92].Năm 1993, tại Hội thảo khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh tổ chức tại Thừa Thiên - Huế, tác giả Nguyễn Khoa Điềm có một bài tham luận về Con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
LUẬN ÁN TIẾN S ĩ TRIẾT HỌC
PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
HÀ NỘI - 2 0 0 8
Trang 2L Ờ I C A M Đ O A N
T ôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riên g tôi C ác tư liệu được sử dụng trong luận áno • • • ơ C7 •
là h oàn toàn trung thực K ết quả nghiên cứu của
ỉuận án chưa từng được công b ố ở bất kỳ tài liệu của
tác g iả nào k hác.
TÁC GIẢ LUẠN AN
LẠI QUỐC K H ÁNH
Trang 3M Ụ C L Ụ C
MÍỤC LỤC
M lở Đ Ầ U 1
1 Tính cấp thiết của đề t à i 1
2 Tình hình nghiên cứu đề t à i 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Cái mới về mặt khoa học của Luận án 8
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án 9
8 iKết cấu của Luận án 9
n Q i D ư n g 10
CHIƯƠNG 1 C ơ SỞ HÌNH THÀNH BIỆN CHỨNG CỦA T ư TƯỞNG HỒ CHIÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT N A M 10
1.1 Tiếp thu, vận dụng các phương pháp tư duy biện chứng 10
1.2 Kế thừa một cách biện chứng các giá trị tư tưởng, văn hóa của dân tộc và nhân lo ạ i 26
1.3 Cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh 54
* Kết luận chương 1 65
CHIƯƠNG 2 BIỆN CHỨNG CỬA T ư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÍÓNG DÂN TỘC THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN Ở VIỆT NAÌM 66
2.1 Hồ Chí Minh tiếp thu Luận cương của Lênin, lựa chọn con đường cách mạng vô sản 66
2.2 Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản ở Việt N a m 77
Trang
Trang 42.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc
theo con đường cách mạng vô sản ở Việt N a m 98
* Kết luận chương 2 112
CH Ư Ơ N G 3 BIỆN CHỬNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY D Ự N G CHẾ Đ ộ DẦN CHỦ NHÂN DÂN ĐỂ TIÉN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ m ộ l ở VIỆT N A M 114
3.1 Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ nhản dân ở Việt N a m 114
3.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính tất yếu của việc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam 132
3.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 145
* Kết luận chương 3 170
K1ỂT L U Ậ N 172
D ANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỔ CỬA TÁC G/IẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN Á N 179
D ANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180
Trang 5M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” là một
đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách hiện nay.
Đại h ộ i đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[34, tr 127] Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, “tư tường
Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[35, tr 83, 84] Đại h ộ i X của Đảng đã tổng kết những bài học lớn từ thực tiễn 20 năm Đổi mới, trong đó, bài học đầu tiên là: “trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộ i trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[3ó, tr 70] Những quan điểm ứên của Đảng ta không chỉ là sự ghi nhận, đánh giá cao giá trị và vai ừò của tư tưởng
Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, mà đồng thời còn đặt ra yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách đối với giới khoa học trong việc đi sâu nghiên cứu, làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh trong những năm qua đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh là người yêu Tổ quốc, yêu nhân dân một cách vô cùng sâu sắc Trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm, tư tưởng và tình cảm yêu Tổ quổc, yêu nhân dân thể hiện thành tư tưởng và quyết tâm giải phóng dân tộc Vì thế, giành độc lập, tự do cho dân tộc là vấn đề đầu tiên, cơ bản, xuyên suốt và chi phối mọi vấn đề khác trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh: “Không
có gì quý hơn độc lập tự do”[l 15, tr 108] Đồng thời, cũng chính vì lòng yêu Tổ quốc, yêu nhân dân tha thiết, nên ngay từ đầu, suy tư của người cách mạng không dừng lại ở vấn đề giải phóng dân tộc, mà đã hướng tới vấn đề xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp
Trang 6sau khi dân tộc đã được giải phóng Hồ Chí Minh quan niệm “nếu nước được độc lập
mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[107, tr 56] Định hướng xã hội đáp ứng được yêu cầu đó, theo Hồ Chí Minh, chính
là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Hồ Chí Minh quan niệm: “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mồi ngày một giàu mạnh thêm”[l 12, tr 173] Như vậy, nếu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh - “tài sản tinh thần vô giá” của dân tộc ta - là một nhiệm vụ lý luận quan trọng và cấp bách, thì trong đó không thể không đi sâu nghiên cứu tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, chính tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài, gian khổ của thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đã làm cho lý luận về chủ nghĩa xã hội trở thành một vấn đề phức tạp, bao quát nhiều tầng bậc, cấp độ nội dung, ý nghĩa Theo cách tiếp cận của triết học Mác, bản thân những suy tư về chủ nghĩa xã hội không thể chỉ dừng lại ở những vấn đề kinh tế, chính trị, ván hoá, xã hội thuần tuý, mà phải đi tới những vẩn đề triết học, phải được triển khai trên lập trường, quan điểm và phương pháp triết học Với
Hồ Chí Minh cũng vậy Trong tư tưởng của Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một “cuộc chiến đấu khổng lồ”, và vì thế, muốn giành được tháng lợi, không thể không suy tư đến tận gốc rễ, ngọn nguồn của mọi vấn đề Việc xử lý những vấn đề như: ở Việt Nam, giải phóng dân tộc và phát triển xã hội có mối quan hệ như thế nào, con đường phát triển xã hội vận động qua những giai đoạn nào, đâu là động lực của sự phát triển xã hội, đâu là căn cứ để xác định những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, quàn chúng nhân dân có vai ữò gì ữong sự nghiệp cách mạng vì giải phóng và phát triển, V.V.,
đều đòi hỏi Hồ Chí Minh phải tư duy ở tầm triết học, trên cơ sở nền tảng triết học và theo phương pháp triết học. Đặc điểm trên của đối tượng nghiên cứu cho thấy, vận dụng cách tiếp cận triết học để làm rõ tính chất triết học của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội là việc làm cần thiết và sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn
tư tuởng của Người về vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng này.
Việt Nam luôn kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, mô hình chủ nghĩa
xã hội được triển khai trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã bộc lộ
Trang 7nhiều hạn chế Những nước kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa buộc phải tiến hành cải cách, đổi mới, cả về nhận thức lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện nước ta ngày càng rõ hơn Tuy nhiên, sự chuyển đổi ữong cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, V.V., - những vấn đề vốn rất mới so với nhận thức trước Đổi mới về chủ nghĩa xã hội - đã khiến không ít người băn khoăn,
lo ngại về khả năng chệch hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, trong thực tiễn công cuộc Đổi mới, cùng với những thuận lợi và những thành tựu, còn có những khó khăn, thách thức và cả những sai lầm khó tránh khỏi khiến chúng ta nếu không kịp thời nhận thức và giải quyết thì khá năng chệch hướng xã hội sẽ trở thành hiện thực. Trong bối cảnh ấy, nghiên cứu và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là từ góc tiếp cận triết học, sẽ góp phần khẳng định tính đúng đắn của mục tiêu
đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời góp phần làm rố con đường thực hiện mục tiêu này Đại tướng Vố Nguyên Giáp khẳng định: “việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển
tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay là vấn đề rất thiết thực, vừa cơ bản, vừa cấp bách”[42, tr 147],
Với mong muốn góp phần nghiên cửu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ góc tiếp cận triết học, chúng tôi lựa chọn đề tài “Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” cho Luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những nghiên cứu liên quan đến đề tài “Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” rất phong phú, có thể được phân loại như sau:
Thứ nhất, đó là những công trình nghiên cứu tư tường Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội,bao gồm:
Trang 8Một là những công trình trực tiếp nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Trong đó tiêu biểu có công trình của PGS.TS Phạm Ngọc Anh1 và TS Hoàng Trang: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”; GS.TS Hoàng Chí Bảo: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”; Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”; GS Đặng Xuân Kỳ: “Dưới ánh sáng Tư tưởng Hồ Chí Minh”; TS Vũ Viết Mỹ: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”; GS.TS Phạm Ngọc Quang: “Tìm hiểu quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”; GS.VS Nguyễn Duy Quý: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam”, “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội”; GS Song Thành: “Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc”; GS.TS Nguyễn Phú Trọng: “Về định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, V.V
Hai là những công trình nghiên cứu liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Chẳng hạn như các công trình: “Vê chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do GS Nguyễn Đức Bình chủ biên, “Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đí lên chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam do GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ biên V.V
Ba là những công trình nghiên cứu văn bản học liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chẳng hạn tập trích “Hồ Chí Minh: về chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, công trình đĩa CD - Room Hồ Chí Minh toàn tập (2001) với phần tra cứu chuyên đề tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Trong những công trinh nghiên cứu khoa học nói ừên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và phác hoạ những nét cơ bản về cơ sờ hình thành, những quan điểm cơ bản
và cả những đóng góp mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu biện chứng cùa tư tưởng Hồ Chí Minh vé chù nghĩa xã hội ở Việt Nam theo cách tiếp cận của Luận án.
1 Các công trình được xếp theo thứ tự ABC tên tác giả
Trang 9Thứ hai, đó là những công trình nghiên cứu triết học H ồ C h í Minh. Có thể nêu ra
ớ đây một số công trình như: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” do GS Đặng Xuân Kỳ chủ biên; “Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh” của GS TS Hoàng Chí Bảo;
‘ Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh” do
GS Song Thành chủ biên; “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” do GS.TS Lê Hữu Nghĩa chủ biên; “Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Mỉnh” của TS Nguyễn Đức Đạt; “Tìm hiểu tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh” của GS.TS Hoàng Chí Bảo; “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của GS Song Thành; “Tư duy biện chứng Hồ Chí Minh” của Hoàng Tùng,
V.V
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Trần Văn Giàu, V.V., trong đó ít nhiều đề cập tới những vấn đề triết học Hồ Chí Minh
Trong những công trình trên, vấn đề thế giới quan và phương pháp luận của Hồ Chí Minh đã được tiếp cận và giải quyết ở nhiều góc độ khác nhau, và đang ngày càng sáng tỏ Riêng về vấn đề phương pháp luận và phương pháp triết học của Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề xuất những khái niệm như “phép biện chứng Hồ Chí Minh”, “phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh”, “tư duy biện chứng Hồ Chí Minh”, “tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh”, “quan điểm biện chứng của Hồ Chí Minh”, “hạt nhân biện chứng” ừong phương pháp Hồ Chí Minh, V.V Có thể nêu ra một
số ý kiến như sau:
Giăng Xanhtơni, một chính khách Pháp đa nhiều lần tiếp xúc với Hồ Chí Minh nhận xét:
Điều đáng chứ ý 'là, trái với những người đương thời đang cùng đi những con đường song song với Cụ, Cụ đã tỏ ra không nô lệ với những lý thuyết mà Cụ đang theo đuổi Nếu cho rằng, phương pháp tư tưởng, lý luận
và phép biện chứng của Cụ đã xa rời tư tưởng, triết học và đường lối chính trị của Cụ thi thật là sai lầm quá hiển nhiên, về những vấn đề đó Cụ không
mơ hồ chút nào [71, tr 59].
Singô Sibata, nhà sử học Nhật Bản, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu có
uy tín về cách mạng Việt Nam, về tư tưởng Hồ Chí Minh thì cho rằng: một trong những đặc điểm của phương pháp tư tưởng của Người là luôn luôn nắm vững quá trình
Trang 10ir duy biện chứng, nắm vững một cách chính xác, và cùng một lúc tính phổ biến cũng như tính đặc thù”[71, tr 92].
Năm 1993, tại Hội thảo khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh tổ chức tại Thừa Thiên - Huế, tác giả Nguyễn Khoa Điềm có một bài tham luận về Con đường hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó nêu ra khái niệm “phép biện chứng Hồ Chí Minh” và nhận xét:
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, một cống hiến đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng đã đạt đến trình độ mới trong cách xem xét và giải quyết thực tiễn, vượt lên trên nhiều người đương thời trong thể hệ của Người để trở thành người kế tục hiếm hoi những nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng trong thời đại mới, trước một phương Đông đầy mâu thuẫn, đầy biến cố [194, tr 23].
GS Song Thành thì khảng định trong một công trình nghiên cứu của ông về Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh'.
có thể nói có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, phương pháp đó vẫn là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng
đã được vận dụng và chuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, để xử
lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sác Việt Nam - Hồ Chí Minh và bàng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung [166, tr 328].
GS.TS Hoàng Chí Bảo, tác giả của nhiều công trình về triết học Hồ Chí Minh,
về phương pháp và phương pháp luận của Hồ Chí Minh thỉ quan niệm: phong cách
tư duy Hồ Chí Minh trước hết đó là phương pháp, đặc biệt là phương pháp tư duy sáng tạo cùa Người Hồ Chí Minh là một nhà biện chứng mà sự nổi trội ở Người là thực hành phép biện chứng,,[7, ữ 14],
PGS.TS Thành Duy, một nhà nghiên cứu lâu năm về tư tưởng Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến vấn đề phương pháp luận của Hồ Chí Minh, người coi việc làm sáng tỏ phương pháp luận Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết để đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng đã nhận xét:
Trang 11Nói đến phương pháp luận Hồ Chí Minh, chúng ta còn có thể phải trình bày nhiều quan điểm khác nữa Nhưng, ở đây, chúng tôi chi tập trung vào một điểm cơ bản nhất trong phương pháp luận Hồ Chí Minh mà cũng có thể nói là điểm cơ bản trong mọi phương pháp luận, đó là hạt nhân biện chứng [24, tr 37].
Kết quả của những công trình trên là những đóng góp quan trọng đổi với lĩnh vực nghiên cứu phương pháp luận và phương pháp của Hồ Chí Minh, Tuy nhiên, cũng
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo cách tiếp cận cùa Luận án.
Tóm lại, việc khảo sát tình hình nghiên cứu cho thấy, đề tài: “Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” có thể và cần phải được đặt ra.
3 Mục đích vả nhiệm vụ nghiên cửu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
để khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ đó góp phần cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ việc nhận thức và giải quyết một số vấn
đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
3.2, Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Thứ hai, nghiên cứu vòng khâu thứ nhất trong biện chứng của tư tưởng Hồ Chí
Minh về chủ nghĩa xâ hội ở Việt Nam, đó ỉà biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc theo COR đường cách mạng vô sản.
- Thứ ba, nghiên cứu vòng khâu thứ hai trong biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó ỉà biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về
xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Thứ tư; nghiên cứu một số quan điểm mang tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xâ hội ở Việt Nam.
4 Đối tưựng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đổi tượng nghiên cứu: Biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu:
* về nội dung:
- Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xác định bao gồm: M ột là, quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường đi tới chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam qua hai giai đoạn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội; Hai là, quan điểm
của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Thứ hai, biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam được xác định là quá trình hình thành, phát triển một cách biện chứng của tư tường Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và những quan điểm mang tính biện chứng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
* về tư liệu:
Để thực hiện Luận án, chúng tôi sử dụng các tác phẩm của Hồ Chí Minh được in
trong bộ Hồ C hí Minh toàn tập gồm 12 tập do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
xuất bản lần thứ hai năm 1995 và 1996
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của Luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng Hồ Chí Minh và về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện Luận án, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic, phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp thống kê - định lượng và phương pháp so
sánh, ưong đó, phương pháp chủ yếu là phương pháp kết hợp lịch sử - lôgic.
6 C ái m ới về m ặt khoa học của L uận án
- M ột là, khẳng định biện chứng của tư tường Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
ờ Việt Nam được hình thành trên các cơ sở: Tiếp thu, vận dụng các phương pháp tu duy biện chứng; Kế thừa một cách biện chứng nhiều giá trị tư tưởng, văn hoá của dân tộc và nhân loại, của phương Đông và phương Tây, từ truyền thống đến hiện đại; Cuộc đời
Trang 13cách mạng của Hồ Chí Minh với mục đích giải phóng triệt để con người thông qua giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.
- Hai là, luận giải quá trình hình thành và phát triển một cách biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, qua vòng khâu tư tưởng về giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản và vòng khâu tu tưởng về xây dựng ché độ dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Ba là, phân tích một số quan điểm mang tính biện chứng của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là quan điểm biện chứng tổng quát về con đường giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đi tới chủ nghĩa xã hội; quan điểm biện chứng về học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của các nước anh em trong xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về mối quan hệ giữa đặc trưng mục tiêu và đặc trưng phương thức của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, và về mối quan hệ giữa con người và xã hội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
7 Ý nghía lý luận và th ụ t tiễn của Luận án
8 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu đã được công
bố của tác giả liên quan đến đề tài Luận án và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung gồm 3 chương, 9 tiết.
Trang 14■VỘI D t X G
€f)ương 1
c ơ s ở HlNH THÀNH BIỆN CHÚNG CỦA TƯTUỦNG H ố CHÌ MINH
VỂ CHỦ NGHỈ« X ỉ HỘI ở VIỆT NAM
1.1 TIẾP THƯ, VẬN DỰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP T ư DUY BIỆN CHỨNG
1.1.1 Nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc
Vị thế địa tự nhiên, địa chính trị, địa văn hóa đã quy định phương thức sống của người Việt và trên cơ sở ấy quy định nên phương pháp tư duy của người Việt Trong
p hương pháp tư duy ấy chứa đựng nhiều nhân tố biện chứng Đây là điều đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định Chẳng hạn, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho ràng loại hình văn hóa của dân tộc Việt Nam là trọng tĩnh (gốc nông nghiệp), trong đó đặc trưng về mặt nhận thức ià kiểu tư duy tổng hợp Kiểu tư duy tổng hợp C.Ó những đặc điểm là chủ
q uan (xem xét đối tượng bằng con măt của chính mình), cảm tỉnh (trực giác) và kỉnh
nghiệm (kiểm ừa tính chân thực của tri thức bằng sự trải nghiệm của chính mình), song bao trùm lên tất cả là tính biện chứng. Ông viết: “Tổng hợp kéo theo biện chứng - cái
mà người nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng rẽ, mà là nihững mối quan hệ qua lại giữa chúng Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện c;hứng là chú trọng đến mọi mối quan hệ giữa chúng - đó chính là đặc trưng tư duy của
v ăn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh mà nông nghiệp lúa nước là điển hình”[170, ừ 40].
Trong những cơ sở hình thành nền tư tưởng và phương pháp của Hồ Chí Minh, các giá trị tư tưởng, văn hóa của dân tộc có một vai trò quan trọng Đối với sự hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh, sự tiếp thu, vận dụng và phát triển các nứiân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc có một vai ữò qiuan trọng.
Để làm rõ vấn đề Hồ Chí Minh tiếp thu phương pháp tư duy truyền thống của
cLân tộc như thế nào, một trong những căn cứ quan trọng là dựa vào quan niệm và đảnh
g iá của Hồ Chí Minh về phương pháp tư duy ấy Hồ Chí Minh không bàn nhiều về
Trang 15Đen tác phẩm Quang phục quân phương lược (1912), quan điểm của Phan Bội Châu về chế độ xã hội tương lai đã được xác định rõ trong một tổng lộ trình cách mạng:
“Tôn chỉ của Quang phục quân là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hoà dân chủ”[12, tr 134] Như vậy con đường cách mạng Việt Nam theo quan điểm của Cụ Phan là trước hết giải phóng dân tộc, sau đó kiến tạo chế
độ xã hội mới, khởi đầu từ chế độ dân chủ cộng hoà Cụ Phan viết về chính thể dân chủ cộng hoà như sau: đó là “một chính thể rất tốt đẹp Quyền bính của nước là của chung toàn dân do nhân dân quyết định Những dấu vết độc hại của chính thể chuyên chế không còn nữa”[12, tr 135].
Có thể nói, từ chỗ “chú trọng” vào chế độ quân chủ lập hiến, dù trong đó vua chỉ
là hình thức, đến chỗ phê phán chế độ quân chủ, và đến “khuynh hướng” vào chế độ dán chủ cộng hoà, đó là một bước tiến dài ữong tư tưởng của Cụ Phan Bội Châu Tư tưởng về xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà ở Việt Nam sau khi đánh đuổi thực dân Pháp của Cụ Phan là một tư tưởng hợp lý, đúng đắn.
Điều đặc biệt, đến những năm cuối đời, Cụ Phan đã hướng cảm tình về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội Từ tác phẩm Truyện Phạm Hồng Thái đến tác phẩm
X ã hội chủ nghĩa, ta thấy Cụ Phan đã có những nhận thức bước đầu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, quan điểm của Cụ là, “không phải là tôi phản đối chủ nghĩa xã hội Những sách về chủ nghĩa xã hội tôi đã có đọc nhiều, đã nghiên cửu rất kỹ, tôi vẫn công nhận rằng những lý thuyết ấy rất chính đáng, nhưng chưa có thể thực hành ở xứ này được”[13, tr 370] Theo Cụ Phan, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc Việt Nam là giải phóng dân tộc, đó là nhiệm vụ phải làm trước, giống như người đang đói bụng, phải ăn mâm cơm để trước cửa Còn chủ nghĩa xã hội, tuy là mâm cơm ngon hơn, nhưng mâm cơm ấy để trong nhà, “muốn được ăn cái mâm cơm ở trong nhà thì phải ăn cho hết cái mâm cơm ở trước cửa đi đã, rồi mới có đường đi vào trong nhà, chúng ta đã không thèm để ý đến cái mâm cơm ở trước cửa, thì rút cục chúng ta chỉ đứng ngoài thêm chảy nước miếng cục”[13, ứ 370] Quan điểm của Cụ Phan ở đây là rất rõ: Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tốt đẹp, cần phải hướng tới, song trước hết phải giải phóng dân tộc, và sau khi giải phóng dân tộc, cần phải xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà trước khi xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy chưa thật rõ ràng, song Cụ
Trang 16Khi nhận thức sự biến đổi của đối tượng, phương pháp tư duy truyền thống của người Việt Nam đã chú ý đến sự biến đổi cả về mặt chất và mặt lượng, và trong đó thường nhấn mạnh đến quá trình tích luỹ về lượng, từ tích luỹ về lượng đưa tới sự biến đổi về chất:
“Có bột mới gột nên hồ”;
“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Phương pháp tu duy hướng tới nhận thức mối quan hệ và sự biến đổi của đối tượng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy biện chứng của Hồ Chí Minh Người ta thấy rát rõ dấu ấn của phương pháp tư duy truyền thống trong một ẩn dụ có tính khái quát lý luận rất cao của Hồ Chí Minh về cuộc khánh chiến chống thực dân Pháp:
“Nay tuy châu chấu đấu voi, Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”[109, ừ 164],
Ở đây, xu thế khách quan trong sự biến đổi về chất của hiện thực đã được Hồ Chí Minh nhận thức và sẽ từng bước hiện thực hoả thông qua quá trinh tích luỹ về lượng để đưa tới sự biến đổi về chất.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng đã thấy ra tính không triệt đế trong phương pháp
tư duy truyền thống ở chỗ nó chưa hướng tới sự phát triển mà mới dừng lại ở tính tuần hioàn: “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”[105, tr 401] Hạn chế này
là khó tránh khỏi do đặc điểm của nền sản xuất gắn liền với những biến đổi có tính tuần hioàn của tự nhiên và sự biến đổi chậm chạp của đời sống xã hội do nền sản xuất ấy quy
đ ịnh, nhất là trong một chế độ xã hội mà ở đó người lao động không phải là người chủ thực sự của chính mình và của toàn xã hội.
Thứ ba, phương pháp tư duy của người Việt Nam có đặc điểm là luôn hướng tới mtục tiêu ngày càng tốt đẹp hơn Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người châu Á - tuy bị người plhương Tây coi là lạc hậu - vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết phải cải cách toàn bộ xã hội hiiện tại”[104, ừ 35] Tư duy hướng tới cái mới, cái tốt tuy chưa hẳn đã mang tính cách miạng, song rõ ràng là nó có tác dụng tích cực đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nlhân, cũng như của toàn thể cộng đồng dân tộc Đối với Hồ Chí Minh, việc phát hiện ra đìặc điểm nói trên trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc Việt Nam -
Trang 17phương pháp tư duy thể hiện nhân sinh quan tiến bộ - có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là đối với việc xây dựng lý luận và tổ chức hiện thực hoá con đường cách mạng đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, suy cho cùng đó là sự hiện thực hoá - hiện đại hoá những khát vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam về một xã hội tốt đẹp hơn.
Thứ tư, phương pháp tư duy của người Việt Nam chú trọng tính thực tế, tính hiệu quả Ngay từ sớm, Người đã chỉ rõ, đối với người Việt Nam “một tấm gương sống
còn có giá trị hom một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[104, tr 263] Hồ Chí Minh đã nhiều lần lưu ý cán bộ Đảng, cán bộ Nhà nước rằng, người dân luôn quan tâm đến những gì giản dị, dễ hiểu, có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ, chứ không ưa những gì trừu tượng, khó hiểu, hoặc xa lạ Chính vỉ thế, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng, nhân dân chỉ thực sự hiểu được giá trị của độc lập dân tộc, của chủ nghĩa xã hội khi các quyền lợi của họ được bảo đảm, đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày càng được nâng cao.
Có thể thấy rằng, những đặc điểm trên của phương pháp tư duy truyền thống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được hình thành nên trên cơ sở phương thức sống của
người Việt Nam Với “năng lực quan sát thiên bẩm”, người Việt Nam chú trọng mỗi quan hệ và tỉnh khả biến của tự nhiên, xã hội và con người Từ chồ nhận thức được tính
khả biến của đổi tượng, người Việt Nam hướng tới sự đổi mới, hướng tới cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn về cả vật chất lẫn tinh thần, và trong quá trình đó, tính thực tế, tính hiệu quả được đề lên hàng đầu Những đặc điểm cơ bản ấy tạo nên một đặc điểm
chung mang tính chỉnh thể, đỏ là tính biện chứng tự phát, trong đỏ vai trỏ cùa chủ thế được coi trọng Tính biện chứng tự phát của tư duy truyền thống người Việt Nam tuy
chịu ảnh hưởng của quan niệm về tính tuần hoàn trong sự biến đổi của tự nhiên, xã hội
và con người, song nói chung là tích cực và tiến bộ, nếu biết cách khai thác, phát huy vẫn sẽ có ích trong quá trình hiện đại hoá.
Tiếp thu, vận dụng các nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc là một cơ sở hình thành biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trang 18Ở phương Đông, mặc dù không phải là quê hương của khái niệm “phép biện chứng”, song trong nhiều hệ thống triết học vẫn chứa đựng những nhân tố biện chứng rất có giá trị Chẳng hạn như trong triết học truyền thống Trung Quốc Theo giáo sư Trương Đại Niên, một trong những nhà nghiên cứu triết học rất có uy tín của Trung Quốc, đặc điểm nổi bật cùa các quan điểm biện chứng trong triết học Trung Quốc là coi
“biến hoá là một hiện tượng, nhưng là hiện tượng tồn tại thực” Các quy luật và nguyên
nhân của sự biến hoá thể hiện trong thuyết “phản phục” và thuyết “lưỡng nhất” Thuyết phản phục có rất nhiều điểm tương đồng với quy luật phủ định của phủ định và quy luật
lượng chất của phép biện chứng trong triết học phương Tây Tuy nhiên, giữa chúng cũng có điểm khác căn bản Theo quy luật phủ định của phủ định thì sự phát triển dường như quay trở về điểm xuất phát, nhưng thực ra là ở một cấp độ cao hơn, cho nên quá trình vận động là một quá trình tiến triển vô cùng tận, còn theo thuyết phản phục thì
sự quay ườ về điểm xuất phát là quay về thực sự, cho nên quá trình vận động mang tính
tuần hoàn Thuyết lưỡng nhát thì lại có nhiều điểm giống với quy luật thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuần), và thậm chí ở nhiều điểm, thuyết “lưỡng nhất” còn có sự phát triển tinh vi hơn [xem 209, tr 92-163].
Nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh cho thấy, Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo đều có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến sự hình thành tư tưởng của Người, trong đó, Khổng giáo có ảnh hưởng mạnh hom cả.
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đinh Nho học, được đào tạo khá bài bản về Khổng giáo Chính Người đã nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, ”[104, ừ 477].
Khổng giáo không phải là một tôn giáo, mà là một hệ thống tư tưởng - văn hóa hoàn chỉnh, trong đó những quan điểm tư tưởng được xây dựng ừên một nền tảng phương pháp luận chứa đựng nhiều hạt nhân biện chứng sâu sắc Chính vì thế, Hồ Chí Minh không những đã kế thừa và phát triển nhiều giá trị tư tưởng Khổng giáo có sức sống trường tồn, mà còn tiếp thu được những nhân tố biện chứng trong hệ thống triết học ấy Trong Luận án này, chúng tôi khảo sát những nhân tố biện chứng trong tư
1.1.2 Nhân tố biện chứng trong phưong pháp tư duy truyền thống phương
Trang 19tưởng của Khổng tử (thể hiện qua sách Luận ngữ), Mạnh tử (thể hiện qua sách Mạnh tứ)
và Kinh Dịch là những nhà tư tưởng và những kinh sách tiêu biểu của Khổng giáo được
H ồ Chí Minh nhác đến nhiều lần trong tác phẩm của Người.
a Nhăn tố biện chứng trong phương pháp tư duy của Khổng tử
Luận ngữ là trứ tác thể hiện rõ nét tư tưởng của Khổng tử dù rằng đây không phải là tác phẩm của ông Trong Luận ngữ ta có thể thấy tư duy biện chứng của Khổng
tử thể hiện tập trung ở việc ông xem xét tự nhiên, xã hội và con người trong trạng thái biến hoá không ngừng.
về tự nhiên, trong chương Tử Hãn chép lời của Khổng tử khi ông nhìn dòng sông chảy xiết: “Ôi, nước cứ vậy ừôi đều đều! Chẳng kể ngày đêm”[Tử Hãn, 16] Trong chương Dương Hoá thì ghi lời Khổng tử nói với học trò là Tử Hiến: “Trời có nói
gì chăng? Bốn mùa vận hành, các loài vật sinh sôi nảy nở Trời có nói gì chăng?” [Dương Hóa, 18] Rõ ràng, trong tư tưởng của Khổng tử, vũ trụ vạn vật nằm trong quá trình vận động, biến hoá không ngừng Không có gì là tĩnh tại bất biến Tất cả đều đang biến đổi, tất cả đều đang “trôi đi” như dòng sông mãi mãi cuộn chảy.
Đ ổi với xã hội, Khổng tử cho rằng, xã hội loài người cũng giống như giới tự nhiên, tức là luôn luôn vận động, luôn luôn biến hóa Chẳng hạn ông nói: “Tê nhất biến, chí ư Lỗ; Lỗ nhất bién, chí ư Đạo”2[Ưng Dã, 24],
Đ ổi với con người, Khổng tử quan niệm rằng con người cũng không ngừng biến đổi Sự biến đổi diễn ra ngay trong bản chất của con người Khổng tử không quan niệm một cách cứng nhắc bản chất con người là thuần thiện hay thuần ác. Ông nói: “Tính tương cận dã, tập tương viễn dã”[Dưomg Hóa, 2], có nghĩa là bản tính của con người vốn tương tự nhau, xích !ại gần nhau, cố kếí với nhau Tuy nhiên, khi con người cố kết lại với nhau thành xă hội và cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, bản chất con người lại trở nên khác nhau - có thiện có ác, và trở nên xa cách nhau, phân biệt với nhau
- có quân tử, có tiểu nhân Để xây dựng được xã hội đại đồng thì trước hết phải xây dựng nên những người quân tử Con đường để tạo nên người quân tử là thông qua giáo dục theo đạo Nhân - giáo dục của xã hội và tự giáo dục của mỗi người Như vậy, cùng
2 “Nếu nước Tề (theo nhân chính) biến đổi một lần thi sẽ tiến tới trình độ của nước Lỗ, nếu nước Lỗ (theo nhân chính) biến đổi một lần thỉ s£ tiến tới trinh độ v&n minh, đúng như đạo cùa tiên vương”
Trang 20với sự vận động, biến đổi của xã hội, con người cũng không ngừng vận động, biến đổi Hơn nữa, còn có thể nhận thức và tác động vào sự vận động, biến đổi ấy.
Như vậy, ưong tư duy của Khổng tử, biến hóa là hiện tượng phổ biến, nhưng biến hóa ở hiện tượng lại là biểu hiện của một cái Đạo bất biến Mọi sự biến đổi đều là biểu hiện của Đạo và hướng tới Đạo Trong quan niệm của Khổng tử, đó là đạo Nhân,
xã hội phát triển tới trình độ thực hiện được đạo Nhân thì được gọi là Xã hội đại đồng.
Khi đề cập đến Khổng giáo, Hồ Chí Minh còn nhắc đến Mạnh tử và sách Mạnh
tử Trong sách Mạnh tử, tư tưởng về sự vận động, biến hoá của xã hội đã có một bước
phát triển cụ thể hơn so với Khổng tử.
Thứ nhất, theo Mạnh tử, xã hội không ngừng biến đổi, và con người với tư cách
là chủ thể có thể tác động vào quá trình ấy Tuy nhiên, sự tác động cần phải theo hướng đem cái tiến bộ hơn để thay thế, cải tạo cái chưa tiến bộ Ông nói: “Ta từng nghe người
ta dùng lễ giáo Hoa Hạ để biến đổi tục man di, chứ chưa từng nghe chuyện biến theo man di”[Đằng Văn công thượng, 4] Tiến bộ là xu thế vận động tất yếu của xã hội mà con người cần phải thuận theo Cho nên, kẻ làm vua mà “không hướng theo đạo đức, cũng chẳng để tâm trí vào điều nhân, mà mình lại mong giúp cho đánh đâu được đó thì chính là phò tá một bạo chúa như vua Kiệt vậy Nếu cứ noi theo phép tắc đời nay (tàn hại dân lành), chẳng biến đổi phong tục (ham giàu có và hiếu chiến), dẫu có giúp cho được cả thiên hạ thì cũng không giữ nổi trong một buổi sáng”[Cáo tử hạ, 9] Cải tạo xã hội trì trệ lạc hậu, xây dựng một xã hội tổt đẹp hơn, đó mới là sự nghiệp chân chính và
là thước đo phẩm chất đạo đức và tài năng của người đứng đầu quốc gia Đây chính là một tư tưởng biện chứng có ý nghĩa tích cực của Mạnh tử, phản ánh được nguyện vọng của nhân dân - như Hồ Chí Minh đã nhận xét [xem 104, ừ 35].
Thứ hai, mặc dù Mạnh tử coi trọng việc cải tạo xã hội, hướng xã hội tới một
trình độ phát triển cao hơn, song theo ông điều đó không thể được thực hiện một cách tùy tiện, mà phải dựa ưên cơ sở nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn “thời” và
“thế” Người có tài trí là nguời biết nắm lấy thời và thế, nhân đó mà thực hiện thành công sự nghiệp cải tạo xã hội Mạnh tử nói: “Dân là quý nhất, sau đó tới xã tác, còn vua
có thể xem nhẹ Hễ vua chư hầu làm nguy hại xã tác, ắt nguời ta lập vua mới”[Tận
Trang 21Tâm hạ, 14] Tư tưởng “dân vi quý, xã tăc thứ chi, quân vi khinh” là một đóng góp to lớn của Mạnh tử đối với triết học phương Đông Đây cũng chính là một giá trị được Hồ Chí Minh kế thừa và đánh giá cao: “Trả lời một câu hỏi của vua, ông đã nói thẳng thắn: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”[104, tr 35].
Thứ ba là “bất biến” Nếu như Mạnh tử nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải
tạo xã hội để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn và việc cải tạo ấy được thực hiện trên cơ
sở sự kết hợp năng lực chủ quan của chủ thể với điều kiện khách quan, thì đồng thời
ông cũng yêu cầu phải chú ý đến mặt đối lập của biến là bất biển Bản thân Mạnh tử
luôn kiên trì với học thuyết mà ông đã xây dựng nên, dù ràng cũng như Khổng tử, lúc sinh thời Đạo của ông không được những người đứng đầu xã hội sử dụng Ông đã từ chối nhận bổng lộc của vua Tề và bỏ nước Tề ra đi vì không muốn thay đổi chí hướng của mình Với những bậc đại trượng phu, một khi đã nhận thức được Đạo là cái bất biến
trong cái vạn biến của vũ trụ thì họ sỗ kiên trì Đạo của mình, nắm lấy cải không thay đỏi để thay đổi tất cả, bất chấp ngoại cảnh như thế nào Mạnh tử nói: “Ở nơi rộng rãi
trong thiên hạ, đứng chỗ chính vị trong thiên hạ, thi hành đạo lớn trong thiên hạ, lúc đắc chí thì cùng với dân noi theo chính đạo, khi bất đác chí thì một mình tu thân hành đạo, cảnh giàu sang chẳng khiến buông lung, cảnh nghèo hèn chẳng đổi được tiết tháo, uy vũ chẳng thể khuất phục, người như thế mới dáng gọi là bậc đại trượng phu”[Đằng văn công hạ, 2] Cái chí bất biến muốn cải tạo xã hội loạn lạc, xây dựng một xã hội đại đồng của bậc đại trượng phu mà Mạnh tử là người phát ngôn cũng là điều mà Hồ Chí Minh
vô cùng tâm đắc Chính vì thế mà quan điểm “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng
di, uy vũ bất năng khuất” của Mạnh tử đã được Hồ Chí Minh kế thừa và còn luôn coi đó
là phẩm chất không thể thiếu của người cách mạng, của người cộng sản chân chính.
Tóm lại, cũng giống như Khổng tử, Mạnh tử không phải là nhà triết học chuyên chú vào vấn đề phép biện chứng, song khi đi sâu với những vấn đề xã hội và con người vốn vô cùng phức tạp, các ông đã tiếp cận đến bản chất biện chứng của đối tượng, từ đó hình thành nên những nhân tố biện chứng sâu sắc trong tư tưởng, trong phương pháp tư duy của các ông.
c Nhăn tố biện chứng trong Kinh Dịch
Trang 22Hồ Chí Minh là người am hiểu Kinh Dịch - một trong Ngũ Kinh của Khổng giáo
- là một bộ sách chứa đựng nhiều hạt nhân biện chứng sâu sắc Chẳng hạn, ừong bài Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Hồ Chí Minh đã sử dụng một quan niệm về “biến” của Kinh Dịch Quẻ Kiền, hào thượng cửu (Hồ Chí Minh viết là “dương cửu”), lời hào viết:
“Như con rồng lên cao quá thì có sự hối hận”, lời tượng viết: “Như con rồng lên quá cao thì có hối hận, là đầy tràn thì không lâu dài vậy”, Văn ngôn giải thích: “Như con
rồng lên quá cao thỉ có lỗi, là cái tai hại về sự cùng cực vậy” và “Như con rồng lên quá cao, thì có lỗi, là cùng thời gian đến lúc cùng cực” Quẻ Kiền tượng trưng cho dương, cho ừời, cho vua Sáu hào của quẻ Kiền đều là hào dương (một nét liền), và từ hào cửu nhất đến hào cửu ngũ đều thể hiện sự vận động phát triển đi lên, từ “rồng lặn chưa dùng” đến “rồng bay trên trời”, và cũng chính đà tiến lên ấy khiến cho hào thượng cửu rơi vào hoàn cảnh bất lợi, báo hiệu sự suy vong, giống như con rồng mất đầu Đúng như nhiều nhà nghiên cứu triết học Kinh Dịch đã nhận định, toàn bộ sự sâu sắc ừong tư
tưởng “biển hoá” của Kinh Dịch tập trung ở hào thượng cửu này, vừa biểu hiện toàn bộ
vận động đi lên của quẻ Kiền, vừa là điểm nút ở đó xu thế vận động đi lên chuyển hoá
thành mặt đối lập của nó Nỏ thể hiện tư duy biện chứng "vật cực tắc phản” Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng biện chứng của Kỉnh Dịch một cách tài tình để viết về vua
Khải Định, không chỉ đặc tả được hình ảnh của cá nhân ông vua này mà còn dự báo về
sự suy vong của nhà Nguyễn và một vận hội mới trong sự phát triển của dân tộc đang dần mở ra.
Trong Thư gửi ông H (Thượng Huyền), Hồ Chí Minh đã bác bỏ quan điểm của ông Thượng Huyền cho rằng từ “cách mệnh” được lấy ở Kinh Dịch, mặc dù ứong Kinh Dịch có từ “cách mạng” Trong bài này, khi 'bác bỏ quan điểm của ông Thuợng Huyền cho rằng khái niệm “cách mệnh” được lấy từ Kinh Dịch, Hồ Chí Minh lưu ý ông ta phải chú ý đến nội hàm của khái niệm này Hồ Chí Minh đã phân biệt nội hàm vổn có của từ
ngữ “cách mệnh” trong triết học truyền thống Trung Quốc với khái niệm “cách mệnh” theo nghĩa hiện đại, từ đó chỉ rõ, mặc dù ữong Kinh Dịch, lời Thoán của quẻ Cách nói:
“Thiên địa cách nhi tứ thời thành, Thang Vũ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân,
cách chi thời, đại hĩ tai”, tức là cỏ từ “cách mệnh”, song đây là “cách mệnh” theo nghĩa truyền thống, chứ không có khái niệm “cách mệnh” theo nghĩa hiện đại Ý kiến tranh
Trang 23luận nói trên của Hồ Chí Minh cho thấy, Người không chỉ nám rõ mà còn am hiểu một cách rất sâu sắc Kinh Dịch. Việc tìm hiểu phương pháp tư duy biện chứng ữong Kinh Dịch sỗ giúp ta hiểu rõ hơn về cơ sở hình thành biện chứng cùa tư tưởng Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Các nhân tố biện chứng trong Kinh Dịch là rất phong phú và sâu sắc Biến hóa là linh hồn của Kinh Dịch “Dịch” tức là biến đổi, biến hóa Kinh Dịch được dịch ra tiếng Anh là The Book o f Change - Kinh điển về sự biến đổi Các nhân tố biện chứng trong Kinh Dịch thể hiện trên mấy phương diện sau: Thứ nhất, Kinh Dịch coi vũ trụ là một quá trình vĩnh viễn vận động, biến hoá; Thứ hai, Kinh Dịch chỉ ra nguồn gốc của sự biến hoá là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, các mặt đối lập nương tựa, chuyển hóa, sinh thành, triệt tiêu nhau làm cho sự vật biến đổi; Thủ ba, Kinh Dịch
nêu lên quy luật của sự vận động, biến đổi là “vật cực tắc phản”, song không bi quan, yếm thế, mà luôn chủ trương: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”; Thứ tư,
Kinh Dịch cho ràng, sự biến hóa của vũ trụ là thần diệu, song con người hoàn toàn có thể nhận thức, biểu đạt và vận dụng sự biến hóa ấy để làm nên đại nghiệp.
Hồ Chí Minh không chỉ nói đến Dịch, mà ừong cuộc đời của Người, từ chỗ thấu hiểu sâu sắc lẽ biến hoá (dịch) của tự nhiên, xã hội và con người, hành xử của Người đã mang tính biến hoá, tính biện chứng cực kỳ sâu sắc Nếu suy tư theo phương pháp tư duy biện chứng của Kinh Dịch thì ta thấy rằng, suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh đã luôn suy nghĩ và hành xử một cách cực kỳ biến hoá, cực kỳ biện chứng Chẳng hạn, Người
đã thực hiện được trọn vẹn và rất tự nhiên những vai trò kép, thống nhất và chuyển hóa của hai mặt đối lập: “Chủ tịch nước” - “Người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”, “Người lãnh đạo” - “Người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, V.V Có thể kết luận rằng, các nhân tố biện chứng trong Kinh Dịch là một trong những cơ sở quan trọng hình thành nên biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tóm lại, trên cơ sở tiếp thu và vận dụng các nhân tố biện chứng trong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc và phương Đông, trong đó Khổng giáo giữ một vị trí quan trọng, biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành Không phải ngẫu nhiên mà trong suốt cuộc đời cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn nhấn mạnh những quan
Trang 24điểm mang tính phương pháp luận triết học biện chứng rất sâu sắc, đó là: “Thiên biến vạn hóa”, “Tùy cơ ứng biến” và “Dĩ bất biến ứng vạn biến”.
sự xung đột giữa các ý kiến trái ngược nhau mà phát hiện ra chần lý, hay cỏ thể nói, đó
là nghệ thuật ph át hiện và chứng minh chân lý. Trong số các nhà triết học Hy Lạp cổ đại có đóng góp đối với quan niệm về phép biện chứng, có thể kể tới các vị như Dênông (người được Arixtốt gọi là “nhà sáng lập phép biện chứng”), Sôcrát, Hêraclít, Platông, Arixtốt Theo G.V.Ph Hêghen: “Ở đây (ừong triết học Hy Lạp cổ đại - LQK), chúng ta phát hiện ra khởi thuỷ của phép biện chứng, tức là, khởi thuỷ của sự vận động thuần tuý của tư tưởng trong khái niệm, hơn nữa, chúng ta còn phát hiện ra mâu thuẫn vốn có trong bản thân tồn tại khách quan (phép biện chứng chân chính)”[199, ừ 253] Ảngghen thì đánh giá: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng”[93, tr 34].
Thời Trung cổ, các nhà triết học kinh viện phương Tây vẫn sử dụng khái niệm
“phép biện chứng” Tuy nhiên, loại phép biện chứng này mang đậm tính kinh viện nên Hêghen gọi đó ià “phép biện chứng hĩnh thức”.
Phép biện chứng đã có bước phát triển vượt bậc trong triết học cổ điển Đức với những tên tuổi kiệt xuất như Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh, Hêghen Cantơ đã phân biệt hai loại phép biện chứng là “biện chứng pháp lôgic” và “biện chứng pháp siêu nghiệm”[xem 9, tr 35, 591-592] Hêghen đánh giá rằng, quan niệm của Cantơ về phép biện chứng cùng với thuyết “antinomie” của ông là bước tiến quan trọng nhất và sâu sắc nhất của phép biện chứng trong triết học cận đại.
Trang 25G.V.Ph Hêghen là người có đóng góp đặc biệt quan trọng ữong sự phát triển của phép biện chứng Quan niệm của Hêghen về phép biện chứng và bản thân phép biện chứng của Hêghen, bất chấp tính chất hạn chế của nó, vẫn là một thành quả to lớn của tư duy nhân loại và là một trong những nguồn gốc trực tiếp của phép biện chứng duy vật.
I lêghen không chỉ xem phép biện chứng là một phương pháp tư duy, mà ông còn coi đó là nguyên lý phổ biến, phù hợp với mọi hiện tượng, tức là một loại vũ trụ quan Hêghen rất coi trọng nguyên tăc về sự vận động và quan niệm rằng: “Bản thân sự
vận động là phép biện chứng của tất cả cái gì tồn tại”[81, ừ 271] Ông cho rằng, phép biện chứng nghiên cứu những mâu thuẫn trong bản thân bản chất của đối tượng, vạch ra những liên hệ nội tại và từ đó vạch ra cội nguồn và nội dung chân thực của sự vận động
và phát triển của đối tượng Quan niệm này đã đưa phép biện chứng bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Hêghen đã trình bày một cách hệ thống các quy luật và các cặp phạm trù của phép biện chứng Ông là người đầu tiên đã mô tả thế giới như một quá trình, cho rằng
“bản thân mọi sự vật đều là mâu thuẫn tự nó” Cho dù là thế giới tự nhiên, thế giới lịch
sử, hay thế giới tinh thần thì cũng đều là những quá trình tràn đầy mâu thuẫn, và chính mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi vận động, biến hoá và phát triển Ông nói:
Trong vũ trụ tuyệt nhiên không có sự vật nào mà chúng ta không thể hoặc không cần thiết chỉ ra mâu thuẫn trong nó”, chúng ta “có thể phát hiện
ra mâu thuẫn trong những đổi tượng thuộc mọi chủng loại, ứong mọi biểu
tượng, khái niệm và ý niệm Nhận thức mâu thuẫn và đặc tính mâu thuẫn trong nhận thức đối tượng như thế chính là bản chất của suy tư triết học [200,
tr 132].
Mác và Ăngghen đã nghiên cứu một cách sâu sác phép biện chứng của Hêghen,
và xác định nhiệm vụ là phải cải tạo triệt để phép biện chứng của Hêghen, không phải chỉ ở việc “dựng nó lại” để thấy ra hạt nhân hợp lý của nó, mà còn phải cải tạo bản thân phương pháp của nó: phương pháp của Hêghen dưới hình thái hiện có của nó, hoàn
toàn không thể dùng được Cho nên, trước hết cần phải phê phán đến nơi đến chốn phương pháp của Hêghen”[90, tr 612].
Trang 26Trước hết cần phải khẳng định rằng trong triết học Mác, phép biện chứng là
phép biện chứng duy vật. Đây là điểm khác biệt về chất của phép biện chứng do Mác và Ảngghen xây dựng với phép biện chứng của Hêghen Xuất phát từ quan điểm duy vật,
Mác và Ảngghen đã coi biện chứng là bản chất cố hữu của bản thân thế giới khách quan,
là biện chứng khách quan. Biện chứng khách quan có thể được phản ánh vào ứong đầu
óc con người và hình thành nên biện chứng chủ quan. Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan và những quy luật biện chứng bắt nguồn từ hiện thực khách quan, chứ không phải là bắt nguồn từ tinh thần chủ quan hay ý niệm tuyệt đối Từ đó, các ông đã làm cho khái niệm “phép biện chứng” có được nội dung thực sự khoa học trên cơ sở chủ nghĩa duy vật, làm cho “phép biện chứng” lần đầu tiên trong lịch sử phát triển cùa nó có được hình thái thực sự khoa học.
Trong triết học Mác, phép biện chứng còn được hiểu là một phương pháp đối lập với phương pháp siêu hình: phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng ữong mối quan hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng ”[93, tr 38],
Phép biện chứng duy vật là một hệ thống khoa học được hình thành từ các nguyên lý, quy luật và phạm trù trên cơ sở mối liên hệ nội tại của chúng Trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, quy luật mâu thuẫn là quy luật căn bản nhất, là thực chất và hạt nhân của phép biện chứng Lênin nói: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng ”[81, tr 240] Chính tính mâu thuẫn nội tại của sự vật đã quyết định sự vật là một quá trình phát triển vô hạn, phép biện chửng đã vạch ra bản
chất nội tại và quy luật của quá trình này, cho nên phép biện chứng “tức là học thuyết
về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”[79, ừ 53] Với tư cách là học thuyết về sự phát triển, bản thân phép biện chứng duy vật là một học thuyết mở, nó cho phép không ngừng khái quát, tổng kết và bổ sung những phát hiện mới về các các hình thức vận động và phát triển của hiện thực khách quan.
Trang 27Đen với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đặc biệt đánh giá cao phép biện chứng duy vật, coi đây là tru điểm của chủ nghĩa Mác [xem 42, tr 51] Chính phép biện chứng duy vật là cơ sở rất quan trọng nhất, xét về mặt phương pháp luận, hình thành nên biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng.
Trong khuôn khổ những tác phẩm của Hồ Chí Minh được công bố trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ hai), chúng ta không có nhiều tư liệu để qua đó trình bày đầy đủ quan niệm của Hồ Chí Minh về phép biện chứng duy vật Tuy nhiên, nghiên cứu một số đoạn văn trong đó Hồ Chí Minh sử dụng các khái niệm “biện chứng”, “duy vật biện chứng”, chúng ta có thể hình dung ra phần nào quan niệm của Người Trong bài Nói chiỉyện với đại biểu nhân dân thành ph ổ Hải Phòng (30/5/1957), khi nói về vấn đề “tiền đồ”[xem 111, tr 377-378], Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm biện chứng duy vật về mối quan hệ giữa cải chung và cải riêng để cắt nghĩa cho đồng bào hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa “tiền đồ riêng” của mỗi người và “tiền đồ chung” cùa dân tộc Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng, tương lai của mỗi cá nhân phụ thuộc vào tương lai của cả cộng đồng, của cả dân tộc Là một bộ phận của dân tộc, cá nhân muốn lo lắng cho tương lai của mình thì phải lo lắng đến tương lai của toàn dân tộc, dân tộc phát triển thì mỗi cá nhân cũng phát triển, trong tương lai của dân tộc có tương lai của mỗi cá nhân Sỗ là không duy vật, không biện chứng nếu cái riêng cho rằng nó, với
tư cách là cái riêng, tức là một bộ phận cấu thành của cái chung, lại có thể phát triển mà không liên quan gì đến sự vận động và phát triển của cái chung đang chứa đựng nó.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng là một nét đặc sắc trong phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh Điều đáng lưu ý là, khi xử lý mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, Hồ Chí Minh luôn nhận thức cái chung với tư cách là cái chung cụ thể, tức là cái chung như là tổng thể, chỉnh thể của cái riêng, và cái riêng cụ thể, tức là cái riêng như là một bộ phận của cái chung Tất nhiên, Hồ Chí Minh cũng không bác bỏ quan niệm xem xét cái chung như là cái chung trừu tượng, tức là như thuộc tỉnh chung chứa đựng trong các cái riêng - chẳng hạn “trong mỗi người dân Việt Nam ai cũng có ít hay nhiều lòng yêu nước” - nhưng cái chung trừu tượng ấy chi là hệ quả của cái chung cụ thể, và trong quá trình vận động, nó
Trang 28phải chuyển hoá và hiện hình thành cái chung cụ thể Nghiên cứu quá trình hình thành
và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, ta sẽ thấy quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng đã được Hồ Chí Minh vận dụng cực kỳ linh hoạt như thế nào.
Trong bài Nói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên lao động Hải Phòng
(30/5/1957), Hồ Chí Minh lại đề cập đến một quan hệ biện chứng cơ bản khác, đó là quan hệ biện chứng duy vật giữa vật chất và tinh thần [xem 111, tr 383] Trong đoạn trích này, ta càng thấy rố Hồ Chí Minh đã hiểu phép biện chứng duy vật nhuần nhuyễn đến mức nào Hồ Chí Minh đã phê phán những người nhận thức không đúng về mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần, từ đó phủ nhận vai ữò của sức mạnh tinh thần trong đấu tranh cách mạng Những người này là duy vật, song là duy vật siêu hình, đã tầm thường hoá quan điểm duy vật biện chứng về vần đề cơ bản của triết học, chỉ nhấn mạnh một chiều vai trò quyết định của vật chất đối với tinh thần, tư tưởng Việc Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến yếu tố quyết định của tinh thần đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta hoàn toàn không phải ỉà đảo ngược quan hệ vật chất - tinh thần, tức là duy tâm, mà là nhấn mạnh đến vai trò tác động ừở lại cùa tinh thần, và đặc biệt, quan trọng hơn, là nhấn mạnh đến yêu cầu phải xem xét mối quan hệ giữa vật chấí và tinh thần trong trạng thái động, chứ không phải trong trạng thái tĩnh, tức là phải biết dùng phương pháp duy vật biện chứng để xem xét vật chất và ý thức, cũng như sự chuyền hoảqua ỉại giữa chúng Tại Đại hội II của Đảng, Hồ Chí Minh đỗ so sánh phương pháp
“chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện trạng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem” - tức là phương pháp siêu hình, với phương pháp “không những nhìn vào hiện tại, mà lại nhìn vào tương lai” - tức là phương pháp duy vật biện chứng, và thõng qua những thắng lợi cách mạng (thành quả của công cuộc cải tạo thế giới) để khẳng định rằng, người cách mạng phải duy vật, song phải là duy vật biện chứng Rõ ràng, khảng định rằng tinh thần
là quan trọng thì dường như duy tâm, nhưng do khẳng định ấy xuất phát từ tình hình thực tể, từ nhận thức sâu sắc về sự chuyển hoá sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất nên hoá ra lại là duy vật biện chứng, còn khẳng định vật chất là quan trọng thì dường như duy vật, nhưng do khẳng định ấy rút ra một cách giáo điều từ lý luận, lại không thấy được sự chuyển hoá từ sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất nên lại
Trang 29hoá ra duy tâm và siêu hình Phải là người rất am hiểu phép biện chứng duy vật thì mới
có được cái nhìn duy vật biện chứng như thế về vật chất và tinh thần.
Cũng trong bài N ói chuyện với cán bộ, đảng viên và thanh niên lao động Hải Phòng, Hồ Chí Minh còn đề cập đến một vấn đề quan trọng khác của phép biện chứng duy vật khi vận dụng nghiên cứu lịch sử [xem 111, tr 386] Theo Hồ Chí Minh, hiểu duy vật biện chứng thì phải khiêm tốn với nhân dân, không khiêm tốn với nhân dân thì chưa hiểu biện chứng duy vật Rõ ràng, sự nhuần nhuyễn chủ nghĩa duy vật biện chứng đòi hỏi phải thấy lực lượng có sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn nhất trong xã hội chính là quần chúng nhân dân Nhân dân lao động là người làm nên lịch sử, là cội nguồn của mọi sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của xã hội Suy cho đến cùng, họ là người làm nên biện chứng của lịch sử Những người học lý luận biện chứng mà đem lý luận ấy đi “loè quần chúng”, tức là coi thường, đứng trên quần chúng, thì chính là đã thể hiện sự dốt nát của mình, thể hiện mình chưa hiểu gì về thực chất của phép biện chứng duy vật, cần phải “về học lại duy vật biện chứng”.
Có thể thấy rằng, nội dung của những đoạn trích mà ở đó Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp đến “biện chứng”, “phép biện chứng duy vật”, tức là những quan điểm về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lựi ích của cá nhân và lợi ích của dân tộc, về mối quan hệ cùa vật chất và tinh thần, về sức mạnh của quần chúng nhân dân trong lịch sử, cũng đồng thời là những nội dung rất cơ bản trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Những quan điểm trên được Hồ Chí Minh phát biểu rất nhiều lần trong các bài nói, bài viết của mình Như thế cũng có nghĩa là, dù không phải lúc nào cùng trực tiếp nhắc tới phép biện chứng duy vật (bởi theo Hồ Chí Minh, nói và viết cho quần chúng nhân dân mới biết đọc chữ quốc ngữ mà lúc nào cũng “biện chứng”, “duy vật” thì lại chính là “không biện chửng”, “không duy vật”), song những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là biểu hiện dưới hình thức đặc thù của phép biện chứng duy vật, hay nói như Mác là “lôgic đặc thù của cái đặc thù”.
Tóm lại, tiếp thu, vận dụng các phương pháp tư duy biện chứng, từ các nhân tố biện chứng ữong phương pháp tư duy truyền thống của dân tộc và phương Đông, đến phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã có được cơ sở
Trang 30phương pháp luận rất quan trọng để xây dựng nên hệ thống tư tưởng của Người, trong
đó có tư tưởng về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với tính biện chứng sâu sắc.
1.2 KẾ THỪA MỘT CÁCH BIỆN CHỨNG CÁC GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA CỦA DÂN T ộ c VÀ NHÂN LOẠI
Ấngghen đã viết: “Cũng như bất cứ học thuyết mới nào, chủ nghĩa xã hội trước
hết phải xuất phát từ những tư liệu tư tưởng đã tích luỹ từ trước, mặc dù gốc rễ của nó
nằm sâu trong những sự kiện kinh tế vật chất”[92, ừ 275] Bản thân Hồ Chí Minh luôn
ghi nhớ lời chi dẫn của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái
được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”[109, tr 46] Chính vì thế,
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển nhiều giá trị tư tưởng, văn hóa cùa dân tộc và
nhân loại để xây dựng nên hệ thống tư tưởng của Người, trong đó có tư tường về chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam Cách Hồ Chí Minh kế thừa các giá trị tư tưởng, văn hóa của
dân tộc và nhân loại - mà theo chúng tôi, cách kế thừa ấy rất biện chứng - vừa là một
biểu hiện biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vừa là
một cơ sở hình thành nên biện chứng của tư tưởng Hồ Chí Minh, khi mà sự kế thừa ấy
được thực hiện một cách có ý thức và thường xuyên, liên tục trong suốt cuộc đời cúa
Hồ Chí Minh.
Trong Luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu sự kế thừa một cách biện
chứng cùa Hồ Chí Minh đổi với một số giá trị tư tưởng, văn hóa của dân tộc và nhân
loại, từ truyền thống đến hiện đại, có liên quan trực tiếp đến vấn đề tư tưởng về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi tới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Những giá trị được kế
thừa và cách kế thừa các giá trị này được xác định dựa trên chính những quan điểm của
Hồ Chí Minh về các giá trị ấy.
1.2.1 Giá trị tư tưởng, văn hoá của dân tộc
a Giá trị tư tưởng, văn hỏa truyền thống
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được hình thành trước
hểt trên cơ sở kế thừa một cách biện chứng giá trị tư tưởng, văn hóa của dân tộc Trong
các giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh đặc biệt đánh giá
cao chù nghĩa yêu nước Người viết:
Trang 31Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mỗ, to lớn, nó lướt qua mọi
sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước [109, tr 171].
Trong lịch sử, chủ nghĩa yêu nước biểu hiện ra ở những vị anh hùng của dân tộc,
ở ý chí kiên cường bất khuất của lớp lớp nhân dân sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giành và giữ chủ quyền của dân tộc Tổng kết lịch sử, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa dân tộc3 là “động lực vĩ đại, và duy nhất”[104, ừ 467] của xã hội Việt Nam Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước là động lực cách mạng, là cơ sở quan trọng hình thành nên hệ thống tư tưởng của Người Chính Người đã khẳng định: “Lúc đầu, chính
là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[l 13, ừ 128] Nhà nghiên cứu người Mỹ, Jules Archer đánh giá:
“Cụ Hồ Chí Minh chác chắn sẽ đi vào lịch sử với tư cách một người yêu nước vĩ đại nhất ”[71,tr 11].
Đánh giá cao chủ nghĩa yêu nước truyền thống, song Hồ Chí Minh khẳng định cần phải xem xét chủ nghĩa yêu nước truyền thống mộí cách biện chứng.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước là động lực vĩ đại và duy nhất của dân
tộc Đây là chân lý, là cái bất biến, là cái chung xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam Song với cái nhìn biện chứng, chủ nghĩa yêu nước lại luôn biển đổi cùng với thời gian,
cùng với sự biến đổi của đời sống xã hội, mang những hình thức riêng ứong mỗi thời
kỳ lịch sử và ở những chủ thể khác nhau trong xã hội Chủ nghĩa yêu nước với tư cách
là thể thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng đã biểu hiện rõ ừong lịch sử dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi dân tộc ta phải đương đầu với thực dân Pháp xâm lược Biện chứng khách quan này đã
được Hồ Chí Minh phản ánh vào trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là tác phẩm Bảo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ (1924) Hồ Chí Minh đã chi rõ, với tư cách là cải chung, chủ nghĩa yêu nước là động lực của mọi cuộc đấu tranh, dù đó là cuộc đấu tranh của
3 Trong các tác phẩm cùa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước với tư cách là một giá trị truyền thống cùa dân tộc, một động lực vĩ đại trong đấu tranh cách mạng đôi khi được nhác tới dưới những khái niệm “tinh thần yêu nước”,
“lòng yêu nước”, “lòng ái quốc”, V.V., và đặc biệt là “chủ nghĩa dân tộc”
Trang 32những người tham gia biểu tình chống thuế ở Trung kỳ năm 1908, hay của phong trào của các nhà buôn Việt Nam chống lại các nhà buôn người nước ngoài, của học sinh bãi khóa, của vua Duy Tân chống Pháp, V.V Với tư cách là cải riêng, tức là những hình
thức cụ thể, thì “chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”[104, tr 466] Biện chứng của lịch sử dạy người cách mạng rằng, phải nắm được chủ nghĩa dân tộc với tư cách là cái chung, tức là động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của người Việt Nam, song đồng thời cũng phải hiểu rằng, đó là nắm cái chung dưới những hình thức cụ thể của nó, là phát triển cái chung dưới hình thức riêng phù hợp với những điều kiện lịch sử - xã hội mới Với Hồ Chí Minh, đó phải là chủ nghĩa dân tộc được hướng theo con đường cách mạng vô sản, là chủ nghĩa dân tộc mang trong mình khả năng “biến thành” chủ nghĩa quốc tế Trong thời đại mới, phải là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước như thế mới là nguồn sức mạnh vô địch đưa dân tộc Việt Nam đến sự giải phóng.
Xem xét một cách biện chứng chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh khẳng định cần phải “phát triển tinh thần yêu nước”:
tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rố ràng dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày [109, ừ 172],
Cùng với chủ nghĩa yêu nước là tinh thần đoàn kết Đoàn kết tạo nên lực lượng
vật chất để thực hiện chủ nghĩa yêu nước Nếu chủ nghĩa yêu nước là mục đích, tôn chỉ của mọi suy nghĩ, hành động của dân tộc Việt Nam thì trong hoàn cảnh đất hẹp, người
ít, lại phải đương đầu với những sức mạnh tàn phá ghê gớm của tự nhiên và xã hội, phương thức duy nhất để thực hiện mục đích, tôn chỉ ấy là đoàn kết.
Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra giá trị to lớn của tinh thần đoàn kết, để kế thừa, vận dụng và phát triển trong thời đại mới Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược cách mạng Đại đoàn kết dân tộc là một chiến lược, tức là có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa lâu dài và xuyên suốt, trước hết là vì lâu dài và xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết luôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn vong của dân tộc Người chỉ
Trang 33rỏ: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi”[109, tr 281].
Theo Hồ Chí Minh, trong các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta, ngoài
chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đoàn kết còn có chủ nghĩa nhân đạo Để thực hiện
được chủ nghĩa yêu nước thì cần phải đoàn kết Muốn đoàn kết thì phải dựa trên chù nghĩa nhân đạo Nhân đạo ứong những ứng xử nội bộ dân tộc và nhân đạo trong ứng xử với các quốc gia dân tộc khác Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến chủ nghĩa nhân đạo của người Việt Nam, chẳng hạn: “Chúng ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, công
lý, nhàn đạo”[107, tr 136]; “Người Việt Nam có tiếng là nhân đạo”[107, ữ 151] Chủ nghĩa nhân đạo biểu hiện ra ở lòng nhân ái, khoan dung, vị tha trước mỗi con người, đặc biệt là những người đã từng mắc phải sai lầm, khuyết điểm; ở lối sống trọng tình trọng nghĩa trong quan hệ giữa con người với con người, giữa dân tộc với dân tộc; ở sự tôn trọng sự sống, quyền sổng, quyền sung sướng và quyền tự do của mọi con người, mọi dân tộc “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí hiếu nhất”[l 10,
tr 60] Để đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh thấy rõ cần phải có lòng “khoan dung đại độ” Sự nghiệp đấu tranh cách mạng của một chiến sĩ cộng sản quốc tế khiến Hồ Chí Minh thấy ra rằng, nhân đạo thể hiện bản chất chung của loài người: “Con người dù
là xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình”[l 10, tr 60]; “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau, ấy là dân nào cũng yêu sự lành, ghét sự dữ”[107, tr 350]; và sức cảm hóa, sức chinh phục lớn nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với mọi người chính là chủ nghĩa nhân đạo cách mạng của nó: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”[l 15, ừ 554].
Điều cần lưu ý là trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như đối với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa nhân đạo với tư cách là các giá trị truyền
thống cũng cần được xem xét một cách biện chúng, nghĩa là xem xét các giá trị ấy trong trạng thái khả biển và do đó, chủ thể của hoạt động thực tiễn cần chủ động và tích cực cải biến các giá trị truyền thống cho phù hợp với sự biến đổi của lịch sử Chẳng hạn, đối
với chủ nghĩa nhân đạo truyền thống, Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân ta từ lâu đã sống vói
Trang 34nhau có tình có nghĩa như thế Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trờ thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biến một nhà”[l 15, tr 554],
Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết và chủ nghĩa nhân đạo là những giá trị tư tưởng, văn hóa cơ bản, cấu thành khung giá trị nền tảng cho toàn bộ các giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc Qua
sự kể thừa và phát triển của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước đã trở thành là động lực
vĩ đại của cách mạng, đại đoàn kết tạo nên lực lượng vật chất để đưa cách mạng đến thành công và chủ nghĩa nhân đạo là giá trị thẩm thấu vào toàn bộ sự nghiệp cách mạng, làm cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta trở thành sự nghiệp “văn minh chiến tháng bạo tàn” Các giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống của dân tộc qua sự kế thừa và phát triển của Hồ Chí Minh đã kết tinh vào ứong tư tưởng về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
b Đường iắi cứu nước của các nhà yêu nước tiền bổi
Nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc, phát triển đất nước được đặt lên vai Hồ Chí Minh, và để thực hiện thành công nhiệm vụ ấy, Người đâ biết kế thừa, phát triển đường lối cứu nước của các nhà yêu nước tiền bối, trong đó nổi bật là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu.
* Đường lỗi cứu nước của Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh (1972-1926) - “nhà quốc gia chủ nghĩa già”[106, tr 35] - là người đã quan tâm, giúp đỡ và ít nhiều có sự định hướng đối với Hồ Chí Minh trong những bước đi đầu trong sự nghiệp cách mạng.
Là một người yêu nước, nhận thức khá sâu sắc về tình hình xã hội Việt Nam dưới chế độ thực dân, đường lối cứu nước mà Cụ Phan Châu Trinh cổ xuý và thực hiện
là “cùng với nhân nhân chí sĩ ba kỳ mà thức tỉnh nhân tâm, hợp quần, hợp xã, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, ai nấy thấu rõ ngọn nguồn, đồng tâm hiệp lực đạp đổ cường quyền”[177, tr ỉ 02].
Cụ Phan Châu Trinh là người sớm thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc được
hình thành, tôi rèn qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông ta
Trong tác phẩm Pháp - Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam (1911-1912), Cụ đã chỉ rõ:
“chủ nghĩa dân tộc vốn có gốc ở tính Trời, không kể là dã man, là bán khai, là văn minh,
Trang 35nói chung đều có đặc tính ấy”[177, tr 51], vì thế, bất chấp sự đàn áp, thống trị tàn bạo của các thế lực phong kiến phương Bắc, lớp lớp thế hệ người Việt Nam đã anh dũng đứng lên, quyết giành lại độc lập chủ quyền cho dân tộc Dân tộc ta so với “hùm sói Trung Quốc” tuy đất nhỏ, dân ít, song “cuối cùng có thể thắng được, giành giật sinh tồn cho đến ngày nay, ngang nhiên là một nước lớn ở phương Nam”[177, ừ 52-53], đó là nhờ có “đặc tính trầm nghị kiên nhẫn, độc lập bất khuất của dân tộc đời trước của Tổ quốc ta”[177, tr 53].
Thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước truyền thống, Cụ Phan Châu Trinh cho rằng, “dân tộc ta, ngàn năm trước đây đã có cái đặc tính vĩ đại kia, như lấy học thuyết hoạt bát ngày nay của châu Âu phê bình khuyến khích làm cho lớn mạnh, mở mang tìm tòi làm cho rạng rỡ, thì tiền đồ dân tộc ta tốt lắm thay”[177, tr 53] Quan điểm của Cụ Phan về khơi dậy, phát huy, hiện đại hoá chủ nghĩa dân tộc truyền thống, coi đó là động lực giải phóng và phát triển đất nước là một tư tưởng lớn, ngang tầm thời đại, mà sau này, Hồ Chí Minh chính là người đã kế tục và hiện thực hoá.
Theo đường hướng phát huy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, Cụ Phan cho rằng
trước hết phải “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, tóc là ỈĨ1Ở mang nhận thức của nhân dân, khơi dậy và phát huy tinh thần tự lực tự cường của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân Cụ nói rõ hơn về đường lối của mình như sau: “dựa vào cái
lý thuyết nhân quyền để mà cổ động sĩ khí dân tìn h , hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực, kết đoàn hợp xã, dân tình thức tỉnh, kháng thuế cự sưu, tố giác tham quan lại nhũng, lại bất hợp tác từ cái này đến cái nọ, đến chừng đông tay vỗ nên bộp mà đoạt lại lợi quyền [1 77, tr 103J
Như vậy, mặc đù mục tiêu cao nhất là “đạp đổ cường quyền”, “đoạt lại lợi quyền”, tức là đánh đổ phong kiến, đuổi hết ngoại xâm, giành lại quyền lợi cho dân tộc, cho nhân dân, song trong bổi cảnh các lực lượng phản động đang rất mạnh, mà thực lực của ta còn yếu thì cần phải thực hiện các biện pháp cải cách, để làm cho thực lực của ta mạnh lên đă Nếu ngay lúc này mà hô hào đấu tranh vũ trang để đánh đuổi thực dân, đánh đổ phong kiến thì chỉ là đẩy nhân dân vào vòng hy sinh oan uổng, đây là điều mà - theo Cụ Phan - thực tế đã chứng minh: từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, bao
Trang 36cuộc cuộc đấu tranh đã nổ ra, nhưng “rốt cuộc đâu vẫn hoàn đó, chẳng nhúc nhích được
chút nào”[177, 99].
Đó là một lý do khiến Cụ Phan Châu Trinh không đồng tình với chủ trương bạo động của Cụ Phan Bội Châu Tất nhiên, còn một lý do quan ừọng khác, đó là ừong đường lối của Cụ Phan Bội Châu có một nội dung là muốn dựa vào Nhật để đuổi Pháp,
mà điều đó, theo Cụ Phan Châu Trinh, là hết sức sai lầm, chẳng khác gì “họ Lê cầu Thanh diệt Trịnh, họ Nguyễn cầu viện Pháp đình đánh Tây Sơn”, cho nên, nếu “phương pháp của ông Phan mà thành công thì quốc dân đồng bào chung quy vẫn nguyên cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi”[177, tr 102], thậm chí, Cụ còn nói rõ hơn:
“Nay nếu cầu mà được thì rước hùm beo vào giành giật nhau trong nhà cho là vui, đem rắn rết vào chiếm cứ trong nhà cho là tốt, thì kế cũng dở vậy”[177, tr 85] Từ đó,
Cụ rút ra kết luận: “một chủng tộc muốn như chủng tộc văn minh chỉ có tự lập tự cường”[177, tr 99] Đây là nhận xét rất xác đáng của Cụ Phan Châu Trinh.
Cụ Phan Châu Trinh chưa bàn nhiều về một xã hội tốt đẹp, song Cụ cũng đã nêu lên mấy quan điểm chung, đáng chú ý:
Trước hết, Cụ kịch liệt phản đoi chế độ quân chủ. Là người am hiểu Nho học,
am hiểu thực tế chốn quan trường, lại bước đầu tiếp thu tư tưởng, văn hoá dân chủ tư sản, Cụ phê phán chế độ quân chủ chuyên chế “trăm việc chánh trị vào một tay vua, công việc triều đình cấm không cho dân nói đến”[177, ừ 141], “ quốc gia luân lý của
ta từ xưa đến nay chỉ ở trong vòng chật hẹp hai chữ vua và tôi Không nói đến “dân và nước” vì dân không được bàn đến việc nước”[177, ừ 250], do vậy mà nảy sinh bao điều tệ hại, chẳng hạn như: “dân với vua xa cách nhau quá, các quan ở giữa muốn làm chi thì iàm, dân không có chỗ kêu ca”[177, tì- 141], tuy có phép luật mặc lỏng, nhưng mà cứ tự tay ông vua lập ra, chớ còn dân thì chẳng biết gỉ hết”, “cái phép luật thi hành rộng rãi hay là nghiêm nhặt là tuỳ theo cái lòng vui, buồn, thương, ghét của một ông vua mà thôi, còn phép luật tuy có cũng như không”[177, tr 277], v.v Tóm lại,
“ừong hai ngàn năm các nhà vua chẳng ngó ngàng chi tới cái lợi hại dân tộc, chỉ lo tính toán mà đè nén cái trí dân để mà giữ chắc cái chìa khoá tủ sắt ngôi thiên tử cho con cháu mình”[177, tr 275] Vì thế, “nước ta từ nay về sau chẳng những là quyền vua không nên tôn, mà ngôi vua cũng nên cất đi”[177, tr 142] Để đảnh đổ triều đình phong
Trang 37kiến, Cụ Phan Châu Trinh chủ trương kêu gọi người Pháp giúp đỡ Cụ đã cố gắng chứng minh cho những người đứng đầu chính quyền thuộc địa thấy rằng, đánh đó triều đình phong kiến là có lợi cho chính người Pháp, cho mối quan hệ giữa người Pháp với người Việt Nam.
Phê phán chế độ quân chủ, Cụ Phan chủ trương chế độ dân chủ Cụ đã từng nói:
Tôi là người hâm mộ văn minh dân chủ, ghét chuyên chế quân quyền; đau đớn vì quan lại tham lam, thương xót vì dân sinh khốn khó Vậy nên tôi sẵn lòng liều cả thân mạng tôi, ra gánh vác việc đời, trông mong có cứu lại cuộc hiểm nghèo được chút nào chăng! Qua so sánh với chế độ quân chủ, Cụ đã chỉ rõ tính ưu việt của chế độ dân chủ Theo
Cụ, trong chế độ dân chủ, “tự quốc dân lập ra pháp luật, đặt ra các cơ quan để lo việc chung cho mọi người Lòng quốc dân muốn thế nào thi được thế ấy, dẫu không hay lắm, cũng không đến nỗi phải đè ép khốn nạn như tôi mọi người ta”[177, tr 283]; nếu quân chủ là nhân trị (tóc là một mình ông vua cai trị tất cả), thì dân chủ là pháp trị: “Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nhà nước hay là người thường, đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, Chỉ trừ khi nảo xâm lấn đến quyền hạn của người khác thì không được mà thôi”[177, tr 283] V.v
Đẻ xây dựng một chế độ xã hội mới, tốt đẹp, Cụ Phan Châu Trinh nhấn mạnh phải biết kế thừa, phát huy nhiều giá trị tư tưởng, văn hoá truyền thống của dân tộc, đồng thời phải biết học tập, kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hoá của Âu châu, làm cho “dân Việt Nam ai ai cũng đều biết nghĩa vụ đối với nước Việt Nam”[177, ừ 263], thì nhất định tiền đồ dân tộc nhất định sẽ vô cùng sán lạn.
Điều quan trọng nhất, theo Cụ Phan, là nền chính trị mới phải quan tâm đến “hoạ phúc” của nhân dân, phải là một nền chính trị nhàm ỉàm cho “nước ỉợi dân giàu” Cụ viết:
Hoạ phúc của nhân dân gốc ở nền chính trị; mà chính trị tốt hay xấu thì bắt đầu ở chỗ dùng người Nếu chính trị nhằm làm cho nước lợi dân giàu thì lối dùng người sẽ là công; dùng người công chính thì tài trí sẽ được phát huy, mọi việc thực hành được chu tất Nếu chính trị nhàm vào tư lợi cá nhân, thì lối dùng người ắt là tư; dùng người đã thiên tư thì hối lộ nảy sinh, kỷ cương rối loạn [176, tr 275].
Trang 38Như vậy, có thể thấy rằng, trong tư tưởng của Cụ Phan Châu Trinh chứa đựng rất nhiều điểm tiến bộ Sai lầm căn bản của Cụ là muốn “ỷ Pháp cầu tiến bộ”, “cậy Pháp tự lập” - “may mà nước Pháp suy lòng bác ái bình đảng mà giúp đỡ, thì không chỉ không
có hại cho Pháp, mà lợi cũng rất nhiều, mà người Nam cũng ít mang hoạ”[177, ữ 73] -
vì thế, con đường cứu nước của Cụ đã không thể đi tới tháng lợi cuối cùng.
* Đường lối cứu nước của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu (1867-1940) - “”nhà cách mạng lão thành tiêu biểu cho chủ nghĩa quốc gia”[106, tr 35] - cũng là một người để lại những dấu ấn nhất định đối với
sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh.
Phan Bội Châu là một nhà yêu nước tiêu biểu ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Chính
Cụ Phan Châu Trinh, mặc dù không tán đồng đường lối bạo động, song vẫn đánh giá rất cao về Cụ Phan Bội Châu, với những lời chẳng hạn như: “rất có chí khí, có nghị lực, nhẫn nhục, dám làm; có điều tin vào thì không chịu bỏ, dẫu có sấm sét cũng không đổi Nay sĩ phu khắp nước chưa ai có thể ví với ông ấy”[177, tr 66].
Phan Bội Châu chủ trương đáu tranh bằng bạo động Mà muốn tiến hành bạo động thi một trong những điều quan trọng nhất là phải khơi dậy tinh thần yêu nước sục
sôi của các tầng lớp nhân dần Ý thức rất rõ sức mạnh của khối đoàn kết dãn tộc, Cụ
viết: “Nước ta ngày nay chi có thể trông cậy ở sự hoà hợp của mọi người mà thôi”[10, tr 169] Từ nhận thức như thế, Cụ Phan đã viết nên những áng văn hùng hồn để kêu gọi nhân dân thức tỉnh, đứng lên Lập luận cơ bản của Cụ Phan là: sở dĩ có dân tộc ta, và dân tộc ta có được một lịch sử hàng ngàn năm oanh liệt như vậy, là nhờ ở nhân dân: nếu không có dân ta Làm gì có nước, làm gì có nước Việt Nam”, và nếu đã như vậy, thì trước hiện trạng nước mất nhà tan, trách nhiệm đứng lên cứu nước cứu nhà cũng là trách nhiệm của nhân dân.
Thấy ra vai trò và sức mạnh của nhân dân, song trước vấn đề đâu lực lượng nòng cốt của sự nghiệp cách mạng, thì ta thấy ở Cụ Phan có sự lúng túng Đó là một hạn chế
mà do những điều kiện lịch sử, Cụ đã không thể vượt qua Song dù sao, quan điểm của
Cụ Phan về nhân dân với tư cách là lực lượng sẽ quyết định vận mệnh của dârf*tộc là một quan điểm đúng đắn Giáo sư Trần Văn Giàu đã đánh giá: “Phan Bội Châu chưa nhận thức đầy đủ vai trò của nhân dân trong lịch sử, nhưng trong tác phẩm của cụ, quần
Trang 39chúng và ngay cả công nhân, nông dân đã xuất hiện, không phải như công cụ của một vài người biệt tài mà như lực lượng có ý thức về trách nhiệm cao cả của mình”[10, tr 20], Cụ Phan cũng đã từng bước đầu tiếp cận đến quan điểm về vai trò của công nhân
và nông dân đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Đẻ thực hiện được chủ trương bạo động, Cụ Phan Bội Châu còn cho rằng phải nhờ sự giúp đỡ cửa nước ngoài, và nước đó là Nhật Bản Cơ sở của quan điểm “cầu viện” chính là thuyết “đồng chủng, đồng văn” Trong cuộc đời cách mạng của Cụ Phan Bội Châu, đây là một sai lầm đáng tiếc Cụ đúng khi nghĩ ràng, cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi thì một trong những điều kiện quan trọng là phải có được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo bạn bè quốc tế, song Cụ sai khi chọn Nhật Bản, khi tin vào thuyết
“đồng chủng, đồng văn”, để sau này chính Cụ đã phải ngậm ngùi than rằng:
“Suối cuồng chưa uống đã sinh cuồng Đồng chủng nghĩa tình thảy chuyện suông ”[12, 618].
Trong suy tư của Phan Bội Châu, vấn đề chế độ xã hội sau khi giải phóng dân tộc cũng được Cụ dành cho sự quan tâm xứng đáng Tư tưởng của Phan Bội Châu về vấn
đề này đã trải qua mấy bước chuyển biến Như chính Cụ đã viết: năm Bính Ngọ (1906) Tư tưởng lúc ấy, chuyên chú trọng về quân chủ lập hiến năm Tân Hợi (1911) Tư tưởng mình lúc ấy lại khuynh hướng vào dân chủ cộng hoà”[13, tr 354],
Xuất phát từ quan điểm coi nhân dân là người tạo nên đất nước, quan điểm chung
của Phan Bội Châu là phê phán chế độ quân chủ Trong Hải ngoại huyết thư (1906), Cụ
viết: “Làm còm cối gân sức của nghìn vạn sức người, dốc hết máu mỡ của nghìn vạn ức người, tổ chức ruộng đất mà nghỉn vạn ức người cày cấy lại để tạo thành nước Nước vổR là nước của dân ta mà thôi, chỉ một người kia sao có được nước”[l 1, tr 196] Cụ cho rằng, chính chế độ quân chủ mà trong đó “vua không biết có dân”, “quan lại không biết có dân”, và “dân của nước không biết có nước (vì chỉ biết trung với vua)”[ ll, ứ 196] là một trong những nguyên nhân mất nước, vỉ vậy phải “xoá bỏ chính thể quân chủ, vì đó là một chính thể rất xấu vậy”[12, tr 135].
Trong tác phẩm Tân Việt Nam (1907), Cụ đã nêu lên “mười điều sướng”, mà
thực chất là hình dung của Cụ về một xã hội tốt đẹp trong tương lai [xem 11, tr 253],
Trang 40Đến tác phẩm Quang phục quân phương lược (1912), quan điểm của Phan Bội Châu về chế độ xã hội tương lai đã được xác định rồ trong một tổng lộ trình cách mạng:
“Tôn chỉ của Quang phục quân là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước Cộng hoà dân chủ”[12, ữ 134] Như vậy con đường cách mạng Việt Nam theo quan điểm của Cụ Phan là trước hết giải phóng dân tộc, sau đó kiến tạo chế
độ xã hội mới, khởi đầu từ chế độ dân chủ cộng hoà Cụ Phan viết về chính thể dân chủ cộng hoà như sau: đó là “một chính thể rất tốt đẹp Quyền bính của nước là của chung toàn dân do nhân dân quyết định Những dấu vết độc hại của chính thể chuyên chế không còn nữa”[ 12, tr 135].
Có thể nói, từ chỗ “chú trọng” vào chế độ quân chủ lập hiến, dù ừong đó vua chỉ
là hỉnh thức, đến chỗ phê phán chế độ quân chủ, và đến “khuynh hướng” vào chế độ dân chủ cộng hoà, đó là một bước tiến dài trong tư tưởng của Cụ Phan Bội Châu Tư tường về xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà ở Việt Nam sau khi đánh đuổi thực dân Pháp của Cụ Phan là một tư tưởng hợp lý, đúng đắn.
Điều đặc biệt, đến những năm cuối đời, Cụ Phan đã hướng cảm tình về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội Từ tác phẩm Trtỉyện Phạm Hồng Thải đến tác phẩm
Xã hội chủ nghĩa, ta thấy Cụ Phan đã có những nhận thức bước đầu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, quan điểm của Cụ là, “không phải là tôi phản đổi chủ nghĩa xã hội Những sách về chủ nghĩa xã hội tôi đã có đọc nhiều, đã nghiên cứu rất kỹ, tôi vẫn công nhận rằng những lý thuyết ấy rất chính đáng, nhưng chưa có thể thực hành ở xứ này được”[13, tr 370] Theo Cụ Phan, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc Việt Nam là giải phóng dân tộc, đó là nhiệm vụ phải làm tnrớc, giống như người đang đối bụng, phải ăn mâm cơm để trước cửa Còn chủ nghĩa xã hội, tuy là mâm cơm ngon hom, nhưng mâm cơm ấy để Ưong nhà, “muốn được ăn cái mâm cơm ở ứong nhà thì phải ăn cho hết cái mâm cơm ở trước cửa đi đã, rồi mới có đường đi vào trong nhà, chúng ta đã không thèm để ý đến cái mâm cơm ở trước cửa, thì rút cục chúng ta chỉ đứng ngoài thêm chảy nước miếng cục”[13, ứ 370], Quan điểm của Cụ Phan ở đây là rất rố: Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tốt đẹp, cần phải hướng tới, song trước hết phải giải phóng dân tộc, và sau khi giải phóng dân tộc, cần phải xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà trước khi xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy chưa thật rõ ràng, song Cụ