Nghiên cứu di động xã hội sẽ tạo lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách phù hợp giúp cho sự quản lý, điều hành có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế-xã hội.Nghiên cứu về d
Trang 1VÕ TUẤN NHÂN
DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỔNG KHOA HỌC
Ở KHU V ự c ĐÀ NẴNG - QUẢNG NAM - QUẢNG NGÃI
HÀ NỘI-2001
Trang 2A MỞ Đ Ầ U 1
B N Ộ I DUNG : 12
CHƯƠNG ị : Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN c ú ư DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỔNG KHOA HỌC 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Các khái niệm công cụ 12
1.1.1.1 Di động xã hội 12
1.1.1.2 Cộng đồng khoa học 17
1.1.2 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng vào nghiên cứu 21
1.1.2.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 22
1.1.2.2 Lý thuyết xung đột xã hội 26
1.1.2.3 Lý thuyết phát triển 30
1.1.2.4 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh 34
1.1.2.5 Quan điểm lý luận của Đảng và Nhà nước 38
1.1.3 Các nhân tô chủ yếu ảnh hưởng đến di động xã hội của cộng đồng khoa học 39
1.1.3.1 Hoàn cảnh kinh tế - x ã hội 39
1.1.3.2 Điều kiện khoa học và sự tích lũy lợi thế trong khoa học 43
1.1.3.3 Giính sách kinh tế, xã hội, khoa học và công nghệ 48
1.1.3.4 Những yếu tố cá nhân 50
Trang 32.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 57
2.1.1 Vị trí địa lý, dân số 57
2.1.2 Sơ lược về lịch sử 58
2.1.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên 60
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 63
2.1.5 Về định hướng phát triển 68
2.2 Thực trạng cơ cấu cộng đồng khoa học 69 2.2.1 Về số lượng và cơ cấu trình độ chuyên môn 70
2.2.2 Cư cấu giới tính, độ tuổi 73
2.2.3 Cơ cấu ngành đào tạo và lĩnh vực công tác 76
2.2.4 Cơ cấu về thành phần kinh tế 79
2.2.5 Cơ cấu vùng lãnh thổ và dân tộc 82
2.3 Thực trạng hoạt động của cộng đồng khoa học 84 2.3.1 Về điểu tra cơ bản 85
2.3.2 Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhàn văn 86
2.3.3 Trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản 88
2.3.4 Trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng - giao thông 90
2.3.5 Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo và bảo vệ sức khoẻ 94
2.3.6 Về tổ chức và quản lý các hoạt động khoa học 97
Trang 43.1 Khái quát về sự di động xã hội của cộng đồng khoa
3.2 Di động xã hội của cộng đồng khoa học trong thời kỳ
đổi mới 107
3.2.1 Di động xã hội theo lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế 108
3.2.2 Hiện tượng đa vai trò - vị thế việc làm, nghề nghiệp 115
3.2.3 Di động xã hội giữa các thế hệ 122
3.2.4 Di động dọc và xu hướng thăng tiến cá nhân 127
3.2.5 Hiện tượng di chuyển theo khu vực 133
3.2.6 Di động xã hội theo cấu trác 141
3.3 Một sô giải pháp xảy dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học khu vực Đà Nẵng - Quảng Ngãi 146 3.3.1 Những vấn đề đặt ra 146
3.3.2 Một số giải pháp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học 149
c KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN N G H Ị 153
1 Kết luận 153
2 Khuyên nghị 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ L Ụ C 168
Trang 5A MỞ ĐẦU
l.T ín h cấp thiết của để tài
Cùng với nhân loại, chúng ta tiến bước vào thế kỷ mới với những đổi thay sâu sắc và phổ biến trên phạm vi toàn thế giới Cuộc cách mạng công nghệ đương đại đang có những bước tiến kỳ diệu Thệ' giới đang chuyển mình từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, trong đó tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trưởng Vốn con người là yếu tố then chốt nhất tạo ra giá trị kinh tế Vai trò, vị thế của cộng đồng khoa học trong xã hội ngày càng cao Đúng như người xưa đã nói: “phi trí bất hưng” và “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”
Trên thế giới đã xuất hiện một cách mạnh mẽ hiện tượng “dòng chảy ngược”: lao động trình độ cao từ các nước kinh tế kém phát triển sang các nước cồng nghiệp phát triển cao Đây là gánh năng của các nước kém phát triển do phải chịu chi phí đào tạo lao động trình độ cao để các nước công nghiệp phát triển sử đụng.[26,tr.l51-152] Hậu quả là tình trạng chảy máu chất xám càng làm trầm trọng thêm sự phân cực giữa các quốc gia này
Thế kỷ XXI mở đầu thiên niên kỷ thứ ba rất quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam Phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người và chủ độne hội nháp quốc tế, để không ngừng phát triển; phấn đấu trở thàiih nước cống nghiệp kiểu mới (hiện đại dựa trên kinh tế tri thức) trong tương lai, điều đó phụ thuộc rất lớn vào tài nãng, bản lĩnh của cộng đồng khoa học và của cả dân tộc
Trong nhũng năm qua, cùng với sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá-hiện đại hoá, đất nước ta đang chuyển từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cư chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện
sự biến đổi của các giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội với những đặc điểm, chất lượng mới khác trước Cộng đồng khoa học cũng không nằm ngoài sự biến động đó Di động xã hội của cộng đồng khoa học có những chiều hướng khác nhau, sự thăng tiến, giảm sút; việc đánh giá, sử dụng chất xám là những vấn đề còn nhiều bất cập, nó có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế-xã h ộ i
Trang 6Thực trạng, động thái và xu hướng di động xã hội của cộng đồng khoa học theo những chiều hướng khác nhau là chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của một địa phưctag, một vùng hay một quốc gia Nghiên cứu di động xã hội sẽ tạo lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách phù hợp giúp cho sự quản lý, điều hành có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế-xã hội.
Nghiên cứu về di động xã hội của cộng đồng khoa học là vấn đề còn rất mới mẻ đối với nưóc ta Thực tế ở Việt Nam còn thiếu những nghiên cứu chuyên biệt về di động xã hội; nó thường được lồng vào trong các cuộc nghiên cứu khảo sát về sự di thực (di dân) hay được coi như sự bổ sung hoàn thiện cho những nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội Riêng đối với di động xã hội của cộng đồng khoa học thì ở Việt Nam cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập toàn diện
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2001),
đã nhận định: “Thế k ỷ X X I sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học và công
nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật ừong qúa trình phát triển lực lương sản xuất ,”[34,tr.64] Đại hội đã quyết
định chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, trong đó định hướng phát
triển khoa học, công nghệ là: “ Tăng cường tiềm lực và đổi m ới cơ chếquản lý
đ ể đưa khoa học và công nghệ thật sự trở thành động lực phát triển đất nước.”[ 34,ti\205]
Về tổ chức lãnh thổ nói chung, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực khoa
học và công nghệ nói riêng, miền TruníỊ là khu vực cần có sự ưu tiên đặc biệt
nhằm đầm hảo sự phát triển hầi hoà giữa các vùng khắc nhau trong cả nước, (rong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhằm sử dụng
hợp lý các nguồn lực và lợi thế so sánh trong xu thế hoà nhập và cạnh tranh để đẩy nhanh tăng trương kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo đảm sự phát
triển bền vững của quốc gia Vì vậy, nghiên cứu “ỡ / động xã hội của cộng đồng
khoa học ở khu virc Đà Nẵng-Quảng Nam-Quảng Ngãi ” sẽ góp phần vào việc
tìm hiểu một vấn để cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn; là một cố gắng lớn tro no nghiên cứu xã hội học
Trang 7xã hội học Mỹ Sorokin đã bàn về di động xã hội khá hệ thống [103,tr.50-51] Sorokin cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên-xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới vị trí của mình trong trật tự xã hội Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự di động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế-xã hội củá nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra di động xã hội.
Những quan tâm nghiên cứu di động xã hội của Fichter cũng có những nét tươns đồng với Sorokin Fichter nhấn mạnh rằng di động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện cheo từng giai đoạn, ít nhiều tương tự như sự
di cbuyển của những người từ một nông trại qua một thành phố nhỏ, đến thành phố lớn rồi đi tới vùng ngoại ô Ngay cả trong các xã hội năng động, sự di động
đi lên có khuynh hướng là sự kiện của những gia đình hơn là của những cá nhân
Đa số con người ta cả đời chỉ ử trong một vị thế xã hội tương đối không thay đổi, khôns lên mà cũng không xuống Trường hợp đặc biệt là những người có tài
khéo léo biết lợi dụng những cơ hội đến với họ [xem 53).
Khi nghiên cứu di động xã hội trong xã hội Mỹ, được trình bày ưong cuốn
"Xã hội học", L.Broom và P.Zelznick đã sử dụng bốn tiêu chí để xác định tính
chất của di động xã hội [xem 6I\ Cái mới được đưa vào nghiên cứu của hai ông ]à ửiói quen, vãn hoá, triển vọng di chuyển của dân chúng là những yếu tố quan
trọne tác động đến sự di động xã hội Những gợi mở về nghiên cứu di động xã hội của hai ông rất có ý nghĩa cho những nghiên cứu sau này Ngoài ra còn có
nhiều tác giả đề cập đến di động xã hội như: Anthony Giđdens" Tính di động xã
hộì' (trong Introđuctory Sociology); Elekxander Matejko: "Cắc điều kiện tẩm lý
Trang 8xã hội của lao động trong các nhóm khoa họd'\ Stuart S.Blume: "Sựphẫn tầng vầ các chuẩn m ực khoa học" (trong Toward a political Sociology of Science) Các
tác giả và tác phẩm sau đây đều có đề cập đến di động xã hội ở những giác độ
khác nhau: Neil J.Smelser: "Sociologỷ' (1988)[114]; Joel M.Charon: "Sociologỵ
Aconceptuaỉ approactì' (1989) [110]; Celia S.Heller: "Stmctured Social mequaIity"-"Aveader in comparative social Stratiíĩcation" (1970) [112]; Peter
vvorsley (chủ biên): " The new introducing Sociologỷ' (1992) [117]; Harold R.Kerbo: "Social StraliẼcation andInequalitý' (1996) [111].
Các nghiên cứu về sự di động xã hội của những tác giả nêu trên cho thấy có bốn nhân tố rất quan trọng tác động đến mức độ di động xã hội là: xã
hội nghiên cứu là xã hội m ở hay đóng-xức là có nhiều cơ hội di chuyển hay không; nền tảng kinh tẽ.; giáo dục và văn hóa của gia đình và nhóm.
Tuy nhiên, Tony Bilton lại tiếp cận vấn đề nghiên cứu với quan điểm khác Ông cho rằng, trong xã hội công nghiệp, các cá nhân có thể di động từ địa vị này sang địa vị khác bằng nỗ lực cá nhân Trong xã hội đó, địa vị xã hội của cá nhân không nhất thiết có quan hệ với địa vị xã hội của gia đình, nguồn
gốc Cá nhân di động đi lên hay đi xuống là nhờ vào tài nãng [xem 6]
Có thể nói rằng, Xã hội học khoa học còn rất non trẻ, những nghiên cứu về hoạt động khoa học và công nghệ chỉ mới xuất hiện trong khoảng thời gian gần
ba thập niên trở lại đây Thời kỳ đầu là sự hình thành và phát triển lý thuyết với những đóng góp rất to lớn của Cole và Zuckerman (1975) trong nghiên cứu về tính hệ thống, xuất xứ và sự phát triển của khoa học và công nghệ
Thời gian sau đó là những nghiên cứu về hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất Các công trình tiêu biểu phải kể đến là nghiên cứu của Joseph Ben- David (1978) về sự khác biệt hiệu quả áp dụng khoa học công nghệ trong một
số ngành công nghiệp nhẹ giữa Anh và Mỹ Trước công trình của Joseph Ben- David, tác giả Bloor (1976) đã tiến hành nghiên cứu thực trạng ứng dụng khoa học và công nghệ và tác động của nó đến các vấn đề xã hội như thất nghiệp, vai trò của công dân trong xã hội
Trang 9Nhiều công trình nghiên cứu khác về hoạt động của khoa học và công nghệ cũng được xuất bản ở Phương Tây như của Merton (1973), Barber (1973), Sullivan (1975), Mulkay (1980), Collins (1983) bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau nghiên cứu hoạt động khoa học và công nghệ đã cho thấy sự quan tâm tới vai trò to lớn của cộng đồng khoa học.
Lịch sử nghiên cứu xã hội học khoa học cho thấy, trong quá trình nghiên cứu, các tác giả tiếp cận vấn đề tương đối khác nhau, v ề căn bản có hai sự khác nhau chính là: (1) Một số lượng đáng kể các nghiên cứu phân tầng xã hội trong khoa học tập trung tìm hiểu cơ cấu của nó và hậu quả đối với sự nghiệp của các nhà khoa học (2) Một số nghiên cứu khác đề cập sự tác động của khoa học và công nghệ đối với đời sống xã hội, trong đó những tác động tiêu cực được quan tâm nhằm khắc phục và nâng cao hiệu quả của hoạt động khoa học
và công nghệ Bên cạnh sự khác nhau đó, sự giống nhau giữa các công trình là đều chú trọng xem xét khía cạnh tổ chức xã hội của khoa học và coi đây như là vấn đề then chốt để nhìn nhận toàn bộ sự thay đổi của thiết chế khoa học
Ớ Việt Nam, trong những nãm gần đây một số nhà khoa học đã quan
tâm nghiên cứu về di động xã hội Trong cuốn "Nghiên cứu xã hội học' (chú
biên: PGS.TS Chung Á-TS Nguyễn Đình Tấn) [l,tr.40-45] đã đề cập ngắn gọn nhưng rất rõ về khái niệm, các loại hình di động xã hội, những yếu tố ảnh
hưởng đến di động xã hội Công trình nghiên cứu về "Sự tác động của yếu tố
kinh tế đến sự di động xã hội và cơ cấu dán 67/(miền Bắc Việt Nam)" (PGS.TS
Nguyễn An Lịch chủ trì) [X em 63] đã làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn sự tác
động của một số yếu tố kinh tế đến di động xã hội và cơ cấu dân cư ở miền
Bắc Việt Nam những năm đầu của thời kỳ đổi mới Trong ''Khảo sất xã hội
học về phân tầng xã hội' [59] Giáo sư Tương Lai đã chú ý phân tích về ''tính năng động xã h ộ i' trong thời kỳ đổi mới gắn với phân tầng xã hội Giáo sư
Phạm Tất Dong trong các công trình nghiên cứu về trí thức [29], [31] đã chú ý
phân tích về cắc điều kiện đ ể trí thức thăng tiêh xã hội trong hoạt động khoa
học và công nghệ, những yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội của trí thức nói
chung Đặc hiệt, trong lĩnh vực xã hội học khoa học Phó giáo sư, Tiến sT Vũ
Trang 10Cao Đàm trong cuốn "Xã hội học khoa học và công nghệ' [Xem 40\ đã nghiên cứu tổng hợp lý luận và các phân tích về "phân tầng xã hội trong khoa
học", "giải thưởng trong khoa học", " sự phát triển vằ suy vong của khoa học",
"tri thức khoa học', "phất minh khoa học" đã cung cấp kiến thức cho việc
phân tích sự di động xã hội của cộng đồng khoa học Phó giáo sư, tiến sĩ Đặng
Cảnh Khanh với công trình: "Đẩy mạnh hơn nữa cắc nghiên cứu xã hội học về
khoa học' [55,tr 15-22] nêu rõ một số vấn đề lý luận và sự cần thiết đẩy mạnh
các nghiên cứu xã hội học khoa học ở Viêt Nam
Ngoài ra, ở nước ta bước đầu đã có những công trình nghiên cứu định
lượng có liên quan về di động xã hội Công trình quy mô có thể coi như là đầu tiên, đó là nghiên cứu của Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 Giả thuyết của cuộc nghiên cứu này là: sự biến đổi giai cấp-xã hội được biểu hiện ra
ở sự thay đổi số lượng trong nội bộ giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội Sự thay đổi ấy ngoài nguyên nhân tự nhiên là mức tăng lên trong các bộ phận dân cư theo đà tăng dân số, tăng cơ học và mức độ thu nạp lao động tăng lên do nhu cầu
nội tại của kinh tế thì còn một nguyên nhân khác quan trọng hơn, đó là sự dịch
chuyển hàng níỊãng ngày càng nhiều hơn với tốc độ, quy mô, cường độ nhanh
hơn, mạnh hưn Đó là sự chuyển dịch của người lao động từ nhóm xã hội này sang nhóm xã hội khác, từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác
Sự dịch chuyển hàng ngang như thế đã làm tăng lên hay giảm đi về số lượng thực
tế ở mỗi thành phần xã hội Kết quả của cuộc điều tra này có một vài số liệu quan trọng như: Từ 15-20% công nhân lành nghề từ khu vực quốc doanh chuyển sang làm tại các khu vực tư nhân 70% công nhân lành nghề hiện đang làm tại các liên doanh được chuyển từ các đơn vị quốc doanh sang
Dự án VIE/93/P02 lại tiếp cận di động xã hội gắn liền với sự di chuyển địa điểm sống (di dân, di thực), chủ yếu là sự di chuyển từ nông thôn ra thành phố.Ngoài ra một số để tài, dự án nghiên cứu di động xã hội dưới góc độ di chuyển hàng ngang trong cơ cấu nghề nghiệp-xã hội dẫn đến làm thay đổi số lượng, chất lượng của mỗi tầng lớp xã hội do chính sự di chuyển mang lại Tuy nhiên, những nghiên cứu này lại thường được gắn với các mục tiêu nghiên cứu như thất nghiệp, chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp
Trang 11Khác với các tác giả Phương Tây, các tác giả Việt Nam phân tích,
đề câp các nhân tố ảnh hưởng đến di động xã hội có phần giản đơn hơn
và cũng gần hơn với sự biến đổi của xã hội Việt Nam Một số tác giả cho rằng những nhân tố chung nhất ảnh hưởng đến sự di động trong xã hội
Việt Nam hiện nay bao gồm: điều kiện kinh tế-xã h ội và các yếu tố cá
nhân (trình độ học vấn, giới tính, nơi cư trú, thành phần xuất thân, tuổi
tác và thâm niên nghề nghiệp)
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Luận án nhằm góp phần làm rõ:
- Một số cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học;
- Nhận diện sự di động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực
Đà Nẵng-Quảng Nam-Quảng Ngãi theo các chiều hướng chủ yếu trong thời kỳ đổi mới;
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp điều chỉnh, tạo “luồng” di động xã hội thích hợp, mở ra cơ hội phát triển cho cộng đồng khoa học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá ỏ khu vực Đà Nẵng-Quảng Nam-Quảng Ngãi nói riêng và miền Trung nói chung là khu vực cần được ưu tiên trong giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích trên, luận án có một số nhiệm vụ sau đây:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học, bao gồm: xác định nội dung các khái niệm công cụ; tìm hiểu một số lý thuyết, quan điểm liên quan vận dụng vào nghiên cứu; các nhân tố ảnh hưởng đến di động xã hội của cộng đồng khoa học
+ Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm xã hội để nhận diện một cách chân
xác về: thực trạng cơ cấu, di động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực Đà
Nẩng-QuảniỊ Nam-Quảng Ngãi (sau đây gọi tắt là Đà Nẵng-Quảng Ngãi) theo
các chiều hướng chú yếu trong thời kỳ đổi mới Phân tích động thái, nguyên nhân, xu hướng của các hiện tượng di động xã hội cụ thể là:
Trang 12- Di động xã hội theo lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế;
- Hiện tượng đa vai trò-vị thế việc làm, nghề nghiệp;
- Di động xã hội giữa các thế hệ;
- Di động dọc và xu hướng thăng tiến cá nhân;
- Di động xã hội theo khu vực;
- Di động xã hội theo cấu trúc
+ Trên cơ sở các phân tích trên, thấy được những vấn đề đật ra đối với
di động xã hội; đề xuất một số giải pháp để các nhà hoạch định chính sách có những điều chỉnh, tạo “luồng” di động xã hội thích hợp, tạo điều kiện phát triển cộng đồng khoa học ở khu vực Đà Nẩng-Quảng Ngãi nói riêng và miền Trune nói chung
4 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đ ối tirợng nghiên cứ u:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Sự di động xã hội của cộng đồng khoa học ở Đà Nẵng-Quảng Nam-Quảng Ngãi
Khách thể nghiên cứu là cộng đồng khoa học Đà Nẵng-Quảng Nam- Quảng Ngãi, bao gồm những người có trình độ chuyên môn: cao đẳng, đại học, trên đại học
+ Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
Do nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, luận án g iớ i hạn
nghiên cứu: m ột s ố lo ại hình di động xã h ộ i cơ bản nhằm đánh giá được
động thái di động phổ biến của đội ngũ khoa học có trình độ từ cao đẳng trở lên ở khu vực Đà Nẵng-Quảng Ngãi trong thời kỳ đổi mới, mà
trọng tâm là dộng thái d i động xã h ộ i nghề nghiệp, dưới tác động của
nhân tố kinh tế là chủ yếu Cụ thể, luận án tập trung xem xét 6 động thái di động trong thời kỳ Đổi mới: di dộng theo lĩnh vực hoạt động và thành phần kinh tế; hiện tượng đa vai trò-vị thế việc làm, nghề nghiệp;
di động xã hội giữa các thế hệ; di động theo chiều dọc và xu hướng thăne tiến cá nhân; di động theo khu vực và cấu trúc
Trang 13Về mặt không gian, luận án giới hạn trong phạm vi nghiên cứu khảo sát
ở khu vực Đà Nẵng-Quảng Nam-Quảng Ngãi; về mặt thời gian xem xét di động
xã hội trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Trong thời kỳ đổi mới, việc chuyển từ cơ chế tâp trung quan liêu bao
cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã làm tăng xu th ế di
động xã hội của cộng đồng khoa học ở khu vực Đà Nẵng-Quảng Ngãi.
- Di động xã hội của cộng đồng khoa học diễn ra theo hướng gia tăng theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội, theo hướng từ nông thôn đến đô thị
- Trong phạm vi địa bàn nghiên cứu, đã xuất hiện sự dí chuyển theo
lĩnh vực hoạt động, thành phẩn kinh tế, hiện tượng đa vai trò-vị th ế việc làm, nghề nghiệp trong cộng đồng khoa học, và nổi lên hiện tượng những
người có trình độ khoa học cao có xu hướng di chuỵển đi nơi khấc và từ
nơi khác thì ít di chuyển đến khu vực Đà Nẵng - Quảng Ngãi
6 Phương pháp nghiên cứu
Về phưcmg pháp luận, được trình bày ở m ục 1.2 của luân án.
Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu chủ yếu là: Phân tích tài liệu, điều tra bằng bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, phương pháp chuyên gia
Số liệu sẽ được xử lý bằng chương trình SPSS (cho số liệu điều tra), Ethnograph (cho dữ liệu định tính: phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung ).Cuộc khảo sát di động xã hội được tiến hành tại khu vực Đà Nẵng-Quảng Nam-Quảng Niíãi vào nam 2000 với những thuận lợi cơ bản là: Tại mỗi tỉnh thành khảo sát, được sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở khoa học, công nghệ và môi trường, Liên hiệp các hội khoa học-kỹ thuật để có được những tài liệu chính xác
và cập nhật về số lượng, cơ cấu, thực trạng hoạt động của đội ngũ khoa học ở từng địa phương; thông tin về cộng đồng khoa học có cơ sở khá tốt thu được qua cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1 tháng 4 năm 1999
Trang 14Để thu thập thồng tin định tính, tác giả luận án đã thực hiện 24 cuộc
phỏng vấn sâu cá nhân cán bộ khoa học đại diện cho các khu vực, lĩnh vực
công tác, giới tính, độ tuổi-thâm niên nghề nghiệp khác nhau Tổ chức 15
cuộc thảo luận nhóm tập trung ở các địa phương (mỗi cuộc thảo luận có từ 5-
11 người), các cuộc thảo luận được phân theo nhóm ngành như: Công nghiệp-
xây dựng-giao thông; Nông-lâm-ngư nghiệp; Giáo dục-y tế-văn hoá, Khoa học
xã hội và nhân văn; quản lý nhà nước; và 3 cuộc thảo luận chung có đủ các
nhóm ngành
Phương pháp quan sát (tham dự và không tham dự, trong bối cảnh
tự nhiên) được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu Phương
pháp chuyên gia được chú trọng đặc biệt trong quá trình thảo luận định
tính và định lưựng
Về thu thập thông tin định lượng (Bảng hỏi-xem phụ lục 2), căn cứ vào
quy mô, cơ cấu cộng đồng khoa học của khu vực nghiên cứu, dung lượng mẫu
khảo sát được xác định ban đầu là 455 người Trong quá trình khảo sát thực
địa, 9 trường hợp không gặp phỏng vấn được vì lý do khách quan hoặc đi công
tác vắng; số người thực tế tham gia trả lời là 446 Dung lượng mẫu được xác
định trên cơ sở mẫu lựa chọn ngẫu nhiên tỷ lệ thuận với quy mô cộng đồng
khoa học ở từng tỉnh thành (xem phụ lục 3) Điều này cho phép vừa có thể
phàn tổ, vừa có thể tổng hợp các kết quả thu được cho 3 tỉnh thành khảo sát,
sử dụng kỹ thuật phân tích bảng chéo (cross-tabular) và hồi quy đa biến
(multivariate resression analysis) trong quá trình phân tích.
7 Đóng góp mói của luận án
- Lần đầu tiên nghiên cứu về di động xã hội của cộng đồng khoa học ở ?c ở khu vực Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi được thực hiện
Lý thuyết xã hội học về di động xã hội được vận dụng để nghiên cún
tạo lập luận cứ khoa học cho chính sách phát triển nguổn nhân lực khoa học
Nghiên cúu thực nghiệm xã hội về di động xã hội của cộng đồng khoa học
được tiến hành tại miền Trung, vốn íà khu vực còn rất trống vắng các nghiên
cứu xã hội học
Trang 15- Nhận diện thực trạng cơ cấu; động thái, xu hướng chủ yếu về di động xã hội của cộng đồng khoa học ở Đà Nẵng-Quảng Ngãi trong thời kỳ đổi mới; luận án làm rõ một số đặc điểm có tính qui luật về di động xã hội của cộng đồng khoa học trên địa bàn khảo sát.
- Từ tiếp cận xã hội học, đề xuất được một số giải pháp có tính khả thi về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học ở khu vực Đà Nắng - Quảng Ngãi và miền Trung nói chung
8 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Di động xã hội là một chủ đề nghiên cứu xã hội học lớn và rất có ýnghĩa Nhận diện được thực trạng, động thái và xu hướng di động xã hội làtiêu chí nhận biết xã h 'i phát triển theo chiều hướng nào; thấy được chiều hướng của sự đi động xã hội như thế nào và nó tác động đến xã hội ra sao
sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách có những điều chỉnh thích hợp
để các cá nhân, nhóm xã hội đều có cơ hội trong thăng tiến xã hội Ớ Việt Nam nghiên cứu về di động xã hội còn là vấn đề mới Luận án này bước đầu đi vào một khía cạnh, với sự giới hạn nhất định của nó Tuy nhiên,luận án có ý nghĩa thực tiễn ở chỗ:
- Kết quá nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc dạy-học Xã hội học về di động xã hội và xã hội học khoa học cho sinh viên, các lớp tập huấn chuyên đề về quản lý nguồn nhân lực khoa học
- Luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách về nguồn nhân lực khoa học, quản lý khoa học và công nghệ
9 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm: 3 chương với 8 tiết
Có 117 tài liệu tham khảo chính Phụ lục gồm 10 bảng, biểu
Trang 16B NỘI DƯNG Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
NGHIÊN CỨU DI ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỔNG KHOA HỌC
chúng đều có chung một nội hàm: Là sự vận động của cá nhân hay một nhóm từ
vị thế xã hội này đến vị thế xã hội khác; là sự di chuyển của một con người, một đoàn thể, một hạng từ một địa vị, một tầng lớp xã hội hay một giai cấp này đến một địa vị, một tầng lớp hay giai cấp khác
Chúng ta biết rằng vị thế xã hội, sự phân lớp trong xã hội và những địa vị
trên thang bậc xã hội đều có thứ bậc cao thấp nhất định Sự thay đổi đi lên hoặc
đi xuống giữa những địa vị ấy, sự chuyển dịch từ m ột địa vị này đến m ội địa vị khác tron2 cơ câu tổ chức được gọi là di động xã hội.
Di động vật chất hay còn gọi là di thực, là sự di chuyển của những con
Qgười từ một điếm địa lý aày qua một điểm địa lý khác Trong xã hội ngày nay, hiện tượng này thường xảy ra và gia táng Tuy nhiên, chỉ thuần tuý di thực thì không phải là di động xã hội, nếu như sự di thực ấy không đi kèm theo nó sự thay đổi về địa vị xã hội của cá nhân (hay nhóm), cần nhấn mạnh điều này bởi lẽ trong các nghiên cứu hiện nay ở nước ta đang còn thiếu những nghiên cứu chuyên biệt về di động xã hội, mà chủ yếu nghiên cứu về di dân (di thực) cìmg nhữne vấn đề xã hội của nó
* Cúc loại hình di động xã hội:
Trong nghiên cứu di động xã hội, các nhà xã hội học thường quan tâm đến các loại hình di động và tuỳ theo mục đích, đối tượng, hướne tiếp cận mà có sự phân loại khác nhau
Trang 17Theo chiều hướng thay đổi địa vị, Rchter phân biệt: Sự di động xã hội theo
chiều dọc và sự di động xã hội theo chiều ngang Theo ông thì: "Sự di dộog theo
chiều ngang có nghĩa ìà một sự di chuyển thụt lùi hay tiến tới trên cùng một hình
diện xã hội, của một đoàn thể hay tình trạng khác lương 191]- Trên lýthuyêt thì những người trong cùng một giai cấp xã hội thường quan hệ với nhau, bởi
lẽ, họ cùng chia sẻ với nhau những tiêu chuẩn vị thế như nhau Mở rộng định nghĩa của ông, trong những tập hợp dân cư rộng lớn, thì những "hạng” xã hội khác nhau trên cùng một hình diện sẽ thường ít có những tương quan xã hội với nhau Và sự di chuyển thường xuyên của một cá nhân trong một “hạng” qua một “hạng” khác, đó chính là sự di động theo chiều Qgang
Còn sự di động theo chiều dọc được Fichter định nghĩa là: Sự di chuyển
của m ột người từ m ột vị th ế xã hội oày đến m ột vị th ế xã hội khác, từ m ột giai cấp này đến m ột iỊÍai cấp khác [53,tr.l91] Di độũg xã hội theo chiều dọc có
thể được thể hiện hoặc lên cao hoặc xuống thấp Con người có thể lên một vị thế cao hơn hay tụt xuống một vị thế thấp hơn Liên quan đến loại hình di
động này các nhà xã hội học thường đưa ra khái niệm thăng tiến xã hội và
giảm sút xã hội Sự di động theo chiều dọc là một loại di chuyển có ý nghĩa
hơn và rộng hơn sự di chuyển theo chiều ngang Những yếu tố và điều kiện của sự di động theo chiều dọc có nhiều hơn và phức tạp hơn trường hợp di chuyển theo chiều noang
Một loại hình di động xã hội rất có ý nghĩa trong nghiên cứu xã hội học đó
là sự d i động vai trò.Nầân cách xã hội được định Qghĩa như là tổng sô của tất cả những vai trò xã hội mà một cá nhân đảm nhiệm Mọi cá nhân trong hoạt động
xã hội cùa mình thường cùng lúc phải đảm trách nhiều nhiệm vụ, nên nhất thiết phải có sự dịch chuyển từ một vai trò này sang một vai trò khác
Fichter phàn tích loại dí động vai trò trên ba bìũh diện: (1) Bất cứ con
người nào cũniĩ đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau, trong khi vẫn có một nhân cách toàn diện và hội nhập Mỗi đoàn thể riêng biệt mà cá nhân tham dự đòi hỏi phải đóng mộl vai trò khác nhau Trong suốt một ngày người chồn^ và người cha
Trang 18chuyển từ những vai trò gia đình qua những vai trò kinh tế, giải trí và có thể là những vai trò chính trị và tôn giáo, sau đó họ lại trở về với những vai trò gia đình của mình Loại hình di động này bình thường đến nỗi người ta không để ý đến nó nữa, cho đến khi có cá nhân bị thất vọng hoặc mặc cảm thua thiệt do những đòi hỏi mâu thuẫn nhau của các vai trò này sinh ra (2) Một loại hình thứ hai có thể quan sát được trong sự di động vai trò là sự đảm nhiệm những vai trò mới Trong tiến trình xã hội hoá suốt cuộc đời, cá nhân phát triển tuần tự từ vai trò gia đình
và giải trí, đến những khuôn mẫu chính thức về giáo dục và tôn giáo, và sau này còn đảm nhiệm những nghĩa vụ cùa các vai trò kinh tế và chính trị Khi kết hôn
và có con lại còn đảm nhiệm những vai trò mới Sự đảm nhiệm những vai trò mới không có nghĩa là bỏ những vai trò trước đó Nhân cách xã hội bao gồm nhiều vai trò, ở đày điều cần lưu ý là các vai trò xã hội chính đều được cá nhân lấn lượt đảm nhiệm chứ không phải ngay cùng một lúc (3) Một loại thay đổi vai trò thứ
ba là loại di động cá nhân, đặc điểm của một số xã hội đô thị và kỹ nghệ rộng lớn Sự di động của vai trò này có hai hình thức chính: Sự di động đi lên do thăng tiến từ một nghề này qua một nghề khác và sự di động đi xuống do thất bại trong phạm vi một hê thống kinh tế Do vai trò kinh tê' là vai trò then chốt của cá nhân
và vị thế xã hội của gia đình cá nhân lại hay tuỳ thuộc vào vai trò đó, nên người
ta chú ý tới nó coi như một phương tiện -để di động đi lên
Di động nghề nghi^o cũng có thể theo chiều ngang Đó là sự dịch chuyển từ một công việc này sang một công việc khác Một người thợ trong một xưởng máy trở thành tài xế tắc xi, nữ y tá bỏ nghề để làm thư ký riêng Khi chúng ta nói đến sự phát triển của một xã hội công nghệ, cần đến một số nhân công di động, chúng ta không những nhắm vào khả năng di chuyển từ một nơi này qua nơi khác mà còn nói đến cả
sự sẵn sàng chuyển từ công việc này qua công việc khác [53,tr 192-193]
Tony Billon và các cộng sự lại phân biệt di động xã hội trên hai khía cạnh:
Di động giữa các thế hệ: Có nqhĩa là, con trai hay con gái có một địa vị khác biệt (cao hay thấp) hcm địa vị của cha mẹ (chẳng hạn con gái của người thợ mỏ có thể học tập để trớ thành cô giáo, con của nông dân trở thành kỹ sư, bác sĩ)
Trang 19Di động trong thế hệ: ở đây chỉ một người thay đổi trình độ nghề nghiệp trong cuộc đời lao động.[6,tr.87]
Trong cuốn "Xã hội học", hai tác giả L.Broom và P.Zelznick cũng phân biệt di động xã hội theo hai loại: di động dọc và ngang Song điều muốn nói là hai tác giả đã đưa ra một nhận xét đáng quan tâm: hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu có hệ thống về di động dựa trên phương pháp chủ quan, dựa trên quan niệm và sự nhận xét của những người địa phương hay chính những người di chuyển Nhiều công trình nghiên cứu về di động áp dụng phương pháp khách quan và thường xem nghề nghiệp làm tiêu chuẩn duy nhất cho di động theo chiều dọc Họ có thể đo lường biến chuyển trong địa vị nghề nghiệp giữa cha mẹ, con cái và đôi khi là cháu Đây gọi là di động xã hội giữa các thế hệ Hay họ nghiên cứu biến chuyển trong địa vị nghề nghiệp trong cuộc đời hoạt động của con người, tức là di động nghề nghiệp.[61,tr.251- 252]
Khi nghiên cứu về "Bất hình đẳng, phân tầng và các tầng lớp”, Neil
•Í.Smelser đã trình bày về di động xã hội theo hai loại: "Di động cá nhân" và "di
động tập thể" Theo Smelser, di động cá nhão {Individual mobiỉitỵ) là sự thay đổi
vị trí của một cá nhân trong hệ thống phân tầng Nó có thể có được bằng sự di
độos dọc hoặc di động ngang trong quá khứ của mỗi cá nhân, bằng việc tổ chức
lại cơ cấu (chẳni; hạn, việc tạo ra một nghề mới), hay bằng sự bắt đầu của một hệ
thống phân tầng mới (chẳng hạn một cuộc cách mạng) D i động tập thể
(coìlective mobilitỷ) là sự thay đổi vị trí của một nhóm trong một hệ thống phân
tầng Trong khi di động cá nhân thường xảy ra trong những xã hội mà địa vị đạt được, thì di động tập thể lại xảy ra nhiều hơn ở các xã hội mà địa vị có xu hướng gán sẵn [114,tr 173-177]
Khi nghiên cứu về di động xã hội các nhà xã hội học còn phân biệt các tính chất của di động xã hội Họ thường quan tâm tới di động không do ý chí (chẳng hạn do thay đổi về tuổi tác) và di động do ý chí (bằng nỗ lực phấn đấu của cá nhân); phân biệt giữa di độntí, thô (chẳng hạn nó phát sinh từ thế hệ bô sang thế hệ con) và di động tinh (phụ thuộc vào bản thân cá nhân, vào khả năng của chính họ)
Trang 20Như vậy, khi nghiên cứu di động xã hội các nhà xã hội học thường xuất phát
từ mục đích, nội dung, hướng tiếp cận khác nhau và có sự phân loại các loại hình di động khác nhau, nhưng chung qui lại có sự phân biệt:
- D, dộng theo chiêu dọc : Là sự di động cá nhân "lên trên" hoặc "xuống
dưới" theo cấp bậc của đẳng cấp, giai cấp xã hội; là sự thay đổi vị trí cùa cá nhân
mà kết quả là địa vị xã hội của người đó cao hơn hay thấp hơn Di động dọc nhấn
mạnh đến sự vận động về chất của cá nhân trong nhóm xã hội, liên quan đến sự
thăng tiến hoặc ni ảm sút vị thế xã hội của một người.
- D i độns theo chiều D gan g: Là sợ di chuyển mà không làm thay đổi đáng
kể thứ bậc của địa vị giai cấp xã hội; là một sự di chuyển thụt lùi hay tiến tới trên cùng một bình diện xã hội Di động ngang chỉ sự vận động của các cá nhân, các nhóm xã hội tới một \ị trí tương đương; là sự thay đổi vị trí xã hội của cá nhân
mà không dẫn đến sự thay đổi địa vị xã hội lên hay xuống
Trong thực tế hai loại di độug dọc và ũgang thường đan bện vào nhau, loại này là tiền đề cho loại kia
- D i độns xã bội trong th ế hệ : Là sự di chuyển về nghề nghiệp hay địa vị xã
hội của một cá nhãn ở những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của mình Di động trong thế hệ liên quan tới sự vận động của cá nhân trong suốt cuộc đời của họ
- D i dậm; xã hội giữa các th ế hớ Xác định quá trình tiếp nhận vị trí xã hội
giữa các thế hệ, là sự di chuyển địa vị xã hội của con cái đến tuổi trưởng thành đối với địa vị xã hội của cha mẹ
Ở nước ta trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị tniùníĩ định hướng xã hội chủ nghĩa, nghiên cứu di động xã hội cần phải xem xét sự di chuyển từ vai trò này sang vai trò khác mà con người đảm nhận Đặc biệt trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự tác
động mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại thì sự di chuyến
vai trò càng diễn ra mạnh mẽ hơn.
Do những thay đổi trong cấu trúc kinh tế-xã hội và việc tái tổ chức cấu trúc xã hội ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều cơ hội hơn cho di động xã hội, đặc
Trang 21biệt là di động cấu trúc Quá trình đổi mới, công nghiệp hoá-hiên đại hoá sẽ tạo
ra nghề nghiệp mới, vị trí mới Vì vậy di động cấu trúc là loại hình di động cần
quan tâm nghiên cứu Di động cấu trúc, bao gồm cả di động cá nhân và di động nhóm, nhưng yêu tô di động cả nhóm, cả tập đoàn, cả giai cấp có tính quyết định
và có tính xu hướng Di động cấu trúc bao gồm cả di động dọc, di động ngang
và thường gắn với sự di chuyển địa lý, đồng thời cả di động giữa các thế hệ
Di động cấu trúc tạo nên do sự vận động của cấu trúc kinh tế-xã hội và tác động trực tiếp đến các loại di động khác Chẳng hạn, khi một ngành kinh tế hay khoa học mới ra đời và có nhiều triển vọng phát triển thì một số lượng 1ỚQ
cá nhân sẽ tập trung và gia nhập vào ngành kinh tế đó hay ngành khoa học mới đó, cho dù nó khác với nghề nghiệp của các thế hệ trước và có nhiều cơ hội cho sự thãng tiến cũng như nguy cơ rủi ro
1.1.1.2 Cộng đồng khoa học
Thuật ngữ cộng đổng (Community) chỉ một tập thể gồm những thành viên
gắn bó với nhau bằng những giá trị chung Tính cộng đồng trải qua những thay đổi theo sự phác triển của xã hội, trong các xã hội cổ xưa nó lấn át tính cá nhân, không công nhận cá nhân như một thực thể độc lập Trong xã hội có quan hệ hàng hoá-tiền tẽ phát triển, các quan hệ sở hữu tư nhào phổ biến, tính cộng đồng chỉ là một mặt của đời sống con người, bên cạnh tính cá nhân phát triển ngày càng cao Mối quan hệ giữa tính cộng đồng và tính cá nhân luôn luôn mâu thuẫn, thậm chí xung đột, nhưng không tách rời nhau, không thể có tính cá nhân thuần tuý và cũng khó có tính cộng đồng thuần tuý.[103,tr.50]
Khái niệm cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản như gia đình, làng hoặc nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lứa tuổi, nghề nghiệp, giới, lý tưởng xã hội, thân phận xã hội Ở phạm vi rộng hơn cộng đồng được dùng đê chỉ một “kiểu”, “hạng” xã hội căn cứ vào đặc tính tương đồng
về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo như cộng đồng người H’re, cộng đồng người Công giáo Rộng lớn nhất, cộng đổng nói đến khối tập hợp người, nhữag liên minh rộng lớn như cộng đồng các nước nói Tiếag Pháp, cộng đồng Châu Âu,cộng đồng Thế giới
Trang 22Nhà xã hội học người Đức F Tonnies trong các nghiên cứu về cộng đồng
(năml887) đã phân biệt xã hội cộng đồng tính (Gemeinschaít) vói xã hội hiệp hội
tính (Gasellschaít), xã hội cộng đồng tính đặc trưng cho tính nguyên thuỷ (các cộng
đồng truyền thống tiền côag nghiệp^, xã hội hiệp hội tính đặc trưng cho tính hiện đại
(các cộng đồng thuộc xã hội công nghiệp-đô thị)
E Durkheim phân biệt đoàn kết hữu cơ (tương tự hiệp hội tính) với đoàn kết cơ học (tương tự cộng đồng tính) và cho rằng sự đoàn kết hữu cơ mới là nền
tảng thật sự của xã hội hiện đại
Về bản chất của cộng đồng hoàn chỉnh, J.H.Fichter cho rằng, cộng đồng bao gồm bốn yếu tố: (l)Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; (2)CÓ sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3)CÓ sự hiến dâữg tinh thần đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (4)Một ý thức đoàn kết đối với những người trong tập thể.[53,tr.79-80] Ngày nay chỉ có những cộng đồng truyền thống (như làng truyền thống chẳng hạn) mói có đủ bốn đặc tính trên
Cũng theo Fichter, để hiểu ý nghĩa xã hội của cộng đồng chúng ta cần
xem xét hiện tượng đó theo ba lĩnh vực; đoàn kết xã hội, tươog quan xã hội và
cơ câu xã hội Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng ba phương diện
nghiên cứu về cộng đồng nói trên đây không phải luôn luôn có mặt y hệt như nhau trong các cấu trúc cộng đồng Sự đoàn kết xã hội trong các cộng đồng
đô thị chẳng hạn, có đặc điểm khác hẳn so với sự đoàn kết xã hội ở các cộng đồng nông thôn.[51,tr.26]
Thuật ngữ "Cộng đồũg” đã có một quá trình phát triển lâu dài Đây là
một thuật ngữ phong phú và dễ gây nhầm lẫn Hơn nữa, cộng đồQg còn là đối tượng nghiên cứu cùa nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, mỗi ngành lại tạo nên những tuyến nghĩa khác nhau về khái niệm cộng đồng Quan điểm truyền thống sử dụng thuật ngữ cộng đồng như là một cảm nghĩ, khi con người có một ý thức cộng đồng Durkheim cho rằng, bản chất cùa cộng đồng truyền thống là cảm giác chung của cộng đồng được xác nhận thông qua việc
Trang 23tôn trọng các biểu tượng, các đặc điểm riêng có của cộng đồng [Xem 110,tr.l46] Ngoài quan điểm truyền thống về cộng đồng các nhà nghiên cứu
sau này đã xây dựng một cách hiểu khác về cộng đồng, họ cho rằng: "Cộng
đồng là m ột thuật ũgữ dùng đ ể m iêu tả m ột tổ chức xã hội đạt trình độ cao troag tổ chức rà hoạt động N ó là m ột nơi, m ột thực th ể địa lý giống như m ột làng, m ột thành phô' hay m ột truag tâm M ột cộng đồng là m ột tổ chức xã hội
có quan tâm đến những nhu cẩu cơ bản như kinh tế, xã hội, vãn hoá, giấo dục, chính trị của các thành viêũ của /nỳflĂ".[110,tr.l45Ị
Theo quan niệm Marxist, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của
họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.[Xem 99,tr 19]
Jadov xác định đối tượng nghiên cứu cùa xã hội học chính là các
cộng đồng xã hội Ông định nghĩa: X ã hội học là khoa học về sự hình
thành, phát triển và vận hành của các cộng đồng xã hội, các tổ chức xã hội
và các quá trình x ã hội với tính cách là các hình thức tồn tại của chúng, khoa học về các quan hệ x ã hội với tính cách là các cơ c h ế liên hệ và tác độag qua lạ i giữa các cộng đồng xã hội đa dạng, giữa cá nhân và cấc cộng đồng, khoa học về các tính quy luật của các hành động xã hội và hành vi của cúúũg.[X cm 99,tr.21]
Là một thuật ngữ xã hội học, cộng đồng được hiểu như là một đơn vị, nhóm người trong hệ thông xã hội, ở đó mọi người ý thức được những đặc trưng
và tình cảm chung về những gì mà mình đang có.[115,tr.512]
Ngày nay, tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau người
ta có thể nêu ra khái niệm về cộng đồng trong các trường hợp cụ thể Thông thường các nhà xã hội học chọn một khái niệm làm việc với một số đặc trưng nào
Trang 24đấy mà ta có thể làm việc được Theo nghĩa này luận án xác định: Cộng đồng
khoa học là một tập th ể nghê nghiệp-xã hội đặc thù, bao gồm những người có trình độ chuyên môn nhất định, cùng chung loại hình hoạt động khoa học và
hệ thống giá trị-chuẩn mực xã hội.
Cộng đồng khoa học là một tập th ể nghề nghiệp-xẵ hội đặc thù, bởi vì
khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, qui luật của tự nhiên,
xã hội và tư duy; mục đích nhân thức của khoa học là nhằm phát hiện những quy luật, làm thay đổi, bổ sung cho cái đã được nhận thức Do đó về bản chất
nó luôn mâu thuẫn với sự trì trệ, bảo thủ trong tư duy và trong hành động Đây
là khó khăn lớn nhất, mang tính xã hội của khoa học Xã hội luôn đòi hỏi và tạo ra cho khoa học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp Nhưng khác với mọi nghề nghiệp khác, hoạt động khoa học lại đòi hỏi một
trhứi độ chuyên môn nhất định, một phương pháp làm việc của những người hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động khoa học được hiểu là hoạt động nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật của sự vật, hiện tượng và vận dụng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật, hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng theo mục đích sử dụng Hoạt động khoa học là quá trình phát hiện, phát triển, vận dụng hệ thống những tri thức về mọi loại qui luật của vật chất và vận động của vật chất; những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy Hoạt động khoa học có liên quan trực tiếp đến quá trình tạo ra, nâng cao, phổ biến và áp dụng các tri thức khoa học vào sản xuất và đời sống Hoạt động khoa học bao gồm nghiên cứu khoa học, truyền bá, ứng dụng tri thức khoa học Trong thời đại hiện nay, sự phát triển khoa học luôn dẫn đến
sự phá vỡ những ranh giới cứng nhắc trong phân loại khoa học, hoạt động khoa học luôn gắn liền với công nghệ, gắn liền với sản xuất và đời sống, vì thế trong thực tiễn hoạt động khoa học cũng bao gồm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; dịch vụ khoa học và công nghệ Từ việc cùng chung loại hình hoạt động khoa học, với những đặc điểm của nghề nghiệp-xã hội đặc thù nêu trên, cộng đổng khoa học có chung hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội (chẳng hạn như giá trị khoa học và chuẩn mực khoa học)
Trang 25Cộng đồng khoa học có vị trí, vai trò và đặc trưng của mình Cộng đồng khoa học có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế-xã hội.Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ là động lực, là nền tảng của sự phát triển Vì vậy, cộng đồng khoa học là "vốn quí" của đất nước và dân tộc ta Trong phát triển kinh tế-xã hội nhân tố con người đóng vai trò quyết định; tiềm lực quan trọng nhất, quyết định sự phát triển khoa học và công nghệ là cộng đồng khoa học Cộng đồng khoa học có vai trò xã hội là sản xuất, truyền bá, ứng dụng tri thức khoa học; giữ vai trò then chốt trong sáng tạo khoa học, công nghệ; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển kinh tế-xã hội.
Cộng đồng khoa học' là nhóm xã hội-nghề nghiệp đặc thù trong cơ cấu
xã hội, là lực lượng lao động trí tuệ với trình độ chuyên môn cao Cộng đồng khoa học tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, đương đầu với mọi khoa học và giữ vai trò trọng yếu trên mặt trận khoa học và công nghệ- Gáũh vác nhiệm vụ phát huy vai trò động lực cùa khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực Kinh tế-Văn hoá-Xã hội và cả an ninh quốc phòng Cộng đồng khoa học là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá và xây dựng nền kinh tế trí thức Cộng đồng khoa học gồm những con người lao động trí tuệ, chuyên môn cao mà đặc trưng của hoạt động lao động trí tuệ là sáng tạo nhằm khám phá ra cái mới
1.1.2 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học
Có nhiều lý thuyết có thể giúp thiết lập cơ sờ khoa học để nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về sự di động xã hội cùa cộng đồng khoa học Trong phạm vi giới hạn được xác định, luận án chỉ đề cập đến một số lý thuyết liên quan trực tiếp với kỳ vọng tìm thấy các “ hạt nhân hợp lý” làm cơ sở lý luận tiếp cận nội dung nghiên cứu
Trang 261.1.2.1 Lý thuyết cấu trúc-chức nâng
Lý thuyết cấu trúc-chức năng là một trong những hướng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích xã hội học Lý thuyết này nhấn mạnh những đóng góp
chức năng cùa mõi bộ phận trong xã hội để duy trì cấu trúc cũ; điều cơ bản là xã
hội có tính trật tự và thốũg ahất, sự đồng tình, đoàn kết xã hội, cân bằũg nội tại đảm bảo cho trật tự xã hội Lý thuyết cấu trúc-chức năng cho rằng di động xã hội
đáp ứng sự vận hành cùa xã hội (mỗi tầng lớp xã hội có chức năng xã hội riêng) và tập trung vào sự hội nhập, sự ổn định xã hội Các nhà chức năng luận có đề cập đến
sự biến dổi, tiến bộ-văn hoá văũ minh ahưag dó lã sự chuyển từ th ế cân bàng cũ saag câa bằas m ới và định hướng cho sự chuyển đổi cân bằng.
Auguste Comte chưa nói đến "chức năng" nhưng ông đã chuẩn bị trước cho phép phân tích chức năúg qua việc xử lý tương tự giữa cơ thể cá nhân và xã hội [xem 46] Herbert Spencer cũng cho rằng "xã hội như là cơ thể sống" và so sánh những tổ chức cơ thể sống với xã hội Theo ông, giữa các thành phần cùa cơ thể đều có "sự phụ thuộc chức năng" Các cá nhân là các đơn vị của cơ thể xã hội,
họ tham gia vào sự phát triển của nó dù không nhận biết về điều đó
Vận dụng luận điểm này trong nghiên cứu di động xã hội của cộng đồngkhoa học cần chỉ ra các nhân tố hay các biến số tác động tới xu hướng, nhịp độ của di động xã hội
Cùng thời với Spencer, Emile Durkheim đã góp phần phát triển quan điểm
lý thuyết cấu trúc-chức năng Ông đưa ra khái niệm đoàn kết xã hội (Social
Solidarity) để chỉ các quan hệ giữa các cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với nhóm
và giữa các cá nhân với nhau Ông phân biệt hai hình thức cơ bản của đoàn kết xã hội là đoàn kết cơ học và đoàn kết hữu cơ và tương ứng với nó là hai kiểu xã hội:
Xã hội kiểu cơ học (truyền thống) và xã hội kiểu hữu cơ (hiện đại) Durkheim đã
vận dụng khái niệm này để giải thích các hiện tượng tự tử Trong nghiên cứu kinh
điển của mình về vấn đề tự tử ông chỉ ra rằng nạn tự tử có mối liên hệ tỉ lệ nghịch với mức độ gắn kết xã hội Ồng coi di động xã hội như là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tự
tử, cả di động đi lên và di động đi xuống Durkheim cho rằng tỉ lệ tự tử không những chỉ tăng lên tronn những thời kỳ kinh tế đột ngột đi xuống mà cả những thời kỳ kinh
tế đột ngột đi lên [Xem 110,tr.l75]
Trang 27Khi nghiên cứu vai trò của phân công lao động xã hội, Durkheim đã chứng minh rằng di cư và tích tụ dân cư, đô thị hoá và công nghiệp hoá đã làm tăng mật độ tiếp xúc, quan hệ và tương tác giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức trong xã hội Mật
độ tiếp xúc đó làm tăng mức độ cạnh tranh trong xã hội buộc các cá nhân muốn tồn tại phải "đấu tranh", cạnh tranh và chuyên môn hoá chức năng, nhiệm vụ Chuyên môn hoá chức năng xã hội càng cao thì các cá nhân, các nhóm xã hội càng tương tác với nhau nhiều và càng phụ thuộc lẫn nhau Phân công lao động trong xã hội thực hiện chức năng tạo ra đoàn kết xã hội và củng cố tinh thần đoàn kết xã hội [56,tr.l05]
Durkheim đã có đóng góp quyết định cho sự phát triển của thuyết chức năng qua "các qui tắc của phương pháp Xã hội học" (1895) [33] Khác với Comte và Spencer ông dứt khoát xác định: "Chứng minh lại ích của một sự kiện không eó nghĩa là giải thích sự hình thành và bản chất của nó ".[46,tr.59] Theo ông, để có
"giải thích đầy đủ" về một sự kiện phải cần cả hai là phân tích chức năng và phân tích nhân quả, nhưng ưu tiên sự phân tích nhân quả
Kingsley Davis và Moore là các nhà xã hội học nổi tiếng trong những nãm
1950 Các tác giả này tập trung phân tích phân tầng mang tính cấu trúc-chức năng Theo họ, xã hội bao giờ cũng tồn tại những vị trí xã hội khách quan quan trọng hơn những vị trí xã hội khác Vì thế dẫn đến một số vị trí dễ dàng đạt được còn một số vị trí khác thì khó đạt tới Cá nhân luôn có xu hướng vươn tới vị trí cao hơn trong xã hội, nhưng không phải ai cũng có đủ khả năng và điều kiện cá nhân cho nên họ chấp nhận vị trí xã hội tương ứng Mặt khác những vị trí cao thường gắn liền với quyền lợi vật chất và tinh thần cao hơn những vị trí khác nên nó thúc đẩy người ta đạt tới đó Vì vậy dân tới sự sắp xếp các vị trí xã hội một cách khách quan Sự sắp xếp khách quan đó tạo ra các tầng lớp trong cấu trúc xã hội Theo các tác giả này có hai vấn đề giải thích cho sự di động xã hội: (1) Mỗi một xã hội đều làm cho cá nhân phù hợp về việc chiếm giữ một địa vị xã hội nhất định nào đó (2)
Khi đứng ờ địa vị của mình thì chính xã hội cũng làm cho người đó thấm nhuần
những mong đợi về việc thực hiện những đòi hỏi của địa vị ấy ra sao
Trang 28Về mặt cấu trúc, các tác giả đã giải thích sự xếp đặt vị trí xã hội trong bất
kỳ xã hội nào cũng do ba nguyên ahân cơ bản dẫn tới là: (l)Một số địa vị giành được dễ dàng hơn những địa vị khác (2)Vì sự tồn tại của xã hội nên một sô địa vị
sẽ quan trọng hơn một số địa vị khác (3)Những vị trí xã hội khác nhau đòi hỏi những khả năng và những phẩm chất khác nhau đối với cá nhân
Davis và Moore đặc biệt quan tâm đến vị trí xã hội quan trọng hơn về mặt chức năng Họ cho obũũg vị trí có tầm quan trọog hơo đối với xã hội đòi hỏi
những người có k ỹ năũg, trình độ đặc biệt, có tài năng cao hơn so với vị trí khác mới lầm được, do vậy xã hội phải cho họ quyền lực, tài sảa, trọng thưởng những
vị trí đó Mặt khác vì tầm quan trọng của các vị trí cao nên cá nhân muốn vươn
tới nó cũng trải qua quá trình phấn đấu, nỗ lực rèn luyện.Trên cơ sở quan điểm về
tính khép kín các tầng lớp xã hội, các tác giả cho rằng những vị trí xã hội cao, có tầm quan trọQg lớn, nó khôữg những có giá trị bởi vì đứng ở bậc thang cao trong
hệ thống phân tầng mà còn là sự hạn chế về số lượng Vì thế các địa vị xã hội cao
có xu hướng "khép kín" và duy trì số lượng nhất định vị trí cùa mình Trong xã hội càng "khép kín" ở tầng trên thì càng mở rộng ở tầng dưới
Theo Davis và Moore, xã hội phải do những người có năng lực, phẩm chất
lãnh đạo Di động xã hội có chức ũăũg tích cực giúp cho xã hội tìm được những
tài nãng đ ể chịu trách nỉúệm quan trọng D i động xã hội ]à tất yệu, có trong m ọi
xã hội từ cổ ch í kim X ã hội cần tạo điều kiện khuyến khích họ, nhưng mục tiêu
là đ ể ổn định, liên kết xã hội và các ũbóm xã hội.
Lý thuyết trên còn có những hạn chế là quá nhấn mạnh quan điểm "cạnh tranh lành mạnh" mà trên thực tế thì không hoàn toàn như vậy Có những người tài giỏi nhưng không được trọng dụng (phản chức năng) Trong số đông người tài nhưng chỉ có một số được trọng dụng, một số khác đứng im hoặc đi xuống Tại sao nơi trả công cao thì có nhiều người vào các ông chưa giải quyết được những vấn đề bất cập trong thực tế xã hội
Đại diện tiêu biểu cho trường phái lý thuyết cấu trúc-chức năng trong xã hội học Mỹ có thể kể đến: Robert K.Merton, Marion J.Levy jun và Talcott Parsons Thuyết chức năng, hay như Merton gọi là "phân tích chức năữg" là một loại "phương pháp giải thích có điều tiết"; "chức năng xã hội liên quan tới các hệ quả khách quan quan sát được, chứ không phải các tâm trạng chủ quan (mục tiêu,
lý do, ý nghĩa)".[46,tr.65]
Trang 29Theo Merton, một số chức năng: Chức năng biểu hiên (là những chức nâng
có mục đích và được thừa nhận), chức ũăng tiềm tàng (không có mục đích và
không được ghi nhận) và không phải mọi yếu tố xã hội đều góp phần tích cực,
một số yêu tô có những hậu quả tiêu cực gọi là phản chức nãag Một chức năng tiềm tàng (và tích cực) của Qguyên tắc hành chính là ùng hộ cơ hội việc làm bình
đẳũg đối với m ọi người Những phàn chức năng của các nguyên tắc hành chính là
tính cứng nhắc, không hiệu quả Dĩ nhiên, cái gì là tiêu cực cho một bộ phận này cùa xã hội có thể là tích cực cho bộ phận khác
Nếu nhìn một cách hệ thống thì Levy đã xử lý chu đáo những giác độ của
thuyết chức năng xã hội học mà Merton đã không xét đến: Phâa tích yêu cẩu
chính là cái đặc biệt thích hợp trên bình diện xã hội Các yêu cầu chức năng hướng dẫn việc tìm các yêu cầu cấu trúc, nhưng chúng không thể được phân loại
theo từng điểm một vì lý do có tương đương chức ũăag [46,tr.73]
Trụ cột cùa thuyết chức năng cấu trúc trong những năm 1950-1960 ờ Mỹ
là Talcott Parsons Theo ông, xã hội như một hệ thống có thể được nghiên cứu theo bốD yêu cầu chức năng'.
A (adaptation) "Thích nghi": Kinh tế.
G (goal attainemt) "Sự đạt mục tiêu": Chính trị.
I (integration) "Hội nhập": Kiểm soát xã hội /cộng đồng
L (latent maintainaace) "Duy trì kiểu mẫu, mô hình": Văn hoá.ịxe.m 46]
Theo Parsons mọi hệ thống xã hội đều duy trì bốn yêu cầu chức năag trêa
Mỗi loại xã hội có cấu trúc và chức năng đặc thù Quốc gia nào manh nhóm chức
năng nào thì thôog qua di động xã hội người ta dồn vào chức năng đó Tuỳ theo đặc thù xã hội người ta ũhấo mạoh thành tố nào thì di động xã hội đổ xô vào đó, ahưng đều làm cho xã hội ổũ định và phất triển Khác với thuyết xuog đột đặt vấn
đề, Parsons cho di động xã bội pbảa áah giầ trị xã hội mà thôi.
Parsons đặc biệt nhấn mạnh tới những mục đích cuối cùng của hành
động "Một hành động được coi là hợp lý khi mục đích biện minh cho sự cố
gắng".[103,tr.402] Phương pháp của ông là phương pháp cấu trúc-chức năng
Cấu trúc là tập hợp ũhững liêũ hệ tươũg đối bền vữag Còn chức aăag thì đòi hỏi phải hiểu bộ phận bằag m ối quan hệ của nó với toàn thể.
Trang 30Theo Parsons các cấp độ xã hội được sắp xếp một cách trật tự, rõ ràng
và chúng hoà nhập với nhau theo hai cách:(l) Mỗi một cấp độ thấp hơn phải
cung cấp những điều kiện và những năng lực cần thiết cho những mức độ cao hơn;(2) Các cấp độ cao hơn phải chi phối, quản ỉ ý được cấp độ thấp hơn theo
một hệ thống thứ bậc
Về di động xã hội, lý thuyết của Parsons chưa giải thích được vấn đề không phải bất cứ ai rơi vào vị trí xã hội cao cũng đem lại lợi ích cho xã hội (có những người trục lợi cá nhân); không phải cá nhân nào cũng đem lại cho mục tiêu xã hội như ông nói (có người lợi dụng để chống lại) Ông cho rằng lợi ích cá nhân không tồn tại trong lý thuyết này là không đúng (không giải thích được việc tham nhũng) Parsons quá nhấn mạnh giá trị xã hội (ông cho rằng di động xã hội phản ánh giá trị xã hội mà thôi) nhưng trên thực tế giá trị
xã hội không phải hoàn toàn khách quan mà có thể do chủ quan của những người có quyền lực sẽ ảnh hưởng đến xã hội
Về cơ bản "cấu trúc" là hệ thống ổn định, còn "chức năng" là hành vi
duy trì hệ thống Các nhà chức năng luận có đề cập đến sự biến đổi, tiến bộ - văn hóa văn minh nhưng đó là sự chuyển từ hệ cân bằng cũ sang cân bằng mới
và định hướng cho sự chuyển đổi cân bằng Trái lại, lý thuyết xung đột lấy sự biến đổi xã hội như một tiêu điểm và cần có sự vận dụng kết hợp lý thuyết này trong nghiên cứu di động xã hội
1.1.2.2 Lý thuyết xung đột xã hội
Lý thuyết xung đột xã hội nhấn mạnh đến sự xung đột, cạnh tranh, quyền lực, sự biến đổi, sự áp bức, bất bình đẳng trong xã hội Trên quan điểm xung đột, có những nhà xã hội học nổi tiếng như: George Simmel, c Wright Mills, Ralf Dahrendoií, L.Coser và rất nhiều người khác Song có thể nói, Các Mác và Max Weber được xem là những nhà kinh điển, là “hai người khổng lồ” về lý thuyết xung đột trong xã hội học Hai loại hình chính yếu trong các quan điểm về
xung đột là xung đột giai cấp và xung đột văn hoá có thể giúp chúng ta cơ sở lý
luận nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học
Trang 31Các Mác (1818-1883) đề xướng việc lấy giai cấp và đấu tranh giai cấp làm
động lực chủ yếu của sự phát triển lịch sử loài người trong các xã hội có giai cấp
c Mác chỉ ra rằng sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sản sinh ra cơ cấu phân tầng xã hội gồm: (1) Giai cấp hay một nhóm người làm "ông chủ", chủ sở hữu tư liệu sản xuất thống trị và hóc lột, và (2) Các nhóm hay các giai cấp còn lại trong xã hội.Theo c Mác, với sự phát triển của phân công lao động và sở hữu sẽ hình thành các giai cấp khác nhau bên trong một xã hội: Sự bất bình đẳng của các giai
cấp này dựa trên vị ibếkhấc nhau của chúng trong quá trình sản xuất của xã hội,
nhưng trước hết là trên sự chiếm hữu hay không chiếm hữu các tư liệu sản xuất.Liên quan đến di động xã hội, quan điểm của c Mác thường nhấn mạnh về giai cấp, về quyền lực Từ cơ sở kinh tế mà nói về địa vị xã hội Địa
vị xã hội là hệ quả của cơ sỏ kinh tế và quyền lực Tuy nhiên Các Mác đã từng
phân tích về sự phắt triển m ột thang bậc các sức lao động với m ột thang tiền
công phù hợp của nó khi phân tích về hai hình thức cơ bản của công trường
thủ công; c Mác đã lưu ý hiện tượng: "Bêũ cạnh các bậc thang đẳng cấp ấy là
m ột sự phân chia giản đơn ahữũg người lao động thành thạo và ũhững ũgười
lao động không thành thạo".[12,tr.508-509]
Theo c Mác, sự di động xã hội là phương tiện để tầng lớp có quyén lực tận dụng đặc lợi của mình Xuất phát từ vấn đề quyền lực mà giải quyết vấn đề di động xã hội, thông qua di động xã hội thực tế là bóc lột lẫn nhau trong bậc thang
xã hội Trong xã hội tư bản, việc trả côag cao, khen thưởng cho những người khác là để phục vụ cho cá nhân ông chủ và giai cấp tư sản Địa vị xã hội của các giai cấp trong xã hội tư bản là cạnh tranh loại trừ nhau
Trong "Bản thảo kinh tế học và triết học" (1844) c Mác cho rằng lao động sản xuất là một quá trình kép nhằm: (1) Thoả mãn nhu cầu vật chất, và (2) Bộc lộ năng lực sáng tạo đặc thù của con người Nhưng khi phân tích xã hội có giai cấp, c Mác vạch ra rằng chế độ bóc lột và sự tha hoá vốn có của phân công lao động trong các xã hội đó không cho phép con người tự do biểu hiện các năng lực người của mình Vận dụng ý tưởng này khi phân tích xã hội học về sự di động xã hội cần vạch
ra những điều kiện nào cản trở những năng lực nào của COQ người trong xã hội Các
Mác đã chỉ rõ, cá nhân phải trở thàũh tợ do thì mới có thể liên kết chặt chẽ và bền
Trang 32vững với nhau, sự tự do của m ỗi người là điều kiện tự do của hành độũg, tấi cả m ọi người Do vậy khi tự do cá nhân của mỗi người bị tước bỏ thì sẽ mất đi nguồn động
lực của sự phát triển xã hội, sự thăng tiến xã hội của con người sẽ bị triệt tiêu Vận dụng lý luận của c Mác về quan điểm tự do của hành động, khi nghiên cứu về di động xã hội của cộng đồng khoa học chúng ta cần chú ý xem xét các điều kiện kiah
tế-xã hội có tạo ra sự tự do, hình đẳng trong việc lựa chọn cơ hội đ ể thãng tiến cho
mỗi cá nhân và cộng đồng khoa học hay không
Theo c Mác, tất cả mọi cá nhân trong xã hội đều phải sử dụng tư liệu sản xuất để thoả mãn các nhu cầu vật chất, kinh tế của họ Nhưng chính chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ sở phân chia xã hội thành cơ cấu giai cấp gồm một bên là những người sở hữu và một bên là những người không sở hữu về
tư liệu sản xuất Điều này qui định tính chất của quan hệ sản xuất, tức là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất
Người nào sở hữu tư liệu sản xuất thì ữgười đó có khả năng kiểm soát lao động, quản lý quá trình sản xuất và nắm giữ quyền phân phối sản phẩm Người nào không có tư liệu sản xuất thì người đó bị lệ thuộc, phải bán sức lao động, bị bóc lột
và chịu sự cai quản, thống trị cùa kẻ sở hữu c Mác đã chi ra rằng, trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản và vô sản đối kháng nhau vì lợi ích đối kháng nhau Giai cấp tư sản nắm giữ tư liệu sản xuất nên tìm mọi cách duy trì trật tự hiện có; giai cấp vô sản không có tư liệu sản xuất, bị áp bức bóc lột nên đấu tranh xoá bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất để đem lại công bằng cho tất cả mọi người Như vậy trong xã hội tư bản di động cấu trúc là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và sẽ dẫn đến cách mạng xã hội c Mác lập luận rằng chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ được thay thế bởi chủ nghĩa cộng sản
Max Weber (1864-1920) cho rằng, lĩnh vực kinh tế không còn đóng vai trò quyết định duy nhất đối với sự phàn chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong
xã hội tư bản hiện đại Weber định nghĩa rằng giai cấp là m ột tập hợp người
có chung cắc cơ hội sốũg troag điều kiện kiab tế thị trườũg.[Xe.m 28,tr.95] Cơ
hội sống được hiểu là các cơ may nảy sinh từ việc nắm giữ, sử dụng và mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
Trang 33Các cơ may cuộc sống bắt nguồn từ vốn, tài sản, sức lao động, kỹ năng, tay nghề và dịch vụ; và vì vậy, phụ thuộc vào điểu kiện của thị trường.
Theo Celia s Heller, "Điều mà c Mác quan niệm: những người có các
phương tiện kinh tế cũng có cả quyền lực và uy thế, thì W eber lại coi là
không chắc đã là như thế, bằng cách tạo ra ba khái niệm khác nhau: giai cấp, địa vị xã hội và quyền lực" "Khái niệm của Weber về giai cấp chỉ giống với
khái niệm của c Mác chừng nào nó dựa vào một tầng lớp kinh tế Song ở đây
cũng không được bỏ qua một điều là với Max Weber, tầm quan trọng của nhân tố kinh tế nằm ở nơi nào đó hơn là trong mối quan hệ với tư liệu sản
xuất Khái niệm của Weber về giai cấp hẹp hơn khái niệm này của c Mác vì
nó ch ỉ DÓi lên có m ột loại hình tầng lớp trong một hệ thống như thế Loại
hình quan trọng khác, dựa vào uy thế hơn là vào tiêu chuẩn kinh tế, là ũhóm
có địa vị xã hội" [112,tr.l0]
Nhận xét khác của Wesley Sharrock trong cuốn "The new Introducing Sociology" do Peter Worsley chủ biên cho rằng: "Không được đem đối lập
c Mác và Weber với nhau bằng cách nói rằng c Mác có một lý luận về xung đột
xã hội xem như là được chỉ đạo bởi các lợi ích còn Weber thì không có lý luận
đó, vì Weber quá nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các lợi ích trong cuộc đấu tranh quyền lực trong xã hội Sự khác nhau là thuộc về phạm vi lợi ích mà họ sẵn sàng công nhận là quan trọng ." [117,tr.431]
Weber đồng ý với c Mác trong việc thừa nhận tầm quan trọng của xung đột xã hội Ông nhấn mạnh đến việc nhìn nhận xã hội trong cuộc đấu tranh cho quyền lực Với Weber, sự di động xã hội là một cách thức giành quyền lực mà trong đó xã hội được thể chế hoá
Sự phân chia chủ chốt là sự phân chia giữa những người có sở hữu và
những người không có sở hữu Song Weber nhấn mạnh vào nhu cầu phải nhận ra
hai loại nhóm có thể hình thành trong cuộc cạnh tranh giành quyền lực cộng thêm vào các giai cấp Như chúng ta đã thấy, nhóm quan trọng nhất là nhóm có địa vị xã hội cao, một nhóm được xác định không phải bởi sở hữu, mà do sự tín
Trang 34nhiệm: một nhóm người, họ coi nhau như những người bình đẳng, và những nhóm khác lại nhìn họ như cấp trên hoặc là như cấp dưới Song cơ sở của sự nhìn nhận lẫn nhau của họ không phải là vị trí của họ trong sản xuất mà lại là mô hình tiêu dùng cùa họ mà ông gọi là "lối sống".[117,tr.430]
Theo Weber, không có sự quyết định phiến diện của một yếu tố đối với toàn
xã hội dù yếu tố đó là kinh tế, chính trị hay tôn giáo Max Weber phân tích quyền lực kinh tế có thể thu lượm được từ sự chiếm hữu quyền lực dựa trên các nền tảng khác Địa vị xã hội hay uy tín có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, nhưng đây không là
duy nhất Max VVeber đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thị trưòng Theo ông yếu tố quan trọng cho sự di động xã hội đi lên của một cá nhân là khả năng
chiếm lĩnh thị tntờog tức là cái mà cá nhân đó nhờ bản ỉĩũh liêag của mình mà chiếm
lĩnh được hoặc là tay nghề có được mà người lao động có thể bán được trong thị
trường lao động Theo nghĩa đó, "hoàn cảnh giai cấp", xét đến cùng, là "hoàn cảnh thị trường" (market situation) [Xem 59,tr.27]
Tóm lại, trên cơ sở quán triệt những chỉ dẫn của Các Mác, lựa chọn
"những hạt nhân hợp lý" của Max Weber để vận dụng nghiên cứu sự di động xã hội là cần thiết
1.1.2.3 Lý thuyết phát triển
Khái niệm phát triển rút ra từ vô số những biến đổi nói chung, những biến đổi gắn liền với sự đổi mới hệ thống, cấu trúc và chức năng của nó, biến nó thành một cái mới về chất lượng Quá trình biến đổi về số lượng đó là sự tăng trưởng,
và suy giảm còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất
lượng Phát triển ]à quá trình biến đổi về cbất lượng Theo nghĩa chung nhất,
"phát triển là quá trình vận động từ thấp (đơn giản) đến cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời" [72,tr.433] Ngày nay người ta CÒQ đề cập nhiều đến “phát triển bển vững” là “sự phát triển kinh tế-xã
hội lành mạnh, dựa trên sự phát triển hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
nhằm đáp ứní; nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thê hệ tương lai trong việc thoả mãn những nhu cầu của họ”.[2,tr.3]
Trang 35Ở đây chúng ta không đi sâu vào sự phát triển nói chung mà chủ yếu là vận
dụng quan điểm về phát triển kinh tế-xã hội trong nghiên cứu di động xã hội của
cộng đồng khoa học; vì di động xã hội liên quan đến sự "phát triển" tiềm năng, khả năng của từng cá nhân, từng nhóm xã hội và các điều kiện kinh tế-xã hội
"đóng" hay "mở" để con người thăng tiến hay giảm sút.
Trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, phát triển thường được hiểu là “tạo điểu kiện cho con người bất kỳ ở đâu cũng có cuộc sống đầy đủ, lành mạnh và lâu
dài” [8,tr.3] Phát triển xã hội có nghĩa là sự tăng trưởng, đặc biệt là tăng trưởng kiah
tế cùng với sự biêh đổi xã hội theo chiều hướũg tiến bộ xã hội, côũg bằũg, dân chủ và văn minh Phát triển xã hội diễn ra trong sự tác động qua lại biện chứng giữa các quá
trình có khuynh hướng khác, nhau: sự phát triển theo hướng tiến bộ gắn liền với hướng thoái bộ Phép biện chứng là cơ sở chung cuả lý thuyết phát triển với những
nội dung phong phú thể hiện ở các qui luật cơ bản của nó.
Lịch sử phát triển của nhân loại suy cho cùng là lịch sử phát triển con người Khái niệm "phát triển con n g ư ờ i" (H u m a n development) mới xuất hiện khoảng vài thập kỷ này trên thế giới Sợ phát triển người là sự phát triển thể xác
và tinh thần, tích tụ tiềm năng, phát triển năng lực, kỹ xảo Theo nghĩa rộng cùa
phát triển con người là nâng cao chất lươũg cuộc sống của COD người, với những
đòi hỏi:(1) Thu nhập cao; (2) Giáo dục tốt; (3)Chuẩn cao về sức khoẻ và dinh dưỡng;(4) ít nghèo khổ; (5) Môi trường trong sạch; (6) Bình đẳng hơn về cơ hội; (7) Cá nhân tự do hơn; (8) Cuộc sống văn hóa phong phú hơn
Quan điểm Mác-xít về sự phát triển lấy con người làm điểm xuất phát, coi con người là trung tâm của lịch sử, xã hội Con người là mục tiêu, là đối tượng cùa sự phát triển và của cuộc cách mạng công nghệ đương đại Khái quát quá trình phát triển cùa xã hội, bằng việc nhìn vào vai trò quyết định của tri thức khoa học đối với sự phát triển, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều chính khách cho rằng loài
người đang bước vào nền văn minh thứ b a ũềũ vãn miũh trí tuệ'; nền kinh tế
chuyển từ kinh tế công nghiêp sang kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, khoa học là của cải, là quyền lực
Trang 36Xã hội loài người bước vào trạng thái phát triển mới về lượng và chất, là sự nổi lên vị trí quyết định của con người trong quá trình phát triển Phát triển con
người vừa là mục tiêu cuối cùng cùa phát triển kinh tế, vừa là phương tiện (được coi là phương tiện tốt nhất) để thúc đẩy sự phát triển Phát triển con người là quá trình m ở rộng các cơ hội lựa chọn việc làm phù hợp, "những lựa chọn được tạo ra bởi việc m ở maniỊ các ũãng lực và các hoạt động của con người, những gì mà dân
chúng làm và có thể làm trong cuộc sống của họ những năng lực này được phản ánh trong chỉ số phát triển con người".[77,tr 18]
Vận dụní; lý thuyết phát triển vào việc nghiên cứu di động xã hội cùa cộng đồng khoa học chúng ta cần phải tìm hiểu luận điểm con người Việt Nam nói chung, cộng đồng khoa học nói riêng với tính cách là động lực cùa
sự phát triển kinh tế-xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, nếu
hiểu đúng nghĩa động lực của sự phất triển kiũh tế-xã hội chính là cái thúc
đẩy, cái lầm gia tăng sự phát triển kinh tế-xã hội kh i bản thân sợ phát triển kinh tế-xã h ội là có, đã ũẩỵ sinh; thì chíah cái kích thích, thúc đẩy sự hoạt động ây, thậm ch í là cái CUỐD hút COŨ ũgười vào hoạt độũg đó m ới thực sợ là
độũg lực của sự phát triển kinh tế-xã hội [47,tr.l62] c Mác và Ph Ảng ghen
đã từng nhận xét: "Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người đang theo
đuổi m ục đích của bảo thào m ìũtì' [13,tr 141] Vậy những động lực thực sự cùa sự
phát triển kinh tế-xã hội là những gì ?
Theo kết quả nghiên cứu của tập thể tác giả chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX07 thì: Hệ thống động lực phát triển kinh tế-xã hội bao gồm rất nhiều hiện tượng được coi là động lực Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ chuỗi quy định nhân quả thì hệ thống các động lực cùa ỉiự phát triển kinh tế-xã
hội có thể thấy rằng ũhu cầu là khâu trung gian quan trọng đầu tiên trong chuỗi
nhân quả từ "hoàn cảnh bên ngoài" đến "mục đích", tức là đến "động cơ tư
tưởng" trực tiếp thúc đẩy con người đi vào hành động [Xem 47] Khi phân tích
vai trò của nhu cầu trong sự phát triển của sản xuất, c Mác đã khẳng định rằng
"khôag có nhu cầu thì không có sản xuất"[14,tr.602], agược lại không có sản xuất thì cũng không có nhu cầu bởi vì chính sản xuất đã làm nảy sinh nhu cầu
Trang 37Nhu cầu sau khi nảy sinh, trở thành động lực hết sức quan trọng thúc đẩy COQ
người hành động nhằm tìm phương tiện thoả mãn nhu cầu Ph Ảng ghen viết "
Đấng lẽ phải giải thích hàah động cùa mình từ nhu cầu của mình thì Dgười ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình "[15,tr.651]
Lại ích gắn bó hết sức chặt chẽ vói nhu cầu Tính chất động lực cùa uhu cầu
được thực hiện không phải một cách trực tiếp mà thông qua khâu lợi ích, còn lợi ích
là khâu trực tiếp hcm cả trong việc làm hình thành nên động cơ tư tưởng thúc đẩy con người ta hành động nhằm giành lấy cái thoả mãn nhu cầu
Như vậy, nhu cầu và lợi ích là động lực quan trọng ahất trong chuỗi qui định ahân quả dẫn dắt con người đi vào hành động Tuy nhiên một số động lực chính trị- tinh thần cũng rất quan trọng đối với sự phát triển Đó là công bằng xã hội, dân chủ,
m ôi trường tâm lý-xã hội, vãn hoá
" Công bầns xã hội' là khái niệm mang tính lịch sử, bị qui định bcd hoàn cảnh
lịch sử cụ thể Trước đây phân phối lao động là tiêu chí duy nhất của sự công bằng thì hiện nay, trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, cầD thực hiện phân phối: a/ Theo lao động; b/ Theo mức đóng góp vốn và
trí tuệ vào sản xuất kinh doanh; c/ Theo các cống hiến khác cho xã hội nói chung (chứ không phải chỉ cho sản xuất) Nói cách khác, nếu trước đây sự công bằng xã hội
được thể hiện chỉ trong nguyên tắc phân phối theo lao động thì ngày nay cần được thể hiện trong nguyên tắc phân phối tbeo côhg hiêh\ cống hiến ngang nhau thì hưởng
thụ ngang nhau
Cùng với công bằng xã hội, Dân Chủ là một động lực đặc biệt quan trọng đối
với sự hoạt độn ì; và sáng tạo của con người Một xã hội mà càng có nhiều người hưởng thành quả dàn chủ thì sức manh xã hội sẽ càng được nhân lên; dân chủ sẽ trở thành động lực thực tế thúc đẩy sáng tạo khoa học và công nghệ
Một động lực cần quan tâm tạo ra cho phát triển, đó là m ôi trường tâm ỉý-xẵ
hội Ảnh hưởng của môi trường tâm lý-xã hội chỉ có tác động tích cực đến hoạt động
của con người khi nó tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho sự phát huy tính tích cực của chủ thể hoạt động
Trang 38Văn hoá hoàn toàn có thể được xem là một động lực thực sự của tiến bộ xã
hội, bởi vì ở vãn hoá có một xu hướng mang tính qui luật: Mỗi nền vãn hoá luôn luôn
có nhu cầu cháy bỏng là sự khẳng định mình, khẳng định hướng giá trị độc đáo, những bản sắc riêng và khẳng định sự bình đẳng trong tương quan với các nền văn hoá khác Mỗi dân tộc đều có quyền tự hào về những bản sắc văn hoá riêng của mình Do vậy nhu cầu tự khẳng định mình của mỗi nền văn hoá là nhu cầu đáng phải trân trọng và kích thích vào nhu cầu này, hiển nhiên, là sự tác động đến một động lực đặc biệt mạnh mẽ đối với sự phát triển nói chung
Vận đu ne lý thuyết phát triển trong nghiên cứu về sự di động xã hội của cộng
đồng khoa học giúp ta có cơ sở khoa học để nhìn thấy trong sự di độag ấy cái g ì và ai
bị cẩu trở? Nguyên nhân nào đe doạ sự phát triển của cộng đồng khoa học Trêa cơ
sở đó có nhũtig khuyến Qghị về việc tạo ra những động lực mới cho sự phát triển của cộng đồng khoa học
1.1.2.4 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tưhíởng Hồ Chí Minh
Ngày nay, thực tiễn lịch sử và kiến thức lịch sử của nhân loại có nhiều bổ sung và phát triển mới, nhưng những cơ sở khoa học về những qui luật chung nhất của sự vận động và phát triển của xã hội mà quan niệm duy vật về lịch sử đã đem đến cho khoa học xã hội thì vẫn giữ nguyên giá trị Vận dụng quan điểm Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh vào nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học là cơ sở
lý luận rất quan trọng; là yếu tố đóng vai trò chủ đạo xuyên suốt trong quá trình
nghiên cứu nhận diện thực trạng, dự báo xu hướng và dề xuất các giải pháp phát triển
cộng đồng khoa học trong xu thế chung của thời đại.
Quan điểm Mác-xít xem xét cơ cấu xã hội thông qua giác độ tiếp cận về hình thái kinh tế-xã hội, coi những bộ phận cấu thành cùa nó như cơ sở hạ tầng, kiến trúc
thượng tầng, lực lượng sản xuất là các bộ phận cơ bản tạo nên cơ cấu xã hội cùa xã
hội Đó là bộ "khung" giúp cho việc xem xét hiện thực xã hội Học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của Marx đã đặt nền tảng khoa học cho Xã hội học, cho phép xem xét
sự phát triển xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên Các quan điểm của c Mác về
lý thuyết phát triển, xung đột xã hội đã được trình bày ở phần trên; ở đây chỉ đề cập
một số quan điểm chung liên quan sự di động xã hội cùa cộng đồng khoa học
Trang 39Trung tâm của học thuyết Mác là con người xã hội Theo Mác : "Bảo
chất coa người không phải là m ột cái trừu tượng, c ố hữu của cá ahâo riêng biệt Troog tính hiện thực của nó bẳn chất con ũgười Jà tổng hoà cấc m ối quan
hệ xã Aộ/'.[16,tr.257] Xuất phát từ con người, lấy việc giải phóag COŨ người khỏi sự tha boá làm m ục đích, đó là bản chất của chủ ũgbĩa Mấc Học thuyết
của Mác về bản chất con Qgười và sau ũữa là luận điểm về vai trò chủ thể cùa con người trong lịch sử là cơ sở xuất phát về mặt lý luận, là thế giới quan cho việc xác định vai trò chủ thể của con người đối với cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại và giải quyết những vấn đề về sự đa dạng phức tạp xung quanh cuộc sống con người Trong lịch sử vô vàn các sự kiện đã chứng minh rằng sự
ra đời của các hiện tượng khoa học-công nghệ là do các nhu cầu sản xuất, sinh sống của xã hội loài người qui định Đúng như Ph Ăng ghen đã viết
trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên: "Ngay từ đầu, sự phát sinh và phát
triển của các níỉànb khoa học là do sảa xuất qui đ ịũ tì'.[ 15,tr.659]
•?/ Con người là chủ thể của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Hay nói cách khác cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại là sản phẩm của con người, mà cụ thể, trực tiếp nhất đó là cộng đồng khoa học Trong mối quan hệ giữa cộng đồng khoa học với cách mạng khoa học- cống nghệ hiện
đại vai trò chủ động, quyết địah thuộc về cộag đồng khoa học Do đó cộng
đồng khoa học có thể đoán định và nắm bắt những xu hướng vận động, phát triển của khoa học-công nghệ Trên cơ sở đó cộng đồng khoa học có thể sử dụng các thành tựu khoa học-công nghệ hiện đại một cách tích cực nhất, tiến
bộ nhất, có lợi nhất Nhưng thực tế không hoàn toàn đơn giản như vậy Việc
sử dụng các thành ụni khoa học công nghệ hiện đại phụ thuộc vào nhiều yếu
tố và quá trình khác nhau Điều này Ảng ghen khái quát như sau: "Nếu chúng
ta phải trải qua hàng nghìn nám lao động mới có thể trong chừng mực nào đó, đánh giá được hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta thì chúng ta lại càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa để biết được những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy".[15,tr.655-656]
Vì vậy, vai trò của cộng đồng khoa học cần phải nâng cao hơn nữa trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội để đảm bảo cho sự phát triển bềũ vững.
Trang 40Trong lĩnh vực sáng tạo khoa học, cần phải sớm giải phóng nhà khoa học khỏi bị công chức hoá, đồng thời mở rộng khả năng tự do sáng tạo của họ
để họ thăng tiến trong nghề nghiệp^ V.I Lê nin đã từng coi trí thức, cộng
đồng khoa học là "các đại biểu của những nghề tự do nói chung" Và họ chỉ
nhờ vào những phẩm chất cá nhân của họ mới có thể đóng được một vai trò nào đó Vì vậy đối với họ, quyền được tự do biểu hiện bản chất cá nhân của mình là điều kiện đầu tiên để công tác được kết quả.[97,tr.372-373] Lao động khoa học sáng tạo là lao động trí tuệ đòi hỏi có tự do tư tưởng, có độc lập suy
nghĩ cá nhàn, đồng thời cần có sự giao lưu, đối thoại với đồng nghiệp Lê nin
rất coi trọng tri thức, coi trọng nghề nghiệp chuyên môn, Người đã từng nói:
"Khôag có ỉ ý luận cách mạng thì khôog có phoag trào cách mạng"; "Không
có tri thức thì khôũg có chủ aghĩa xã hộỉ' và thường khuyên thế hệ trẻ "học,
học nữa, học mãi"
Trong quá trình nghiên cứu di động xã hội của cộng đồng khoa học, một điểm
tựa rất cơ bản là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh không những đã phát hiện ra sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, sứ mệnh của giai cấp công nhân, mà còn nhìn thấy
rõ vai trò to lớn, động lực mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, của đội ngũ trí thức với sự phát triển của lịch sử Ngay từ ngày cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh nhắc nhở: phải khắc phục khuynh hướng chật
hẹp và bao biện “không biết đem người có danh vọng hoặc có tài cán ở địa
phương vào giúp v iệ ổ \ Có thể xem bài “ Tìm người tài đứcf của Người
ngày 20 tháng 11 năm 1946 là “ chiếu cầu hiền” của cách mạng: “K iêh thiết
cần p h ả i có thiên tài Trong s ố 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người
có tài, có đức E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đêh nỗi những bậc tài đức không th ể xuất thân” [67,tr 127]
Người cho ta một mẫu mực về thái độ quan tâm đối với sự phát triển của các nhà khoa học Người đã tập hợp đồng đảo, đã trọng dụng các hiền sĩ để tham gia sự nghiệp kháng chiến kiến quốc