Nếu như nghiên cứu ý thức tôn giáo cho phép ta di tói những nhận định về vaỉ trò nào dó của nó dối với thục tiễn xã hội, thực tiễn lịch sủ một cách trừu tượng, thì việc nghiên cũu tổ c
Trang 1MỤC LỤC
Chương I: Vai trò tôn giáo trong đời s ố n g xã hội
và vấn đê vai trò của Phật giáo trong lịch sử
II Phật giáo và vân dề vai trò của nó trong lịch sử Việt
Chương II: Vai trò Phật giáo trong lịch sử Việt
Nam (Qua triêu đại nhà Lý: 1010 - 1225) 60
I Thực trạng Phật giáo dưói triều đại nhà Lý 60
II Vai trò Phật giáo trong lĩnh vực tư tưỏng 72 III Vai trò của tín ngưỡng Phật giáo trong lĩnh vực tín
- D a n h mục các tài liệu tham khảo l4cS
- Những công trình khoa học đã công bỗ có liên quan
Trang 2LÒI M ỏ ĐẦU
1 TÍnh cấp thiết của dê tàí íuận án.
Trong mấy năm gằn dây, môn lịch sử triết học (trong đó có lịch
sủ triết học phương Đông và lịch sử tư tưởng Việt nam) đã dược chính thúc dưa vào chương trình giảng dạy trong các trưòng Dại học và Cao dẳng nưóc ta Đây thật sự là vần dê mỏi (nhất là vói phân lịch sử triết hoc phương Đông và lịch SỪ tư tưỏng Việt nam).
Vì là vấn đề mỏi nên thực tê biên soạn và giảng dạy gặp không
ít những khó khăn mà trước hết là nội dung những vấn dê trong
chương trình.
Thực tế này đòi hỏi cần có sụ xúc tiến nhanh việc nghiên cứu nhièu vẫn đề, trong đó có vấn đê vai trò Phật giáo trong lịch sử
tư tưởng Việt nam,
'A Dây là điều cần thiết bởi vì như thục tế lịch sủ dã chỉ ra: đân tộc Việt nam có một lịch sử thành văn trên hai ngàn năm thì phật giáo cũng có một lịch sử gân hai ngàn năm đồng hành cùng đân tộc Đặc biệt, vào giai doạn dâu của thòi kỳ xác lập một nên quốc gia phong kiến Việt nam (thòi Lý- Trân), trong khoảng 4 thê kỷ Phật giáo dã từng là quốc giáo.
Trong suốt chiều dài lịch sử gân hai ngàn năm, P h ậ t giáo dã
đ ể iại những dấu ấn sâu, rộng trong lịch sủ tư tưởng và tín ngưỡng
Trang 3nước nhà Diều này cho thây việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng và tín ngưõng Việt nam không thể bỏ qua, cũng không thể coi nhẹ vấn dê vai trò của Phật giáo.
2 Tỉnh hình nghiên cứu của đ ề tài luận án.
Cho tói nay ỏ nước ta dã có khá nhiêu công trình nghiên cứu
và trình bày về lịch sủ phật giáo Việt nam mà diên hình là một
số công trình sau dây:
"Phật giáo Việt nam tù nguyên thủy dến thế kỷ XIli'* của Trần Văn Giáp, "Việt nam phật giáo sủ lược" của Thích Mật Thể, "Việt nam phật giáo sử luận" (2 tập) của Nguyễn Lang, "Lịch sử phật giáo Việt
nam" của nhiêu tác giả, do P.G.S Nguyễn Tài Thư chủ biên, "Lược sử
Phật giáo Việt Nam" của Thượng tọa Thích Minh Tuệ.
Trong nhũng công trình này các tác giả cíêu có những nhận xét nhất dịnh về vai trò Phật giáo ỏ Việt nam trên một số phương diện khác nhau.
Nhận rõ tâm quan trọng của Phật giáo trong lịch sủ tư tưỏng Việt nam, ủy ban khoa học xã hội Việt nam đã chủ trương mỏ
hai cuộc hội thảo khoa học tại H à nội (tháng 12- 1984) và T h à n h
phố H ồ Chí Minh (tháng 3- 1985) với chủ đê "Mối quan hệ giữa
P hạt giáo và lịch sừ tư tưỏng Việt nam" Kết qủa trực tiếp của
hai cuộc hội thảo này là cuốn "Mây vân dề vê Phật giáo và lịch
sủ tư tường Việt Nam" dã dược xuất bản (năm 1986) do viện
Triết học thuộc ủy ban khoa học xã hội Việt nam phát hành Dây là cuốn tài liệu bao gồm nhiều bài phát biểu, nhiêu bản tham luận khoa học rất khác nhau Có tác giả là nhà nghiên cứu,
có tác giả là nhà tu hành, có cả nhà báo, nhà tuycn huấn v.v
Trang 4Nhũng ý kiến rất phong phú? thậm chí đối lập nhau, Điêu này
cho thấy việc đ án h giá về vai trò P h ậ t giáo tron g lịch sử Việt
Năm 1993, nhà xuất bản khoa học xã hội dã phát hành cuốn
"Lịch sử tư tuỏng Việt nam" (gồm nhiêu tác giả do P.G.S Nguyễn
Tài Thư chủ biên) Khi trình bày về lịch sủ tư tưỏng Việt nam thòi Lý- Trần, cuốn sách dã có hắn một chương (chương X - 22
trang) đế viết về P h ậ t giáo và triết học của các thiên sư Tro ng
phần này, các tác giả giành sự quan tâm nhiêu hon tói việc trình
bày những tư tưỏng triết học cùa các thiền sư thòi Lý- Trần.Ngoài ra, trên một sỗ tạ p chí nghiên cứu mà diên hình là "Tạp
chí Triết học" cũng có một số bài đê cập tói vấn đê vai trò của Phật giáo trong lịch sủ tư tưởng Việt nam, chẳng hạn bài "Thủ tìm hiểu VỊ trí của ba dạo: Nho, Phật, Lão trong lịch SLÌ tư tưỏng Việt nam" của tác giả Nguyễn Tài Thu dăng trên tạp chí triết học, số 1- 1982, hoặc bài "Thủ bàn về một vài tư tuỏng Phật giáo' của tác giả Nguyễn Hùng Hậu đăng trên tạp chí Triết học
số 1/3- 1989 v.v
Diêm qua tình hình nghiên cứu như vậy đã cho thấy: 1) v ấ n
dề vai trò Phật giáo ỏ Việt nam dã dược nhiều công trình nghiên cúu dề cập tói nhưng vẫn chưa dạt tối khảo cứu một cách có hệ thống 2) Còn có nhiều nhận dịnh rất khác nhau về vấn dê vai trò Phật giáo trong lịch sử việt nam nói chung và thòi Lý- Trần
nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án.
Luận án bưóc dầu vận dụng lý luận triết học Mác - Lênín và
Trang 5những quan diêm của các nhà kinh điển chủ nghía Mác - Lênin
vê vai trò tô n giáo trong dòi sống xã hội dê dịnh hướng nghiên
cúu vấn dê vai trò Phật giáo ỏ Việt nam nói chung, thòi Lý nói riêng.
Đ ể đạt được mục tiêu dó, luận án có những nhiệm vụ:
- Nghiên cứu một cách tương dối có hệ thống lý luận của triết
học Mác - Lênin và quan diêm của các nhà kinh diển chủ nghĩa
Mác - Lênin về vai trò tốn giáo trong đòi sỗng xã hội.
- Phân tích tình hình nghiên cứu lẫu nay vê vấn dê vai trò Phật giáo ỏ Việt nam để tìm ra hướng tiếp cận phù hợp.
- Đi theo huóng tiệp cận đã dược xác dịnh, nghiên cứu một cách có hệ thống vấn dê vai trò phật giáo trong lĩnh vực tư tưỏng
và tín ngưỡng Việt nam ỏ giai đoạn lịch sử thời Lý (1010- 1225).
4 Cơ sỏ lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
- Quan diểm Mác xít về vai trò tôn giáo trong dời song xã hội.
- Những tư liệu lịch sù đã được các bộ môn lịch sử khảo cứu,
sắp xếp một cách có hệ thống
- Phương pháp biện chứng của triết học Mác - Lênin; phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp.
5 Cái mối khoa h ọ c của luận án.
Luận án đã bưóc dầu góp phân:
- Phân tích một cách có hệ thống lý luận vê vai trò xã hội của tôn giáo trên cơ sỏ những luận diêm do các nhà kinh diên chủ nghĩa Mác- Lê nin dê ra.
Trang 6- Định hưóng cách tiếp cận vấn dê vai trò p h ậ t giáo ỏ Việt
Vói những kết qủa đó, tác giả hy vọng luận án này có thể góp
phần vào thực tiễn nghiên cứu và giảng dạy lịch sử tu tưỏg triết
học phương Dông cũng như lịch sử tư tưỏng Việt nam hiện nay
ỏ nưóc ta
6 Kết cấu luận án.
- Tên luận án: "Về vai trò phật giáo ỏ Việt nam" (Qua triều
dại nhà Lý)
- Luận án gồm 169 trang Ngoài "Lòi mỏ đầu", "Kết luận",
"Danh mục các tài liệu tham khảo" và "Nhũng công trình khoa học đã công bố có liên quan vói nội dung luận án", Luận án được cấu trúc thành 02 chương, 5 tiết (chương 1: 2tiết, chưong II: 3 tiết.).
Trang 7CHƯỜNG I
VAI TRÒ TÔN GIÁO TRONG ĐÒI SốNG XÃ HỘI
VÀ VẤN ĐỀ VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO TRONG
LỊCH sử VIỆT NAM.• ■
I VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA TÔN GIÁO
Luận diểm xuất phát dê có the xác dịnh dúng và dây dủ vị trí,
vai trò cùa tôn giáo trong dòỉ sống xã hội là luận diêm xem xét tôn giáo với tư cách là một hiện tượng xã hội - một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội.
Điều này đặc biệt cân thiết khi nghiên cúu vai trò xã h ộ i /của những tôn giáo lón như Phật giáo, Co dốc giáo, Hồi giáo v.v
cũng như mọi tôn giáo của xã hội hiện dại
Vói tư cách là một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tâng của xã hội, mọi tôn giáo đều bao gồm ý thức tôn giáo, dặc biệt là ý
thức hệ tôn giáo, và tương ứng với nó là một th iết chế xã hội như tổ chức giáo hội, tăng doàn, nhà thờ và nghỉ lễ thờ cúng.
Nếu chỉ nghiên cứu tôn giáo vói tư cách là một hình thái ý thúc xã hội thì có thể cho phép chỉ rõ bản chất không khoa học
cua tôn giáo và dễ n h ận thấy vai trò hạn c h ế củ a tô n giáo tron g
lịch sử nhận thúc và văn hóa; trong lịch SỈ! cải tạo thiên nhiên,
Trang 8định của tôn giáo hầu như rất khố được làm sáng tỏ Song nêu nghiến cứu tôn giáo với tu cách toàn diện hơn, dẳy dử hơn, tức
íà với tu cách là một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tâng của xã hội thì không những nó cho phép vạch rõ vai trò hạn chế lịch
sử, đôi khi là phản tiến bộ, phản khoa học của tôn giáo mà còn có thể thấy được một cách dúng dắn vai trò tích cực nhất định của tôn giáo trong đòi sống xã hội.
Trong công cuộc xây dựng xã hội mới ỏ nước ta hiện nay, tôn
giáo vẫn tồn tại một cách khách q u an thì việc nghiên cứu vai trò
của nhửng tác động nhiêu mặt của tôn giáo, kể cả mặt hạn chế, tiêu cực để khắc phục cũng như mặt tiến bộ, tích cực dể sử dụng
và phát huy là một việc làm cân thiết.
1.1 Ý thức tôn giáo.
Là một hình thái ý thức xã hội, bất cứ một tôn giáo nào cũng bao hàm một nội dung không khoa học; dó là sự phản ánh một cách sai lệch nội dung khách quan của giói tự nhiên và xã hội.
Nó là kết quả tất nhiên của tính hạn chê trong sự phát triển của
ý thức con ngưòi, của nhân loại Bỏi vậy, xét theo bản chất, ý thức khoa học và ý thức tôn giáo là không thê tương dông, thậm chí đối lập nhau Có nhũng ý dịnh khoa học hóa nội dung ý tlúíc tôn giáo nhưng diều đó là không thể thục hiện dược, bởi vì chúng khác nhau vê bản chất Cho tói nay, luận diểm kinh điển của các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác vẫn giữ nguyên giá trị khoa học:
" bất cứ tồn giáo nào cũng dều chỉ là sự p h ản ánh hư ảo vào đâu óc ngưòi ta những sức mạnh ở bên ngoài chỉ phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức
Trang 9mạnh ỏ thế gian dã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian (4 ỉ
- trang 544) ho ặc tôn giáo là "thế giói quan lộn ngược", "là trái
tim của thế giói khồng có trái tim" và "là thuốc phiện của nhân dân" (31.4 - trang 14).
Là sự phản ánh sai lệch hiện thức khách quan, dương nhiên ý thúc tôn giáo mang trong nó bản chất hạn chê của sự tác dộng tích cực tỏi những yếu tô tiến bộ của xã hội, của lịch sử Không thể dòi hỏi ỏ ý thúc tôn giáo tính duy lý, khoa học, Câu cách ngôn "tôi tin vì diêu dó là vô lý" là một cách ngôn chân ỉý vê bản chất của ý thức tôn giáo.
Tuy nhiên, nếu trong ý thức, dặc biệt là ý thức hệ tôn giáo chỉ toàn
là những sai lâm, những phi lý và tiẻu cực dối vối dời sống xã hội thì tôn giáo dã không thế tồn tại và phát triển hàng ngàn năm trong lịch
sử các dân tộc khác nhau trên hành tinh của chúng ta Và, điêu dó cũng không đúng vối quan diểm duy vật Mácxít.
Trong khi chi ra nguyên tắc quyết định của tồn tại xã hội dối với ý thức xã hội thì đồng thòi chủ nghía duy vật lịch sử cũng chi ra rằng bản thân đời sống ý thílc xã hội củng có tính độc lập
tương dối của nó, trong CỈÓ có sự tác dộ ng lẫn nhau, giao lưu,
kế thùa lẫn nhau của các hình thái ý thúc xã hội là một nội dung căn bản của tính độc lập tương đối dó Nhu vậy thì ý thức tôn giáo, vói tư cách là một hỉnh thái ý thức xã hội không tôn tại biệt lập vói các hình thái ý thức xã hội khác như: hình thái ý thức dạo dức, thẩm mỹ, chính trị, pháp luật V.V Giữa chúng có
sự tác dộng qua lại, kê thừa lẫn nhau, tạo ra sự phong phú của
mỗi hỉnh thái ý thức xã hội, tạ o ra cái th ầ n thái củ a mỗi hình
Trang 10thái ấy Nguyên lý triết học này dã dược chúng minh bằng sự phát triển thực tế phong phú của ý thúc xã hội trong lịch sú hàng ngàn năm của các quốc gia, các dân tộc khác nhau Thực
tế cho thấy, có nhũng niíóc mà ỏ dó tôn giáo trỏ thành một
truyền thống sâu sắc thì nó dã góp phân làm biển th ái, tạo ra cái than thái dặc thù của các lĩnh vực ý thức xã hội khác như
đạo dúc, thẩm mỹ Ngay cả lĩnh vực ý thức chính trị và ph áp
quyền cũng có thể chịu ảnh hưỏng sâu sắc của tư tưởng tôn giáo truyền thống Tôn giáo tự nó không phải là chính trị, song chính trị mang mâu sắc tôn giáo, hay mang tính chất sâu sắc nào đó
của một tôn giáo đang ph ổ biến trong xã hộỉ là diêu dễ nhận
thấy.
Tương ứng như vậy, tôn giáo vằ dạo đức không phải ià dồng nhất,
tôn giáo và thẩm mỹ cũng không phải là một v.v song khó có thể biện minh rằng trong một ý thức tôn giáo lại không có những yếu tố cùa
tư tưởng dạo đức, của thẩm mỹ, của văn hóa và trong diều kiện xã hội có giai cấp thì còn có cả những yếu tố chính trị, dảng phái nữa Lịch sử phát triển của bất cứ một tôn giáo lón nào trên thế giới dều chũng tỏ rằng; trong quá trình phát triển của mình, nó clã dược
làm giàu thêm, phong phú thêm nội dung tư tưỏng bằng tất cả sự lliu
nhận và biến cách những yếu tố ngoại lai, từ các hình thái ý thức xã hội khác.
Phật giáo là một điển hình của tình hình dó Kể từ khi xuất hiện, càng về sau Phật giáo càng được phát triển thành nhiêu tồng phái
không phải lả Phật giáo Sự khác nhau ấy dã duợc tạo ra bởi sự du
Trang 11nhập phật giáo vào các dịa phương, khu vực khác nhau, dưới sụ ảnh
hưởng khác nhau bỏi ý thức xã hội của các cộng dồng ngưòi khác
nhau Khi phật giáo thâm nhập vào một xã hội cụ thể nhất định như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản v.v thì một mật nó đã bị bản dịa
hóa vê nội dung, mặt khác nó có thể thu nhận từ ý thúc xã hội bản địa nhũng yếu tố tư tưởng mà vốn nó chưa có
Một nét riêng ỏ Phật giáo Ấn độ so vói các tôn giáo ỉón khác trên thễ giới mà bất cú một nhà nghiên cứu nào cũng có thể nhận thấy là
nó vùa có tu cách triết học lại vừa có tu cách tôn giáo Người ta hoàn
toàn có thể minh chứng rằng Phật giáo là một tôn giáo, đồng thời
cũng không ai có thể bác bỏ dược sự thật phật giáo là một ý thức hệ triết hoc Vậy thì phật giáo có sự thống nhất giữa những tư tưởng tôn
giáo và những tư tưởng triết học Có th ể giả định rằng: ra đời trong
một điêu kiện truyền thống của triết lý thòi kỳ Ưpanisad dã lằm phát sinh vô số các trương phái triết học khác nhau như Mimansa, Vedanta, Yôga v.v đã khiến cho phật giáo không thể dứng vững nếu không có
một nên tảng triết học nhất định Dương thời, vị sáng lập dạo Phật
ỉà Thích ca mâu ni, được truyền tụng rằng ngài thường im lặng trước
những câu hỏi vê siêu hỉnh học của các dệ tủ Nhưng càng về sau, nhât là vói các đệ tủ truyền thùa dã khồng thể im lặng mãi írưóc
những vân dề của siêu hình học.
Bới vậy, thái dộ dúng đắn khoa học khi nghiên cứu vê ý thức tôn giáo là cân phải phân tích đầy dủ những phương diện, những yếu tố khác nhau của nó.
D ó là thái dộ khoa học của sự chọn lọc và kẽ thùa Nhiêu giá trị dạo đức, thẩm mỹ, vãn hóa truyền thống của một dân tộc
Trang 12có thê dược tìm thây ỏ ngay trong ý thức truyền thống của một tôn giáo của dân tộc dó.
Có nhũng dân tộc mà bản thân chưa có cliều kiện và khả năng tạo
ra một tôn giáo nào dó thì nó dón nhận sự du nhập của một tôn giáo
từ bên ngoài, Con dưòng du nhập của một tôn giáo ngoại lai đối vói
một dân tộc có thê phải trải qua nhiêu thòi kỳ, qua nhiêu dân tộc
khác nhau trưóc khi dến vói dân tộc dó Chính ỏ diêm này dân tộc
đó có thể tìm thấy và kê thừa ỏ tôn giáo ngoại lai này nhiêu yếu tô’
có giá trị tích cực vê các phương diện khác nhau của các dân tộc khác,
thông qua tôn giáo CỈÓ
Nghiên cứu kỹ vê vai trò tích cực của ý thức tôn giáo cho phép
di sâu hơn một bưóc nữa: có th ể tìm thấy những giá trị tích cực nhất định của ý thức tôn giáo ngay trong nội dung phản ánh mà C.Mác cũng như F.Engen gọi là "hư ào" hay "thuốc phiện" của
nó.
Sụ phân tích toàn bộ doạn văn sau dây của C.Máe (tro ng G óp
phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgen Lòi nói đầu)
cho thấy chính bậc sáng lập ra chủ nghĩa Má c dã nhận thấy diều
dó:
"Sự nghèo nàn cùa tôn giáoJ một mặt là biểu hiện của sụ nghèo nàn hiện thực, và mặt khác là sự phàn kháng chống sự nghèo nàn
hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thỏ dài của chủn g sinh bị áp bức,
là trái tim của thế giới khồng có trái tim, cũng giống như nó là tinh thân của những diêu kiện xã hội không có tinh thân Tôn
giáo là thuốc pliỉện của nhân dân" (31.4 - trang 14).
Trong doạn văn trích dẫn trên dây cho thấy C.Mác dã vận
Trang 13dụng tài tình phép biện chúng dể thấy dược sự thống nhất giữa những hạn chế lịch sử của ý thức tôn giáo và nhũng tích cực nhất định có tính lịch sử của ý thức ấy Mỗi câu trong đoạn văn trên dây dều chỉ rõ hai mặt dối lập của cùng một vấn dề.
Khi C.Mác nói "Sự nghèo nàn của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực", rằng "Tôn giáo tiếng thỏ dài của chúng sinh bị áp bức" thì chính ông dã chỉ rõ m ặt hạn chê, tiêu cực của tôn giáo Hình tượng "tiếng thỏ dài của chúng sinh
bị áp bức" là một hình tượng rất đạt để nói về sự bât lự c, bất phàn kháng cùa quàn chúng nhân dân trong tình trạng bị áp bức,
bị bóc lột trong đòi sống hiện thực
Mặc dù vậy, C.Mác vẫn thấy rõ mặt khác của vấn đê tôn giáo,
ông chỉ rõ: "Mặt khác là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện
thực ấy", rằng tôn giáo "là trái tim của t h ế giói kh ông cố trái tinVy
cũng giống như nó là tinh thần của những diêu kiện xã hội không
có tinh thân"
Vói nhãn quan duy vật lịch sử, C.Mác chỉ rõ nguồn gốc hiện
thực của ý thức tôn giáo Ý thíic tôn giáo chính là biểu hiện, là
sự thăng hoa sự bất lực của quần chúng nhân dân trưóc hiện thực xã hội phi nhân tính; là áp bức, là bóc lột? là tai họa , dồng thòi chính sự biểu hiện, sự thăng hoa dó lại nói lên mặt khác của vấn dê: dó là biểu hiện của sự phản kháng, có ý hướng thể hiện sự chống dối tinh thân hiện thực phi nhân tính Hình ảnh "trái tim" mà C.Mác sủ dụng ở dây có thể hiểu là tính nhân bản, tính nhân ái, tinh thán dại bi tính ngưòi Con ngưòi không tìm thây bản tính ấy của nó trong clòi sống hiện thực nên con
Trang 14nguòi đã di tìm bản tính ấy ỏ một tồn tại khác do chính Củn ngưòi tạo ra - đó là ý thức tôn giáo Việc con ngưòi đi tìm bản tính ây, dù không phải ỏ bản thân đòi sống hiện thực, mà là ỏ một thế giói tường tượng tôn giáo, đã nói lên rằng nhu cẳu phải
có, phải tìm thấy bản tính ngưòi của nó là một nhu câu khách
' quan, D o vậy, việc đi tìm bản tính ngưòi ỏ thê giói tưỏng tượng
chính cũng là biểu hiện của sự phản kháng tình trạn g phỉ nhân
tính của xã hội đang là trạng thái hiện thực bao trùm con ngưòi
Có thê nói bất cứ ý thúc tôn giáo nào cũng là tiếng "vang” của nhu câu hiện thực dã dược thăng hoa trong những lóp mây mù của sự tưỏng tượng Bất cứ một ý thúc tôn giáo nào cũng ỉà biểu
hiện của "sự không bằng lòng" vói những hạn chế của lịch SỪ, của
con người; nó là biểu hiện của một nhu cầu chân, thiện, mỹ cần phải có nhưng chưa có duợc trơng đòi sống hiện thực Bỏi thế, chỉ khi nào cái chân, thiện, mỹ đã dược thỏa mãn trong cuộc sống hiện thực, thì khi đó niềm hạnh phúc hư ảo trong tôn giáo mới có thể không còn ]ý do tồn tại Cũng bỏỉ vậy, không thấy tính nhân bản dã được tôn giáo thần thánh hóa như là sụ phản ánh một nhu câu chính đáng, hiện thực của con người thì cũng
là một khiếm khuyết, là phiến diện khi nghiên cứu vê ý thức tôn giáo Việc đối dâu vói ý thức tôn giáo theo nghĩa là chống đối bản tính ngưòi đã dược thiêng liêng hóa thì xét về thực chất là chống lại chính bản thân con ngưòi, chống lại nhu cầu chính dáng vươn lên bản tính chân, thiện, mỹ của xả hội con người Điêu
đó, không bao giò có thế thành công Quan điểm Mác xít vê tôn giáo, trong khi chỉ rỗ cơ sỏ hiện thục của ý thức tôn giáo, dã
Trang 15chỉ ra con đưòng hiện thực của sự xóa bỏ tôn giáo, con dường triệt dể nhất, khoa học và cách mạng nhất là huóng vào sự cải tạo bản thân sụ "nghèo nàn hiện thực" dã sản sinh ra tôn giáo
Bỏi thế, sau khi đã phê phán sự tha hóa của bản tính ngưòi (chứ
không phải ph ê phán bản tính ngưòi trong sự th a hóa ấy) trong
tôn giáo thì "phê phán thượng giói biến thành phê phán cỗi trần" (31.4 - trang 15).
Sự phân tích dó cho phép di tói kết luận rằng mặt hạn chế, s
tiêu cực của ý thức tôn giáo chính là hình thức tha hóa bản tính
nguòi, đưói hình thức thiêng liêng, thần thánh tôn giáo, còn mặt
hợp lý, tích cực của ý thúc tôn giáo chính là nội dung của sự bị V tha hóa - tức bản tính ngưòi.
Nếu như bản thân nội dung ý thức tôn giáo có nhũng yếu tỗ hợp lý, tích cực thì dương nhiên nó có khả năng, bằng nhũng
phương thức và duói nhũn g hình thức n à o đó, có th ể hiểu hiện vai trò tác động tích cực nhất định tới đời sống xã hội, chẩng hạn
nhu thông qua những giá trị đạo dức tôn giáo, thẩm mỹ tôn giáo, văn hóa tôn giáo v.v
1,2 Tổ chức, ỉhĩết chẽ xã hội của tôn giáo và yêu tố
lễ nghỉ tôn giáo.
Cùng vói ý thức tôn giáo là tổ chúc, thiết ch ế xã hội của tôn giáo và nhũng hoạt động của nó thông qua hoạt dộng của cốc
tín dô tôn giáo
Nhũng tổ chức, thiết chế xã hội tôn giáo được thiết lập trưóc hết trên co sỏ của một ý thức và ý thức hệ tôn giáo Tưong ứng vói một ý thúc và ý thức hệ tôn giáo sẽ có một tổ chức, thiết
Trang 16chễ tôn giáo nhất dịnh, tồn tại với tư cách là quá trình vật chất hóa ý thức và ý thúc hệ tôn giáo trong thực tiễn xã hội.
Theo luận đê của C.Mác: Ý thúc tự nó không thục hiện dược
gì hết, muốn thực hiện ý thúc cần phải có nhũng hoạt dộng xã hội, có những con ngưòi thực hiện ý thúo ấy Trên ý nghĩa dó
Vvai trò xã hội của tôn giáo chủ yếu dược bộc lộ thông qua hoạt
dộng của các tổ chức, thiết ch ế xã hội của tôn giáo Bỏi vậy,
nghiên cứu vai trò xã hội của tôn giáo cân phải đặc biệt chú
trọng vào sự phân tích hoạt dộng của các tổ chức, thiết chế xã hội tôn giáo cùng vói những hoạt dộng xã hội của các tín dô Nếu như nghiên cứu ý thức tôn giáo cho phép ta di tói những
nhận định về vaỉ trò nào dó của nó dối với thục tiễn xã hội, thực
tiễn lịch sủ một cách trừu tượng, thì việc nghiên cũu tổ chức, thiết chế xã hội tôn giáo và hoạt động của nó sẽ cho phép vạch chỉ ra vai trò xã hội thực tế, trực tiếp của tôn giáo nói chung,
vằ ý thức tôn giáo nói riêng dối vói thực tiễn lịch sử, thực tiễn
xã hội.
Không xuất phát từ góc độ như vậy, có quan diểm khi phân tích vai trò của Phật giáo đối với thực tiễn lịch sử Việt Nam dã cho rằng: nếu căn cứ vào hoạt dộng của các tổ chúc, thiết chế
xã hội của Phật giáo cùng hoạt dộng của các tăng ni phật tử Việt nam thì sẽ không dánh giá dược vai trò của Phật giáo Việt Nam dối vói thực tiễn lịch sử Viêt Nam; vì ngay trong hoạt dộng
của các tăng ni phật tủ Việt N am chẳng hạn thì khô ng phải mọi phật tử đêu có những hoạt dộng tích cực trong phong trào dậu
tranh cho dộc lập dân tộc và thống nhất quốc gia, cũng không
Trang 17phải ỏ mọi giai doạn lịch sử tổ chức phật giáo Vụ,Ị Nam dều có những dóng góp lốn cho lịch sử nưóc nhà Tù dó quan diểm này
cho rằng cằn phải căn cứ vào chỉ bàn thân giáo lý Phật giáo mói
có thê nói vè vai trò tích cực hay tiêu cực dối vói lịch su xã hội Việt Nam.
Theo quan diểm này:
Thứ nhất' Không qu án triệt qu an điểm M á c xít; thực ra hoạt
động xã hội của con nguòi là "sự tha hóa" tu tưởng xã hội của con ngưòi Đ ó là điểm khác biệt giữa "hoạt động của một kiến trúc sư tồi nhất vói hoạt dộng của một con ong khéo léo nhất" Nếu dánh giá vai trò của một hiện tượng xã hội chỉ căn cứ vào
ý thức xã hội của hiện tượng dó, và chỉ vậy thôi thì khó có thể đạt tới quan điểm duy vật Mác xít vê xã hội.
Thứ hai: Đ úng là khi nghiên cứu tổ chức, thiết chẽ xã hội và
hoạt dộng của nó thông q u a h o ạ t dộng của các thà nh viên của
tổ chức xã hội dó không tránh khỏi một tình trạng phức tạp:
hoạt dộng đó có lúc như thê này có lúc như thê khác; có những thành viên của tổ chúc đó hoạt dộng một cách tích cực cho xã hội, ỉại có những thành viên xa ròi xu hưóng tích cực v.v Đ ó là diều thường thấy ỏ hoạt dộng của bất cứ tổ chức xã hội nào.
Tuy vậy ta cũng không thể phủ nh ận nguyên lý Má c xít: quì luật xã hội thường biểu hiện như một xu hướiỉg Qui luật xã hội
mang tính tất yếu Vậy, nếu xem xét hoạt dộng của một tổ chức,
thiết ch ế xã hội trên nét tổng quát của nó và trong một giai đoạn lịch sứ tương đối dài thì chúng ta vẫn có thể nói về vai trò tích
cực hay tiêu cực của nó biểu hiện ra như là tínli tất yếu lịch sủ
Trang 18- dó là xu hướng cơ bản, xu hưóng lỏn.
Như vậy có thể thấy rằng giữa ý thức và ý thúc hệ tôn giáo
vói tổ chức, thiết chê xã hội tôn giáo có m ột sự thống nhất, song giũa chúng không đông nhất Tổ chức, thiết chẽ xã hội tôn giáo
là ton tại khác, là quá trình vật chất hóa xã hội của ý thức và ý
thức hệ tôn giáo Nói theo thuật ngữ của các triết gia cổ diên
Đức và của C.Máe thòi trẻ, thì nó là sự "tha hóa’ của ý thức và
ý thức hệ tôn giáo Là sự tha hóa, nó vừa mang bản chất và nội đung của đối tượng bị tha hỏa, đồng thòi nó không dồng nhất
với bản chất và nội dung đó
Diêu nằy giải thích tại sao tổ chúc, thiết c h ế tôn giáo vừa có
những hoạt dộng thuần túy tôn giáo như những h o ạ t động tín
ngưỡng; hoạt động lễ nghi, cúng tế; hoạt động rao giảng kinh điển của một tôn giáo, song đồng thời lại có những hoạt dộng
không thuần túy tôn giáo như những ho ạt d ộ n g mang n ặn g tính
chất kinh tế - chính trị - xã hội: đấu tranh xã hội, hoạt dộng dâu
tranh vì hò a bỉnh, vì ph ong trào dấu t r an h giành độc lập dân
tộc, phong trào vì lòng từ thiện v.v.
Có thê gọi những hoạt dộng loại thứ hai này là những hoạt
dộng xã hội không tôn giáo dược không? Không Vì những hoạt
dộng này dù có xa vói bản chất và nội dung của ý thức tôn giáo bao nhiêu chăng nữa thì nó vẫn mang ít nhiều tính chất tôn giáo Mỗi hoạt dộng xã hội như vậy đêu thường dược nhũng chù thể hoạt dộng tìm ra mối liên hệ nào dó vói những tư tưởng tôn giáo của chủ thể ây, vằ nó thưòng cỗ gắng lái nhĩíng hoạt dộng dó qui tụ vào nhũng tư tưỏng, những giáo lý tôn giáo của nó.
Trang 19Như vậy thì việc nghiên cứu vai trò xã hội củ a các tổ chức, thiết c h ế tô n giáo cùng những h o ạ t động của các tín đồ cần được
quán triệt trên cả phương diện những hoạt động thuần túy tôn giáo lẫn trên phương diện những hoạt động không thuần túy tôn giáo Chỉ có như vậy mói có quan diểm toàn diện trong việc xem xét vấn dẻ vai trò xã hội của các tổ chức, thiết chê xã hội tỏn
giáo cũng như hoạt động của các tin đồ Tiếp cận vai trò tôn giáo chỉ dừng lại ỏ việc nghiên cứu ý thức tôn giáo ho ặc chỉ đẻ
cập phương diện những hoạt dộng thuần túy tôn giáo của các tổ chức, thiết chê tôn giáo và của tín dô có đạo là phiến diện, tù
đó có nhũng nhận định không đây dủ vê vai trò xã hội của chúng Dây là phương pháp luận khá quan trọng để phãn tích vần dê vai trò của Phật giáo trong lịch sử Việt Nam.
Chẩng hạn, có q u an điểm cho rằn g một số thiền sư thời Lý,
Trần có tham gia vào những hoạt động chính trị - xã hội thì diêu
đó không phải họ xuất phát tù những tư tưỏng của dạo Phật,
không phải các thiền sư ấy dã h àn h động th e o tư cách thiên su, theo tư cách phật tử mà là họ đã hà nh dộ n g t h e o tư cách của
một công dân Dại Việt, tư cách một người Việt Nam.
Theo quan diêm này thì chỉ khi nào các thiền sư ngôi trên chiếu thiền, tụng kinh, gõ mõ thì họ mói tồn tại vói tư cách là phật tử.
Trước hết, cân khẳng định rằng khôn g th ê dô n g n h ấ t ý thức
tôn giáo vói ý thức xã hội nói chung, cũng như không thể dồng nhất ý thức tôn giáo của một tín dồ có dạo vói ý thức của ngưòi
dó, và do dó cũng không thể dồng nhất hoạt động tôn giáo vói
Trang 20hoạt dộng không tôn giao của các chủ th ể hoạt dộng Đ ế phân
biệt được sự khác nhau giữa chúng cân có quan điểm lịch sử, cụ
thể, cân có sự áp dụng phép biện chứng Mác xít đê phân tích các phương diện khác nhau cùa cùng m ệt hoạt động xã hội thống nhất của các tổ chức, thiết chế tôn giáo và của các tín đỏ Tức ỉà
cùng một hoạt động của tổ chức, thiết c h ế tôn giáo và của các tín dồ nào đó có th ể dược phân tích vói các ý nghĩa xã hội khác
nhau của nó: ý nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa, dạo đức, chính trị, kinh tê v.v Theo cách tiếp cận này thì ngay cả những hoạt động gọi là thuần túy tôn giáo cũng chưa hẳn là thuân túy
tôn giáo Ngay ỏ hoạt động ấy vẫn có th ể có những ý nghía không
thuần túy tôn giáo như những ý nghĩa văn hóa, thẩm mỹ, dạo dức v.v.
Đòi hỏi một sự rạch ròi trong sự phân loại giũa những hình thức hoạt động tôn giáo vói các h o ạ t dộ ng không tôn giáo của
các tổ chức, thiết chế tôn giáo là khống thể thực hiện dược Chỉ có thê phân tích các phương diện khác nhau của chúng mói
có thể thấy dược các vai trò, chức năng khác nhau của chúng Quan niệm này đặc biệt cần thiết khỉ phân tích vai trò xã hội của Phật giáo trong thực tễ lịch sủ Việt Nam Điêu này còn có
liên quan tới tính chất đặc thù của Phật giáo, đặc biệt là của
tông Thiên, rất phổ biến trong xã hội thời Lý-Trần.
Khi các thiên sư hay các p h ậ t tủ nói chung có th am gia các
hoạt dộng chính trị - xã hội, thậm c h í rất dắc lực, thì diêu dó không phải là họ xa ròi dạo pháp của phật pháp.
Fư tưỏng khá cốt lõi của Phật giáo, nhất là Thiên tông là coi
Trang 21"tâm tức Phật", "dâu cũng là phật", rằng "pháp thế gian cũng là pháp Phật" , bỏi vậy khí họ tham gia vào các hoạt dộng xã hội thì theo giáo lý áy, họ vẫn là phật tủ, Không chỉ khi ngồi thiên mói là thiền, mà bất cứ làm việc gì cũng là thiên, là dạo pháp
Và, theo tinh thần cải cách của Huệ Năng Lục tổ thỉ đó mói là
chính pháp Tinh thân ấy, theo truyên thừa vào Việt Nam qụa
tông Vô Ngôn Thông, ngày càng chiếm ưu thế trong lịch sủ Phật
giáo Việt Nam, nhất là thòi Lý - Trần (
Bỏi vậy, nế u không quán triệt cách p h â n tích vai trò xã hội của tôn giáo như dã nêu trên dây thì không t h ể có dược sự nhận
xét, dánh giá đúng vai trò của phật giáo nói riêng và vai trò của
tôn giáo nói chung trong lịch sử Việt Nam
Quán triệt góc độ tiếp cận đó dối vói việc nghiên cúu vai trò của các tôn giáo truyền thống, tồn tại lâu dài trong lịch sủ Việt Nam có thê thấy mỗi hoạt động tôn giáo thường có sự thống
nhất của các phương điện khác nh au giữa:
- Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vói những hoạt động mê
tín, dị doan
- Hoạt động tín ngưõng, tôn giáo vói những hoạt dộng văn
hóa truyền thống
- ỉ loạt dộng tín ngưỡng, tôn giáo với những h o ạ t dộn g yêu
nưóc, cố kết khối cộng dồng dân tộc.
- Hoạt dộng tín ngưỡng, tôn giáo với nhũng hoạt dộng mang tính giáo dục dạo đúc truyền thống của dân tộc,
của con ngưòi
Nếu tính "hòa đồng", "dan xen" hay "dung hợp" là một nét dặc
Trang 22trưng của tín ngưỡng, tôn giáo ỏ Việt Nam, thì tính chất dỏ không chi biểu hiện ỏ sự dung hợp giữa các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, bản địa và ngoại lai mà còn biểu hiện rõ nét ỏ sự thống
nhất giữa các phương diện khác nhau của cùng một hoạt dộng tôn giáo Nhũng hoạt động triệt dể thuần túy mang tính tín nguõng, tôn giáo không phái là nét diên hình.
Bởi vậy thái dộ khoa học và thực tiễn [rong việc tiếp cận nghiên
cúu vai trò của hoạt dộng tôn giáo trong lích SỪ Việt Nam là cân ph ân tích dầy đủ các phương diện khác n h a u của mỗi hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo, từ dó có thái dộ đúng dắn trong việc chù trương kế thừa những yếu tô tích cực và hạn chế những yếu
tố tiêu cực trong những hoạt dộng đó, chẳng han như những yếu
tố mê tín, dị đoan v.v.
Mặc dù h o ạ t dộng tôn giáo bao gồm nhiêu ph ương diện khác
nhau nhưng phương diện tín ngưỡng vẫn là nội dung cơ bản của
hoạt dộng tôn giáo Đây là diêm cơ bản d ể p h ân biệt một hoạt
động tôn giáo với các hoạt dộng xã hội khác Nội dung cơ bản của một hoạt động tôn giáo vẫn chủ yếu giữ vai trò thỏa mãn nhu cẳu tín ngưỡng của những người có dạo, mặc dù nó vẫn có thể giữ vai trò góp phân thỏa mãn nhiêu nhu cẳu khác của con người.
D o vậy, hoạt dộng tôn giáo, dù có giữ vai trò tích cực như thế nào dối vói dời sống xã hội thì nó vẫn không thể thay thế cho các hoạt động xã hội khác, Một khi hoạt động tôn giáo xa ròi nội dung cơ bản là hoạt dộng tín ngưỡng, và có ý hướng nhằm tỏi mục tiêu xã hội khác thì khi dó nó dã có xu hưóng biến Iliành
Trang 23hoạt động phi tôn giáo Ngược lại, một h o ạ t dộn g xã hội n ào đó
có th ể mang m ộ t nộị dun g tô n giáo, một hình thức tín ngưỡng, tôn giáo, một tính chất tín ngưỡng tôn giáo như ng khi hoạt động xã hội này có xu hưóng coi nội dung, hình thức, tính chất tín ngưỡng là mục tiêu của nó, là cái cơ bả n chi phối hoạt dộng của nó thì khi đó hoạt dộng xã hội này dã có khuynh hưón g biến thành một h o ạ t động tôn giáo, một h o ạ t độ ng tín nguõng
Như thế, cân thấy hai mặt của vấn dê vai trò tôn giáo, tín
ngưỡng đối vói dời sống xã hội M ột m ặt, hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo có bao hàm những phương diện không tín ngưỡng, không
tôn giáo, do vậy hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng góp phần thỏa
mãn những nhu câu khác nhau của đòi sống xã hội như chính
trị, pháp quyên, văn hóa m ặt khác, tín ngưỡng, tô n giáo có thể
trỏ thành một nội dung, một hĩnh thức, một tính chất của một hoạt động xã hội nào đó, qua đó nó có thể góp phần tích cực hay tiêu cực dối với hoạt động xã hội này Thực tê lịch sủ đã
minh họa nhiều bằng chứng về những pho ng tr ào giải phóng dân
tộc, hay đấu tranh giai cấp được tiến hành dưới hình thúc tôn
giáo, mang một nội đung, một tính ch ất tôn giáo
Như vậy, cần phân tích vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trên
nhiêu góc độ khác n h a u của sự "giao thoa" giữa tôn giáo, tín
ngưỡng vói văn hóa, đạo dức, chính trị, pháp quyên v.v.
Như trên dây đã phân tích, tổ chức, thiết c h ế tôn giáo và hoạt dộng của nó thông qua hoạt dộng của các tín dô là quá trình vật chất hóa xã hội của ý thức và ý thức hệ tôn giáo D o dó vai trò xã hội của các tổ chức, thiết chế tôn giáo phụ thuộc vào
Trang 24bản chất và nội dung của ý thức và ý thức hệ tôn giáo Song,
VÓI tư cách là "tồn tại khác" của ý thức và ý thức hệ tôn giáo, các tổ chức, thiết chế tôn giáo không chỉ phụ thuộc vào ý thức
và ý thức hệ tôn giáo mà còn phụ thuộc vào nhiêu yếu tố xã hội khác như yếu tô chính trị, pháp quyên, truyền thống dạo đức, văn hóa của một xã hội, một dân tộc, một quốc gia, một khu vực v.v.
Sự tác động của những yếu tô xã hội này làm cho tổ chức, thiết ch ế và hoạt động xã hội của một tôn giáo có thể được dịnh
hướng th e o những chiều hưóng khác nhau, nhiêu khi hoạt dộng
của nó được bộc lộ ra rất xa so vói ý thức và ý thức hệ tôn giáo
Và cũng dưói sự tác dộng này mà vai trò xã hội của nó có thể
khác nhau: tiến bộ hay tiêu cực, nhiều hay ít dối vói dòi sống
xã hội Chẩng hạn, vói sự dịnh hướng của một chính trị và pháp
quyền tiến bộ có thể làm cho hoạt động của các tổ chức tôn giáo
góp phân nhất dịnh vào sự tiến bộ và phát triển xã hội, ngược lại với sụ định hưóng của một chính trị và pháp quyên lạc hậu, phản dộng thi có thể làm cho những hoạt dộng của các tổ chức tôn giáo mang một vai trò chủ yếu là tiêu cực dối vói sự phát triển xã hội Lịch sủ đã từng chứng minh hoạt dộng của các tổ chức giáo hội Thiên chúa giáo ỏ các nước Tây Âu thòi Trung cổ, suốt một ngàn năm, dã tôn tại chủ yếu như một lực lượng xã hội bảo thủ, cản trỏ bưóc tiến của những lực lượng khoa học và cách
mạng ỏ nh ũng nưóc đó Còn trong cách mạng giải p h ó n g dân tộc
ỏ Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua, dưói sự dịnh hưóng của một đ ưòng lối và hoạt dộng chính trị đúng đắn của Đàng ■
Trang 25Cộng sản Việt Nam, nhiều hoạt dộng của các tổ chức tôn giáo khác nhau, nhiều hoạt dộng của cá nhân các líu dồ có dạo dã góp phân tích cực nhất dịnh vào sự nghiệp cách mạng.
Như vậy, dể có thể nhận thấy dúng vai trò xã hội của tôn giáo nói chung và hoạt dộng của tôn giáo nói 1‘iêng còn cân phải nghiên cứu nhũng sự tác dộng qua lại của các yếu tố xã hội khác nhau đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo.
D ể làm sáng tỏ vai trò của tôn giáo trong dời sống xã hội còn
cần thiết phải nghiên cứu vấn dề nghi lễ tôn giáo Iíơn nữa, vói
bất cứ tôn giáo nào, nhất là vói những tôn giáo lớn, thì vấn dẻ nghi lễ là một vấn dề cực kỳ quan trọng Người ta khó có thể
hình dung một tôn giáo mà lại không có phân nghi lễ C ó thể
hiểu nghi lễ tồn giáo theo nghĩa rộng: đó là toàn bộ những qui ' tắc đã trỏ thành tập tục truyền thống của một tôn giáo nhằm
J
hướng dẫn mọi hoạt động của một tổ chức tôn giáo hay của
I
t những tín đồ của tôn giáo dó trong quá trình thực hiện tư tưỏng
và tín ngưỡng của tôn giáo ấy.
Có thể phân chia nghi lễ tôn giáo thành nhiêu loại như nghi
lỗ thờ cúng, nghi !ễ hội hè v.v nhưng q u a n tr ọng n h ấ t và cơ
bản n h ấ t của nghi lễ tôn giáo là nghỉ lễ íhờ cúng Có t h ể nói từ
khi có tôn giáo thì đông thòi cũng có nghi lễ thò cúng, Cùng vói quá trình phát triển của một tôn giáo thì cũng dồng thòi là quá trình hoàn thiên và phức tạp hóa nghi lễ thò cúng.
Cơ sỏ của việc xác lập những nghi lễ tồn giáo bao gôm nhiêu
yếu tố Có yếu t ố thuộc về q u a n niệm tín ngưỡng củ a một tôn
giáo nhất định,lại có yếu tô thuộc về tập tục truyền thống của
Trang 26một cộng đồng dân cư, một khu vực địa ]ý, quốc gia, dân tộc v.v Làm rõ diều này có một ý nghĩa q u an trọn g tr ong viêc nghiên cứu về vai trò của nghi thức tôn giáo trong dòì sống sinh hoạt của một xã hộí, của các tín dô BỎ1 trong triíòng hợp dó cho
ph ép thấy rõ những giá trị khác nhau cua các nghi lễ tôn giáo
về các mặt quan niệm triết lý, đạo lý làm người, đạo dức xã hội5
nét đẹp văn h ó a và thẩm mỹ của một cộng đông ngưòi, m ột dân
vốn là những giá trị đ ạo lý, d ạo đức truyền th ống tố t đ ẹp của dấn tộc Việt Nam
Tro ng d ạo th ò T h á n h mẫu của người Việt Nam thường có nghi thức hát châu văn và hâu bóng, đặc biệt là vói dòng thò Mầu Liễu Hạnh - một trong bốn vị "Tứ bất tủ" của Việt Nam, Hát chầu văn và hâu bóng trước hết mang ý nghĩa tín ngưỡng vê các mẫu Nhưng không chỉ có vậy, nghi lễ ấy còn có nét dẹp riêng
về khía cạnh văn hóa được thể hiện qua nội dung các bài hát châu cùng các vũ điệu dân gian nửa trân tục - nửa linh thiêng,
mâu nhiệm
Trang 27Ngay những cấu niệm cầu trước Phật đài, điện Thánh trong
sinh h o ạ t tín ngưỡng Việt Nam là một nghi lễ kh ông t h ể thiếu
dược dối vói bất cú ai tiến hành nghi thức dâng hương Trong mỗi bài văn khấn đã mang những nội đung khác nhau về các
phương diện tín ngưỡng, khát vọng sống rất đòi thường và cả những q u a n niệm đạo đức cúa một Cộng đồng,
Hoặc giả ngay như một nghi thức giản dị nhất có tính phổ biến
ỏ mọi tôn giáo, tín ngưỡng ỏ vùng Ấ Đ ô n g là nghi thức thắp hương khi cúng bái tại gia cũng nh u tại các nơi thờ tự công cộng
là đình, đền, miếu, phủ hay các chùa chiền Nghi thừc ấy dược coi là một nghi thúc "không thể thiếu" trong việc thò cứng Nguồn
gốc, điển tích cùa nghi thức ấy không rõ từ đ â u mà có nhưng có
một luật tục là th ắ p hương th e o sổ lè (1, 3, 5, 7, 9) thì chắc chắn
không phải do ngẫu nhiên mà có Rất có thể nguyên tắc ấy xuất
phát tù q u a n niệm của triết học Dịch lý vê luật cơ - ngẫu (được
nói tới trong kinh dịch của ngưòi Trung hoa) Đến cả một cái vái, cái lễ của những người làm iễ cũng mang ý nghĩa triết lý vũ trụ âm dương và ngũ hành Nét đẹp văn hóa và giá trị đạo lý làm ngưòi dã được thể hiện qua nhũng nghi lễ rất dơn giản như thế Ỏ dây giũa yếu tô tín ngưỡng và yếu tố triết lý, yếu tố văn hóa, đạo dũc đã hòa quyện vào nhau và đem lại những giá trị
nhất định cho cuộc sống của con ngưòi,
Vì thế, nếu chỉ nhìn nhận những nghi lễ tôn giáo don thuần
là sự thể hiện của một quan niệm tín ngưỡng hay mê tín dị doan thì trong thực t ế dã không phản ánh nó đúng như nó vốn có
Trang 28trong đòi sống hiện thực và làm mất những giá trị cân thiết khai
thác, k ế thừa trong việc nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng
Mặc dù nghi lễ của các tôn giáo dược xác lập trên những cơ
sỏ khác nhau và do đó có những nội dung khác nhau nhưng cơ
sỏ vằ nội dung cơ bản của nhũng nghi lễ tôn giáo trưóc hết vẫn
là nhũng quan niệm tín ngưỡng của một tôn giáo N ếu như một
nghi lễ tôn giáo không mang trong nó những giá trị dạo đức, văn hóa, thẩm mỹ thì nghi lễ ấy vẫn có thể dược coi ìà một nghi
lễ tôn giáo Nhưng ngược lại, nếu như một nghi lễ dược coi là nghi lễ tôn giáo mà nó lại không có một co sở tín ngưỡng nào, không có một nội dung tín ngưõng n ào thì không thê coì đó là
một nghi lễ tôn giáo được.
Điều ấy cũng cho thấy bản chất của các nghi lễ tôn giáo là
những quan niệm tín ngưỡng nhất dịnh Và cũng chỉ có quan niệm nhu vậy mới có thể giải thích được tại sao trong cùng một
diều kiện lịch sử xã hội như n h au mà ỏ các tôn giáo kh ác nhau
lại có nhũng nghi lễ khác nhau, thậm chí có thể trái ngược nhau.
Cũng bỏi vậy mà những nghi lễ tôn giáo, trước h ết vả cơ bản,
có chức năng thục hiện nhũng quan niệm tín ngưõng của các tín
dồ có đạo Chính thông qua các nghi lễ tôn giáo mà các tôn giáo thực hiện chức năng "đền bù hư ảo" cho đời sống tình cảm tôn giáo của các tín đô Đ ông thòi, cũng chính qua các nghi lễ tôn giáo mà nhũng tư tưởng, những quan niệm của một tôn giáo được bảo lưu, đuy trì và mỏ rộng trong dân cư.
Thông qua việc thực hành nhũng nghi lễ tôn giáo mà các tín
đô của một tôn giáo hy vọng, tin tưỏng vào sự giao tiếp vói các
Trang 29lực lượng th ần bí, mong cầu ỏ sự trọ giúp của những lực lượng
ấy cho bản thân mình, cho cuộc sống của mình.
Tiêu biểu nhất cho những nghi lễ như thế ỏ các tôn giáo, tín
ngưỡng của các d ân tộc vùng Châu Ấ là những nghi lễ niệm Phật,
ăn chay cầu mộng, cầu đảo thiên tai, bệnh tật, niệm thân chú, bắt quyết v.v.
Trong nhũng nghi thức thuộc loại đó thì những yếu tố văn hóa, đạo dức thường là rất mò nhạt mà thường in dậm và thể hiện
trội bật những q u an niệm tôn giáo, tín ngưõng T h ế nh ưng chính những nghi thức như vậy lại thưòng có tác dụn g kích thích lổn
nhất tói dòi sống tình cảm tôn giáo của các tín đồ Vằ chính
những nghi th úc mang nặng yếu t ố tín ngưỡng này thưòng làm phái sinh những tập tục và qu an niệm mê tín dị đ o a n trong các
tín đồ và có thê ảnh hường rộng lớn trong nhân dân.
Tóm ỉại, nghỉ lễ tô n giáo là một bộ p h ận khôn g th ế tách ròi
khỏi tôn giáo vói tư cách là một tiểu hê thống kiến trúc thuợng tầng của xã hội Các nghi lễ tôn giáo bao gốm nhũng nội dung khác nhau và cũng có những tác dụng khác nhau đối với cuộc sống của các tin dô củng như đối với sinh hoạt của một cộng đồng ngưòi Bỏi vậy, chỉ có xem xét nghi lễ tôn giáo một cách toàn diện và cụ thể mới có thể dánh giá dúng vai trò tích cực hay tiêu cực của những nghi lễ ấy Tuy vậy, cũng cân thấy rằng
nội dung cơ bản của các nghi lễ tôn giáo là nh ững q u a n niệm
tín ngưỡng và chính tại điểm này thường phát sinh những quan niệm mê tín, dị đoan.
*
* *
Trang 30Tù toàn bộ nhũng phân tích trên đây có thể nhận thấy:
- Thứ nhất: Đ ể có thể nghiên cứu và d á n h giá một cách
đúng đắn và dây đủ vai trò của tôn giáo trong dài sống
xã hội thì cân phải tiếp cận tôn giáo với tư cách là một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tâng cùa xã hội, tức là cân thiết phải nghiến cứu tôn giáo trên cả phương diện
ý thức tôn giáo và tổ chức, thiết ch ế xã hội của tòn giáo cũng như những hoạt động của nó thông qua hoạt dộng của các tín đồ có đạo và thông qua những nghi lễ của các tôn giáo nhất định.
- Thứ h ai: Đê nghiên cứu và đ á n h giá một cách dúng dắn
và dầy đủ vai trò của tôn giáo trong dòi sống xã hội còn
cẳn phân tích những phương diện khác nhau của ý thức
và ý thức hệ tôn giáo cũng như nhũng mặt khác nhau, những ý nghĩa xã hội khác nhau của các hoạt động tôn giáo, của những nghi lễ tôn giáo Chính diêu này cho phép nhận biết ra nhừng giá trị xã hội khác nhau của mỗi tôn giáo, cả trên phương diện tích cực và tiêu cực;
cả trên phương diện tín ngưỡng và mê tín, c I ị đoan; cả trên phương diện tôn giáo và văn hóa, dạo đức, triết lý, thẩm mỹ V.V của tôn giáo.
- Thứ ba: Nghiên cứu vê tôn giáo và vai trò của nó trong
đòi sống xã hội còn cần phải nghiên cứu nó trong mối
q u a n hệ giao lưu, tác dộng q u a lại lẫn n h a u giữa tôn
giáo vói các hiện tượng xã hội khác, vói các tiểu hệ
Trang 31thố ng kiến trúc thượng tầng khác của xã hội.
Đây cũng có th ể coi là ba nguyễn tắc co bản được rút ra từ
th ế giói quan duy vật lịch sử và chủ nghĩa vô th ă n khoa học, áp dụng vào việc dịnh hướng phân tích vai trò xã hội của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng trong lịch sử Việt Nam.
II PHẬT GIÁO VÀ VẤN ĐÉ VAI TRÒ CỦÂ NÓ TRONG
LỊCH SỬ VỈỆT NAM
IÍ.1 Phật giáo trong lịch sử Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam có một lịch sử thành văn trên hai ngàn năm Phật giáo cũng có một khoảng thòi gian hai ngàn năm dồng hành cùng lịch sử dân tộc, trong lòng dân tộc Điêu này nói lên bê đày lịch sử tồn tại cùa Phật giáo trong lịch sủ dân tộc Việt Nam, khiến cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam không thể bỏ qua
vân dê P h ật giáo
- Phật giáo có gốc phát sinh tù Ân Đ ộ vào khoáng thê kỷ thứ
VI (tr.C.N) Sau khi bậc sáng lập đạo Phật là Thích Ca mu ni qua đời (nhập Niết bàn) một vài thế kỷ, Phật giáo dã phân chia thành hai tông phái lớn là Dại thùa và Tiểu thừa, hay còn gọi
là Phật giáo Bắc phương và Phật giáo Nam phương.
Phật giáo Bắc phương phát triển và th â m n h ậ p vào các quốc
gia, dân tộc phía Bắc Ân, trong dó đặc biệt phải kẽ tới dân tộc
- quốc gia Trung hoa.
Do địa thế nằm giữa hai trung tâm văn hỏa và tư taỏng lớn thời cổ đại là Ân Đ ộ và Trung H oa nên người Việt Nam đã có điêu kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận sự du nhập của Phật
Trang 32giáo bằng cả hai con dưòng: con dưòng du n h ậ p Phật giáo trực
tiếp từ Ân Đ ộ (hay còn gọi là con đường "biển,, con đưòng (hưóng)
phía Nam) và sự du n h ập Phật giáo từ Tru ng h o a - tức là Phật
giáo dã Trung hoa hóa ít nhiêu; đây là sự du nhập Phật giáo
theo con dưòng "bộ", hay con đư òng (hưóng) phía Bắc
Con dưòng du nhập Phật giáo trực tiếp tù Ân dộ diễn ra ngay trong những thế kỷ dâu Công nguyên, túc là ngay giai doạn đầu của sự du nhập, thậm chí căn cứ vào các sủ liệu, các nhà làm
sử còn khẳng định người Việt Nam đã tiếp xúc vói Phật giáo trực
tiếp tù Ân dộ trước cả người Trung hoa Sự du nhập Phật giáo buổi dầu của ngươi Việt Nam chủ yếu dược thực hiện bởi sự truyền bá chính pháp Phật dạo của hâu hết các nhà sư Tây trúc (túc gốc người Ấn độ hay Trung Ấ) Vào nửa cuối thế kỷ thú ỉ ỉ
và nửa dâu thế kỷ thứ III, sử có ghi chép được hành trạng truyền giáo của năm vị sư ở Việt Nam là Ma ha kỳ vực, Khâu dà la, Khương tăng hội, Chi Cương lương và Mâu Bác, trong đó bốn vị đầu là gốc ngưòi Ấn dộ và Trung Ấ, còn vị thứ năm là gốc ngưòi Trung hoa.
Tù nửa cuối thế kỷ ỉII trỏ vê sau sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu theo con đường phía Bắc, và được thực hiện
chủ yếu thông qua con dưòng truyền bá của các vị sư, tăng Tru ng Hoa, tron g dó cũng có những vị gốc người Tây trúc nhưng lại
t h u ộ c h ệ t r u y ề n th ừ a c ủ a P h ậ t g i á o T r u n g H o a , như
Tỳ-ni-đa-lưu-chi (đắc p h áp vói tam tổ T ă n g xán của dòn g Thiên Trung hoa)
Trang 33Hệ qủa xã hội lón nhất do sự du nhập Phật giáo từ phía Nam,
trong nhũng the kỷ dầu công nguyên, là q ú a trình hình thành nên một trung tâm Phật giáo Luy Lâu (thuộc T h u ậ n 'Thành H à Bắc)
Phật giáo Luy Lâu hay Phật giáo Dâu Keo là một trung tâm tín ngưỡng của người Việt cổ, trong đỏ có sụ kết hợp giỡn hai dòng tín ngưõng: tín ngưỡng bản dịa và tín ngưỡng Ân độ - Phật giáo.
Điển hình của sự kết hợp này là sự hình thành nên tín ngưỡng
về "Tứ Pháp": Lôi - Vân - Vũ - Diện, Tù trung tâm Luy Lâu, tín ngưỡng này đã lan truyền ra một sỗ vùng của dông bằng Bắc bộ Dòng tín ngiíõng này cũng tồn tại lâu dài trong lịch sử Việt Natn,
mà có tác giả dã gọi nó là "dòng Phật giáo dân gian".
> t Hệ qủa xã hội lón nhất nhò 5ự du nhập Phát giáo từ phía Bắc
đem lại cho Việt Nam là sụ hình thành trong lịch sử Phật giáo Việt Nam những tư tưởng Phật giáo dã ít nhiều dược Trung hoa
hóa là: Thiên tông, Tịnh độ tông, và Mật tâng.
Tịnh độ tông và Mật tông không có sự truyền thùa với tư cách
là những tông phái riêng biệt Trái lại, Thiền tông, kê tù cuối thế kỷ Ví trỏ di với sự truyền pháp của Tỳ ni da lưu chi (580)
và đặc biệt vói Vô Ngôn Thông (820), đã có những sự truyền thừa liên tục và hình thành vói tư cách ỉà một tông phái dộc lập,
dù có ít nhiều ảnh hưởng của những yếu tố Tịnh clộ và Mệt _ ^Theo "Thiên uyển tập Anh" (một cuốn sử P h ậ t gi á o ctẳu tiên
ỏ Việt Nam) thì sự truyền thừà của Thiền phái Tỳ ni da lưu chi dược 19 đòi (từ cuối thế kỷ VI dến đầu thế kỷ XỈU) Còn sự truyền thừa của Thiên phái V ô Ngôn Thông dược 16 đòi (từ dầu
Trang 34thế kỷ IX đến đầu thế kỷ XIII).
Trên cơ sỏ của những tông phái P h ậ t giáo ngoại lai, dặc biệt
là cùa tông Thiẻn, ngưòi Việt Nam còn sáng lập ra hai tông Thiên Việt Nam !à tống Thảo Đường (thời Lý) và tông Trúc Lâm (thòi Trần).
Nét đặc biệt trong qua trình du nhập và phát triển Phật giáo
ỏ Việt Nam là trong suốt qua trình lịch sủ khoảng 2000 năm hầu
nhu không có sự kỷ thị, miệt thị, nhất là không có chiến tranh
tôn giáo Sự thâm nhập của Phật giáo trong lịch sử Việt Nam
diễn ra một cách rất tự nhiên, như một sự dón nhận, không cần
dến nhũng sức ép của bạo lực, của quyên lực dê buộc ngưòi Việt Nam phải tiếp nhận nó Trong một số giai đoạn lịch sử vẫn có
hiện tượng một số người phê bình Phật giáo, n h ấ t là một s ổ nhà
Nho (như ỏ thòi Lý - Trân và ỏ thế kỷ XVIII và XIX) Đ ó cũng
là một xu hướng lịch sử trội bật H ơn nữa, nhũ n g sự phê phán Phật giáo của một số nhà N ho th uòn g là tr ên một bìnli diện hạn
hẹp nào đó của Phật giáo, chẳng hạn trên bình diện những sinh hoạt xã hội của Phật giáo ỏ một số khía cạnh nào đó.
Chính vì xu hưóng tiếp n h ận là xu hưóng trội bật n ên Phật
giáo dã có dược qúa trình đông hãnh lãu dài trong lịch sử dãn tộc, trong lòng dân tộc Việt Nam Sự tồn tại lâu dài của Phật giáơ
trong lịch sử Việt Nam dã dế lại những dâu ấn ít, nhiêu phổ biến, đôi khi là rất sâu sắc trong hâu hết các lĩnh vực khác nhau của xã hội Việt Nam kê từ thòi kỳ phong kiến trỏ vẻ trước: tù lĩnh vực sinh hoạt tín ngưỡng tói lĩnh vực sinh hoạt tư tưởng bác học; từ lĩnh vực sinh hoạt đạo clức, thẩm mỹ tói lĩnh vực chính
Trang 35trị p h áp quyền (ỏ một số giai d o ạ n hch sử, mà diển hình là thòi
Lý) v.v
Ngay trong lĩnh vực văn hóa vật chất - kiến trúc của lịch sú
còn lại dến nay có tác giả dã khẳng dinh: "Nếu như không có những hoạt động Phật giáo lịch đại thì chúng ta m ất đi hơn nửa
di tích và danh lam tiiắng cành mà hiện nay ta tự hào" (60 - trang
Cũng cần khẳng định rằng dấu ấn của nó trong các lĩnh vực
khác nhau của xã hội ỉà khác nhau, cũng như ỏ nhủ ng giai doạn
lịch sử khác nhau là không dồng nhất.
Dấu ấn cùa Phật giáo trong sinh hoạt chính trị vả pháp quyền chủ yếu trong giai đoạn thòi Lý V ào thê kỷ thú V, phong trào dấu tranh giành dộc lập dân tộc dã từng mang "vỏ bọc" tôn giáo
- Phật giáo, mà diển hình là hoạt dộng chính trị của Lý Phật tử
- ngưòi con cùa Đức P h ậ t/T ro n g hầu hết các hoạt dộng chính trị dấu tranh cho một nên độc lập và thống nhất quốc gia - dân
tộc Việt Nam, Phật giáo thương biểu hiện như một lực lượng nội
tạí của các hoạt động dó Điều đó không chỉ đúng vói lịch sử
qúa khứ của dấn tộc mà còn đúng ngay cả vói giai d o ạ n xã hội
hiện đại ngày hôm nay, mặc dù học thuyết Phật không phải là học thuyết chính trị và tổ chức Phật giáo không phải là một tổ chức chính trị, cũng như bản thân các Phật tử không phảỉ là những nhà chính trị, chỉ có những nhà chính trị nào dó là phật
H ọc thu yết Phật giáo, xét t h e o bản chất, cũng khô n g phải là
một học thuyết vê đạo dửc, nhung có thể nói rằng trong lĩnh vực
Trang 36quan niệm đạo đức và sinh hoạt đạo dức truyền thống của người Việt Nam dều có những dấu ân nhất dịnh của dạo dức phật giáo Một trong những giá trị dạo dức tinh thần truyền thống cơ bản
của ngưòi Việt Nam là đức thương người, là lòng nhân ái, bao dungf đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống.
Trong bâng giá trị đạo dức của Phật giáo có nhiều nguyên tắc
cụ thể, nhưng tất cả dều dược qui về giá trị dạo dũc cao nhất của nó là "Đại bi".
Có tác giả cho rằng "ỉòng nhân ái Việt Nam dược rú t ra từ
tinh thân đạo đức nho giáo và Phật giáo", rằng "những nguyên tắc dạo dữc của Phật giáo vói sự tin tưỏng ỏ kiếp sau, của sự cứu giúp của dâng tối cao, cũng biến thành nhũng nguyên tắc sống nhân ái hàng ngày của nhân dân như: ỏ hiền gặp lành, chị ngã em nâng, thương người như thể thương thân" (60 - trang 9), Thực ra rất khó chỉ rõ trong những giá trị đạo đức như dã nói
ỏ trên; dâu là đấu ấn d ạ o đức P h ậ t giáo, và đâu là giá trị dạo dúc truyền thống th uần túy của con ngưòi Việt Natrì Song chính
diều này lại nói lên rằng giữa những giá trị, chuẩn mực dạo đức truyên thông của con người Việt Nam và những giá trị, chuẩn mực dạo đức Phật giáo, có nhũng khía cạnh đồng tính chất, từ
đó khiên cho giữa chúng có nh ũng công hưỏng, h ò a dồng
Tuy vậy, xét th e o bản chất, học thu yết P h ắ t giáo k h ố n g phải
là học thuyết chính trị, pháp quyền và dạo dứe, do đó những dấu
ân của nó trong các lĩnh vực chính trị, pháp quyền và đạo dức
dù sao cũng có những giói hạn nhất dinh so với học thuyết Nho giáo - vốn bản chất nó là học thuyết chính trị- dạo dức, nhất là
Trang 37trong lĩnh vực chính trị và pháp quyên thòi pho n g kiến Việt Nam,
và nhất là khi mà ỏ nhũng giai đoạn lịch sử giai cấp phong kiến không thừa nhận đạo Phật trong lĩnh vực hoạt dộng cung dinh như thòi Lê - Nguyễn, mà ỏ dó chỉ có sụ dộc tôn Nho giáo Xét theo bản chất, dạo Phật là dạo của sự giải thoát, bao gồm
hai tư cách lón là: ỷ thức hệ triết học - đặc biệt là ỷ thức hệ trìểt học nhân sinh và tôn giáo Hai tư cách: triết học và tôn giáo của
đạo Phật hòa quyện vào nhau thành một chỉnh thể thống nhất
và tùy th e o diều kiện cụ th ể mà tư cách này hay tư cách kia bộc
lộ nhiêu hơn, lón hơn; chẳng hạn ở tông Thiên thì tư cách triết học là tư cách trội bật, còn ỏ tông Tịnh độ hay tông Mật là tư cách tôn giáo, tín ngưỡng lại là co bản.
Bỏi vậy, dấu ấn lâu đài và sâu rộng của phật giáo trong lịch
sủ Việt Nam, trước hết là trong lĩnh vực sinh hoạt tư tưởng và trong lĩnh vực sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo.
Dấu ấn của Phật giáo trong hai lĩnh vực này của lịch sử Việt Nam sâu sắc dến mức chưa bao giò vắng bóng trong lịch sử nưốc nhà, kể từ thòi kỳ phong kiến trỏ vê trước, riêng lĩnh vực tín ngưỡng thì cho tói tận hiện nay Trong lĩnh vực sinh hoạt tư tưỏng, có những giai đoạn lịch sử Phật giáo không dược thùa
nhận là những tư tưỏng q u an phương - hay những tư tưởng chính
thông của triều đại (như thòi Lê - Nguyễn) nhưng trong thực tế
tư tưởng của giói trí thức cung dinh, ngay cả với nhũng bậc xuất
thân N ho học cũng không ít ngưòi thấm n h u ầ n tư tưởng Phật
học, dùng những giáo lý Phật giáo - dặc biệt là Thiền tông - dể cắt nghĩa, lý giải những vấn dề nhân sinh, Nhiều tư tưởng gia lỗi
Trang 38lạc Việt Nam thòi phong kiến là những bậc như vậy: Nguyễn Trãi, Ngô Thòi Nhậm, Nguyễn Du v.v
Dấu ấn của Phật giáo trong lĩnh vực tư tưỏng và tín ngưống Việt Nam không giống nhau ỏ các giai đoạn lịch sủ,
Từ thế kỷ đâu công nguyên cho tói đâu th ế kỷ thứ X, tức là trong suốt thòi kỳ nội thuộc phong kiến phương Bắc, Nhũng dấu
ấn của phật giáo có thể thấy rõ hơn trong lĩnh vực sinh hoạt tín
ngưỡng, tôn giáo của nh ân dân Còn trên bình diện sinh hoạt trí
thức, đấu án của nó vẫn cồn có chiêu mò nhạt Vả lại, suốt ngàn
năm Bắc thuộc, sinh hoạt trí thức không phải là sinh h o ạ t trội
bật của ngưòí Việt Nam Các triều đại phong kiến Trung Hoa chỉ chủ trương sinh hoạt trí thức trong phạm vi rất hẹp, dó là việc mỏ trưòng ỉóp đào tạo một số nho sinh, theo cái học dể bổ sung quan lại cho hệ thống thống trị của các hoàng dê Trung
H oa ỏ xứ phương Nam Gân như không có các tư tưởng gia tâm
cỡ của Việt Nam ỏ thòi kỳ này, do dó ngay cả những trước tác cũng gần như không có Bỏi vậy, sinh hoạt tư tưỏng trên nên tảng Phật học chỉ bó hẹp hâu như ỏ các nhà tu hành thời kỳ này, một sô trước tác cũng là của các nhà sư vê những vấn đê phật học.
iừ thế kỷ thứ X đến cuối thê kỷ XIV dưói các triều đại phong kiến Việt Nam: Ngô - Đinh - (tiên) Lê - Lý và Trần, có thế nói
Phật giáo dã dóng một vai trò chù dạo trong lĩnh vực sinh hoạt
tư tưởng và tín ngưỡng Những trưóc tác của các tư tưởng gia
thòi kỳ này còn lại đến ngày nay hầu hết là những sáng tác cùa các nhà sư, tăng, cư s ĩ và cũng chủ yểu xoay quanh các chù đê
Trang 39phật học như: Chân như, Diệu hữu, có - khồng, không - sắc, Phật,
giác ngộ, niết bàn, sinh - tủ v.v
Tù t h ế kỷ XV trỏ đi, dưỏi thòi Lê - Nguyễn, P h ậ t giáo không
còn vị trí là nên tảng của sinh hoạt trí thức, nhất là trí thúc cung đình, mà là Nho giáo, song trong thực tê sinh hoạt tư tưỏng của
cá nhân các tư tưỏng gía, hẳu như Phật học vẫn là một ý thức
hệ không thê thiếu Còn trong lĩnh vực sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo thì Phật giáo vẫn dược coi trọng và phát triển trong quân chúng nhân dân Tín ngưõng phật giáo không được các triều đại
Lê - Nguyễn khuyến khích, thậm chí còn có nhũng hạn/chê nhất dịnh bằng các sắc, chỉ của triều đình, song không vì thê mà tín ngưỡng phật phai mò trong ký úc, tâm linh, tình cảm tôn giáo của nhân đân Không dược nhà nưóc phong kiến ủng bộ thì dó
là việc làm của tư nhân, của cá nhân Ngay cá nhân một sô quan lại của bộ máy triều đình cũng không thể bỏ qua tín ngưỡng
phật, họ lập chùa, th á p riêng d ể thực hành tín ngưỡng phật tại
gia, thất của mình.
Vào những thập niên dầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam lại chứng kiến phong trào chân hưng Phật giáo, dặc biệt là xu hưóng chấn hưng phật giáo trên bỉnh diện tư tưởng, vói những kỳ vọng tìm ra con đưòng giải phóng cho dân tộc.
Như vậy, trong suốt lịch sủ khoảng hai ngàn năm, Phật giáo
dã thường xuyên có mặt trong lĩnh vực sinh hoạt tư tưỏng và tín ngưỡng của con ngưòi Việt Nam Không có nhũng co sỏ lịch sử
để bác bỏ diều dó Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thuồng nhận thấy hiện tượng "tam giáo hòa dồng" suốt chiều
Trang 40dài lịch sử tư tưởng Việt Nam Điều này càng chứng tỏ rằng phật
giáo luôn luôn là một yếu t ố tu tưỏng trong sinh h o ạ t tư tưỏng
truyền thống của dân tộc Song, trong toàn bộ lịch sử tư tưỏng
và tín ngưỡng Việt Nam, Phật giáo dã dể lại nhừng dấu ấn sâu,
dậm nhất trên lĩnh vực tư tưỏng và tín ngưỡng ở thời kỳ từ th ể
kỷ X đến cuối th ể kỷ XIV'ị đặc biệt là dưới triều đại nhà Lý (1010
- 1225)
II 2 Vấn đề vaỉ trò của Phật giáo trong lịch sử Việt Nam.
Sự tồn tại và phát triển lâu dài, sâu, rộng của Phật giáo trong
lịch sử Việt Nam là một hiện tượng, một xu hướng khách quan,
vậy trong qúa trình đó Phật giáo đã giữ VỊ trí vai trò gì trong lịch sử xã hội Việt Nam, trong đời sống của con người Việt Nam?
Đây là vấn dê đã từng được dặt ra tù lâu trong lịch sử Việt Nam, ngay từ thòi Lý - Trân là thòi kỳ Phật giáo hưng thịnh Có
thể nhận thấy những dánh giá kh ác nhau về vai trò P h ậ t giáo
của các tư tưỏng gia, các nhà làm sử thòi kỳ này như Trân Thái Tông trong "Khóa Hư Lục", sử thẳn N gô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu Trong "Đại Việt sủ ký" Vào giai đoạn cuối thòi kỳ phong kiến Việt Nam, có thể thầy những nhận dịnh vê vai trò của Phật giáo trong "Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh" của N gô Thòi Nhậm.
Vào những năm 20-30 của t h ế kỳ XX, tron g ph ong trào Chấn
Hưng Phật Giáo, chủ yếu là ỏ Nam kỳ, dã xuất hiện nhiêu cách dánh giá khác nhau về vai trò của Phật giáo, dặc biệt là vai trò của Phật giáo Việt nam trưóc vận mệnh giải phóng dân tộc khỏi