I ro112 44 6 78 1521 2127303034 35 35 3637 37 MỤC LỤC Giới thiệu đề tài của luận án Mục đích và ý nghĩa của luận án Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án Nhiệm vụ nghiên cứu của lu
Trang 1LUẬN ÁN T IẾ N S ĩ N G Ữ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
GS.TS LÊ QUANG THIEM PGS.TS TRẦN H ũ u MẠNH
HÀ NỘI -2000
€AI HOC QUÓC GIA hÀ >Jồ'
T R U N G T Â M T H Ỏ N G T I N ! > - ' ViL, ị
J Ỉ
Trang 2G IẢ I T H ÍC H CÁC KÝ H IỆU , C H Ữ V IẾ T TẮ T
( sử dung trong luận án )
Trang 3I ro11
2
44
6
78
1521
2127303034
35
35
3637
37
MỤC LỤC
Giới thiệu đề tài của luận án
Mục đích và ý nghĩa của luận án
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Phương pháp nghiên cứu của luận án
Bô cục của luận án
Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngòai về câu phủ định
Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam về câu phủ định Khái niệm "cấu trúc ngữ nghĩa" và "cấu trúc-ngữ nghĩa" của câu
Khái niệm "cấu trúc ngữ nghĩa" của câu
Khái niệm "cấu trúc-ngữ nghĩa" của câu
Khái niệm “tầm tác động của ý phú định'"
Khái niệm “tầm tác động của ý phủ định” theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Iiước ngoài
Khái Iiiệm “tầm tác động cúa V phú định" trong ngữ pháp Việt Nam
“Tầm tác động của ý phủ định” và việc phân chia cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định theo “tầm tác động của ý phủ định”
Tiểu kết
Trang 4MIÊU TẢ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CÂU TRÚC-NGỮ NGHĨA
CỦA CẦU PHỦ ĐINH TIẾNG ANH VÀ TIÊNG VIỆT
4 Các phương thức thể hiện câu phu định tiếng Anh và tiếng Việt 49
5 Các mô hình (cấu trúc-ngữ nghĩa) câu phu định tiếng Anh và tiếng
Việt: các mô hình và các biến thể
53
5.1.1.1 Cấu trúc phu định có từ phủ định NOT hoặc hình thức rút gọn N'T 53
Mô hình E1 : Cấu trúc phủ đinh trơ đôna từ (phu đinh vi naữ) 53
Mô hình E3 : Cấu trúc DỈ1U đinh bổ ngữ Inme neừ và đinh ntỉữ 66
Mô hình E5 : Cấu trúc phủ đinh danh naữ làm chú nsữ và hổ neữ 78
Mô hình E7 : Cấu trúc phủ đinh đinh neữcủa trane neữ 88
Mồ hình E8 : Cấu trúc phu đinh linh lưưc bane NO NOBODY 89
Mỏ hình E10 :Cấu trúc phủ đinh trane ncữ bằna HARDLY SELDOM 95
Trang 5Mổ hình El 1 : Cấu trúc phu đinh trana neữ hầna ciới từ WITHOUT,
>.1.2.2 Cấu tạo ý phú định dùne câu trúc TOO + Adị/Adv + to-V 104
ị 1.3 Cấu tạo ý phủ định theo phương thức hình thái học : ] 05
Mô hình E 15.: Cấu trúc càu phú đinh có lừ phu đinh liếp tổ 105
Mô hình E/V16 : Càu phú đinh có các lừ hàm V phu đinh 108
Mỏ hình E/V17 : Câu phu đinh theo khuôn thành neữ phủ đinh 108
ĐỐI CHIÊU NHŨNG ĐẶC TRƯNG CÂU TRÚC-NGỮNGHĨA
CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH TIÊNG ANH VÀ TIÊNG VIỆTPhân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định theo phương thức 134 cấu tạo
Trang 6I Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa cáu phú định theo phưong thức 135
1 Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phu định tác động lén chú ngữ 163
2 Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lẽn vị ngữ 165
3 Phân tích đối chiếu cấu trúc-ii2;ữ nghĩa phu định tác độnơ lên toàn 170
câu
1 Phân tích đối chiếu cấu tníc-ngữ Iighĩa phu định tác động lên bố ngũ' 173
Phân tích đối chiếu cấu trúc-ngũ' nghĩa phu định tác động lên trạng 175ngữ
Phản tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định tác động lên định 176ngữ
rong 4
NHỮNG ÚNG DỤNG QUAN TRỌNG CỦA PHÂN TÍCH ĐOI
CHIÊU CÂU PHỦ ĐINH TIÊNG ANH VÀ TIÊNG VIỆT VÀO
VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH VÀ TIÊNG VIỆT
Mối quan hệ giữa việc học ngôn ngữ hai (ngọai ngữ) với các ngành 180 ngón ngữ học và tâm lý học
Trang 7Phân tích đối chiếu cấu trúc càu tiếng Anh và tiếng Việt trên bình 187 diện cấu trúc-ngữ nghĩa
Những kiến nghị ứng dụng từ kết quá phân tích đối chiếu của luận án 191
1 Phân tích đối chiếu và khá năng dự đóan các cấu trúc không tương 191
ứng, các lỗi
2 Phân tích đỏi chiếu trong việc phàn tích các cấp độ khó khăn khi học 192
cấu tạo câu
3 Phân tích đối chiếu trong việc thiết k ế các bài tập cấu trúc 193
4 Phân tích đối chiếu trong thực hành dịch cấu trúc câu 194
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu đề tài của luận án :
Luận án này có tên là : PHÂN TÍCH Đ ố i C H lẾ ư CÂU PHỦ ĐỊNH TIÊNG ANH VÀ TIẾNG V Ệ T TRÊN BÌNH DIỆN C Ấ ư TRÚC-NGỬ NGHĨA Hướng nghiên cứu của luận án là phân tích đối chiếu ngôn ngữ trên bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa biểu hiện Luận án tập trung miêu tả các đặc trưng cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên ngữ liệu được viết trong các tác phẩm nghiên cứu, tác phẩm văn học đơn ngữ và song ngữ Trong quá trình thực hiện với việc lấy tiếng Anh là ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu, luận án sẽ tập trung chủ yếu vào so sánh đối chiếu đặc điểm của hai ngôn ngữ và tìm ra những vận dụng thích hợp vào việc giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt như những ngoại ngữ
2 Mục đích và ý nghĩa của luận án :
Luận án nhằm vào việc phân tích đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếng Anh và tiếng V iệ t Luận án được thực hiện vì những lý do sau đây:
2.1 Xét về mặt lý luận, việc nghiên cứu ngữ pháp, đặc biệt là cấu trúc của đơn vị câu là một trong những nội dung rất quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ dù việc nghiên cứu dựa trên ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp hiện đại Trong số các kiểu câu phân lọai theo mục đích giao tiếp thì câu phủ định là một hiện tượng phổ quát của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Không ai trong hoạt động giao tiếp và tư duy hàng ngày mà không sử dụng câu phủ định Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về câu phủ định trong từng ngôn ngữ Anh và Việt , tuy nhiên việc nghiên cứu đối chiếu đặc biệt là đối chiếu những ngôn ngữ không cùng lọai hình như tiếng Anh và tiếng V iệ t, phản ánh những nền văn hóa khác nhau , cách tư duy kiiông giống nhau của những cộng đồng người sử dụng vẫn chưa nhiều và chưa có ính hệ thống Cho nên việc nghiên cứu đối chiếu cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định
Trang 9tiếng Anh và tiếng Việt sẽ góp phần làm phong phú lý luận của ngữ pháp liên hệ với câu và làm bộc lộ được đặc trưng lọai hình của từng ngôn ngữ
2.2 X ét về m ặt thực tiễn, tiếng A nh đang là m ột trong những ngôn ngữ được dùng
nhiều trong giao tiếp quốc tế hiện nay Số người Việt Nam trong và ngòai nước học
để sử dụng thành thạo tiếng Anh và số người nước ngòai học tiếng Việt ở các nước như Anh, Mỹ ngày càng gia tăng Việc dạy và giúp đỡ cho số những người này giao tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Việt một cách có hiệu quả đang là một xu thế của thời đại mở cửa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những cú “sốc” vể văn hóa Anh-Việt, Việt-Anh, những khó khăn khi sử dụng các câu trong giao tiếp đòi hỏi người dạy phải có một kiến thức về phân tích đối chiếu ngôn ngữ.Việc dạy
và học ngoại ngữ không thể không dựa vào những thành tựu của ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học đối chiếu nói riêng Và đó cũng là lý do để chúng tôi thực hiện luận án này
2.3 Một lý do cũng không kém phần quan trọng trong việc chọn đề tài này là trong thực tế giảng dạy chúng tôi chưa thấy có một công trình nghiên cứu đối chiếu về cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định một cách hệ thống để giúp cho người Việt Nam học tiếng Anh và người nước ngòai học tiếng Việt Với tư cách là một giảng viên tiếng Anh chúng tôi muốn đóng góp những ý kiến mang tính giáo học pháp vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ Anh và Việt trên cơ sở phân tích đối chiếu
3 Đỏi tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án :
Luận án tập trung vào việc đối chiếu những đặc trưng về cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định mà chủ yếu là câu tường thuật phủ định tiếng Anh vù tiếng Việt.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu trúc-ngữ nghĩa của câu tường thuật phủ định chứ không phải là ngữ nghĩa hay các lớp nghĩa của câu tường thuật phủ
định Luận án sẽ phân tích sự biểu hiện của ý nghĩa phủ định (không phân biệt phủ định miêu tả hay phủ định bác bỏ) qua các phương tiện ngữ pháp, từ vựng có sẵntrong câu phủ định tiếng Anh có đối chiếu với tiếng Việt Mặc dù ý nghĩa phủ định
Trang 10bao gồm phủ định miêu tả và phủ định bác bỏ nhưng do phú định miêu tả thường được thể hiện bằng các phương tiện cụ thế còn phú định bác bỏ thường phái dựa vào tình huống để nhận diện nên luận án tập trung chủ yếu vào ý nghĩa phủ định miêu tả Trong trường hợp có những phương tiện cụ thể biếu hiện ý nghĩa phủ định bác bỏ mà không dựa vào tình huống thì luận án sẽ phân tích tổng quát mà không
đi sâu vào ý nghĩa phủ định bác bỏ Luận án sẽ không lấy việc phân tích cấu trúc-
ngữ nghĩa câu phủ định theo quan điếm ngữ nghĩa lô-gích tình thái, ngữ nghĩa học
thuần túy, hoặc ngữ dụng học làm chính mặc dù trong thực tế phân tích đôi lúc đôi nơi luận án có tham chiếu đến Chúng tôi thừa nhận rằng có sự tồn tại của các tầng nghĩa khác nhau trong từng lọai câu phủ định Song trong giới hạn phạm vi đề tài :húng tôi chỉ tập trung vào bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa mà thôi Cấu trúc-ngữ nghĩa được thể hiện trong các mô hình câu phủ định với nhiều chất liệu từ vựng, :igữ pháp làm đầy nó đế biểu đạt ý nghĩa phủ định tương ứng Nói cách khác luận
ín đặt trọng tâm miêu tả lớp nghĩa biểu hiện của câu tườỉìg thuật phủ định và mặt hiển ngôn của nghĩa phủ đinh được biểu hiện qua các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện tìm thấy được trong các câu mà cộng đồng người nói tiêng Anh cóììiỊ nhận là :âu phủ định, và đối chiếu với các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện nghĩa phủ đinh
ương ứng trong tiếng Việt Trên cơ sở đó xác lập các nét tương đồng và dị biệt giữa lai thứ tiếng trong lĩnh vực này
Trong quá trình đối chiếu luận án đi sâu vào phân tích tầm tác động của ý )hủ định (gọi tắt là tầm phủ định) (scope of negation) trong câu phủ định tiếng Anh 'à tiếng Việt Chính tầm phủ định này đã làm nên sự phân loại câu phủ định thành :âu phủ định mệnh đề (propositional negation [51], [22]; clausal negation [33]; entential negation [45], [58]) và câu phủ định yếu tố dưới câu (sub-clausal legation [33]; câu phủ định các thành tố (constituent negation [58]) Sự phân loại
ày sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích đối chiếu các mô hình và biến thê
nô hình) câu phủ định xét về tầm phủ định trên bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa
Trang 11Khi đối chiếu, luận án cũng đề cập đến vai trò của động từ (trong tiếng Anh)
à vị từ (trong tiếng Việt) trong thành phần vị ngữ trong việc chi phối các tham tô hung quanh nó khi bị phủ định, vai trò của các từ phiếm định (indefinites), các từ
ịnh lượng (quantifiers) trong câu phủ định của tiếng A nh và tiếng V iệt Việc
ghiên cứu sự tác động của các từ này sẽ giúp hiểu sâu hơn về sự giống nhau và hác nhau giữa các mô hình và các biến thể câu phủ định trong tiếng Anh và tiếng 'iệt trên bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án :
Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
.1 Xác lập khái niệm cấu trúc-ngữ nghĩa cáu phủ định, xem nó như là chỗ dựa cơ
ản của việc nghiên cứu trong các phần tiếp theo
.2 Xác lập phạm vi nghiên cứu câu phủ định là cơ sở của việc nghiên cứu của
lận án
.3 Phân tích miêu tả, phân loại các mô hình câu phủ định trong tiếng Anh (ngôn
gữ cơ sở) và sự thể hiện tương đồng hoặc dị biệt, tương ứng hay phi tương ứng qua
ác mô hình phủ định trong tiếng Việt (ngôn ngữ đối chiếu) để thấy quang cảnh hung của câu phủ định mà luận án nghiên cứu (phạm vi nghiên cứu câu phủ định) .4 Phân tích đối chiếu tìm ra sự tương đổng và dị biệt về cấu trúc-ngữ nghĩa của
ìu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt được biểu hiện qua các phương tiện ngữ pháp
dặc các phương tiện từ vựng-ngữ pháp thường dùng trong hai ngôn ngữ Anh và
iệt
5 Rút ra những nhận xét tổng quát về lý luận và thực tiễn qua việc nghiên cứu
iu phủ định tiếng Anh và tiếng Việt và nêu những ứng dụng có tính giáo học pháp 3ng việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là những ngọai ngữ
Phương pháp nghiên cứu của luận án :
Với mục đích đối chiếu làm sáng tỏ sự tương đồng và dị biệt, những tương
Ìg và phi tương ứng của câu phủ định giữa tiếng Anh và tiếng Việt, và với việc lấy íng Anh làm ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu để làm sáng tỏ
Trang 12tặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của câu phủ định tiếng Anh, luận án sẽ được nghiên :ứu theo phương pháp :
í.l Phân tích những kiến giải về mặt lý luận có liên quan đến hiện tượng phủ lịnh, câu phủ định và các lọai câu phủ định thuộc bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa đã
tược trình bày ở nước ngòai và ở Việt Nam
Í.2 Khảo sát và thống kê các mô hình và các biến thể dựa vào các phương tiện )iểu hiện và tầm phủ định 793 câu phủ định tiếng Anh trích từ 13 truyện ngắn và 3 ruyện dài đơn ngữ, song ngữ Anh-Việt của các nhà văn Anh, Mỹ hiện đại và 798 :âu phủ đinh tiếng Việt trích từ 57 truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam hiện đại.5.3 Sử dụng các loại hình phân tích miêu tả, phân tích đối chiếu, phân tích so sánh
:huyển dịch để xác định sự tương đồng và dị biệt, tương ứng và phi tương
ào đối chiếu cách kết hợp các yếu tố trong cấu trúc
việc đối chiếu ở cấp độ cấu trúc câu và các thành tố trong câu, các khuôn thành
gữ (các khuôn ổn định) nhằm phát hiện những giống nhau và khác nhau về mặt iểu hiện các đặc trưng cấu trúc-ngữ nghĩa phủ định
Trong viêc miêu tả-đối chiếu chúng tôi sử dụng đồng thời nhiều thuật ngữ
ia ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp chức năng vừa phục vụ
Trang 13;ho yêu cầu lý luận và vừa là phục vụ việc dạy và học ngọai ngữ, thực hành ngọai
Igữ M ột số thuật ngữ trong cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc thông báo, cấu trúc thông
;in, cấu trúc nghĩa biểu biện của câu phủ định nếu chưa có thuật ngữ tương đương rong tiếng Việt, chúng tôi sẽ tạm dịch sang tiếng Việt có kèm theo thuật ngữ tiếng
\n h gốc Ngoài ra, nhiều ví dụ minh họa của tiếng Anh sẽ được dịch sát tìmg từ
;ang tiếng Việt (có thể có kèm theo dịch ý) nếu chúng tôi không tìm thấy những
;ấu trúc tương ứng trong tiếng Việt Những câu chuyển dịch không có nguồn trích
iẫn từ sách song ngữ là của luận ấn Nhiều câu tiếng Việt mặc dù nội dung ngữ
Ighĩa không giống với tiếng Anh nhưng có cấu trúc-ngữ nghĩa giống nhau cũng sẽ iược sử dụng để minh hoạ nhằm tránh việc dịch quá nhiều những câu có cùng cấu rúc trong hai ngôn ngữ
í Bô cục của luận án :
L.uận án gồm 4 chương và các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục rhương 1 : Những cơ sở lý luận của luận án
Ihương 2 : Miêu tả những đặc tiling của cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếng
\nh và tiếng Việt
thương 3 : Đối chiếu những đặc trưng của cấu trúc-ngữ nghĩa câu phủ định tiếng
\nh và tiếng Việt
rhương 4 : Những ứng dụng quan trọng của phân tích đối chiếu câu phủ định tiếng
*ưih và tiếng Việt vào việc giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 14CH Ư Ơ N G 1 :NHỮNG C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
Sự phủ định là một bộ phận của hoạt động nhận thức, của quá trình hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người Sự phủ định là một phạm trù cơ bản của tư duy, của lô-gích hình thức Nó đối lập với phạm trù khẳng định Vì vậy sự phủ định đồng thời là đối tượng nghiên cứu của triết học, lô-gích học và ngôn ngữ học
1.1 Phủ định xét về m ặt triết học : v ề mặt triết học, phủ định được coi như một
giai đoạn tất yếu của sự phát triển, là điều kiện của sự biến đổi về chất của các sự vật Thế giới vật chất vận động và phát triễn không ngímg Một dạng nào đó của vật chất được sinh ra, tổn tại, rồi mất đi, được thay thế bằng một dạng khác Triết học gọi sự thay thế đó là sự phủ định Sự phủ định như thế là một yếu tố nhất thiết phải
có của sự vận động và phát triển vì không có lĩnh vực nào lại có thể có sự phát triển nếu như không phủ đinh những hình thức tồn tại đã có từ trước Thêm vào đó, khi nói đến sự phủ định, triết học duy vật biện chứng không có ý nói đến bất kỳ sự phủ định nào mà chỉ nói đến sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển, cho cái mới ra đời thay thế cái cũ Nguyên nhân của cái mới ra đời thay thế cái cũ, tức là nguyên nhân của sự phủ đinh, nằm ngay trong bản thân sự vật, nó là kết quả của những mâu thuẫn được giải quyết trong bản thân mỗi sự vật Vì vậy , sự phủ định là có tính khách quan, là một yếu tố tất yếu của sự phát triển Chẳng hạn, những định luật và học thuyết khoa học ngày càng phát triển là kết quả của quá trình phủ định của những tri thức đúng đắn, sâu sắc đối với những tri thức sai lầm toặc kém sâu sắc, không đầy đủ Ngoài ra, phủ định là kết quả của sự tự thân phát :riển trên cơ sở giải quyết những mâu thuẫn vốn có của các sự vật và hiện tượng Z!ho nên cái mới ra đời không thể là một sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch trơn,
nà là một sự phủ định có kế thừa Cái mới ra đời trên cơ sở cái cũ vì vậy nó có :họn lọc, giữ lại và cải tạo những mặt còn thích hợp của cái cũ để chuyển sang cái
nới, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt gây cản trở cho sự phát triển Chẳng hạn,
Trang 15rong lĩnh vực nhận thức, triết học Mác ra đời giữa thế kỷ XIX, nó đã kế thừa mọi
;iá trị tư tưởng của quá khứ, mà trực tiếp là các giá trị của nền triết học cổ điển )ức Với đặc điểm như vậy, phủ định biện chứng, không chỉ là nhân tố khắc phục :ái cũ , mà còn là gắn liền cái cũ với cái mới, cái khẳng định với cái phủ định, tạo lên vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và sự phát triển Phân tích sự phủ định xét về nặt triết học có thể giúp chúng ta nhận thức được một quan niệm chân chính về sự )hát triển phải là một thái độ ủng hộ cái mới, đấu tranh cho cái mới, khẳng định :ái mới, phủ định cái cũ, chống lại cái cũ , lỗi thời kìm hãm sự phát triển Do đó :húng ta có thể nói sự khẳng đinh-sự phủ định luôn luôn gắn liền với quá trìnhìhận thức của chúng ta về sự phát triển của thế giới khách quan [123, 455]
'.2 Phủ định xét về mặt ìô-gích học : Phủ định là một thao tác lô-gích, nhờ đó mà
ừ một phán đoán này tạo ra được một phán đoán mới (gọi là phủ định cái xuất )hát) sao cho nếu phán đoán xuất phát là chân ]ý thì sự phủ định phán đoán ấy là
ai, còn nếu phán đoán xuất phát là sai thì cái phủ định nó là chân lý Như chúng ta [ã biết, phán đoán là một hình thức cơ bản của tư duy, dưới dạng khẳng định hoặc
>hủ định, thể hiện nhận thức con người về những đối tượng trong thế giới khách
|uan Một phán đoán sẽ có một và chỉ một trong hai giá trị đúng hoặc sai Hai giá
rị này được kí hiệu bằng hai chữ đ (đúng) và s (sai), hoặc hai số 1 và 0 Trong lô-
;ích, sự phủ định phán đoán được xác định một cách duy nhất bởi quy tắc "Nếu hán đoán p (la) sau đây là đúng thì phán đoán ~p (lb) sai còn nêu phán đoán (la) sai
hì phán đoán (Ib) đúng
ỉa) p = Bức tranh này đẹp.
rí dụ (2a) và (2b) cũng làm rõ định lý trên :
la) p = Bill painted the house (Bill sơn nhà)
]b)~p = Bill didn't paint the house.(Bill không sơtì nhà) [2 2 ,4 3 1 Ị
Trang 16lột phán đoán là đúng khi nó phù hợp với thực tê khách quan , có thể chứng minh
ược như phán đoán ( 3 ) hoặc có thể trình bày dưới dạng nguyên lý, tiên để như
hán đoán ( 4 ) :
?) p = AU elephants are animals.
ị) p = Qua một điểm ở ngoài một đườỉig thắng ta kẻ được một đườnẹ thẳng song ong với đường thẳng đó ( Tiên đề về đường thẳng song song trong hình học
Nuclide)
Về mat cấu tao, từ phán đoán a, ta tạo được phán đoán phủ định của nó bằng
ách đặt tác tử phủ định vào trước phán đoán này : ~ a Đọc là "không a" Tác tử
hủ định được định nghĩa qua bảng chân lí sau :
)a) p = Ba đọc báo và Năm coi ti vi.
>b)~p —Không' phải Ba đọc báo và Năm coi ti vi [92, 531
Mỗi phán đoán đều có dạng :
s (Subject) là p (Predicate) ( phán đoán khẳng định )
s không là p ( phán đoán phủ định )
Ớ đó s được đọc là chủ từ
p được đọc là vị từ
Các phán đoán có thể phân loại theo chất và lượng thành :
Phán đoán khẳng định chung ( được kí hiệu là A ) có dạng thức lô-gích là :
A = mọi s là p
í dụ :(6) p = M ọi người đểu s ẽ chết.
Trang 17Phán đoán khẳng định riêng (được kí hiệu là I) có dạng thức lô-gích là :
/ = một s ố s, nhưng không phải ì ù mọi s , là p
rí dụ :
7) p = Chiếc bảng này màu đen.
. Phán đoán phủ định chung (được kí hiệu là E) có dạng thức lô-gích là :
E — mọi s ị đều ) không là p ỉ\ í dụ :
8) p = Tất cả chúng ta đều không là diễn viên.
■ Phán đoán phủ định riêng ( được kí hiệu là o ) có dạng thức lô-gích là :
o = một s ố s , nhưng không phải là mọi s, không là p ĩíá ạ :
iốn loại phán đoán này có quan hệ chặt chẽ với nhau về giá trị chân lý và chúng ược biểu hiện trên 4 đỉnh của một hình vuông được gọi là hình viiông lô-gích mà ở
ó quan hệ phủ định sẽ là quan hệ đường chéo Nếu phủ định một phán đoán khẳng ịnh chung A thì được một phán đoán phủ định riêng o và nếu phủ định một phán oán khẳng định riêng I thì được một phán đoán phủ định chung E Ta có :
'uan hệ giữa các phán đoán cùng kiểu ( cùng khẳng định hoặc cùng phủ định) là
lững quan hệ thứ bậc : nếu phán đoán nằm ở đỉnh trên đã đúng thì phán đoán nằm
đỉnh dưới tương ứng cũng đúng Ta có :
ông thức V : A -> I
ăng thức VI : E -> o
Trang 18ịuan hệ giữa các phán đoán chung A và E là quan hệ đối lập, nghĩa là chúng hông thể cùng đúng, còn quan hệ giữa các phán đoán riêng I và o là quan hệ phản tối lập, nghĩa là chúng không thể cùng sai Ta có :
^ông thức vn : A A E ( A và E ) luôn luôn sai
^ông thức VIII : I V o ( I hoặc o ) luôn luôn đúng
Hình 1 [88]
Vê măt biểu hiên, những phán đoán được hình thành nhờ có câu, tức là nhờ
ó ngôn ngữ Tuy nhiên phán đoán cũng chì tương ứng với câu tường thuật khẳng ịnh hoặc phủ định (những ví dụ từ (la) đến (9) trên) vì có thể xác đinh được chúng
ó phù hợp với thực tế khách quan hay không, nghĩa là biết được chúng đúng hay
ai Đây là những câu [34, 91] gọi là câu phân tích (analytic sentence) có thể xác ịnh được giá trị chân lý Còn những câu nghi vấn (lc), câu cảm thán (ld) (thực hất là những câu phủ định từ câu (la)), câu mệnh lệnh (10) đều không phải là hững phán đoán vì chúng không phản ánh hay miêu tả một hiện thực khách quan ào; cho nên không thể xác định được giá trị chân lí của chúng Ngoài ra những
àu tường thuật (11-13) mà [34, 92] gọi là câu tổng hợp (synthetic sentence) tức là
5 thể đúng hoặc sai tuỳ thuộcvào thế giới quan của từng người hoặc những câu mà
)2, 45] gọi là câu nghịch lí ìô-gích cũng không được gọi là những phán đoán vì
nh chân lý của chúng không thể xác định được,
í dụ : (la-d, 10) trích từ [92, 17-47]
a) Bức tranh này đẹp.
b) Bức tranh này không đep.
Trang 19(lc) Sao bảo bức tranh này đep ?
(1 d) Bức tranh này mà đep !
(10) Dừng xe l ạ i
(Mèo không bao giờ sống hơn 20 tuổi)
ị 12) Bachelors cannot form lasting relationships [34, 921 (Những người sống độc thân không th ể tao nên nhữ ng quan hệ lâu dài)
(13) No cat likes to bathe.
Có mối quan hệ chặt chẽ giữa phán đoán khẳng địiih và câu tường thuật khẳng định (gọi tắt là câu khẳng định), giữa phán đoán phủ định và câu tường thuật phủ định (gọi tắt là câu phủ đinh), đồng thời giữa phán đoán khẳng định-câu khẳng định và phán đoán phủ định-câu phủ định Chính vì vậy mà từ lâu trong ngôn ngữ học, câu 3hủ định luôn được đặt trong mối quan hệ với phán đoán phủ định và được nêu ra xong quan hệ chặt chẽ với câu khẳng định (cũng được hiểu trên cái nền của phán íoán khẳng định) Hai kiểu câu khẳng định và câu phủ định theo quan niệm này iược coi như làm thành một cặp đối lập với nhau Những ví dụ (la),(lb);(2a),(2b); 5a),(5b) nêu trên phù hợp với truyền thống này Tuy nhiên, quan niệm này cũng đã
lặp những khó khăn về lýluận khi trong các sách giảng dạy tiếng nước ngoài người
a ra các loại bài tập chuyển đổi câu khẳng định thành câu phủ định hay ngược lại
àm như thể câu khẳng định nào cũng có một câu phủ định đối lập với nó Ví dụ 14) sau đây theo [83] [84] có thể chứng minh rằng trong thực tế giao tiếp không hiếu trường hợp trong ngôn ngữ tồn tại câu phủ định mà không thể có câu khẳng tịnh tương ứng
ỉ í dụ :
14) Đó là một huyện Yên Pìiong, ngập ngụa trong nước Đồng khon& tì lấ y bờ, hông thấy lúa, chỉ như một biển nước mênh mông ( Đào Vũ ) [84, 2451
Trang 20oặc ví dụ (15a) và (15b) sau đây theo [94] cũng chúng minh rằng không có một
í tương xứng , một thế song hành giữa câu khẳng định và câu phủ định như người
ằm trên đường chéo của hình vuông lôgích có quan hệ phủ định lẫn nhau thì sẽ trở
lành những câu phủ định được chấp n h ận sử dụng trong giao tiếp ngôn ngữ C hẳng
ạn về phương diện lôgích , cặp câu (16 ) và ( 19 ) có quan hệ phủ định lẫn nhau
lưng về dạng thức ngôn ngữ khi giao tiếp thì chúng ta thường nói câu phủ định
la câu ( 16 ) là câu (18b) chứ không phải là câu (19) Tương tự , về phương diện gích, cặp câu (17) và câu (18) có quan hệ phủ định lẫn nhau theo công thức II : ~
= E nhưng về dạng thức ngôn ngữ khi giao tiếp thì chúng ta thường nói câu phủ Iìh của câu (17) là câu (19) chứ không phải là câu (18) Điều này chứng minh
ìg dạng thức phủ định ngôn ngữ không đổng nhất với sự phủ định lôgích Mặc dù
ĩa ngôn ngữ và lôgích có những quan hệ nhất định nhưng không có sự đồng nhất
Trang 21hiều qui tắc lôgích có thế dùng để giải thích các qui tắc ngôn ngữ nhưng cũng có lững hiện tượng rất chuẩn trong ngôn ngữ mà lại "không hợp lôgích" Bên cạnh lững bất cập về sự không đồng nhất giữa ngôn ngữ và lôgích vừa nêu trên, chúng còn nhận thấy một vấn đề khác nảy sinh từ mối quan hệ giữa hình thức biểu hiện
I ý nghĩa của các phán đóan phủ định Trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ, cùng
ột hiện thực khách quan có thể dùng những dạng thức ngôn ngữ khác nhau để
ểu hiện Ý nghĩa phủ định không chỉ được biểu hiện bằng câu tường thuật phủ
nh (lb) từ câu tường thuật khẳng định (la) như ví dụ :
ữ) Bức tranh này đẹp.
b) Bức tranh này không đep.
à còn bằng các câu nghi vấn (lc) hoặc câu cảm thán (ld ) từ câu (la ) như ví dụ :
c) Sao bảo bức tranh này đep ?
d) Bức tranh này mà đep !
I cả những câu khẳng định khác từ câu (1 a) như ví dụ :
e) Bức tranh này đâu có đep.
g) Bức tranh này nào có đep.
h) Bức tranh này đep sao đươc.
i) Bức tranh này đen th ế nào đươc.
íơng tự như vậy với những câu tiếng Anh (11), (12), (13) nêu trên hoặc những câu
Trang 22iựa trên những lý giải về mặt lô-gích học thì chí mới giúp cho người nghiên cứu Ìgôn ngữ và người học ngọai ngữ hiểu được tính phổ quát của các thao tác tư duy
;ủa con người mà chưa giúp cho họ hiểu được hết những nét tinh tế của ngôn ngữ /à thấy hết được những điểm tương đồng và dị biệt của từng ngôn ngữ cần nghiên
;ứu Do mục đích nghiên cứu của luận án, chúng tôi không đi sâu vào những vấn
íề liên quan đến các phán đóan phủ định của lôgích học mà tập trung nghiên cứu
;âu phủ định trên quan điểm ngôn ngữ học
1.3 Phủ định xét vê mặt mục đích phát ngôn trong giao tiếp ngôn ngữ : Câu phủ
3ịnh là một trong những loại câu được phân chia theo mục đích phát ngôn Như
;húng ta biết, ngôn ngữ là một phương tiện quan trọng để giao tiếp giữa người và Ìgười Trong giao tiếp nguời ta có thể dùng câu để thực hiện các mục đích giao iếp khác nhau như kể, hỏi, nêu yêu cầu hoặc bộc lộ tình cảm, cảm xúc về một sự /ật hay sự việc Câu được phân loại theo mục đích phát ngôn dựa trên 2 đặc điểm
;au đây :
(1) Đặc điểm ngữ nghĩa hay là mục đích phát ngôn
(2) Đặc điểm cú pháp hay là đặc điểm riêng về cấu trúc
'íếu chỉ dựa vào đặc điểm ngữ nghĩa để phân loại thì sẽ không thấy hết sự phức tạp
ta dạng của cấu trúc ngôn ngữ trong khi hành chức V í dụ : m ục đích hỏi , chất vấn
ó thể được biểu hiện bằng những cấu trúc nghi vấn , cấu trúc tường thuật khẳng
tịnh hoặc phủ định Còn nếu chỉ dựa vào đặc điểm cú pháp thì trong giao tiếp một
âu có cấu trúc nghi vấn nhưng mục đích phát ngôn có thể là một lời cảm thán, mộtlệnh lệnh hay một lời chào hỏi
Trên cơ sở nhũng nguyên tắc cơ bản trên, theo truyền thống câu được phân Dại như sau :
.3.1 Câu tường thuật (câu kể) (declarative sentence / statement) :
) Mục đích phát ngôn : Dùng để kể, xác nhận là có hay không có, mô tả một vật
ới các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự iện với các chi tiết nào đó v ề mặt lôgích học cổ điển thì câu tường thuật là hình
Trang 23hức duy nhất có khả năng biểu thị một phán đoán lôgích có tính chân thực hay :hông chân thực Trong thực tế giao tiếp, câu tường thuật có thể dùng để thực hiện nột mệnh lệnh, một yêu cầu, một lời cầu xin
ì) Cấu trúc cú pháp : ngoài cấu trúc thể hiện bằng thực từ và phụ từ của chúng, câu
ường thuật nhiều khi còn sử dụng các từ tình thái riêng để bày tỏ thái độ đối với lội dung câu nói, hoặc đối với người nghe hoặc có khi chỉ nhằm hoàn chính câu, riúp cho câu đứng được [84, 227]
)1 Câu tường thuật khẳng định có cấu trúc cú pháp :
* không có hình thức riêng (chỉ sử dụng cấu trúc thể hiện bằng thực từ và phụ từ)/ í dụ :
: chỉ trong trường hợp nhấn mạnh nghĩa, thì dùng trợ động từ doldoes ở hiện tại, ĩid ở quá khứ (trong tiếng Anh) hoặc dùng phụ từ có (trong tiếng Việt)
23) (A 1 thought John worked hard.)
»2 Câu tường thuật p h ủ định có cấu trúc cú pháp :
dùng trợ động từ + từ phủ định no, not, hardly, (trong tiếng Anh) hoặc thêm từ
à kết hợp từ phủ định không, chưa, chẳng/ không phải, chẳng phải, chưa phải là) (trong tiếng Việt) vào một số vị trí của câu tường thuật khẳng định.
21) The boat has left.
22) Anh Tư làm việc tốt.
[63, 192] [102,199]
B But he did work hard.
24) Thực tình, em có nối dối.
[63, 4091
[ 102 , 200 ]
rí dụ :
25) (A She sees me eveỉy week >
B She doesn't see me every week.
16) Trời không tối lắm.
thêm trợ từ mà vào cấu trúc tường thụât khẳng định (trong tiếng Việt),
í dụ :
[63, 184]
[102, 2001
Trang 24* thêm trợ từ đâu để phủ định bác bỏ (trong tiếng Việt)
Ví dụ :
1.3.2 Câu nghi vấn (câu hỏi) ( interrogative sentence/ question ) :
a) Mục đích phát ngôn : Dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ
đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó; dùng để hỏi về sự tồn tại của cả
một sự việc hoặc đưa ra một giả thiết đã ít nhiều có tính chất khẳng định (hỏi tổng quát) hoặc nhắm hỏi về một chi tiết trong sự việc (hỏi bộ phận) hoặc đưa ra những khả năng khác nhau cho người trả lời lựa chọn mà trả lời (hỏi lựa chọn) Câu nghi vấn hoặc câu nghi vấn phủ định còn được dùng để khẳng định, để cầu xin , mời mọc hoặc để chào hỏi, v.v
b) Cấu trúc cú pháp :
hỉ.Càu nghỉ vấn tổng quát (câu nghi vấn giả thiết) thường dùng :
* các trợ từ phủ định nối đuôi (tag question-trong tiếng Anh) đặt ở cuối câu để nêu
ị ú thiết hoặc các trợ từ nghi vấn có không ?, có phải không ?, có đúng không ?, đã chưa ?, xong (rồi, xong rồi) chưa ?, p h ả i chăng ? (trong tiếng
Việt)
k sử dụng cấu trúc nghi vấn đảo ngữ (YES/NO-question) (trong tiếng Anh) hoặc
:ắc trợ từ như à , ư, hả, không, chăng, chưa, phỏng, nhỉ, à cuối câu (trong tiếng
Ví dụ :
'29) He likes his job, doesn't he ?
30) Tối qua, anh đi xem chiếu bóng với cô Lan, có phải không ?
[63, 86] [102,203]
/iệt)
ỉi du :
31) Does he like Mai-y ?
32) Mình anh có tới ba trái à ? (Giang Nam)
2 Câu nghi vấn bộ phậ n thường dùng :
163, 192] 1102,2031
Trang 25cấu trúc WH-question sử dụng các từ : what, which, who, where, when, why, low, how many, how m uch, vảo đầu câu những câu nghi vấn có hoặc không có tảo ngữ (trong tiếng Anh) hoặc các đại từ nghi vấn hoặc các ngữ tương đương : ai,
i, đâu, sao, nào, (như) thê nào, bao nhiên, mấy, bao giờ, ban lâu, đâu, người lào, cái nào, chỗ nào ? vào đầu câu (trong tiếng Việt)
ỉ í dụ :
>3 Càu nghi vấn có lựa chọn thường dùng :
: từ or (trong tiếng Anh) hoặc từ h a y , hoặc (trong tiếng Việt)
ỉ í dụ :
36) Em có nói thật kỉìông, hay một lần nữa, lại dối anh ? í ỉ 02, 202]
4 Cáu nghi vấn (khẳng định hoặc ph ủ định) dùng đ ể khẳng định :
rí dụ :
37) Ảy no o n e g o in g to d e fe n d m e ? (= Surely someone is going to defend me.)
18) Đời nào bánh đúc có xươìĩg ? ịTục ngữ) [102, 204Ị
5 Câu nghi vấn dùng đẻ p h ủ định :
rí dụ :
5 Câu nghi vấn (ph ủ định và khẳng định) dùng đ ể mời mọc, đề nghị, cầu hiến :
í dụ :
Trang 2644) Would you mind signing here ?
45) Ông có diêm không ?
7 Câu nghi vấn (khẳng định hoặc ph ủ định) dùng đ ể cảm thán :
rí dụ :
Í6) Isn 't it a lo v e ly d a y ?
Í7) T h ế thì có khổ cho tôi không ?
[16, 191] (95, 131]
[16, 191]
195, 131] 3.3 Câu m ệnh lệnh (câu thỉnh cầu/cầu khiến) (imperative sentence! ommand/request)
) Mục đích phát ngôn : dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực
iện điều được nêu lên trong câu
) Cấu trúc cú pháp:
1) Câu mệnh lệnh khẳng định :
sử dụng động từ nguyên mẫu hoặc trợ động từ Do đứng trước động từ nguyên ìẫu (nếu không có chủ ngữ) hoặc đại từ You , Everybody, Somebody, đứng trước
ộng từ nguyên mẫu (nếu muốn nhấn mạnh người thực hiện mệnh lệnh, lời cầu
hiến); hoặc sử dụng trợ động từ L et đứng trước đại từ me , us, hoặc danh từ riêng
ước động từ nguyên m ẫu (trong tiếng A nh) ; hoặc sử dụng các vị từ , phụ từ m ệnh
:nh đứng trước vị từ như hãy, (trong tiếng V iệ t).
0) You be a doctor and I be the nurse !
1) Somebody call a doctor !
2) Let me think a moment!
3) Hãy nhớ lấy lời tôi ỉ
[16, 193-197] [16, 193-197] [16, 193-197] [16, 193-197] [16, 193-197]
Ị 102, 2041
Trang 27nẫu (nếu muốn nhấn mạnh người thực hiện mệnh lệnh, lời cầu khiến); hoặc sử
iụng trợ động từ L et đứng trước đại từ me, us, hoặc danh từ riêng kèm với từ phủ
lịnh n o t và động từ nguyên m ẫu; hoặc sử dụng trợ động từ ở dạng phủ định D o n 't
ỉứng trước let me, MS,. trước động từ nguyên mẫu (trong tiếng Anh) ; hoặc sử dụng
;ác vị từ mang nghĩa cấm đoán đứng trước vị từ như đìùig, chớ, không được (trong
:iếng V iệ t)
Ví dụ :
'56) Let’s not stay until the end o f the show! 116, 197-198] '57) Don't let me get caught in a traffic jam 116, 197-198]
ĩ.3.4 Câu cảm thán ( câu cảm ) ( exclamatory sentence / exclam ation ) :
ì) Mục đích phát ngôn : dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói.
d) C âu trú c cú p h á p :
H sử dụng các kết cấu bắt đầu bằng W hat/How + chủ n g ữ + động từ, W hat +bỏ ĩgữ +chủ ng ữ +động từ, (trong tiếng Anh) ; hoặc các phụ từ như sao, bao, thay, 'àm sao, xiết bao, đặt ở cuối câu hoặc xen vào nòng cốt câu (trong tiếng Việt),
v^í dụ :
63) M ặt sao dày gió dạn sươììg! ị Nguyễn D u) [102, 205]
Việc phân chia câu theo mục đích phát ngôn một mặt có thể giúp cho ngườiIỌC, người nghiên cứu nhận diện được ý nghĩa của câu và những giá trị ngôn trung Jiác của các loại câu,và, một mặt khác để xác nhận giá trị của các mô hình cấu rúc câu Tuy nhiên nếu phân tích kỹ sự phân loại trên, chúng ta thấy dạng thức phủ
Trang 28linh và ý nghĩa phủ định xuất hiện trong hầu hết các loại câu : câu tường thuật phủ linh, câu nghi vấn phủ định, câu mệnh lệnh phủ định Vậy thực chất câu phủ định
;ó những đặc trưng hình thức và ý nghĩa khu biệt gì so với những kiểu câu khác [rong tiếng Anh và tiếng Việt ? Để hiểu sâu hơn về vấn đề này chúng ta cần điếm qua một vài quan điểm của các nhà nghiên cứu câu phủ định ở Anh, Mỹ, nước ngoài và Việt Nam trước khi xác lập được một quan điếm phù hợp cho việc nghiên :ứu cụ thể của luận án trong bước tiếp theo
1.4 Một vài ý kiên tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định trên quan điểm ngôn
ngữ học :
ỉ 4.1 Một sô quan điềm của các nhà nghiên cứu nước ngòai về câu phủ đinh: Cáu
phủ định được tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau và bổ sung nhau bởi các nhà ngôn ngữ học Anh, Mỹ và nước ngoài O.Jespersen đã tiếp thu quan điểm íôgích và tâm lý học của những người nghiên cứu vấn đề phủ định trong các ngôn Igữ Ấn Âu đồng thời như J.Van Ginneken, B Delbruck, M Knork, M.Rauert, E
Einenkel và G Neckel Năm 1917, ông đã viết tác phẩm tiêu biểu Negation in English and Other Languages ị Phủ định trong tiếng Anh và trong các ngôn ngữ
'chác). [40, 5-80] viết : "Cách dùng chủ yếu của câu phủ định là phủ nhận và tạo sự đối lậ p ” ,
loăc " Khi một từ bị phủ định thường từ đó trở thành từ trái nghĩa với từ khác", hoăc "Có
íhuynh hướng tự nhiên đặt từ phủ định ngay trước từ cần được phủ định (nói chung từ đó là động
ừ)” Đây là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Anh một cách
lệ thống theo quan điểm ngôn ngữ học so sánh lịch đại Đóng góp của tác giả là đã iệt kê được nhiều cách thức biểu hiện ý nghĩa phủ định như phủ định mạnh, phủ lịnh yếu, phủ định trực tiếp, phủ định gián tiếp, phủ định trọn vẹn , phủ định không rọn vẹn, phủ định câu, phủ định đặc biệt, và một số khuôn phủ định-thành ngữ
"uy nhiên, một số lý giải của tác giả vẫn còn bị ảnh hưởng quan điểm lô gích học
à tâm lý học Do không đưa ra được những tiêu chí rõ ràng nên tác giả đã đưa vào anh mục các phương thức thể hiện phủ định những câu nhượng bộ, nhũng từ có ý
Trang 29nghĩa từ vưng phủ định, và nhiều ngữ liệu tiếng Anh không còn được người Anh sử dụng trong giao tiếp hiện nay.
Khởi đầu từ Jespersen, trong nhiều tài liệu và bài nghiên cứu về sau, nhiều nhà ngôn ngữ học thuộc các khuynh hướng lôgích tình thái, lô-gích-ngữ nghĩa, ngữ nghĩa, ngữ dụng học đã một mặt đưa ra được những ví dụ để chứng minh về sự không đổng bộ giữa ngữ nghĩa của các câu phủ định và các phán đoán phủ định, các định luật phủ định ; một mặt giới thiệu những cách tiếp cận mới, đầy đủ hơn về câu phủ định thông qua các khái niệm mới, các thử nghiệm mới, những qui tắc ngôn ngữ mới để kiểm tra câu phủ định khác với những định luật của phán đoán phủ định trước đây [45], [58] đã phân biệt hai loại phủ định : phủ định lô-gích (logical denial) và phủ định câu (sentential negation) và chứng minh phủ định câu không chịu ảnh hưởng của định luật phủ định kép [45] cũng giới thiệu được một
cách kiểm tra phủ đinh cớw(sentential negation) chính danh bằng các từ tool either, câu hỏi nối đuôi (tag questions), và nhóm từ not even (về mặt ngữ nghĩa thì các
kiểm tra này có tác dụng tốt nhưng về mặt cú pháp thì còn nhiều vấn đề cần bàn cãi) [25, 109], [26, 321-351], [27, 157-165] nghiên cứu sự phủ định trên nhiều bình diện: Phủ định thực hiện 3 chức năng quan trọng là (a) phủ nhận tính chân thực của một mệnh đề, (b) khẳng định rằng một sự cố, một tình cánh không diễn ra, (c) bác bỏ một ý kiến, quan điểm của người khác Như vậy phủ định vừa là một tình thái (theo quan điểm lôgích-ngữ nghĩa), vừa là một hành vi ngôn ngữ (theo quan
điểm ngữ dung) "Câu phủ định tạo ra một hành vi ngôn ngữ khác với câu khẳng đinh : trong khi câu khẳng định được dùng đ ể truyền đạt thông tin mới vì nghĩ là người nghe không biết thì câu phủ định lại được dùng đ ể sửa sai những suy nghĩ sai lẩm vì nghĩ là do lỗi của người nghe“
[25], "Câu phủ định được dùng thường xuyên nhất như là một hành vi ngôn ngữ nhằm vào việc
đối lập , sửa sai hoặc bác bỏ “[27, 157] [51, 777] cũng chứng minh câu phủ định là một hành vi ngôn ngữ có hai đặc trưng ngữ nghĩa là hành vi miêu tả sự không tồn tại tức là sự vắng mặt hay biến mất ( non-existence ) và hành vi bác bỏ (rejection) [31] nghiên cứu câu phủ định trên cơ sở ngữ dụng học Sau khi phân tích sự không
Trang 30ỉồng nhất giữa câu phủ định ngôn ngữ và phán đoán phủ định thông qua ví dụ nổi :iếng :
'64) - The king o f France isn’t bald (Vua nước Pháp không bi hói)
[78] trích theo [57, 251] phân tích sự khác nhau giữa hành vi phủ định miêu tả và hành vi bác bỏ qua ví dụ sau đây :
Hành vi bác bỏ thể hiện trong No của phát ngôn B của ví dụ :
(65) A Would you care fo r a drink ?
B No , thanks
Hành vi phủ định miêu tả thể hiện trong No , I am not của phát ngôn B của ví dụ :
(66) A So you are still living out there
B No A am n o t I have rented a flat near the bank
Horn (1989) với tác phẩm A Natural H istoiy o f Negation ịLịch sử phát triển tự ìhiên của sự phủ định) là người thứ hai sau Jespersen (1917), đã phân tích tòan bộ
ịch sử nghiên cứu sự phủ định từ phương đông sang phương tây, từ Aristote cổ đại /ới quan điểm lô-gích hình thức, các quan điểm triết học, tôn giáo về sự phủ định, }uan điểm tâm lý ngôn ngữ học, đến quan điểm xem phủ định là hành vi ngôn ngữ
liên nay Hom đã đề xuất thêm một loại phủ định bên cạnh phủ định bình thường ordinary, truth-functional, propositional negation), đó là phủ định siêu ngôn ngữ
metalinguistic negation) Sự khác nhau giữa hai loại phủ định không thể hiện ở sự
nơ hổ về ngữ nghĩa (semantic ambiguity) mà ở sự mơ hổ về ngữ dụng (pragmatic imbiguity) [22, 392] nghiên cứu câu phủ định (propositional negation/sentential legation) trên quan điểm lô-gích-ngữ nghĩa và xem phủ định là một tình thái Tinh hái là thông tin ngữ nghĩa có liên quan đến thái độ hoặc ý kiến của người nói vế ihững gì được nói trên tòan mệnh đề của câu Theo quan điểm lô-gích -ngữ nghĩa
tì sự phủ định tình thái “chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến một bộ phận của mệnh đ ề mà trạng xái của sự kiện , khả năng chắc chắn , khả năng có thể hoặc nhất thiết phải có của sự kiện có
lể bị nghi ngờ “ và bộ phận tin của câu thường bị phủ định chi phối là mói hoặc được
ác nhận ( new or asserted information ) hay còn gọi là tin không bị ngữ cảnh chi
Trang 31phối của mệnh đề (contextually free aspect of a proposition) Như vậy trong câu sau đây:
(67) - Bill did not see the man who came yesterday.
( Bill đã không nhìn thấy người đàn ông đến ngày hôm qua )
“see the man“ sẽ bị phủ định mà không chứa cả thông tin trong mệnh đề phụ “who came yesterday” vì thông tin này đã bị ngữ cảnh chi phối qua danh từ có quán từ xác định “the” [57] lại nghiên cứu câu phủ định trên những văn bản theo quan điểm ngữ dụng học và nêu ra 4 cách dùng cơ bản của câu phủ định là (1) tác giả phủ nhận những thông tin sai lệch từ kiến thúc nền đã có trước của độc giả , (2) tác giả sửa sai một ý tưởng đã được xử lý trong bài viết, (3) tác giả muốn bày tỏ mộtước mong chưa được hoàn thành của mình đối với độc giả, (4) so sánh-đối chiếucác điểm được trình bày trong bài viết [65] nghiên cứu câu phủ định trên các bình
diện cú pháp, loại hình, ngữ nghĩa và ngữ dụng [65] trích theo [2, 2769]: " Phủ định
trong ngôn ngfí tự nhiên rất khác và phức tạp hơn nhiều so với phủ định lô-gích và phủ định toán học Trong nhiều ngôn ngữ, thật là không đúng khi cho rằng 2 lẩn phủ định trở thành khẳng định
như công thức phủ định kép của phủ định lô-gích Ví dụ tiếng Anh Cockney và Black
English có thể nói là :
(68) - 1 d o n 't s e e n o th in ' n o w h e r e
Phủ định ngôn ngữ bao gồm phủ nhận tính chân thực của câu bi phủ đinh hoặc một bộ phận của câu bằng cách chèn từ phủ định vào câu như sau :
'69) - John likes to w o r k > - John does not like to work.
(Việc nói rằng John thích làm việc là khotJJL đúng) ( John đâu có thích làm việc.)
70) - John does not like beer at lunch.
(John không thick uống bia vào bữa trưa)
7đỉ! phủ định thường được dùng để sửa sai những sự tình mà người nói cho là kiến thức ai cũng nết hoặc đ ể biểu hiện những sự tình p h ổ biến nhất được mong đợi trong tình lniống nói năng
"hình vì vậy mà câu phủ định thường không được dùng để giới thiệu thong tin mới hoặc sự vật
'lới". [19, 17] : “ Câu trần thuật phủ định dùng đ ể cải chính m ột ỷ tưởng sai lẩm, cho người ta
Trang 32biết rằng điều họ có th ể nghĩ tới hoặc mong đợi xãy ra không phải như vậy N hững quan
điểm nghiên cứu trên đã giúp chúng ta thấy được tính phức tạp của việc phân tích câu phủ định trên bình diện ngữ nghĩa-ngữ dụng, một bình diện mà hình thức và cấu trúc không biểu hiện một cách tường minh nội dung ngữ ngh7a-ngữ dụng và phải dựa nhiều vào những suy luận nhiều khi rất chủ quan của người nghiên cứu
Nhằm góp thêm vào bức tranh muôn màu muôn vẻ của việc nghiên cứu câu phủ định, Rubin đã nghiên cíai phủ định ở góc độ giao thoa văn hoá [68, 10-17]
viết : "Để hiếu nghĩa của m ột hình thức mới klìông phải chỉ cần học biết nó được dùng đ ể phủ định hay bác bỏ mà người nước ngoài cũng cần phải học biết sử dụng hình thức thích hợp khi nào và với ai Việc tiếp thụ năng lực giao tiếp đòi hỏi cả 3 cấp độ kiến thức Trước hết, người học từ một nén văn hoá khác phái tìm ra mối quan hệ thích lĩựp giữa hình thức ngôn ngữ và chức năng sử dụng Tiếp theo người ấy cần học biết hành vi ngôn ngữ ấy thực hiện ở những điều kiện
xã hội nào Cuối cùng người ấy còn phải biết những giá trị xã hội nào nằm ẩn dưới các hành vi ngôn ngữ ây”.
Trên bình diện thụ đắc ngôn ngữ ( acquisition of language ), những nhà tâm
lý ngôn ngữ học như Hatch, Bellugi và Klima [73] đã xác định 3 giai đoạn trẻ con thụ đắc câu phủ định trong tiếng Anh :
(1) từ phủ định NOT hoặc NO nằm ngoài câu phủ định và thường đứng đầu câu
Ví dụ :
(71) - Not s o movies ị Không đi xem phim ) ;
(72) - No Mommy do it ị Mẹ không làm điều đó )
(2) từ phủ định nằm trong câu phủ định, nằm gần động từ chính nhưng không dùng kèm với trợ động từ
Ví dụ ;
(73) - Ị no like it (Con không thích cái ấy)
(3) từ phủ định dùng kèm với trợ động từ như người lớn thường dùng
Ví dụ :
(74) - You can't have it ( Bạn khởng có cái đó )
'75) - Vm not happy ( Mình không hanh phúc )
Trang 33[73] cũng nhận thấy trẻ con sử dụng câu phủ định trước hết là để nói về sự không
tồn tại ( nonexistence ) của cái gì đó hoặc một người nào đó ( ví dụ : - no cookie
(không có bánh ngọt )); tiếp theo là phản bác ( rejection ) một điều gì đó ( ví dụ :
no bath ( không tắm)) và cuối cùng là phủ định, không công nhận tính chân thật
của một phát biểu ( ví dụ : - th a t not wine ( cái đó không phải của con ) Như vậy
rõ làng là sự phát triển về mặt thụ đắc câu phủ định của trẻ con không những bị những yếu tố ngữ pháp , ngữ nghĩa mà còn bị những yếu tố ngữ dụng ảnh hưởng Cách tiếp cận câu phủ định của các nhà tâm lý ngôn ngữ học chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta hiểu được mối liên hệ của việc nghiên cứu câu phủ định về mặt ngôn ngữ học và việc ứng dụng sự nghiên círu nhằm giúp người học không bản ngữ ( mà
sự thụ đắc câu phủ định của tiếng mẹ đẻ của họ có thể ảnh hưởng đến sự thụ đắc câu phủ định của một ngôn ngữ thứ hai ) khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ và học sử dụng tốt câu phủ định trong giao tiếp hàng ngày
Còn những nhà ngữ pháp hiện đại Anh, Mỹ như Close, Quirk, Downing và Locke, thì có khuynh hướng dung hoà, vừa mô tả đặc điểm cấu trúc cú pháp vừa nêu ra những đặc điểm ngữ dụng học của câu phủ định thông qua việc phân tích tầm phủ định (xét về mặt cú pháp và mặt ngữ nghĩa), vai trò của các từ định lượng (quantifiers), các từ chỉ mức độ (intensifiers), sự thể hiện ý nghĩa phủ định thông qua các kiểu câu khác như câu khẳng định, câu nghi vấn, câu cầu khiến [63, 183190] : phủ định của câu đơn tiếng Anh được thực hiện bằng cách chèn NOT hoặc N'T vào giữa trợ động từ và vị từ; để phủ định mạnh có thể dùng BY ANY MEANS,
A BIT, ; tầm phủ định (scope o f negation) bắt đầu từ từ phủ định đến cuối câu
hoặc đến bắt đầu một trạng ngữ cuối cùng (chủ ngữ và trạng ngữ đầu câu thường nằm ngoài tầm phủ định, trợ động từ đôi khi nằm ngoài đôi khi nằm trong tầm); ngữ điệu và trọng âm đối lập (contrastive stress) cũng đóng vai trò quan trọng trong /iệc xác định tầm phủ định và tiêu điểm phủ định (focus); có những câu hỏi phủ ỉinh tiềm ẩn nghĩa khẳng định
Trang 34Nói chung về lĩnh vực lý luận các nhà ngôn ngữ với nhiều quan điểm khác nhau đã cố gắng lý giải câu phủ định một cách khoa học hơn, tránh những ảnh hưởng của quan điểm lô-gích hình thức Tuy nhiên khi phân tích câu phủ định trên bình diện ngữ nghĩa-ngữ dụng vẫn không tránh khỏi nhũng tư biện do viện dẫn các kiến thức ngoài ngôn ngữ như tiền giả định, ngữ cảnh, tình huống, giá trị xã hội khi
sử dụng các hành vi ngôn ngữ, thái độ và tâm lý chủ quan của người nói và người viết, những nhận thức khác nhau hoặc giống nhau về cùng một vấn đề qua một số khái niệm và thuật ngữ mới liên quan đến các loại câu phủ định mà có thể gây hiểu
nhầm đối với người n g h iên cứu N ếu m ục đích nghiên CÍR1 nhằm giúp thêm cho
người học ngoại ngữ thì chúng tôi thiết nghĩ có thể tiếp cận một số lý giải của các nhà ngữ pháp hiện đại mà quan điểm vừa tiếp thu có chọn lọc các lý luận khác nhau lại vừa có tính thực tiễn
Về lĩnh vực nghiên cứu đặc điểm loại hình của câu phủ định, ngoài tác phẩm tiêu biểu của Jespersen (1917) so sánh tiếng Anh và các thứ tiếng Ấn Âu, chi có một số ít nghiên cứu khác như : Dahl (1979) đã phân tích thống kê cách diễn đạt câu phủ định thành phần chính trên cơ sở 240 ngôn ngữ Payne (1985) trình bày
khái quát về những hình thức khác nhau khi diễn đạt sự phủ định ở các ngôn ngữ
khác nhau Dryer (1989) nghiên cứu vị trí của yếu tố phủ định động từ đối với các thành phần cú pháp chính trong câu như động từ, chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, gián tiếp Croft (1991) thì phân tích quá trình những yếu tố phủ định trong ngôn ngữ xuất hiện phát triển từ phủ định động từ đến phủ định câu tồn tại Bernini và Ramat (1992) thì giới thiệu chi tiết những góc độ khác nhau của các câu phủ định trong ngôn ngữ châu Au Kahrel và Berg (1994) nghiên cứu những đặc trưng ngữ nghĩa,
cú pháp, và ngữ dụng của câu phủ định dựa trên phân tích loại hình cú pháp của 16 ngôn ngữ châu Âu và châu Á (không có tiếng Việt)
ỉ 4.2 M ột s ố quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam về câu phủ định : Câu
phủ định cũng được các nhà ngữ pháp và ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu từ nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu trung là quan điểm ngữ pháp truyền thống
Trang 35hoặc cấu trúc có kết hợp với cách lý giải lô-gích học của Trần Trọng Kim (1939),
Lê văn Lý (1948), Bùi Đức Tịnh (1953), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Thompson (1984); quan điểm cú pháp-ngữ nghĩa của Nguyễn Kim Thản (1964, 1972), Mẹo tiếng Việt (1978), Đái Xuân Ninh (1978), Hòang Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt (1983), Diệp Quang Ban (1984, 1989, 1992, 1998), Nguyễn Minh Thuyết (1994); quan điểm lô-gích-ngữ nghĩa của Nguyễn Đức Dân (1977, 1983, 1985), Hoàng Phê (1989) và gần đây là quan điểm ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học, lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Nguyễn Đức Dân (1987, 1996), Cao Xuân Hạo, Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng và Bùi Tất Tươm (1991, 1998)
[98, mục 50] viết : "Câu phủ định lờ một câu cố một tiếng phủ định trạng từ , như
KHÔNG , CHANG , CH Ớ , ĐỪNG , CHƯA đặt trước tiếng động từ lĩay tiếng tĩnh từ [121, 153] , [122, 377]: ''Ta dùng câu phủ định phủ nhận một điều gì hay một việc xãy ra Thường
câu phủ định là những câu có trạng từ (phó tứ) phủ định hạn định một động từ, một trạng từ
(phó từ) , một tĩnh từ hay cả mệnh đề
[117, 597] : “ Câu phủ định phủ nhận những đặc trưng : hành động , trạng thái , tính
c h ấ t, chủng lọai của đối tượng [84, 2 4 2 ]:“ Cáỉ/ phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của sự
v ậ t , hiện tượng hay sự kiện , sự vắng mặt của đối tượng hay của đặc trưng đối tượng trong hiện thực hoặc trong tưởng tượng bằng những phương tiện hình thức xác định
[91, 238] : "Các phán đoán phủ định cũng được dùng đ ể miêu tà , biểu hiện một hiện
thực của thế giới khách quan, đó là sự biểu hiện các thuộc tính âm của sự vật.” [92, 376] :
‘Câu phủ định thường được chia thành hai loại chính căn cứ vào vị trí của từ phủ định đặt trong
"âu : (a) câu phủ định toàn bộ , từ phủ định được đặt trước vị ngữ đ ể phủ đinh thành phần chính :ủa câu, (b) câu phủ định bộ phận, từ phủ định được đặt trước các thành phần thứ yếu của
:âu" Dựa vào ý nghĩa phủ định, [89] phân các câu phủ định thành 2 loại : (a) cáu
ĩhủ định miêu tả thực hiện hành vi khẳng định một thuộc tính không A của sự vật và (b) câu ìhủ định bác bỏ , cho l ằng ý kiến của người tham gia giao tiếp khẳng cĩịnh trực tiếp hoặc gián iếp , về một thuộc tính A của sự vật là không đúng và người nói bác bó V kiến đó ”
Trang 36[96] còn phân biệt : " (1) Phủ định tổng quát là một nhận định phủ nhận sự tồn tại
lia mọi sự vật hay mọi hoàn cảnh làm Đê hay làm Thơm tô' cho một sự tình được biểu đạt trong
âu hữu quan Khi Đ ề của câu là đối tượng của sự phủ định tổng quát, câu s ẽ có hình thức của nột câu tồn tại phủ định Các tác tử phủ định gồm có những vị từ tình thủi vẫn thường dùng cho
;âu phủ định là KHÔNG , CHĂNG, hay CHƯA kèm theo vị từ tồn tại CÓ và một trong các đại 'ừbất định-nghi vấn như GÌ (CHI ), AI, NÀO, ĐÂU, BAO, SAO, MÂY, và các ngữ đoạn được :ấu tạo từ các từ ấy Khi đối tượng của sự phủ định tổng quát là một bộ phận của phần Thuyết 'bổ ngữ cứa vi từ trung tâm chẳng hạn), câu s ẽ có hỉnh thức của một câu phủ đinh bình thường 'không có vị từ tồn tại CÓ) Câu phủ định tổng quát có th ể có dạng thức "trần thuật" hay dạng thức "nghi vấn không chính danh" đánh dấu bằng tiểu t ố tình thái cuối câu ĐAU hay quán ngữ ọhủ định đẩu câu LÀM GÌ.
Ví dụ :
'76) a Không có gì nguy hiểm lắm a Co gì nguy hiểm lắm đáu ?
c Nó không bao giờ sai hẹn C Nó có bao giờ sai hẹn đâu ?
2) Phủ nhận tính tổng quái của m ột nhận định là một hành động ngôn từ (hành vi ngôn ngữ)
ó tính siêu ngôn ngữ được biểu đạt ỉ ) bằng một hợp vị từ tình thái KHÔNG/ CHĂNG PHÁI LÀ) , đặt trước một câu nhận định tổng quát, hay đặt ngay trước ngữ đoạn cần phủ định trực
iếp trong câu ấy - có thể có tiểu tố tì Â u ở cuối câu (dạng thức "trần thuật"); hoặc 2) bằng tổ
rợp tình thái CÓ PHÁI (L À ) đặt trước cho câu nhận định tổng quát có tiểu tố tình thái ĐẾỈ mở ỉấu hay kết thúc toàn câu (dạng thức "nghi vấn không chính danh").
/ í dụ :
77) a.Klìỏns phải cái gì nó cũng biết a \ Có phải cái gì nó cũng biết đâu ?
b.Chẳns phải ai cũng quỷ nó (đâu) b '.Đâu có phải (là) ai cũng quý nó ?
4ói chung, việc nghiên cứu câu phủ định trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng chỉ
ạp trung nhiều ở cách tiếp cận ngữ pháp hoặc cú pháp-ngữ nghĩa qua các giáo trình
gữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt của các nhà ngữ pháp học Anh, Mỹ và Việt Nam
Trang 37Còn cách tiếp cận theo quan điểm lô-gích-ngữ nghĩa , ngữ dụng học hoặc giao thoa văn hoá mặc dù rất phong phú nhưng vẫn còn mới mẻ và còn nhiều vấn đề có liên quan đến ngữ nghĩa-ngữ dụng, nhất là hệ thống thuật ngữ mới, chưa được hiểu một cách thống nhất Tuy nhiên với cách tiếp cận theo quan điểm ngữ pháp, hoặc cú pháp-ngữ nghĩa, các nhà nghiên cứu đã xác định được các lớp nghĩa của câu phủ định và quan trọng là đã xác định được một danh mục các phương thức và phương tiện biểu hiện ý nghĩa phủ định ( mặc dù một số phương tiện như cấu trúc mệnh lệnh phủ định có dùng cùng hình thức trợ động từ phủ định DON'T trước động từ nguyên mẫu (trong tiếng Anh) hoặc vị từ mang nghĩa cấm đoán ĐÙNG, CHỚ, (trong tiếng Việt) thực sự không biểu hiện ý nghĩa phủ định mà là ý nghĩa cấm đoán).
Trên đây chúng tôi đã điểm qua việc nghiên cứu câu phủ định xét về mặt ngôn ngữ học Những phân tích câu phủ định từ nhiều quan điểm khác nhau ở ngoài nước và trong nước cho thấy rằng sự phủ định là một trong những vấn đề quan trọng nhất của ngôn ngữ học đại cương, biểu hiện mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ý nghĩa Tuy nhiên do mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích đối chiếu câu phủ định trên bình diện cấu trúc- ngữ nghĩa nên luận án sẽ không đi sâu các mặt lôgích tình thái, lô-gích-ngữ nghĩa, ngữ nghĩa thuần tuý hoặc ngữ dụng học của câu phủ định
1.5 Khái niêm "cấu trúc ngữ tìgỉũa" và"cấu trúc-ngữ nghĩa"của câu : Do phạm vi
nghiên cứu của đề tài là cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định nên chúng tôi dành phần tiếp theo của chương này để điểm qua một số quan điểm về hai khái niệm :
cấu trúc ngữ nghĩa của câu và cấu trúc-ngữ nghĩa của câu trước khi đi sâu vào
3hân tích tổng hợp các đặc trưng về cấu trúc-ngữ nghĩa của câu phủ định tiếng Anh /à tiếng Việt trong chương 2
ĩ.5.1.Khái niệm "cấu trúc ngữ nghĩa của câu" được các nhà ngôn ngữ học nước
Ìgoài và trong nước thuộc các trường phái ngôn ngữ khác nhau trong từng giai
Trang 38đoạn phát triển quan niệm khác nhau và có nhiều ý kiến bổ sung nhau làm thành một bức tranh đầy đủ về những thành tố tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của câu.
Các nhà ngữ nghĩa học truyền thống cho rằng cấu trúc ngữ nghĩa của câu dựa trên sự phân tích tổng số nghĩa của các từ và các thành tố khác tạo nên câu hay nói
cách khác “nội dung của bình diện nghĩa của câu ( và của ngôn ngữ ) là cái phần phản ánh ( biểu hiện , miều tả ) những cái mảng của th ế giới hiện thực ( hay một thê' giới nào khác ở bên
ngoài ngôn ngữ’ [94, 41] Bloomfield cũng đã quan niệm cấu trúc ngữ nghĩa của câu
là gồm những gì quan trọng mà câu nói ấy liên hệ đến, tức là những sự kiện, những
sự cố thực tế Còn một số nhà ngữ pháp cấu trúc Anh, Mỹ như Francis,
Fries, trong khi nghiên cứu cấu trúc câu tiếng Anh đã xác định cấu trúc ngữ nghĩa
của câu được biểu hiện qua ( ỉ ) nghĩa ngôn ngữ học bao gồm (a) nghĩa từ vựng (lexical meaning) của các từ trong câu và (b) nghĩa cấu trúc ( structural m eaning) rất cơ bản
và rất cần thiết trong một phát ngôn ịutterance ) dựa trên các mối quan hệ cú pháp giữa các từ trong câu [23, 56] và (2) nghĩa văn hóa-xã hội (socio-cultural meaning) [24],
Các nhà ngữ pháp cải biến - tạo sinh và ngữ nghĩa tạo sinh như Chomsky , Katz & Fodor , Katz & Postal , Lakoff , McCawley, Fillmore (1957 - 1970) cũng
đã có những quan điểm tương đổng và bổ sung nhau khi bàn về cấu trúc ngữ nghĩa của câu Theo Chomsky thì ngữ pháp tạo sinh được phân tích dựa trên ba bộ phận chính là bộ phận âm vị , bộ phận cú pháp và bộ phận ngữ nghĩa Bộ phận ngữ nghĩa quyết định việc giải thích ngữ nghĩa của câu tức là nó gắn một cấu trúc được tạo sinh bởi bộ phận cú pháp với một sự giải thích ngữ nghĩa nào đó Bộ phận cú pháp phải xác định được cho mỗi câu một cấu trúc bề sâu nhằm giải thích nghĩa :ủa câu và một cấu trúc bề mặt nhằm biểu hiện đặc tnrng âm vị của câu Cấu trúc
36 sâu được giải thích bằng bộ phận ngữ nghĩa ; cấu trúc bề mặt được giải thích
)ằng bộ phận âm vị [6, 16] [7, 185] : bổ sung : “Sựgiải thích ngữ Iigliĩa của một câu
íược quy định bởi nội dung ngữ nghĩa bên trong của những yếu t ố từ vựng và bởi cách hức những yếu t ố này kết hợp với nhau ở cấp độ cấu trú c b ề sâu C ấu trú c b ề sâu qu yết tịnh sự biểu hiện ngữ nghĩa ị sem a n tic rep resen ta tio n ) qua những qu y tắ c giá i thích ngữ Ighĩa“.
Trang 39[44, 39] cho rằng “N ghĩa của câu bao hàm không những nghĩa của các yếu t ố từ
vựng mà còn cả nghĩa của những quan hệ cú pháp giữa các yếu tố [47] đã định
nghĩa: “Sự biểu hiện ngữ ngliĩa (Sem antic representation - SR ) của m ột câu là :
SR = ( P I , PR , T op , F , .)
PJ là cấu trúc bê mặt ; PR ( presupposition ) là tiền giá đinh ; Top (Topic) là phần đề
của câu ; F ( F ocu s ) là tiêu đ iểm của câu N gòai ra có th ể có những yếu t ố khác của
sự biểu hiện ngữ nghĩa của câu cần được giải thích [20] đã đưa ra một ]ý
thuyết ngữ pháp ngữ nghĩa gọi là “ Ngữ pháp cách “ và giải thích như sau: “CấM trúc ngữ nghĩa của một câu gồm có hai phần : phần Modality (Tình thái) nói lên tính tình thái
của câu và phần P ro p o sitio n (M ệnh đề) là bộ xương lô-gích của cảu , là ỷ nghĩa c ơ bản
của câu nằm ngòơi ỷ nghĩa tình thái Trong câu có những nét nghĩa ( những “ cách bề sâu “ (deep cases ) ) là đơn vị ngữ nghĩa do vị ngữ ị thể hiện qua động từ ) chế định Những cách bề sâu này được xếp vào vị trí những tham tố ị arguments ) sau động từ “ [20] trong [66, 365-366] [85, 122-126] cho rằng: “ Bất kỳ một câu nào cũng được cấu tạo xung quanh yếu tố vị ngữ tính Cấu trúc ngữ lìglũa của cảu được thể hiện bởi vị từ
(tương ứng với động từ) và tham t ố (biểu từ) ị tương ứng với danh từ) Vị từ - động từ biểu thị các trạng thái (tình trạng, chất lượng ) và sự kiện Tlìam t ố (biểu từ) - danh từ bao gồm các sự vật Trung tâm của cấu trúc ngữ nghĩa là vị từ-động từ chê đinh ngữ nghĩa
các tham tố (biểu từ) đi kèm với nó và tạo nên ngữ nghĩa của cảu”.
Nhằm khắc phục những cách nhìn phiến diện và chủ yếu phân tích trên nghĩa biểu hiện (representation-Halliday) của câu , các nhà ngôn ngữ học và ngữ pháp học chức năng như Halliday, Dik, Downing và Locke , Thompson , Berry, Danes, Givon đã có nhiều quan điểm khác nhau khi phân tích các tầng nghĩa của câu [29, 52] phân tích cụ thể như sau :
“Câu là sản phẩm của hơ quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời Nó vừa là một
sự biểu hiện của kinh nghiệm ị a representation o f experience ) vừa là một sự trao đổi có inh chất tương tác ị an interactive exchange ) vừa là một thông điệp (a message).
Tuy nhiên ở đây chủng tôi phải đưa thêm những khái niệm chức năng kliái quát lơn đê liên hệ ba mặt này của bình diện nghĩa của câu với chúng Đó là ba thứ lĩglũa
Trang 40được th ể hiện trong ngôn ngữ con người tlĩành m ột toàn th ể làm thành cá i c ơ sở cho cách
tổ chức nghĩa của tất cả cá c ngôn ngữ tự nhiên.Chúng tô i s ẽ viện dẫn chủng như những
“siêu chức năng” (metafunctions) và dùng cho chúng các thuật ngữ chức năng QUAN
NIỆM (IDEATIONAL), chức năng LIÊN N H ÂN (INTERPERSONAL) và chức năng VĂN BẢN (TEXTUAL).
Nghĩa quan niệm (id ea tio n a l m eaning) là sự biểu hiện của kinh nghiệm : kinh nghiệm của ta vê th ế giới có quan hệ đến ta và cả ở trong ta nữa, về cái th ế giới tưởng
tượng của ta Đó là nghĩa hiểu như là “nội dung” Chức năng quan niệm của câu là sự
biểu hiện của những cá i m à trong nghĩa bao quất nhất chúng tôi có th ể g ọ i là quá trình (processes): những hành động, những biến cố, những quá trình nhận thức và những m ối quan hệ.
N ghĩa liên nhân (in terp erso n a l m eaning) là thứ nghĩa với tư cách m ột hình tlìức của m ột sự hành động : người nói hay người viết dùng ngôn ngữ đ ể làm m ột cá i gì đó đối với người nghe hay người đọc Cliức năng liên nhân của câu là sự thay đổ i các vai trò
trong những cách tác động lẫn nhau bằng ngôn từ : những sự trình bày, những sự hỏi,
những sự đ ề nghị và ra những mệnh lệnh, cùng với những tình thái kèm theo.
Nghĩa văn bản (textual m eaning) là tính thích hợp (releva n ce) đ ố i với ngữ cảnh {context) vừa là phần văn bán đi trước (và đi sau) vừa là ngữ cảnh của tình huống Chức năng văn bản của cảu là x â y dựng m ột thông đ iệp (a m essage).
Cấu trúc Đ ê -Thuyết ị Tliem e-Rhem e ) là hình thức c ơ bản của việc t ổ chức cảu như m ột thông điệp T ron g thông đ iệp này, Đ ê là cá i m à người nối chọn làm điểm xuất
?hát, là phương tiện khai triển câu Nhưng trong thành phần cấu tạo tổng hợp của Đề,
ĩhữngyếu t ố của c ả ba chức năng đều có th ể góp phần Thành t ố quan niệm luôn luôn có nặt trong Đ ê Nhưng chức nàng liên nhân hoặc/ và chức năng văn bản có th ể có m ặt ihưng không cần th iết p h ả i như t h ế ’
Các nhà ngữ pháp chức năng Việt Nam như [95, 103] cũng quan niệm :
'Nghĩa của câu không đơn giản lờ m ộ t ph ép cộng nghĩa của cá c từ ngữ trong câu N ghĩa
ủa câu là m ột cấu trúc có nhiều tầng C á c tầng nghĩa trong cáu p h ố i hợp với nhau tạo
a cái nghĩa hành chức của câu” Các tầng nghĩa đó bao gồm cấu trúc biểu hiện được