực.
Từ đầu những năm 1970, nhiều nước phát triển đã tiến hành triển khai hoạt dộng tin học hoá quản lý nhà nước mà hiện cũng vẫn là một trong những nội dung chính của việc xây dựng CPĐT Đối với nước ta, hoạt động đó lần đầu được triển khai một cách có tổ chức và hệ thống vào những năm 1996 -
1998 trong khuôn khổ Chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin, nói chung không muộn so với nhiều nưóc trong khu vực vào thời điếm này Nhưng hoạt động đó không được tiến hành triển khai liên tục một cách có hệ thống, dù sau đó nó lại được tái khởi động trong Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 (Đe án 112) và thực sự chưa được triển khai theo cách nhìn mới, sáng tạo mặc dù vảo thời điểm bắt đầu chuẩn bị
Đề án này đã có cơ sở tiến bộ công nghệ và thực tiễn triển khai CPĐT ở nhiều nước khác
Từ năm 2003 đến nay, Liên hiệp quốc đã thường xuyên tổ chức điều tra đánh giá về mức độ sẵn sàng phát triển CPĐT của 191 quốc gia trên thế giới theo thang điểm cao nhất là 1 Chỉ số đánh giá mức độ sẵn sàng điện tử và xếp
Trang 31hạng quốc tế của nước ta ờ các năm 2003, 2004, 2005 tương ứng là (0 357; 97/173), (0,338; 112/191), (0,364; 105/191) theo báo cáo của Tổ chức mạng trực tuyến về hành chính công và tài chính của Liên Họp Quốc (ƯNPAN) Còn theo báo cáo nghiên cứu của Trường đại học Brovvn (Hoa Kỳ), xếp hạng CPĐT của Việt Nam các năm 2006, 2007 tương ứng là (126/198), (90/198) Như vậy, các chỉ số này luôn ở mức dưới trung bình so vói các nước trong khu vực và trên thế giới.
Một vài thống kê quốc tế khác cũng cho thấy sự chậm chân của khả năng ứng dụng CPĐT ở Việt Nam, dù là một trong những nước đi sau cùng Chỉ số xếp hạng mức độ có thể đọc trực tuyến (e - readiness rankings) của tổ chức Economist Intelligence Ưnit phối hợp với IBM cho thấy năm 2004 Việt Nam xếp hạng 60/64 nước được xếp hạng (năm 2003 là 56/60)
Có nhiều lý do để giải thích tại sao Việt Nam đứng ở một vị trí khiêm tốn trên bản đồ CNTT&TT thế giới: tốc độ CCHC chậm; nhận thức của các
bộ, ngành, địa phương còn thấp; hạ tầng CNTT còn yếu; môi trường pháp lý chưa hình thành, nguồn nhân lực thiếu Tuy nhiên, trở lực lớn nhất ngăn cản việc phát triển xây dựng CPĐT VN là do thiếu một kế hoạch tổng thể, thiếu một cơ quan đủ tầm bao quát và chù trì triển khai cũng như nguồn kinh phí đầu tư để CPĐT phát huy công năng Tóm lại, việc chậm chân trong xây dựng CPĐT ở Việt Nam không nằm ngoài các rào cản tất yếu xảy ra cho các nước đang phát triển và dĩ nhiên là nó bao gồm các khó khăn chung mà thế giới đã
và đang đối diện
1.4.2.Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước
Khi đất nước còn đang kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến “sửa đổi lề lối làm việc” và chống tệ quan liêu, xa dân
Đi theo tư tưởng của Người, với quyết tâm đổi mới toàn diện đất nước vào cuối những năm 1980, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt CCHC quốc gia là
Trang 32một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu, trong đó CPĐT là một trong những nhân tổ quan trọng của CCHC Nghị quyết phiên họp Chính phú
hoá và minh bạch hoci các quy trình giải quyết công việc, nâng cao chất lượng thông tin vò x ử lý thông tin, tăng cường và m ở rộng các dịch vụ công,
p h á t huy dân chủ trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật mới nhất về CNTT&TT Xây dựng C PĐ T là bước đi quan trọng và cần thiết trong kế hoạch CCHC công, nhằm đổi m ới tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả sự chỉ đạo, điều hành của Chính p h ủ và bộ máy hành chỉnh các cấp, giảm hội họp, giấy tờ, tiết kiệm thời gian và tiền của xã hội”.
Cũng ngay lúc mới ra đời, Chính phủ Việt Nam đã khẳng định tôn chỉ
“Chính phủ của dân, do dân và vì dân” Sự bùng nổ của CNTT vào những năm 1990 đã thâm nhập vào mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, trở thành động lực phát triển và tạo ra thách thức đan xen đối với mỗi quốc gia Trước hối cảnh đó, CNTT đã được Chính phủ Việt Nam xác định là công cụ để thực hiện tôn chỉ của mình Và CPĐT là một trong các ứng dụng cơ bản và quan trọng của CNTT để “cung cấp các dịch vụ hành chính công nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho người dân”, làm thay đổi phương thức và nâng cao hiệu quả mối tương tác giữa Chính phủ với người dân, đẩy nhanh cuộc CCHC của đất nước
Trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, nhận thức sâu sắc vai trò và xu thế phát triển tất yếu của CPĐT, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chính sách bằng các văn bản, kế hoạch và dự thảo cụ thể nhằm xây dựng và phát triển CPĐT, hướng tới một chính phủ hoạt động hiệu quả, phục vụ nhân dân tốt hơn
Chỉ thị 58/CT-TW ngày 7/10/2000 của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp
Trang 33công nghiệp hóa, hiện đại hoá là nền tảng pháp lý đầu tiên cho phát triển CNTT nói chung và CPĐT nói riêng Chi thị khẳng định CNTT là một trong những động lực phát triên quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội, xác định
động của các cơ quan Đàng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nên hành chính quôc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhăm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
q uả”. Chỉ thị cũng nêu rõ mục tiêu: “Bảo đảm đến năm 2005, về cơ bản xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thong thông tin điện tử của Đàng và Chính
p h ủ ”.
Hơn một tháng sau, ngày 24/11/2000, Việt Nam đặt bút ký Hiệp định khung E-ASEAN (Hiệp định khung về ASEAN điện tử), cam kết xây dựng CPĐT đồng bộ với các nước ASEAN giai đoạn 2000-2005 Theo đó, các nước ASEAN sẽ hướng tới việc thiết lập một xã hội điện tử bàng cách thúc đẩy sự phát triển của một xã hội tri thức, nâng cao nhận thức, hiểu biết chung
và hiểu rõ giá trị của CNTT&TT, đặc biệt là Internet, nâng cao tính cạnh tranh của lực lượng lao động, và sử dụng CNTT&TT để nâng cao tính cộng đồng của ASEAN Dù mới hình thành được khung pháp lý, nguyên tắc chung
mà chưa xây dựng được các biện pháp cụ thể để hiện thực hoá E-ASEAN nhưng hiệp định đã tuyên bố quyết tâm cùng sự đồng thuận cao của Việt Nam nói riêng và ASEAN nói chung trong việc hướng tới một xã hội điện tử
Chủ động hội nhập, ngày 25/7/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải ban hành quyết định 112/2001/QĐ-TTg phê duyệt đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 (gọi tắt là đề án 112) với những mục tiêu thể hiện quyết tâm trong việc xây dựng một CPĐT ở Việt Nam để hội nhập với ASEAN và thế giới Đây là một Đề án quan trọng, chính thức mở đầu lộ trình xây dựng CPĐT Đề án cũng là bộ phận cấu thành của Đe án đổi mới phương
Trang 34thức điều hành và hiện đại hóa công sở của hệ thống hành chính nhả nước giai đoạn I (2003-2005) thuộc Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn
Cũng Irong Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 (phê duyệt ngày 17/9/2001 tại Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg), CPĐT đã được ghi nhận và nêu rõ là một trong những mục tiêu của CCHC Cụ thể là:
“Nên hành chính nhà nước được hiện đại hóa m ột bước rõ rệt Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đổi hiện đại phục vụ yêu cầu quàn lý nhà nước kịp thời và thông suốt Hệ thống thông tin điện tử của Chính p h ủ được đưa vào hoạt động”. Sau này, khi tổng kết công cuộc CCHC sau 5 năm thực hiện (2001-2005), Thứ trường Bộ Nội Vụ - TS Thang Văn Phúc đề ra nhiệm
nghệ thông tin vào quản lý hành chính, hình thành từng bước “Chính phủ điện tử " đ ế nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất của Chính p h ủ và hệ thống hành chính các cấp ” Và định hướng CCHC
đại hóa từ công sở tới phương thức quản trị hiện đại, đạt trình độ quản lý của nên hành chính khu vực và thế giới Chính ph ủ điện tử được thiết lập và vận hành hiệu quả
Đốn ngày 6/10/2005, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển CNTT&TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” tại Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu ứng dụng rộng rãi CNTT để hình thành, xây dựng và phát triển CPĐT và đưa
ra các chương trình trọng điểm mang tính đột phá Theo đó, mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một trong những nước tiên tiến trong khu vực ASEAN về phát triển và ứng dụng CNTT&TT, xây dựng thành công Việt Nam điện tử - phát triển Công dân điện tử; CPĐT; Doanh nghiệp điện tử và
Trang 35phát trien Giao dịch, Thương mại điện tử Chiến lược cũng đưa ra định hướng
ưu tiên xây dựng CPĐT ở Việt Nam theo 4 giai đoạn: hiện diện, tương tác, giao dịch và tích hợp Hoàn thiện giai đoạn ) (2004-2005), hầu hết các cơ quan trung ương, tỉnh thành phố phải có trang web cung cấp thông tin cho người dân, hệ thống thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội hoạt động thường xuyên và có hiệu quả, tiến hành tin học hoá 50% các dịch vụ cơ bản vả thực hiện được 10% giao dịch của các ngành kinh tế qua mạng Thêm vào đó, cần phát triển các điểm truy cập Internet công cộng, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân giao tiếp và khai thác thông tin của Chính phủ
Bên cạnh việc đưa ra các chiến lược, mục tiêu và chương trình hành động, việc tạo dựng hành lang pháp lý để CPĐT hoạt động cũng đang gấp rút được hoàn thiện Luật Giao dịch điện tử ban hành ngày 29/11/2005 đã đặt một bước quan trọng trong lộ trình tạo lập hành lang pháp lý cho CPĐT ở nước ta Luật khẳng định quan điểm sau: (1) coi CPĐT là công cụ giúp Chính phủ trong sạch, minh hạch, hiệu lực và hiệu quả hon; (2) lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; (3) gắn với hoạt độna, CCHC; (4) coi CPĐT là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới, nâng cao năng lực và chất lượng cuộc sống Luật cũng nêu rõ cần nâng cao năng lực điều hành, quản lý của các cơ quan Chính phủ; phục vụ người dân và doanh nghiệp; huy động nguồn vốn nhà nước (1% ngân sách từ năm 2006) cho phát triển CPĐT
Luật Công nghệ Thông tin được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 cũng tạo ra khung pháp lý quan trọng đẩy mạnh CPĐT ở Việt Nam Luật quy định về nguyên tắc, điều kiện, nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; hoạt, động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng; trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Đây là một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh một cách toàn
Trang 36diện và đầy đủ về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin Việc ban hành Luật Công nghệ thông tin là rất cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi để từng bước phát triển kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh và tạo sự đồng bộ với các quy định trong các đạo luật có liên quan đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế với ASEAN, APEC, WTO Bên cạnh 2 luật trên, một số văn bản như: Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp
và sử dụng dịch vụ chứng thực điện tử; Nghị định của Chính phủ quy định việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng mật mã không thuộc phạm vi bí mật Nhà nước cũng đang được tích cực soạn thảo, tạo nền tảng cho sự phát triển CNTT nói chung và CPĐT nói riêng trong thới gian tới
Nhằm đẩy mạnh và hỗ trợ hơn nữa việc xây dựng CPĐT, ngày 29/10/2006, Trung tâm Hỗ trợ kiến trúc và Phát triển hạ tầng Chính phủ điện
tử (gọi tắt là Trung tâm Chính phủ điện tử) được thành lập Trung tâm này nhiệm vụ trợ giúp chuyên môn cho Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT trong việc xây dựng kiến trúc, phát triển hạ tầng và các vấn đề khác liên quan tới CPĐT trong phạm vi cả nước; tạo điều kiện cho các Bộ, ngành, cơ quan trung ương thúc đẩy các hoạt động xây dựng, phát triển CPĐT
Sau cùng, quan điểm xây dựng CPĐT của Đảng và Nhà nước thể hiện
rõ trong dự thảo “Ke hoạch tổng thể phát triển CPĐT Việt Nam đến năm 2010” Từ vài năm gần đây, Nhà nước ta cũng đã bắt tay xây dựng một kế hoạch cụ thể, chuyên biệt và quy mô về xây dựng CPĐT nhưng hiện vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện và chờ phê duvệt Theo dự thảo kế hoạch xác định xây dựng CPĐT là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới Và mục tiêu là
từ 2005 đến năm 2010 sẽ đổi mới tổ chức, phương thức quản lý, quy trình
Trang 37điều hành, xây dựng chính phủ Việt Nam năng động, minh bạch, hiệu lực hiệu quả dựa trên sự trợ giúp toàn diện của CNTT&TT CPĐT Việt Nam sẽ đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin thiết yếu và từng bước cung cấp
lúc Những nhiệm vụ lớn của chương trình này ( trị giá 221 triệu USD) đến
đầy đủ thông tin thiết yếu về pháp lý, hành chính liên quan đến cuộc sống của người dân lên mạng Internet Người dân có khả năng tìm thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan hành chính một cách nhanh chóng, kịp thời
Nhìn chung, Đảng, Nhà nước ta đã có cái nhìn toàn diện, sâu sắc và biện chứng về sự cần thiết phải xây dựng CPĐT tại Việt Nam, xác định CPĐT là một trong những ứng dụng quan trọng của CNTT&TT, đồng thời là nhân tố và mục tiêu cơ bản của CCHC Bên cạnh Đảng và Nhà nước ta đã có những hành động, chính sách thiết thực để đẩy nhanh quá trình xây dựng CPĐT
1.4.3.N hững kết quả bước đầu trong xây dựng CPĐT tại Việt Nam
Từ những năm 80 của thế kỷ 20, đã có những cải cách đáng kể trong lĩnh vực hành chính và kinh doanh của Việt Nam Khối hành chính công đã có nhiều cố gắng trong việc tái cấu trúc và tinh giản biên chế, nâng cao năng suất lao động và chất lượng dịch vụ CNTT cũng dần được áp dụng trong các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp
Năm 2000 chính phủ Việt Nam ký Hiệp định khung ASEAN điện tử (e- ASEAN) về cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng CPĐT Từ đó đến nay Việt Nam đã có 4 chương trình lớn để thực hiện mục tiêu trên, đó là: Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 (Đe án 112); Đe án tin
Trang 38học hoá hoạt động của các cơ quan Đảng (Đe án 47); Đe án tin học hoá hoạt động của Quốc hội và Đe án phát triển Thương mại điện tử.
Theo đề án 1 12, mạng diện rộng của chính phủ (CPNet) được xây dựng
để kết nối Văn phòng chính phủ với các bộ, ngành, địa phương Chính phủ cũng chỉ đạo xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính - ngân sách, kinh tế - xã hội, luật và văn bản pháp quy, đất đai, tài nguyên Hầu hết các
bộ, ngành, địa phương đã xây dựng xong mạng LAN (Local Area Network - mạng nội bộ) phục vụ cho hoạt động tác nghiệp của mình Đe án 112 là những nỗ lực ban đầu để hướng đến một CPĐT và không thể phủ nhận đã đạt được sự hưởng ứng của nhiều cấp ban ngành, địa phương Nhưng đến thời điểm này, đề án 112 đã thất bại Đề án đặt ra những mục tiêu rộng lớn nhưng được điều hành và thực thi bởi một lực lượng nhỏ, chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, không tương xứng về quy mô và vị thế Bên cạnh dó, chưa có sự phối họp chặt chẽ giữa Đề án 112 và Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 Quá trình triển khai các ứng dụng chưa được kết hợp chặt chẽ vói các hoạt động đổi mới, CCHC và chưa có sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao nhất của các đơn vị Nhiều thủ tục hành chính vẫn còn rườm
rà, phức tạp, chưa rõ ràng, hạn chế hiệu quả của việc áp dụng CNTT&TT Tháng 4/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng buộc phải chỉ đạo ngừng đề án này nhằm chấm dứt tình trạng hoạt động kém hiệu quả, thiểu mô hình cụ thế, gây lãng phí hàng tỉ đồng Nhưng Thủ tướng cũng nhấn mạnh: Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước phải được tiếp tục triển khai theo hướng mói, mạnh mẽ, thiết thực hơn theo đúng tinh thần Nghị định 64/2007/NĐ-CPĐT.Cùng với Đề án 112, các Đe án 47, Đề án phát triển Thương mại điện tử
và Đe án tin học hoá các hoạt động của Quốc hội, tuy ra đời sau nhưng đang được thực hiện khẩn trương Hệ thống mạng WAN (Wide Area Network -
Trang 39mạng diện rộng) đã được xây dựng, đi vào hoạt động khá ổn định và đang được mờ rộng tới cấp quận, huyện.
Bên cạnh đó việc cung cấp thông tin về tổ chức và hoạt động của các cơ quan đảng và nhà nước, các chính sách và hướng dẫn các thủ tục hành chính trên mạng được triển khai ngày một tốt hơn, là một bước tiến quan trọng hướng tới CPĐT ở Việt Nam Trước năm 2000, số các bộ, ngành và địa phương có trang tin điện tử chính thức còn rất khan hiếm song tính đến tháng 6/2005, so website của các cơ quan hành chính nhà nước là 62/64 tỉnh/thành phố, tăng gấp đôi trong vòng 2 năm Nhưng trong số 62 website này, chỉ có
49 website là đang thật sự hoạt động và 29/49 website hoàn toàn không có thông tin liên quan đến thủ tục hành chính Nội dung thông tin trên các website còn đơn giản, chỉ ỉà quảng bá, giới thiệu về địa phương Tính chất phục vụ của CPĐT qua các website dừng ở mức cung cấp một số thông tin cơ bản, chưa thực hiện chức năng giao tiếp điện tử theo đúng nghĩa Mới chỉ có website của Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Đà Nang, Bắc Ninh, Hà Nội bước đầu thực hiện được chức năng cơ bản của CPĐT - tương tác 2 chiều, cung cấp một số dịch vụ hành chính công trên mạng Tuy nhiên các dịch vụ trực tuyến hiện vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm
Như vậy, sau hơn 6 năm triển khai CPĐT, Việt Nam tuy có những thất bại nhưng cũng đạt được một số thành tựu nhất định Theo kết quả điều tra của PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân & Ths Nguyễn Thị Anh Thư đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế tháng 4/2005 thì các thành quả bước đầu của việc triển khai CPĐT đã góp phần không nhỏ nâng cao năng lực quản lý, điều hành, và hoạt động của các cơ quan chính phủ Việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan đảng và nhà nước đã có bước phát triển mới, góp phần đổi mới lề lối làm việc, cải cách nền hành chính, tạo tiền đề cho việc phát triển CPĐT, đẩy mạnh quá trình CCHC, tạo dựng và gìn giữ niềm tin của nhân dân với chính
Trang 40quyền Mặc dù vậy, so với bạn bè năm châu và yêu cầu của thời đại thì bước tiến của chúng ta còn quá chậm Trong khối ASEAN, Việt Nam chỉ dứng trên Lào, Campuchia và Myanmar về “chỉ số sẵn sàns CPĐT”.
*Tóm lại, qua những gì phân tích ở Chương I, có thể thấy rằng CPĐT là một xu thế phát triển tất yếu của các quốc gia trên toàn thế giới Bởi lợi ích thiết thực vả hiệu quả của nó đối với người dân cũng như hoạt động của Chính phủ và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia Hòa nhập với khu vực và quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã có những đường lối, chính sách cụ thể, thích họp nhằm bắt kịp với xu thế mới của thời đại Công cuộc xây dựng CPĐT ở nước ta dù còn trong giai đoạn khởi động nhưng bước đầu đã có những tín hiệu tốt đẹp