Đê hoàn thiện kiến thức về y học cổ truyền YHCT nói chung và thuốc cố truyền TCT, nói riêng cho các Dược sỹ sau tốt nghiệp; đặc biệt cho các học viên sẽ tiếp tục được đào tạo ở mức độ ca
Trang 2MỌT SO CHUYEN ĐE■THUỐC Cổ TRUYỀN
SÁCH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC Y Dược
Mã số: Đ20.Z01W
GS TS PHAM XUÂN SINH
NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC■
HÀ N Ộ I-2010
Trang 3CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
Vụ Khoa học và Đào tạo, Bộ Y tế
Trang 4LỜI GIÓI THIỆU■
Đào tạo nguồn nhân lực cán bộ chất lượng cao là một trong những mối quan tâm hàng đầu của ngành Y tế Song song với việc đầu tư cơ sở vật chất cho
các cơ sỏ đào tạo Bộ Y tê đã đặc biệt chú trọng tăng cường các phương tiện dạy
và học, trong đó việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy đặc biệt ưu tiên
Sách “Một số chuyên đề thuốc cô truyền” này được biên soạn nhằm phục
vụ chủ yếu cho việc đào tạo sau đại học trong các Trường đại học Y, Dược dựa trên chương trình khung của Trường Đại học Dược Hà Nội nhưng cũng là tài liệu đê đào tạo đại học và tham khảo, tự học cho các nghiên cứu viên làm việc trong lĩnh vực y học cô truyền Bên cạnh những kiến thức lý luận cơ bản của y học cổ truyền, cuốn sách còn cung cấp những bài thuổc cụ thê được dùng trong các thê bệnh hay gặp trong điều trị bệnh bằng y học cô truyền
Cuốn sách này được biên soạn bơi GS TS Phạm Xuân Sinh, một nhà khoa học giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược cô truyền Sách đã được Hội đồng chuyên môn của Bộ Y tế thẩm định năm 2010 gồm các chuyên gia thuộc các chuyên ngành y, dược học cổ truyền Cuốn sách được ban hành làm tài liệu sử dụng chính thức phục vụ đào tạo đại học và sau đại học của ngành Y tê Đồng thời cuốn sách cùng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ làm việc
trong công tác khám chữa bệnh bằn g V học cô truyền
Bộ Y tế xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Nhược Kim, Chủ tịch Hội đồng thẩm định, PGS TS Vũ Văn Đoàn và PGS TS Nguyễn Duy Thuần,
đã đọc và phản biện và các ủy viên Hội đồng đã đọc, đóng góp nhiều ý kiên quý báu đê cuốn sách được hoàn thiện
Đây là lần xuất bản đầu tiên, cuốn sách chắc chắn sẽ được chỉnh lý, bô sung và cập nhật trong những lần xuất bản tiếp sau Chúng tôi mong nhận
được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và các độc giả đê sách được hoàn chỉnh hòn cho những lần xuất bản sau
VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TĂ T
DĐVN: Dược điển Việt Nam
ĐTĐ: đái tháo đường
TCT: thuôc cổ truyền
THA: tăng huyết áp
TNGH: thanh nhiệt giáng hỏa
TNGĐ: thanh nhiệt giải độc
TNLH: thanh nhiệt lương huyết
TNTT: thanh nhiệt táo thấp
TCN: trước công nguyên
YHCT: y học cô truyền
YDHCT: y dược học cổ truyền
YDCT: y dược cổ truyền
YHHĐ: y học hiện đại
WHO: Tổ chức Y tê thê giới
4
Trang 6LÒI NÓI D Ầ U
Nền y học cổ truyền Việt Nam có một lịch sử phát triển lâu đời, phong phú
Trước hết, nó được bắt nguồn từ nền y học dân gian Việt Nam, một nền y học mang tính truyền khẩu, sớm được ảnh hưởng bởi hệ thông lý luận y học cổ truyền Trung Hoa với một hệ thông triết học đồ sộ Cùng với sự phát triển của lịch sử đất nước, nó dần dần trở thành một nền y học chính thống của nước nhà qua các thời đại, góp phần quan trọng trong việc gìn giữ và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân Việt Nam Đồng thời, y học cổ truyền Việt Nam đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa dân tộc, có bản sắc độc đáo Ngày nay, mỗi sinh viên đại học Dược bên cạnh việc được trang bị kiến thức chung vê y học,
đã vô cùng may mắn được học tập tương đối đầy đủ những kiến thức về y dược học cố truyền (YDHCT) Đê hoàn thiện kiến thức về y học cổ truyền (YHCT) nói chung và thuốc cố truyền (TCT), nói riêng cho các Dược sỹ sau tốt nghiệp; đặc biệt cho các học viên sẽ tiếp tục được đào tạo ở mức độ cao hơn của ngành Dược, như Cao học, CKI, CKII, Nghiên cứu sinh các độc giả làm việc trong lĩnh vực y dược học cồ truyền nói chung và chuyên ngành Dược liệu - Dược cố truyền, nói riêng Tài liệu “Một số chuyên đề thuốc cổ truyền" sẽ bố sung và hoàn thiện thêm các kiến thức về y lý, chế biến TCT và tác dụng của TCT Cũng cần nói thêm rằng, giáo trình "Dược học cổ truyền" phục vụ chủ yếu cho đôi tượng là sinh viên Dược trong đại học Do hạn chê về thời gian và yêu cầu của chương trình cho nên sinh viên Dược trong đại học chỉ được trang bị những kiến thức chung nhất về y dược học cổ truyền (YDHCT) chưa có điều kiện nghiên cứu sâu
về V lý cũng như tác dụng của thuốc cổ truyền Trong các chuyên đề của tài liệu này, ở mỗi phần đều dựa trên kiến thức nền của YDHCT, đồng thời có vận dụng các kiến thức của khoa học và y học hiện đại để phân tích, góp phần làm sáng tỏ các nguyên lý của YDHCT cũng như tác dụng của một số loại thuốc cổ truyền
Đê cho tài liệu mang tính hệ thống, trước khi đi sâu vào một số học thuyêt YHCT, các chuyên đề đều nêu tóm tắt một sô nội dung chính của các thuyết đó Trong từng nội dung ở mỗi chuyên đề đều có sự vận dụng các kiến thức của khoa học và y học hiện đại (YHHĐ) đế phân tích, diễn giải Và sau mỗi chuyên đề đều
có những nhận xét riêng của tác giả mang tính chất tổng hợp và gợi ý đê người đọc có thê dễ dàng tham khảo và liên hệ giữa kiến thức cơ sỏ của YDHCT với YHHĐ Trên cơ sở đó, chính các độc giả sẽ là những người phát hiện ra các môi liên hệ giữa YHCT với YHHĐ và sẽ góp phần mình vào việc xây dựng một nền
Y học Việt Nam mang bản sắc dân tộc, khoa học và đại chúng
Nội dung
Chuyên đ ề ỉ
Trang 7- Tác dụng của một sô loại thuổc cố truyền.
+ Tác dụng của một sô' nhóm phân loại thuốc cố truyền
+ Tác dụng lâm sàng của một sô" loại thuốc cố truyền
Trong quá trình biên soạn, không thê tránh khỏi các thiếu sót về nội dung cũng như hình thức Rất mong nhận được sự đóng góp thiện ý của các độc giả yêu thích môn Dược học cố truyền đế tác giả kịp thời tiếp thu và hoàn thiện Hy vọng với tài liệu tham khảo tài này, độc giả có điều kiện trang bị thêm các kiến thức chung về mặt íý luận YDHCT cũng như một số kiến thức bố trợ khác vê TCT Đồng thời ỏ mức độ nhất định có thê giúp các độc giả hoàn thiện về mặt kiến thức trong lĩnh vực YDHCT Việt Nam
H à Nôi th á n g 5 n ă m 201 0
GS TS PHẠM XUÂN SINH
6
Trang 8MỤC LỤC■ ■
Trang
C huyên đề I Đ ặc điểm và yêu cầu tro n g sử dụng tro n g nghiên 9 cứu th u ô c cố tru y ề n
Đôi tượng và phương pháp nghiên cứu thuôc cố truyền 25
C huyên đề II Kinh dịch và m ột sô tiền đề củ a học th u y ế t âm 30 dương ngũ hành
Một sô tiền đề của Học thuyết âm dương, ngũ hành 31
C huyên để III B à n về m ột số học th u y ết y học cổ tru y ề n 42
Môì quan hệ giữa tính vị, quy kinh thuốc cổ truyền 87Một số nhận xét về tính vị và quy kinh thuốc cổ truyền 88
Trang 9C huyên đề VI Ý nghĩa củ a ch ê biến và phụ liệu chê biến 90
th u ô c cô tru yền
Những điểu cần chú ý khi tiến hành chê biến thuốc cổ truyền 113
C huyên để VII T á c dung củ a m ột sô loại th u ô c cổ tru y ền 118
Thuốc cô truyền phòng trị bệnh tăng huyết áp 139
Thuốc cố truyền phòng trị bệnh đái tháo đường 158
8
Trang 10CHUYÊN ĐỂ I
Đ Ặ C ĐIỂM V À YÊU CẨU TRONG SỬ DỤNG, TRONG NGHIÊN cứu
THUỐC C ổ TRUYỀN
1 ĐẶC ĐIỂM Y HỌC CỔ TRU YEN v i ệ t n a m
1.1 Y h o c cổ tru y ề n Việt Nam có lịch sử p h át triể n lâu đời
Y học cố truyền Việt Nam bắt nguồn từ nền y học dân gian Việt Nam, ngay từ thời các vua Hùng, nhân dân ta đã có tục ăn trầu, và coi đó là phương tiện đầu tiên của những cuộc giao tiếp miếng trầu là đầu câu chuyện Và có lẽ
“Tục ăn trầu” chỉ thấy duy nhất có ở nước ta Nhân dân ta đã biết sử dụng lá trầu không, một thứ lá có mùi thơm, cay đặc biệt của tinh dầu, kết hợp với một
sô vị thuốc khác có vị chát của tanin, đó là rễ của cây chay (còn gọi là vỏ), với quả của cây cau còn gọi là binh lang và vôi tôi Sự kết hợp hài hòa đó đã tạo ra cảm giác cay ấm, say nồng khi nhai trong miệng, làm cho da dẻ hồng hào tươi tắn và toàn thân như phấn chấn han lên
Như chúng ta đã biết, việc sử dụng thuốc cồ truyền (TCT), từ cái thuở ban đầu đều mang tính chất truyền khẩu, chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm của từng cá thể, hoặc của một gia tộc, một dòng họ, hoặc một thôn bản Lúc đầu, việc sử dụng các vị thuốc, thường dựa vào cơ sở “liên tưởng” về hình dáng và tính chất của các vị thuốc với các bộ phận trong cơ thể con người, hoặc các động vật khác Ví dụ: các vị thuốc c ẩ u tích, Cốt toái bố có hình dạng và thế chất cứng rắn, giống như xương Do đó, người ta nghĩ đến việc dùng chúng đê chữa các bệnh đau nhức xương cốt Hoặc bắt chước cách sử dụng cây cỏ của các động vật, như khi thấy các con chó, sau khi đẻ thường ăn lá cây Diệp hạ châu (cây chó đẻ) đê’ tự chữa bệnh Sau này Diệp hạ châu, được sử dụng trị bệnh viêm gan, mật Hoặc bắt chưốc con chim Bìm bịp khi bị tên bắn gẫy xương, nó đã tự lấy cây thuốc để đắp vào chỗ bị thương cho mình, ở miền Đông Nam Bộ, lại kể rằng, chim con bị bẻ gẫy chân, Bìm bịp mẹ, lấy lá cây này, đắp vào chỗ xương
gẫy của con Và cây thuốc đó sau này có tên là cây Bìm bịp [C ỉinacanthus
nutans (Burn.f.) Lindau], họ 0 rô (Acanthaceae) [15] v ề sau, con người đã bắt
chước, dùng cây này đê chữa bệnh gãy xương, đau xương khớp, hiện còn dùng toàn cây làm thuốc chữa viêm gan vàng da Một quan niệm khác về cách dùng thuốc dân gian là: “đau đâu chữa đấy”, thực vậy theo quan niệm này, người ta chủ yếu chỉ dùng các vị thuốc để chữa triệu chứng là chủ yếu Ví dụ chữa ho
Trang 11bàng rễ Cây chanh, bằng lá Xương sông, đôi khi, để tăng tác dụng lại xào với
“tiêt đọng” của lợn, thứ tiết còn tươi, đọng lại ở khoang ngực con lợn mới bị mổ
Hoặc dùng lá Bưởi bung, hoặc vỏ lụa của cây gạo sao vối đồng tiện để bóp khi bị
té ngã, sang chấn Đê chữa mụn nhọt, có thể dùng lá Sài đất, hoặc Bồ công anh sắc uống Trong dân gian còn có phương pháp sử dụng một số tạng phủ của động vật để chữa bệnh cho người khi mắc bệnh, chang hạn khi trong cơ thế của người bị yếu một tạng, phủ nào đó, người ta lại sử dụng các tạng phủ tương ứng của động vật, phần lớn là dùng tạng, phủ của lợn Ví dụ: khi yếu thận, dùng bầu dục lợn (thận lợn), đôi khi thêm bột Đỗ trọng bắc vào cùng nấu, hoặc khi bị đau tim, dùng tim lợn, đôi khi cũng chưng VỚI Thần sa hoặc Chu sa, đê
ăn Khi đau nhức gân xương, dùng cao nấu từ xương động vật: xương ngựa bạch, xương trâu, bò, chó, mèo,
1.2 Y học cố tru y ề n Việt Nam sớm có sự giao lưu quôc tế
YHCT Việt Nam, sớm được ảnh hưởng của nền y học cố truyền Trung Hoa, với một hệ thông lý luận phong phú với các học thuyết âm dương, học thuyêt ngũ hành, học thuyết tạng tượng, kinh lạc VỚI các kinh nghiệm phong phú của các nhà y học nối tiếng của Trung Hoa, như Lý Thòi Trân, Trương Trọng cản h Vối các tác phẩm Trung y nổi tiếng, như Hoàng đê nội kinh linh khu, Hoàng đế nội kinh tô' vấn, Kim quỹ yếu lược, Thương hàn luận Với hàng trăm vị thuốc và các bài thuốc quý đã được tồng kết về phươ
ng pháp chê biến, bào chê và ứng dụng lâm sàng đế điểu trị nhiều loại bệnh tật khác nhau, có kết quả M ặt khác các nhà YHCT của Việt Nam và Trung Hoa cũng đã có dịp qua lại để trao đổi kinh nghiệm và chữa trị một sô" trường hợp bệnh tật cụ thể Ngoài ra, các vị thuốc của Việt Nam: Ý dĩ, Sử quân tử,
Hoắc hương, Đậu khấu, sắ n dây cũng sớm được bán sang Trung Quốc Như vậy, vối một số yếu tô nói trên đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của nền YHCT Việt Nam, một nền y học đã thành văn, làm cho nó không ngừng lớn mạnh qua năm tháng của lịch sử đất nước Hiện nay YHCT Việt Nam đã trở thành môn học chính thông trong các trường Y- Dược trong cả nước, đã có vị trí xứng đáng trong nền y học nước nhà, được hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1992 ghi nhận [6]
1.3 L à bộ phận củ a nền văn hóa dân tộ c có bản sắc độc đáo
a Văn hóa vật thê
Nền YHCT Việt Nam có bản sắc văn hóa vật thể, được biểu hiện qua các bằng chứng sinh động, sau đây:
- Có nhiều danh y nối tiếng, đó là các danh nhân y học xuyên suốt các thời
kỳ lịch sử của đất nước
+ Tuệ Tĩnh thế kỷ 14, người đã nổi tiếng vói phương châm trị bệnh “Nam dược trị Nam nhân, đã để lại cho hậu thế những tác phẩm về Y học cố truyền có
10
Trang 12giá trị, như: “Dược tính chỉ Nam” và “Thập tam phương gia giảm” Tuy nhiên phần nguyên tác không còn trọn vẹn vì bị đốt cháy và thất lạc do chiên tranh vào đầu thê kỷ 15 Mặc dù vậy đến thế kỷ 18 đã được Hòa thượng Bản Lai (chùa Hòe Nhai, Hà Nội), biên tập, bô sung năm 1761, cuốn “Nam dược Thần hiệu” ra đời với 499 vị thuốc Nam và 10 khoa chữa bệnh với 3932 phương thuốc ứng trị
184 loại bệnh khác nhau Tác phẩm nối tiếng thứ hai, là “Nam dược chính bản”
do triều Lê Dụ Tông đổi tên là “Hồng nghĩa giác tư y thư”, và xuất bản năm
1717 Quyển thượng gồm “Nam dược quốc nghĩa phú” vối 590 vị thuốc nam,
"Trực giải chỉ Nam dược tính phú”, gồm 220 vị thuốc Nam và một chương về y
lý âm dương, ngũ hành Ngoài ra còn có “Thập tam phương gia giảm” với 242 vị thuốc và 13 cô phương Đông y Như vậy sô vị thuôc mà Tuệ Tĩnh đã biên soạn lên tói 1551 vị [31, 48] Một con số quả là lớn so với thòi bấy giờ Tuệ Tĩnh là một thầy thuốc toàn diện, ông không những chỉ quan tâm về mặt thuốc Nam
mà còn quan tâm đến việc truyền bá các phương pháp vệ sinh, phòng bệnh, rèn luyện thân thê cho nhân dân; đặc biệt tố chức chữa bệnh trong các nhà chùa, trong các làng xã Các phương pháp đó, hiện nay vẫn đang được phát triển ở nước ta với các phong trào trồng và sử dụng thuốc Nam tại gia đình, thôn bản, hoặc chữa bệnh tại các chùa chiền ở Việt Nam [31]
+ Nguyên Trực (1428-1788), người nổi tiếng về môn xoa bóp bấm huyệt, đốt bấc, và các phương thuốc chữa bệnh sởi, đậu mùa [39]
+ Hải thượng Lãn Ông, thê kỷ 18 (1720 - 1791) đã để lại cho hậu thê một pho sách vói nhiều kinh nghiệm quý báu vê mọi mặt của YHCT Tác phẩm Hải thượng Y Tông tâm lĩnh, gồm 28 tập, 66 quyển để phổ cập đào tạo thầy thuốc, lưu truyền cho muôn đời sau về các mặt y lý và phép tắc chữa bệnh Hải thượng đã vận dụng một cách sáng tạo các y lý cố truyền phương Đông vào YHCT Việt Nam Chính ông đã xây dựng nên học thuyết “Thủy hỏa” dựa trên cơ sở của các học thuyết âm dương, ngũ hành, tạng tượng, lấy sự cân bằng của hai tạng tâm thận trong cơ thê làm gốc vối nguyên tắc giáng tâm hỏa và ích thận thủy [12, 20].+ Hoàng Đôn Hòa đã thành công trong việc bào chê viên hoàn bằng các dược liệu địa phương đề chữa bệnh cho nhân dân, đặc biệt là bệnh sốt rét và bệnh thô tả [38]
+ Phạm Công Bân (Triều nhà Trần), đã tự bỏ tiền riêng để mua sắm thuốc men, dựng nhà nuôi dưỡng cho bệnh nhân nghèo, trẻ em mồ côi, cơ nhỡ
+ Phạm Ngũ Lão, một tướng giỏi của nhà Trần, người đầu tiên đã tổ chức thành công việc trồng trọt các vườn thuốc nam ở nước ta Di tích đó vẫn hiện
hữu ở núi Dược Sơn Đông Triều, v ề sau nhân dân đã làm theo, tạo ra các làng
trồng thuốc sau này [39]
Trang 13Các dược liệu làm thuốc Việt Nam rất phong phú vê số lượng và đa dạng
vê chủng loại, tính đến 2005 *đã phát hiện được 3948 loài thực vật và nấm làm thuốc với 307 họ thực vật của 9 ngành và nhóm thực vật khác nhau Trong đó có
52 loài tảo biển, 22 loài nấm, 4 loài rêu và 6 ngành thực vật bậc cao vối 3870
loài [9] chiếm khoảng 25 % các loài thực vật có ở nước ta (12000 loài) Trong sô
đó có 3000 loài dùng theo kinh nghiệm các cộng đồng của 54 dân tộc anh em, 22 loài tảo biển, có nhiều loài giá trị: Tảo xoắn, 14 loài nấm: Linh chi, Trư linh khoảng 300 loài dược liệu được dùng cho sản xuất và xuất khẩu .Ngoài ra, sô
vị thuốc, có nguồn gốc động vật củng được phát hiện lên đên 406 loài thuộc 22 lớp, 6 ngành và các vị thuốc có nguồn gốc khoáng vật tới 70 loại, trong đó 57 loại
là hoá thạch và các sản phẩm thứ cấp của khoáng vật [8, 43] Nhiều dược liệu làm thuôc được khai thác, được nuôi trồng, cho hiệu quả kinh tê cao: Diệp hạ châu, Thảo quả, Sa nhân, Kim tiền thảo, Actiso, Lộc nhung, Cá ngựa Cũng cần biêt thêm rằng, ngày nay việc sử dụng dược liệu làm thuốc trên thê giới cũng không ngừng phát triển Đã có 20.000/250.000 loài thực vật, được dùng làm thuốc, chiếm tỷ lệ 8% các loài thực vật Riêng An Độ, với nền YHCT (Ayuveda) đã sử dụng 6000 loài thực vật, Trung Quốc (Trung y) sử dụng 5000 loài thực vật
- Các cơ sở đào tạo YHCT từ trung ương: các Trường Đại học Y Hà Nội, Đại
học Y Dược thành phô Hồ Chi Minh, Học viện Y Dược học cố truyền Việt Nam, Đại học Dược Hà Nội đến các địa phương: Thái Nguyên, Huế, Thái Bình, Hải Phòng .Còn có 10 trường cao đẳng, 36 Trường Trung cấp và 2 Trường Trung học YHCT dân lập (2009) [10]
- Đã có 58 Bệnh viện YHCT từ trung ương đến địa phương Tính đến 2009
đã có 49 tỉnh thành phố (78,4%) đã có bệnh viện YHCT cấp tỉnh Có nhiều tỉnh, thành có tới 2 bệnh viện YHCT, như Hà Nội, Lâm Đồng, thành phô Hồ Chí Minh Các bệnh viện đa khoa YHHĐ có Khoa hoặc Tổ YHCT là 93,3% Có 7380
cơ sỏ chẩn trị YHCT, 3 bệnh viện tư nhân về YHCT Có 582 cơ sở điều dưỡng,
phục hồi chức năng bằng y dược cố truyền (YDCT) Có 6580 Trạm Y tế xã,
phường có vườn thuốc Nam Có 517 cơ sỏ sản xuất thuổc thành phẩm YDCT,
826 cơ sở kinh doanh thuổc phiến và 412 cơ sở kinh doanh dược liệu, 768 cơ sở đại lý thuốc thành phẩm y dược cố truyền (YDCT) [10] Các cơ sở sản xuất thuôc
cô truyền (TCT) ngày càng được kết hợp các toang thiêt bị truyền thống và hiện đại Các chê phẩm TCT rất phong phú: sô lượng lớn tới hàng ngàn: 1294 chế phẩm (2000), 1468 chê phẩm (2003) được bào chê thông qua các dạng cố truyền:
cao, đan, hoàn tán Trong đó có một s ố chê phẩm đã được chuyên dạng theo
phương pháp bào chê hiện đại
- Các tài liệu, ấn phẩm, các mô hình, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, học tập, nghiên cứu, điều trị và sản xuất chê biến bào chê TCT
12
Trang 14- Tính đến 2009, đội ngũ hành nghê y dược học cổ truyền (YDHCT) ngày càng đông đảo: bác sỹ 543, lương y 4546, lương dược 679, y sỹ 1617, gia truyền
565 (2009) [10]
b V án hóa p h i vật thê
- Các lý luận phong phú của V học cố truyền bao gồm lý luận của Trung y
và lý luận do các danh y Việt Nam sáng tạo, như thuyết “Thủy hỏa”, thuyêt
“Tam tiêu” (thuộc hệ thông tiêu hóa) của Hải thượng Lãn Ong
- Các kinh nghiệm sử dụng thuốc cố truvền của 54 dân tộc Việt Nam, từ miền núi đên đồng bằng, đã tạo ra một kho tàng kinh nghiệm vô cùng quý giá
vê phương pháp chữa bệnh bằng thuốc cô truyền cho nhân dân ta
- Sự phối ngũ các vị thuốc thành phương thuốc bao gồm cố phương, tân phương, phương gia truyền, thể hiện sự kết hợp tài tình giữa lý luận YHCT vối kinh nghiệm sử dụng lâu đời về thuốc YHCT ở nước ta Sự phối ngũ đó thể hiện
ơ cấu tạo hợp lý của các thành phần: Quân, Thần, Tá, Sứ của phương thuốc Các khái niệm về quy kinh thuốc, công năng, chủ trị, kiêng kỵ, liều dùng, cách dùng của TCT, đó là sự kết hợp giữa lý luận với kinh nghiệm sử dụng lâu đời của YHCT Việt Nam Những kinh nghiệm về thu hái, nuôi trồng, chế biến, bào chê thuôc cổ truyền cũng được vận dụng thống nhất thông qua sự kết hợp giữa lý luận phong phú của YHCT với thực tiễn điều trị trên lâm sàng
- Sự biểu hiện của văn hóa phi vật thể, còn được thể hiện rất rõ, thông qua
sự chăm lo đến sự phát triển của nền YHCT ở nước ta qua các thòi kỳ lịch sử.+ Trước cách mạng tháng 8/1945, các triều đại phong kiến ở một sô" thòi kỳ
đã có những biểu hiện quan tâm đến lĩnh vực phát triển YHCT Dưới Triều Lê,
bộ luật Hồng Đức đã tỏ ra có nhiều tiến bộ, đã có các quy chế về vệ sinh xã hội,
đã đê ra luật trừng phạt những thầy thuốc chữa bệnh thiếu tinh thần trách nhiệm, chữa dây dưa, chữa theo cách khoán mướn Dưối Triều Nguyễn, Luật Gia Long đã có những quy định trừng phạt những thầy thuốc chữa bệnh sai, gây tử vong
+ Từ sau cách mạng tháng 8/1945, nền YHCT nưốc ta đã được mở ra một trang sử mổi, được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ Đối vối YHCT, Bác Hồ đã dạy: “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng Ong cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc Ta, thuốc Bắc Đê mỏ rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phôi hợp thuốc Đông và thuốc Tây” YHCT Việt Nam,
đã được hiến pháp nưốc cộng hòa XHCNVN năm 1992, ghi nhận, trong điều 49 chương III: “Phát triển và hoàn thiện hệ thông bảo vệ sức khỏe nhân dân trên
cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại vối Y học cổ truyền” Đã có nhiều chỉ thị
và nghị quyết của Đảng và Chính phủ, đã đề cập đến sự phát triển của YHCT Chỉ thị 101/TTg có đoạn viêt “Trên cơ sở khoa học, thừa kê và phát huy những
Trang 15kinh nghiệm tốt của Đông y, kết hợp Đông y với Tây y nhằm tăng cường khá
năng phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”
* Chỉ thị 21-CP ngày 19/12/1967 đã đê cập đến vấn đề tăng cường công táo
nghiên cứu Đông y, kết hợp Đông V và Tây y, “Phải nghiên cứu và kết hợp một
cách toàn diện, từ lý luận đến thực hành Phải kết hợp trong toàn bộ công tác V
tê, trong công tác tư tưởng, tô chức, đào tạo cán bộ, phòng bệnh, chữa bệnh, sản
xuất và pha chê thuốic, nghiên cứu khoa học Phải làm một cách có hệ thông, từ
thấp đên cao, từ trung ương đến xã”
* Nghị quyết 266-CP: “Tích cực thừa kế, phát huy và phát triển YHCT, kểt
hợp chật chẽ vối YHHĐ, xây dựng nền Y học độc đáo Việt Nam” [6]
* Quvêt định 222/2003-QĐ-TTG: chính sách quốc gia về y dược học cồ
truyền đên năm 2000, về sử dụng: tuyến TW (10%), tỉnh (20%), huyện (25%), xă
(40%); 30% thuổc sản xuất, lưu hành trong nước là thuốc YHCT
* Chỉ thị 24-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng ra ngày 4/7/2008 vế việc
phát triển nền Đông y và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới Đặc biệt
nhấn mạnh việc phát triển nền Đông V Việt Nam, là “trách nhiệm các cíp ủy
Đảng, chính quyền và toàn xã hội” Chỉ thị đã nhấn mạnh về công tác đào tạo
“Tiếp tục hoàn thiện hệ thông mà ngành đào tạo thầy thuốc đông y, kê cả lương
y, lương dược ở các bậc học khác nhau; tăng cường đầu tư, hoàn thiện hệ thông
các cơ sở đào tạo, bao gồm trường đại học, trung học và dạy nghê' đông V theo
quy định của pháp luật, chú trọng đào tạo chuyên gia đầu ngành” Cách sử
dụng, kiêng kỵ, cách nuôi trồng dược liệu, cách thu hái chê biến, bào chê TCT ,
- Với ngành Y tế, đã tiến hành soạn thảo và ban hành nhiều quy định quan trọng vế mặt TCT
+ Danh mục thuốc thiết yếu về YHCT [10]
+ Các quy trình chê biên thuốc YHCT
+ Danh mục các phương thuốc cố truyền không qua thử nghiệm lâm sàng
Những việc làm đó góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
chung về YHCT ỏ nước ta
1.4 Y dược học cổ tru y ề n là m ộ t nhu cầu th ự c tiển củ a đ ất nước
Y học cổ truvền trực tiếp chăm lo sức khỏe cho nhân dân Việt Nam qua hàng ngàn năm, kê từ ngày dựng nước Ngay cả khi Tây y đã xuất hiện trên đất
nước ta, Y học cố truyền vẫn tiếp tục chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ta Qua các
thòi kỳ thăng trầm của lịch sử, y học cố truyền vẫn đứng vững, vẫn có những
phương thức hoạt động thích hợp để phục vụ cho sức khỏe của nhân dân Cho đêu
nay, trong cơ chế thị trường với sự phát triển mạnh mẽ của tân dược ở Việ* Nam,
song y học cô truyền Việt Nam vẫn đứng vững và không ngừng phát triển một
cách thuyết phục, vẫn có vị trí xứng đáng trong hệ thông V tế nước nhà
14
Trang 16Trước hêt về giáo dục đào tạo, hiện nay, hầu như tất cả các co' sở đào tạo của các bậc học đều có chương trình học tập về YHCT và kết hợp YHCT với YHHĐ với một mức độ nhất định Trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ở các tuyến, từ cơ sở đến trung ương đều có sự kêt hợp giữa YHCT và YHHĐ Trong cả nước đã có nhiều công ty chuyên sản xuất, bào chê thuốc Đông (lược hoặc sản xuất cả Tân dược và Đông dược Có hàng ngàn chê phấm có nguồn gốc từ dược liệu được sản xuất dưới các dạng cô truyền: cao, đơn, hoàn tán, và các dạng bào chê hiện đại: nang cứng, nang mềm, viên nén, viên bao phim Đã có nhiều chê phẩm có giá trị, được xuất khẩu ra thê giói.
1.5 Y dược h ọ c cổ tru y ề n Việt Nam đả khởi sắc về m ặ t khoa học
- Nhiều vị thucíc và phương thuốc được chứng minh tác dụng dược lý và lâm sàng trên cơ sở các thành phần hóa học (hoạt chất, phân đoạn hoặc dịch chiết toàn phần )
- Nhiều vị thuốc và phương thuốc được nghiên cứu về mặt chế biến trên cơ
sở thành phần hóa học và tác dụng sinh học của chúng
- Nhiều vị thuốc và phương thuôc được dùng đê điều trị có kết quả đối với các loại bệnh tật, đặc biệt là với các loại bệnh mạn tính, khó chữa, như viêm gan, viêm thận, các bệnh u, bướu
- Nhiều vị thuốc và phương thuốc được bào chê với kỹ thuật tiên tiến, đã được kiểm nghiệm hoạt chất hoặc các chất đặc trưng bằng các phương pháp khoa học, với kỹ thuật tiên tiến [10]
1.6 Y dược h ọ c cố tru y ề n Việt N am đã bước đầu khởi sắc về m ặ t kinh tế
- Nhiều cây con thuốc đã được khai thác, nuôi trồng cho hiệu quả kinh tê cao: Quế, Sa nhân, Ba kích, Đại hồi, Đương quy, Diệp hạ châu, Actiso, Kim tiền thảo râu mèo, Cốt khí củ, Kinh giới , các động vật như hươu, nai, các loại rắn,
ba ba, xuyên sơn giáp nhím Nhiều địa phương, nhất là các tỉnh miền núi (Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình), đồng bào dân tộc thiểu số đã lấy việc nuôi trồng cây con làm thuốc làm phương tiện xóa đói giảm nghèo, có kết quả Một số cây thuốc quý đã cho sản lượng tốt: cây Quê (Yên Bái, Trà My, Thanh Hóa) đạt 20.000 tấn/năm (Nhục quẽ), cây Hòe (Thái Bình, Nghệ An), đạt 3000 tấn/năm (Hoa hòe) gấc (Hải Dương, Bắc Giang) đạt 100.000 tấn tươi/năm [9]
- Nhiều vị thuốc và chê phẩm thuốc đã được xuất khẩu: Sa nhân, Quế, Hồi đưa lại lợi ích kinh tê cho đất nước
- Lượng dược liệu sử dụng, hàng năm lên tới 60.000 tấn; trong đó khai thác
tự nhiên khoảng 12.000 tấn, (20%), trồng trọt khoảng 16.000 tấn (26,5%) Tuy nhiên, lượng TCT nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể, khoảng 32.000 tấn(53,5%)
Trang 17- Dược liệu dùng cho việc chữa bệnh bằng YHCT lên đến con sô 19.000 tấn (32%), dùng cho sản xuất của ngành Công nghiệp Dược khoảng 21.000 tấn (35%), dược liệu xuất khẩu, khoảng 20.000 tấn (33%) Như vậy cùng với việc nhập khau dược liệu, việc xuất khấu đã có những dấu hiệu khỏi sắc.
Hiện nay đã có nhiều công tv, xí nghiệp chuyên sản xuất TCT có chất lượng và đạt hiệu quả cao Đã có nhiều chê phẩm TCT được xuất khẩu ra các nước trên thê giới Những đóng góp đó, thực sự có hiệu quả, góp phần thúc đẩy
sự phát triển chung của nền kinh tê đất nước
2 Y Ê U CẦU CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC c ổ T R U YEN
Đê thuốc cổ truyền có thê phát huy tôi đa tác dụng của nó cần quan tâm đúng mức đến một sô" lĩnh vực sau đây
2.1 Môi quan hệ giữa th ầ y và thuổc
Thầy thuốc YHCT được đào tạo theo nhiều loại hình khác nhau, và trình
độ cũng như cấp bậc cũng có phần khác nhau, song đều là những thầy thuốc, có
y đức tốt, hết lòng phục vụ người bệnh, có chung một mục đích là điều trị tốt
cho người bệnh đê họ nhanh chóng hồi phục sức khỏe trơ lại VỚI cuộc sông thường nhật Do đó, về mặt các thầy thuốc YHCT, cũng cần nắm thật vững các phương pháp chữa bệnh của YHCT, biết vận dụng các phương pháp đó vào từng trường hợp cụ thể đê có thể thu được hiệu quả cao Do vậy, người thầy thuôc, ngoài lĩnh vực về YHCT cần quan tâm đến vấn để kết hợp với y học hiện đại (YHHĐ) trong những trường hợp cụ thể: từ phòng bệnh, chẩn trị, điều trị, đến thuốc men Đâv là mối quan hệ hữu cơ trong quá trình điều trị bằng YHCT, Đê đạt được hiệu quả cao trong điểu trị, về hai phương diện “Thầy” và “Thuốc” đều phải làm tốt Nếu thầy giỏi, mà thuốc không tốt thì hiệu quả sẽ kém và ngược lại, thuốc tốt mà trình độ của thầy lại chưa cao thì kết quả cũng không tốt Đây
là môi quan hệ hữu cơ giữa hai mặt của một vấn đề Do vậy trong mọi trường hợp cần phải quan tâm đến cả hai lĩnh vực này Nếu chỉ chú trọng vấn đề Thầy
mà COI nhẹ vấn đề Thuốc, và ngược lại, là thiên lệch, và đương nhiên, hiệu quả điều trị sẽ không cao, người bị thiệt thòi vẫn là người bệnh, và xã hội
2.2 v ề m ặ t th u ố c cổ tru y ề n
Để có thuốc phục vụ tốt cho điều trị, cần quan tâm đến ba vấn đề có liên quan trực tiếp; đó là dược liệu, phụ liệu và phương pháp chế biến, bào chê
a Vê m ăt d ươc liêu
Để dược liệu đưa vào làm thuốc được đảm bảo, cần quan tâm đến một sô vấn để sau:
- Đ úng cây thuốc
Do tính đa dạng về chủng loại của thuôc cổ truyền, có loại có cùng một tên gọi, nhưng lại cho nhiều cây thuốc khác nhau Ví dụ, cùng có tên là Bạch phụ tử,16
Trang 18song lại có 3 vị thuốc khác nhau: vị thứ nhất là vị thuôc Bạch phụ tử được chê từ
Sinh phụ tử, là rễ của cây o đầu [(A conitum ca rm ich aeli Debx.), họ Hoàng liên
(Ranunculaceae)], có vị cay, tê, có tính độc mạnh, có tác dụng trừ hàn, hồi dương cứu nghịch Vị thứ hai có nguồn gốc từ thân rễ cây Độc giác liên, còn gọi
la Đại bán hạ [('Typhonium gigan teu m Engl.), họ Ráy (Araceae)], cây này mọc ở
các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam, Hồ Bắc Trung Quốc Chưa thấy phát hiện
ở Việt Nam, vị thuốc có vị cay, ngọt, tính ôn, có độc, có tác dụng hóa đàm kết, trị phong, trấn kinh Chủ trị: miệng, mắt méo xệch, trúng phong bất ngữ, bán thân bất toại, đau lưng đau khớp, đau đầu, đau nửa đầu, uốn ván, loa lịch Vị thứ ba,
còn gọi là cây San hô hav cây Dầu mè đỏ [Ụ atropha m u ltifid a L.) họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae)] Cây này được trồng ở Việt Nam để làm cảnh và làm thuốc Có thê dùng rễ cây này để làm thuốc tán ứ, tiêu thũng, chỉ huyêt Tương tự với
cách gọi như vậv, Hà thủ ô cũng có hai loại, Hà thủ ô đỏ [F allopia m ultiflora
(Thunb.) Haraldson, họ Nghê (Polygonaceae/Ị, vị đắng, chát, có tác dụng bô can
thận, bô huyết còn Hà thủ ô trắng [Streptocaulon ju v en tas (Lour.) Merr.], họ
Thiên lý ( Asclepiadaceae) có vị rất đắng, có tác dụng kích dục và trị cảm mạo
Hay nói đên vị Bán hạ cũng có rất nhiều loài, như Bán hạ bắc [Pinellia ternata (Thunb.) Breiter], Bán hạ nam (Typhonium trilobatum Schott) và đại Bán hạ
{Typhonium g ig an teu m Engl.) đều trong họ Ráy (Araceae) v ề Sài hồ, cũng cho
nhiều loại khác nhau, Sài hồ bắc (B um plerum sinens DC.), họ Hoa tán (Apiaceae), Sài hồ nam (P lu ch eae p terop od ae Hemsl.), họ Cúc (Asteraceae), Đương quy, cũng có Đương quy Trung Quốc [Angeỉica sin en sis (Oliv.) Diels] và Đương quy Nhật Bản [Angelica acu tiỉob a (Sieb et Zucc.) Kitagawa] đều họ Hoa
tán (Apiaceae) Vị thuốc có tên là Hoàng liên, cũng từ rất nhiều cây, Hoàng liên
chân gà (Coptis teeta (Franch), họ Hoàng liên (Ranunculaceae), Hoàng liên ba gai
(B erberis iv allich ian a DC.), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), Hoàng liên o rô (M ah on ia b ea lii Carr.i, họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), thổ Hoàng liên (T halictru m folioỉosu m DCX họ Hoàng liên (Ranunculaceae) Mặt khác cũng cần
biết thêm về tên của các cây thuốc cũng rất đa dạng Một cây thuốc, có nhiều tên gọi khác nhau Cây Mỏ quạ còn có tên là Vàng lồ, Xuyên phá thạch, cây Hy thiêrn còn có tên là cây Cứt lợn Cây Cóc man còn có tên Cúc man, Nga bất thực thảo Cây hoa Cứt lợn còn có tên là cây hoa Ngũ sắc Trong quá trình thu hái cũng cần lưu ý đối với những vị thuổc, hiện nay còn phải nhập nội mà trên thị trường thường “tự thay t h ể ’ Ví dụ, vị thuốc Địa cốt bì là vỏ rễ của cây Khủ khởi
(Lysium sin en se MilU, họ Cà ( Solanaceae) nhưng trên thị trường hiện nay lại
coi một vị thuốc khác nhập từ Trung Quốc là Địa cốt bì Do vậy, khi tiến hành thu hái thuốc hoặc khi sử dụng, trước hết cần phải thu hái đúng cây, con, đúng
vị thuốc đê đảm bảo an toàn và hiệu quả cho người dùng
Đê chứng tỏ cây thuốc được sử dụng là đúng, điều đầu tiên, đốì với tên Việt Nam, phải chỉ ra được tên phố thông thường gọi nhất, vì trên thực tế, một cây thuốc, mỗi vùng lại gọi tên khác nhau Mặt khác, điều không thể thiếu được
là phải chỉ đúng tên khoa học của cây thuốc đó, trước hêt là tên chi, sau là tên
Trang 19sau là tên thứ, nếu có Cuôì cùng là đên tên họ của cây thuốc [27] Cùng cần nói
thêm rằng, cách viết tên khoa học của cây thuôc, vị thuốc, phải đúng VỚI quv
định Tên chi phải viết hoa chữ cái đứng đầu, tên loài không viết hoa, tên thứ
(var.), không viết hoa Tất cả các thứ tên đó phải được in nghiêng Sau tên loài
là tên tác giả, người định ra tên câv thuốc đó, phải viêt hoa, và in đứng, nếu tên tác giả viêt tát, phải có dấu chấm (L., Thunb.), nếu có hai tác giả cùng đặt tên của một cây, thì tác giả đầu, phải đặt trong ngoặc đơn Sau cùng là tên họ của
cây thuôc, viết hoa chữ cái đầu, và in đứng Ví dụ, cây Sài đất [W edeỉia
chin en sis (Osbeck) Merr.], họ Cúc (Asteraceae) Hoặc cây Sài hồ bắc (B upbleurum chin en sis DC.), họ Hoa tán (Apiaceae) Cây Thủy xương bồ (Acorus calam u s L var an gu statu s Bess.), họ Ráy (Araceae) [7].
- Đ úng bộ p h ậ n dù n g
Thông qua sử dụng lâu đòi thuốc cổ truyền, nhân dân ta đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các cây con làm thuốc Và thấy được tính đa dạng vê vị thuốc của các cây con làm thuôc Từ một cây thuốc, có thê chỉ cho một vị thuốc: Đơn đỏ, Tỳ bà diệp, Lá nhót, chỉ lấy lá Mạch môn, Thiên môn, Bách bộ, Huyền sâm chỉ lấy rễ Hậu phác, Quê, Hoàng bá chỉ lấy vỏ cây, Cúc hoa vàng, Cúc hoa trắng, Huyền phục hoa chỉ lấy hoa Bạch giới tử, Lai phục tử,
Xà sàng tử, chỉ lấy hạt Có nhiều cây thuốc cho nhiều vị thuôc khác nhau: cây
Cà độc dược (D atura m etel) vừa lấy lá, vừa lấy hoa và hạt Cây Đinh lăng vừa
lấy lá, lại vừa lấy rễ, cây Tía tô, vừa lấy lá (Tô diệp), vừa lấy cành (Tô ngạnh),
và lấy hạt (Tô tử) Cây Kim ngân, vừa lấy hoa (Kim ngân hoa), lại vừa lấy thân (Kim ngân đằng) Cây Hà thủ ô đỏ, vừa lấy rễ, vừa lấy dây (Dạ giao đằng) Cây
Cà gai leo, vừa lấy rễ, vừa lấy dây (Thích gia đằng) Cây dâu, vừa lấy vỏ rễ (Tang bạch bì), vừa lấy lá (Tang diệp), vừa lấy quả (Tang thầm) Cây quýt vừa lấy vỏ quả (Trần bì), vừa lấy hạt (Quất hạch) Do vậy khi thu hái, không được nhầm lẫn giữa các vị thuốc vối nhau Và chú ý tận thu nhiều vị thuôc trên cùng một cây đê giúp cho năng suất cây trồng và hạ được giá thành sản phẩm
- Đ úng thời vụ thu h á i [27, 39]
Thu hái đúng thòi vụ, nhằm đảm bảo được chất lượng của thuốc., cụ thê là đảm bảo được hàm lượng hoạt chất cao Đê có hàm lượng hoạt chất cao, các cây lấy lá, thường thu hái vào lúc trưốc khi cây ra hoa: Hoắc hương, Hương nhu, Bạc hà, Cà độc dược Các cây lấy rễ, củ: sắ n dây, Củ mài, Bách bộ, Mạch môn, Thiên môn thường thu hái vào mùa thu, và mùa đông, vì trong thời, gian này,
lá của cây rụng đi, các hoạt chất tích lũy thường tôi đa ở rễ
- Đ ảm bảo tính sạ ch của dược liệu
Dược liệu được sử dụng, cần được đảm bảo về tính sạch, đảm bảo các giới hạn cho phép đối với các nguyên tố vi lượng, đặc biệt các nguyên tố vi lượng có tính độc hại cho cơ thể, như Pb, As, Hg, Cu, Cd không có dư lượng của thuốc hóa học bảo vệ thực vật và thuốc kích thích sinh trưởng Tóm lại phải đảm bảo các tiêu chí sạch của TCT
18
Trang 20■ Đúng phư ơng p h á p c h ế biến [40]
Việc chê biến thuốc cổ truyền phải dựa trên cơ sơ của lý luận của y học cổ truyền, nhằm các mục đích như, tăng hay giảm tính âm dương của thuốc, tăng hay g.ảm tính âm dương của thuốc, tẩm chích phụ liệu có mầu sắc, mùi vị phù hợp víi ngũ hành Ngoài ra còn phù hợp VỚI thực tiễn sử dụng Việc chê biến TCT cần được kết hợp giữa phương pháp truyền thông vối các phương pháp mang tính khoa học, cụ thể là ứng dụng các phương pháp khoa học vào trong quá trình chê biến: theo dõi và chuẩn hóa về nhiệt độ khi chế biến thuốc (sấy, sao, ngâm, tẩm) hoặc dùng các phương pháp hóa học: định tính, định lượng các thành phần hóa học của các vị thuốc trong quá trình chê biến
Phải chế biến các vị thuốc theo các quy trình chê biến chuẩn, được quy định 'ho từng vị thuốc, theo các tài liệu quy định của Bộ Y tế, của dược điển Việt Nam (DĐVN), hoặc trong các tài liệu chuyên môn có uy tín; hoặc theo các kinh nghiệm của các lương V lâu năm, là các chuyên gia lành nghê có kinh nghiệm về chê biến TCT Tuy nhiên các kinh nghiệm đó phải đáp ứng được tính
khoa ÌỌC và tính thực tiễn mới được sử dụng.
Mhư vậy, TCT sau chê biến phải đạt được các tiêu chuẩn về hình thức (cảm quan: màu sắc, mùi vị), về chất lượng (có mặt các hoạt chất, các thành phần hóa học đặc trưng có hàm lượng cao), không bị nấm mốc, có hàm lượng thủy }hần và tỷ lệ hư hao đạt với quy định
2ó thê nói rằng, chê biến TCT đúng phương pháp, sẽ đảm bảo được tính an
toàn (không còn độc tính đối vối các vị thuốc có tính độc), đảm bảo phẩm chất và hiệu mất tốt, hàm lượng hoạt chất cao của thuốc, sẽ là điều kiện đưa lại hiệu quả CIO trong điều trị của thuốíc cổ truyền Ngoài ra, trong quá trình chê biên phải quan tâm đến các điều kiện về trang thiết bị, phải tiến tới hiện đại hóa các trang thiết bị của các công đoạn sấy, sao thuốc, rửa thuốc, thái thuốc Mặt khác cần tránh các yếu tcí gây ô nhiễm môi trường: hơi Lưu huỳnh khi sấy thuốíc: nưốc rửa dược liệu, bã dược liệu
Đúng phư ơng p h á p bào c h ế [37, 38, 39]
Việc bào chê thuốc là khâu cuổì cùng, khép kín của cả một quá trình của
phần thuốc Giai đoạn này, nếu làm không tốt thì không những sẽ ảnh hưởng rất lca đến chất lượng của chế phẩm thuốc, ảnh hưởng đến quá trình điều trị
mà con làm lãng phí của cả một quá trình từ tạo nguồn dược liệu đến chế biến thuốc Do vậy việc bào chế thuốc, cần quan tâm đến một số vấn đề sau
Thuốc lấy khí [37]
Nhiều vị TCT chứa các thành phần hóa học là các chất bay hơi mà YHCT gọi lè thuổc “lấy khí”: tinh dầu (Quế chi, Quế nhục, Ma hoàng, Kinh giới, Tía tô), CIC chất coumarin (Bạch chỉ, Đương quy) cần được bào chế dưối dạng hợp lý
đê trinh thất thoát các hoạt chất này Các thuốc bào chế dưối dạng thuốc tán: Hoắc hương chính khí tán, bình vị tán, bột Khung chỉ hoặc các thuốc chế đê
Trang 21hăm: chè cảm cúm, chè cúc hoa Trong quá trình bào chê các dạng thuôc khác
mà trong thành phần phương thuốc, lại có các vị thuôc lấy khí, có thê phải bào chê riêng các vị thuốc đó bằng cách chiết riêng như cất kéo hơi nước để thu lấv phần bay hơi, hoặc chiết riêng với dung môi ethanol Nếu các vị thuốc lấy khí
có trong thuôc sắc nên cho các vị thuốc đó vào sắc sau cùng đê hạn chê sự thất thoát
vị là đê thu được các hoặt chất của chúng, nhằm mục đích phát huy hiệu quả của thuốc trong điều trị
+ Dạng bào chê hợp lý [37]
Chọn một dạng bào chê nào đó, hợp lý cho các phương thuổc Vì đây là giai đoạn cuôi cùng của cả một quá trình nghiên cứu hoặc sử dụng đối với một dược liệu hay một phương thuốc cụ thế Ví dụ những vị thuốc giải biêu, có bản chất thăng, tán, phát hãn, giải biểu Trong thành phần của chúng thường chứa các chất bay hơi, như tinh dầu, coumarin Do đó dạng bào chê thích hợp là thuốc tán (Ngân kiều tán, Hoắc hương chính khí tán, bình vị tán) hoặc các dạng thuôc chè đê hãm (chè giải cảm) Các vị thuốc lấy vị, đa sô" trong thành phần chứa các hợp chất mang tính tan trong các dung môi là nước hoặc các dung môi hữu cơ khác như ethanol ở các nồng độ khác nhau Do đó, có thế tiến hành dưới dạng thuôc sắc, hoặc dịch chiết của các dung môi, sau đó tiến hành bào chê các dạng dưới dạng thích hợp: hoàn, viên nén, viên bao phim
b Vê m át p h ụ liệu
Trên thực tế, đa số các vị thuốc cổ truyền, nếu không dùng phụ liệu để chê biên thì sẽ không thê sử dụng các vị thuốc đó được Trước hết là không thể, hoặc rất khó uống được do mùi vị khó chịu của chúng gây ra Ví dụ rất chát (Hà thủ ô), rất tanh: Rắn, Miết giáp Mặt khác khi sử dụng sẽ không đảm báo độ an toàn tuyệt đối cho người bệnh Ngoài ra còn phải đáp ứng các yêu cầu về các mặt: khuynh hướng tác dụng, tương tác của thuổíc Do đó, phụ liệu chê biến thuôc là vấn đề rất quan trọng, nhưng từ trưốc đến nay ít được quan tâm, nói một cách khác, là quan tâm chưa đúng mức hay còn coi nhẹ về phụ liệu chê biên Người ta thường chỉ chú ý đến dược liệu chính, còn phụ liệu lại ít đê ý tới20
Trang 22mà chỉ COI nó đúng như một vai trò rất “phụ”, v ề mặt thực tiễn cũng như lý luận, pầụ liệu chê biến thuốc cô truyền có một vai trò và ý nghĩa rất quan trọng
Do đó, I1Ó cần được đánh giá đúng với vị trí mà nó đóng góp trong chê biến thuôc
cố truyển Trước hết, cần nhận phụ liệu chê biên thuôc cố truyền là những chất hoặc những nguyên liệu dùng cùng dược liệu chính, trong quá trình chê biên
đê đạt lược một mục đích nào đó có lợi cho việc điều trị Trên thực tế, phụ liệu dùng trong chê biến thuốc cố truyền, rất phong phú về thê loại và rất đa dạng
về thê (hất Nó là một phần không thể thiếu được để tạo nên chất lượng tốt của thuốc C) truyền Nếu vị thuốc cổ truyền đem chế, là tốt, song phụ liệu chê lại không đảm bảo yêu cầu, không đạt tiêu chuẩn của phụ liệu tốt; điểu tất nhiên,
sẽ xay ra, là chất lượng của thuốc kém, đương nhiên sẽ dẫn đến hiệu quả trị bệnh, không cao Và người phải chịu thiệt thòi đầu tiên, không ai khác, lại là bệnh m ân, là đôi tượng của việc sử dụng thuốc cô truyền Mà trên thực tê, các thầy thuốc từng ngày từng giờ lại mong cho họ nhanh khỏi bệnh, đó cũng là niềm vii duy nhất của những người thầy thuốc; song điều đó sẽ không xay ra, nếu như một mắt xích trong toàn bộ quá trình, có sai sót Ví dụ như việc chê biến thuốc, không đạt tiêu chuẩn, chỉ vì phụ liệu chê, không đạt Tuy nhiên, đế
thuốc C) tru y ền phát huy được hiệu quả, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tô" khác.
Pầụ liệu dùng chê biến thuốc cố truyền, cần đạt một sô" tiêu chuẩn sau:
- Đảm b ả o về hìn h thức
Đ ều đó có nghĩa là phụ liệu chế biến, không phải là thứ phụ, thứ đã thải
đi, mà phải là thứ nguyên liệu tốt, cũng phải đạt các tiêu chuẩn về hình thức của mộ; dược liệu, mới dùng đế chê biến thuốc cố truyền
+ Không được úa, héo: các phụ liệu, có nguồn gốc từ thảo mộc, như Sinhkhươn£, lá Trầu không, lá Củ cải, lá Nghể, lá Ké đầu ngựa
+ Không được thiu ôi: các phụ liệu có nguồn gốc động vật, như mật bò, mậtlợn, miỉt huyết, tiết tim lợn
+ Không được nấm, mốc: nước vo gạo, cám, trấu
+ Phải đảm bảo tính sạch của phụ liệu, không có mùn, tạp: cát, đất, bột văn cá}
+ Không được chứa tàn dư của các chất kích thích sinh trưởng, các chất bảo vệ ;hực vật và phân hóa học
- Đ ảm b ả o về ch ất lượng
+ Phụ liệu, trước hết cũng là các dược liệu Do đó cũng phải đảm bảo về mặt chít lượng; nếu phụ liệu có nguồn gốc từ thảo mộc, cũng phải lấy đúng bộ phận cung, thu hoạch đúng thời vụ để đảm bảo hoạt chất của phụ liệu đạt cao Nếu plụ liệu có nguồn gốc từ động vật, trước hết cũng phải đúng, phải đảm bảo
về thể chất, về tỷ trọng, về mầu sắc, mùi vị (các loại mật, mỡ động vật) Nêu
Trang 23phụ liệu có nguồn gốc từ khoáng vật (các muôi vô cơ), trưốc hết cùng phải đúng, phải đảm bảo về độ tinh khiết.
Như vậy, phụ liệu có đảm bảo được chất lượng thì sản phẩm của thuốc cố truyền sau khi được chê biến ra mới có chất lượng cao
- Đ ảm bảo được tính dược củ a p h ụ liệu
Trên thực tế, đa số phụ liệu cũng là các loại thuốc cố truyền, do đó bảnthân chúng cũng thể hiện tính hàn nhiệt, ôn lương như các vị thuốc cố truyền
Ví dụ, phụ liệu mang tính hàn: Miết huyết, mật bò, mật trâu, mật lợn, muôi ăn phụ liệu mang tính lương: Thần sa, Chu sa, Đậu đen, Đậu đỏ: phụ liệu mang tính ôn: Sinh khương, mật ong, Cam thảo phụ liệu mang tính nhiệt: Ngô thù du, Sa nhân, rượu
2.3 Vận dụng tô t c á c phương pháp tro n g điều tri
a P h ư ơ n g p h á p c h í n h trị
Là phương pháp sử dụng chủ vếu trong điều trị của YHCT với nguyên tắc đối lập giữa chiều hướng tác dụng của thuốc với chiều hưỏng của bệnh
- Nhiệt giả hàn chi: người bị nhiệt, triệu chứng nhiệt, bệnh nhiệt phải
sử dụng thuốc có tính hàn (thuốc có tính hàn hoặc tính lương), đê trị
- Hàn giả nhiệt chi: người bị hàn, triệu chứng hàn, bệnh hàn phải sử dụng thuốc có tính nhiệt (thuốc có tính nhiệt, tính ôn), để trị
- Hư thì bổ, thực thì tả: các tạng, phủ bị hư, dùng phương pháp bổ, thuốc
bô (thuốc bố khí, bố huyết, bổ âm, bổ dương) còn các tạng, phủ bị triệu chứng thực thì dùng phương pháp thanh, pháp tả và thuốc mang tính chất tả (thuôc tham thấp lợi niệu, thuổc tả hạ, thuốc giải biểu, thuốc thanh nhiệt)
b P h ư ơ n g p h á p tòng tri, còn g o i là d ồ n g tri (p h ả n tri)
Trong phương pháp này, nguyên tắc điều trị là, chiều hướng tác dụng của thuốc luôn cùng chiều với chiều hưâng của bệnh tật
- T hông n hân thông dụng, tắc n hân tắc dụng
+ Thông nhân thông dụng: vối nguyên nhân thông (nguyên nhân của bệnh cũng mang tính chất thông lợi, tả hạ) lại dùng phương pháp thanh, pháp
tả với các vị thuổc mang tính chất tả hạ, thông lợi đê trị Chang hạn, khi bị chứng lỵ, ỉa chảy lâu ngày, phân có máu mủ ở đây, ỉa chảy (nguyên nhân thông) lại dùng những vị thuôc, phương thuốc mang tính chất tả hạ, đê chữa (lẽ
ra phải dùng thuốc chỉ tả, cố sáp) Tại sao như vậy?
Trong phép này, trưốc hêt dùng “phép thông, thuốc thông” nhằm mục đích rửa sạch đi các chất nhầy, chất máu mủ ở đại trường trước; tiếp theo mồi sử dụng các thuốc để trị các nguyên nhân của bệnh
22
Trang 24+ Tắc nhân tắc dụng: dùng phép “tắc”, tức phép bổ, thuốc “tắc”, tức thuốc
mang tính chất bô đê trị các bệnh mà nguyên nhân lại mang tính chất trì trệ
Chang hạn, ruột bị táo kết (viêm đại tràng thê nhiệt, thê co thắt), người bệnh thường xuyên bị táo bón (nguyên nhân tắc) lại dùng những vị thuốc bô, phương thuôc mang tính chất bô đề trị (lẽ ra phải dùng thuốc tả hạ) Tại sao như vậy?
Trong phép này, muôn dùng “phép bô” đê củng cô", làm khỏe lên các cơ trơn của đại trường, giúp cho nhu động ruột mạnh lên làm hết co thắt mà tránh được chứng táo kết
- Các khái niệm “Chân hàn giả nhiệt, chân nhiệt giả hàn”, cũng sẽ được đề cập trong nguyên tắc điểu trị này
+ Chân hàn giả nhiệt: trường hợp này, thực chất của bệnh, là “hàn”, những triệu chứng biểu hiện ra ngoài, là nhiệt (nhiệt này, là giả, là không thực), do đó, trong trường hợp này, phải dùng thuốc có tính ôn nhiệt (dương dược) đế điều trị Như vậy, thuốc trị cùng chiều với chiều của triệu chứng bệnh,
là nhiệt
+ Chân nhiệt, giả hàn: trường hợp này, thực chất của bệnh là “nhiệt”,
những triệu chứng biểu hiện ra ngoài là hàn (hàn ở đây, là giả, là không thực)
Do dó, trong trường hợp này phải dùng thuốc có tính hàn, lương (âm dược) đế
điều trị Như vậy, thuôc điều trị cùng chiều vối chiều của triệu chứng bệnh,
là hàn
2.4 Bản c h ấ t c ủ a phù chính khu tà
Y học cổ truyền quan niệm "chính" là chính khí, là chân khí của con người,
là nguồn năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của tạng phủ và các cơ quan trong cơ thể, là sức đề kháng của cơ thể đế chống lại bệnh tật "Tà" là tà khí, là
"khí xấu", là nguyên nhân gây bệnh cho cơ thể mà cụ thể là 6 yếu tô' ngoại “lục dâm’: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa và 7 yếu tố nội “thất tình”: hỷ, nộ, ưu, tư,
bi, khủng, kinh
a Phù c h ín h
Phù chính là quá trình củng cố, bổ sung làm mạnh mẽ thêm cho“ chính
khí” cho sức đề kháng của cơ thế để chống lại bệnh tật Trên thực tê, phép phù chíai, tức là phép sử dụng phương pháp bổ và các thuốc bố dưỡng của YHCT,
nhằn tăng sức đề kháng cho cơ thể người bệnh Tuy nhiên, cũng cần nắm rõ nguTên tắc dùng phép bổ của YHCT mới đạt được kết quả Các thuốc bô của YHCT được chia theo bốn loại, thuổc bổ âm, bổ dương, bổ khí, bổ huyết
b Khu tà
Khu tà làm mất đi các yếu tô' có hại, gây bệnh tật cho con người
Người ta cho rằng, trong quá trình phát sinh và phát triển bệnh tật, các
Trang 25khí vẫn tiếp tục tác động lẫn nhau Nếu chính khí đủ mạnh, thắng đưỢc tà khí thì bệnh tật trong cơ thê sẽ lui dần và mọi chức năng của tạng phủ sẽ dần dần khôi phục trở lại, cơ thế sẽ khỏe mạnh Trái lại, nếu tà khí mạnh, chính khí suy tức là sức đề kháng của cơ thể không thắng nổi nguyên nhân gây bệnh, sẽ làm cho bệnh trạng của cơ thể, ngày càng nặng thêm.
c Môi q u a n h ê g i ữ a p h ù c h ín h với k h u tà
Về mặt điều trị, người ta rất coi trọng đến nguyên tắc "phù chính, khứ tà"
Y học cổ truyền quan niệm "Phù chính tức để khứ tà, khử tà tức để an chính",
có nghĩa là, phù chính là trực tiếp làm tăng sức đê kháng của cơ thế, trên cơ sở
đó cơ thể có thế chông được bệnh, tức “khứ tà” Và khi “tà” đã được trừ, sẽ giúp cho chính khí được bảo vệ Hai mặt này có quan hệ rất mật thiêt VỚI nhau Tuy nhiên, trên lâm sàng còn dựa vào điều kiện cụ thê của từng bệnh và từng thời điểm, đế xem xét sự thịnh suy khác nhau của chính khí và tà khí mà phân biệt chủ, thứ đế vận dụng phương pháp điều trị cho thích hợp Vê mặt sử dụng thuốc
cô truyền, thường dùng các loại thuốc bố: bổ khí, bổ huyết, bố âm, bố dương; hoặc phương pháp bố đối với nguyên tắc “phù chính” Còn với nguyên tắc “khu tà” thường dùng các các phương pháp thanh, tả vói các thuôc thanh nhiệt, thuốc trừ thấp, thuốc giải biếu Mặt khác, y học cố truyền còn quan niệm rằng trong các nhân tố nội, ngoài chính khí ra, yếu tố tinh thần là rất quan trọng đối VỐI việc điều trị "Trị bệnh tiên trị tâm", "Tâm tàng thần", "Tâm chủ hoạt động của sinh mệnh" Do vậy trên lâm sàng, ngoài việc dùng các thuốc bố để phù chínhhoặc các thuốc thanh, thuốc tả đê khứ tà, hoặc phôi hợp một cách tinh tê giữachúng với nhau, trước hết phải quan tâm đến yếu tô* tinh thần của bệnh nhân Phải làm cho người bềnh an tâm, tin tưởng vào điều trị; điều đó sẽ giúp ích cho người bệnh, phát huy được các yếu tố tích cực trong cơ thể đế chống lại bệnh tật
2.5 B ả n c h ấ t c ủ a tiêu bản
a K h á i n iêm vê tiêu bản
Tiêu bản là một phạm trù rất cơ bản của YHCT; nó liên quan đến rất nhiều lĩnh vực trong điều trị Bản là chỉ về “gốc”, còn tiêu chỉ về “ngọn” Ví dụ, Một sô khái niệm thuộc phạm trù tiêu bản:
- Nguyên nhân - triệu chứng: nguyên nhân là bản, triệu chứng là tiêu
- Chính khí - tà khí: chính khí là bản, tà khí là tiêu
- Nội nhân - ngoại nhân: nội nhân là bản, ngoại nhân là tiêu
- Tiền bệnh - hậu bệnh : tiền bệnh là “bản”, hậu bệnh là tiêu
b Trị b ện h theo tiêu - bản:
YHCT, tiên hành trị bệnh theo tiêu bản, với các nguyên tắc:
24
Trang 26- “Trị bệnh tất cầu kỳ bản”, có nghĩa là trị bệnh sẽ trị vào gốc, vào nguyên
nhân của bệnh.
- “Cấp tắc trị tiêu”: đôi VỐI bệnh cấp tức bệnh cấp tính thì trị tiêu, trị ngọn, trị triệu chứng trước Thật vậy, khi gặp các bệnh cấp, như sốt cao, tiêu buốt, chảy máu thì phải hạ sốt, hoặc lợi tiểu, giảm đau, hoặc cầm máu trước
- “Hoãn tắc trị bản”: đối với bệnh hoãn tức bệnh mạn tính thì trị bản, trị gốc, trị nguyên nhân gây bệnh, là chính Thật vậy, khi gặp các bệnh hoãn, như huyễn vựng, dùng thuốc trị vào tạng can, thận; chứng tiêu khát, thì phải dùng thuốc trị vào 3 tạng tỳ, phế, thận, bị nhiệt
- "Tiêu bản đồng trị” với nguyên tắc “bổ, tả kiêm trị” Trong nguyên tắc này, tiên hành kêt hợp trị cả hai: giữa tiêu và bản, tức trị cả gốc và ngọn, cả nguvên nhân và triệu chứng bệnh Ví dụ các bệnh can đởm thấp nhiệt: viêm gan mạn tính vừa dùng các vị thuốc: Chi tử, Sài hồ trị đế lợi gan mật, trị chứng vàng da, hoặc dùng dùng Xa tiền, Kim tiền, Tỳ giải trị chứng tiểu đỏ dùng Đại hoàng, Thảo quyết minh, trị chứng táo kết đó là trị tiêu, vừa dùng các vị thuốc trị bản, trị nguyên nhân gây ra viêm gan, như dùng các vị Diệp hạ châu, Hoàng liên, Actiso,
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u THUỐC c ổ TRUYỀN
3.1 Đôi tư ợng nghiên cứu
Trước hết, cần thông nhất về các khái niệm của dược liệu và các phương thuốc pổ truyền
- Dược liệu, là tên gọi chung của các nguyên liệu làm thuốc, v ề nguồn gốc, xuất phát ở 3 loại: thực vật (bao gồm cả các loại tảo, nấm), động vật và khoáng vật
- Thuốc Nam: chỉ những cây thuốc có mọc ở Việt Nam: Kinh giới, Tía tô, Dâu tằm, Sắn dây, Cúc hoa đã được Tuệ Tĩnh đề cập từ thế kỷ 14 “Nam dược trị Nam nhân”
- Thuốc dân gian, các vị thuốc còn được sử dụng trong phạm vi nhân dân của các cộng đồng 54 dân tộc anh em, chưa được tổng kết về phương diện tính
vị, quy kinh, công năng, chủ trị Ví dụ Chàm tía, cỏ Mần trầu, Trầu không, Xương xông
- Thuốc Bắc: thuốc có nguồn gốc nhập từ các nưốc phương Bắc: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên; trong đó chủ yếu là Trung Quổc: Đỗ trọng bắc, Cam thảo bắc, Đương quy, Hoàng kỳ Tuy nhiên khái niệm thuỗc bắc cũng
Trang 27mang tính tương đối, vì nhiều khi thuốc được nhập từ các nước không phải từ phương bắc, cũng được gọi là thuốc bắc.
- Thuốc di thực: những cây thuốc có nguồn gốc từ nước ngoài, được đưa vồtrồng, thích hợp ở Việt Nam: Actiso, Hồng hoa, Huyền sâm, Râu mèo, Phá cô chỉ, Địa hoàng, cỏ ngọt, Hoàng bá bắc, Đương quy, Bạch chỉ, Độc hoạt
- Đông dược (thuôc Đông y, hay thuốc YHCT): chỉ những vị thuốc kê cáthuốc Bắc, thuôc Nam và thuốc di thực, v ề mặt tính vị, quy kinh, công năng, chủ trị đã xác định Ví dụ: Bạch truật, Ngưu tất, Thương truật, Đỗ trọng bắc, Cam thảo, Sài hồ bắc
- Cổ phương là những phương thuốc từ thời cổ, từ cổ, ở đây mang ý nghĩa
là cũ, từ xưa, tức những phương thuốc đã được sử dụng từ lâu đời, có khi hàng trăm năm, cho kêt quả tốt trên lâm sàng Ví dụ: Lục vị, Bát vị, Thập toàn đại
bô, Tứ quân, Tứ vật
- Cổ phương gia giảm: từ cô phương, giảm đi hoặc gia thêm một số vị thuốc khác, cũng có khi gia, giảm về khối lượng của vị thuốc để có một phương thuôc mới có tác dụng tốt hơn hoặc phù hợp hơn cố phương ở một số triệu chứng nào
đó Ví dụ Bố trung ích khí gia vị, Tam hoàng thang gia giảm, Nhị trần thang
gia giảm
- Tân phương, những phương thuôc mới, được sử dụng trong thòi gian gầnđây, có trong các tài liệu mới, trong đó bao gồm cả phương thuốc mà các tác giảqua học tập, qua nghiên cứu mà tự xây dựng' nên
- Phương thuôc gia truyền: phương thuốc có nguồn gốc từ một gia đình, một dòng họ, một bộ tộc có tác dụng tốt, nối tiếng ở một địa phương, ở một vùng nào đó Ví dụ thuổc Cam Hàng Bạc (Hà Nội), trị các bệnh cam tích, trùng
tích ở trẻ em, thuốc phong Bà Giằng (Thanh Hóa), trị đau nhức xương khớp.,
thần kinh ngoại biên
3.2 Phương pháp nghiên cứu
a Vê dươc liêu
- Nghiên cứu vê mặt thực vật (đặc điểm thực vật, cấu tạo giải phẫu các bộ phận của dược liệu) nếu việc nghiên cứu xuất phát ban đầu từ vị dược liệu, cần phải nghiên cứu về tính đúng, tính hợp pháp của vị thuốc (dựa vào các tiêu chí quy định trong một tài liệu đã công bói: Dược điển, Thực vật chí)
- Nghiên cứu vê phân bô" điều kiện sinh thái, điều kiện môi trường, điều kiện thổ nhưỡng nuôi trồng cây con làm thuốc, cụ thể về giống cây trồng, về nước tưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất dược liệu theo nguyên tắc GAP đã bước đầu được hình thành và thực hiện ở nước ta
Trang 28- Nghiên cứu thu hái, chế biến, bào chê các vị thuổc theo các nguyên tắc,
(tám bảo các tính ‘'đúng”, và “tính khoa học” của phương pháp Trong việc chê hiên TCT đã bước đầu vận dụng tiên bộ khoa học như áp dụng phương pháp rửa nước Ozon thay thê cho việc xông hơi Lưu huỳnh đổi với một số dược liệu: Dương quy, Ngưu tất, Cúc hoa Cần theo dõi tổng kết đê đưa vào sử dụng rộng rãi trong chế biến TCT
b Vê t h à n h p h ầ n hóa hoc
Phân tích thành phần hóa học chính của vị thuôc, phương thuốc thông qua (tịnh tính, định lượng Có thế chỉ làm các phản ứng hóa học của các chất đặc trưng hoặc các thành phần hóa học chính, các thành phần đó đôi khi đã được xác định Có thê nghiên cứu các thành phần hoá học theo các phương pháp và phương tiện nghiên cứu hiện đại, nhằm phát hiện các thành phần hoá học mới, hoặc các hoạt chất của thuốc cố truyền
c Vê tác d ụ n g s in h hoc
- Xác định độc tính
Đê đảm bảo tính an toàn, hiệu quả của vị thuốc, phương thuốc cần tiến hành thử độc tính cấp diễn, độc tính bán cấp hoặc độc tính trường diễn; đặc biệt đôi với các vị thuốc mối hoặc các tân phương Cá biệt có thể thử độc tính chuyên biệt hoặc độc tính toàn thân
- Nghiên cứu tác dụng sinh học
Dựa trên tác dụng của vị thuốc và phương thuốc, tiến hành xây dựng mô hình dược lý thích hợp đê đánh giá hiệu quả của thuốc Tuy nhiên, cần quan tâm đến một sô" vấn đề sau:
+ Về động vật thí nghiệm: nguồn cung cấp, chủng, loại, giông, tuổi, chê độ
dinh dưỡng, công thức ăn của động vật, s ố lượng động vật thí nghiệm.
+ Phương pháp chia lô thí nghiệm: phương pháp thực nghiệm
+ Phương pháp đánh giá kết quả của thuôc: so sánh diễn biến giữa các lô,
so sánh sô" liệu thu được trưốc và sau thí nghiệm, so sánh sô liệu thu được vối hằng sô đã được xác định trong điều kiện phòng thí nghiệm của cơ sỏ
+ Các thực nghiệm thường được tiến hành trên cơ sở các mô hình thường quy hoặc các mô hình mới được áp dụng trong các phòng nghiên cứu dược lý của các cơ sỏ nghiên cứu có uy tín của các trường đại học, các viện nghiên cứu
Trang 29d Đ á n h g iá h iệu q u ả lâm s à n g thuốc cô truyên
Đây là giai đoạn hết sức quan trọng trong nghiên cứu thuốc cố truyền, nó
là cầu nối giữa nghiên cứu vối việc sử dụng thuốc Việc làm này thường tiến hành vối tân phương hoặc các vị thuốc mới về nguồn gốc hoặc mói về tác dụng Quá trình này thường được tiến hành sau khi đã xác minh quy cách chất lượng thuốc, xác định được độc tính và tác dụng dược lý của thuốc Quá trình đánh giá hiệu quả lâm sàng được tiến hành theo 5 giai đoạn
- Giai đoạn 1.
Quan sát sơ bộ về hiệu lực của thuốc đê làm cơ sở cho các giai đoạn đánh giá tiếp theo
+ Có phác đồ điều trị phù hợp
+ Tiến hành trên một s ố ít (10 - 30) người khỏe mạnh, ở độ tuổi (20 - 30
tuổi), có các chức năng gan, tim, thận bình thường, không có tiền sử dị ứng vối thức ăn và thuốc
+ Xác định liều dùng, đường dùng thuôc
Qua đó có những số liệu ban đầu để đánh giá
- Giai đoạn 2
Xác định hiệu lực và khẳng định thêm tính an toàn của thuốc đưa đánh giá
+ Có phác đồ điểu trị thích hợp
+ Tiến hành trên một s ố bệnh nhân hạn chê (30 - 50 người) được chia làm
2 nhóm, nhóm thuốc đánh giá và nhóm đôi chứng (cũng có thế chỉ có nhóm dùng thuốc), quá trình tiến hành trong điều kiện bệnh nhân nội trú
+ Nếu là 2 nhóm thì dùng phương pháp so sánh những đôi tượng bệnh nhân phải giông nhau về sô' lượng, giới tính, thòi gian mắc bệnh và thuốc dùng
đê so sánh phải là thuốc đã được xác định hiệu quả hoặc dùng placebo (giả dược) Nếu chỉ có 1 nhóm dùng thuốc đưa đánh giá thì dùng phương pháp tự đối chiẽu
+ Trong quá trình điều trị cần theo dõi các biến đổi lâm sàng, kiểm tra cận lâm sàng, tác dụng xấu hoặc tác dụng phụ của thuốc
+ Tiêu chí đánh giá dựa theo 4 mức: khỏi hẳn, có tiến bộ rõ, có tiến bộ, không có tiến bộ
28
Trang 30- Giai đoạn 3
Triển khai đánh giá lâm sàng trên phạm vi rộng lớn hơn đê xác định kêt quả của giai đoạn 2 Số lượng bệnh nhân cần khoảng 100 - 150 người Tiến hành theo phương pháp mù kép Cách tiên hành giông giai đoạn 2, song cần thực
hiện ở 3 trung tâm có điều kiện trang thiết bị kỹ thuật và cán bộ có năng lực.
- Giai đoạn 4
Giai đoạn này chỉ tiến hành khi thuổc đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi, nêu cần phải phát hiện những trường hợp độc hại mà các giai đoạn trên không phát hiện được Sô lượng bệnh nhân phải khoảng từ 200 người trở iên và được tiến hành ở nhiều trung tâm trong cả nưốc Cách tiến hành tương tự như giai đoạn 2 và 3
- Giai đoạn 5
Chỉ tiến hành với những thuốc đang được sử dụng nhưng có tác dụng cho một chỉ định mối Tiến hành đánh giá hiệu quả ở giai đoạn này nhằm mục đích
khang định chỉ định mới của thuốc S ố bệnh nhân khoảng từ 100 trở lên Cách
tiên hành tương tự như ở giai đoạn 2 và 3
Trang 31CHUYÊN ĐỂ II
KINH DỊCH V À M Ộ T s ố TIÊN ĐỂ■ ■CỦA HỌC THUYẾT Â M DƯƠNG, NGŨ HÀNH
Như ta đã biết, mọi lĩnh vực chuyên môn của YHCT, từ phòng bệnh, điều trị đên chê biên bào chê thuốíc, đều dựa vào một sô học thuyêt mang tính chất triết học cố của phương Đông, chủ yếu từ Trung Quổc, như học thuyết âm dương, ngù hành, tạng tượng, kinh lạc Trong các cấp học ở trung học, đại học Dược về YHCT đã có dịp nghiên cứu sơ bộ về các học thuyết trên Tuy nhiên, cũng cần tìm hiếu sâu thêm một sô lĩnh vực về một sô chuyên đề YHCT đê bố trợ thêm về kiến thức Y- Dược học cô truyền Trong số đó có các khái niệm về Kinh dịch và một số tiền để của học thuyết âm dương, ngũ hành
1 KINH DỊCH
1.1 Ý nghĩa c ủ a kinh dịch
Kinh dịch hay còn gọi là dịch lý, là phương pháp luận của cố nhân dùng đế quan sát, nhận xét, đánh giá các quy luật hoạt động của thiên nhiên, vũ trụ Sau đó trên cơ sở của các quy luật này vận dụng vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sông con ngưòi Trên thực tế, kinh dịch là những tri thức về triết học cố đại, nó không đề cập đến những vấn đề cụ thế như tạng tượng, kinh lạc, bệnh tật, thuốc men Song từ kinh dịch, người ta dễ dàng nghiên cứu lĩnh vực y học
cô truyền đê tìm hiểu và khám phá nó Do vậy, người xưa có quan niệm: "Bất học dịch, bất khả tri y" tức là không học kinh dịch, thì không thể nhận thức về y học được Tôn Chân Nhân (Trung Quốc) cho rằng: "Không biết kinh dịch thì không thể nói đến thầy thuốc giỏi" Hải thượng Lãn Ông, quan niệm rằng: "Học kinh dịch rồi hãy nói đến chuyện làm thuốc" Ông là người vận dụng kinh dịch một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo vào y học cô truyền Việt Nam Trên cơ sỏ
đó, Hải thượng Lãn Ong đã sáng tạo ra một sô thuyết mới của y học cô truyền Việt Nam như Học thuyết Thủy hỏa, thuyết Tam tiêu (quy về hệ thống tiêu hóa)
- Ý nghĩa của chữ dịch:
+ Là bất dịch, là không thay đổi, là nguyên thể
+ Là giao dịch, là có sự trao đổi qua lại
+ Là biên dịch, là kết quả của bất dịch, khi có giao dịch
30
Trang 32v ề hình tượng chữ dịch , phía trên là chữ nhật tượng trùng cho tròi, ý
nói khi ngẩng mặt lên là “tròi”, là “vũ trụ ”; phía clưỏi là chữ vật, tức khi CÚI
xuống là quan sát vật chất, địa hình Như vậy, bản thân chữ dịch cùng nói lên một khái niệm đầu tiên về trời đất (thiên địa)
Theo nghĩa của y văn cổ, chữ dịch còn có nghĩa là con Thằn lằn, ý nói Thằn lần là con vật, có màu sắc thay đôi, thay đôi ngay trong 12 giờ của ngày, thav đôi trong một tháng và trong 12 tháng của năm Như vậy, người ta đã dùng một con vật cụ thể là con "Thằn lằn" đế liên hệ đến sự biên thiên của vũ trụ Tương truyền Kinh dịch khởi thủy do vua Phục Hv (4477 - 4363, trước công nguyên),
là vị vua ở thòi thượng cô của Trung Hoa, người đã lập ra “Hà đồ” và “ Tiên thiên bát quái” đê biểu thị âm dương
1.2 Một sô loại kinh dịch
a L iên sơn d ic h
Là dịch của nhà Hạ - Trung Quốc (2205 - 1776 TCN) Dịch này có nguồn gôc từ thời vua Phục Hy, khi mà loài người còn sông ở trạng thái hoang dã, ăn ở trong các hang động Liên sơn dịch, lấy “quẻ Cấn” là “mù” làm gốc cho nên tên dịch có nghĩa là "mây từ mù bốc ra"
b Qua tà n g d ic h
Là dịch của nhà Thương (1778 - 1337 TCN) và nhà Ân (1138 - 1122 TCN), lấy “quẻ Khôn” là đất làm chủ, ý nghĩa là lấy gốc của vạn vật từ đất Khởi thủy của dịch này được bắt đầu từ thòi vua Thần Nông, khi bắt đầu khởi nghiệp của nền nông nghiệp
c Chu d ich
Là dịch của nhà Chu (1122 - 25 TCN), dịch này lấy “quẻ Càn” là “trời” và quẻ “Khôn” là “đất” làm gốc, coi trời đất là nguồn gốc biến hóa của âm dương Dịch này ra đời trong lúc con người đã biết đến thiên văn, lịch, toán
Người ta đã tống kết và thấy rằng có tới 158 tác giả đã viết về kinh dịch, trong đó nổi bật lên 5 người có công lốn nhất, đó là Phục Hy, Hạ Vũ, Văn Vương Chu Công và Khổng Tử
Trang 332.1 Hà đổ
a X uảt x ứ
Theo truyền thuyết Hà đồ là hình vẽ trên sông của vua Phục Hy (Trung Quốc: 4477 - 4363 TCN), khi ông du ngoạn trên sông Hà, thấy trên lưng một con Long mã, có 55 chấm đen trắng Nhà vua dựa theo đó vẽ lại bức tranh, dượcgọi là Hà đồ (hình 2.1) Người xưa cho rằng: "Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánhnhân tắc chi" Truyền thuyết hàm ý nói tới các vị “Thánh nhân” đã chỉ ra các hình (đồ) trên sông Hà và trên sông Lạc
Các hình đó được biểu thị bằng hình vẽ dưới đây (Hình 2.1)
Phương Nam (Hỏa)
Phương Đông
(Mộc)
Phương Tây (Kim)
Phương Bắc(Thủy)
Hình 2.1 Hà đồ
Chú th íc h : - Quy ưốc về phương hướng trên bản đồ của thời “Phục Hy”
ngược với quy ước hiện nay, phương nam ở phía trên, phương bắc ở phía dưới, phương đông phía bên trái, phương tầy ở phía bên phải
- Các chấm trắng trong Hà đồ biểu thị số “Thiên” sô của Trời, sô' dương
- Các chấm đen trong Hà đồ biểu thị sô của “Địa” sô của Đất, sô âm
b Ỷ n g h ĩa củ a H à đồ
- Người xưa mượn truyền thuyết về Hà đồ đế thề hiện những tư duy vê sô học đầu tiên Các chấm đen trắng trong Hà đồ, biêu hiện các sô tự nhiên từ 1 đên 10 Như vậy qua Hà đồ đã bắt đầu xuất hiện các số tự nhiên
- Y nghĩa các sô (các chấm đen, trắng) của Hà đồ:
32
Trang 34Sô (1 - 6) ở phía dưới (phương Bắc), thuộc thủy
Số (2 - 7) ở phía trên (phương Nam), thuộc hỏa
Số (3 - 8) ở phía trái (phương Đông), thuộc mộc
s ố (4 - 9) ỏ phía phải (phương Tây), thuộc kim
Số (5 -10) ở giữa (phương trung ương), thuộc thổ.
- Năm sô: 1, 2, 3, 4, 5 được gọi là sô" sinh Nêu cộng với s ố 5 (sô" diễn mẫu, ở
giữa) sẽ được năm số thành (thành số), lần lượt ta có:
- Có thế tóm tắt sự sinh thành của Hà đồ, như sau:
+ Thiên lấy 1 sinh thủy, địa lấy 6 thành thủy
+ Địa lấy 2 sinh hỏa, thiên lấy 7 thành hỏa
+ Thiên lấy 3 sinh mộc, địa lấy 8 thành mộc
+ Địa lấy 4 sinh kim, thiên lấy 9 thành kim
+ Thiên lấy 5 sinh thổ, địa lấy 10 thành thổ
- Năm sô lẻ trong Hà đồ biểu tượng cho số thiên (số trời), số dương, có tổng Jlà: 1 + 3 + 5 + 7 + 9 = 25
- Năm sô' chẵn biểu tượng cho số địa (số đất), số" âm, có tổng là:
2 + 4 + 6 + 8 + 10 = 30
- Tống sô của Hà đồ: sô thiên + sô địa là: 25 + 30 = 55
<c H ê quả
Qua Hà đồ, đã xuất hiện:
- Mầm mông của âm dương: sô" thiên, S<D địa, sô" âm, số dương,
- Xuất hiện tên gọi của các “hành” trong thuyết ngũ hành: Kim, Mộc, 'Thủy, Hỏa, Thổ
- Xuất hiện khái niệm “Sinh - Thành”, mầm mống của quy luật tương sinh ngủ hành
Và quy luật tương sinh ngũ hành, được biểu thị rõ hơn trong (hình 2.2)
Trang 35Hình 2.2 Sự thể hiện tương sinh ngũ hành trong Hà đồ
Qua hình 2.2 nói lên quy luật tương sinh ngũ hành: thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thô, thố sinh kim, kim sinh thủy
Đồng thời qua Hà đồ, cho phép ta có thê liên hệ đến sự tồn tại trong thiên nhiên của địa hình các nước phương Đông nói chung, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc nói riêng (vì Hà đồ xuất hiện ở TQ) Trên thực tế thấy ràng, thủy (nước), sinh thành từ phương Bắc, phương Bắc thường xuyên có nước đóng thành băng giá Mộc (cây cỏ) phát triển ở phương Đông, nơi có biển cả và nhiều ánh sáng Hỏa, nắng nóng ở phương Nam, nơi gần đường xích đạo Kim ở phương Tây, nơi có nhiều núi non, khoáng sản Điểu kiện vê địa lý đó cũng giông với hoàn cảnh địa lý thực tê của Việt Nam
2.2 L ạ c th ư
a X u ấ t x ứ
Theo truyền thuyết Lạc thư là hình vẽ cùa vua Hạ Vũ (Trung Quốc: 2205 -
2167 TCN) khi ông du ngoạn trên sông Lạc, thấy trên mai của con rùa vàng (Kim Quy) có các chấm gạch bô" trí như bức họa đồ, dựa trên đó ghi lại, được hình ảnh của Lạc thư (hình 2.3)
Phương đông
34
Trang 36Phương nam (hỏa)
- Quy ước về phương hướng trên bản đồ, thòi “Hạ vũ”, ngược với quy ước
- Các chấm trắng trong Lạc thư biểu thị sô" “Thiên”, sô của Trời
- Các chấm đen trong Lạc thư biểu thị sô’ của “Địa”, scí của Đất
b Y n g h ĩa c á c số củ a L a c t h ư
Cũng như Hà đồ, người xưa mượn truyền thuyết về Lạc thư đế thế hiện
ỉnhững tư duy về sô học Ví dụ, các chấm đen, trắng trong Lạc thư, biểu hiện các
sô tự nhiên từ 1 đến 9 Như vậy qua Lạc thư, cũng đã xuất hiện các sô tự nhiên
- Từ Lạc thư thấy rằng:
- Các chấm đen, trắng trong Lạc thư thế hiện các S<D tự nhiên Như vậy,Lạc thư có 9 số tự nhiên: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9
- Các s ố lẻ: 1, 3, 5, 7, 9 là thiên số, s ố dường có tổng bằng 25
- Các sô" chẵn: 2, 4, 6, 8 là địa số, số âm có tổng bằng 20
- Tổng sô của Lạc thư là: 25 + 20 = 45
- Với sô dương
+ Tượng tròi 1, tiến hợp (cộng thêm) 5 —> 6, biểu thị phương Tây Bắc
+ Tượng tròi 3, tiến hợp 5 —» 8, biểu thị phương Đông Bắc;
hiện nay
Trang 37+ Tượng trời 7, lùi hợp (trừ đi) 5 —» 2, biểu thị phương Tây Nam;
+ Tượng tròi 9, lùi hợp 5 -> 4, biểu thị phương Đông Nam
Trong đó: s ố 9 được gọi là s ố cực dương hay số lão dương;
Sô 6 là sô lão âm (theo quy luật âm thì lùi, 8 lùi xuống 6)
Sô' 6 là s ố chính, S<D thành thuỷ, sô* của đất, số 5 là S<D chính của sinh sô (sô
thiên) Và từ ý nghĩa đó, mọi vật đều lấy số 5 và sô" 6 đê biểu hiện
c Đ á c d iêm củ a lac t h ư
Trước hết, sắp xếp các con số của Lạc thư vào các ô, ta có 9 ô (Hình 2.4)
Phương Nam (Hỏa)
Phương Bắc (Thủy)
Hình 2.4 Đặc điểm của Lạc thư
Nhận xét:
Lạc thư, có tổng sô 15 nếu cộng theo các hưống dọc, ngang, chéo của các ô
- Có tổng là 10 nếu bỏ số diễn mẫu, sô 5
- Từ đặc điểm của Lạc thư, kết hợp với phương vị, xuất hiện các hành của thuyết ngũ hành: Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, Thổ, thể hiện ở hình 2.5
36
Hình 2.5 Sự thể hiện mầm mông của ngũ hành
Trang 38- Đồng thời xuất hiện quy luật tương sinh, tương khắc ngũ hành (hình 2.6, 2.7)
Hình 2.6 Thể hiện quy luật tương khắc ngũ hành
Hòa (2 - 7)
Mộc ( 3 - 8 )
-w I
ThổỈ(5) * Kim ( 4 - 9 )
Hinh 2.7 Thể hiện quy luật tương sinh tương khắc ngũ hành
Chú thích: - ► Tương sinh - ► Tương khắc
d S ư vân h à n h của L a c t h ư theo quy lu â t âm d ư ơ n g
Trang 39Nhận xét:
+ Với 4 s ố lẻ đi từ chiều Đông Bắc sang Tây Nam, tượng trưng cho sự dịch
chuyến của trái đất quanh mặt trời, cho 4 mùa: Đông (1), Xuân (3), Thu (7), Hạ (9) (Quy theo phương vị của Lạc thư)
+ Với 4 sô chẵn đi từ chiều Tây Nam sang Đông Bắc, tượng trưng cho sự chuyền dịch của mặt trăng với 4 phương phụ
Như vậy, khi vận hành âm đi từ phải sang trái, từ trên xuông dưới, theo chiều hướng giảm dần (giáng) còn dương đi từ trái sang phải, từ dưới lên trên, theo chiều hướng tăng dần (thăng), c ả âm và dương vận hành theo quy luật tự nhiên: dương thăng âm giáng
đ H ệ qu ả
- Từ lạc thư đưa ra các phương vị phụ: Tây Nam, Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc
- Dương sinh ỏ Bắc, trưởng ở Đông, cực ở Nam, tiêu ở Tây
- Âm sinh ỏ Tây Nam, trương ở Đông Nam, cực ở Đông Bắc, tiêu ỏ Tây Bắc.
- Dương sinh ở phương chính, âm sinh ở phương phụ
- Từ Lạc thư xuất hiện các hành của thuyết ngũ hành và các quy luật tương sinh, tương khắc của thuyết ngủ hành
- Âm dương đều vận hành theo quy luật tự nhiên Điều đó phản ảnh âm dương là khách quan, tồn tại trong mọi sự vật, sự việc
2.3 C ác khái niệm về b á t quái
a Tiên thiên bát q u á i
- X u ấ t x ứ
Vua Phục Hy được xem như nhà bác học đầu tiên của phương Đông giải thích về sự hình thành vũ trụ bằng triết học, nó mở đầu cho cho triêt học và y học đông phương Ồng không những giải thích mà còn ghi lại ý nghĩa của toàn
bộ quá trình biến hóa của vạn vật bằng vạch ngang liền ( ), ký hiệu dương và
vạch ngang đứt ( -), ký hiệu âm.
Trong thời kỳ chưa có chữ viết, hai ký hiệu trên phối hợp với nhau nói lên
sự vận động, biến hóa không ngừng của vạn vật
Trong hai ký hiệu đó, vạch liền là dương, là số lẻ; vạch đứt là âm, là sô chẵn Như vậy qua đây cũng đã xuất hiện mầm mông của âm và dương, số âm,
số dương
Từ các ký hiệu ( ) và ( -), ngưòi ta xếp ra 8 loại hình khác nhau, mỗiloại hình được gọi là một quẻ Có 4 quẻ dương và 4 quẻ âm được sắp xêp như sau:38
Trang 404 quẻ dương: Càn, Đoài, Ly, Chấn
4 quẻ âm: Tôn, Khảm, Cấn, Khôn
- S ự thê h iê n của cá c q u ẻ
r
1 - Càn (tam liên) —
Thuôc
dương ^
- tượng trưng cho trời
2- Đoài (thượng khuyết) tượng trung cho đồng bằng, sương mù, sông suối
- tượng trung cho lửa, sức nóng
— — tượng trưng cho sấm
tượng trưng cho gió
tượng trưng mặt trăng, nước
= "5 tượng trưng cho núi
^ ^ tượng trưng cho đất
b H ậ u th iê n bát q u á i
Sau tiên thiên bát quái có hậu thiên bát quái Hậu thiên bát quái cũng có
8 quẻ, trong đó quẻ Càn = thuộc dương, quẻ Khôn — ~ thuộc âm; còn 6 quẻ
nữa thì theo nguyên tắc: dương quái đa âm, âm quái đa dương
Theo nguyên tắc này thì dương quái, âm quái, được biểu hiện, như sau:
- Dương quái, gồm các quẻ: Chấn =_z , Khảm r r = , Cấn z r
- Âm quái, gồm các quẻ: Tôn “ , Ly ZJZ , Đoài =
d Q u a n h ê g i ữ a âm d ư ơ n g vói tiên thiên, h ậ u th iên bát q u á i
- S ự thê h iện ăm dương trong tiên thiên b á t qu ái, (hình 2.9)