1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự biến đổi kinh tế xã hội của khu trung tâm hà nội trong những năm đầu của quá trình đổi mới dự thảo

97 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 20,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nguyên tấc phương pháp luân của XHH đồ thi Mác-Xit: Những nguyên lý và nguyên tắc phương pháp luận của XHH nói chung và XHH đô thị nói riêng là cơ sở cho sự giải thích về quá trìn

Trang 1

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu của vấn đề.

3 Mục đích, nhiệm vụ và giả thiết nghiên cứu.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

5 Cái mới khoa học của luận án.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

7 Bố cục và nội dung cùa luận án.

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

CHƯtiNG I: TONG QUAN

1.1 Cơ sở lý luân và phương pháp luân của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nguyên tắc phương pháp luận của XHH đô thị Mac - Lênin.

1.1.2 Xã hội học đô thị và các mô hình lý thuyết về sự phát triển không gian

kinh tế - xã hội đô thị.

1.1.3 Đô thị hóa và những đặc điểm của quá trình đô thị hóa ở các nước đang

phát triển

1.1.4 Nền kinh tế chuyển đổi và biến đổi xã hội.

1.1.5 Tính quy định của xã hội đối với tâm lý và sự thống nhất giữa họat động

và tâm lý.

1.2 Phương pháp hê cùa vấn đề nghiên cứu.

1.2.1 Về các phương pháp định lượng và cách tiếp cận

1.2.2 Vè các phương pháp tính.

1.3 Mốt số đăc điểm kinh tế xã hối ở KTT.

CHUONGII

Sự BIẾN ĐỔI KINH TÊ CỦA KTT TRONG THỜI KỲ DQI MỚI.

2.1 Sư chụyển dich cơ cấu kinh tế KTT trong thời kỳ Đổi mới

2.1.1 Sự thay đổi hình thái cơ cấu kinh tế và vai trò của các thành phần kinh

tế

2.1.2 Sự thay đổi về cơ chế chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 2

2.1.3 “Lồng ghép” hai quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở KTT.

2.2 Sư phân bố khổng gian kinh tế KTT trong thời kỳ Đổi mới

2.2.1 Khu tài chính và thương mại quốc tế.

- Cơ sở của sự phát triển khu tài chính thương mại quốc tế ở khu phía

Tây

- Vai trò của khu tài chính thương mại quốc tế và các vấn đề trong quá trình phát triển của nó.

2.2.2 Khu thương mại trong nước.

- Thực trạng sự phân bố không gian khu thương mại trong nước.

- Đặc điểm sự phân bố không gian kinh tế khu thương mại trong nước.

- Các nhân tố của quá trình phân bố không gian khu thương mại trong nước

2.3 Đánh giá chung về hiêu qủa, nguyên nhân của sư phát triển kinh tế KTT

2.3.1 Hiệu quả sự phát triển kinh tế KTT.

2.3.2 Nguyên nhân của sự phát triển kinh tế KiT.

CHƯƠNG III

BIẾM ĐỔI XÃ HỘI Ở KTT TRONG THỜI KỲ Đ ổ i MỚI.

3.1 Quá trình thi dân hóa và hiên tương đa vi thế nghề nghiẽp ò KTT trong thời kỳ đổi mới

3.2 Phân tầng xã hối Kị.'Ị trong thời kỳ Đổi mới

3.2.1 Thực trạng phân tầng xã hội theo mức sống

3.2.2 Giàu, nghèo và các nhân tố làm thay đổi mức sống.

3.3 Nhu cầu đống cơ và đùĩh hưởng giá tri về sản xuất, kinh doanh ở KTT.

3.3.1 Sự phát triển của nhu cầu và động cơ với tư cách là động lực tác động trở lại với sản xuất kinh doanh

3.3.2 Định hướng giá trị về họat động sản xuất, ldnh doanh.

Phần thứ ba: Kết luận.

1 Đánh giá chung về sự biến đổi kinh tế xã hội ở KTT trong thời kỳ Đổi mới.

2 Các nguồn lực, phát triển của KTT trong quá trình hiện đại hóa.

3 Tăng trưcmg kinh tế và phát triển không gian đô thị ở KTT.

Trang 3

5 Triển vọng phát triển KTT.

Trang 4

TỔNG QUAN

1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VẤN ĐÈ NGHIÊN CÚU:

1.1 Những nguyên tấc phương pháp luân của XHH đồ thi Mác-Xit:

Những nguyên lý và nguyên tắc phương pháp luận của XHH nói chung

và XHH đô thị nói riêng là cơ sở cho sự giải thích về quá trình vận động và

phát triển của các đô thị nước ta, của Khu trung tâm Hà Nội trong thời kỳ Đổi

mới Chúng cũng cho phép giải thích nguyên nhân cơ bản của những thành tựu

KT - XH bước đầu rất quan trọng ở nước ta và tại các đô thị, chính là chính

sách Đổi mới của Đảng, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,

chính sách mở cửa hòa nhập với thế giới và khu vực Tư tưởng cơ bản của

chính trị kinhstế học Mac-xít về sự chi phối của ĩĩnh vực kinh tế đối với các

lãnh vực khác^đời sống xã hội đặt cơ sở logic cho sự phân tích về những biến

đổi kinh tế kéo theo sự biến đổi xã hội và + tâm lý con người trong quá trình

đổi mới ồ khu trung tâm Hà Nội (từ nay viết tắt là KTT) Còn quan điểm biện

chứng và lý luận nhận thức lại cho phép nhận định về sự tác động trở lại tích

cực của những biến đổi xã hội và nhân tố chủ quan con người đối với tiến trình

đổi mới kinh tế ở vùng lãnh thổ đặc thù này.

Quan điểm hẽ thống là một nguyên tắc quan ừọng của nhận thức luận

duy vật biện chứng Những luận điểm chính của quan điểm hệ thống có thể vận

dụng vào vấn đề nghiên cứu như sau:

1 Coi đối tượng nghiên cứu là một hệ thống, tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung

quanh một cách phức tạp Do đó không thể tách rời từng yếu tố để nghiên cứu

mà phải xét mỗi yếu tố trong mối tương quan và tác động qua lại của nó với

các yếu tố khác và với môi trường KTT nói riêng và Đô thị nói chung là những

hệ thống lớn, phức tạp bao gồm nhiều hệ thống con như cơ cấu kinh tế, cơ cấu

xã hội, cơ cấu không gian vật chất, vật thể, vv Phân tích KTT là phân tích sự

vận động bên trong của từng hệ con và mối tương tác qua lại giữa các hệ con

với nhau Trong khuôn khổ của vấn đề nghiên cứu và dưới góc độ xã hội học

chỉ giới hạn sự phân tích về sự vân đỏng bên trong và sư tương tác giữa cơ cấu

kinh tế và cơ cấu xã hỏi của KTT, cổ tính đến quan hẽ tương tác với cơ cấu

khổng gian vât chất - vât thể (như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, cơ sở hạ

tầng sản xuất của đô thị).

Trang 5

Phân tích hệ thống trước hết là phân tích cấu trúc của nó Cấu trúc là một trong những khái niệm quan trọng nhất của tiếp cận hệ thống Cấu trúc của một

hệ thống được đặc trưng bởi quan hệ giữa các phần tử và các bộ phận của hệ thống Nó có thể được mô tả thông qua các trạng thái ổn định của h ệ th ố n g ,

Khi nói cấu trúc của hệ đã thay đổi, tức là nói rằng hệ đã chuyển từ trạng thái

Ổn định này sang trạng thái ổn định khác Trong sự vận động của hệ thống, các thay đổi cấu trúc có ý nghĩa hết sức quan trọng Đó là những thay đổi về chất

Do đó trong quá trình phân tích từng hệ con của KTT như cơ cấu kinh tế, chúng tôi đã chú trọng xem xét sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự biến đổi trong phân bố không gian kinh tế của KTT Còn đối với cơ cấu xã hội, chúng tôi dành sự chú ý đến các đặc trưng trong sự biến đổi của nó như: quá trình thị dân hóa và hiện tượng đa vị thế nghề nghiệp, sự phân tầng xã hội theo mức sống Kết hợp với việc phân tích tính định hướng (mục tiêu phát triển) của từng hệ con và của KTT với tư cách là hê thống lớn bao trùm, có thể cho phép đánh giá những nét đặc trưng trong động thái của hệ thống KTT tức là đánh giá được những thành tựu và những vấn đề đang đặt ra đối với quá trình đổi mới ở vùng lãnh thổ đặc thù này.

2 Đặt trọng tâm nghiên cứu vào sự vận động của đối tượng: xét mổi hệ thống trong quá trình tăng trưởng, phát triển của nó, nghiên cứu xu thế vận động của nó và tìm kiếm phương hướng tác động vào hê thống một cách có hiệu quả nhất Vì vậy, phải chú trọng xem xél các vấn đề cân bằng, ổn định và phát triển.

Vận dụng vào nghiên cứu, chúng tôi đề cập tới việc phân tích các vấn đề nguồn lực của sự tăng trưởng kinh tế KTT, táng-trưàtịg4ãflh-tố và cống-bằng-xã hội, tăftg-trưòng-kifth tế-và phát triển cơ sớ ha tầng kỹ thuât yả xã hỏi ở-dô Ihậ,

tăng trưởng kinh té và bảo tồriyvan hóa ở KTX, tăng trưởng kinh tế và phát triển không gian Kỉ lỴ -h/c/ĩ ưữr;<Ị -ỊÁỶ -ỈMc/ó cuữ ( c t 7

3 Một lọat hệ thống quan trọng thường gặp là các hệ thống có cấu trúc phân cấp Cấu trúc phân cấp có thứ bậc, xuất hiện một cách tự nhiên trong quá trình hình thành các hê thống phức tạp từ những thành phần đơn giản hơn Trong các hệ thống tổ chức, cấu trúc phân cấp là loại hình có cấu trúc phổ biến nhất Những vấn đề cần xem xét trong các hộ thống thứ bậc là các mối quan hệ lọi ích, mục tiêu, phối hợp, hợp tác giữa các cấp với nhau và của toàn bộ hệ thống.

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ sở hạ tầng của KTT vừa là hệ con của

nó vừa là bộ phân cấu thành của cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ sở hạ tầng của thành phố Hà Nội, của cấp vĩ mô: toàn quốc.

Trang 6

Như thế khi phân tích phải xem xét đồng thời các mối quan hệ theo

“chiều ngang” lẫn theo “chiều dọc” Mỗi hệ con, một mặí có những nét riêng

đặc thù trong quá trình vận động của nó phải được chú trọng phân tích nêu bật

lên Mặt khác nó cũng tuân theo những quy luật, xu hướng chung phổ biến của

hệ thống thứ bậc cao hơn.

Do đó, chúng tôi sẽ cố gắng phân tích những nét đặc thù của cơ cấu xã

hội, cơ cấu kinh tế của KTT và đồng thời chú trọng so sánh với xu hướng vận

động chung của hê có thứ bậc cao hơn Để thực hiện được nhiệm vụ này, đòi

hỏi phải vận dụng cách tiếp cận liên ngành, sử dụng kiến thức đa ngành cho

công việc nghiên cứu Vì thế, chúng tôi đã chú ý sử dụng trí thức và kết quả

nghiên cứu thuộc những lĩnh vực khác nhau: xã hội học, kinh tế học, tâm lý

học, quy hoạch, thống kê, dân số, sử học trong và ngoài nước.

Một nguyên tắc khác là nguyên tác lich sử cu thể đựơc áp dụng cho viêc

nghiên cứu sự vận động của KTT trong thời kỳ Đổi mới Nguyên tắc này đòi

hỏi phải xem xét bối cảnh lịch sử trong đó KTT đã hình thành và phát triển,

phải tìm ra những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới sự vận động và phát

triển của KTT ở các giai đoạn khác nhau, nghiên cứu sự kế thừa và sự cải biến

về chất của nó ở các giai đoạn này Điều quan trọng không phải là mô tả lịch

sử mà là tìm ra xu hướng vận động và biến đổi của KTT trong thời kỳ Đổi mới

dưới ảnh hưởng của đấu ấn lịch sử hàng ngàn năm.

Cùng với vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận của XHH Mac-

xít và đường lối Đổi mới của Đảng, thì việc sử dụng các công cụ lý thuyết

chuyên ngành của XHH thế giới, đã đạt được những thành tựu nhất định trong

việc phân tích các xã hội có nền kinh tế thị trường, là cần thiết cho vấn đề

nghiên cứu Đó là các mô hình lý thuyết về sự phát triển đô thị, về đô thị hóa,

về sự phân tầng xã hội trong nền kinh tế thị trường.

1.2 Xã hối hoc đố thi và các mổ hình lý thuyết về sư phát triển không gian kinh tế - xã hối đồ thi.

Thực tiễn công nghiệp hóa và kéo theo nó là quá trình đô thị hóa mạnh

mẽ từ cuối thế kỷ XIX, đến đầu thế kỷ XX, đi kèm với vồ số vấn đề xã hội nảy

sinh ở các đô thị đã thu hút sự chú ý của các nhà xã hội học phương Tây Do

đó từ những năm 20, ở tây Âu và bắc Mỹ đã hình thành một chuyên ngành với

tên gọi là xã hội học đô thị (Urban Sociology).

Theo dõi những công trình nghiên cứu đã công bố của xã hội học đô thị,

nguời ta dễ thấy một “phổ” rộng lớn các vấn đề được nêu ra Chúng hầu như

3

Trang 7

bao trùm cả xã hội theo bề rộng và có liên quan đến nhiều chuyên ngành xã hội học khác.

Trong quá trình phát triển của bộ môn khoa học này, đã xuất hiện một trường phái xã hội học đô thị có tên gọi là trường phái Chicago Nảy sinh từ những nhà xã hội học ở trường đại học tổng hợp Chicago vào những năm 20, trường phái này đã lấy Chicago, thành phố đang trong qúa trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, phòng thí nghiệm để thực hiên những công trình / nghiên cứu xã hội học của họ.

Trọng tâm nghiên cứu của Trường phái Chicago thời kỳ này là vấn đề cư dân đỏ thi bi ảnh hưòng như thế nào bởi cuốc sống ở các thành phố, đã cho ràng những ảnh hưởng này cổ thay đổi ở những vùng khác nhau của thành phố.

Ví dụ, Harvey Zorbaugh (1929), trong một công trình nghiên cứu quan trọng (Hienteer, 1983), đã tìm thấy những sự khác nhau có ý nghĩa giữa vùng Gold Coast (Bờ biển vàng) giàu có của Chicago và những khu ổ chuột tại đó Nhận thức về những sự khác biệt đựơc tồn tại đã đưa đến nhiều câu hỏi Vì sao lai cổ những khác biẽt giữa các vùng của mốt thành phố ? Các vùng khác nhau đã tác đỏng đến nhau như thệ' nào ? Các vùng bi thay đổi thống qua quá trình nào ?

Để trả lời những vấn đề này, các nhà xã hội học của trường Đại học Chicago đã phát triển lý thuyết về sinh thái hoc con người Ngày nay, sinh thái học con người vân là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất và đựơc nghiên cứu toàn diện nhất của sinh thái học đô thị (Theodorson, 1982).

Sinh thái hoc con người đã đươc vân dung để nghiên cứu các Xu hướng của những người tu tâp nhau lai trong những vùng tư nhiên, những vùng đia lý

có những đăc điểm khác nhau Ví dụ về các vùng tự nhiên ở các thành phố như: các khu ổ chuột, những khu vực của một tộc người, những khu vực thịnh vượng, và những quận buôn bán.

Những vùng tự nhiên đôi khi được tính toán trước Ngoài ra những người hoặc những tổ chức có những đặc điểm hoặc những nhu cầu chung tập hợp

nhau lại “một cách tự nhiên” trong những vùng mà ở đó những nhu cầu của họ

có thể được thỏa mãn Ví dụ, các tổ chức công nghiệp tập trung ở các vùng có những dịch vụ cần thiết và những phương tiện giao thông vận tải dễ dàng

Những nhóm người cùng sắc tộc có xu hướng định cư gần nhau như ở vùng

Little Italy (nước Ý nhỏ) của New York và vùng China Town của San Francisso hay LitHe Saigon ở Calif onia

Các vùng tự nhiên mọc lên và thay đổi thông qua một loạt qúa trình chung bắt nguồn từ sự cạnh tranh giành không gian Các nhà sinh thái học con

Trang 8

người đã miêu tả những quá trình này qua ba thời kỳ: phân chia, xâm nhập và

kế tiếp.

Trong quá trình phản chia, các loại người và các loại họat động khác nhau tự sắp xếp theo các vùng địa lý Quá trình xâm nhâp bao gồm sự di chuyển của các loại người và các họat động khác nhau đến một vùng tự nhiên

đã được xây dựng sẵn Nó báo hiệu một sự thay đổi trong một vùng tự nhiên

Kế tiếp đề cập tói một sư thay đổi ở một vùng tự nhiên theo sau cuộc xâm nhập của các loại người và các họat động mới.

Những lý thuyết mang tính sinh thái học về sử dụng đất đai thể hiện mọi

cố gắng nhằm nhận dạng những mô hình chung về sự phát triển thành phố và giải thích vì sao các thành phố phát triển Những lý thuyết này có tầm quan trọng bởi vì chúng chú ý tới các loại nhân tố tác động tới sự phát triển của các vùng đô thị.

Những lý thuyết về phát triển không gian đỏ thi

Do có sự khác biệt lớn giữa các nhân tố có liên quan mà ba lý thuyết chính về phát triển thành phố được đặt ra Lý thuyết vùng đồng tâm (Concentrics Zone) miêu tả sự phát triển đố thi theo các chu ky tròn của các vừng, bát đầu từ thành phố trung tâm tiến ra ngoài Lý thuyết hình quạt (Sector) nhấn mạnh những ảnh hưởng đặc biệt về địa lý và lịch sử của các vùng trong thành phố Các biểu đồ 1, 2, 3 cho thấy ba lý thuyết trên đưa đến những hình

ảnh hoàn toàn khác nhau về sử dụng không gian ở các vùng đô thị.

Lý thuyết vùng đồng tâm,Enest Burgess (1925), một nhà xã hội học của trường Đại học Chicago, đã quan tâm tới việc giải thích các nguyên nhân và kết quả của sự phát triển Chicago và phát triển lý thuyết về vùng đồng tâm Lý thuyết này miêu tả quá trình phát triển của thành phố theo các vòng tròn của các vùng khác nhau, phát triển từ thành phố trung tâm ra ngoài Vòng trong cùng là Quân trung tâm kinh doanh, (CBD) trái tim của thành phổ, bao gồm

chính quyền cao nhất của thành phố, các nhà cao tầng trụ sở; các nhà băng, các

cửa hàng bán lẻ và bán buôn và phương tiện giải trí văn hóa Vùng trung tâm kinh doanh bao gồm chủ yếu là những cống viẽc kinh doanh quan trong của thành phổ vì những cổng việc kinh doanh kém quan trọng hơn không thể giành

giật được không gian đắt đỏ ở đây (Schnore, 1965).

Quận trung tâm kinh doanh có ảnh hưởng đặc biệt mạnh mẽ đối với các vùng khác của thành phố Sự ảnh hưởng này thể hiện đặc biệt rõ ràng ở khu vực bao quanh ngay bên nó Burgess gọi vùng này là vùng chuyển tiếp vì nó ở trong quá trình thay đổi Khi những công việc kinh doanh và các họat động mới

5

Trang 9

gia nhập vào vùng trung tâm kinh doanh thì vùng này mở rộng bàng cách xâm lấn vùng bên cạnh Hầu hết bất động sản của vùng này do những nguời có chút

ít tiền của trong vùng mua lại.

- Khu vực kinh doanh trung tâm (cửa hàng, nhà nhiều tầng, rạp hát, khách sạn)

- Khu vực quá độ ( n h à ổ chuột, công nghiệp).

- Khu vực nhà ở của công nhân độc lập (nhà xuyềnh xoàng, trường học, hàng tạp hóa)

«- Khu vực nhà ở tốt hơn (nhà cho một gia đình, các căn hộ).

— Khu vực những người đi lại bằng

vé tháng trên các phương tiện vận tải công cộng (các khu nhà ò ngoại ô).

Hình L Mổ hình các vùng đồng tâm của tổ chức không gian đô thị

Nguồn; Samuel E Willace Môi trường thành thị (Homewood, 111.:

Dorsey, 1980), tr 54, 57.

Ly thuyết hình quat dựa trên cơ sở một công trình nghiên cứu của Homer Hoyt (1939) chỉ ra rằng, ngược lại với lý thuyết vùng đồng tâm của những mô hình sử dụng đất đai căn cứ vào khoảng cách tính từ quận trung tâm kinh doanh Ngoài ra, đất đai bị tác động mạnh mẽ hơn bởi những con đường giao thông chính Như hình 19.1 cho thấy, những hình quạt giống như những cái nêm xếp theo hình chiếc bánh cắt ra từng miếng đi từ vùng tâm kinh doanh

ra các vùng ngoại ô thành phố Mỗi khu hình quạt được tổ chức gần một con đường giao thông chính Do đó một số khu hình quạt sẽ mang tính chất công nghiệp trội hơn, những khu hình quạt khác sẽ bao gồm các cửa hàng và các văn phòng nghiệp vụ, số khác sẽ là “những dải đèn neon” với những khách sạn ven đường và những nhà hàng và còn những khu hình quạt khác sẽ là

những khu vực nhà ở, mỗi khu vực là một sự hỗn hợp về đẳng cấp xã hội và

sắc tộc của riêng nó.

Trang 10

Giống như lý thuyết vùng đồng tâm, các thành phố ở đây cấu trúc theo hình tròn Nhưng do tầm quan trọng của các con đường giao thông mở ra từ quận trung tâm kinh doanh, cho nên ranh giới của nhiều thành phố tạo thành một mô hình giống ngôi sao hơn là hình tròn đồng loạt Tuy nhiên, mô hình chính xác về một thành phố không phải là vấn đề chính trong lý thuyết hình quạt Cái quan trọng là phương hướng của các mô hình sử dụng đất đai được tổ chức gần các con đường giao thông.

Trang 11

Hình 3 Mô hình nhiều trung tâm về tổ chức khổng gian thành thị.

Nguồn Samuel E Wallace, Môi trường thành thị (Homewood III Dorsey, 1980) trang 54, 57.

Lý thuyết nhiều trung tâm của Elward Ullman (1945) đã đưa ra giả thiết rằng các thành phố không cần phải đi theo bất kỳ một mô hình đặc biệt nào Một thành phố có thể có vài trung tâm riêng biệt, một số dành cho thương nghiệp bán lẻ, một số cho nhà ở và vv Những trung tâm này phát triển không có sự liên quan đặc biệt nào với quận trung tâm kinh doanh Ngoài ra, các trumg tâm này còn phản ánh những nhân tố như địa lý, lịch sử và những truyền thống của những vùng đặc biệt khác Từ khi các nhân tố động đến việc

sử dụng đất đai trở thành những nhân tố quan trọng nhất, thì các nhà lý thuyết nhiều trung tâm không dự đoán bất kỳ một hình thức đặc biệt nào về sử dụng đất đai có thể áp dụng cho tất cả các thành phố.

Mặc dù cả 3 lý thuyết này đều sự chú ý đến động lực của sự phát triển thành phố, nhưng mỗi lý thuyết đều nhấn mạnh tầm quan trọng của những nhân tố mà bất kỳ người nào quan tâm tới sự phát triển đô thị không thể không xem xét Lý thuyết vùng đồng tâm nhấn mạnh đến một thực tế là sự phát triển

ở bất kỳ một vùng nào của thành phố cũng là một bộ phận của các quá trình phân chia, xâm nhập và kế tiếp Lý thuyết này cũng cho thấy tầm quan trọng của sức mạnh kinh tế trong sự phát triển thành phố: sự phân chia không gian ở các thành phố bị tác động nặng nề bởi những người có tiền mua đất đai sử dụng cho những mục đích riêng của họ.

Các nhà lý thuyết hình quạt cũng đóng góp vào sự nhận thức đựơc tính năng động đô thị Như họ đã lưu ý, những tuyến đường giao thông có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các thành phố.

Mặc dù lý thuyết nhiều trung tâm còn là dự đoán lờ mờ, nhưng các loại nhân tố địa lý và lịch sử mà nó nhấn mạnh cũng quan trọng đối với sự hiểu biết

về bất kỳ thành phố riêng biệt nào.

Các mô hình lý thuyết trên đều chú trọng tới vai trò của các khu trung tâm trong sự phát triển thành phố, đặc biệt là các khu trung tâm thương mại Vận dụng vào việc phân tích sự vận động và phát triển khu trung tâm kinh doanh Hà Nội ngoài sự chú ý đặc biệt tới nhân tố kinh tế, còn phải quan tâm tới tác động tổng hòa của nhiều nhân tố khác như: địa lý, lịch sử, giao thông, vv Chú trọng phân tích các nhân tố lịch sử, địa lý đối với sự phát triển KTT là hoàn toàn cần thiết cho 1 đô thị kinh tế duy nhất và lớn nhất Việt Nam đã trường tồn gần ngàn năm.

Trang 12

Đồng thời, phải xem xét KTT như một bộ phận cấu thành trong quan hệ

tương tác với các bộ phận cấu thành khác và sự vận động chung của thành phố

Hà Nội cùng các vùng chung quanh.

Những mô hình lý thuyết nêu trên cũng cho thấy, KTT không có một

ranh giới địa lý cổ định, đó là một cơ thể sống luôn vận động Ranh giới của

chúng luôn luôn thay đổi theo quá trình vận động và phát triển Vì thế, sẽ nảy

sinh khó khăn khách quan là không có số liệu thống kê đầy đủ, đồng bộ về

KTT Tromg thực tế, xưa kia KTT là khu phố cổ 36 phố phường Thời kỳ Pháp

thuộc cho đến thời kỳ bao cấp, KTT bao gồm phần khu phố cổ và khu phố Tây

thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm ngày nay Thời kỳ Đổi mới, KTT mở rộng

xuống phía Đông Nam, lấn sang phần phía Bắc quận Hai Bà Trưng Trong

khuôn khổ đề tài, vì những khó khăn đã nêu, các số liệu thống kê thường được

dùng cho ranh giới quận Hoàn Kiếm (phần cốt lõi, hạt nhân chính của KTT)

Bổ xung vào đó còn có hàng ỉoạt kết quả được lấy từ những cuộc điều tra chọn

mẫu và phỏng vấn sâu trên KTT.

1.3 Đổ thi họạ và những đăc điểm của quá trình đỏ thi hóa các nước đang phát triển:

Tính chất của thế giới hiện đại bị thay đổi bởi quá trình đô thị hóa Đây

là qúa trình làm gia tăng phần lớn dân số thế giới sống ở những vùng đô thị

Đô thị hóa là một xu hướng phổ biến, mang tính quy luật toàn cầu Ớ các nước

phát triển, 72% dân số sống ở thành phố, còn ở các nước đang phát triển là

31%.

Cho đến những năm 50 của thế kỷ XX, về cơ bản quá trình đô thị hóa thế

giới phát triển theo bề rộng - tức là tập trung vào sự gia tăng dân số đô thị và sô'

lượng các thành phố Những năm sau đó, quá trình đô thị hóa phát triển theo

chiều sâu ở những nước phát triển cao Tức là quá trình nâng cao chất lượng

những điều kiện sống ở đô thị, tăng thêm sức hút và ưu thế của đời sống đô thị,

phát triển và phổ biến lối sống đô thị kết hợp với ưu thế về môi trường tự nhiên

của nông thôn Ngược lại, các nước “thế giới thứ ba” phát triển theo bề rộng

với nhịp điều còn nhanh hơn phương Tây trong thời kỳ mở rộng đô thị của nó.

Mô hình đô thị hóa các nước đang phát triển khác biệt với ở các các nước phương Tây bởi những đặc điểm sau:

1 Tính chất tăng nhanh của tỷ lệ phát triển đô thị Chính điều này làm trầm trọng thêm các vấn đề nảy sinh từ quá trình đô thị hóa ở các nước “thế giới thứ ba”.

9

Trang 13

2 Đặc điểm nổi bật hơn cả là sự phát triển công nghiệp ở các nước “thế giới thứ ba” không theo kịp đà tăng trưởng của đô thị hóa Các thành phố Bấc

Mỹ và Châu Âu có việc làm cho tất cả mọi người từ nông thồn di cư ra Ớ các nước đang phát triển, sự cung cấp lao động từ nông thôn ra và từ sự tăng dân sô tự nhiên vượt quá nhu câu lao động cần thiết Thuật ngữ “đô thị hóa qúa tải” (overusbanization) dùng để chỉ nạn thất nghiệp hay khan hiếm nhà

ở, những điều kiện sinh họat thấp kém và nói chung toàn bộ cơ sở hạ tầng

kỹ thuật - xã hội thường lạc hậu so với nhu cầu của dân cư Một loạt vấn đề

xã hội nảy sinh như các khu ổ chuột, vấn đề giao thông đô thị, ô nhiễm môi trường, những tệ nạn xã hội, tội phạm ở thanh thiếu niên, vấn đề sự hòa nhập và thích nghi của những người dân nông thôn mới nhập cư vào đô thị, vv

Những vấn đề trên cũng là những vấn đề các đô thị Việt Nam và thành phố

Hà Nội đang phải đối phó và không dễ gì giải quyết Các vấn đề cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhà ở cũ nát tỉện nghi kém, tệ nạn xã hội, thất nghiệp, tội phạm, môi trường ô nhiễm, người nhập cư thời vụ quá đông, vv cũng là những vấn đề nan giải của KTT.

3 Một khác biệt nữa giữa các nước phát triển và các nước “thế giới thứ ba” trong quá trình đổ thị hóa là số luợng và quy mô các đô thị.

Về quy mô, các đô thị ở những nước phát triển theo một hộ thống đảng cấp

đô thị với quy mô không khác biệt nhau quá lớn Còn ở “thế giới thứ ba” thì

khác, nhiều nước có một vài thành phố cực lớn, giữ vai trò chủ đạo, còn lại

là những đô thị tĩnh lỵ huyên lỵ có quy mô nhỏ hơn rất nhiều Việc quản lý thành phố cực lớn như Calcutta, Mexico City, 10 -2 0 triệu dân ở các nước đang phát triển là một vấn đề hết sức khó khăn Trong số 10 thành phố lớn nhất thế giới hiện nay thì 7 thành phô thuộc các nước đang phát triển.

Vì sao dân cư các nước đang phát triển lại di chuyển đến các thành phố lớn không có đủ việc làm và nhà ở?

Các nhà xã hội học đô thị đã xem xét các nhân tố đẩy và kéo trong sự di cư nông thôn đô thị ở “thế giới thứ ba” Những người nông dân bị đẩy ra khỏi làng xã của họ vì sự tăng dân số quá nhanh ở nông thân trong khi ruộng đất canh tác theo đầu người ngày càng thu hẹp Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp không đủ bù đắp cho nhu cầu sinh sống gia tăng từ sự “bùng nổ” dân số Nông dân phải di cư tới 1 nơi nào đó hoặc đến các đô thị Họ bị lôi kéo ra thành phố vì có được các cơ hội mà cho rằng được học hành tốt hơn, có việc làm, đựơc trợ giúp phúc lợi và được săn sóc về ý tế, không kể đến thực tế là họ có thể bị thất vọng.

Ở Việt Nam hiện có 2 thành phố lớn nhất ờ 1 miền đất nước là Hà Nội và

thành phố Hồ Chí Minh Ở cả 2 thành phô đều có tình trang dân di cư con

Trang 14

lắc, theo mùa vụ và di cư dài hạn quá đông đúc Ví dụ ở Thành phố Hồ Chí Minh, một tài liệu cho thấy có tới 800.000 người tạm trú dài hay ngắn hạn^ Tình trạng trên làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp sự thiếu thốn yếu

kém về nhà ở và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội khác Các vấn đề tệ nạn

xã hội, tội phạm, trật tự vệ sinh đỏ thị, vv càng gia tăng.

4 Về vai trò của các khu trung tâm cũng có những sự khác biệt giữa các nước phát triển và ‘thế giới thứ ba”.

Các thành phố hiện đại ở các nước phát triển, giống như các thành phố tiền công nghiệp, thiết lập vị trí cho các họat động chính về kinh tê và về chính

quyền ở các tụ điểm trung tâm của thành phố Ví dụ khu City ở Luân Đôn, hay Broadway ở Newyork Song hầu hết sự phát triển của chúng đều xảy ra

ngoài trung tâm thành phố, ở những vùng ngoại ô Đó là xu hướng ngoại ô hóa Xu hướng này trở nên quan trọng do sự phát triển của kỹ thuật (thông tin liên lạc, giao thông vận tải (đường quốc lộ, xe du lịch và xe tải)) Xu huớng ngoại ô hóa còn chịu sức ép về văn hóa (chiều hướng chống đô thị)

và về kinh tế (sư khan hiếm và gía cả đất đai khu trung tâm đắt đỏ, sự hỗ trợ của chính phủ cho phát triển nhà ở mới ngoại ô thay vì phục hồi nhà cửa

cũ kỹ ở trung tâm).

Quá trình ngoại ô hóa để lại những hậu quả nghiêm trọng cho khu trung tâm Noi đây chỉ còn những người nghèo, người cao tuổi, người da màu và dân tộc thiểu số sinh sống Nạn thất nghiệp, thất học, nhà cửa đổ nát, dịch

vụ công cộng thiếu thốn, tệ nạn xã hội gắn liền với những nguời nghèo ở khu trung tâm Một thế giới bần cùng, bế tắc, đĩ điếm, nghiên hút, nhà ở dột nát và tội ác cho thấy tình trạng nan giải về mặt xã hội ở các trung tâm thành phố những nước phương tây dù rằng nó vẫn duy trì được vị trí kinh tế

và hành chính quan trọng Gần đây, một số thay đổi có tính chất tự nguyên đang diễn ra như là một quá trình “trở vê cội nguồn” Sự hấp dẫn về lịch sử

và kiến trúc ở các trung tâm thành phố đang lôi cuốn những người thuộc tầng lớp trung lưu thích khôi phục lại chúng Quá trình này làm cho giá cả đất đai và nhà ỏf tăng lên và người ta đã có thể nhận thức lại tiềm năng về sức sống và lợi nhuận của khu trung tâm Ngoài ra còn có sự trở về khu trung tâm thành phố của những người trung niên và trẻ tuổi còn sống độc thân hay gia đình chưa có con cái hoặc cả 2 vợ chồng đều có thu nhập Ý nghĩa của quá trình dịch chuyển từ ngoại ổ trở về trung tâm thành phố đang đựơc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy vặy, có thể thấy rằng, dù trải qua

11

!_Vấn đề cư trú của công dân ờ Tp Hồ Chí Minh: dễ hay khó Thanh niên CN

20.8.1995 trang 18~

Trang 15

những thăng trầm, vai trò khu trung tâm thành phô các nước phát triển bao giờ cũng quan trọng về mặt kinh tế, còn vồ chức năng cư Irú lại có thể biến đổi theo thời gian.

ở các nước đang phát triển, những thành phô' kiểu tiền công nghiệp hay những biến thái của nó vẫn tồn tại, do công nghiệp chậm phát triển Vì thế khu trung tâm thường giữ vai trò thị trường chính cho thành phố và cả vùng

chung quanh Khác với các nước phát triên, ở “thế giới thứ ba” tầng lớp

thượng lưu thường sống gần trung tâm, dễ lui tới các ngôi nhà cao tầng quan trọng nhất của chính quyền Còn những vùng ngoại ô do những người lao động và công nhân nghèo cư trú.

Ở Việt Nam cũng vậy, trung tâm các đô thị vẫn giữ vai trò kinh tế, hành chính quan trọng, là nơi hấp dẫn những lớp người giàu có, khá giả cư trú

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội các khu trung tâm thường tốt hom những vùng ngoại vi, lại gần vị trí làm việc do vậy lôi cuốn cả tầng lớp công chức, trí thức đông đảo tìm kiếm nhà ở tại đây.

Các thành phố lớn ở Việt Nam, như Hà Nội, mang rõ nét cấu trúc đô thị thời thuộc địa, ảnh hưởng của đô thị Châu Âu Người Pháp đã duy trì khu phố cổ cho tầng lớp thương gia, thợ thủ công, thị dân và mở rộng khu phố Tây ở trung tâm Hà Nội với chức năng hành chính, văn hóa và cư trú của tầng lớp thượng lưu và trung lưu Di sản lịch sử, văn hóa của KTTvì thế đã trở thành một lợi thế so sánh trong sự phát triển hiện nay ở vùng lãnh thổ đặc biệt này.

1.4 Nền kinh tế chuyển đổi và biến đổi xã hồi

Thế giới những năm gần đây trải qua nhiều biến động nhanh chóng và mang tính toàn cầu Một trong những biến động lớn lao đó là một loại nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên mỗi nước có hoàn cảnh và bước đi riêng, không giống nhau và đạt được những hiệu quả khác nhau Yĩệt Nam cũng tiến hành một công cuộc cải cách to lớn như vậy với tên gọi Đổi mới Dưới ảnh hưởng của công cuộc Đổi mới, đời sống kinh tế xã hội nước ta có nhiều chuyển biến mạnh mẽ theo 3 nội dung chính là:

Một là chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, sang nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hưứng XHCN.

Trang 16

Hai là, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, đồng thời từng bước xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Ba là, mở cửa, tăng cường, giao lưu, hợp tác với bên ngoài theo tinh thần

“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu cho hòa bình, độc lập và phát triển

Quá trình đổi mói như vậy, chịu những tác động trực tiếp và mạnh mẽ của những biến động toàn cầu Song những tác nhân bên trong mới là động lực chủ yếu thúc đẩy sự thay đổi tư duy và chính sách kinh tế.

Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam có những điểm khác với quá trình cải cách của những quốc gia khác cũng có nền kinh tế chuyển đổi.

Thứ nhất, đổi mới kinh tế diễn ra trong bước chuyển từ thời kỳ chiến tranh sang thời kỳ hòa bình của lịch sử dân tộc Bối cảnh đó làm cho cải cách kinh tế nảy sinh ra như một nhu cầu bên trong tất yếu, diễn ra từ cả hai chiều,

“phía dưới lên” từ các cơ sở kinh tế và trong nội bộ dân cư, đến “phía trên xuống” là những quyết định của các cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Chính mối quan hệ hai chiều đó đã làm cho quá trình nhận biết, điều chỉnh các chính sách trở nên nhạy bén linh họat hơn, đáp ứng những yêu cầu của công cuộc Đổi mới Điều đó làm cho không có các “cú sốc” lớn, gây ra những mất

ổn định chính trị - kinh tế - xã hội như ở 1 số nước khác.

Thứ hai, khác với nhiều nước Đông Âu và SNG, ở Việt Nam nhu cầu

đ ổ i mới c á c chính sá ch kinh tế, x u ất Dhát từ ch ín h lĩnh v ự c kinh t ế c h ứ k h ô n g

phải từ những biến động chính trị Nhu cầu bức bách về đời sống sau khi chuyển sang giai đoạn hòa bình đã đòi hỏi phải tháo gỡ mọi trở ngại về thể chế kinh tế, về sự vận hành nền kinh tế, về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế.

Ở Việt Nam, con đường Đổi mới kinh tế là sự phá bỏ các yếu tố của mô hình cũ và thay thế bằng những yếu tố mới thích hợp hơn với điều kiện của Việt Nam Chúng ta đã không lựa chọn một mô hình có sẵn của 1 quốc gia nào

đó, cũng không theo kịch bản chuyển đổi nền kinh tế của 1 nước nào, 1 tổ chức quốc tế nào Dường như Việt Nam đã áp dụng phương pháp “thử nghiệm và sai lầm”, nôm na hơn có thể gọi là “dò đá qua sồng”.

13

4 Đảng Cộng sản Việt Nam.Văn kiên Đại hội toàn quốc lần thứ 7 NXB Sự thật,

1991 trang 147.

Trang 17

Những thành tựu kinh tế - xã hội ban đầu và các vấn đê đang nảy sinh trong quá trình Đổi mới sẽ là cơ sở cho sự điều chỉnh để đi tới một mô hình kinh tế thị trường thích hợp cho Việt Nam.

Thứ ba, quá trình Đổi mới kinh tế được khởi xướng trong bối cảnh Việt Nam bị cô lập tương đối cả về chính trị và kinh tế Thông cáo báo chí của Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ cho Việt Nam ở Paris năm 1993 đã nhấn mạnh:

“Việt Nam dã nêu một tấm gương trong cuôc đấu tranh khấc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội trong hoàn cảnh không nhận được sự giúp đỡ của bên ngoài” ^

Trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế của Việt Nam như trên, tình hình

kinh tế - xã hội và đời sống cư dân ở KTT bị tác động không nhỏ Nhiều cơ sở kinh tế của KTT và Hà Nội, mà nhiều người dân KTT làm việc, bị mất đi thị trường truyền thống Liên Xô cũ và Đông Âu Do đó việc làm và đời sống của

họ bị xáo trộn nghiêm trọng Chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ Nhà nước cất giảm các khoản bù lỗ cho Doanh nghiệp Nhà nước việc thực hiên quyết định 217, 176, 111/CP đã đẩy hàng vạn lao động ra khỏi khu vực Nhà nước Tất cả những điều đó thúc đẩy người dân KTT phải phát huy lợi thế khu trung tâm thương mại để tham gia vào họat động thương trường với mục đích mưu sinh Nhu cầu đời sống đã thúc đẩy người dân tham gia thương trường Chính sách phát triển nền kinh lế nhiều thành phần, khuyến khích tự đo sản xuất, kinh doanh của Đảng và nhà nước bắt gặp các nhu cầu tự thân của “bên dưới” nên đã phát huy hiộu quả nhanh chóng tạo nên một luồng sinh khí mới, một diện mạo phố phuờng sôi động, sầm uấí khác hẩn sự bình lặng trước kia ở KTT.

*

Sự vận động và biến đổi của nền kinh tế tất yếu dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu xã hội của xã hội Sự biến đổi mạnh mẽ về chất trong 1 thời kỳ dài

củ a lự c lư ợ n g sản x u ấ t v à quan h ệ sản xu ất thư ờng đưa đ ến sự th ay đ ổ i c ơ bản

cơ cấu giai cấp xã hội - hạt nhân của cơ cấu xã hội Sự biến đổi mang tính quá

độ của nền kinh tế sang cơ chế thị trường ở Việt Nam trong mấy năm qua lại làm nổi bật lên vấn đề phân hóa giàu nghèo mà các nhà xã hội học thường gọi bằng thuật ngữ: phân tầng xã hội Phân tầng xã hội là sự phân loại một cách ổn định các vị trí trong xã hội dưới góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền, đặc lọi không ngang nhau Phân tầng xã hội có liên quan tới những bất bình 5~- Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường Ngân hàng thế giới NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1994, trang 5.

Trang 18

đẳng xã hội đã thành mô hình, đã cấu trúc hóa giữa các nhóm xã hội khác nhau, chứ không riêng giữa các cá nhân.

Phân tầng xã hội hiên hữu trong mọi xã hội và phái triển sâu sắc trong các xã hội có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ.

Các nhà xã hội học tập trung quan tâm tới sự phân tầng vừa vì nó có tiềm năng gây ra căng thảng và biến động xã hội đột ngột, vừa vì cách thức mà

sự phân tầng liên quan tới nhiều khía cạnh đời sống xã hội khác.

Phân tầng xã hội tác động đến những cơ may cuộc đời của các cá nhân các nhóm xã hội khác nhau của một xã hội Các hệ thống phân tâng có nền tảng vững chắc trong ba nguồn gốc cơ bản có liên hệ qua lại của sự bất bình đẳng: sở hữu tài sản, quyền lực và uy tín.

Trong những xã hội có giai cấp sự phân tầng chủ yếu dựa trên những khác biêt về sở hữu tài sản Người ta thường giành được quyền lực, uy tín và

địa vị bằng việc kiểm soát của cải có khả năng sinh lợi Tuy nhiên ở những cá

nhân có ưu thế nào đó về quyền lực uy tín cũng có thể sử dụng nó để chiếm hữu nhiều hon những của cải tài sản, đề cao uy tín cá nhân, vv

Các thiết chế xã hội như gia đình, tôn giáo, hệ tư tưởng, nhà nước và pháp luật có vai trò nhất định trong việc duy trì sự phân tầng xã hội.

Các nhà xã hội học cho rằng hiệu ứng Mathew và nguyên lý ưu thế tích hợp cũng hỗ trợ cho các hệ thống phân tầng, Đó là quá trình xã hội mà nhờ có một ưu thế này mà cá nhân hoặc tổ chức có nó chắc chắn sẽ thu nhận được những ưu thế khác.

Tất cả các hệ thống phân tầng đều chứa đựng những xung đột, mâu thuẫn và tiềm năng khác cho sự biến đổi.

Ở Việt Nam nói chung và KTT nói riêng, sau Cách mạng XHCN các giai cấp bóc lột đã được cải tạo, xóa bỏ Những tư liệu sản xuất chính đã công hữu hóa Trong nội bộ nhân dân chỉ còn có sự tích lũy nhỏ bé từ nền sản xuất nhỏ,

từ buôn bán chủ yếu trong khu vực kinh tế không chính thức Do vậy, không có

sự khác biệt quá lớn về tài sản sinh lợi trong dân cư.

Nhu cầu bức bách về đời sống cùng với chính sách Đổi mới của Đảng, khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế đã làm thức dậy mọi tiềm năng, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các thành phố lớn, trong đó có KTT,

15

Trang 19

các thành tựu kinh tế nổi bật hản lên, làm thay đổi diện mạo đô thị đến mức kinh ngạc đối với sự chứng kiến của nhiều người nước ngoài Đà lăng trưởng kinh tế ở các Thành phố lớn và KTT cao gấp rưỡi, gấp đôi cả nước.

Đồng thời sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ ra Ớ những thành phố lớn, trong đó có KTT, sự khác biệt giữa các nhóm xã hội ngày càng bộc lộ nhiều hơn từ sự khác biệt về mức sông, lối sống Từ đây vấn đề về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đựơc đặt ra ngày một bức thiết hơn trên bước đường tiến tới nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Sự tăng trưởng kinh tế và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở các

đô thị lớn (dĩ nhiên cả KTT) đã thúc đẩy một qúa trình biến đổi CƯ cấu xã hội dưới tên gọi quá trình thị dân hóa Đó là quá trình thu hút ngày càng đông đảo

cư dân đô thị phụ thuộc ngày càng nhiều vào thị trường cả về việc làm, thu nhập, lối sống và tâm lý con người Ở KTT, đầu mối phân phối bán buôn, bán

lẻ lớn nhất phía Bắc đất nước, họat động thương trường sôi động nhất thì quá trình thị dân hóa càng sâu sắc Ở đây quá trình thị dân hóa còn kèm theo 1 hiện tượng xã hội đặc thù - hiện tượng đa vị thế nghề nghiệp.

Mỗi vị thế là một vị trí trong xã hội Nó quyết định “chỗ đứng” của cá nhân trong xã hội và mối quan hệ của cá nhân đó với những người khác Vị thế nghề nghiệp là quan trọng nhất, trở thành vị thế chủ đạo, vị trí quan trọng nhất trong việc xác minh đặc điểm xã hội của một cá nhân Các nhóm xã hội, giai tầng xã hội là tập họp của những người có vị thế tương đương trong xã hội còn

có sự bất bình đẳng.

Hiện tượng đa vị thế nghề nghiệp là thuật ngữ dùng để chỉ tính phổ biến của tình trạng một cá nhân có nhiều vị thế nghề nghiệp khác nhau và vì thế cùng một lúc có thể tham gia vào nhiều giai tầng XH Sư tham gia đa dạng như vậy có thể dẫn tới sự thay đổi lối sống, hành vi, tâm lý con người trong qúa trình họat động của mình.

Hiên tượng này chỉ là phổ biến khi mà thu nhập từ nghề nghiệp chính không đảm bảo cho nhu cầu của cá nhân và gia đình họ Nghịch lý thường xảy

ra là vị thế nghề nghiệp chính với giá trị xã hội cao hơn lại có thu nhâp thấp hơn (thậm chí nhiều lần) so với vị thế nghề nghiệp thứ 2, thứ 3 tương ứng với giá trị xã hội thấp Đó không phải là điều đáng mong muốn cho một xã hội phát triển ổn định Sự tăng trưởng kinh tế sẽ dần dần xóa đi hiện tượng này.

*

* *

Trang 20

Những quan điểm lý luận trên đây là chỗ dựa, cho phép phân tích những

đặc trưng của sự biến đổi kinh tế và xã hội ở KTT trong thời kỳ Đổi mới Có

thể phản ánh sự biến đổi đó dưới một góc độ khác, đó là phân tích sự thay đổi

tâm lý con người trong qúa trình Đổi mới Đồng thời có thể giải thích những

nguyên nhân bên trong của sự biến đổi kinh tế - xã hội thông qua sự phân lích

tâm lý Cơ sờ lý luận của sự phân tích tâm lý trong khuôn khổ vấn đề nghiên

cứu là: Tính quy định của xã hội đối với tâm lý và Sự thống nhất giữa họat

động và tâm lý.

1.5 Tính quy đinh của xã hối đổi với tâm lý và sư thống nhất giữa hoat đống và tâm lý.

* Sư thống nhất giữa hoat đông và tâm lý

- Hoạt động của con người, dù ở lĩnh vực nào, dù lớn hay nhỏ đều liên

quan chặt chẽ tới toàn bộ tâm lý của chủ thể Mỗi hoạt động bao gồm hàng loại

hành động khác nhau nhưng đều phải hướng tới một mục đích thống nhất được

xác định trong ý thức, dù trước khi họat động bắt đầu Nó được tiến hành do sự

thúc đẩy của những động cơ nhất định được hình thành từ những nhu cầu đã trở

thành bức xúc, chín muồi, cần được thỏa mãn.

Quá trình họat động diễn ra cũng là quá trình mà với những phương

thức, phương tiện thích hợp chủ thể huy động ở mức độ cần thiết năng lực và ý

chỉ của bản thân để hiện thực hóa mục đích đề ra.

Quan điểm về sự thống nhất giữa hoạt động và tâm lý ở trên nêu bật

được vai trò quyết định của nhân tố con người trong mọi họat động của xã hội

Nó đã trở thành một quan điểm mang ý nghĩa phương pháp luận của mọi

nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội.

Kinh tế liên quan đến tất cả mọi người, nhưng kinh tế với tư cách là một

họat động chuyên biệt của xã hội thì toàn bộ tâm lý liên quan tới nó từ động cơ

đến mục đích, từ năng lực đến ý chí, tính cách, lại có những đặc điểm riêng so

sới những họat động khác mà những chủ thể hoạt động không thể không có ở

mức độ này hay mức độ khác.

Bởi vậy, nghiên cứu họat động kinh tế của một cá nhân cũng như một

nhóm xã hội, một cộng đồng nào đó không thể không xem xét đến sự biến đổi

và sự phát triển của những hiện tượng tâm lý kể trên như những nguyên nhân

bên trong.

Trong khuôn khổ của vấn đề nghiên cứu, chúng-tôi đề cập Lới-nhu cầu,

động cơ và định hướng giá trị về sản xuất, kinh! dọanh như là những nguyên

17

Trang 21

nhân bên trong thúc đẩy họat động này “bùng nổ” ở KTT trong thời kỳ Đổi mói Nó cũng góp phần làm sáng tỏ quá trình cải cách kinh tế ở KTT nảy sinh

và phát triển từ nhu cầu bên trong của nó, ở cả 2 chiều “từ dưới lên” tức là từ trong nội bộ dân cư và “từ trên xuống”, tức là từ những quyết định của hệ thống lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

* Tính QUV đinh của xã h ôi đối với tâm Ịỷ.

Họat động của con người là một hê thống năng động những mối lác động tương hỗ giữa chủ thể và môi trường - môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội.

Nói riêng về mặt xã hội, bất kể họat động đó là họat động gì, có cấu trúc

ra sao và bất kể nó diễn ra dưới hình thức nào cũng không thể được xem xét như là nằm ngoài đời sống xã hội, nàm ngoài các quan hệ xã hội.

Con người tìm thấy trong xã hội những điều kiện bên ngoài của hoạt động để từ đó tiến hành sao cho phù hợp, nhưng chính những điều kiện ấy lại quy định những động cơ, mục đích hình thành trong tâm lý họ, quy định những phương thức, phương tiện họat động mà họ sử dụng Họat động của con người không vựơt ra khỏi những gì mà những điều kiện xã hội hoàn cảnh - cho phép.

Tuy nhiên, xã hội dù vận động theo quy luật nào thì cũng phải thông qua họat động cùa con người và chính trong những họat động ấy mà những điều kiện mới của xã hội nảy sinh Sự tác động qua lại cứ diễn ra như thế.

Bởi vậy nghiên cứu bất cứ một họat động xã hội nào, sự thăng trầm, sự biến đổi và phát triển của nó cũng phải xem xét cả hai phía: con người và những điều kiện xã hội cụ thể.

Trong phạm vi vấn đề nghiên cứu, nhu cầu, động cơ và định hướng giá tri về sản xuất kinh doanh của con người ở KTT hình thành và biến đổi dưới tác động của những biến đổi kinh tế và xã hội Sự biến đổi của các yếu lố tam lý này lại thúc đẩy những họat động kinh tế và xã hội ở đây và thông qua đó các điều kiện mới lại nảy sinh làm cơ sở tiếp tục cho sự biến đổi về tâm lý con người trong quá trình đổi mới.

1.2 Các phương pháp nghiên cứu đươc sử dung

Do tính chất đa dạng của các khía cạnh cần xem xét trong vấn đề nghiên cứu và sự đòi hỏi của phương pháp phân tích hệ thống, nên chúng tôi đã liếp cận đa ngành và sử dụng một loạt các phương pháp định lượng và định tính,

Trang 22

phát huy ưu thế của từng loại phương pháp và cách tiếp cận để đạt được mục tiêu nghiên cứu.

2.1 Về các phương pháp đinh lương và cách tiếp cân

Các phương pháp, định lượng và cách tiếp cận được sử dụng bao gồm:

- Phỏng vấn trục tiếp b ằ n g bảng hỏi.

- Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo quận, phường.

- Khai thác và sử dụng các số liệu thống kê chính thức.

- Sử dụng kết quả các công trình nghiên cứu trong các lĩnh vực xã hội học, tâm lý học, kinh tế, quy hoạch, thống kê, dân số, lịch sử, bảo tồn văn hóa

Trước hết, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn trưc tiếp bằng báng hỏi và chọn mẫu ngẫu nhiên Với các điều tra viên có kinh nghiêm và nắm vững mục tiêu nghiên cứu, phương pháp này đưa tới độ tin cậy cao đối với kết quả phỏng vấn và thu được đầy đủ các bảng hổi được phát ra Trước khi phỏng vấn rộng, chúng tôi đã tiến hành điều tra thử để điều chỉnh các câu hỏi thích hợp hơn với đối tượng được phỏng vấn và đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu.

Mẫu nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi: 350 gia đình phường Hàng Gai.

Phường Hàng Gai gôm 10.800 dân, trên 2000 hộ và có 560 hộ kinh doanh Phường bao gồm các phố hình thành từ những ngành nghề sản xuất

KD truyền thống xa xưa, nay còn duy trì được như: thêu, may, mỹ nghệ, tiện

gỗ, khắc dấu, thiếc, đồ thờ cúng, mành tre Các phố này cũng đồng thời là nơi tập trung buôn bán các ngành hàng mới như kính, đồ chơi trẻ em, sơn, đồ sát, ống nước, đồ gỗ, ăn uống Họat động sản xuất, kinh doanh ở đây không chỉ hạn chế trong khuôn khổ thị trường Hà Nội mà còn là đầu mối bán buôn cho các tỉnh phía bắc Đây là khu vực tiếp giáp giữa khu phố cổ và khu phố tây với các chức năng khác nhau và mang đặc trưng văn hóa kiến trúc không giống nhau Khu phố cổ chủ yếu là chức năng thương mại, dịch vụ, còn khu phố tây mang chức năng hành chính, tài chính, thương mại giao dịch quốc tế Phong cách kiến trúc phương Đông ở khu phố cổ sánh với phong cách kiến trúc địa phương Pháp và kiến trúc thời thuộc địa Đông dương.

Chúng tồi còn tiến hành phỏng vấn cán bố lãnh dao quân, các ban ngành trong quận và lãnh đạo các phường Hàng Gai, Đồng Xuân, Hàng Mã, Tràng Tiền, Hàng Bài nhằm bổ xung các tư liệu nghiên cứu.

Đồng thời với kết quả của cuốc điều tra chon mẫu nói trên, một lọat công trình nghiên cứu xã hội học, tâm lý học kinh tế học, sử học, quy hoạch,

19

Trang 23

thống kê, vv trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã được sử dụng để phân tích, so sánh.

2.2 Về các phương pháp đinh tính.

Phương pháp phỏng vấn sâu được vận dụng để phỏng vấn một sô gia đình nhằm nắm rõ lịch sử đời sống của gia đình trong các giai đoạn chuyển đổi hành vi và diễn biến tâm lý của họ trước những biến động ngoại cảnh, tình hình họat động sản xuất, kinh doanh của gia đình

Phương pháp quan sát được áp dụng để xem xét sự phân bố không gian kinh tế các phường hàng, ghi nhận diễn biến quá trình tập trung và biến đổi của họat động kinh tế trong những phường này.

3 MỐT SỐ ĐÁC ĐIỂM KINH T ấ - XẢ HỒĨ Ở KTT.

Như trên đã trình bày, KTT là một thực thể sống động, vận động và biến đổi theo thời gian Do vậy khó có số liệu thống kê chính thức Tuy nhiên, hiện nay, quận Hoàn Kiếm chiếm tuyệt đại đa số phần khổng gian và dân cư của KTT, các đặc trưng kinh tế - xã hội của nó có thể phản ánh được về cơ bản tình hình của KTT Vì thế chúng tôi chủ yếu sử dụng các số liệu thống kê của quận Hoàn Kiếểuđê đại diện cho toàn bộ KTT.

Hoàn kiếm là quận trung tâm nội thành Hà Nội, diện tích 4,5km2, dân số năm 1992 là 169.009 người Mật độ bình quân vào loại cao nhất nước 37.500 người/km2 Sự di chuyển dân cư đi và đến khoảng 2.500 người/năm và chủ yếu giữa các quận nội thành.

Hoàn kiếm có 18 phường trong đó có 10 phường thuộc khu phố cổ, 8

phường thuộc khu phố tây Chức năng chính tri hành chính của Hoàn Kiếm được tập trung ở khu phố tây với trụ sở quốc hội và chính quyền thành phô' cùng nhiều bộ ngành quan trọng như Bộ năng lượng, Công nghiệp nặng, Thương mại, Ngân hàng trung ương, Tổng cục Bưu điện, Bộ nội vụ Trong khi

chức năng thương mại dịch vụ lại tập hợp trong ở khu phố với chợ Đồng Xuân

và 1 lọat phường hàng kinh doanh như: Hàng Đào có trên 700 hộ kinh doanh vói dân số 7000 người, Hàng Buồm, 708 hộ kinh doanh, Đồng Xuân 1.371 hộ kinh doanh, Hàng Mã 793 hộ kinh doanh.

Lao động thuộc khu vực kinh tế 3 (thương mại, du lịch, dịch vụ, hành chính, KHKT) của Hoàn Kiếm cao hơn hẳn (56,8%) so với các quận khác (trung bình 49,09%).

Trang 24

Tỷ lê lao động trong khu vực tư nhân của Hoàn Kiếm cũng cao hơn các

quận (18,4% so với 10 - 13% ờ các quận khác) Trình độ văn hóa, trình độ kỹ thuật của lao động ở đây cũng cao hơn so với các quận khác trong nội thành

(xem các bảng phụ lục s ố ở cuối luận án).

Lao động phân theo khu vực kinh tế (Sector) của Hà Nội và 4 quận nội thành 1989.

21

Bảng.

SỐngười

0,630,700,720,670,503,502,67

173.53029.90836.15655.27352.193762.855936.385

43,9540,0044,9047,1042,6078,9468,79

133,47026,50126.70239.07141.196130.716264.186

33,835.533.233.3 33,713.519.4

83.046 17.230 15.630 21.347 27.92025.047 108.093

21,0023,1021.1818,9023,204,069,14

Trang 25

Trình độ kỹ thuật của lao động trên địa bàn Hoàn Kiếm cũng cao hơn ở

2 nhóm trung cấp kỹ thuật và Đại học trô lên.

Trình độ kỹ thuật của lực lượng lao động.

Tên khu vưc Tổng Công nhân kỹ thuật "rình đô kỹ thuật

Toàn quận còn khoảng 10.000 lao động chưa có việc làm, trong đó trên

600 đã tốt nghiệp Đại học và trung cấp chuyên nghiệp.

Trang 26

CHUÔNG II

Sự BIẾN DỔI VÊ MẶT KINH TÊ CỦA KHU TRUNG TÂM HÀ NỘI

TRONG THÙI KỲ DỔI MỚI.

Khỏi xướng và thực hiện đường lối Đổi mới là một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển ở nước ta trong gần 10 năm qua Những tác động kinh tế - xã hội của việc thực hiện công cuộc Đổi mới đã được thể hiện một cách sâu rộng trên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong các địa phương khác nhau, ở một thành phố Thủ đô như Hà Nội, đặc biệt ở KTT, tác động kinh tế - xã hội của Đổi mới càng được biểu hiện rõ nét nhấí.

Trong chương này, sẽ đi sâu phân tích những biến đổi trong lĩnh vực kinh tế của KTT dưới tác động của chính sách Đổi mới với 3 nội dung chủ yếu như sau:

1 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2 Sự tổ chức lại cơ cấu khồng gian kinh tế.

3 Hiệu quả của sự biến đổi kinh tế.

1 ■ SƯ CHUYỂN DĨCH c ơ CẤU KINH TẾ CỦA KTT TRONG THỜĨ KỲ ĐỔI M ỒI

Quá trình cải cách kinh tế thường được bắt đầu từ một khâu cơ bản là dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Nội dung đầu tiên căn bản cuẩ đường lối Đổi mới đã ghi rõ: “Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liên bao cấp sang nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, theo quy định hướng XHCN dưới sự chỉ đạo của Nhà nước ”.*

Vè thực chất, nó đòi hỏi sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế, cũng như ở mỗi vùng lãnh thổ theo định hướng mới, trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Những năm vừa qua KTT Hà Nội đã là một tâm điểm của quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế Quá trình này ít nhất bao gồm 3 nội dung như sau:

1 Sự thay đổi cơ cấu và vai trò của các thành phần kinh tế.

2 Một phương thức mới thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

3 Sự “lồng ghép” hai quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở KTT.

Trang 27

11- Sư thay đổi cơ cấu và vai trò của các thành phần kinh tế Biểu

hiện đều trong các sự thay đổi là chuyển từ cơ cấu “Công nghiệp - thương mại /

- dịch vụ” thành cơ cấu “Thương mại - dịch vu và công nghiệp”, sau đó ià sự

thay đổi vai trò của các thành phần kinh tế, ở đó khu vực kinh tê tư nhân và

khu vực kinh tế hỗn hợp đóng vai trò ngày càng lớn trong tiến trình trong tổng

kinh tế và phát triển xã hội.

- Vào thời kỳ bao cấp công nghiệp được ưu tiên phát triển, ngay cả ở KTT với Hợp tác xã - một thành phần kinh tế XHCN, đóng vai trò chủ yếu Lúc

này (1985) KTT có 95 Hợp tác xã, thủ cồng nghiệp (chiếm 35% tổng số HTX

cùng loại trong toàn thành phố), và 226 tổ hợp tác Giá trị tổng sản lượng công

nghiệp được tạo ra ở đây còn lớn hơn giá trị tổng sản lượng của cả sở giao

thồng vận tải lẫn sở xây dựng thành phố^ Các hộ thủ cồng cá thể không phát

triển được do chính sách hạn chế, khu vực tư nhân, và do toàn bộ tư liệu sản

xuất, nguyên vật liệu đều được Nhà nước độc quyền quản lý và phân phối

Những biện pháp kiểm tra hành chính chặc chẽ đã làm nản lòng bất cứ ai muốn

mở rộng sản xuất.

Thương nghiệp quốc doanh với hệ thống 3 cấp và các HTX mua bán

phường, xã cùng với cơ chế cung cấp tem phiếu trong một thời gian dài đã bao

trùm họat động thương mại ở đây cũng như trên khắp mọi miền đất nước

Nhiều biện pháp kiưú ngặt nghèo được sử dụng nhằm kiềm chế họat động ,■ thương nghiệp tư nhân Những khó khăn kinh tế kéo dài làm cho việc cung cấp

ngày càng không đáp ứng nổi nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân đã kích

thích khu vực thương mại tư nhân phát triển, dù bị kiểm soát, nặng nề Vào thời

kỳ này số hộ kinh doanh tư nhân ở KTT luôn luôn chiếm khoảng 35% - 40%

tổng số hộ loại này ở nội thành.

Đó đã tạo ra tiền đề cần thiết để đến khi có sự đổi mới cơ chế, thị trường

tự do có thể họat động đựơc với đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Bước vào thời kỳ Đổi mới, những năm 1986 - 1992, cổng nghiêp ở KlT

suy thoái nhanh chổng và cổ sư thay đổi vai trò giữa các thành phần kinh tế

Thương mai dich vu khu VƯC tư nhân bùng nổ manh mẽ mang lai bỏ măt sống

đống cho khu trung tâm Thương nghiệp quốc doanh mất dần vài trò chủ đạo

Trang 28

doanh ò đây, trong vòng 6 năm (1985 - 1991) đã giảm đi 53% Đồng thời lực lượng lao động di chuyển ra ngoài tới 51,6% Giá trị tổng sản lượng công

nghiệp ở khu vực này giảm 31,8% trong cùng một thời gian?

3

Sự suy giảm của công nghiệp ngoài quốc doanh 1 Bảngl.

3 Giá trị tổng sản lượng (giá 1989) Triệu đồng

CNNQD

Sự thay đổi vai trò của các thành phần kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ trong công nghiệp Khu vực Hợp tác xã từ chỗ chiếm trên 60% các chỉ tiêu về giá trị tổng sản lượng công nghiệp, doanh thu và nộp thuế vào năm 1985 thì nay chỉ còn trên dưới 15% các chỉ tiêu tương ứng Ngựơc lại khu vực tư nhân,

cá thể vượt lên từ xấp xỉ 17% tăng đến trên 50% các chỉ tiêu đó.^

Từ năm 1992 trờ lại đây, công nghiệp KTT đã có dấu hiệu phục hồi Sáu tháng đầu năm 1994 giá trị tổng sản lượng cống nghiệp tăng trên 65% so cùng

kỳ năm trước Tuy nhiên, tốc độ tăng chủ yếu là các xí nghiệp tư doanh và cá thể, còn khối Hợp tác xã vẫn đạt hiệu quả thấp.9

Trái với đà suy thoái của công nghiệp, các họat động thương mại và dịch

vụ lại tăng trưởng với tính chất “bùng nổ”, làm hồi sinh khu trung tâm đô thị này Điều đáng nói là sự bùng nổ và gia tăng này, tuyệt đại bộ phận là do khu vực tư nhân tạo ra Còn thương nghiệp tập thể gần như biến mất, thương nghiệp quốc doanh chủ yếu bán buôn, kiểm soát vài ngành hàng như xi măng, xăng dầu và giữ vai trò khiêm tốn trong bản lẻ.

Sau 5 năm đổi mới, số hộ kinh doanh đã tăng 171,1% và chiếm 35% tổng số hộ loại này ở 4 quận nội thành 3 năm tiếp theo lại có thêm 30% số hộ tham gia họat động trên thương trường Sự tăng trưởng này mang tính chất ổn định và liên tục trong một thời gian khá dài Với sự tham gia trung bình từ 2 Báo cáo UBND quận Hoàn Kiếm năm 1992 Tư liệu Viện tâm lý học

g rp„'í_ cA' 29 - 7.1994 trang 2.

Trang 29

đến 3 lao động trong một hộ, số người họat động kinh doanh trên thực tê có

thể lên tới 30 ngàn người trong một quận chỉ có 75 ngàn lao động Điều đó

tưởng chừng phi lý, song do các họat động mang tính chất kinh tế gia đình nên

đã tận dụng mọi sức lao động của các thành viên từ người trong độ tuổi lao

động đến người có tuổi và trẻ em Ngoài ra, còn phải tính đến một số lượng

đáng kể lao động thuê mướn từ bán hàng, vận chuyển, giúp việc gia đình để

các hộ này mở rộng họat động kinh doanh Để so sánh, trong khi số lao động

lĩnh vực, thương mại, dịch vụ đạt 30 ngàn thì số lao động công nghiệp chỉ có

4.500 người vào thời gian này.

Về vai trò tạo nguồn thu cho thành phốThương mại và dịch vụ đã đóng

vai trò chủ yếu nhất trong thu ngân sách trên địa bàn Thuế công nghiệp chỉ

chiếm 10,43%, trong khi thuế thương mai, dich vu lên tới 80,56% thu ngân

sách tức là thu từ thương mại dịch vụ gấp 7,7 lần thu từ công nghiệp.^

- Vai trò to lớn của thương mại, dịch vụ của KTT không chỉ hạn chế trong phạm vi nội bộ mà còn vươn tới tác động mạnh mẽ trên phạm vi toàn

thành phố Chẳng hạn, thu ngân sách ngoài quốc doanh (chủ yếu là từ thương

mại, dịch vụ) trên địa bàn KTT không chỉ lớn gấp 4 lần thu ngân sách của Sở

thương nghiệp Hà Nội mà còn bằng tổng số thu ngân sách của 2 Sở công

nghiệp và xây dựng thành phố.

Sự phát triển của thương mại, dịch vụ đã góp phần chủ yếu cho đà tăng

trưởng cao của KTT liên tục ở mức trên 10% từ năm 1990 đến nay.

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương mại, dịch vụ đã làm “mờ nhạt” đi

nhiều ảnh hưởng của sự “sụt giảm mạnh mẽ” và tính không ổn định của công

nghiệp ở KTT Hoạt động thương mại, dịch vụ đã thu hút được các nguồn lợi

kinh tế mới hoặc chuyển từ sản xuất công nghiệp sang.

Tuy nhiên, sự “bùng nổ” của thương mại, dịch vụ, mà chủ yếu là của

khu vục kinh tế tư nhân ở KTT mới là bước chuyển sang “biển sản xuất nhỏ”

chứ chưa hình thành nên những Công ty hay Tập đoàn đủ lớn (Trong khi đó

thành phố Hồ Chí Minh quá trình tích tụ và tập trung tư bản mạnh mẽ hơn hẳn

Những công ty lớn như Minh Phụng, Biti’s đã được tạo lập và sự liên kết

ngày càng chặt chẽ trong sản xuất, kinh doanh).

Ngoài ra, trong quá trình mở cửa hòa nhập với nền kinh tế thế giới và

khu vực khu phố tâu của KTT đang dần dần trở thành trung tâm tài chính và

thương mại quốc tế với 29 văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài đặt tại Hà Nội Hàng chục dự án liên doanh khác trị giá vài trăm triệu

USD cũng đang được thực hiện tại đây nhằm xây dựng các cao ốc văn phòng

iG Rán c.án IJRND auân Hoàn Kiếm năm 1992 Tư liêu Viện TLH

Trang 30

giao dịch quốc tế (và khách sạn cao cấp) Hàng trăm văn phòng công ty nước ngoài đều có Xứ bữổ^quy tụ tại KTT Như thế các loại hình dịch vụ cao cấp và

sẽ chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của KTT Vai trò của tu bản tài chính nước ngoài, của khu vực tư bản nhà nước có thể làm thay đổi hản chức năng vai trò và tầm ảnh hưởng của KTT, tạo cho nó một nguồn lực to lớn, tác động mạnh mẽ tới qúa trình hiện đại hóa và công ngiệp hóa của Thành phố Thủ đô và khu vực phía Bắc Sự gia tăng vai trò như vậy vừa thúc đẩy vừa là thành quả của quá trình mở cửa và hòa nhập với thế giới bên ngoài, phù hợp với xu hướng quốc tế hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới Vai trò của yếu

tố bên ngoài vì thế sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển của vùng lãnh thổ có vị thế đặc thù này.

Như vậy là sự biến đổi cơ cấu kinh tế khu trung tâm phù hợp với sự dịch chuyển cơ cấu của nền kinh tế cả nước hiện nay mà trọng tâm là thay đổi ở tương quan giữa hai ĩĩnh vực sản xuất vật chất và dịch vụ Với các chính sách định hướng thị trường, lĩnh vực dịch vụ đã bành trướng có tính chất bùng nổ và liên tục tăng với nhịp độ cao hơn hẳn lĩnh vực sản xuất vật chất Có thể đánh giá rằng chính sự “bung ra” của lĩnh vực dịch vụ là kết quả nổi bật nhất của đổi mới kinh tế trong thời gian qua và là bộ phận quan trọng góp phần tạo nên mức tăng trưởng chung khá cao của GDP 'f Là đầu mối bán buôn, bán lẻ lớn nhất

và sầm uất nhất miền Bắc, KTT đã góp phần đáng kể vào thành quả nói trên.

1.2 Mốt hình thức mới thưc hiên sư chuyển dich cơ cấu kinh tế / Trước đây, cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch nó là do hệ thống kế hoạch hóa và đầu tư tập trung của Nhà nước quy định Trong thời kỳ đổi mới, quan hê cung cầu trẽn thi trường và canh tranh trở thành yếu tổ quy đinh sư dich chuyển cơ cấu sản xuất, kinh doanh Do có sự cạnh tranh về chất lượng và giá

cả của hàng ngoại, hàng nhập lậu, của các cơ sở sản xuất phía Nam nên phần lớn công nghiệp khu trung tâm chỉ có thể đáp ứng nhu cầu của nông thôn miền Bắc và vùng núi Song dù có sự tăng trưởng đây lại là thị trường có sức mua yếu nhất cả nước và trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, không được bảo hộ nên sản xuất công nghiệp không thích ứng kịp với hoàn cảnh mới đầy khó khăn và chậm phát triển Ngoại trừ vài loại sản phẩm ít có cạnh tranh và nhu cầu thị trường Hà Nội khá lớn như cửa sắt, nhôm kính, đồ gỗ Mặt khác, thương mại, dịch vụ KTT phát triển mạnh mẽ bởi sự gia tăng của nhu cầu thị trường Hà Nội trong điều kiện đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ, sự mở rộng thị trường phía Bắc trong điều kiện tăng trưởng kinh tế, sự nâng cao thu nhập dân

cư, sự tăng cường giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với nước ngoài Lợi nhuận bình quân của thương mại, dịch vụ cao hơn hẳn sản xuất công nghiệp lại

ii* PTS Vũ Tuấn Anh Đổi mới kinh tế và những vấn đề đang đặt ra đối với sự

phát triển kinh tế - xã hội Trong sách:

n á i mrti Idnh tế và nhát triển NXB KHXH Hà Nội 1994, tr 54, 55.

5

Trang 31

thu hút sự đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào lĩnh vực này.

Khi chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, cơ cấu đầu tư cũng đã

thay đổi Đầu tư của Nhà nước chú trọng vào cơ sở hạ tầng, còn đầu tư nước

ngoài, đầu tư các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào thượng mại, du

lịch, dịch vụ, kinh doanh bất động sản, sản xuất TTCN, v.v đã làm thay đổi

diện mạo kinh tế và từng bước chi phối xu hướng phát triển KTT

Trong khi đó, về phương diện quản lý, điều hành, hệ thống kế hoạch hóa

đang còn lúng túng, trong việc chuyển sang cơ chế gián tiếp và hướng dẫn

Dường như SƯ phát triển kinh tế đây chủ yếu mang tính tư phái dưới tác đốn a

của thi trường và do nhiều thành phần kinh tế tham gia Sự hình thành và phân

bố các phường hàng ở KTT là một biểu hiên của cơ chế điều tiết các nguồn lực

kinh tê dưới “bàn tay vô hình” của thị trường Cũng như vậy, những cơn sốt

hàng hóa, tiền tệ, những cuộc khủng hoảng thừa và thiếu diễn ra có tính chu kì

của nền kinh tế thị trường là điều tất yếu khó tránh khỏi, dù có điều tiết của

Nhà nước Cơn sốt đất đai ở Hà Nội đã từng làm phần tán hướng đầu tư của

nhiều nhà sản xuất, kinh doanh trong KTT càng thể hiện rõ tính tự phát của thị

trường

Tuy nhiên đáng lưu ý là trong thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế thị trường,

những “lực lượng thị trường” chưa đủ tiền lực để điều tiết sự chuyển dịch cơ

cấu kinh tế một cách hữu hiệu Vai trò của Nhà nước trong thời kỳ này là cần

thiết nhàm chuyển dịch cơ cấu hợp lý, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và

ổn định xã hội

1.3 Sư “lồng ghép” hai quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế:£ư chuyển dich cơ cấu kinh tế ờ KTT vừa mang dấu ấn của sư phát triển sơ khai ở

mốt nền kinh tế thi trường tư do canh tranh, vừa mang nhip điêu hiên đai của

quá trình cơ cấu lai nền kinh tế như ở các nước phát triển

ở các nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, trong giai đoạn sơ khai, xu

hướng mang tính quy luật là tích lũy ban đầu và hình thành tư bản thương

nghiệp Sau một thời gian nào đó, tư bản thương nghiệp mới chuyển dần sang

lĩnh vực công nghiệp và các lĩnh vực sản xuất khác Trong chương 3 về biến

đổi xã hội chúng tôi sẽ trình bày chi tiết về sự giàu lên của một bộ phận dân

cư khu trung tâm bắt nguồn từ họat động kinh doanh thương mại, dịch vụ Vốn

đầu tư của các hộ được điều tra (phù hợp với kết quả của nhiều công trình

nghiên cứu kinh tế khác) hầu như đều là vốn tự có Điều đó thể hiện sự tích lũy

dần dần của họ trong quá trình kinh doanh thương mại Việc chuyển sang lĩnh

vực sản xuất là cần thiết song còn phụ thuộc vào một loạt điều kiện từ các

chính sách vĩ mô, khuyến khích bảo hộ sản xuất trong nước, đến khả năng tiếp

nhân rAnír nehê auản lv của nhà kinh doanh, quy mô tích lũy về vốn, khả

Trang 32

năng hợp tác liên doanh, điều kiện về mặt bằng sản xuất, cũng như lợi thế so sánh tổng hợp khu trung tâm hướng tới có lợi cho sản xuấl.

Nhìn chung, trên thế giới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra 2 khuynh hướng:

Một là, sự chuyển dịch từ khu vực sản xuất vật chất sang khu vực dịch

vụ, chủ yếu diễn ra ở các nước công nghiệp phát triển Nó biểu hiện ở tỷ trọng cao hơn của khu vực dịch vụ trong GDP và trong lực lượng lao động XH so với khu vực công nghiệp Hai là sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa diễn ra ở các nước đang phát triển

Do xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế và sự mở rộng ảnh hưởng của Cách mạng khoa học kỹ thuật nên đã tạo ra khả năng và xu thế thực hiện cùng một lúc cả hai sự chuyển dịch cơ cấu nói trên Sự đan xen hai quá trình này được nhiều nhà kinh tế coi là một thuộc tính của qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển

Đối chiếu với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế KTT có thể thấy sự biểu hiện của xu hướng hiện đại hóa và phát triển khu vực dịch vụ cao cấp: Ngân hàng, cao ốc, văn phòng giao dịch quốc tế, khách sạn cao cấp, kiểm toán, bảo hiểm, tư vấn pháp luật với sự đầu tư của nước ngoài hoặc TB nhà nước Một

số lĩnh vực dịch vụ cũng được phát triển theo khuynh hướng trên của các tổ chức trong nước như hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, kiểm toán bảo hiểm, bưu chính viễn thông, phát triển tư vấn pháp luật và kinh tế, nâng cấp và tăng cường hiệu quả họat động du lịch

Như vậy là, một vùng lãnh thổ đặc biệt^

Khu trung tâm của thành phố Thủ đô^,

ỂÍã đi tiên phong trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu gần giống như ở các nước công nghiệp phát triển dưới tác động của quá trình mở cửa Vấn đề là

có thể tiếp tục thúc đẩy khuynh hướng phát triển nàỵ,với sự mở rộng hơn nữa các họat động dịch vụ chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao để khu trung tâm trở thành động lực mạnh mẽ của quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước

Đồng thời với xu hưứng hiện đại hóa từng bước khu vực dịch vụ là xu hướng mở rộng các họat động dịch vụ cấp thấp, sơ khai như là sự bù đắp lại những thiếu hụt của chúng suốt một thời gian dài bị kìm hãm trong cơ chế bao cấp Những họat động dịch vụ cấp thấp này thường thuộc về khu vực kinh tế không chính thức, giống như ở các nước đang phát triển khác, tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho các gia đình nghèo khu trung tâm và đáp ứng một loại hình nhu cầu phổ thông của quảng đại dân cư có mức sống từ trung bình khá trở xuống

7

Trang 33

2 - S ư TỔ CHỨC LAI KHỔNG GIAN KINH TẾ KHU TRUNG TÂM

TRONG THỜI KỲ Đ ổ i MỚI.

Về phương diên kiến trúc và quy hoạch, KTT Hà Nội được phân định từ đâu thế kỷ này thành 2 phần: khu phố cổ và khu phô tây (còn gọi là khu phô cũ

hay khu thuộc địa pháp) Trong thời kỳ bao cấp, tuy ở mức độ khác nhau, song

cả 2 phần không gian lãnh thổ này đều có phần bị biến đổi , - ■ : -_r

' - - - - - - , và mang nhiều tính chất của các khu cư

trú cho lực lượng lao động khu vực Nhà nước Sự khác biệt trong chất lượng

các công trình xây dựng và kiến trúc có thể là cơ sở dẫn đến một sự phân biệt

giữa chức năng chính trị - hành chính là chính ở khu phô tây và chức năng

thương mại - cư trú ở khu phố cổ Trong gần 10 năm Đổi mới theo sau những

biến đổi về kinh tế như đã phân tích ở trên, có thể quan sát thấy một sự tổ chức

lại, biến đổi, bổ xung thêm chức năng chính của 2 phân không gian lãnh thổ

quan trọng nhất của KTT.

Đến nay, đã có thể định hình răng KTT đựơc phân chia thành hai không

gian kinh tế lớn Thứ nhất là Khu tài chính và Thương mại quốc tế nằm trên địa

bàn khu phố tây, bao gồm các phía Đông, Tây và Nam hồ Hoàn Kiếm Thứ hai

là khu Thương mại trong nước, chù yếu nằm trên địa bàn khu phố cổ và đan

xen vào vài tuyến phố phía Tây và Nam quận Hoàn Kiếm, phía Bắc quận Hai

Bà Trưng.

2.1 Khu tài chính và thương mai quốc tế:

a Sư hình thành nhanh chóng khu vưc tài chính và thương mai quốc

tế ờ khu phố Tây.

Như đã biết khu phố tây trước đây có hai chức năng chính là trung tâm hành chính và khu cư trú (Nơi đây có văn phòng quốc hội, 10 cơ quan Bộ và các cơ quan đầu não của Thành phố) Bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa, chỉ trong vài năm, hầu hết chi nhánh và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đặt trụ sở trên địa bàn này (trên 29 cơ sở) Ớ khu phố tây, có ngôi nhà bề thế, cổ kính, vững chắc và độc đáo tại 49 Lý Thái Tô, trước quảng trường Inđừa Gangđi Đó là trụ sở Ngân hàng Trung ương, ngân hàng “mẹ” của các ngân hàng Đây còn là trung tâm của thị trường nội tệ liên ngân hàng, thị trường ngoại tệ liên nghân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, trung tâm thương mại tín dụng và trung tâm giao dịch tiền tệ Nó còn là hội sở của ngân hầng ngoại thương Việt Nam, hàng ngày giao dịch với hàng chục ngân hàng và trung tâm tài chính thế giới Phố Lý Thái Tổ ở trong khu phố Tây còn được gọi là phố ngân hàng Ngoài 17 chi nhánh và văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, đường phố đẹp đẽ này và khu vực lân cận có tổng số 26 ngân hàng Nơi đây sẽ là “phố Wall” tại Việt Nam ! yêu cầu xây dựng và phát triển thị trường tài chính tại KTT cần được đặt ra trong khuôn khổ của chiến lược phát triển thị trường tài chính Việt Nam.

Trang 34

Cũng dễ hiểu vì sao, mảnh đất này có sức hấp dẫn mạnh mẽ các nhà đầu

tư nước ngoài Trên mười dự án đầu tư với số vốn hàng trăm triệu dollar để xây dựng các cao ốc giao dịch quốc tế, khách sạn 4, 5 sao và siêu thị đều tập trung

ò khu phố tây thuộc quận Hoàn Kiếm Phần lớn các đề án này sẽ được hoàn thành cấp tốc vào năm 1997 trở đi Ngoài ra, Sở nhà đất Hà Nội từ năm 1993

đã đề xuất 1 dự án cải tạo 150 biệt thự ở các phố Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung dành cho người nước ngoài thuê Cùng với hàng chục ngân hàng trong nước, hàng trăm văn phòng đại diện công ty nước ngoài nhiều khách sạn lớn nhất của Hà Nội, Trung tâm Bưu điện quốc tế, những cơ sở ngân hàng và các dự án nói trên đang biến khu phố tây nhanh chóng trở thành một Trang tâm tài chính và Thương mại quan trọng hàng đầu của đất nước, giúp cho việc mở cửa hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Những bước tiến trong việc mở rộng quan hê ngoại giao ngoại thương và thế giới như: Việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ, sự gia nhập ASEAN, ký Hiệp định chung hợp tác với EU sẽ là cơ hội cho sự tăng trưởng nhảy vọt của khu tài chính, thương mại quốc tế Hà Nội

b Cơ sở của sư phắt triển khu tài chúih thương mai quốc tế ở khu phố Tây.

b 1 Cơ sở kinh tế:

Để hiểu được nguyên nhân của sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở một khu vực còn phải xem xét ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô và tác động mang tính cục bộ của chúng ở KTT Hà Nội

Chính sách mở cửa, hòa nhập với thế giới bên ngoài, của Đảng và Nhà nước ta được cộng đồng quốc tế ủng hộ ngày càng mạnh mẽ Sự gia tăng đầu

tư nước ngoài với tốc độ cao trên các địa bàn cả nước và Hà Nội là minh chứng sinh động về thành tựu bước đầu của đường lối mở cửa Vấn đề là tại sao các nhà đầu tư nước ngoài lại tập trung họat động ngân hàng, kinh doanh khách sạn, siêu thị và thiết lập các trung tâm giao dịch quốc tế ở khu phố tây của Hà Nội

Từ góc độ, kinh tế thị trường, lợi nhuận cao, thời gian hoàn vốn nhanh là những ưu thế hấp dẫn nhất khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài chú trọng vào các lĩnh vực kinh doanh khách sạn, bất động sản Theo quy luật cung - cầu, giá thuê khách sạn, văn phòng Hà Nội cao hơn hẳn nhiều nước trong khu vực

Có tài liệu cho rằng giá thuê các văn phòng tại Hà Nội đứng thứ 13 trên thế giới Nhu cầu về lĩnh vực này lại rất lớn so với những cơ sở sẵn có và sẽ còn gia tăng rất cao khi mà đầu tư nước ngoài trong những năm tới theo dự báo sẽ còn tăng vọt Phát triển kinh tế và gia tăng đầu tư đòi hỏi sự đi trước một bước của các dịch vụ ngân hàng Những nhà tài chính nước ngoài đã nhanh chóng đặt các cơ sở ngân hàng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Cũng không có

u lí-Hi nhà đầu tư lai chon khu phố cũ quận Hoàn Kiếm để mở các trung tâm

9

Trang 35

giao dịch quốc tế, siêu thị, khách sạn cao cấp và các chi nhanh, văn phòng đại diện ngân hàng Không một khu vực nào ở Hà Nội hiên tại có địa thế thuận lợi hơn để tiến hành các họat động giao dịch tài chính, thương mại và kinh doanh

du lịch, khách sạn Vị trí trung tâm thành phố bao giờ cũng tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho các họat động tài chính và thương mại trong lịch

sử hình thành và phát triển của đô thị Khu phô cũ quận Hoàn Kiếm có được vị trí trung tâm quan trọng ấy Nó hội tụ được không chỉ các thuận lợi về thời

gian, vị trí mà cả sự ìap ^ trung các thiết chế chính trị kinh tế và hành chính

quan trọng nhất ở cấp thấnh phố và cấp quốc gia Như đã biết ở đây, hội tụ hàng loạt trụ sở các Bộ quan trọng, các cơ quan đầu não thành phố, những ngân hàng Việt Nam, nhiều Công ty kinh tế hàng đầu của đất nước Sự giao lưu từ nơi đây đến các cơ quan Nhà nước Việt Nam, khu vực ngoại giao đoàn ở quận

Ba Đình rất thuận lợi Những đặc điểm trôn là điều kiện cần để tiến hành các công việc giao dịch tài chính, thương mại quốc tế Về mặt không gian xây dựng, chỉ khu phố tây quận Hoàn Kiếm còn nhiều địa điểm hấp dẫn đổ liên doanh Trong khi đó phần khu phô' Tây thuộc quận Ba Đình tuy có sức thu hút mạnh nhưng không còn mấy vị trí có thể đầu tư liên doanh được và bởi lẽ về mặt lịch sử đó vốn đã là một trọng tâm chính trị đầu não của đất nước, cần giữ được sự riêng biệt và bầu không khí “chính trị” riêng của nó

Các yếu tố lich sử và quy hoach.

Nhìn lại lịch sử phát triển của thành Thăng Long thế kỷ x v n , XVIII, các thương điểm ngoại quốc của Anh, Hà Lan đã từng được xây dựng trên bờ sông Hồng (thuộc quận Hoàn Kiếm ngày nay) Họat động cuẩ các thương điểm này đã góp phần thúc đẩy giao lưu và phát triển kinh tế nhiều làng nghề xứ Bắc, làm sầm uất thêm vùng Kẻ Chợ phồn hoa Cũng trên chính khu vực này,

từ giữa thế kỷ Xĩ, vào thời kỳ thuộc địa, người Pháp đã xây dựng thành một khu phố mới nhằm mục đích phục vụ cho chức năng hành chính của bộ máy cai trị

và đáp ứng nhu cầu cư trú, sinh họat vật chất, tinh thần của tầng lớp thượng lưu

và trung lưu thời kỳ ấy Theo quy hoạch của người Pháp, một cơ sở hạ tầng tương ứng kiểu Phương Tây đã được xây dựng trên mảnh đất này, đáp ứng chức năng hành chính và cư trú nêu trên Đặc điểm của kiến trúc và quy hoạch đô thị phương tây được thể hiện rõ nét ở đây, trong các ô phố vuông vác, hình bàn

cờ, đường phố rộng thảng

Trên vỉa hè, trong sân vườn có nhiều cây xanh, mật độ xây dựng thưa (50%) Một số nơi đường phố kết hợp với hồ, tạo cảnh đẹp không khí thoáng đãng (HỒ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang) Kiến trúc biệt thự 1-3 tầng ẩn dưới các vòm cây xanh với nhiều phong cách khác nhau từ phục hưng tới tân cổ điển, từ phong cách mang các yếu tố dân tộc, phong cách Đông Dương, đến phong cách địa phương Pháp đã tạo ra một cảnh quan khác đăc trưng của khu phố cũ Nơi đây đã trở thành một di tích lịch sử - văn hóa đầy hấp dẫn mà

thành nhn 1chác líhône có đươc

Trang 36

Hệ thông cấp thoát nước, ờ khu phô này cho dù đến nay đã bị qúa tải

song vẫn thuộc loại tốt nhất ở Hà Nội Đường xá trong khu phố cũ rộng rãi,

phần lớn được trải thảm bê tông nhựa, đi lại thuận lợi, không bị ách tắc như các

tuyến giao thông khác trong thành phố.

Thông thường tại các Thành phố lớn trên thế giới, trung tâm tài chính

thương mại quốc tế thường được đặt ở vị trí trung tâm, vói các công trình kiến

trúc hiên đại (nhà chọc trời) hoặc một khu vực sang trọng, cảnh quan kiến trúc

đẹp, cơ sở hạ tầng tốt Ở nước ta, với những điều kiện sẵn có, phần khu phố cũ

thuộc Hoàn Kiếm phù hợp hơn cả trong việc đảm nhiệm chức năng mới là

trung tâm tài chính thương mại quốc tế.

3 Vai trò của khu tài chính - thương mai quốc tế và các vấn đề trong quá trình phát triển thành phố

Đầu tư nước ngoài đang trở thành yếu tố quyết định sự phát triên của

khu tài chính thương mại quốc tế Nó làm thay đổi vai trò kinh tế đối ngoại của

cả KTT với tư cách là trung tâm tài chính thương mại quốc tế, đã và sẽ còn tiếp

tục làm thay đổi cảnh quan lẫn nhịp sống mới cho thành phố Thủ đô, thúc đẩy

quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa ở Hà Nội.

Sự phát triển khu tài chính, thương mại quốc tế sẽ taọ ra những xung lực

mới cho sự tăng trưởng dịch vụ, du lịch và thương mại ở khu phố cổ và các khu

vực xung quanh Nó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng họat động dịch vụ, du

lich và thương mại, làm tăng thêm những loại hình họat động mới nhằm thỏa

mãn nhu cầu ngày càng tăng của số lượng đông đảo người nước ngoài đến từ các nền văn hóa khác nhau, có các nghề nghiệp đa dạng Bên cạnh việc tiếep

thu những ưu điểm của sử giao lưu văn hóa cũng sẽ diễn ra sự thâm nhập

những điều không mong muốn các tệ nạn xã hội cần phải đựơc phòng chống

tích cực.

Sự phát triển khu tài chính, thương mại quốc tế ở khu phố này sẽ làm gia

tăng chỗ làm việc cho giới nhân viên chuyên môn, trí thức ở khu trung tâm cũng như trong toàn thành phố Đi kèm theo đó, có thể sẽ là hiện tượngdi chuyển lực lượng lao động chất sám (còn đựơc gọi là “chảy não” (braiu drain)

từ khu vực Nhà nước sang khu vực tư nhân, từ khu vực kinh tế trong nước sang khu vực kinh tế hỗn hợp có đầu tư nước ngoài.

Trong số các dự án, đã xuất hiên những liên doanh xây dựng khách sạn, trung tâm giao dịch quốc tế, giới chủ đầu tư nước ngoài với các nhà máy, xí nghiệp đóng trong các vị trí đẹp ở nội thành Hà Nội việc di chuyển chúng ra các khu công nghiệp ngoại thành là đáng hoan nghênh trong việc bảo vệ môi trườn.s v? r'hl1 hnfn Ví^i hưnrng phát triển kinh tế trong nội thành Điều đáng

Trang 37

quan tâm là sự tham gia vào bộ máy lãnh đạo liên doanh của phía Việt Nam trong những trường hợp này, sẽ buộc một số chuyên gia trong sản xuất công nghiệp phải nhảy sang điều hành một ỉĩnh vực chuyên môn hoàn toàn xa lạ Điều đó liệu có bảo đảm hiệu quả kinh tế cho cả liên doanh và cho bên Việt Nam? Phải chăng cứ cơ sở nào có địa điểm đẹp là có thể tham gia vào liên doanh trong bất cứ lĩnh vực gì? Có thể tập trung quyền quản lý đất đai và điều phối việc thực hiên quy hoạch, phát triển kinh tế và đầu tư nước ngoài cho thành phố?

Dự án cải tạo 150 biệt thự dành cho người nước ngoài thuê nếu được thực hiện sẽ là đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn khu phố cũ Song ngoài khía cạnh kinh tế kỹ thuật như vốn, thiết kế và kỹ thuật tôn tạo, đất dãn dân việc di chuyển hàng ngàn hộ gia đình mà nhiều khi nguồn sống và việc làm của họ gắn liền với địa điểm cư trú hiên tại cũng là một vấn đề không kém phần khó khăn khi để thực hiện dự án.

Sự tập trung đầu tư nước ngoài vào khu vực này cũng sẽ làm thay đổi hẳn cảnh quan kiến trúc Trên nền kiến trúc thấp tầng kiểu biệt thự, nhà xen lẫn cây xanh với các phong cách cổ điển và cận đại sẽ nổi lên một loạt các khu nhà cao tầng hiện đại Ví dụ như liên doanh Hà Nội Plaza cao 20 tầng ở Bách hóa tổng hợp, Khách sạn Hà Nội Vàng hiện đại tọa lạc bên hồ Gươm, đối diện với Thủy Tạ thanh thoát, khiêm nhường Những sự kiện này gây nên tranh luận giữa các nhà kiến trúc, văn hóa, lịch sử và nhà quản lý thành phố xung quanh vấn đề phát triển kinh tế và bảo tồn khu phố cũ như một di sản văn hóa - kiến trúc.

Giáo sư, Tiến sĩ Shiu Takaruasu, một kiến trúc sư Nhật nổi tiếng đã nhận xét: “Hà Nội đẹp hơn Sài Gòn, vì rất cổ, rất đặc trung Nhung đã có nhiều dấu hiệu về sự rạn nứt của kiến trúc thành phố Theo tôi, tất cả những cồng trình lớn đều phải di chuyển ra khỏi trung tâm thành phố, nếu không, chỉ khoảng 10 năm nữa thành phố sẽ tràn ngập cảnh tắc nghẽn giao thông Tất cả các khách sạn, các trung tâm công nghệ, cơ sở, trung tâm thương mại nhất thiết phải được chuyển dịch, giải tỏa từ khu trung tâm đến các điểm tập kết những công trình kiến trúc vĩ mô ở ngoại thành, Nếu không, Hà Nội sẽ không khác gì Bangkok Lúc đó sẽ khó mà sửa chữa, vừa đánh mất bản sắc kiến trúc, vừa bóp nghẹt mạch máu giao thông Hà Nội cũng chuẩn bị đối mặt với cảnh

công chức đồng lọat đổ về làm việc ở khu trung tâm là vừa” ? ,z

ta* Quy hoạch đô thị ở Việt Nam phải giữ được bản sắc dân tộc Lao động Chủ

Nhật 12.3 J 995

Trang 38

2.2 Khu thương mai trong nước.

a- Thưc trang sư phân bố không siatì khu thương mai trong, nước

Khu thương mại trong nước chủ yếu nằm trên địa bàn khu phố cổ và 1 số

tuyến phố phía Nam hồ Hoàn Kiếm, ọhlá 7- 7 ■ ; •

Khu thương mại trong nước lại có thể tách ra hai phần không gian:

a) Phần nằm trên địa bàn khu phố cổ với 2 trục chính giao nhau ử Bắc hồ Hoàn Kiếm.

+ Đồng Xuân - Hàng Ngang - Hàng Đào.

+ Câu Gỗ - Hàng Gai - Hàng Bông.

Cùng hàng loạt các phường hàng bao quanh chợ Đồng Xuân và phân bổ theo Irục ngang như: Hàng Khoai.

- Nguyễn Thiện Thuật - Hàng Giấy

- Tạ Hiền - Đinh Liệt

Sự phân chia không gian kinh tế thương mại này -+ào nên cụm phố phường lớn nhất, tập trung buôn bán sầm uất nhất KTT, mang lại không khí phồn hoa, đô hội của chốn Kinh kỳ^Kẻ chợ một thuở Đây vốn là phần không gian hạt nhân của Thăng Long - Hà Nội xưa, và vì thế sự hình thành, phát triển, biến đổi của các phường hàng đều có những cơ sở kinh tế, lịch sử của chúng

b) Phần mứi phát triển trong những năm vừa qua, dưới tác đồng cùa Đổi mởi và mở cửa:

Theo tuvêh ngang:

Theo true doc:

- Hàng Bài - Phố Huế Bạch Mai.

- Mai Hắc Đế.

- Triệu Việt Vương

- Rììi Thi Xuân

13

Trang 40

c) Về mặt hình thái học, khi đánh dấu trên bản đồ Hà Nội (xem bản đồ đính kèm) chúng ta dễ nhận thấy sự phân bô các phường hàng trên toàn thành phố theo số trục sau đây: Đồng Xuân - Hàng Đào.

Sự khác biệt còn thể hiện ở chỗ KTT tập trung phần lớn các phường hàng

trong thành phố với tất cả tính chất đa dạng, sôi động với quy mô buôn bán lớn còn các đường trục xuyên tâm và vành đai thường chỉ có phường vật liệu xây

dựng hoặc một và phường hàng đơn lẻ như điện lạnh ồ Nguyễn Thái Học,

Nam Đồng, đèn trang trí, gốm sứ ở đường Lê Duẩn

Một cách truyền thống và lịch sử, ở nơi nào quy tụ cả Chợ - Bến - Phường thường có các hoạt động sầm uất, tập trung nhiều phường bán buôn như khu vực chợ Đồng Xuân, rồi đến nhà ga và 2 đầu cầu Long Biên, Chương Dương, các phố phường Hàng Buồm, Hàng Ngang, Hàng Đường

Đối với các nghề nghiệp truyền thống, mà sản phẩm của nó đang có nhu cầu lớn trên thương trường thì nghề đó tiếp tục phát triển trên địa bàn phường xưa, thậm chí còn mở rộng sang các phố phường, các khu vực dân cư khác Ví dụ như nghề kim hoàn, đổi tiền ở phố Hàng Bạc, hiện có tới hàng trăm

hộ kinh doanh có đăng ký hoặc không Phố Tạ Hiền liền kề có 10 cửa hàng

* Quy tiõạch đô thị ở Việt Nam phải giữ được bản sắc dân tốc Lao động Chủ

N Ị , a t l ± a j 1QQS

Ngày đăng: 28/03/2020, 00:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w