1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những từ có liên hệ với nhau về nghĩa và về lịch sử âm đầu trong tiếng việt

158 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 25,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M ặ t khác, có một nét chung khá rõ là họ đều cố gắng tìm tòi xác đinh những đối lập ngữ ủ m và những liên hệ về nghĩa tương ứng đều đặn với những đối lập ngữ â m ấy, rồi từ đó phát hiện

Trang 1

IV - Cái mới của luận văn 8

V - Phương pháp phân tích và trình bày _ 9

CHƯONG 1 : NHỮNG LIÊN HỆ vể MẶT LỊCH sử CỦA CÁC ÂM ĐẨU TIẾNG VIỆT

CHƯONG 3 : CẮC Kiểu LIÊN HỆ VỂ NGHĨA TRONG CÁC NHÓM TỪ Được KHẢO SÁT

Trang 2

CHƯQNG 4 : G iói HẠN BIẾN DỊCH CỦA CÁC MẶT : NGỮ ÂM, NGHĨA VÀ 3IËU VẬT.

TƯONG QUAN GIỬA CÁC NHÓM TỪ Đ ư ọ c KHẢO SÁT VÓI TỪ ĐỒNG ÂM, ĐỔNG NGHỈA, TRÁI NGHĨA VÀ PARONYM

I - N h ậ n xét về giới hạn biến dịch của các mặt ngữ âm, nghĩa

và biểu vật trong các n h ó m từ _ 119

n - Tương quan giữ a các n h ó m từ được khảo sát v ở i từ đồng ù m ,

đổng nghĩa và trái nghĩa 129

m - Tương quan giữa các n h ó m từ được khảo sát với paronym i31

KẾT LUẬN _ 135

TÀI LIỆU THAM K H Ả O _ 138

PHỤ LỤC

Trang 3

M Ở Đ Ầ U

I LịCH s ử v ẩ n đ ể :

1.1 Hai thuật ngữ : tổ từ (word family) và từ tương tự (paronym) ít nhiều có liên quan và được nhắc tới trong luận văn này, vốn không có gì xa lạ

trong nhiều tài liêu ngôn ngữ học về các ngồn ngữ châu Âu C ò n đối với các

ngôn n g ữ cùng loại hình và/ hoặc gdn gũi về khu vực với tiếng Việt, theo

những tài liệu m à chúng tôi được biết, thì hiện tượng tương ứng với hai thuật

ngữ ấy cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập từ khá lâu Chẳng hạn,

theo G.B.Downer [69] thì:

- N ă m 1933, B.Karlgren đã nghiên cứu "các tổ từ trong tiếng H á n ” và

n ă m 1956, ông lại nghiên cứu "những từ cùng gốc trong các chuỗi ngữ â m của

tiếng Hán".

- N ă m 1935, H.Maspero nghiên cứu "các tiền tố và hiện tượng phái

sinh trong tiếng H á n cổ".

- Y u m i n n ă m 1948 nghiên cứu "sự phái sinh từ trong tiếng H á n cổ bằng

cách kết thêm hậu tố - d".

Bản thân G.B.Downer, n ă m 1959 nghiên cứu "sự phái sinh bằng cách

biến chuyển thanh điệu trong tiếng H á n cổ" [69] còn E.G.-Puleyblank n ă m

1973 [78] tiếp tục cồng bố "một số giải thuyết mới liên quan đến những tổ từ

tiếng Hán".

N h ữ n g vấn đế tương tự như thế trong tiếng Q u ả n g Đông, Taishan, tiếng

Bô bai, tiếng Thái Lan (Xiêm), tiếng M â n thông tục có thể gặp trong các công

trình của K a m t a k H i m n ă m 1977, 1980 [74,75] và Ting Pang hsin n ă m 1984

[82].

Riêng về các ngôn ngữ Mon-Khmer, n ă m 1973, H.Shorto có bài "Ba tổ

từ M o n - K h m e r " [79] trong đó có đề cập đến tiếng Việt M.Ferlus n ă m 1977

trong bài "Tiền tố có ý nghĩa công cụ trong tiếng K h a m o u và dấu vết của nó

Trang 4

trong tiếng Việt [70] tuy không nói đến cái gọi là tổ từ, nhưng vấn đề được nghiên cứu lại trực tiếp có liên quan, vì nó ỉà vấn đề phái sinh từ bằng phụ tố.

M ặ c dù cách phân tích, biện giải của các nhà nghiên cứu nói trên có chỗ này chỗ khác không giống nhau, nhưng tất thảy đều thừa nhận sự tồn tại của những nhó m từ m à các từ trong đó vừa có liên hệ về nghĩa với nhau, lại vừa có liên hệ, tương tự nhau (chứ khống đồng nhất) về mặt ngữ am.

M ặ t khác, có một nét chung khá rõ là họ đều cố gắng tìm tòi xác đinh những đối lập ngữ ủ m và những liên hệ về nghĩa tương ứng đều đặn với những đối lập ngữ â m ấy, rồi từ đó phát hiện ra cách phái sinh bằng những con đường biến đổi ngữ â m khác nhau để tạo nên những n h ó m từ có các mối liên

hệ vừa nêu bên trên.

1.2 H.L.Shorto trong bài nghiên cứu rất cồng phu "Ba tổ từ M ô n -

K h m er" đã chọn một cách tiếp cận riêng Ô n g khảo sát ba n h ó m từ có â m đầu

là bán nguyên â m môi và có những nghĩa đại loại như: vòng - đi vòng quanh - đặt quanh, quấn quanh - vây quanh - quay/ ngoái lại

M ộ t mặt, ông so sánh các từ có nghĩa như trên đủy của tiếng M ô n với các từ tương ứng của chúng trong các ngôn ngữ: Khmer, Stiêng, Sre Biat, Banhnar (thuộc nhánh M ô n - K h m e r Đông) Palaung, Riangliang, W a , Khasi (thuộc nhánh M ô n - K h m e r Bắc) để phục nguyên dạng gốc của chúng, rồi mặt khác, quan trọng hơn, ông phân tích quá trinh diễn biến của chúng tới hiên tại (Trong một số trường hợp, tiếng Việt cũng là cứ liệu được dưa ra để đối sánh, phân tích).

1.3 Trong quá trình nghiên cứu tiếng Việt, một ngồn ngữ cùng loại hình

và gần gũi về nguồn gốc, khu vực với các ngôn ngữ kể trên, một số nhà nghiên cứu tiếng Việt [19, 23, 24, 26, 27, 31, 47, 82j tuy không nói đến t ổ từ,

nhưng với các m ứ c đô nhiều, ít khác nhau, đã nói tới hiện tượng những từ có

bộ phận ngữ â m giống nhau m à nghĩa của chúng có những liên hệ với nhau hoặc tương tự như nhau V ề mặt ngữ âm, chúng có thể là:

Trang 5

- N h ữ n g từ đom giống nhau ở â m đầu, như: núp, nấp, nép m õ m , mỏ, miệng, mép, mổi, m ồ m .

- N h ữ n g từ đơn giống nhau ở phần vần, như: quăn, xoăn, vằn ép, kẹp, bẹp, xẹp, dẹp, lép

- N h ữ n g từ ỉáy có m ộ t hoặc hai vần giông nhau, như: đúng đắn, thẩng thắn, vuông ván, đầy đặn bấp bênh, lấp ló, khấp khểnh, thập thò nghênh ngang, kềnh càng,thênh thang, khệnh khạng

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đề cập những hiện tượng n h ư trên đây đều mới chỉ đưa ra một số rất ít n h ó m từ cụ thể nào đó để phân tích, miêu tả; hoặc chỉ nhân thể nói tới chúng trong khi thảo luận, phân tích về một hoặc

m ột số đặc điểm nào đó của tiếng Việt Các nhận xét rút ra được từ những

n h ó m từ đó thường trực tiếp hoặc gián tiếp nói tới những vấn đề như:

a - Đ ộ n g tác cấu â m của nhiều â m đầu và vần tiếng Việt có khả năng biểu thị, miêu tả, phỏng theo hình dáng hoặc phương thức hoạt động của cái

trong các từ như: b ấ p b ê n h , tấ p tể n h , lấ p ỉo é , m ậ p m ờ có thể được coi là

những hình vị [19,31]

c - C ó thể có sự biến â m tạo từ (ví dụ, các từ tră n , rắ n , th ằ n lầ n có thể

bắt nguồn từ [tlan] hoặc m ô t hình thái nào đó na ná như vậy [32] hoặc cấu tạo

từ theo lối suy phỏng [23,37].

N ă m 1985, lần đầu tiên, sách "Từ vựng học tiếng Việt" [24] trình bày những hiộn tượng nêu trên với cái nhìn thuần tuý đồng đại, đặt tên là các từ

Trang 6

tương tự, xếp chúng bên cạnh từ đồng âm, từ đồng nghĩa, trái nghĩa, với tư cách như một kiểu tổ chức của từ vựng.

Tất cả những điều vừa trình bày trên đây hoặc ý tưởng về chúng, ít nhiều đều có trong suy nghĩ của khá nhiều người nghiên cứu tiếng Việt, nhưng tiếc rằng chưa có ai, chưa có công trình nào tập hợp thật nhiều tư liệu

để miêu tả, phân tích cho thật kỹ cả cái gọi là tính tương tự, mối liênJiê về mặt ngữ â m lẫn tính tương tư,mối liên hệ về mặt nghĩa Nói cách khác, đó là hiện tượng cỏ không ít người nhận ra, c ả m thấy, nhưng lại chưa được khảo sát

và phân tích để tìm hiểu một cách đầy đủ.

II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu.

Đ ể góp phần tiếp tục nghiên cứu những n h ó m từ có liên quan đến các hiện tượng như vừa kể trên, chúng tôi tập trung chú ý vào những từ đơn mà:

a - C ó phần vần giống nhau.

b - C ó liên hệ với nhau (được hiểu ỉà tương tự nhau hoặc có liên hệ đến nhau) về nghĩa.

c- Â m đầu của chúng có liên hệ với nhau về mặt lịch sử.

Sở dĩ chúng tồi xác định đối tượng nghiên cứu của mình như vậv là vì

giống nhau ở â m đầu của â m tiết thứ nhất); còn những từ giống nhau ở môt

â m tiết thì lại ỉà vấn đề khác: cùng một yếu tố cấu tạo từ (hình tiết) đã được dùng lặp lại trong những lần khác nhau để cùng với những yếu tố khác tạo nẻn những từ khác nhau (Ví dụ: xanh lè, xanh rì, xanh ngắt, xanh mướt, xanh

u m ).

Trang 7

c- N h ữ n g từ láy có một hay hai vần giống nhau thì đã được một số nhà nghiên cứu phân tích dưới những gốc đô tương đối đa dạng; còn từ cách nhìn của chúng tôi, không ít hiên tượng trong đó sẽ có thể giải thích được sau khi những vấn đề hữu quan đã được làm sáng tỏ trong khu vực từ đơn Chảng hạn,

sự tương tự về â m và nghĩa giữa những từ như n g h ên h n g a n g , k ền h c à n g ,

k h ện h k h ạ n g sẽ có thể được giải thích bằng sự giống nhau ở cặp vần - ền h -

a n g và các â m đầu của chúng N G - K - K H có liên hệ với nhau trong quá khứ

lịch sử.

d- N h ữ n g liên hệ về mặt lịch sử của các ủ m đầu trong các n h ó m từ được khảo sát, theo cách nhìn của chúng tôi, là lý do quan trọng và là cơ sở cho việc tạo nên chính các n h ó m từ đó.

e- N h ữ n g từ có liên hệ với nhau về nghĩa, có â m đẩu giống nhau, m à phần vần của chúng có ỉiên hệ lịch sử với nhau như ni - này, mi - mày, chí - chấy, đường - đàng, nước - nác có số lượng không nhiều lắm, m ặ c dù hoàn toàn có thể và cần chia ra thành một kiểu, ngang bằng về mặt phân loại với những từ m à chúng tồi đề cập ở đây để x e m xét; nhưng vi chưa đủ điều kiên,

và để cho vấn đề được tập trung, chúng tôi tạm thời chưa nghiên cứu.

III VẨN ĐỂ TƯ LIỆU

m 1 Tiêu chí tập hợp

N ế u phân chia toàn bộ từ vựng tiếng Việt theo hơn 20 â m đầu và/hoặc ĩrên dưới 160 vần thì sẽ có thể tập hợp được rất nhiều n h ó m vừa có một bộ phận ngữ â m giống nhau, lại vừa có những nét tương tự nhau về nghĩa, nhưng cách phân chia, tập hợp n h ư vậy không thể nào tránh được những ngẫu nhiên

và gán ghép chủ quan Vì vậy, việc đưa ra những tiêu chí để xác định đối tượng, thu thập c á c n h ó m tò, là rất cần thiết.

L a T iê u c h í về n g ữ â m

Trong các từ đơn tiết, mỗi từ sẽ có thể có tối đa là n ă m thành tố ngữ âm: â m đầu, â m đệm, â m chính, â m cuối và thanh điệu, n ằ m trong kết cấu hai bậc g ồ m ba thành tố trực tiếp: â m đầu, phần vần và thanh điêu [59].

Trang 8

N ế u sự tương tự nhau về ngữ â m ở đây được hiểu là có một hoặc một số

bộ phận, thành tố câu tạo nên â m tiết giống nhau (trùng nhau); và nếu hai từ đơn - â m tiết có đầy đủ cả 5 thành tố thì chúng sẽ có tối đa 30 khả năng (dạng) tương tự nhau (tính theo công thức 2n-l, trừ đi thêm m ộ t khả năng - dạng trùng nhau hoàn toàn) N ế u so sánh hai từ đơn - â m tiết theo ba thành tố trực tiếp: â m đầu, vần, thanh điộu, thì chủng sẽ có 6 dạng tương tự nhau.

T u y nhiên, 30 khả năng hay 6 khả năng, là những con số tính toán được trên lý thuyết Chúng tồi, với những lý do như điểm n về đối tượng nghiên cứu, đã trình bày: chỉ khảo sát một khả năng là những từ đơn giống nhau ở phần vần; và p h ạ m vì còn được thu hẹp hon nữa: những tò đơn có phần vần giống nhau m à â m đdu của chúng lại có liên hệ về mặt lịch sử với nhau, sở đĩ như vậy là vì ngoài những lý do đã nêu trong điểm n bên trên, còn vì tình trạng tư liệu và những kết quả nghiên cứu hiện có vẫn chưa cho phép tìm ra lý

do thật sáng tỏ để phân tích và giải thích cho các khả năng khác.

I b T iêu c h í v ề n g h ĩa

Cách nói "có nét giống nhau/ gần nhau/ tương tự nhau về nghĩa", thục ra, không hoàn toàn chặt chẽ và rất dễ dẫn tới sự gán ghép chủ quan Vì vậy, để có căn cứ xác định những nét giống nhau/ gần nhau/ tương tự nhau hoặc liên quan đến nhau về nghĩa giữa những từ được đưa ra phân tích, so sánh, chúng tôi dựa trước hết vào định nghĩa của chúng trong các từ điển.

Xuất phát từ quan niệm coi nghĩa của từ là cái có thể phàn tích ra được những thành tố nhỏ hon, tối thiểu, cần yếu (nhừng nét nghĩa), đổng thời, nghĩa của từ là một tập hợp, m ộ t bộ những nét nghĩa cần yếu đó, chúng tồi coi hai từ

là có nghĩa tương tự nhau khi chúng có ít nhất một nét nghĩa p h ạ m trù và một nét nghĩa cụ thể (xem chương 3) giống nhau T u y vậy, các n h ó m từ được khao sát ở đủy sẽ được gọi chung là có liên hệ với nhau về nghĩa (mặc dù cách gọi này cũng không thật chặt chẽ) chứ không nói là (từ) gần nghĩa, bởi vì, như trong chương 3 sẽ phân tích, chúng có thể :

Trang 9

- C ó những liên hệ logic - thực tại với nhau (ví dụ: thắt - chặt, dựng - đứng, xô - đổ, kẹp - nẹp )

- C ó những liên hệ tương đồng/ tương tự với các m ứ c độ khác nhau như: leo -trèo, dơ- nhơ, bong - long, lầm - n h ầ m .

m 2 Các bước tập hợp và xử lý tư liệu

N h ữ n g từ đơn được chúng tôi tập hợp phải luôn luôn thoả m ã n đồng thòi hai tiêu chí về ngữ â m và nghĩa nêu trên Chúng được thu thập chủ yếu dựa vào T ừ điển tiếng Việt xuất bản n ă m 1992 tại H à Nôi, là từ điển thuộc loại mới nhất; đồng thời, trong những trường hợp cần thiết, cán bổ sung thi chúng tôi cũng dựa vào các từ điển khác nữa, cùng với những tư liệu tiếng địa phương m à bản thân đã có dịp sưu tầm.

Các bước làm việc ở đây được thực hiện như sau.

ỉ Tập hợp tất cả những từ đơn có phần vần giống nhau (bất kể thanh

điệu); đồng thời nghĩa của chúng, theo c ả m nhận chủ quan là có liên hệ với nhau; nhưng â m đẩu của chúng phải khác nhau.

2 N h ữ n g từ nào đã qua bước 1 m à â m đầu của chúng xác định ngay được là có liên hệ lịch sử với nhau, hoặc những từ m à â m đẩu của chúng thể hiộn môt tương ứng ỉặp lại từ hai lần trở lên (trong 2 hoặc hơn 2 n h ó m từ) dù chưa biết chắc chúng có liên hệ lịch sử với nhau hay không, đều được rhu thập (Ví dụ, tương ứng B - M được thể hiên trong nhiều ngôn từ, nên n h ó m nào có tương ứng này cũng đều được thu nhận X e m 13 n h ó m từ đầu tiên và

n h ó m số 15 trong danh sách) Sau đó chúng tôi rà xét lại toàn bộ để chỉ lựa chọn những n h ó m từ m à â m đầu của các từ trong từng n h ó m ấy có liên hệ lịch

sử với nhau.

3 Thông qua (các) từ điển (có thể có những phân tích, hiệu chỉnh, nếu

cần thiết) đối chiếu nghĩa của các từ trong các n h ó m đã tập hợp được sau hai bước bên trẽn để kiểm nghiệm, xác định nghĩa của chúng có liẽn hệ với nhau thật hay không Bước này thật ra là được thực hiện song song với bước thứ hai

để thanh lọc bớt những tư liêu không thoả m ã n hai điều kiện (tiêu chí) đã xác đinh.

D a n h sách các từ điển chúng tôi sử dụng bao gồm:

Trang 10

TĐ1 T ừ đ iể n V iệ t - B ồ đ à o n h a - L a tỉn h , của A-de-Rhođes Roma,

1651 Bản dịch của nhà xuất bản K h o a học xã hôi H à Nôi, 1991.

TĐ2 D ic tio n a r iu m A n a m ilic o L a tin u m , của Pignau de Behain.

TĐ3 Đ ạ i nam q u ấ c â m tự vị, của Hùinh Tịnh Paulus của Sài G ò n 1895.

TĐ4 T ừ đ iể n V iệ t - P h á p của J.F.M.Genibrel - Sài Gòn, 1898

TĐ5 V iệ t N a m tự đ iể n của Hội khai trí tiến đức H à Nội 1931.

TĐ6 D ic tỉo n a ir e A n n a m ite - C h in o is - F r a n c , cais của G.Hue 1937.

TĐ7 V iệ t N a m tự đ iể n của Thanh Nghị Sài Gòn, 1958.

TĐ8 V iệ t N a m tự đ iể n của Lê Văn Đức Sài Gòn 1970

TĐ9 T ừ đ iển tiế n g V iệ t của Văn Tân (chủ biên) - H à Nội, 1967.

TĐ10 T ừ đ iể n tiế n g V iệ t của Viện N g ô n ngữ học - u ỷ ban khoa học xã

hội, (Hoàng Phê chủ biên) H à Nội, 1992.

(Kể từ đây, để viộc trình bày được ngắn gọn, chúng tôi không nhắc lại tên các từ điển nữa, m à dùng các kí hiệu viết tắt TOI, T Đ 2 .).

Sau các bước làm việc kể trên, chúng tôi thu thập được 1335 từ khác nhau, tập hợp trong 602 n h ó m (xem phụ lục) và gọi chúng là "những n h ó m từ

có liên hệ với nhau về nghía và lịch sử â m đầu." Trong số 602 n h ó m này,

n h ó m có nhiều từ nhất ỉà 7 từ, n h ó m có ít từ nhất là 2 từ Số n h ó m 2 từ chiếm

tỷ lệ rất cao: 499 so với 602.

Số lượng các n h ó m từ m à chúng tôi thu thập được chắc chưa phải là tuyêt đối đây đủ N ế u so sánh tìm tòi trong nhiều từ điển và nhiều tiếng địa phương hơn nữa, thì con số nêu trên có thể còn gia tăng ít nhiều; nhưng dù sao thì đó cũng là khối tư liêu đủ sức phản ánh các khía cạnh của vấn đề.

IV CÁI MỚI CỦA LUẬN VĂN.

Trên cơ sở nghiên cứu sâu hơn một p h ạ m vi đối tượng n h ư vậy, cái mới

Trang 11

ỉ Việc khảo sát, phân tích và miêu tả được tiến hành với một khối tư

liệu thu thập đầy đủ và tập trung hơn.

2 Rút ra được một số nhận xét có tính chất kết luận về những vân để như:

a- Thực chất của những n h ó m từ có liên hê với nhau về nghĩa và lịch sử

â m đầu trong tiếng Viột là gì?

b- Lý do nào đã dẫn đến sự hình thành nên các n h ó m từ đó?

c- Các liên hệ cụ thể về nghĩa trong các n h ó m từ ấy như thế nào?

d- So với các n h ó m từ đồng âm, đồng nghĩa, thỉ những n h ó m từ được để cập ở đây là cái gì và chúng như thế nào?

e- So sánh với cái gọi là các tổ từ (word family) và /hoặc các từ tương

tự (paronym) trong các ngôn ngữ khác và khái niệm về chúng trong các sách ngôn ngữ học thì các n h ó m từ được nghiên cứu ở đây có gì giống và khác nhau?

N h ữ n g nhận xét, kết luận về các vân đề đó sẽ góp phán soi sáng thêm cho những đặc điểm cả về mặt loại hình lản vị trí khu vực của tiếng Việt trên

cả hai bình diện thực tiễn và lý luận.

V PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY

Trong luận văn này, chúng tồi luồn luôn đi từ thực tế tư liệu để so sánh, miêu tả, sau đó là phân tích rồi mới nhận xét và kết luận chứ không xuất phát

từ một m ô hình phân tích có sẵn hay một chủ kiến từ trước C ó nghĩa là chúng tôi đi bằng con đường qui nạp để tới các nhận xét và kết luận D o đó, cơ cấu của luận văn g ồ m có: phần m ở đầu, bốn chương phân tích miêu tả, lời kết luận và một phụ lục ghi danh sách các n h ó m từ được kháo sát; cuối cùng là danh m ụ c sách báo tham khảo.

Trong chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề về mối liên hộ lịch

sử giữa các â m đầu tiếng Việt.

Trang 12

Trong chương 2, dựa trên những điều đã nói ở chương 1, chúng tôi đi vào miêu tả, phân tích và giải thích mối liên hệ giữa các â m đầu của các từ trong các n h ó m đ ư ợc tập hợp, khảo sất.

Trong chương 3, chúng tôi phàn tích các kiểu liên hệ vể nghĩa trong các

Việc phân chia thành 4 chương với số trang không đồng đều nhau lắm,

có thể gây ấn tượng thiếu cân đối; nhưng do dung lượng của từng loại ván đề cũng như các khả năng phùn tách, chúng tôi thể hiện mỗi phần trong hai chương; và điều này cũng không anh hưởng gì đến logic của việc trình bày.

Đối với việc thể hiện các â m đầu, để tiện cho viêc theo dõi và cả vièc • • ' • « « đánh máy, chúng tôi chủ yếu dùng con chữ in hoa như trong chính tả hiện nay; chỉ trong một số trường hợp thật cẩn thiết, khi con chữ quốc ngữ khỏng thể hiện được â m đầu đố, hoặc có thể gây hiểu lầm thì chúng tôi mới dùng ký hiệu phiên â m đặt trong dấu ngoặc vuông [ ].

Kí hiệu đặt trong dấu ngoặc đơn để chỉ: nó có thể cỏ hoặc không Ví dụ

Trang 13

C h ư ơ n s ỉ

NHỮNG UÊN HỆ VỂ MẶT LỊCH s ử CỦA CÁC ÃM ĐẨU TIẾNG VIỆT

A NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I H ê thống ngữ â m tiếng Việt nói chung, các â m đầu nói riêng, vốn có lịch sử của chúng Trong quá trình phát triển để dăn tới một hệ thống như hiện

nay, nhiều biến đổi, nhiều mối liên hệ giữa các â m đã diễn ra Vì vậy, m u ố n

biết hai hoặc hơn hai â m hiện nay có liên hệ gì với nhau trong quá khứ hay

không, chúng tôi buộc phải tìm lại diện m a ọ của chúng trên những con đường

sẵn, rồi b á m theo lịch trình diẻn biến của chủng từ niên đại được phục nguvồn

đến nay để x e m có những biến đổi gì đã xảy ra, và những biến đổi ấv đã đưa

đến những mối liẽn hệ, tương ứng như thế nào.

Cách đi này thực tế sẽ khiến chúng tôi có lý do để phái trinh bày lại

diễn biến lịch sử của các â m đầu tiếng Viêt hiện đại một cách đầv đủ theo hệ

thống; nhưng đó không phải là m ụ c đích chính của luận văn.

Chúng tôi tuy phải theo dõi, tìm hiểu các quá trình diễn biến, các mối

liên hệ lịch sử của các â m đầu hiện đại, lấy đó làm cơ sơ áp dụng vào phùn

tích giải thích tư liêu của mình, nhưng chỉ đề cập những quá trình diẻn hiến,

những liên hệ lịch sử nào trực tiếp liên quan và thiết yếu cho vấn đề cán giái

quyết chứ không nhất thiết phải là toàn bộ quá trình diễn biến lịch sử của các

â m đầu được thể hiện một cách chi tiết trong một hệ thống cân đối, trọn vẹn.

Trang 14

2 Cách thứ hai, xuất phát từ các â m đầu hiện đại, quay ngược trơ lại quá khứ của chúng N ế u theo cách này, chúng tôi sẽ lùi dần vào quá khứ lịch

sử để tìm hiểu x e m mỗi a m đầu hiện nay, trước đây từng có / hoặc cỏ thế có

các mối liên hệ lịch sử với (những ) â m đầu nào.

L à m như thế, việc trình bày các mối liên hệ lịch sử của mỗi â m đầu với

các â m đầu khác nếu có, sẽ được thể hiện, được đề cập m ộ t cách tập trung

hơn, dễ hình dung hơn Trong khi đó, nếu theo cách thứ nhất thì vấn đề sẽ

được trình bày theo hê thống của các quy luật biến đổi ngữ â m lịch sử hoặc

theo từng dãy â m đầu, sẽ gọn gàng hơn cho từng nhóm, từng dấy â m đầu â m

đầu đó, nhung lại không tập trung được các mối liên hệ lịch sử của mỗi â m

đầu vào một chỗ, nên ít nhiều, chúng ta khó hình dung hơn.

Ví dụ, về à m đầu B, từ hiện tại, chúng tồi đi vào quá khứ của nó và tìm

hiểu:

- Trước đay từng có cái gì có thể là nguồn gốc của nó.

- Cảe quá trình diễn biến để dẫn đến B hiện nay có còn cho (nhữníỉ) kết

quá gì nữa hay không.

- C ó xu hướng, quy luật hoặc hiện tượng biến đổi nào đan xen vào quá

trinh lịch sử của B nữa hay không; và nếu có thì dẫn đến hệ quá gì (Việc tìm

hiểu những hiện tượng, những quy luật và xu hướng biến đổi đan xen vào

nhau, dát díu và lôi kéo ỉẫn nhau như thế, nhiều khi mới giúp ta hiểu được

nhũng mối liên hệ giữa những â m đầu m à hiện nay cách nhìn thuần tu ý đổng

đại rất khó nhận ra).

Khi làm như trên đây, các liên hệ lịch sử của B với những â m đầu khác

nào đó sẽ được lần giở ra và trình bày một cách tập trung hơn đế chúng ta cỏ

được cái nhìn đầy đủ, rõ ràng hơn.

n Ván đề lịch sử các â m đầu nói riêng, cũng như lịch sử ngữ à m tiếng

Việt nói chung, thực tế trước nay đã được một số nhà nghiên cứu trong và

ngoài nước quan tâm miêu tả và phân tích từ khá nhiều khía cạnh, nhiều m ứ c

Trang 15

ít cổng trình nghiẽn cứu trình bày (với những.-góc độ và quy m ô khác nhau) vể

hệ thống â m đầu tiếng Việt trong lịch sử, đa số còn lại của phần nhiều các nhà nghiẽn cứu m à chúng tôi đã được tiếp thu đểu là kết quả khảo sát về những sự kiện, những xu hướng, quy luật cụ thể vào đó chứ không phải là toàn bộ hô thống Vì thế, việc chúng tôi phải làm là tìm tòi, tập hợp, chọn lọc và sắp xếp những kết quá, những nhận xét ây theo cách sao cho có thể sử dụng được hữu hiệu và hợp lý khi thực hiện nhiệm vụ của mình Đôi khi, từ những nhận xét, gợi ý của các nhà nghiên cứu ấy, chúng tổi cỏ thể đưa thêm cứ liệu để chứng minh cho rõ ràng hơn.

N h ư vậy, ở đây, việc phân tích, trình bày những mối liên hệ lịch sử của các â m đẩu là xuất phát từ m ụ c đích và vì m ụ c đích nghiên cứu của chúng tôi chứ khồng phải vì m ụ c đích trình bày một cách thật hệ thống toàn bộ những liên hệ lịch sử và các quy luật, xu hướng biến đổi trong quá khứ của các à m đầu đó.

IIĨ Các â m đầu hiện nay của tiếng Việt (nếu kể Cil â m tắc thanh hđu -

vì có những người khổng thừa nhận â m này) g ồ m 21 â m vị được thể hiện trên chữ viết và một â m không được thể hiện (lìm tắc thanh háu, ký hiệu [?]) Dưới đây, chúng tôi sẽ đề cập tới chúng lần lượt theo vị trí câu à m từ mòi đến đầu lưỡi, mặt lưỡi, gốc lưỡi và thanh hầu.

T uy nhiên, như trên đã nói, chúng tồi sẽ không trình bàv các liên hệ lịch sử của các â m đầu thông qua việc phàn tích sự biến đổi lịch sử của tìmu

n h ó m âm, dãy â m hay từng xu hướng, quy luật biến đổi; m à trình bày sao cho thây được: â m này có và / hoặc có thể có liên hê lịch sử với (những ) â m nào.

Trang 16

Vì vậy dưới đây 12 m ụ c với 12 â m đầu được nêu ỉên làm tiêu đề sẽ lần lượt được trình bày theo thứ tự vị trí cấu â m của chúng từ môi đến thanh hầu:

T h ứ nhất, trong khi tới một â m A (được chọn làm tiêu mục) nào đó có liên hệ với một â m B nào đố, thì sau đây khổng cần phái nêu â m B lên làm tiêu m ụ c để trình bày rằng nó có liên hệ với à m A nữa.

T h ứ hai, từ 12 A m đầu - điểm nút này, chúng tôi (lã lần ra được các môi liên hệ giữa chúng với nhau và giữa chúng với các â m đầu khác còn lại: và như thế là đủ, không cần phải trình bày thêm các â m đầu khác làm điểm nút cho đủ mặt toàn bộ hệ thống, vì như thế là sẽ chỉ lặp lại những điều đã nói trong 12 m ụ c đã trình bày.

B NHỮNG LIÊN HỆ LỊCH sử GIỮA CÁC ÂM ĐẦU

1 Ả M Đ ẦU B íhl

Đ â y là â m môi, tắc, hữu thanh Trong tiếng Tiền Việt M ư ờ n g và Việt

M ư ờ n g chung 1 vốn có một â m B nguyên thuỷ; và rồi một số â m nguổn gốc khác cũng biến đổi để cho B rồi trùng nhập vào đó.

1 Tên gọi Tiền Việt Mường và Việt Mường chung dây dược hiểu, như sau : Tiếng Tién Việt Mường ( GJSffloth gọi là Proto Vietic; cách nay khoảng 2500 năm) bào gổm (cũng ngụ ý là : VỂ

Trang 17

l.a D o tác động của xu hướng hữu thanh hoá, p trong tiếng Việr

M ư ờ n g chung đã chuyển thành B Tương ứng B Việt - p M ư ờ n g , Tha vung, Rục, Sách hiện nay [71,77,94] cho thấy rõ điều đó.

Việt : bánh - M.Khến: psrỊ - Rục: per)

Việt : bánh - M.Khến: păl - Rục: pổl - Nguồn: pan

Việt : ba - Sách: pa - Rục - pa - Thavung: paa Việt : bắn - Rục: pin - Tha vung: pip/ pi^

4 C ứ liệu phương ngữ cũng cung cáp nhiều cặp từ có B - P H song

song như: bỏng - phỏng, banh - phanh , bồng - phồng

5 C h ữ n ô m dùng P H để ghi â m B trong hàng loạt trưởng hợp [1.3,4

25, 51] Ví dụ P H Ụ N G - bụng, bóng; PHONÍ Ì - bông

6 Trong cách đọc Hán Việt, P H Hán Việt vốn xuất thân từ [p'] do thanh m ẫ u Phi [f] Phu [f] Phụng [v] nhập làm một với thanh m ẫ u Bàng [p1] (xem 2 tr 177-181).

thế kỷ V đến X) Tiếng chứt - Poọng chung bao gổm nhóm Chửt và nhóm Poọng, Nhóm Chứt bau gổm tiếng Arem, Rục, Sách ngày nay Nhóm Poọng gôm tiếng Poọng ngày nay cỏ n tiếng Việt Mường chung ( theo cách gọi của Nguyẽn Tài cản và M.Ferlus) bao gồm tiếng Việt và tiếng Mường ngày nay, [xem 4 , 15, 20, 94]

Trang 18

N h ư vậy, rõ ràng là B và P H của tiếng Việt có liên hệ lịch sử với nhau.

l.b  m [p] xát môi - mồi trong tiếng Việt M ư ờ n g chung biến đổi thành B trong tiếng M ư ờ n g và V (âm môi - răng) trong tiếng Việt theo quy luật xát hoá (có qua dạng trung gian |£] ; điều này được ghi trong TĐi).

K i ể m tra vần B của TĐi, chúng tỏi thấy có 19 từ (trong 23 lượt từ) được ghi B m à nay phát â m với V: bó - vó, bớp - vấp, bích - vích

D ạ n g trung gian Eb] thì hiện nay có từ được phát â m với V như : v a i,

v ẫ y , v ú có từ được phát â m với B như : b ấ m , b â u , bĩu

Tới cuối thế kỷ XIX, T Đ 2 vẫn còn ghi nhận mồt số từ ngày nay phát

â m V như v ịn , vu a , v ậ t v ạ là B: b ịn , b u a , b ậ t bạ

M ặ t khác, quá trình xát hoá các phụ â m tắc giữa [22] làm cho một số [- pj biến chuyển thành [v] trong khi những [p] không ở vị trí giữa từ (đầu â m tiết chính, sau â m tiết phụ) không chịu ảnh hưởng của quá trình này thỉ biến chuyển thành [b]

N h ữ n g điều trên đây đểu phản ánh mối liên hệ lịch sử của B với V.

l.c Trong tiếng Tiển Viột M ư ờ n g và Việt M ư ờ n g chung có â m tiền mũi [*mb] nay đã biến đổi thành M trong Việt và B trong M ư ờ n g , R u c [xem 15,22,52, 53, 94] Ví dụ.

T Đ i ghi một số cặp đồi như m ồ d in - b ồ n h in , m ồ 1

m ù i d ù i - m à i n h ủ i - b ù i d ù i (nay còn dạng b ù i n h ù i).

N g a y bây giờ, trong tiếng Việt hiện vẫn đang còn những đôi từ như :

m u ố n - b u ồ n , m ồ h ô i - b ồ h ô i, m ồ hóng - b ồ h ó n g , m ù n h ìn - b ù nhìn.N h ữ n g

Trang 19

dẫn chứng n h ư thế chứng tỏ sự tồn tại của [*mb] trước đây và sự biến đổi của

nó đã đưa đến một số trường hợp m à â m đầu M và B có liên hệ lịch sử với

nhau.

l.d trong lịch sử ngữ â m tiếng Việt từng có tổ hợp phụ â m B L cùng

với những tổ hợp khác như PL, TL, KL, ML.(xem:TĐi và [4,11,46,94]) Riêng

B L trong T O I có 97 m ụ c từ ghi với tổ hợp này C ứ liệu chữ n ô m cũng khẳng

định sự tồn tại của nó: B L Ă N G (trăng) = BA + LĂNG [1, 3, 36, 51] Sau thế kỷ

xvn, ở Bắc Trung bộ và N a m bộ, B L chuyên thành T R còn ở Bác bộ thi về

căn bản, nó chuyển thành Gi (tròi - giời, trồng - giồng ) Riêng T R lại có thể:

- Biến chuyên sang CH (ví dụ, T O I ghi blue thì nay là Chúc; trong phương ngữ Bắc, TRE — > CHE, TRjANH —> CHANH )

- Liên hệ với s (ví dụ, cứ liệu phương ngữ cho thấy những cặp đôi như: g à tr ố n g - g à số n g , c á i Irẹo - c á i s ẹ o , c o n tr á o - c o n s á o còn chữ n ồ m thì

có khá nhiều chữ có thể đọc với â m đầu T R / S) Cuối cùng s lại có thể

chuyển sang hội nhập với X (ví dụ: sâu - xâu, sáu - xáu, sang - xang )

Q u á trình B L -> T R -» s rồi s -> X có thể được thấy rõ hơn nếu ta so

sánh cách ghi b lả tă o c , tă o c b lả b lư ợ c trong T Đ 1 với cách nói tương ứng x ã

t ó c , tó c x ã / x o ã x ư ợ ỉ ngày nay.

M ộ t lối biến đổi khác nữa là B L rụng B để lại L hoặc rụng L để lại B }

Chính trong T Đ 1 cũng đã ghi những kết quá biến đổi như thế: b ló c ,

b là i và b ó c , là i C ò n những trường hợp m à T Đ 1 ghi với B L như: b let; b lạ p

b lẩ o ; b ỉậ t thì nay đã biến đổi thành b ệ t, tr ệ t, p h ệ t; b ậ p b ồ n g ; b ậ t, lậ t, tr ậ t

H.Maspero [46] dự kiến các khả năng biến đổi của tổ các hợp như BL, TL, KL, PL, ML c ố _

TRMtíi

thể là

a Hòa đúc thành một âm m ớ i : TL - » TR

b Rụng yếu tố đầu, đ ể lại yếu tố sau : TL -> L

c Rụng yếu tố sau, đ ể lại yếu tố đầu : TL - » T

d Âm tiết hóa, cho 2 âm tiết, m ỗi âm tiết giữ một yếu tố trong tổ hợp.

e Hai, ba tổ hợp có thể trùng nhập vào làm một và tiếp tục biến đổi Chính khả năng này cho ta

ohiều kết quả có liên hệ với nhau vô cùng phức tạp Xem thêm [8]

Trang 20

N h ư vậy, những trường hợp m à B dẫn xuất từ B L chắc chắn phái có liên hệ hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp với các kết quả khác trong quá trinh biến đổi ấy: TR, C H , s, X, L, Gi.

I.e Các tổ hợp phụ â m BL, PL, TL, KL, M L trong quá trình biến đổi của chúng đã không chỉ đi trên những con đường tách biệt, m à có trùng nhập, đan xen, lôi kéo lẫn nhau [17, 18, 94] Kết quả là một số trong các dẫn xuất của BL, và như sau đây sẽ dần dần trình bày, của PL, TL, KL, M L , có thể cùng xuất hiện trong những chuỗi từ m à nhìn bề ngoài, tưởng như chúng chảng dính dáng gì đến nhau Ví dụ, T Đ 3 cố ghi cặp đôi , bù lem - tèm lem;

T Đ 1 ghi dạng b lo n n g ó t thì về sau biến chuyển thành to n n g ó t (TĐ3); còn

ngày nay, ta có thể thấy qua T Đ 10 những cặp như b u ộ t - lu ậ t, b ố c - tố c y ịr á c h )

b ư ớ p - ( r á c h ) tư ớ p, tè m n h èm - lè m n hèm - k èm n h èm , b u n g - lu n g Những

dẫn chứng này cho thấy sự đan xen vào nhau trong quá trinh biến đổi của các

tổ hợp phụ â m là thực tế; và ta có thể nói rằng (trước hết, ử đây): một s ố â m

đầu B có liên hệ với một số â m đầu T đo quá trinh hỗn nhập và biến đổi của các tổ hợp phụ â m có chứa B,T Tất nhiên, đó là liên hệ gián tiếp.

Trong một số từ Hán Việt chúng ta cũng có thể gặp B và T liên hệ với nhau Cách đọc H á n Việt có T Ỳ {tỷ số tỷ th í) nhưng cũng có BÌ {p h à n b i so

b ì) c ó TIỆN nhưng cũng có BÈN; còn chữ n ô m thì dùng TIỆN (Hán Việt) đế ahĩ

â m b ề n hoặc b iề n (nổm) (‘ ) Điều này chứng tỏ rằng liên hệ B - T Ịthổng phái

là hoàn toàn kv lạ đối với tiếng Việt.

2 ẢM ĐẨU M [mi

Trong hệ thống ă m đầu Tiền Việt M ư ờ n g và Việt M ư ờ n g chung [94] đã

có â m này Đ ó là m ộ t â m mồi, tắc, vang, hữu thanh, cùng dãy với loạt â m mũi

N H , N G , N.

(' ) Liên hệ íy trong các từ Hán Việt dược giải thích như sau [2] : T Hán Việt hất nguồn từ thanh mẫu TINH, TÙNG, TÂM TÀ; nhưng cõng có một số ít bắt nguồn từ thanh màu BANíỉ BÀNíi TỊNH, (vốn là âm m ôi) Tuy nhiên, chỉ khi nào BANG, BÀNOi TỊNH dứng trước giới ủm [i] (tam giáp A) dài hơn, mạnh hơn, hướng về phía trước hơn và không tròn môi thi mới cho T Hán Viột Trong trường hợp như vậy [p] - thanh máu B/iNCỈ, [b] - thanh mâu TỊNH phải biến thành [pj]và [bjj; rổi sau khi hợp nhất và vồ thanh hóa biến thành [ps]; cuối cùng [ps] hợp nhất với [sị; rư [s]

Trang 21

2.a Ngoài những trường hợp M có liên hệ với B như đã trình hủy trong

lc, ta còn có thể tháy M trong liên hệ với L và N H do biến đổi của tổ hợp M L

M N H (từng tồn tại như hai biến thể, được nghi trong TĐ1).

Trước hết, M L có thế rụng à m lỏng để còn lại M Chính T Đ 1 đã ghi

điều này qua hai cặp từ m á c n ồ i - m lá c n ồ i; m ạ c (n g ự a ) n h ạ c n g ự a ; còn từ hèn

m lạ t thì nay đã thành hèn m ạ t.

M L / M N H biến đổi thành N H trong phương ngữ Bắc (ví dụ: m lu t,

m ỉo t n h á t, n h ố t ) Còn trong phương ngữ Trung và N a m thi M L -> L (ví dụ:

m ỉạ u m l ã i - ỳ lạ t, lã i )

2.b Trong lb ta đã nói đến liên hệ B - V; và l.c nói đến liên hệ B - M

Thực tế như trong I.e cho thấy, đôi khi các â m khổng liên hệ trực tiếp với

nhau m à gián tiếp qua những khâu, những điếm tựa trung gian khác N h ư vậy

thì những V bắt nguồn từ B và những M xuất phát từ cùng một nguồn gốc với

B có thể được coi là có liên hệ với nhau, gián tiếp qua B làm trung gian.

B -» V — [* mb] M — í Liên hệ qua B

-ỳ B

3 ÂM ĐẨU V [vì

V là phụ â m mòi răng, xát hữu thanh  m này vốn bắt nguồn từ hai nguồn gốc, một là â m P/B nguyên thuỷ và hai là â m [w].

3 X u hướng xát hoá đã làm cho B chuyển thành V, cũng như K -> G

và Đ D Điều này đã được nói tới trong điểm l.b Theo cách giải thích của

N.K Sokolovskaja [94] thì những â m hữu thanh cổ đại, trong tiến trình phát

triển của mình đã bị m ề m hoá rồi có thêm [j] và chuyển biến thành â m xát

tương ứng.

N g ư ợ c lại, M.Ferlus [22] cho rằng những â m tắc đứng đầu ủ m tiết thứ

hai, sau â m tiết thứ nhất (ông gọi là những â m tắc giữa) m ớ i dẻ bị xát hoá và /

hoặc hữu thanh hoá So sánh:

Trang 22

Việt Tha vung Rụ c

D ù theo cách giải thích nào thì chúng ta cũng có liên hệ B - V là một thực tế.

3.b  m [w] nguyên thuỷ vốn là một bán nguyên có thể được coi như

â m đầu hoặc một giới âm Vào thời "An n a m dịch ngữ" hai â m này ([v] và [w]; còn được phân biệt qua cách phiên chuyển bằng [w] và [v] H á n nhưng đến thế

kỷ x v n (TĐi) thì đã bắt đầu lẫn lộn; và chữ n ô m cũng phản ánh sự lẫn lộn này [41].

Trong T Đ 1 ta thấy những từ nay nói với â m đầu V, khi thì được ghi là

Ư như: u ặ t (vật) u ã i (vãi) u a y (vay) khi thỉ được ghi là V như v ạ n , và n g ,

v ắ n g khi thì được ghi với cả u và V như ủ a / v ả (cây vả) ù a / v à (tù và)

Chính nguồn gốc này của V (nguồn gốc [w]) đã cho phép ta nói tới liên

hệ giữa V với [kw, hw, w„.] chảng hạn; m à cứ ỉiệu H á n Việt với những cặp từ như h o ạ c h - v ạ c h , h o ạ - v ạ cũng ủng hộ.

3.c,Âm V hiên đại còn có thể liên hệ với []'] và [z] Điều náy trước hết được thể hiện qua so sánh từ điển với phương ngữ N a m :

Dạng từ điển : vô vào vàng vui vịt vọt

Phương ngữ N a m : Jô Jào Jàng Jui Jịt Jọt

Trong cách đọc H á n Việt cũng có liên hê này [2] Â m V H á n Viêt bát nguồn từ thanh m ẫ u V Â N (tam đẳng, tách ra từ HẠP) và thanh m ẫ u VI (tam đẳng, tách ra từ MINH) Đ ó là những thanh m ẫ u có [ -J - ], thành thử liên hệ V

- D H á n Việt (ví dụ : v iệ c - d ịc h .) càng ủng hộ thêm cho liên hệ V - D (và

những biến thể của nó) trong các từ thuần Việt.

Trang 23

3.d Trong điểm l.a, ta đã nói tới liên hệ B - PH Trong điểm l.b và điểm 3.a, ta đã nói đến liên hệ B - V Thoạt nhìn, chúng ta có thể tưởng V và

P H sẽ có liên hệ gián tiếp với nhau qua B; nhưng sự thật thì chính quy luật hữu thanh hoá P H -> V mới là cơ sở quan trọng nhất để khảng định mối liên

hệ lịch sử của P H với V C ứ liệu phương ngữ Trung có phản ánh liên hệ này:

V ỗ (tay) - p h ổ (tay), ăn vụ n g - ăn p h ú n g , p h è o lợ n - v è o lợ n

4 Ả M ĐẨUTĨtl

 m này là phụ â m đầu lưỡi, tác, vô thanh.

4.a N g u ồ n gốc của T hiện nay vốn là [s], một â m xát, lưỡi răng, rất cổ [4,46] Â m [s] này đã cho ta T trong tiếng Việt và [t1] hoặc [s] hoặc cả hai trong tiếng M ư ờ n g (tuỳ theo từng phương ngữ).

C ó thể so sánh thêm với tiếng Rục, Tha vung [71, 77, 94] như sau:

Việt : tai - Rục: saj - Thavung: saay - M.ống: sạj Viêt : tay - Rục: si - Tha vungrsii - M.ống: săj Việt : tóc - Rục: usuk - Tha vung: S3k - M ĩ sơn: thak

N h ư vậy tại đây ta có thể xác đinh được liên hệ lịch sử của â m đầu T với â m đầu X [s]

4.b Trước khi X chuyên biến thành T thì trong Tiền Viêt M ư ờ n g và Việt M ư ờ n g chung từng có một â m T nguyên thuỷ Â m ấy đã biến đổi thành

Đ (do tác động của quy luật hữu thanh hoá) rồi mới để lại chỗ trống cho X chuyển thành T để bù vào Sự tương ứng giữa Đ Việt hiện nay với T trong các ngôn ngữ Việt M ư ờ n g khác, phản ánh khá rõ điều đó Ví dụ: [71,77,94]

Việt - M ư ờ n g : đất - tổt đ ê m - têm đan - tajv

Việt - R ụ c : đá - ta đái - ti đánh

-Việt - T h a vung : đi - tii đẻ - tsh đốt - tuut

C ở sở để nói tới mối liên hệ T - Đ về mặt lịch sử, rõ ràng là khá chắc chắn.

Trang 24

4.C Lịch sử tiếng Việt còn có quá trình xát hoá phụ â m tắc đầu lưỡi hữu thanh D [z] < - [*d] So sánh phương ngữ Trị thiên - H u ế với phương ngữ

H à nội (Bắc bộ) ta thấy: [ 61 ]

H à nội : da dắt dưới d à y

Trị thiên H u ế : đa đắt đướn đằy

Liên hộ Đ - D về mặt lịch sử như vậy là rõ, và từ đây ta có thể suy ra được liên hệ giữa T với D và liên hệ tay ba của ba â m đáu này, vì tiền thân của Đ chính là T Liên hệ ấy có thể biểu hiên bằng sơ đồ Đ <— T.

t /

D

Điều này được soi sáng qua các so sánh sau đây: [61,71,77].

Phương ngữ H à nội Trị thiên Huế: dựng tụng dựa tượ diêm tiơm

Việt R ụ c : dày - Kut-fej dũi - tụj dừng

Việt Thavung : dây atal d ầ m - t»m dái - ktai

N h ữ n g cứ liêu này khiến chúng ta có thể phải nghĩ thêm rằng: liệu có phải D là đo Đ xát hoá m à thành hay [*t] - > [đ] (Đ) và Đ này được lưu giữ

trong phương ngữ Trung; còn [z] (D) thì D này được lưu giữ trong tiếng Việt chung (phổ thông cả nước).

Tuy nhiên, dù thế nào thì mối liên hệ T - D - Đ cũng là điều rõ ràng.

4.d Q u á trình X —> T đã tác động gần như lôi kéo [s’] - một â m xát

ngạc, vô thanh có từ thời Tiền Việt M ư ờ n g - chuyên sang [t*] T u y nhiên, một khi X chuyển thành T được thì nó cũng có khả năng để chuyên sang [t’](TH)

vì T H và T chỉ khác nhau duy nhất ở nét â m bạt hơi m à thôi T có thể bật hơi

để chuyển hoá thành T H được Trong chữ N ô m , người Việt từng dùng â m T

và T H để ghi âm, phiên chuyển cho nhau :

Ví dụ : T O T - Thốt

T H A M - tám [1,3,25,51]

Trang 25

C ứ liêu phương ngữ vùng duyên hải N a m hà, Thái bình, một số nơi vẫn nói một thí, một th ẹ o thay cho một tí, một tẹ o R õ ràng là T và T H có

liên hệ được với nhau.

M ặ t khác, ta cũng biết rằng X và s có liên hệ mật thiết; lại thêm từ thế

kỷ x v n về sau, biến đổi s -> X hình thành song với một biến đổi ngược chiều

X - > s đã dẫn đến tình trạng X và s nhập m ộ t về cơ bản trong phương ngữ Bắc cùng sự "lẫn lộn" X - s - T H ở một số nơi Ta có các cứ liệu sau đây:

- N ế u đối chiếu T và T H của tiếng Việt với M ư ờ n g thì thấy ở M ư ờ n g , chúng hoặc là chỉ được phát â m với T H (15 phương ngữ) hoặc là chỉ được phát â m với X (13 phương ngữ); chỉ có 2 phương ngữ phát a m có cả X lẫn

T H tuỳ theo từng từ [4].

- C h ữ N ô m dùng â m s H á n Việt để ghi â m T hoặc T H hoặc X:

- Sơ - xưa / thưa S Â M - tham SÁI - Tưới

- SAI - xây SÀ - thà SÀI - thầy

- ở Làng H o à n h nha, huyện X u â n T h u ỷ ( N a m hà) thay vì nối x in ,

x u ố n g người ta nói th in , th u ốn g; thay vì nói th iế n , th á i, th ò , th ìa , th u a , (màu)

th â m , th en (cửa) người ta nói: x iế n , x á i, x ò , s ìa , x u a , x â m , s e n

- K h u vực làng Trà lũ, huyện X u â n thuỷ ( N a m hà) nhân dân lại nói T H thay cho s trong hàng loạt từ: th a o (sao) th á n g (sáng) th ù thù (sù sù) th ố n g

Toàn bộ những dẫn chứng trên đây chứng tỏ rằng có mối liên hệ lịch

sử giữa X - T - T H - s với nhau.

Trang 26

4.e T còn có khả năng liên hệ với R bởi hai lý do sau:

T h ứ nhất, theo H.Maspero [46] yếu tố r trong tổ hợp [pr] [kr] cổ có khi

chuyển thành yếu tố bật hơi làm cho [pr -> ph' kr -> k h] nhưng cũng có khi

r lại chuyển thành [s], làm cho [pr -> ps, kr -> ks] rồi từ đó m à chuyển

thành T.

T h ứ hai, theo M.Ferlus thì trong tiếng Việt M ư ờ n g đã có [ks] và thậm

chí có cả [ps] V ề sau, nếu chúng biến đổi qua [s] thì từ [s] đó sẽ dẫn đến T;

còn nếu biến đổi qua [r] thì cuối cùng vẫn cho R (Hai biến đổi này xảy ra tuỳ

ở từng phương ngữ) So sánh phương ngữ Bắc và Trung, ta có:

Phương ngữ Bắc : rắn rết rái (cá)

Phương ngữ Trung : tán tít tấy

Trong chữ nôm, hiện tượng dùng T để ghi R khồng phải là hiếm hoi gì

[1,3,25,51]; Ví dụ TÁI - rưới; T Ô T - rốt Còn trong cách đọc H á n Việt thì ta

lại gặp tương ứng T H á n Việt với R thuần Việt trong các từ như: tu - râ u , đ i lả

- đ i rử a .

4 f Nhìn bề ngoài, hiện nay, thật khó có thể nói tới liên hệ giữa T với CH; nhưng ta có các cứ liệu sau:

- So sánh tiếng Việt với tiếng Mường, tiếng R ụ c [51, 77] ta có:

Việt - M ư ờ n g : chuồng - tuồng; c h é m - tém; chăng - tăng

Việt - R ụ c : chùn “ tìm; chuôi - tuoj

- Nhiều chữ N ô m dùng â m T để ghi C H [1]:

T ổ - chỗ; T Ổ N - chồn; TÀI - chài; T Ô - chó

- T h ổ ngữ làng Hoành nha (Xuân thuỷ - N a m hà) nỏi T thay cho C H

trong một loạt từ: ÎO (cho) tín (chín) tứ (chứ) tẳ n g (chảng) tế t (chết) tó n g

(chóng) tủ a (chửa - chưa)

- Trong TĐio hiện ghi những cặp đôi từ với â m đầu T - C H như:

C h o e n h o ẻ n • to e n h o ẻ n , c h ồ n g n g ồ n g - tồ n g n g ồ n g

Trang 27

- Sách "An n a m dịch ngữ" dùng T (Hán) để phiên à m C H Việt; và trong các từ H á n Việt hiện có những cặp như: tự - ch ữ , từ - c h ù a , tư ớ c -

c h ư ớ c Đ ố là những cứ liệu để ủng hộ thêm.

V ậ y liên hệ T - C H ỉà có thể khảng định được.

4.g Sự biến đổi của tổ hợp T L (ghi trong 102 m ụ c từ của T Đ 1 ) cũng

đưa đến một số hệ quả liên quan đến T hiên nay.

Trước hết T L biến đổi thành T R để rồi T R n ằ m trong mối liên hệ với

CH, S, X (giống như T R dẫn xuất từ B L đã nói trong điểm l.d) T L cũng có

thể rụng tiền tố T để còn lại â m lỏng L Hiện tượng này đã được ghi nhận từ

thời của từ điển 1 ( thế kỷ XVII) A.de.Rhođes ghi 4 cặp song song T L - L:

tlíu tlo - líu lo ; tlú c tlá c - lú c lá c ; tlo - lo ; tlộ n tlạ o - lộ n lạ o

Khi T L rụng â m lỏng thì nó cho T Chính A.đe Rhodes có ghi một cặp

đôi b ơ i tlẻ ì - b ơ i tả i; còn như ông ghi tlể n (tlà n g ) thì nay một số nơi trong

trong phương ngữ Bắc phát â m tê n / trẽ n

H à n g loạt từtrưởcđây cố TL, nay đã chuyển sang TR, thì lại được phát

â m với T ở nhiều vùng ven biển Thái bình, N a m hà: b ê n tá i - (bên trái), m ộ t

tă m (mòt trăm), co n tâ u ( con trâu), b ụ i te (bụi tre)

Vậy những T dẫn xuất từ T L hẳn phải có được liên hệ với các dẫn xuất

khác (L, TR, CH, s, X) của tổ hợp này; và tại đây, nó cũng có thể bật hơi để

chuyển sang T H (như đã nói trong 4.d) Mặt khác, khi T L "hỗn nhập" vào các

tổ hợp phụ â m khác trên con đường biến đổi của mình, các dẫn xuất của nó,

trong đó có T, sẽ có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các dẫn xuất của

những tổ hợp ây (như đã nói trong l.e).

5 ẢM ĐẨU N ínl

Đ â y là â m tắc, đầu lưỡi.

5.a Trong lịch sử tiếng Việt vốn có một a m N nguyên thuỷ, tồn tại từ

rất sớm, và m ộ t â m N dẫn xuất từ â m tiền mũi [*nd] rồi trùng nhập vào nhau,

cho ta N ngày nay.

Trang 28

C o n đường biến đổi của [*nd] Tiền Việt M ư ờ n g và Việt M ư ờ n g chung

là [*nd] — * N

\

Đ

X u hướng chung trong biến đổi của các â m tiền mũi [*mb, *nd, *jụ-,

*ng] ở đây là trở thành â m mũi tương ứng trong tiếng Việt Điều này có thể thây được qua các so sánh sau đây:

- N Việt tương ứng với [d, dr, r, Z.J, t] M ư ờ n g tuỳ từng phương ngữ (xem bảng so sánh các từ n a i, n ă m (5), n ắ n g , n ế m , n ẻ,n ở , n ố i, n ư ớ c, n ổ [4])

- Việt - R u c [77: n ăm - d ă m n a i - k d ỉ n o - d o , n ố c - ladok, n ổ - d o .

- Viột - Tha vung [71]: nở - phadổỡ nước - daak - nướng - adaai} nóng - phatbrỊ

N h ư vậy, từ đây, trước hết, ta có thể nói:có liên hộ lịch sử giữa Nvới Đ.

M ặ t khác, Đ cũng có liên hệ với T và D (xem 4.b, 4c); và như vừa nói bên trên, N Việt có tương ứng với [d, dr, z,^,t] Mường; cho nên mối liên hệ giữa N với Đ, D, R, T là điều có thể hiểu được.

5.b N h ữ n g nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu hệ thống phụ tố của các ngôn n g ữ N a m Á cổ xưa, trong đó cố tiếng Việt [20, 45, 46, 70] ít nhiều đã chứng mirih rằng các phụ tố ấy còn để lại dâu vết (mặc dù hết sức ít ỏi và m ờ nhạt) trong tiếng Vỉêt ngày nay M ộ t trong những phụ tố cổ phổ biến trong các ngôn n g ữ N a m Á là trung tố- N -, thường được dùng để cấu tạo danh từ chỉ công cụ của hành động được biểu thị ở đông từ tương ứng.

Ví dụ : Tiếng K h a m ú : tãan (đan) - traaan (nan) [70].

Tiếng poọng: sok (quét) - snok (quét) [ 20].

C o n đường cấu tạo và diễn biến của các cặp từ như thế, được hình dung n h ư sau: Trung tố N được xen vào cấu trúc C 1V C 2 của động từ, tạo thành

dạng C 1N V C 2 Khi quá trình đơn hoá các â m đầu xảy ra thì C1 hoặc N có thể

rụng đi, hoặc tách đôi ra để cho dạng N V C 2 và / hoặc Cl V C 2 Kết cục, ta có

Trang 29

dạng động từ c v c và một danh từ tương ứng N V C vốn có liên hệ tịch sử với nhau m à nay rất khó nhận ra T ừ đây, ta có thể suy ra mối liên hệ giữa N vói một â m đầu nào đó nếu các từ chứa chúng được chứng minh là có liên hệ từ gốc - từ phái sinh với nhau.

Việt : sao say sâu sông s á u

M ư ờ n g U y lỗ: kraw kray kru krotj prâw [46]

Viột : Sạch Say Sắt Sống

R ụ c : phrek pri klăt kluon [ 77]

Sự biến đổi của các tổ hợp có yếu tố lỏng nêu trên cho ta s trong tiếng Việt và K H trong tiếng M ư ờ n g (mặc dù cũng có khi chúng cho [ks] n h ư trong

M ư ờ n g Thạch bì; hoặc [kill] như trong tiếng Sách, H u n g - theo Sokolovskaja

và Ferlus [ 94]).

Ví dụ: Việt : sim sui sẹo sưng sạch sàn

M ư ờ n g : khim2 khui2 k h e w 5 khưng 2 khec5 khãn ! [46]

Điều này cho ta thấy được mối liên hệ lịch sử của s - K H

6.b T ừ liên hệ s - KH, ta còn có thể nói tới liên hệ X - K K nữa; bởi vì

từ [kr, pr] chuyển sang s, có qua bước trung gian là [ks]; m à [ksj có thể biến đổi để cho s nhưng cũng có thể biên đổi để cho X và / hoặc K (do rụng một trong hai yếu tố hoặc chia tách) rồi K bật hơi, xát hoá, cho ta i m được ghi bằng chữ K H hiện nay Dạng cặp đôi k h o á y - x o á y (từ thuần Việt) ỉà m ộ t ví dụ

cho thấy liên hệ này Cách đọc H á n Việt cũng có cứ liệu ủng hộ: â m [s] H á n

Trang 30

Việt chủ yếu bắt nguồn từ thanh m ẫ u X Ư Ơ N G nhưng cũng có cả nguồn ngốc từ thanh m ẫ u K H Ê (âm trị [kj] hoặc [ki]).

6.C N ế u tính đến các khả năng biến đổi của các tổ hợp phụ â m cổ có yếu tố thứ hai là - r - (ký hiệu * cr-) như H.Maspero dự kiến, thì [kr] có thể cho ta K nếu rụng [r]; hoặc cho R nếu rụng [k]; hoặc cho một â m thớ ba do sự hòa đúc cả tổ hợp m à thành.

N h ư trong 6.a đã trình bày, một trong những nguồn gốc của s hiện nay

là tổ hợp có [-r-] Theo Giáo trình lịch sử ngữ â m tiếng Việt [4], trong quá trình biến đổi của chúng, nếu yếu tố đứng trước [r] m à rụng s ớ m thì còn ỉại [r]

sẽ cho ta R hiện đại, còn nếu yếu tố ấy không bị rụng thì cả tổ hợp sẽ chuyên

Ta lại cũng biết rằng s và X có liên hệ với nhau và chảng những s

m à cả X cũng có liên hệ với R Vẫn theo Giáo trình lịch sử ngữ â m tiếng Việt [4] nếu [s] Tiền Việt M ư ờ n g m à đứng sau một tiền â m tiết thì về sau, nó sẽ biến đổi thành R So sánh một số từ tiếng Việt và tiếng Rục: ră n g - k a s ă y rắ n -

p â s ip , r ế t - k à s ít [77]

Vậy, qua đây ta cũng thấy cả mối liên hộ của s - X - R.

7 ÂM SẦU L m

v ề mặt lịch sử,L hiện nay có nguồn gốc t ừ â m L nguyên thuỷ và một

số trường hợp dẫn xuất từ các tổ hợp phụ â m như [*pl, *bl, * kl ] cùng trùng nhập vào đó.

N h ư vậy, trước hết L có thể liên hệ với tất cả các dẫn xuất tir những tổ hợp phụ â m chứa nó [*k'l, *kl*p'l, *pl,*tl, *bl,

Trang 31

7.a N ế u dừng lại ở thời từ điển A.de, Phodes (thế kv XVII) chúng ta còn gặp chắc chắn được các tổ hợp PL, BL, TL, M L và cả K L (mặc dù trong từ điển không ghi trường hợp nào có â m này, nhưng Voyage à la Coehinchine [11] n ă m 1792 có ghi KL) T ừ đây suy ra, trong quá trình biến đổi và hỗn nhập của các tổ hợp phụ ủ m đó [17,18,94] các dẫn xuất B - TR/Gi - C H - s - X của BL; các dẫn xuất P H - B của PL, các dẫn xuất T - T H - T R / C H - s/x của TL; các dẫn xuất M - N H của M L , M N H ; các dẫn xuất K - K H - T R / C H - s/x của K L đều có thể có liên hẻ với L; và bản thân chúng thì, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp, cũng có liên hệ với nhau.

7.b Khi tìm hiểu cội nguồn của L, dựa trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với một số ngôn ngữ Việt M ư ờ n g khác, sách "Giáo trình lịch sử ngữ â m tiếng Việt" [4] cho biết: bên cạnh nguồn gốc L nguyên thuỷ và các tổ hợp có L là chính, còn có trường hợp đôi khi L bắt nguồn từ yếu tố [- r -] của tổ hợp

có - r

Đối với s, như ta đã biết trong 6.a, nguồn gốc của nó là tổ hợp có [- r -] hoặc [- 1 -], N h ữ n g tổ hợp kiểu này trong tiếng Tiền Việt M ư ờ n g và Việt

M ư ờ n g chung, khỏng phải là ít; và trong quá trình biến đổi, chúng có thể cho

s hoặc R hoặc L tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể Vì thế, ta có được mối liên hệ

S - L

N h ư vậy ta thấy L có thể vừa có mối liên hệ với R, lại vừa có liên hệ với S; m à s và R thi cũng có liên hệ với nhau (6.e) cho nên môi liên hệ tay ba

s - R - L ở đây, là có thể hiểu được.

N h ữ n g mối liên hệ lịch sử vừa gần gũi, vừa phức tạp đan xen vào nhau trên các con đường hình thành nên ba phụ à m s - R - L này thè hiện khá rõ nét qua các sự kiên của chữ N ô m , cách đọc H á n Việt và tài liệu A n n a m dịch ngữ.

Trang 32

Ví dụ: 1 trong "An n a m dịch ngữ'^ để phiên chuyên â m s tiếng Việt,

người ta đã dùng khi thi [1] khi thì [p'] [k'] hoặc [§] [41, 66] Điều đó cho thấy:

đến tân thời gian ra đời của cuốn sách này, cách phát â m của â m s vẫn còn

chưa thống nhất và còn m a n g những dấu vết phản ánh các cội nguồn khác

nhau của nó.

Cũng trong " A n n a m dịch ngữ" â m L H á n đã được dùng ba lần để

phiên chuyển a m R Việt ở các tò R ộ n g , R ơ i, R á i [41].

2, Trong chữ N ỏ m , â m L H á n Việt khi thi được dùng để ghi â m R, khi thì được dùng để ghi â m S; nhưng nhiều khi lại dùng để ghi cả R và s Chảng

hạn: C h ữ L Â U ghi â m Sâu nhưng cũng ghi â m Rau.

Tưcmg tự như thế là L O N G - sông - rồng

Lỗi - suối - ruổi [l,3,2,51]

8 ẢM ĐẨU GI r^l

8.a Gi là â m mặt lưỡi, xát, hữu thanh.Từ trước đến nay nó đã qua

những biến đổi khá phức tạp Hiện tại, ở phương ngữ Bắc nó được phát â m

với tư cách /z/ còn trong phương ngữ N a m và Trung thì cơ bản ỉại được phát

â m như [z ] [94 trl80], Tuy vậy, "Phương ngữ học tiếng Việt hiện đại" [10]

cho biết Gi và D nay đã nhập làm một trong háu hết các vùng phương ngữ; và

sự phân biệt Gi - D chỉ còn m a n g ý nghĩa lịch sử trên chính tả m à thôi Theo

N.K, Sokolovskaja [94 tr.91] quá trình biến chuyên [J -»z] đã kéo cả [r] cũng

chuyển sang [z] trong phương ngữ H à nội; và tại H à nội, [z] (D) là sự trùng

nhập các kết quả biến đổi của 5 â m đầu từng có mặt trong tiếng Việt - M ư ờ n g

chung [*d* J * z * r * j].

N h ư vậy, những â m hiện nay vẫn được viết là R, Gi, D có thể liên hệ

với nhau và thực tế chúng đã có sự hỏi nhập với nhau Sự hôi nhập này có thể

Trang 33

kéo theo cả những â m khác có liên hệ với chúng, tham gia vào đó (NH, L chẳng hạn; x e m thêm lO.b.)

B.b Gi cố liên hệ lịch sử với C H vì Gi vốn xuất phát từ û m [C ] cổ, hiện vẫn còn được bảo lưu trong tiếng Mường, tiếng R ụ c và ngay cả trong phương ngữ Bình Trị Thiên Ví dụ:

Việt (Hà nội)- Mường: gì - cì (M.Khến) giấu - cú (M.Khến), giẩu -

C 3 U (M.ống)

Việt - R ụ c : (con) gián - cán, giành - CSIJ gường - c-i-ỠỊ}

H à nội - Bình Trị Thiên : giàn - chàn, giường - chờng, giấc - chấc

M ặ t khác, trong chữ N ô m , ta cũng thấy các â m CH, TR, Gi H á n Việt được dùng để ghi â m Gi hoặc C H Việt [1,2,2,25,51,52] Ví dụ:

CHI - giày C H Ủ N G GIÁ - g ió n g giả

CHÍNH - giêng C H Â T GIỎI - chấp ch()i.

Trong T Đ 2 (Anamitico Latinum) của Pignau de Behaine có ghi những cặp đồi như: c h õ m iệ n g / g iõ m iệ n g ; c h õ v à o ! g i õ v à o và ngay trong T Đ 1 cũng cho thấy cứ liệu tương tự: nh ăn m ặ t / g iă n m ặ t.

Ngoài ra Gi H á n Việt lại cũng bất nguồn rừ C H tiếng H á n (thanh m ẫ u CHƯƠNG).

8.C Trong l.d, khi nói về tổ hợp BL, chúng ta đã gặp mối liên hệ T R -

Gi, tức là ở đây cả T R lẫn Gi đều xuất phát tò tổ hợp phụ â m BL, PL.

M ặ t khác, theo H.Maspero, tổ hợp KL, T L cũng có chuyên biến thành CH; nên m ộ t lẫn nữa, ta gặp mối liên hệ giữa T R - Gi, và bây giờ thì có thẻm

cả C H tham dự vào đố nữa.

Các cứ liệu phương ngữ và chữ n ồ m về mối liên hê C H - Gi đã nêu trong 8.b cùng với những cứ liệu dưới đây về liên hệ T R - Gi có thể làm rõ được mối liên hệ ấy Ví dụ:

Trang 34

- H à nội - N g h ệ Tinh: g ià - t r a , g iò i - tr o i, g iu n - trù n , g iư a - trử a .

- C h ữ n ô m dùng T R để ghi ả m Gi: [1,3,25,52,52]

TRIẾT - giết, T R Á T - giắt,TRẬN - giận, T R À - già

9 ẢM ĐẨU CH I Q

C H là â m tắc, mặt lưỡi, vô thanh.

9.a Bên cạnh các liên hệ đã nói ử một số điểm bên trên và sẽ nòi trong 9.C, 9d, C H có liên hệ với X - một à m m à từ thời từ điển Việt - B ồ - Latinh đến nay, luôn luồn được viết bằng chữ x/X Trước đây , X vốn có một nguồn gốc

[ c ] (âm C H bật hơi) [4,41] Điều này được phản ánh trong cách phiên â m

Việt của sách "An n a m dịch ngữ" và các tương ứng trong một số ngôn ngữ Việt M ư ờng [4].

Trong chữ nôm, hai a m X và C H có thể được dùng để phiên chuyển lản cho nhau:

CHIÊM - xem

C H Ã N - xắn

X Ả O - chao

Ngoài ra, chính những cập đôi từ như c h ếch - x ế c h , c h é o - x é o ,c h ồ m ,

h ổ m - x ổ m trong tiếng Việt ngày nay cũng là một phần để chứng minh thèm

những â m đầu N H có liên hệ với C H trong lịch sử vì N H ây xuất phát từ [pỷ]

<-[C]) thì đó là điều có thể hiểu được, c ỏ lẽ chính vì vậy và về mặt â m lý N H

và C H rất gần gũi nhau ( đều là â m tắc, mặt lưỡi, chỉ khác nhau ở xét cấu â m

Trang 35

mũi / không mũi) nên trong chữ N ô m có trường hợp dùng C H để ghi N H (viết chữ C h iê m để đọc N h ó m [25]).

9.C Hiện nay, chúng ta cũng có những cặp từ đỏi như: q u à n g - c h o à n g ,

trước nguyên âm [a] (hẹp hơn [a]) đã bị ngạc hoá thành [kj] và kéo [k] về phía

trước đến vị trí [tj] (tức là kj -» tj) để rồi chuyển thành [dj] (do quy luật hữu thanh hoá cùng với quá trình T -» Đ).

Kết cục, từ [dj] đã chuyển thành [d’z'] - một â m ứng với â m được ghi bằng Gi trên chính tả hiện nay [4] Ta có thể thấy điều này qua những từ nay ghi bằng Gi (Hán việt) trước đây vốn là K :g ia n (nhà) - căn; giáp - kép; g iớ i -

C e l l * *

Trong chữ N ô m , người Việt từng dùng a m [k] H á n Việt để ghi â m Gi hoặc dùng â m GI H á n Việt để ghi â m [k, e] Ví dụ:

c ố c / c ó c - g iá c GIÀ - cả GIÁC - c h á c [25, 51, 52]

Chính trong quá ìrình m ề m hoá [k] để dẫn đến Gi đã làm cho [kj có thê biến chuyển cả thành CH Hai â m này chỉ khác nhau về vị trí cấu â m m à đó lại là hai vị trí tiếp giáp nhau nên [k] chuyển biến thành C H không phái là điều không thê’ có được.

10 ÂM ĐẨU NH r jxl

Phụ â m này là phụ â m tắc, mặt lưỡi, có cấu à m mũi, được viết bằng chữ N H /nh N H hiện nay thực ra là sự trùng nhập của m ộ t â m N H nguyẽn

Trang 36

thuỷ và một số xuất phát từ những nguồn gốc khác Vì vậy những liên hệ của

nó với các phụ â m khác, không k é m phần đa dạng.

lO.a Tổ hợp phụ â m M L / M N H trong quá trình biến đổi có thể đã cho kết quả M - L - N H N h ư vậy, trước hết có thể nói rằng có một số N H n ằ m trong quan hệ với M và / hoặc L (Liên hệ L - N H thể hiện trong rất nhiều từ).

M ặ t khác, N H cũng có thể gián tiếp liên hệ với các dẫn xuất từ các tổ hợp phụ â m khác trong quá trình chúng biến đổi và hỗn nhập với nhau (7.a):

tổ hợp PL, BL, TL, KL.

10.b N g u ồ n gốc [jij] - â m tiền mũi - của N H cho thấy nó có liên hệ với

D N h ư đã nói trong 9.b, â m tiển mũi này đã biến đổi và cho ta một số N H , D hiện nay, có thể như n h ú n g - dú n g, n h ổ - g iổ chảng hạn Cũng rất có thể [nỷ]

và sự biến đổi của nó đã để lại trong từ điển Việt - Bồ - La tinh ở vần N H 28

từ được ghi song song N H - D; và ở vần D 34 từ được ghi song song D - N H , (trong đó có 15 từ trùng với bên vần NH).

Đối với D, chính nguồn gốc [tậ (chứ không phải nguồn gốc D 4- T như

đã nói trong 4.C.) đã cho thấy những biên dạng khá phức tạp trong các phương ngữ hiện nay [94] Trong điểm 8.a bên trên, sự trùng nhập [z], [tẠ làm một

trong hầu hết các vùng phương ngữ và [z, r] trong phương ngữ Bắc (tiêu biểu là H à nội) đã được đề cập Sự trùng nhập ấy dẫn đến hệ quả là N H không chỉ liên quan đến D m à còn có thể có cả liên hệ với Gi, R nữa Vì thế ta mới

có các n h ó m từ hiên nay như: n hện - d ệ n - r ệ n , n h u ộ m - d u ộ m - ru ộ m , nhún -

r ú n , n h a u - ra u , n h ịp - d ịp - rịp

Bên cạnh đó, chữ n ô m cũng phản ánh tình hình như vậy: người ta đã dùng các â m N H , D, Gi, R để phiên chuyên, ghi â m lẫn cho nhau Ví dụ: [1,25,51,52,53]

- D ù n g D, Gi để ghi N H : G iá p - n h á p ; D ự - n h ự a ; D ã - n h ả .

- D ù n g N H ghi Gi: N h â m - g iấ m .

Trang 37

- D ù n g D ghi Gi, R: D ụ n g - rụ n g ; D u ậ t - r u ộ t

D u n g - g iô n g ; D ụ - g ió .

10.C N h ữ n g cặp từ hiện tại như: ngắm - nhắm, ngột ngạt - nhột n h ạ t

khiến chúng ta phải để ý tới việc xét x e m giữa N G và N H có liên hệ gì khồng T u y các biến đổi lịch sử của hệ thống â m đầu thuần Việt không trực tiếp cho thấy mối quan hộ giữa hai â m này, nhưng ta có thể nghĩ tới những tác đông ảnh hưởng và lôi kéo của sự biến chuyển trong mối liên hệ N G - N H hình thành trong cách đọc H á n Việt [2] N H H á n Việt bắt nguồn từ thanh m ẫ u

N H Ậ T và cũng có một phần từ thanh m ẫ u NGHI Thanh m ã u Nghi khi vào Việt

N a m đã phân hoá thành N G và N H , giống như KIẾN phân hoá thành K và Gi (9.c) Trong tiếng H á n cuối đời Đường, NGHI có đối lập N G H I nhất đẳng và NCỈHI nhị đẳng Khi vào tiếng Việt, bối cảnh đối lạp nhất đẳng / nhị đẳng không còn tồn tại được nữa, nên nó được bảo toàn bằng cách Nghi nhất đảng giữ nguyên là N G , còn Nghi nhị đẳng bị ngạc hoá thành [ijj] rồi thành N H

C ó lẽ chính đó ỉà ỉý do làm cho chữ n ô m có thể dùng â m N H để ghi â m

N G như N h a - n g à , N h ạ n - n g a n .

Tới đây, khi đã có thể nói tới liên hệ N H - N G , thì ta cũng có thể nói tới liên hẹ N G - D được; vì như điểm lO.b trên đây đã trình bày, N H và D có mối liên hệ khá mật thiết N h ư vậy, sẽ có thể có mối liên hệ tay ba là D - N H -

N G

11 ẢM Đ Ẩ U Kr kl

Đ â y là â m tắc, vô thanh,gốc lưỡi; được viết bằng chữ K /c hoặc Q Trong tiếng Tiền Việt Mường, có â m đáu K nguyên thuỷ v ề sau, một số nguồn gốc khác cũng có biến đổi thành K rồi trùng nhập cả vào đố, cho ta â m

K hiện nay.

ll.a Trong quá trình biến đổi lịch sử của K, có một biến đổi do tác động của quy luật xát hoá và hữu thanh hoá (ở những từ đơn tiết hoặc song

Trang 38

tiết tuỳ bối cảnh cụ thể) thành G Biến đổi này n ằ m trong xu thế chung cùng

với p -» B và T — » Đ So sánh với tiếng Mường, tiếng R ụ c ta có:

Việt - M ư ờ n g [94] : gái - káj (M.Khến) - kạj (Ngọc lặc) - kaj (Nguồn)

gối - koj (Thạch bì) - kim (Ngọc lặc) - kul (Sách)

- M ộ t vài thổ ngữ ven biển N a m hà ở Hải hậu, X u â n thuỷ giữ lối phát

a m song song K và G: c ă n g - gă n g , ké v à o - g h é v à o , c u ộ n - g u ộ n (Đ ),c ạ n h

k h o é - g ạ n h k h o é, n ó i cạ n h - n ó i gạnh (Thực chất, đây chỉ là ánh phản của

hai dạng "cũ" và "mới" của K m à thôi).

- Trong từ điển tiếng Việt 1992 vẫn ghi một vài dạng tương tự như trên

(song song K - G): k é - g h é, k ẹ - g h ẹ .

N h ư vậy, mối liên hộ lịch sử giữa K với G / G H là rõ ràng.

11 b T ổ hợp phụ â m K L trong tiếng Tiền Việt M ư ờ n g đã biến đổi, cho một số kết quả khác nhau, trong đó chắc chắn có K; và K này đã nhập vào với

â m K nguyên thuỷ vừa nói trong 1 l.a Ngoài K, tổ hợp K L còn có thể cho ta

L, T R /CH, S / X - những kết quả biến đổi cùng hướng với B L / P L và T L -

cho nên, mối liên hệ giữa K với T R / CH, s / X, với L và cả K H nữa (như

điểm ll.c dưới đây sẽ nói thêm: K có thể bật hơi và xát hoá để biến thành

K H ) ỉà hoàn toàn có thể hiểu được.

M ặ t khác, sự biến đổi và hỗn nhập vào với nhau của các tổ hợp BL, PL,

TL, KL, M L (đã nói trong 7.a) khiến cho K cũng có thể gián tiếp ỉiên hộ với

các dẫn xuất của các tổ hợp phụ â m BL, PL, TL, M L đó.

Trang 39

ll.c D o tác động của quy luật xát hoá trong lịch sử ngữ â m tiếng Việt,

K có thể bật hơi và xát hoá để biến chuyển thành â m được ghi bằng K H hiện nay Q u á trình K chuyển thành K H đã được xác minh cùng với quá trình [pf]— » [fỊ là xảy ra và hoàn tất vào khoảng sau thế kỷ XVII [2,41,94].

C ó lẽ vì mối liên hệ như thế nên chữ n ô m mới có thể dùng â m K H á n Việt để ghi â m K H nôm.

Ví dụ: C Â N - kh ă n , lần kh ăn

N h ữ n g phân tích ừên đây và trong 11 a cho thấy: K chẳng những có thể biến chuyên thành G m à còn có thể biến chuyển thành K H nữa V à như vậy G - K H phải có liên hộ với nhau qua nguồn gốc K.

M ộ t sự kiện khác cũng khảng định thêm vể mối liên hê này là hiện tượng K H biến chuyển trực tiếp thành G Giống như một số trường hợp khác,

ở đây một â m bật hơi cũng bị xát hoá chứ không riêng gì â m tắc mới chịu tác động của quy luật này So sánh với phương ngữ N g h ệ - Tĩnh ta có:

k h ó t - g ọ t, k h ả i - g ã i, k h ỏ - g ỡ

p h è o - v è o , p h ú n g - vụ n g, p h ổ - v ỗ

(Hợp tuyển thơ văn Việt N a m - văn học dân gian, xuất bản n ă m 1977 tại H à nội, ở trang 405 ghi rõ một câu ca dao sau đây:

tri nhân tri diện tri tâm

k h á p (gặp) người k h á p mặt k h á p tri â m với nường)

Tuy nhiên, cũng có thể nghĩ rằng không phải K H đã biến chuyên thành

G do xát hoá, m à từ [*k] đã biến đổi để cho G được lưu giữ trong tiếng Việt chung (phổ thông) và cũng chính [*k] ấy biến đổi để cho K H trong phương ngữ N g h ê Tĩnh.

D ầ u thế nào m ặ c lòng, ở đây ta vẫn có thể suy ra mối liên hệ tay ba giữa K với K H và G Điều này, một phẫn cũng được thể hiện qua việc chữ

n ô m dùng â m K, K H để phiên chuyên â m G [1.25.51]

Trang 40

K h ư ơn g - gừng K h ổ - gõ K h u - gò

C ấ n - gắn C a - gà C á o - gaọ

ll.đ Trong các điểm l.c, 5.a, lO.b chúng tôi đã nói tới các â m tiền mũi [*mb * nd * jiỷ] Còn một â m nữa cũng có thể nói tới được là á m [*ng] (nảy sinh từ một â m [k]cổ hơn) qua các cứ liệu sau đây.

- Trong từ điển Việt - Bổ - La tinh, ẹác từ nay nói là n g ậ m (miệng),

(nói) n gan g, n g ặ t n g h ẽ o , n g ấ t n g h ểu , n g ậ t n gư ỡn g, nghé (theo); còn được ghi

gậm, gang, gặt nghểu gật gưâng, ghé (tr.100 - 102).

- T ừ G Ả M trong TĐi, hiện nay được từ điển tiếng Việt (TĐio) ghi nhận

cả 2 dạng gẫm và n g ẩ m , Ngoài ra, TĐ[ còn ghi từ N g ắ m và giải thích: Ngấm:

"Suy niệm, gẫm Cùng một nghĩa".

T ừ này, giáo (lân vùng ven biển N a m hà vẫn dùng với nghĩa đó rất phổ biến trong sinh hoạt tôn giáo của họ.

- Từ điển tiếng Việt (TĐ10) vẫn ghi các từ cặp đồi: ghé - nghé, ghểnh -

nghểnh, ghiền - nghiền / nghiện, ghếch / ghệch - nghếch.

- Tiêng địa phương H ư n g nguyên (Nghệ an) nói con g h ẹ là con nghẹ.

- Phương ngữ Thừa thiên ( và cả Nghệ tĩnh) nói cá 2 dạng: g h f ’n — nghển và gư ớc - n gư ớc [53]

- Làng Hoành nha huyện Xuân thuỷ ( N a m hà) và một số thổ ngữ khác

ở vùng đó vẫn nói: gáy - ngáy, gắt - ngắt gẫm - ngẩm, gấp ghé - ngưp nghé, gất gưởng - ngất ngưởng

Diễn biến của â m tiền mũi [* Ịjg] này được hình dung như sau

[k] ^ [ * ữg] ^ NG

N G

Các dẫn chứng trình bày trên đây cho thấy [*ng] đã để lại cho tiếng Việt cả N G lẫn G / G H chứ không phải chỉ có â m mũi N G T h ế là ta có thể nhìn ra :

Ngày đăng: 28/03/2020, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w