Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến BĐKH - Thời tiết: Là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, gió và mưa xảy ra trong khí quyển ở một kh
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC -
BÙI TIẾN DŨNG
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN TẠI CÁC TRẠI GIAM THONG QUA THÍ ĐIỂM TẠI TRẠI GIAM YÊN HẠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội - 2015
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC -
BÙI TIẾN DŨNG
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN TẠI CÁC TRẠI GIAM THONG QUA THÍ ĐIỂM TẠI TRẠI GIAM YÊN HẠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số : Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Đức Thi
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và trích dẫn rõ ràng nguồn gốc
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Bùi Tiến Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua một quá trình dài theo đuổi đề tài khoa học này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Phạm Đức Thi - người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, các cô trong khoa Sau đại học – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức chuyên môn quý báu trong suốt quá trình học tập, góp phần cho tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cám ơn của mình đến gia đình và bạn bè trong khoa Sau đại học đã động viên và giúp đỡ tác giả cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Hà Nội, tháng 09/2015 HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Bùi Tiến Dũng
Trang 5MỤC LỤC Trang MỤC LỤC
1.3 Biến đổi khí hậu và kịch bản BĐKH ở Việt Nam 18
1.6. Tổng quan về khu vực nghiên cứu trại giam Yên Hạ 33
1.7. Tổng quan thông tin chung về truyền thông BĐKH tại Việt Nam 41
1.8 Một vài nhận xét về những thông tin truyền thông về biến đổi khí
Trang 6CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Khái quát chung về nội dung truyền thông 44
3.3 Đề xuất một số mô hình truyền thông 55
3.4 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm thiểu tác động biến
3.4.3 Tích cực đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, cổ vũ
toàn dân tham gia ứng phó với BĐKH, bảo vệ tài nguyên, môi trường
60
Trang 7MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Gross Domestic Product
6 IPCC Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Intergovernmental Panel on Climate Change
7 IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên International Union for Conservation of Nature
12 UNFCCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu
United Nations Framework Convention on Climate Change
13 UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
United Nations Development Programme
Trang 8Bảng 1.2 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) vùng Tây Bắc so với thời kỳ
1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
27
Bảng 1.3 Hiện trạng tài nguyên đất và dự báo tài nguyên đất tỉnh Sơn La 35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1 Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO2 8
Hình 1.3 Diện tích đất nông nghiệp bị mất do hạn hán ở vùng núi phía Bắc
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế
kỷ 21 Những báo cáo gần đây của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) đã xác nhận rằng BĐKH thực sự đang diễn ra và đã gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường tại nhiều nước trên thế giới, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do những tác động của BĐKH [18]
Hiện nay trên thế giới, tất cả các quốc gia đều rất tích cực hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, phổ biến kiến thức về BĐKH cho các nhóm đối tượng khác nhau Điều 6 của Công ước Khung về BĐKH của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) kêu gọi các quốc gia tăng cường công tác đào tạo, giáo dục nâng cao nhận thức
và tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia và tiếp cận các thông tin về BĐKH Nghị định thư Kyoto cũng đề xuất các bên liên quan cùng nhau hợp tác cấp quốc gia
và quốc tế nhằm xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục đào tạo bao gồm tăng cường năng lực quốc gia, đồng thời điều phối các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH Theo kết quả điều tra của UNFCCC, tại các quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì các nhà quản lí và hoạch định chính sách đã công nhận giáo dục về BĐKH là ưu tiên hàng đầu và truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng đứng vị trí thứ hai
Các chiến lược quốc gia về BĐKH chỉ có thể thành công nếu như khuyến khích được sự tham gia của các bên liên quan Kinh nghiệm của UNDP cho thấy các chiến lược hay kế hoạch truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ giữa chính phủ với tổ chức dân sự xã hội, khối doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng
Do đó thông qua các hoạt động nâng cao nhận thức và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, cộng đồng không những sẽ tích cực hơn trong việc tham gia vào các quá trình ra quyết định và đồng thời có những đóng góp cho các nỗ lực thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH
Trang 10Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng ven biển Do đó trách nhiệm bảo vệ môi trường, ứng phó với BĐKH không phải là của riêng cá nhân hay tổ chức nào đó mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân
Thực hiện chủ trương chung của Đảng và Nhà Nước, ngoài thực hiện các công việc được Đảng và Nhân dân giao phó, thời gian qua toàn thể cán bộ, chiến
sỹ công an tại trại giam Yên Hạ thuộc xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
đã phát động các phong trào bảo vệ môi trường, tham gia ứng phó với BĐKH Thông qua các hoạt động này đã góp phần phát huy vị trí, vai trò của lực lượng công an nhân dân là lực lượng xung kích đi đầu trong việc bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với BĐKH
Để cụ thể hóa những chương trình, kế hoạch nêu trên, trong khuôn khổ luận văn này học viên chỉ tham gia xây dựng chương trình truyền thông về BĐKH trong lực lượng công an tại trại giam Yên Hạ nhằm nâng cao kiến thức
về BĐKH Bên cạnh đó, xã Yên Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La nghèo là nơi tập trung nhiều đồng bào các dân tộc miền núi, chịu tác động trực tiếp của
BĐKH Từ đó, đề tài: “Xây dựng chương trình truyền thông về BĐKH trong lực lượng công an tại các trại giam thông qua thí điểm tại trại giam Yên Hạ (thuộc
xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La)” được lựa chọn và triển khai
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất xây dựng chương trình truyền thông trong lực lượng công an trại giam về BĐKH nhằm đảm bảo toàn thể cán bộ chiến sĩ sẽ được cung cấp kiến
thức, thông tin cơ bản về BĐKH
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nơi đóng quân
- Hệ thống hóa các vấn đề lí luận về BĐKH (Khái niệm, nguyên nhân, bản chất, tác động và các giải pháp ứng phó)
Trang 11- Nghiên cứu xây dựng các mô hình truyền thông thích hợp về BĐKH
- Tác dụng của chương trình truyền thông BĐKH đến lực lượng công an trại giam
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là xây dựng chương trình truyền thông biến đổi khí hậu trong lực lượng công an
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại trại giam Yên Hạ
thuộc xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, Sơn La
- Phạm vi khoa học: Lĩnh vực truyền thông BĐKH
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về giáo dục truyền thông, nâng cao nhận thức về BĐKH đối với lực lượng công an nhân dân
- Phương pháp khảo sát và điều tra thực địa
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra
- Phương pháp xây dựng chương trình truyền thông BĐKH
6 Kết quả đạt được và ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đạt được: Đề tài đã xây dựng được chương trình truyền thông BĐKH cho lực lượng công an trại giam Yên Hạ thuộc xã Huy Hạ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài sẽ cung cấp thông tin về BĐKH, xây dựng chương trình truyền thông về BĐKH cho lực lượng công an của các trại giam Việt Nam nói chung và trại giam Yên Hạ nói riêng
Trang 127 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu Trong chương 1, tác giả đã tổng quan khá đầy đủ các tài liệu liên quan, đặc biệt kể tới một số chương trình, nghị quyết của nhà nước về BĐKH, tổng quan được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và BĐKH của tỉnh Sơn La
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trong chương 2, tác giả
đã sử dụng nguồn số liệu tin cậy, chính xác và các thông tin để xây dựng nội dung truyền thông BĐKH
Chương 3: Kết quả và thảo luận Chương 3 đã đưa ra các kết quả của đề tài, tổ chức được buổi tập huấn về kiến thức cơ sở về BĐKH cho cán bộ công an trại giam Yên Hạ
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan đến BĐKH
- Thời tiết: Là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng (như nhiệt
độ, áp suất, độ ẩm, gió và mưa) xảy ra trong khí quyển ở một khoảng thời gian ngắn và trong một không gian hẹp, ví dụ có thể nói: thời tiết ở Hà Nội, thời tiết ngày hôm nay
- Khí hậu: Khí hậu thường được định nghĩa là trung bình theo thời gian
của thời tiết (thường là 30 năm)
- Biến đổi khí hậu: Là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình
và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn, ví dụ sự ấm lên hay lạnh đi
Sự thay đổi của trạng thái khí hậu đó xảy ra do các quá trình tự nhiên hoặc
do hoạt động của con người gây ra đối với các thành phần của khí quyển
- Sự ấm lên toàn cầu: Đây còn được xem là cách gọi khác của BĐKH
toàn cầu Sự ấm lên toàn cầu là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái Đất tăng lên trong các thập kỉ gần đây Ấm lên toàn cầu xuất phát từ việc tích tụ và gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong bầu khí quyển
- Khí nhà kính: là tên gọi chung của một số loại khí trong thành phần khí
quyển có khả năng hấp thụ các bức xạ hồng ngoại được phản xạ từ bề mặt Trái Đất, hạn chế lượng bức xạ của mặt đất thoát ra ngoài không gian Mật độ của khí nhà kính ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiệt độ của Trái Đất
- Các loại khí nhà kính chủ yếu gồm: điôxit cabon (CO2), hơi nước (H2O), Mêtan (CH4), ôxit ni-tơ (N2O) và các khí CFC (là các hợp chất các-bon của Clo
và Flo, những hóa chất do con người tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó chúng xâm nhập vào khí quyển)
Trang 14- Hiệu ứng nhà kính: Là cụm từ để chỉ hiệu ứng xảy ra khi các tia bức xạ
sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển của Trái Đất và được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt sóng dài Một số phân tử trong bầu khí quyển (khí nhà kính) có thể hấp thụ các bức xạ nhiệt này và nhờ đó duy trì nhiệt độ trung bình trên Trái Đất khoảng 15oC (nếu không có khí nhà kính thì nhiệt độ là -
18oC) được duy trì qua đó giữ lại hơi ấm trong bầu khí quyển
Hiệu ứng này giống hiệu ứng giữ nhiệt của nhà kính nên được gọi là Hiệu ứng nhà kính
- Nước biển dâng: Là sự dâng mực nước của biển trên toàn cầu do tan
băng và sự giãn nở của nước biển dưới tác động của BĐKH (nhiệt độ tăng) trong đó không bao gồm thủy triều và nước dâng do bão
- Khả năng bị tổn thương: Khả năng bị tổn thương do tác động của
BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị thiệt hại
do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH Khả năng thích ứng của một hệ thống càng thấp thì khả năng bị tổn thương do BĐKH càng lớn
- Giảm thiểu BĐKH: Là các hành động, các biện pháp nhằm giảm mức
độ, cường độ phát thải khí nhà kính và tăng cường các bể hấp thụ khí nhà kính
Nói cách khác là bao gồm các hành động, biện pháp nhằm loại bỏ vĩnh viễn hoặc giảm thiểu nguy cơ và hiểm họa lâu dài của BĐKH đến cuộc sống con người, các hệ sinh thái, môi trường
Việc giảm nhẹ (giảm thiểu) bao gồm việc giảm đốt các nguyên liệu hóa thạch, giảm thiểu việc sử dụng năng lượng, tăng hiệu suất sử dụng năng lượng,
sử dụng các nguồn năng lượng thay thế và giữ khí CO2 và các khí nhà kính khác dưới lòng đất, trong đất trồng hoặc cây trồng
- Thích ứng với BĐKH: Là sự điều chỉnh trong hệ thống tự nhiên và nhân
tạo đối với tình huống hoặc các tác động của khí hậu trong thực tế hoặc kịch bản, theo đó giảm thiểu thiệt hại và tận dụng những cơ hội có lợi
Trang 15- Kịch bản BĐKH: Là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong
tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH (sự phát triển của dân số, sản xuất công nghiệp, năng lượng ), phát thải khí nhà kính do sử dụng năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo, BĐKH và mực nước biển dâng
1.2 Tổng quan BĐKH
1.2.1 BĐKH trên thế giới
* Biến đổi khí hậu toàn cầu trong quá khứ
Khí hậu Trái đất đã có những thay đổi trong quá khứ với quy mô thời gian
từ vài triệu năm đến vài trăm năm Những vụ núi lửa phun trào mạnh đưa vào khí quyển một lượng khói bụi khổng lồ, ngăn cản ánh sáng mặt trời xuống Trái đất, có thể làm lạnh bề mặt Trái đất trong một thời gian dài Sự thay đổi của dòng chảy đại dương cũng làm thay đổi sự phân bố của nhiệt độ và mưa
Quá trình băng hà và không băng hà bắt đầu xảy ra từ khoảng hai triệu năm trước công nguyên (TCN) Trong chu kỳ này, nhiệt độ bề mặt Trái đất thường biến động khoảng 5-7oC Ở thời kỳ không băng hà, khoảng 125.000 - 130.000 năm TCN, nhiệt độ trung bBnh bán cầu Bắc cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp 2oC
Cách đây khoảng 12.000 năm, Trái đất ấm lên đáng kể đến khoảng 10.500 năm TCN, Trái đất lạnh đi đột ngột, thời kỳ lạnh này kéo dài khoảng 500 năm, rồi cũng đột ngột chấm dứt và ấm trở lại
Khoảng 5.000 - 6.000 năm trước, nhiệt độ không khí ở vĩ độ trung bình của bán cầu Bắc cao hơn hiện nay 1 - 3oC Trong thời kỳ cuối băng hà, nhiệt độ Trái đất có những thay đổi nhỏ và không khí cũng ẩm hơn
* Biến đổi khí hậu hiện đại – Sự nóng lên toàn cầu
Kết quả đo đạc và nghiên cứu hiện nay cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,74 oC trên đất liền nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007) Nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kỳ 1920 - 1940, giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960 và lại
Trang 16tăng lên từ sau năm 1975 Bằng cách đo đạc các thớ cây, diện tích các vùng băng, người ta nhận thấy đây là thời kỳ nhiệt độ cao nhất trong vòng 600 năm trở lại đây
Các nhà khoa học đều nhất trí rằng, hiện tượng nóng lên xảy ra trong 50 năm cuối của thế kỷ XX và hiện nay là do hậu quả hoạt động của con người
* BĐKH trên thế giới
Từ khoảng giữa thế kỷ 19, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc đo đạc các trị số về khí hậu chở nên chính xác và có được số liệu định lượng chi tiết về BĐKH trong hơn một thế kỷ qua Những số liệu cho thấy xu thế chung là từ cuối thế kỷ 19 đến nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Kết quả nghiên cứu hiện nay cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ 20 đã tăng lên 0,74oC (± 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007)
Hình 1.1 Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO 2 – Nguồn IPCC
Hiện tượng mưa cũng có những biến động đáng kể, tăng 5 - 10% trong thế
kỷ 20 trên lục địa bán cầu Bắc và giảm ở một số nơi, tuy xu thế không rõ rệt như nhiệt độ Hiện tượng mưa lớn tăng lên ở các vĩ độ trung bình và cao của bán cầu Bắc Cùng với xu thế tăng nhiệt độ toàn cầu là sự phân bố các dị thường của nhiệt độ Trên các đại lục ở bán cầu Bắc, trong những năm gần đây xuất hiện hàng loạt kỷ lục về nhiệt độ cao nhất và thấp nhất Khoảng 20 năm gần đây,
Trang 17người ta đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các dị thường khí hậu với hiện tượng ENSO
Thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, tố, lốc ) và các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, rét đậm, rét hại, mưa lớn v.v ) gia tăng Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) tại Hội nghị các Bên Công ước khí hậu ở Cancun tháng 12/2010, các hiện tượng thời tiết cực đoan lớn nhất trong năm 2010 là: Nắng nóng lịch sử gây cháy rừng, hạn hán ở LB Nga, Ukraina, Bêlarut và một số nước khác ở Châu Âu; Mưa lớn, lũ lụt ở Pakistan, Nêpan, Trung Quốc, các nước vùng Ban căng (châu Âu), Việt Nam; giá rét ở Canada, Anh, Đông Bắc Trung Quốc…; Hiện tượng Lanina mạnh nhất trong vòng 30 năm qua Trong 6 tháng đầu năm 2011, tố lốc kinh hoàng xảy ra ở Mỹ làm chết hơn 500 người, bị thương 750 người; Hạn hán nặng nhất trong vòng 50 năm qua xảy ra ở miền trung của Trung Quốc, ảnh hưởng đến 34 triệu người, trong khi đó mưa lớn và
lũ lụt nghiêm trọng xảy ra ở 2 tỉnh phía Nam là Quý Châu và Hồ Nam làm 6 nghìn người phải sơ tán Theo tổ chức Oxfam (Anh), trong 9 tháng đầu năm
2010, 21 nghìn người trên thế giới đã chết vì lũ, lụt và hạn hán, gấp đôi cùng kỳ năm 2009 [6,7]
1.2.2 Nguyên nhân của BĐKH
Cho đến nay, các nhà khoa học đã có sự nhất trí cao và cho rằng trong những thập kỷ gần đây, những hoạt động phát triển KT-XH hội với nhịp điệu ngày một cao trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, năng lượng, giao thông, nông - lâm nghiệp và sinh hoạt đã làm tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính (N2O, CH4, H2S và nhất là CO2) trong khí quyển, làm Trái Đất nóng lên, làm biến đổi hệ thống khí hậu và ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu (Al Gore, 2006)
* Nguyên nhân do tự nhiên
Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cường độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt Trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa,
thay đổi đại dương, thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất
Trang 18Hình 1.2 Xuất hiện các Sunspots trên Mặt trời (Nguồn:NASA)
Số Sunspots xuất hiện trung bình năm từ năm 1610 đến 2000 Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ
bề mặt trái đất (Nguồn: NASA)
Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt Trời cũng gây ra sự thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất Cụ thể
là từ khi tạo thành Mặt trời đến nay gần 4,5 tỷ năm cường độ sáng của Mặt trời
đã tăng lên hơn 30% Như vậy có thể thấy khoảng thời gian khá dài như vậy thì
sự thay đổi cường độ sáng mặt trời là không ảnh hưởng đáng kể đến BĐKH
Núi lửa phun trào - Khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều năm Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí được phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lượng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất
Đại dương ngày nay - Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí hậu Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển
Trang 19Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất - Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ đạo Trục quay có góc nghiêng 23,5° Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đến BĐKH
Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện nay Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người
* Nguyên nhân do con người
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái Đất
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 - 200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280ppm) Từ khoảng năm 800, hàm lượng khí CO2
bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên 1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005 Riêng các chất khí chlorofluoro carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới
Trang 20có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa
mỹ phẩm phát triển
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác
Từ năm 1840 đến 2004, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1.100 tấn, gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ
Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO2 của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn, bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2, tiếp theo là Liên bang Nga 1,5 tỷ tấn, Ấn Độ 1,3
tỷ tấn, Nhật Bản 1,2 tỷ tấn, CHLB Đức 800 triệu tấn, Canada 600 triệu tấn, Vương quốc Anh 580 triệu tấn Các nước đang phát triển phát thải tổng cộng 12
tỷ tấn CO2, chiếm 42% tổng lượng phát thải toàn cầu so với 7 tỷ tấn năm 1990 (29% tổng lượng phát thải toàn cầu), cho thấy tốc độ phát thải khí CO2 của các nước này tăng khá nhanh trong khoảng 15 năm qua Một số nước phát triển dựa vào đó để yêu cầu các nước đang phát triển cũng phải cam kết theo Công ước BĐKH
Năm 1990, Việt Nam phát thải 21,4 triệu tấn CO2 Năm 2004, phát thải 98,6 triệu tấn CO2, tăng gần 5 lần, bình quân đầu người 1,2 tấn/năm (trung bình của thế giới là 4,5 tấn/năm, Singapo 12,4 tấn, Malaysia 7,5 tấn, Thái Lan 4,2 tấn, Trung Quốc 3,8 tấn, Inđônêxia 1,7 tấn, Philippin 1,0 tấn, Myanma 0,2 tấn, Lào 0,2 tấn)
Như vậy, phát thải các khí CO2 của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong
Trang 21khu vực Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của Việt Nam sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2020, tăng 93% so với năm 1998
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân
số thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải toàn cầu; các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2%, và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu Đó là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto
Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên được ghi trong Công ước
Khung của Liên hợp quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu
vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”
* Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính
Trong thành phần của khí quyển Trái Đất, khí nitơ chiếm 78% khối lượng, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% các khí khác như argon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêon, hêli, hyđrô, ôzôn,… và hơi nước Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này, đặc biệt là khí CO2, CH4, NOx, và CFCs - một loại khí mới chỉ có trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất
Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là
về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất
Các chất khí nói trên, trừ CFCs, đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các khí nhà kính tự nhiên Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên,
Trang 22trái đất của chúng ta sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 15 oC, tức là nhiệt độ trung bình trái đất sẽ khoảng -18 oC Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là “Hiệu ứng nhà kính” Ngoài
ra, khí ôzôn tập trung thành một lớp mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại từ mặt trời chiếu tới trái đất và thông qua
đó bảo vệ sự sống trên trái đất
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp về trước, ít nhất khoảng 10.000 năm, nồng
độ các chất khí nhà kính rất ít thay đổi, trong đó khí CO2 chưa bao giờ vượt quá 300ppm Chỉ riêng lượng phát thải khí CO2 do sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng hàng năm trung bình tỷ lệ từ 6,4 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 23,5 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990 lên đến 7,2 tỷ tấn cacbon (xấp xỉ 45,9 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong thời kỳ từ 2000 – 2005
Các nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat, nitrat…) gây ra hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là 0,5W/m2 và gián tiếp phản xạ của mây là 0,7W/m2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ bề mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng 0,02W/m2; trái lại, sự gia tăng khí ôzôn trong tầng đối lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ năm 1750 đến nay được xác định là tạo ra hiệu ứng dương đối với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 và 0,12W/m2 Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính, đã tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều hơn so với những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự BĐKH hiện nay chủ yếu là do các hoạt động của con người
* Nguyên nhân của nước biển dâng
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong
đó không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào
Trang 23đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau
về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác Mực nước biển được đo thông qua
hệ thống thiết bị đo triều ký đặt tại các trạm hải văn hoặc các máy đo độ cao vệ tinh
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu
Mực nước biển tăng phù hợp với xu thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần chứa nước trên toàn cầu được ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền
Các kết quả nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển có thể cao hơn từ 0,5 – 1,4m vào cuối thế kỷ XXI (http://biendoikhihau.gov.vn)
1.2.3 Những hậu quả của BĐKH
- Nghèo đói: Tác động đến các lĩnh vực kinh tế (nông, lâm, ngư nghiệp, năng lượng, công nghiệp, giao thông, xây dựng, du lịch )
- Dịch bệnh: Y tế, sức khỏe cộng đồng
- Suy thoái và ô nhiễm môi trường tự nhiên: đất, nước, không khí…;
- Suy giảm tài nguyên đa dạng sinh học, sinh thái, cảnh quan, văn hóa
- Ảnh hưởng đến an sinh, xã hội: gia tăng các vấn đề xã hội (di dân, việc làm, nơi ở )
* Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt
Sản xuất trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc BĐKH tác động đến sản xuất của ngành trồng trọt ở miền núi phía Bắc thông qua một số khía cạnh sau:
Trang 24- Một số biểu hiện của BĐKH làm mất diện tích đất canh tác Miền núi phía Bắc vốn được đặc trưng bởi địa hình phức tạp và có ít diện tích đất canh tác Một số biểu hiện của BĐKH như sạt lở đất, lũ quét làm mất diện tích đất canh tác làm hạn chế nguồn vốn sinh kế của người dân, đặc biệt là người nghèo Hạn hán, rét đậm, rét hại làm giảm hoặc phá hủy các diện tích đã được gieo trồng, từ đó giảm sản lượng lương thực sản xuất được Một số kết quả nghiên cứu đã cho thấy diện tích đất nông nghiệp mất vào vụ đông xuân và hè thu hàng năm do hạn hán giao động trong khoảng từ 25 đến 9050 ha (hình 1.5)
Hình 1.3 Diện tích đất nông nghiệp bị mất do hạn hán ở vùng núi phía Bắc
từ năm 1980 đến 1998
- Rét đậm, rét hại cũng làm thiệt hại lớn đến sản xuất lúa Đợt rét đậm rét hại vào năm 2008 ở miền núi phía Bắc đã phá hủy khoảng 100.000 ha lúa, ước tính tổng thiệt hại do đợt rét này lên đến 30 triệu đô la (Oxfam International in Vietnam., 2008) Riêng ở tỉnh Lào Cai, đợt rét đậm này đã gây thiệt hại hơn 84 tấn lúa giống do người dân phải gieo trồng lại sau khi đợt rét đậm đi qua Không những chỉ tác động đến sản xuất lúa, các hiện tượng thời tiết cực đoan còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lâm nghiệp, cây ăn quả và hoa màu trong vườn Kết quả nghiên cứu ở Bắc Kạn cho thấy lũ quét và lụt đã ảnh hưởng trực tiếp đến cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả và cây lâm nghiệp làm mất diện tích đất canh tác và giảm năng suất [17]
Trang 25Các số liệu thống kê về thiệt hại do thiên tai trên địa bàn của tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2010, cho thấy: tổng số người chết tăng 46% từ 62 người chết giai đoạn 2001 - 2005 lên 91 người giai đoạn
2006 - 2010; nhà cửa bị thiệt hại tăng 146% (giai đoạn 2001 - 2005 là 10.400 ngôi nhà, giai đoạn 2006 - 2010 là 25.607 ngôi nhà bị thiệt hại); thiệt hại về sản xuất nông nghiệp tăng 12,4 lần; về giao thông tăng 5,3 lần; tổng giá trị thiệt hại trong giai đoạn 2006 - 2010 là 1.111 tỷ đồng, tăng 10 lần so với giai đoạn 2001 -
2005 Vụ đông xuân năm 2010 - 2011 Sơn La đã xảy ra đợt rét đậm, rét hại kéo dài, nhiệt độ không khí ban ngày thường xuyên ở mức thấp <150C, nhiệt độ ban đêm có lúc xuống đến 6°C, vùng núi cao nhiệt độ xuống đến 5°C Cùng lúc dịch bệnh lở mồm long móng đã xảy ra tại 232 bản 83 xã của 11 huyện, thành phố trong toàn tỉnh kết hợp với đợt rét đậm, rét hại kéo dài đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Số lượng gia súc bị thiệt hại do rét đậm rét hại trong vụ đông xuân 2010 - 2011 là 18.812 con trong đó: gia súc 14.467 con; gia cầm 4.345
con Tổng giá trị thiệt hại trên 46 tỷ đồng (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La) Tỉnh Sơn La ngoài đặc điểm khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế,
tỉnh còn có số lượng người dân tộc thiểu số rất lớn, đây là những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất đối với những thách thức do BĐKH gây ra
Hậu quả của BĐKH đối với Sơn La là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước
Không những làm mất diện tích đất canh tác, BĐKH làm suy thoái đất từ
đó làm thay đổi hình thức sử dụng đất dẫn đến thay đổi phân bố cây trồng (Nyong, 2008) và giảm năng suất Sự thay đổi phân bố cây trồng nhiều khi không được theo kịp bởi người dân hay các chính sách hỗ trợ của chính phủ
Nhiệt độ tăng làm thay đổi quá trình sinh trưởng của cây trồng, thời vụ cũng như sự phân bố cây trồng (Adejuwon, 2004), từ đó làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng (Dow & Downing, 2007), đặc biệt là các loại cây cung cấp lương thực cho con người Nhiệt độ tăng làm giảm nguồn nước tự nhiên cung
Trang 26cấp cho cây trồng từ có ảnh hưởng đến diện tích đất có thể canh tác và chất lượng của cây trồng Đặc biệt, do tính chất địa hình, giảm nguồn nước tự nhiên
do nhiệt độ tăng ở vùng núi phía Bắc nghiêm trọng hơn so với các nơi khác
Tăng lượng mưa (ví dụ như mức độ, thời gian và tính thay đổi) gây ngập úng cho nhiều vùng đồi dào nước (Rex et al., 2007) Kết quả nghiên cứu ở tỉnh Lào Cai và Bắc Kạn cho thấy ngập úng đã gây tác động không nhỏ đến sản xuất trồng trọt
Nhìn chung, sinh vật gây ra dịch bệnh và các loại sâu hại phát triển tốt hơn khi nhiệt độ cao trong điều kiện cung cấp nước tối ưu Vì vậy, sự ấm lên toàn cầu có khả năng mở rộng sự phân bố các loại dịch bệnh và sâu hại trên cây trồng Khí hậu đang có khuynh hướng ấm hơn vào mùa đông có thể cho phép thời kỳ trứng của côn trùng vượt qua mùa đông và kết quả gây nên dịch bệnh trong suốt mùa vụ gieo trồng Kết quả thảo luận nhóm trong nghiên cứu đánh giá nhu cầu giảm thiểu và thích ứng với BĐKH ở Bắc Kạn cho thấy dịch bệnh cây trồng được xác định là một trong những hậu quả do tác động của BĐKH gây nên [17]
BĐKH thông qua nhiệt độ tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã ảnh hưởng một cách tổng hợp đến năng suất và chất lượng cây trồng Kết quả nghiên cứu ở Bắc Kạn cho thấy tác động của BĐKH có thể làm giảm từ 30% -> 100% năng suất của cây trồng [17], từ đó gây mất an ninh lương thực và nghèo đói cho người dân
1.3 Biến đổi khí hậu và kịch bản BĐKH ở Việt Nam
1.3.1 Khái quát về BĐKH tại Việt Nam
BĐKH, với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, chủ yếu là do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người gây phát thải quá mức vào khí quyển các khí gây hiệu ứng nhà kính [1]
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, đã nêu lên một số điểm như sau về biểu hiện của BĐKH [4]:
Trang 27Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở
Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,5oC đến 0,7oC Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam
- Tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008);
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống
- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ qua Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại thường xuất hiện mà gần đây nhất là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ;
- BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ lụt, hạn hán ngày càng ác liệt (gia tăng về cường độ, tần suất xuất hiện và độ bất thường);
- Bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn
Theo Nguyễn Đức Ngữ, một cách biểu hiện của BĐKH là: Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn [14]
Như vậy, đối với miền Bắc Việt Nam, do tác động của BĐKH lượng mưa giảm, số lượng các đợt không khí lạnh giảm nhưng xuất hiện các đợt rét đâm, rét hại kéo dài bất thường
Nhận biết được tác động của BĐKH đến sự phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã tham gia các chương trình chung tay với thế giới nhằm ứng phó với BĐKH, ví dụ như: Nghị định thư Kyoto, Chương trình nghị sự 21… về phát triển bền vững
Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp lý để nhằm ứng phó với BĐKH, như:
Trang 28- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa
XI về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 2139/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu ngày 05 tháng 12 năm 2011;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu ngày 02
tháng 12 năm 2008;
- Triển khai thực hiện Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03 tháng 12
năm 2007của Chính phủ, Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu của Bộ Tài Nguyên Môi trường;
- Chương trình Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC): Được dự báo là một trong những quốc gia sẽ chịu nhiều ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, Việt Nam luôn được các nhà tài trợ song phương, các tổ chức quốc tế quan tâm
ưu tiên hỗ trợ ngân sách thực hiện các dự án nhằm thích ứng với BĐKH thông qua Chương trình Hỗ trợ ứng phó với BĐKH SP-RCC;
- Luật Phòng chống thiên tai;
- Luật Bảo vệ Môi trường;
- Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống thiên tai;
- Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH;
- Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của các ngành và các tỉnh Trong thập kỷ vừa qua, diễn biến thiên tai ở Việt Nam diễn ra rất bất thường các đợt nắng nóng, rét đậm rét hại chưa từng có; mưa lớn, lũ lụt xảy ra thường xuyên; nhiều cơn bão mạnh xuất hiện và có đường đi phức tạp…đã gây thiệt hại về kinh tế và con người rất lớn đối với nước ta Những nghiên cứu gần đây cho thấy các hiên tượng thiên tai bất thường và hiếm xảy ra phù hợp với xu thế của BĐKH toàn cầu đang riễn ra phức tạp và ngày một khốc liệt hơn
Trang 29Về BĐKH ở Việt Nam, các nghiên cứu chỉ ra rằng: nhiệt độ trung bình năm
ở Việt Nam đã tăng 0,5 – 0,7 o
C trong khoảng 50 năm qua Trong 3 thập kỷ gần đây, 1981 – 2010, số đợt không khí lạnh qua Bắc Bộ giảm rõ rệt, trung bình từ 29 đợt/ năm xuống còn 24 đợt/ năm Trong thời kỷ 1960 – 2007, số cơn bão hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,45 cơn/thập kỷ Số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam cũng tăng lên trung bình 0,226 cơn/thập kỷ, số bão ảnh hưởng đến khu vực phía Nam tăng lên Số ngày mưa phùn trung bình năm ở phía Bắc giảm rő rệt, từ 35,8 ngŕy trong thập kỷ 1971 - 1980, xuống cňn 14,5 ngŕy/năm trong 10 năm gần đây Biến động của lượng mưa trong 9 thập kỷ vừa qua không nhất quán, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.Trên lãnh thổ, xu thế biến động của lượng mưa cũng rất khác nhau giữa các khu vực Vấn đề nước biển dâng trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình tăng 2,5 - 3,0cm/1 thập kỷ [6,7]
1.3.2 Kịch bản BĐKH ở Việt Nam
Kịch bản năm 2011 xây dựng dựa trên phương pháp chi tiết hóa thống kê;
mô hình hoàn lưu khí quyển toàn cầu AGCM của Viện nghiên cứu Khí tượng Nhật Bản (MRI); mô hình khí hậu khu vực PRECIS của Vương quốc Anh; các phần mềm thống kê SDSM của Hoa Kỳ; SIMCLIM của New Zealand cũng được dùng làm công cụ xây dựng kịch bản Các kịch bản được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu bao gồm: Kịch bản phát thải thấp B1; kịch bản phát thải trung bình (B2,A1B); kich bản phát thải cao (A2,A1FI) Kết quả như sau [4]:
Nhiệt độ
- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng 1,6 – 2,2oC trên phần lớn lãnh thổ Việt Nam Nhìn chung nhiệt độ phía Bắc tăng nhanh hơn phía Nam
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng 2 – 3oC trên phần lớn lãnh thổ Khu vực Hà Tĩnh đến Quảng Trị tăng nhanh nhất
Trang 30- Theo kịch bản phát thải cao: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng 2,5 – 3,7oC
Trang 31(a) Kịch bản B1 (b) Kịch bản B2 (c) Kịch bản A2
Hình 1.5 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) vào cuối thế kỷ 21 so với giai
đoạn 1980 – 1999 theo các kịch bản – Nguồn MONRE
Một số cực trị khí hậu
Theo kịch bản phát thải trung bình, vào cuối thế lỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng 2 – 3,2oC; nhiệt độ cao nhất trung bình tăng 2 – 3,2oC trên phạm vi cả nước Nơi tăng nhiều nhất là Đông Bắc và Nam Tây Nguyên
Nước biển dâng
- Theo kịch bản phát thải thấp B1: Cuối thế kỷ 21, trung bình toàn dải ven biển Viêt Nam, mực nước biển dâng khoảng 49 – 64 cm
- Theo kịch bản phát thải trung bình B2: Cuối thế kỷ trung bình toàn dải ven biển mực nước dâng 57 – 73 cm, khu vực Cà Mau, Kiên Giang có mức tăng cao hơn so với các khu vực khác
- Theo kịch bản phát thải cao A1FI: Trung bình toàn dải ven biển mực nước dâng tư 78 – 95 cm, khu vực Cà Mau, Kiên Giang có thể tăng tối đa 105
cm
Trang 32Việc sử dụng Kịch bản BĐKH trong đánh giá tác động và xây dựng kế hoạch hành động là rất cần thiết đối với các ngành các địa phương, nó giúp cho công tác ứng phó chủ động hơn trong tương lai Tuy nhiên, việc lựa chọn kịch bản cũng phải xem xét lựa chọn cho phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng phát triển trong tương lai
1.4 Hiện trạng về BĐKH khu vực nghiên cứu
1.4.1 Thực trạng biến đổi khí hậu vùng Tây Bắc
♦ Biến đổi nhiệt độ: Ở vùng Tây Bắc, trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ
biến đổi theo xu thế tăng không đồng đều giữa các mùa trong năm Mức tăng trung bình của nhiệt độ tháng I là 1,4oC/50 năm; nhiệt độ tháng VII là 0,5oC/50 năm; nhiệt độ trung bình năm là 0,5oC/50 năm Ở Tây Bắc, mức độ biến đổi của nhiệt độ tương đối lớn trong mùa đông, tương đối nhỏ trong mùa hè và trung bình năm So với thời kỳ trước (1961-1990), vào thời kỳ gần đây (1991-2007) nhiệt độ trung bình tháng I cao hơn 0,9oC; nhiệt độ trung bình tháng VII cao hơn 0,1oC; nhiệt độ trung bình năm cao hơn 0,5oC Trong thời kỳ gần đây, tần suất bắt đầu mùa lạnh sớm giảm đi và suất bắt đầu mùa lạnh muộn tăng lên; ngược lại tần suất kết thúc mùa lạnh sớm tăng tần lên, tần suất kết thúc mùa lạnh muộn giảm đi so với thời kỳ 1961-1990; Còn về tháng cao điểm của mùa lạnh không
có sự khác biệt giữa hai thời kỳ
♦ Biến đổi lượng mưa: Lượng mưa có xu thế biến đổi trái ngược nhau
trong mùa khô và mùa mưa Lượng mưa thời kỳ mùa khô (XI-IV) ở Tây Bắc tăng khoảng 6%, còn lượng mưa thời kỳ mùa mưa (V-X) lại giảm khoảng 6% Lượng mưa năm giảm khoảng 2% Ở vùng Tây Bắc có khoảng 60% số trạm khí tượng có lượng mưa thời kỳ gần đây (1991-2007) giảm đi so với thời kỳ trước (1961 – 1990), với mức tăng hoặc giảm lên đến 60 – 150 mm Trong thời kỳ gần đây mùa mưa bắt đầu vào một trong ba tháng (III, IV, V) và kết thúc vào một trong ba tháng (VIII, IX, X), trong khi vào thời kỳ trước (1961-1990) bắt đầu và kết thúc vào một trong 4-5 tháng (III-VII và VIII-XI)
♦ Biến đổi độ ẩm và bốc hơi: Ở Tây Bắc, mức tăng phổ biến của độ ẩm
tương đối thời kỳ gần đây (1991-2007) so với thời kỳ trước (1961–1990) trong mùa đông là 10 – 15%; mùa xuân là 13-16%; mùa hè là 12-13%; mùa thu là 10-
Trang 3314% và tính chung cho cả năm là 12-14%, đứng thứ hai trong các vùng khí hậu của Việt Nam
Trên đa số các trạm khí tượng ở vùng Tây Bắc, lượng bốc hơi mùa xuân
và mùa hè thời kỳ gần đây (1991-2007) giảm đi so với thời kỳ trước 1990); Mức giảm phổ biến đạt 10-100 mm trong mùa xuân; đạt 10-50 mm vào mùa hè Lượng bốc hơi mùa thu và mùa đông có xu thế tăng trong thời kỳ gần đây khá cân bằng với xu thế giảm với mức chênh lệch giữa hai thời kỳ phổ biến trong khoảng 5-50 mm Lượng bốc hơi năm không thể hiện xu thế tăng hay giảm rõ rệt giữa hai thời kỳ gần đây và trước năm 1990, với mức chênh lệch phổ biến trong khoảng 20-150 mm
(1961-♦ Biến đổi các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Cùng với diễn biến tăng
nhiệt độ và giảm lượng mưa trong thời kỳ gần đây, ở vùng Tây Bắc một số hiện tượng thời tiết đặc biệt như dông, lốc, sương mù, sương muối, mưa đá chủ yếu
có diễn biến theo xu thế giảm; riêng số ngày khô nóng có diễn biến tăng, với mức tăng khá lớn tới 10 ngày/năm so với thời kỳ trước (1961-1990) ở vùng thấp dưới 300 m
1.4.2 Kịch bản biến đổi khí hậu vùng Tây Bắc
♦ Kịch bản biến đổi nhiệt độ
- Nhiệt độ trung bình: Theo kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ trung
bình năm có xu thế tăng liên tục theo thời gian, vào giữa thế kỷ 21 mức tăng cho toàn vùng dao động trong khoảng 1,0 – 1,8oC, khả năng cao nhất có thể xảy ra là 1,2-1,5oC; Đến cuối thế kỷ 21, mức tăng trong khoảng 1,9-3,4oC, khả năng cao nhất có thể xảy ra là 2,3-2,8oC (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ ( o C) trung bình năm vùng Tây Bắc so với thời
kỳ 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Các mốc thời gian của thế kỷ 21 ST
Trang 342 Điện Biên 0,5 0,7 1,0 1,3 (1,0 –
1,6) 1,6 1,9 2,2 2,4
2,6 (1,9 - 2,8)
3 Sơn La 0,6 0,8 1,1 1,5 (1,2 –
1,8) 1,8 2,1 2,4 2,6
2,8 (2,2 - 3,4)
4 Hòa Bình 0,5 0,7 1,0 1,2 (1,0 –
1,4) 1,5 1,8 2,0 2,2
2,4 (2,2 - 2,8)
Nguồn: Viện Khoa học KTTV và Môi trường
Nhiệt độ trung bình các mùa có mức tăng rất khác nhau Nhiệt độ trung bình mùa đông (XII-II) và mùa xuân (III-V) tăng mạnh nhất, đạt 1,5oC vào giữa thế kỷ 21 và đạt tới 3,0-3,1oC vào cuối thế kỷ Nhiệt độ trung bình mùa hè (VI-VIII) tăng ít nhất đạt 0,8oC vào giữa thế kỷ 21 và tới 1,7oC vào cuối thế kỷ Nhiệt độ trung bình mùa thu (IX-XI) tăng 1,2oC vào giữa thế kỷ 21 và 2,5oC vào cuối thế kỷ (Phụ lục)
▪ Nhiệt độ cực trị: Theo kịch bản phát thải trung bình, ở vùng Tây Bắc
nhiệt độ cực trị có xu thế biến đổi như sau:
- Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình mùa đông tăng 1,2oC; nhiệt độ cao nhất trung bình mùa đông tăng 1,2-2,2oC Đến cuối thế kỷ
1,0-21, nhiệt độ thấp nhất trung bình mùa đông tăng 2,0-2,2oC; nhiệt độ cao nhất trung bình mùa đông tăng 2,2-3,2oC
- Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình mùa hè tăng 1,2-1,7oC; nhiệt độ cao nhất trung bình mùa hè tăng 1,0-1,2oC Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình mùa hè tăng 2,0-2,7oC; nhiệt độ cao nhất trung bình mùa hè tăng 2,0-2,2oC
- Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm tăng 1,0-1,7oC; Nhiệt độ cao nhất trung bình năm tăng 1,0-1,7oC Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ thấp nhất trung bình năm tăng 2,7-3,0oC; Nhiệt độ cao nhất trung bình năm tăng 2,0-3,2oC
- Số ngày nắng nóng (nhiệt độ cao nhất trên 35oC) có thể tăng từ 5-30 ngày vào cuối thế kỷ 21
Trang 35Kịch bản biến đổi lượng mưa
▪ Lượng mưa năm: Theo kịch bản phát thải trung bình, lượng mưa năm
của vùng Tây Bắc có xu hướng tăng liên tục theo thời gian Vào giữa thế kỷ 21, mức tăng của lượng mưa năm dao động trong khoảng 1,0-4,0%, khả năng cao nhất có thể xảy ra là 2,6-3,0%; đến cuối thế kỷ, mức tăng dao động trong khoảng 3,0-7,0%, khả năng cao nhất có thể xảy ra là 4,9-5,8% (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) vùng Tây Bắc so với thời
kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Các mốc thời gian của thế kỷ 21 ST
Nguồn: Viện Khoa học KTTV và Môi trường
▪ Lượng mưa các mùa: Trong 4 mùa, lượng mưa của ba mùa (hè, thu và
đông) có xu hướng tăng, còn lượng mưa của mùa xuân lại có xu hướng giảm Lượng mưa mùa hè có mức tăng lớn nhất, đạt 6,2% vào giữa thế kỷ 21; đạt 11,9% vào cuối thế kỷ Lượng mưa mùa đông tăng 2,9% vào giữa thế kỷ 21; tăng 5,6% vào cuối thế kỷ Lượng mưa mùa thu tăng ít nhất với mức tăng đạt 1,1% vào giữa thế kỷ 21; đạt 2,2% vào cuối thế kỷ Lượng mưa mùa xuân giảm 2,9% vào giữa thế kỷ 21; 5,6% vào cuối thế kỷ
Trang 36▪ Lượng mưa ngày lớn nhất: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa ngày lớn nhất
trung bình ở vùng Tây Bắc có thể tăng khoảng 50% so với thời kỳ 1980-1999, tuy nhiên kỷ lục tuyệt đối của lượng mưa ngày lớn nhất có thể tăng tới 126%
1.4.3 Biểu hiện và tác động của BĐKH đến các ngành sản xuất ở các tỉnh vùng núi phía Bắc
* Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành trồng trọt
BĐKH tác động đến tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, mọi vùng lãnh thổ, trong đó chịu tác động lớn nhất là ngành nông nghiệp, vùng núi và vùng ven biển Như vậy, sản xuất nông nghiệp ở miền núi phía Bắc chịu ảnh hưởng rất lớn
từ BĐKH, nhất là ngành trồng lúa:
- Lượng mưa có xu hướng giảm có thể gia tăng hạn hán, gia tăng sâu
bệnh…
- Bão, áp thấp nhiệt đới có xu hướng nhiều hơn gây mưa lớn trong thời
gian ngắn có thể gây ngập lụt, đặc biệt ở miền núi, địa hình không đồng nhất về
độ cao, nước chảy dồn về những cánh đồng lúa trũng thấp, hiện tượng lũ quét, lũ lụt, ngập úng xảy ra thường xuyên hơn
- Số ngày rét đậm, rét hại kéo dài làm mạ non không sinh trưởng được và dẫn đến chết
Vì vậy, BĐKH làm cho năng suất lúa có xu hướng giảm ngày càng nhiều hơn
* Tác đông của biến đổi khí hậu đến sản xuất chăn nuôi
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh của vật nuôi Để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa BĐKH và dịch bệnh vật nuôi là điều không dễ và nhiều khi không cần thiết Nhiều nghiên cứu quy nạp rằng BĐKH là nguyên nhân quan trọng dẫn đến dịch bệnh trên vật nuôi (Thornton và cộng sự, 2007; Thornton và Mario, 2008) Kết quả nghiên cứu ở vùng núi phía Bắc cho thấy dịch bệnh xảy ra nhiều hơn trong những năm gần đây, ví dụ dịch lở mồn long móng diễn ra vào năm 2006 ở tỉnh Bắc Kạn đã gây thiệt lại lớn đến chăn nuôi trâu bò của tỉnh [17] Kết quả thảo luận nhóm phụ nữ người Tày và người Hán ở
xã Ngọc Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cho thấy dịch bệnh xảy ra trên trâu bò và lợn xảy ra ngày càng nhiều hơn, đặc biệt trong những năm gần đây,
Trang 37thâm chí dịch bệnh xảy ra trên cả gia súc đã được tiêm phòng Khi nhiệt độ tăng
sẽ hỗ trợ cho việc lan truyền mần bệnh đến những vùng lạnh hơn, cả những hệ thống ở vùng cao (như bệnh tụ huyết trùng) hoặc trong đến những vùng có khí hậu ôn hòa hơn Thay đổi lượng mưa cũng có thể ảnh hưởng rộng đến sự di chuyển dịch bệnh trong những năm ẩm ướt Trong khi đó người nghèo sống ở vùng cao không có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ thú y dẫn đến bùng
nổ dịch bệnh trên vật nuôi và kết quả tăng tỷ lệ chết gia súc, gia cầm (Gorforth, 2008) Thêm vào đó khi dịch bệnh diễn ra, thị trường quay lưng lại với sản phẩm chăn nuôi Điều này thêm một lần nữa gây thiệt lại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nông dân nghèo có hoạt động chăn nuôi là những người có các hoạt động sinh kế dễ bị tổn thương nhất do BĐKH (Rex et al., 2007; Gorforth,
2008)
- Một trong những tác động của BĐKH đến sản xuất chăn nuôi là thay đổi
sự có sẳn nguồn thức ăn cho chăn nuôi Nhiệt độ xuống thấp hoặc tăng cao đều làm giảm diện tích đồng cỏ cho chăn nuôi gia súc nhai lại và giảm năng suất cây trồng cung cấp lương thực cho gia súc dạ dày đơn (Thornton et al., 2007; Thornton & Mario, 2008) Nhiệt độ thấp (rét đậm và rét hại) làm khan hiếm nguồn thức ăn cho vật nuôi đồng thời làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tăng nguy cơ mắc bệnh, từ đó gây chết vật nuôi Đợt lạnh ở vùng núi phía Bắc vào năm 2008 đã làm chết hơn 60.000 con trâu bò, trong đó riêng tỉnh Lào Cai
có 18.760 con trâu bò chết (Oxfarm Great Britain in Vietnam., 2008), đợt lạnh năm 2010 ở tỉnh Hà Giang đã làm cho 7.538 con trâu bò bị chết (UBND tỉnh Hà Giang., 2011) là một ví dụ điển hình Một ví dụ điển hình khác là tác động của rét đậm rét hại đến sản xuất chăn nuôi ở xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang Xã có tổng số hộ khoảng 1.300 với dân số khoảng 7.100 người, nhưng năm 2008 có đến 333 con trâu bò chết, năm 2009 có 300 con chết và năm 2010
có 176 con chết, ngoài ra còn gây thiệt hại đến 3,3 tấn giống lúa lai (giá trung bình 1kg iống lúa lai vào khoảng 40.000 VND) Đây là một thiệt hại lớn cho một xã miền núi như Tùng Bá
- Nhiệt độ tăng vào mùa hè dẫn đến nhu cầu nước cho vật nuôi tăng lên rõ rệt, trong khi đó nguồn nước cung cấp không được đáp ứng một cách đầy đủ BĐKH có thể làm giảm khả năng sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi như giảm tăng trọng, sinh sản và sản xuất sữa (Rex và cộng sự, 2007) thông qua giảm chất lượng thức ăn và tăng nhiệt độ xung quanh
Trang 38* Tác động của BĐKH đến người dân các dân tộc thiểu số
Bên cạnh tác động đến sản xuất nông nghiệp, BĐKH tác động tiêu cực đến các khía cạnh khác nhau như tính mạng và sức khỏe, nhà cửa, tài sản, thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội để nâng cao kiến thức của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Thiên tai diễn ra ở vùng núi cao phía Bắc ngày càng diễn ra với tần suất cao hơn và cường độ nặng hơn Theo báo cáo quốc gia về giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam (2005), trong vòng 10 năm từ 1994-2003 ở miền núi phía Bắc có 453 người chết hoặc mất tích, 277 người bị thương và hàng chục nghìn người bị ảnh hưởng tâm lý và kinh tế; ước tỉnh tổng thiệt hại cơ sở hạ tầng lên đến 1.700 tỷ đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2001 đến 2008, có đến 438 người chết và 102 người bị thương do lũ quét diễn ra tại các huyện của tỉnh Hà Giang (Dang Thu Phuong, 2009)
Đợt sạt lở đất ở Bắc Kạn vào năm 2008 gây chết 41 người và phá hủy
1300 ngôi nhà [17] Cũng tại tỉnh Bắc Kạn, ước tính tổng thiệt hại do thiên tai gây ra vào năm 2006, 2007 và 2008 lần lượt là 99.8; 30.9 và 94.8 tỷ đồng, đặc biệt là đợt rét đậm rét hại vào năm 2008 gây thiệt hại khoảng 50 tỷ đồng do gia súc gia cầm chết và diện tích lúa phải gieo trồng lại Tổng số ngôi nhà bị phá hũy trong 3 năm nêu trên lần lượt là 2.230; 4.440 và 2.340 ngôi nhà Đợt lũ quét
và ngập úng vào tháng 5 năm 2009 gây thiệt hại khoảng 20 tỷ đồng Tại tỉnh Hà Giang tổng thiệt hại do thiên tai năm 2010 ước tính 150 tỷ đồng, trong đó đợt rét năm 2010 đã gây thiệt hại ước tính đến gần 100 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là thiệt hại về gia súc, lúa mạ và cây cao su (UBND tỉnh Hà Giang., 2011)
Thu nhập của người dân ở miền núi phía Bắc chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong khi đó, tình trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên lại luôn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và khí hậu BĐKH tác động trực tiếp đến thiên nhiên, làm hạn chế sự tiếp cận của người dân đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên, do vậy ảnh hưởng đến thu nhập của họ
Song song với những tác động trực tiếp, BĐKH gây những tác động gián tiếp như làm cô lập và hạn chế tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm, hạn chế sự tiếp cận của người dân đến các dịch vụ phúc lợi xã hội từ đó làm cho tính tổn thương ngày càng trầm trọng hơn