ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Nguyễn Thị Kim Yến NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT DUNG MÔI HỮU CƠ ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thị Kim Yến
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT DUNG MÔI HỮU CƠ ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP
Ô TÔ, ĐÓNG TÀU THÔNG QUA CÁC CHỈ SỐ HÓA SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thị Kim Yến
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÓA CHẤT DUNG MÔI HỮU CƠ ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP
Ô TÔ, ĐÓNG TÀU THÔNG QUA CÁC CHỈ SỐ HÓA SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Nguyễn Đình Thắng
2 TS BS Phạm Tùng Lâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu, Khoa sinh học, Bộ môn sinh lý thực vật và Hóa sinh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Đình Thắng, bộ môn Sinh lý thực vật và hóa sinh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho bản luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS BS Phạm Tùng Lâm, Giám đốc Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường - Cục Y tế Bộ GTVT đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường - Cục Y tế Bộ GTVT, tập thể Khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh cùng toàn thể cán bộ nhân viên Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường GTVT đã tạo điều kiện điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng và chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, quản đốc các phân xưởng, toàn thể cán bộ phòng Y tế và các công nhân tham gia nghiên cứu của Công
ty CP cơ khí ô tô Thống Nhất Thừa Thiên Huế, Công ty CP cơ khí ô tô 3.2, Công ty TNHH MTV đóng tàu Bạch Đằng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện và cộng tác với tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Và cuối cùng tôi vô cùng biết ơn Cha, Mẹ, Chồng, Con và toàn thể những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Nguyễn Thị Kim Yến
Trang 4GTVT Giao thông vận tải
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
RLTK Rối loạn thông khí
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 3
TỔNG QUAN 3
1 TÓM TẮT VỀ CÔNG NGHỆ ĐÓNG TÀU VÀ LẮP RÁP Ô TÔ 3
2 ĐẠI CƯƠNG VỀ DUNG MÔI 6
2.1 Khái niệm dung môi 6
2.2 Tính chất lý hóa của dung môi 6
2.3 Phân loại dung môi 7
2.4 Sự hấp thu, phân bố, chuyển hóa và đào thải của dung môi 8
2.5 Tác hại của dung môi đối với sức khoẻ 10
2.6 Một số hóa chất và dung môi thường dùng trong ngành công nghiệp ô tô và đóng tàu 13
3 NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA DUNG MÔI ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI 18
3.1 Trên thế giới 18
3.2 Tại Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 26
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 26
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3 Các chỉ số nghiên cứu 27
2.3.1 Xác định môi trường làm việc của người lao động tại các đơn vị đóng tàu và lắp ráp ô tô 28
2.3.2 Phương pháp khảo sát điều kiện lao động 29
2.3.3 Phương pháp khảo sát tình trạng sức khoẻ, cơ cấu bệnh tật, bệnh nghề nghiệp và liên quan đến nghề nghiệp 29
Trang 62.4 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của môi trường lao động tới sức khoẻ công
nhân 33
2.5 Kĩ thuật xử lí số liệu 34
2.6 Các biện pháp khống chế sai số 34
2.7 Đạo đức nghiên cứu 34
CHƯƠNG 3 35
K T QUẢ VÀ BÀN LUẬN 35
3.1.1 Các yếu tố vi khí hậu 35
3.1.2 Cường độ chiếu sáng và cường độ tiếng ồn 36
3.1.3 Nồng độ bụi 37
3.1.4 Nồng độ hơi khí 39
3.1.5 Nồng độ dung môi hữu cơ 40
3.2 Kết quả điều tra phỏng vấn 42
3.3 Kết quả khám sức khỏe và bệnh nghề nghiệp 49
K T LUẬN 63
1 Thực trạng môi trường lao động tại các công ty lắp ráp ô tô và đóng tàu 63
2 Tình trạng sức khỏe và các bệnh liên quan đến nghề nghiệp của người lao động tiếp xúc với hóa chất và dung môi hữu cơ 63
KI N NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 70
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.18 Kết quả xét nghiệm huyết học (Hồng cầu) 55
Trang 8Bảng 3.19 Kết quả xét nghiệm huyết học (Bạch cầu) 56 Bảng 3.20 Kết quả xét nghiệm huyết học (Huyết sắc tố Hb) 56
Bảng 3.24 Kết quả xét nghiệm sinh hoá Creatinin 59
Bảng 3.27 Kết quả xét nghiệm Phenol trong nước tiểu 60 Bảng 3.28 Kết quả xét nghiệm axit hyppuric trong nước tiểu 61
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang 11MỞ ĐẦU
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã thúc đẩy phát triển kinh tế mạnh
m , đồng thời với những cải tiến của công nghệ đã cải thiện đáng kể đến đời sống
và môi trường lao động Tuy nhiên trong quá trình công nghiệp hóa c ng tạo ra rất nhiều yếu tố mới phát sinh đã và đang tác động đến điều kiện và môi trường làm việc của người lao động
Tại các nước công nghiệp phát triển khoảng 20-50% công nhân có thể phơi nhiễm với các yếu tố có hại cho sức khoẻ trong quá trình làm việc và tỉ lệ này ở các nước đang phát triển thậm chí còn cao hơn Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng 50-100% công nhân trong một số ngành công nghiệp độc hại có thể phơi nhiễm với các yếu tố hoá chất, vật lý, sinh học vượt quá giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp được áp dụng cho các nước công nghiệp
Các nước đang công nghiệp hoá thường có nhiều khó khăn trong quản lý, giám sát điều kiện lao động Bên cạnh đó, sự nhận thức về hậu quả của tai nạn nghề nghiệp, các tác hại c ng như tầm quan trọng của các biện pháp phòng chống thường hạn chế
Công nghiệp hoá chất, một trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế toàn cầu, đồng thời c ng là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường Hiện nay, trên thế giới có hơn 10 triệu hoá chất, trong đó hàng 100.000 hoá chất được sử dụng hàng ngày trong công nghiệp, nông nghiệp, trong sinh hoạt và khoảng 1500-2000 chất hóa học trong đó có nhiều dung môi được sử dụng rộng rãi và đã gây ra những ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gan, thận, cơ quan tạo máu, đường hô hấp, các bệnh về da, và rối loạn sức khỏe sinh sản
và thậm chí có thể gây ung thư
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước bằng chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hoá Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các ngành hoá chất c ng được đầu tư phát triển không ngừng Các ngành công nghiệp
sử dụng hóa chất ngày càng tăng
Trang 12Trong thực tiễn, công tác quản lý an toàn dung môi công nghiệp rất phức lạp
do đa dạng về chủng loại và ứng dụng trong đời sống sản xuất Tiếp xúc với hóa chất và dung môi có thể gây ra nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động ngay cả khi nồng độ của chúng thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, đồng thời c ng làm tăng tác hại của dung môi khi có tác động thêm của các yếu tố môi trường độc hại khác Để đánh giá tình trạng môi trường và sức khỏe của người lao động có tiếp xúc
với các yếu tố độc hại nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
đánh giá ảnh hưởng của hóa chất dung môi hữu cơ đến sức khỏe người lao động trong ngành công nghiệp ô tô, đóng tàu thông qua các chỉ số hóa sinh” với các
3 Đề xuất các giải pháp dự phòng các bệnh liên quan đến tiếp xúc nghề nghiệp cho người lao động
Trang 13Chương I TỔNG QUAN
1 Tóm tắt về công nghệ đóng tàu và lắp ráp ô tô
Quy trình công nghệ sản xuất của công ty đóng tàu và lắp ráp ô tô, bao gồm nhiều phân xưởng và công đoạn như: Phân xưởng thân vỏ, làm sạch, sơn, cơ khí, hoàn thiện nội thất, mộc, nhựa composite…
Hiện nay, ngành công nghiệp đóng tàu và lắp ráp ô tô ở nước ta đã và đang
áp dụng nhiều dây chuyền công nghệ hiện đại để giảm sức lao động cho con người, tăng năng suất lao động và tăng chất lượng sản phẩm như dây chuyền phun hạt mài tẩy rỉ, dây chuyền làm sạch tôn tự động, dây chuyền sơn tự động Những dây chuyền công nghệ đó mặc dù có rất nhiều ưu điểm nhưng vẫn sinh ra những yếu tố gây ô nhiễm môi trường lao động như bụi, ồn, hơi khí độc, đặc biệt là dung môi hữu
cơ (trong dây chuyền sơn, véc ni và sử dụng dung môi để tẩy rửa, pha chế keo dán) Như vậy người lao động trong các vị trí làm việc đã và đang phải chịu ảnh hưởng của môi trường do các yếu tố độc hại phát sinh trong quá trình sản xuất, đặc biệt là dung môi hữu cơ có thể gây nên các bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan đến nghề nghiệp
Qua khảo sát quy trình công nghệ lắp ráp ô tô tại các công ty thấy có các công đoạn có tiếp xúc với dung môi hữu cơ như: làm sạch, bả matiz, sơn, hoàn thiện nội thất Hình 1.1 Tuy nhiên, trong quy trình công nghệ đóng tàu có nhiều công đoạn phức tạp hơn nhiều so với quy trình công nghệ lắp ráp ô tô nhưng lại có nhiều công đoạn người lao động phải tiếp xúc với dung môi hữu cơ như: làm sạch, sơn lót
và sơn hoàn thiện Hình 1.2
Trang 14
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình công nghệ lắp ráp ô tô
Nguồn: Phòng Kỹ thuật, Công ty cổ phần cơ khí ô tô Thống Nhất Thừa Thiên Huế, Công ty cổ
phần cơ khí ô tô 3/2
Tiếp xúc với dung môi hữu cơ (pha chế keo để
bả matiz)
Láp ráp máy, gầm
Hoàn thiện nội thất
Sơn thân vỏ, các chi tiết
Tiếp xúc với dung môi hữu cơ (pha chế keo để
dán đệm)
Tiếp xúc với dung môi hữu cơ (sơn
Thiết kế kỹ thuật
Làm sạch, bả matiz
Gia công thân vỏ
Trang 15Gia công tôn, thép hình
Gia công phụ kiện
vỏ, điện, ống
Lắp ráp các phân tổng đoạn
Lắp các phụ kiện
Làm sạch và sơn lót
Đấu đà, hàn hoàn thiện
Kiểm tra, thử kín các két, lắp hệ trục,
hệ lái, thiết bị, máy chính
Sơn hoàn thiện
Hạ thủy
Hoàn thiện toàn bộ các thiết bị, các hệ thống ống, điện,
máy, nội thất thiết bị trên boong
Thử, nghiệm thu tại bến Thử đường dài Hoàn thiện, giao tàu
Tiếp xúc với dung môi hữu
cơ sơn
Tiếp xúc với dung môi hữu
cơ sơn)
Trang 162 Đại cương về dung môi
2.1 Khái niệm dung môi
Dung môi là các chất lỏng hoặc khí có khả năng hòa tan các chất khác để tạo
ra một dung dịch Thuật ngữ dung môi hữu cơ được sử dụng cho các hợp chất hữu
cơ có chứa nguyên tử carbon [20]
Một hợp chất được sử dụng như một dung môi cần có những đặc tính sau:
- Có nhiệt độ sôi thấp, dễ dàng được cất loại khỏi dung dịch để lại chất mà nó đã hòa tan
- Không có phản ứng hóa học với những chất mà nó hòa tan
- Có khả năng chiết tách các hợp chất từ một hỗn hợp có nhiều chất
- Dung môi hữu cơ thường là các hợp chất không màu trong suốt và hầu hết chúng
có mùi thơm đặc trưng
- Khả năng hòa tan của dung môi được xác định bởi lượng chất tối đa tan hoàn toàn trong một thể tích nhất định ở một nhiệt độ nhất định
Hiện nay, hầu hết các dung môi được sử dụng trong các ngành công nghiệp
là dung môi hữu cơ, sản phẩm của công nghiệp dầu lửa, có tác dụng hòa tan chất rắn mạnh Chúng thường lẫn thêm một số loại dung môi và hoá chất khác nhau và
có thể rất độc Trong thực tế sản xuất người lao động thường phải chịu tác động đồng thời của nhiều loại dung môi khác nhau có mặt trong môi trường lao động
2.2 Tính chất lý hóa của dung môi
2.2.1.Độ phân cực, tính hòa tan, tính hòa trộn
Dựa trên độ phân cực của một hợp chất được sử dụng làm dung môi (polarity), người ta phân chia dung môi thành hai loại: Dung môi phân cực và dung môi không phân cực Độ phân cực đươc biểu thị bằng Moment phân cực
Từ thực tế, người ta thấy các dung môi phân cực hoà tan các chất phân cực như nước hòa tan dễ dàng đường Các dung môi không phân cực hòa tan các chất không phân cực, các chất giống nhau thì dễ dàng hòa tan trong nhau Các chất không phân cực như dầu ăn, dầu mỡ dễ dàng hòa tan trong n-hexan hoặc xăng, ete, dầu hỏa Nước đặc trưng cho dung môi phân cực không thể hòa tan và hòa trộn với
Trang 17xăng dầu, nó dễ dàng phân lớp khi ta trộn với nhau Các dung môi phân cực còn được chia nhỏ thành hai loại: dung môi có khả năng tạo proton như nước, axit acetic v.v và dung môi không có khả năng tạo proton (như aceton)
Tính hòa tan mỡ là một đặc điểm của dung môi công nghiệp hay dung môi hữu cơ Mỡ là một thành phần cấu tạo của da nên dung môi có thể thấm qua da thâm nhập vào cơ thể dễ dàng
2.2.2 Tính bay hơi
Một tính chất rất cần có của một dung môi là nó có nhiệt độ sôi thấp để dễ bay hơi, dễ dàng cất loại khỏi dung dịch như aceton, ête, etylic, methylen chlorua Dung môi có thể bay hơi ở nhiệt độ môi trường, điểm sôi và trọng lượng phân tử thường thấp, điều đó tạo cho chúng có những đặc tính riêng biệt cho phép dung môi
dễ dàng thâm nhập vào cơ thể
Tính bay hơi của một chất càng cao thì nồng độ chất đó trong không khí càng lớn Sự xâm nhập vào cơ thể của dung môi qua đường hô hấp là đường phổ biến nên tính bay hơi của dung môi rất quan trọng
2.3 Phân loại dung môi
Tính đa dạng của dung môi làm sự phân loại dung môi rất phức tạp và có một số cách phân loại dung môi được sử dụng như sau:
Trang 182.3.1 Dựa trên độ phân cực (có thể phân làm 2 loại):
Dung môi phân cực
Dung môi không phân cực
2.3.2 Dựa theo cấu trúc hoá học
Dung môi được phân chia thành những nhóm dựa vào cấu trúc hoá học và các nhóm chức gắn vào đó Có thể được phân loại như sau: nhóm béo, mạch thẳng, mạch vòng, nhân thơm Nhóm chức bao gồm các halogen, rượu, keton, glycol, este, ête, carboxylic acid, amin và amid Tính độc của dung môi có khuynh hướng giống nhau nếu chúng ở cùng một nhóm: nhóm hydrocarbon có clo độc với gan, nhóm
aldehyd gây kích thích hô hấp và thần kinh trung ương [20]
2.3.3 Dựa trên l nh vực s d ng
Dung môi được sử dụng trong tẩy rửa, làm sạch
Dung môi được sử dụng trong công nghiệp hóa chất
Dung môi được sử dụng trong công nghiệp chất dẻo
Dung môi được sử dụng trong sơn, v
Dung môi được sử dụng trong nông nghiệp (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ) Dung môi được sử dụng trong công nghiệp hóa dược và y tế
Dung môi được sử dụng trong v khí hóa học (chế tạo chất độc màu da cam, chế tạo các loại bom cháy, bom napan.v.v.)
2.4 Sự hấp thu, phân bố, chuyển hóa và đào thải của dung môi
2.4.1 Sự hấp thu: Dung môi có thể hấp thu vào cơ thể qua những đường sau:
Đường hô hấp:
Dung môi thường là chất lỏng dễ bay hơi, hơi dung môi hòa tan mỡ nên dung môi dễ hấp thu qua màng mao mạch phế nang vào máu Phần lớn dung môi hữu cơ được giữ lại trong phổi với tỉ lệ khoảng 40-80%, nhưng trong điều kiện đang lao động thì sự hấp thu có thể tăng lên gấp 2-3 lần so với lúc nghỉ vì lao động thể lực làm tăng thông khí phổi và lưu lượng máu làm lượng dung môi đến phế nang và được hấp thu tăng lên
Trang 19 Đường qua da:
Nhờ tính hoà tan mỡ nên phần lớn các dung môi có thể được hấp thu qua da Tuy nhiên, sự hấp thu qua da còn tuỳ thuộc vào tính hoà tan và tính bay hơi Dung môi nào hoà tan vào cả nước và mỡ thì dễ hấp thu qua da hơn Còn chất dễ bay hơi thì kém hấp thu qua da hơn do bay hơi nhanh khi đọng vào da
Đường tiêu hoá:
Dung môi có thể thâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá như nuốt phải các giọt dung môi, miệng tiếp xúc với tay, thức ăn, nước uống, hút thuốc lá có nhiễm dung môi [20]
c ng s tích chứa nhiều dung môi hơn, do đó phải đào thải nhiều hơn nhưng chậm hơn sau khi ngừng tiếp xúc Phần lớn các dung môi có thể đi qua rau thai và xâm nhập vào sữa mẹ
2.4.3 hu n hoá và đào thải dung môi trong cơ th
Nhiều công trình nghiên cứu về quá trình chuyển hoá của các dung môi là hydrocacbua thơm cho thấy chúng có sự giống nhau về chuyển hóa và có rất nhiều điểm chung với chất đại diện là benzen, đồng thời các kết quả nghiên cứu c ng đã chỉ ra có sự khác biệt giữa chúng
Đặc điểm chung đối với hydrocacbua thơm là sau khi vào cơ thể, một phần được đào thải ra ngoài cùng với không khí thở ra ở dạng không thay đổi cấu trúc hoá học Quá trình này xảy ra nhờ có sự khác biệt về áp suất riêng phần của các chất
có trong khí phế nang và trong máu tĩnh mạch Tỉ lệ đào thải qua đường hô hấp khác nhau giữa các dung môi [20]
Trang 202.5 Tác hại của dung môi đối với sức khoẻ
2.5.1 Tác hại đến hệ thần kinh trung ương
Tác hại cấp tính:
Phần lớn các dung môi hoà tan mỡ, dễ bay hơi đều làm suy giảm chức năng của
hệ thần kinh trung ương, suy giảm chung và không đặc hiệu Nhiễm độc cấp tính thường xảy ra khi có sự cố, ít khi gặp Các triệu chứng suy giảm chức năng hệ thần kinh phụ thuộc vào loại dung môi và lượng dung môi được hấp thụ vào cơ thể Thể nhiễm độc nhẹ giống như người bị say rượu Các triệu chứng từ nhức đầu, buồn nôn, nôn, choáng váng, đầu óc quay cuồng, chóng mặt, mất thăng bằng, nói nhíu lưỡi, mệt mỏi, buồn nôn, suy yếu, dễ cáu giận, bực bội, mất phương hướng, lẫn cho đến hôn mê Những biểu hiện kích thích ở giai đoạn nhiễm độc sớm là do suy chức năng ức chế và tương ứng giai đoạn 1 của gây mê Đa số các triệu chứng mất
đi theo thời gian và phụ thuộc vào quá trình đào thải các chất dung môi ra khỏi cơ thể Do đó, biểu hiện các triệu chứng liên quan đến thời gian bán hủy sinh học, dao động trong khoảng thời gian từ ít phút tới gần 24 giờ [20]
Tác hại mạn tính:
Thường xuất hiện từ từ và xảy ra khi có sự tiếp xúc lâu dài với nồng độ dung môi nồng độ thấp Nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để nói lên những ảnh hưởng mạn tính do tiếp xúc với dung môi hữu cơ như: bệnh não nhiễm độc mạn tính, mất trí tiền - tuổi già, hội chứng thợ sơn, rối loạn tâm thần và hội chứng suy nhược thần kinh Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp khi bị nhiễm độc mạn tính là: nhức đầu, rối loạn tâm trạng (suy sụp, lo âu , mệt mỏi, mất trí nhớ và khó tập trung Khám lâm sàng có thể thấy dấu hiệu giảm trí nhớ, khó chú ý, rối loạn chức phận cảm giác và vận động [20]
2.5.2 Tác hại đến thần kinh ngoại vi
Tất cả các dung môi đều có khả năng gây tác hại đến thần kinh ngoại vi Hiện nay, có nhiều nghiên cứu cho thấy tiếp xúc với toluen gây giảm thính lực, và
bị rối loạn chức năng của cơ quan tiền đình Tiếp xúc với dung môi có sự tăng rối loạn sắc giác (colour vision) và có sự rối loạn chức năng của cơ quan khứu giác
Trang 21(giảm khứu giác và loạn khứu giác - hyposmia, parosmia) có thể đây là sự phá huỷ đầu tận cùng thần kinh khứu giác ở niêm mạc m i hoặc do tác động đến thần kinh trung ương Các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh thần kinh ngoại vi do dung môi là cảm giác tê, dị cảm, suy yếu, đau và co cứng cơ, giảm cảm giác, vận động và phản xạ [20]
2.5 3 Tác hại đến máu
Trong số các dung môi, benzen là chất gây ảnh hưởng đến cơ quan tạo huyết
rõ rệt nhất Tiếp xúc với benzen qua đường hô hấp trong thời gian dài có thể gây ra ảnh hưởng đến các tổ chức tạo máu, đặc biệt là tuỷ xương Những tác động này có thể làm rối loạn quá trình tạo máu và gây giảm một số thành phần quan trọng của máu như giảm hồng cầu gây thiếu máu, giảm tiều cầu gây xuất huyết Tuy nhiên, quá trình tạo máu có thể trở lại bình thường khi ngừng tiếp xúc với benzen Ngoài
ra, benzen có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch làm tăng nguy cơ nhiễm trùng do giảm sức đề kháng của cơ thể Benzen có thể gây ung thư, tiếp xúc lâu dài với benzen ở nồng độ không khí có thể gây ung thư ở cơ quan tạo máu [20]
2.5.4 Tác hại đến da
Phần lớn dung môi hữu cơ là chất kích thích da do tính chất tẩy dầu mỡ, hoà
tan lớp mỡ của da và hấp thu qua da Dung môi có thể gây viêm da phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc Thói quen rửa tay bằng dung môi c ng dễ dẫn tới viêm da Bệnh viêm da do dung môi hay gặp nhất ở các nghề sơn, in, tẩy khô Dấu hiệu lâm sàng thường gặp là người bệnh phải có tiền sử tiếp xúc trực tiếp với dung môi tổn thương điển hình của viêm da kích thích cấp tính với biểu hiện ban đỏ, phù, hoặc của viêm da mãn tính, khô, nẻ, vùng da bị viêm dễ thấm hóa chất hơn vùng da
lành và có nguy cơ nhiễm khuẩn thứ phát [20]
2.5.5 Tác hại đến tim mạch
Tiếp xúc với dung môi ở nồng độ cao làm tăng mẫn cảm cơ tim, gây rối loạn nhịp Những biểu hiện là chóng mặt, hồi hộp, mệt lả hay ngất xỉu, có thể kết hợp hoặc không với các triệu chứng hệ thần kinh trung ương Ngoài ra, có thể thấy mạch không đều và huyết áp thấp [20]
Trang 222.5.6 Tác hại đến cơ quan hô hấp
Các dung môi đều có thể gây kích thích đường hô hấp ở một mức độ nào đó Kích thích là do tác dụng hoà tan mỡ của dung môi Trong số các dung môi, formaldehyd là chất gây kích thích mạnh Phần lớn dung môi thường kích thích ở đường hô hấp trên gây viêm m i, viêm xoang, thậm chí có thể gây viêm phế quản Nếu tiếp xúc với liều cực cao của một số dung môi như khí phosgen có thể gây phù phổi cấp [20]
2.5 Tác hại đến gan
Dung môi có thể gây tổn thương tế bào gan phụ thuộc vào nồng độ và thời
gian tiếp xúc, dung môi có nhóm halogen và nitơ đều rất độc với gan và có thể gây
hoại tử gan cấp tính và tử vong như tetrachlorua carbon hay 2-nitropropan
Khi gan bị tổn thương các triệu chứng có thể biểu hiện không rõ rệt và thường gặp các dấu hiệu: Gan to mềm, vàng da, nước tiểu sẫm, phân nhạt màu [20]
2.5 Tác hại đến th n
Dung môi có thể gây nhiễm độc thận Tiếp xúc nghề nghiệp với một số dung môi hay hỗn hợp của chúng có thể gây rối loạn chức năng ống thận với biểu hiện protein niệu, enzym niệu (tăng bài tiết enzym muramidase và beta- glucosaminidase)
2.5 Tác hại đến sức kh e sinh sản
Dung môi có thể dễ dàng đi qua hàng rào lipid của rau thai, đến hệ thần kinh trung ương của bào thai gây tổn thương thần kinh trung ương giống như rượu, nên chúng có khả năng gây hội chứng dung môi - bào thai Các nghiên cứu cho thấy sự tiếp xúc với dung môi có thể gây ảnh hưởng không hồi phục đến hệ thần kinh bào thai Ngoài ra ở phụ nữ hít phải benzen với nồng độ cao trong nhiều tháng có thể xuất hiện kinh nguyệt không đều, giảm kích thước buồng trứng, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi dẫn đến trẻ sơ sinh trọng lượng thấp, chậm hình thành xương, ảnh hưởng đến tủy xương của thai nhi Ở nam giới khi tiếp xúc với dung môi c ng gây ảnh hưởng tới khả năng sinh sản [20]
Trang 232.6 Một số hóa chất và dung môi thường dùng trong ngành công nghiệp ô tô
và đóng tàu
2.6.1 Benzen (C 6 H 6 )
Ở Việt Nam, số công nhân tiếp xúc với benzen gặp ở một số nhà máy như nhà máy văn phòng phẩm, cao su, các nhà máy hóa chất trừ sâu, ở các công ty sản xuất, pha chế sơn và các nhà máy sử dụng sơn Đến nay, c ng gặp một số biểu hiện nhiễm độc mạn tính do benzen và c ng chỉ mới có vài trường hợp được đưa ra giám định và hưởng chế độ bảo hiểm, trong số hàng nghìn trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm khác
Benzen là một chất lỏng dễ bay hơi, nóng chảy ở +5,48C, sôi ở +80,2C và
ở nhiệt độ bình thường có tỷ trọng nhỏ hơn nước 0,879 Hơi benzen nặng hơn không khí, một lít benzen ở điều kiện chuẩn nặng 3,25g Khi hỗn hợp với không khí với tỷ lệ 1,4-6% có thể nổ
C6H6 ít tan trong nước, nhưng lại rất dễ hòa tan trong phần lớn các dung môi hữu cơ, trong dầu khoáng c ng như trong dầu động vật, thực vật Đặc biệt, C6H6 là một dung môi hòa tan được nhiều chất như mỡ, cao su, hắc ín, nhựa đường, nhựa than, sơn, vecni …
Trong công nghiệp, C6H6 là nguyên liệu tổng hợp chất hữu cơ như benzen, anilin, chlorobenzen, phenol, v.v… C6H6 phần lớn được dùng làm dung môi hòa tan chất mỡ, cao su, sơn, vecni: tẩy mỡ ở xương, da, sợi, vải, len, dạ; lau khô, tẩy mỡ các tấm kim loại và dụng cụ có bám bẩn chất mỡ
nitro-Độc tính: Cơ thể người hấp thu một lần 10-15g C6H6có thể gây tử vong, nếu hấp thu qua đường tiêu hóa từ 50-100 giọt hàng ngày có thể nhanh chóng dẫn đến bệnh bạch cầu
Mọi công việc chế tạo, sử dụng, thao tác với benzen, các sản phẩm chứa benzen và đồng đẳng của benzen, chủ yếu là:
Khai thác, chế biến, tinh luyện các chất benzen và đồng đẳng của benzen
Dùng benzen và các đồng đẳng của benzen để điều chế dẫn xuất
Trang 24Cất các chất béo, tẩy mỡ ở xương da, sợi, vải, len Lau khô, tẩy mỡ các tấm kim loại
và các dụng cụ có bám bẩn chất mỡ
Điều chế các dung môi hòa tan cao su; thao tác và sử dụng các dung môi đó
Pha chế và sử dụng vecni, sơn, men, matit, mực in, các chất bảo quản có benzen, chế tạo da mềm
Hồ sợi bằng sản phẩm chứa benzen
Sử dụng C6H6 làm chất hòa tan nhựa thiên nhiên và tổng hợp
Những trường hợp nhiễm độc nghề nghiệp do C6H6 qua đường tiêu hóa hiếm gặp Còn đường qua da, liều lượng thường quá nhỏ không đủ gây bệnh
Benzen có mùi thơm dễ chịu và không có tác dụng kích thích đường hô hấp nên lại càng dễ nhiễm độc
Sau khi vào cơ thể, phần lớn C6H6 (30-60%) thải theo phổi trong khoảng 30 phút Phần còn lại tùy theo bệnh nhân và điều kiện nhiễm độc, bị oxy hóa trực tiếp thành phenol thường, pyrocatechol, hydroquinol và cả trihydroxy 1.2.4 benzen Giai đoạn oxy hóa này diễn ra chủ yếu ở gan, tiếp theo là giai đoạn liên kết đặc biệt c ng
ở gan, các chức phenol bị ức chế hoặc do acid sulfuric liên kết sulfo) hoặc do acid glucuromic liên kết glucuro Các acid phenylsulfuric và phenyl-glucuromic được đào thải ra nước tiểu dưới dạng muối kiềm Hiện tượng oxy hóa diễn ra mạnh hay yếu tùy theo từng cơ thể của mỗi người
Phần C6H6 không bị oxy hóa còn lại tích l y vào phủ tạng và các tổ chức giầu mỡ (tủy xương, não, gan … và từ đó, C6H6 lại được đào thải ra nhưng rất chậm chạp và lâu dài, sau khi được oxy hóa Sự tác động vào tủy xương, C6H6 gây nhiễm độc mạn tính: tác động vào não, gây nhiễm độc cấp tính
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc cấp tính thay đổi theo lượng C6H6 thở hít vào cơ thể Với liều cao, hàm lượng C6H6 trên 65 mg/lít, nạn nhân chết sau vài phút trong tình trạng hôn mê, có thể kèm theo co giật Với liều lượng thấp hơn, hàm lượng khoảng 20-30mg/l không khí, thường thấy có giai đoạn kích thích thần kinh, tiếp đến giai đoạn suy sụp cơ thể dẫn đến tình trạng suy tim Nói chung, sau 20-30 phút, nạn nhân mê man
Trang 25Hàm lượng C6H6 trên 10mg/l gây nhiễm độc bán cấp, sau vài giờ nạn nhân thấy khó chịu, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn và nôn
Thể nhiễm độc nhẹ giống như người say rượu Niêm mạc màu đỏ tươi là một dấu hiệu cổ điển Trong nhiễm độc cấp tính, C6H6 ảnh hưởng chủ yếu đến não
Biểu hiện nhiễm độc mạn tính:
- Rối loạn tiêu hóa: ăn kém ngon, xung huyết niêm mạc miệng, nôn, hơi thở
có thể có mùi benzen
- Rối loạn huyết học: thiếu máu nhẹ, có khuynh hướng xuất huyết, phụ nữ dễ rong kinh, khó thở cố gắng do thiếu máu, thời gian máu chảy kéo dài, dấu hiệu dây thắt dương tính
Biểu hiện thời kỳ toàn phát:
Ở thời kỳ này, bệnh được thể hiện qua hội chứng xuất huyết, thiếu máu giảm bạch cầu
- Xuất huyết: Do tính giòn mao mạch, tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm3 máu Hay gặp xuất huyết niêm mạc m i, lợi, dạ dày, ruột, tử cung) hoặc dưới da
- Hiếm gặp xuất huyết phủ tạng: gan, thận lách, màng não và não Thời gian máu chảy kéo dài
- Thiếu máu: Số lượng hồng cầu giảm, còn dưới hai triệu/mm3 máu Thường
là thiếu máu đẳng sắc, bất sản tủy (hoặc thiểu sản tủy), do sự phá hủy hồng cầu hay
ức chế các chức phận tạo huyết của tủy xương Giống như các chứng thiếu máu tái tạo khác, có thể gặp hồng cầu không đều, hồng cầu biến dạng, hồng cầu bắt nhiều màu
- Số lượng Bạch cầu giảm: Trường hợp nặng có thể giảm còn 1000/mm3 máu, đặc biệt bạch cầu đa nhân trung tính giảm nhiều Bạch cầu ái toan hơi tăng hay tăng nhiều
2.6.2 Toluen
Toluen là metylbenzen C6H5CH3 Đây là chất lỏng tỷ trọng nhỏ hơn nước d=0,800 , sôi ở 110,6C, ít bay hơi hơn benzen Toluen hòa tan được nhiều chất, nên hay được sử dụng làm dung môi thay thế Toluen còn được dùng để thay thế về
Trang 26mặt nguyên liệu tổng hợp các chất hữu cơ như chlorur benzyl, benzydilen, chloramin T và trinitrotoluen
Nồng độ tối đa cho phép đối với toluen là 0,100mg/l
Về mặt nhiễm độc cấp tính, toluen độc hơn benzen
Về mặt nhiễm độc mạn tính, toluen nhiễm độc hơn rõ rệt Nghiên cứu trên chuột, thỏ, chó, cho thở hít toluen nguyên chất khoảng 2-6 tháng Kết quả cho thấy rằng toluen rất ít độc với cơ quan tạo huyết, dù rằng nồng độ toluen cho động vật hít thở đôi khi khá cao 3,5-10mg/l đủ để gây tai biến thần kinh
Thông thường, các loại toluen thương phẩm chứa hàm lượng benzen cao, từ 10-20%, do đó tác hại của toluen lại chính là tác hại của benzen
Về mặt chuyển hóa, toluen bị oxy hóa, nhóm metyl được nhóm –COOH thay thế, phát sinh benzoic C6H5 – COOH Acid này kết hợp với glycorol hay acid hippuric thải ra qua nước tiểu Liên kết hippuric này diễn ra ở gan Acid benzoic còn có một kiểu liên kết khác: nhóm carboxyl hợp với chức giả aldehyd của acid glucuromic, tạo thành acid benzol-glucuromic
Do chuyển hóa khác nhau nên độc tính của benzen và toluen khác nhau K.Lang, năm 1960, làm thực nghiệm trên các nhóm chuột từ 78-80 con, theo dõi suốt 3 thế hệ, cho các chế độ ăn có 0,5-0,1% acid benzoic Tác giả không thấy một tác hại nào trên sự sinh trưởng, sự thụ thai và tuổi thọ trung bình Xét nghiệm mô học một số phủ tạng chính, không thấy có gì bất thường
Waldo và cộng sự nghiên cứu trên người, cho ăn hàng ngày 1200mg acid benzoic, chia làm 8 lần, trong 14 ngày Kết quả là không có tác hại, nước tiểu c ng không thấy có gì bất thường
Về mặt sinh hóa, nghiên cứu tác dụng trên hệ thống enzym, thấy acid benzoic có tác dụng ức chế diaminoacidoxydase
Tóm lại, nếu acid benzoic không được coi như vô hại thì độc tính c ng không thể so với phenol và diphenol phát sinh do sự oxy hóa benzen và c ng không gây tác hại đến cơ quan tạo huyết
Trang 27hạ thân nhiệt, viêm niêm mạc
Nghiên cứu nhiễm độc mạn tính, Batchelor cho chuột thở hít lâu ngày không khí chứa 2,7-7mg/l xylen, thấy rằng số lượng hồng cầu không bị ảnh hưởng và ở một vài trường hợp bạch cầu hơi giảm
Ở người, thấy có thiếu máu bất sản nặng, nhưng không ai bảo đảm rằng xylen tiếp xúc là loại nguyên chất
Về chuyển hóa trong cơ thể, xylen biến thành acid toluic, do oxyd hóa một trong hai nhóm –CH3 thành nhóm –COOH, theo quá trình “metyl oxyd hóa’’ tương ứng với quy trình phát triển trong trường hợp toluen
Nói chung, nhiều tác giả thống nhất ý kiến xylen tác hại rất ít đến cơ quan tạo huyết so với benzen, không có ảnh hưởng bất sản đến tủy xương Nhưng người
ta lại thấy có tổn thương thận viêm cầu thận bán cấp, kinh diễn)
Nồng độ tối đa cho phép trong không khí đối với xylen là 0,100mg/L
2.6.4 Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs)
VOCs thực chất là các hóa chất có gốc Carbon, bay hơi rất nhanh Khi đã lẫn vào không khí, nhiều loại VOCs có khả năng liên kết lại với nhau hoặc nối kết với các phần tử khác trong không khí tạo ra các hợp chất mới
Tuy nhiên, cụm từ VOC thường dùng để nói đến hỗn hợp các chất hữu cơ độc hại bay trong không khí xuất phát từ các sản phẩm do con người chế tạo, chẳng hạn như các dung môi toluen, xylene và dung môi xăng thơm lacquer lacquer thinner Trong quá trình liên kết để tạo thành lớp sơn, VOCs thải ra từ sơn là tổng các hợp chất hữu cơ bay hơi thoát ra từ quá trình sơn, ngoại trừ nước VOCs được
đo bằng đơn vị g/L
Trang 28Nguồn gốc tự nhiên
Đa số các VOCs phát sinh từ thực vật Các thành phần chính là isoprene, isoprene là một thành phần hydrocarbon dễ bay hơn, được thực vật thải ra với số lượng lớn
Nguồn gốc nhân tạo
Các nguồn VOCs gồm đốt nhiên liệu như khí đốt, củi và dầu hôi, c ng như các sản phẩm thuốc lá VOCs c ng phát xuất từ các sản phẩm dung dịch tẩy rửa, thuốc giặt khô, sơn, sơn mài, vẹc ni, các tiếp liệu tiêu khiển và từ máy sao chụp và máy in Theo Cơ quan Bảo vệ Môi sinh của Mỹ thì 9% hợp chất gây ô nhiễm môi trường là do hàm lượng VOCs Hiệp hội các bệnh về phổi ở Mỹ (American Lung Association báo cáo VOC có thể gây khó chịu mắt và da, các vấn đề liên quan đến phổi và đường hô hấp, gây nhức đầu, chóng mặt, các cơ bị yếu đi hoặc gan và thận
Trang 29Nghiên cứu về ảnh hưởng của dung môi c ng như hỗn hợp nhiều dung môi ở các nồng độ khác nhau đối với sức khoẻ người lao động đã được triển khai cả ở các nước phát triển c ng như các nước đang phát triển trên thế giới
Tiếp xúc với benzen nồng độ rất cao trong không khí 10.000-20.000 ppm) trong thời gian ngắn (5-10 phút có thể chết Khi tiếp xúc với benzen ở nồng độ thấp hơn 700-3000 ppm có thể có những biểu hiện như lơ mơ, chóng mặt, nhịp tim nhanh, đau đầu, run tay chân, lú lẫn và hôn mê Hàng năm, ở Anh có khoảng 80 người chết do lạm dụng dung môi, trong đó xấp xỉ 50% có biểu hiện rối loạn nhịp tim, rối loạn chức năng thần kinh trung ương, suy gan và suy thận
Nghiên cứu trên 217 công nhân nam tiếp xúc với dung môi có nồng độ benzen ngoài giờ làm việc là 15-30 ppm và trong giờ làm việc 210 ppm (khi benzen được sử dụng) từ 4 tháng đến 17 năm ở nhà máy sản xuất giầy ở Thổ Nhĩ Kỳ thấy
có 21 ca 9,7% giảm bạch cầu [46] Một nghiên cứu khác trên 28.500 công nhân tiếp xúc với benzen ở nồng độ từ 210-650 ppm từ 1-15 năm thấy có 26 ca bệnh bạch cầu cấp và tiền bạch cầu Đặc điểm lâm sàng của tiền bạch cầu gồm có các triệu chứng: thiếu máu, giảm bạch cầu, tăng sản tủy xương và lách to [22]
Nghiên cứu của Li và cộng sự tiến hành trên 74.828 công nhân tiếp xúc với benzen trong 672 xí nghiệp và 35.805 công nhân không tiếp xúc với benzen tại 109
xí nghiệp ở 12 thành phố của Trung Quốc thấy tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân và
tỷ lệ ung thư không có sự khác biệt giữa nam và nữ tiếp xúc với benzen [28]
Từ những năm 60 người ta đã nghiên cứu thấy biểu hiện các triệu chứng mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, đau đầu, chóng mặt và tê chân tay ở công nhân đóng thân tầu
và sản xuất nhựa có tiếp xúc nghề nghiệp với styren Tuy thời gian và mức độ tiếp xúc không được đề cập nhưng tiếp xúc ở nồng độ 429mg/m3 đã xuất hiện các triệu chứng này Nghiên cứu nữ công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với aceton ở nồng độ cao thấy xuất hiện các triệu chứng về thần kinh trung ương như đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khó nói kèm theo là các triệu chứng kích thích đường hô hấp như m i, họng, thanh quản, phổi, kích thích mắt và xét nghiệm thấy aceton xuất hiện trong máu và nước tiểu Theo nghiên cứu của Winchester và cộng sự trên 42 công nhân
Trang 30tiếp xúc với hỗn hợp nhiều dung môi trong đó toluen là thành phần chính với nồng
độ 1-8ppm trung bình 15ppm thấy tỉ lệ các triệu chứng kích thích mắt, kích thích
m i, buồn nôn, chóng mặt, đau đầu và các bệnh về da tăng lên [37]
Morioka và cộng sự 1999 nghiên cứu trên 4615 công nhân có độ tuổi đời trung bình 33 năm từ 18-45 , nữ chiếm 68,5% tiếp xúc với dung môi hữu cơ tại hơn 100 công ty sản xuất giầy tại Bồ Đào Nha, lấy không khí tại chỗ công nhân làm việc cho thấy có đến 20 hỗn hợp chất hữu cơ khác nhau chủ yếu là n-hexan, toluen, aceton đã ảnh hưởng đến sức khỏe của 53,7% công nhân trong các công ty giầy; tại những công đoạn chính là dán, ép, đánh bóng: nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp chiếm tới 42,2% công nhân [31]
Ảnh hưởng của dung môi c ng như hỗn hợp nhiều dung môi đối với cơ quan thính giác c ng được nhiều nghiên cứu xác định Morata, T.C (1997 nghiên cứu ảnh hưởng tiếp xúc của nghề nghiệp với dung môi và tiếng ồn trên 4 nhóm công nhân trong ngành in và sản xuất sơn thấy sức nghe ở nhóm công nhân tiếp xúc với tiếng ồn có nguy cơ giảm 4 lần; nhóm công nhân tiếp xúc với tiếng ồn và toluen có nguy cơ giảm 11 lần và nhóm tiếp xúc với dung môi hỗn hợp giảm 5 lần [30] Morioka (1999), đánh giá sức nghe của 93 công nhân nam, tiếp xúc với dung môi tại 7 xí nghiệp chuyên sản xuất đồ nhựa và cho thấy mặc dù nồng độ của các dung môi thấp hơn giới hạn cho phép, nhưng sức nghe của một số công nhân tiếp xúc từ
5 năm trở nên đã giảm rõ rệt và sự giảm sức nghe phụ thuộc vào nồng độ styren có trong môi trường và lượng axit mandelic được đào thải ra theo nước tiểu Thậm chí một số công nhân có kết quả kiểm tra sức khỏe bình thường nhưng đã có dấu hiệu
bị suy giảm sức nghe Từ đó, tác giả kết luận có thể sử dụng dấu hiệu giảm sức nghe làm chỉ số phát hiện sớm ảnh hưởng của styren đến sức khỏe công nhân tiếp xúc [31]
Tiếp xúc với hỗn hợp dung môi benzen, toluen, aceton có nồng độ cao hơn TCVN ở công nhân có độ tuổi từ 30-55 tuổi thấy có sự biến đổi các chỉ số hóa sinh, huyết học và thần kinh thính giác và các biến đổi này phụ thuộc vào tuổi nghề
và mức độ tiếp xúc Nghiên cứu trên 117 công nhân thuộc công ty sơn tiếp xúc với
Trang 31những dung môi hỗn hợp thành phần chủ yếu của dung môi là xylen và acetate và trên 76 công nhân tiếp xúc với tiếng ồn ở mức lớn hơn tiêu chuẩn cho phép, 125 công nhân làm nghề lắp ráp không tiếp xúc với dung môi và tiếng ồn tỷ lệ giảm sức nghe cao nhất ở nhóm công nhân tiếp xúc với dung môi 30% , thấp hơn
ethyl-là nhóm công nhân tiếp xúc với tiếng ồn 20% và nhóm công nhân không tiếp xúc với tiếng ồn và dung môi có tỷ lệ thấp nhất 6% [34], [35]
Nhiều nghiên cứu đã phát hiện tiếp xúc với dung môi gây ảnh hưởng sớm đến thần kinh hành vi White và công sự 1995 nghiên cứu trên 30 công nhân tiếp xúc với nghề khắc axit tại một số cơ sở in ở Mỹ trong 2 năm cho thấy: mặc dù mức
độ tiếp xúc thấp hơn giá trị giới hạn tối đa cho phép, hỗn hợp dung môi trên có ảnh hưởng lên chức năng của hệ thần kinh trung ương ở mức độ chưa có biểu hiện lâm sàng Những công trình nghiên cứu về hành vi của Baker và Bary 1990 đã chỉ ra rằng trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và các chỉ số sinh học vượt quá ngưỡng, dung môi đã gây ra những biến đổi sớm về thần kinh hành vi Đặc biệt ảnh hưởng đến các chức năng duy trì tỉnh táo, xử lí thông tin, vận động và các phản ứng cảm xúc Để phát hiện sớm các biểu hiện này, bộ test đánh giá thần kinh hành vi cho phép chẩn đoán sớm các ảnh hưởng trước khi xuất hiện sớm các triệu chứng nhiễm độc khác nhau như những biến đổi về máu, men gan và giúp phòng ngừa hoặc ngăn chặn những rối loạn nghiêm trọng của hệ thần kinh trung ương [25]
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tiếp xúc với những dung môi này ảnh hưởng đến da, trong đó formandehit là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây bệnh viêm da dị ứng do tiếp xúc trong công nghiệp cùng với niken, crom, các chất phụ gia trong sản phẩm cao su, trong nhựa và keo dán
3.2 Tại Việt Nam
Trong những năm gần đây ở nước ta c ng đã có các nghiên cứu về đánh giá mức độ ô nhiễm của hỗn hợp nhiều dung môi hữu cơ trong không khí nơi làm việc
và các tác động đến thần kinh hành vi ở người tiếp xúc với dung môi Nghiên cứu của Lê Trung và cộng sự ở nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà nơi công nhân có tiếp xúc với benzen nhận thấy có các triệu chứng đau đầu, hoa mắt chóng mặt, ngủ
Trang 32kém, nhưng các xét nghiệm cận lâm sàng về huyết học chưa thấy có biến đổi gì đáng kể [19] Nghiên cứu ảnh hưởng của styren đối với sức khỏe công nhân chế tạo vật liệu polyme-composit Tô Vân Anh, 2003 cho thấy các triệu chứng cơ năng thường gặp là buồn ngủ 55,6% , đau đầu 46,7% , ăn kém ngon miệng (44,4%), chóng mặt 33,3% , khó tập trung 28,9% ; các xét nghiệm cho thấy thời gian phản
xạ thính thị vận động tăng, tỉ lệ công nhân có tăng tuyệt đối số lượng bạch cầu đa nhân ưa axit dao động từ 57,8– 66,7%; tỉ lệ công nhân có biến đổi điện não đồ là 66,6% [1] Nghiên cứu của Hoàng Minh Hiếu và cộng sự (2002), nghiên cứu trên
307 công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với dung môi ở nồng độ vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,3-2,3 lần thấy ảnh hưởng đến chức năng của hệ thần kinh trung ương, gây biến đổi thần kinh hành vi như tỉ lệ giảm trí nhớ, khó ngủ, lo âu, cáu giận, ù tai, đau đầu ở nhóm tiếp xúc dung môi cao gấp 1,6-6,6 lần so với nhóm không tiếp xúc Ngoài ra tỉ lệ mắc bệnh về da, suy nhược thần kinh, thời gian phản xạ thính, thị vận động kéo dài, giảm sức nghe gấp 3,1 lần (P<0,05) so với nhóm không tiếp xúc, tăng lên theo tuổi đời và thâm niên nghề nghiệp Các xét nghiệm về huyết học cho thấy 7% bị giảm hồng cầu, 9,5% giảm huyết sắc tố, 17,7% giảm tiểu cầu, và có tới 27,8% giảm bạch cầu ái toan Xét nghiệm axit hippuric niệu ở nhóm công nhân tiếp xúc cao hơn đáng kể so với nhóm công nhân không tiếp xúc [9] Nghiên cứu của Nguyễn Bùi Phương và cộng sự về tình hình sức khỏe của công nhân tiếp xúc với hóa chất tại 4 nhà máy quốc phòng cho thấy sức khỏe của công nhân bị ảnh hưởng
rõ rệt do tiếp xúc với hóa chất ở nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nhóm tiếp xúc với amin thơm có 29,74% bị suy nhược thần kinh, 22,67% bị rối loạn thần kinh thực vật, 12,63% viêm gan mãn, 20,1% có hội chứng dạ dày tá tràng, 2,23% thiếu máu Nhóm tiếp xúc với sơn, xăng dầu và dung môi hữu cơ có 17,5% suy nhược thần kinh, 17,5% có rối loạn thần kinh thực vật,61,9% bệnh tai m i họng, 29,5% bệnh mắt cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với P<0,05 [15]
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Công và cộng sự (Viện NCKH KT bảo hộ lao động-2003) khảo sát môi trường lao động của 13 doanh nghiệp sản xuất giày thể thao, giày vải, giày nữ ở 3 miền Bắc, Trung, Nam cho thấy môi trường lao động sản
Trang 33xuất giày bị ô nhiễm đa yếu tố: nhiệt, tiếng ồn, bụi, ánh sáng, hơi khí độc và đặc biệt là dung môi hữu cơ 31% mẫu toluen vượt 1,2 – 1,8 lần so với tiêu chuẩn cho phép Các dung môi hữu cơ chủ yếu gồm toluen, xylen, hexan, xăng, metylen, benzene Nồng độ toluen ở 3 bộ phận may m i giày, bộ phận đế giày và bộ phận hoàn thành còn ở mức cao xấp xỉ TCCP với nồng độ tương ứng là 62,2 ± 26,1; 66,4
± 19,21; 95,2 ± 30,4 mg/m3, có điểm đo vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 – 1,8 lần Nồng độ hơi xăng tại các bộ phận này đa số trong TCCP tuy nhiên có những điểm vượt TCCP 2 lần Về cường độ tiếng ồn có đến 76,9% mẫu đo vượt TCCP, chủ yếu
là do tiếng ồn của các máy móc cộng hưởng Cụ thể ở bộ phận may m giày: các cơ
sở miền Trung có mức ồn cao, mặc dù giá trị trung bình ở mức cho phép nhưng độ dao động lớn, ở miền Bắc mức ồn trung bình c ng trong giới hạn cho phép nhưng
có những mẫu cường độ lên đến 95dBA Ở bộ phận đế giày: các cơ sở miền Bắc có mức ồn dưới TCCP, miền Trung, miền Nam đều có những điểm đo cao hơn TCCP rất nhiều (94 – 96 dBA) Ở bộ phận hoàn thành: các cơ sở phía Bắc tiếng ồn đều đạt TCCP, các cơ sở miền Trung và Nam mức ồn trung bình đều đạt nhưng có những mẫu vượt TCCP từ 7 – 10 dBA Tác giả c ng đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lao động lên sức khỏe của nữ công nhân, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến tác động phối hợp của hơi khí độc và dung môi hữu cơ như thiếu máu, thần kinh trung ương, nội tiết, ngoài da và xương khớp hoặc các triệu chứng hay gặp sau
ca làm việc đau đầu, chóng mặt, ngạt m i, giảm thị lực,… đều cao hơn nam giới
có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [6]
Nghiên cứu đánh giá của Nguyễn Bích Diệp (2000), khảo sát môi trường lao động của phân xưởng giày Thái, Công ty giày Hà Nội cho thấy nồng độ toluen tại các vị trí lắp ráp, kiểm tra chất lượng sản phẩm vượt TCCP 2 lần, nồng độ Etyl Acetate thấp hơn nồng độ tối đa cho phép Công việc của dây chuyền lắp ráp gồm những công việc thủ công bằng tay có nguy cơ tiếp xúc với dung môi hữu cơ nhiều như quét keo, quét frimer, tẩy keo, gò tay [7]
Hoàng Thị Minh Hiền (2003), nghiên cứu tại một số cơ sở sản xuất giày, sơn cho thấy: tại 2 công ty giầy da Phúc Yên và Yên Viên hầu hết các phân xưởng đều
Trang 34bị ô nhiễm hóa chất dung môi hữu cơ với nồng độ vượt quá TCCP từ 1,3 – 1,5 lần,
có điểm đo vượt 2,3 lần trong đó toluen là chất gây ô nhiễm chính [10] Tại Công ty sơn tổng hợp Hà Nội tại phân xưởng sơn tường và sơn cao cấp có 2 điểm đo có tổng nồng độ DMHC vượt TCCP từ 1,79 – 2,3 lần, xylen là chất gây nhiễm chính Ngoài
ra còn có một số dung môi khác trong môi trường lao động như axeton, xăng, butyl axetat, metyl etyl keton MEK nhưng với nồng độ không đáng kể Về ô nhiễm tiếng ồn, tại công ty giày đa số vị trí đo đều dưới TCCP, chỉ một số vị trí tháo khuôn giầy, mài đế vượt TCCP từ 1-2 dBA; tại công ty sơn có những vị trí đo vượt TCCP
từ 2 -7 dBA, nguồn phát tiếng ồn chủ yếu là do máy nghiền, máy khuấy sơn
Về tình trạng sức nghe của công nhân, kết quả cho thấy tỷ lệ giảm nghe của công nhân sản xuất sơn là cao hơn công nhân công ty giầy với tỷ lệ lần lượt là 21,9% và 14,4% và tỷ lệ này cao hơn nhóm không tiếp xúc là 4,17 lần và 2,74 lần; giảm trung bình 30-40dB, giảm nghe dạng tiếp nhận có khuyết sức nghe ở 4000Hz [10]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh, 2004 đánh giá nồng độ dung môi hữu cơ trong không khí 4 cơ sở sản xuất và sử dụng sơn Công ty sơn tổng hợp Hà Nội, Công ty ô tô 1- 5, Công ty Honda, Công ty Toyota cho thấy: môi trường làm việc tại 4 công ty trên gồm 9 loại dung môi hữu cơ chính: benzen; toluen; xylen; triclometan; dicloetan; 1,1,2- tricloetan; metyl isobutyl keton (MIBK); butyl axetat; etylbenzen Hàm lượng benzen, toluen ở một số vị trí làm việc của công nhân tại Công ty Sơn tổng hợp Hà Nội, Công ty Toyota vượt quá giới hạn cho phép từ 1,13 đến 1,7 lần Tổng mức tiếp xúc với hỗn hợp dung môi vượt giới hạn cho phép từ 1 đến 2,5 lần [14]
Nguyễn Thanh Thủy và cộng sự, 2008 nghiên cứu đánh giá môi trường lao động tại Công ty Da Giầy Hải Phòng cho thấy những tiến bộ rõ rệt trong cải thiện điều kiện làm việc trong 5 năm từ 2002 – 2007 Nồng độ các dung môi hữu cơ của các loại keo dán giày giảm đáng kể, số mẫu vượt TCCP giảm từ 58,8% xuống còn 29,5% [17]
Trang 35Khảo sát thực trạng điều kiện lao động (Lê Huy Hoàng và Cao Bích Hạnh, 2009) của công nhân Xí nghiệp giầy Lê Lai II – Hải Phòng cho thấy dung môi chủ yếu sử dụng trong sản xuất giầy là toluen và metyl etyl keton MEK Nồng độ đo được của toluen ở các vị trí tẩy giày, quét nước xử lý, sấy giày thuộc phân xưởng đế
và phân xưởng hoàn thiện tương ứng là 102 – 120 – 130 mg/m3, các vị trí khác dưới ngưỡng phát hiện Nồng độ đo được của MEK tại một số vị trí của phân xưởng đế
và phân xưởng hoàn thành cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 42 – 55 mg/m3 (TCCP
100 mg/m3 Cường độ tiếng ồn tại các phân xưởng may, in, pha cắt đều trong TCCP, chỉ có một số vị trí tại phân xưởng đế, hoàn thiện vượt TCCP từ 0,4 – 9,3 dBA [11]
Đánh giá về thực trạng thực hiện an toàn vệ sinh lao động và sử dụng các biện pháp dự phòng Hoàng Thị Minh Hiền, 2003 , có đến 90 - 100% công nhân nhà máy giầy Phúc Yên và Yên Viên được học tập về an toàn vệ sinh lao động, 100% công nhân được cung cấp đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, tuy nhiên tại thời điểm nghiên cứu thì công nhân hoàn toàn không sử dụng găng tay khi sử dụng keo và nước xử lý hơn nữa găng tay cung cấp không đảm bảo chất lượng ngăn cản hóa chất dung môi vào cơ thể Tại công ty sơn tổng hợp Hà Nội, mặt bằng tại các phân xưởng đều chật hẹp, thông gió chủ yếu là hệ thống thông gió tự nhiên qua cửa sổ, cửa chớp, chỉ có phân xưởng sơn cao cấp có hệ thống thông gió nhân tạo nhưng công suất nhỏ Công nhân còn chưa tuân thủ đầy đủ quy định về sử dụng bảo hộ lao động, hầu hết không sử dụng găng tay chống thấm khi vệ sinh trục máy khuấy sơn[10]
Theo Nguyễn Thị Hồng Tú 2004 điều tra tại 9 doanh nghiệp sử dụng hóa chất trong quy trình sản xuất tại Hà Nội cho thấy người lao động tại các doanh nghiệp chưa quan tâm đến sử dụng bảo hộ lao động và thực hiện các biện pháp dự phòng tác hại của hóa chất Tỷ lệ sử dụng quần áo bảo hộ lao động (60,9%) cao hơn giày ủng cao su, găng tay không thấm chống hóa chất (chiếm tỷ lệ lần lượt là 36,9%; 19,8% ; có tới 43,2% người lao động không được học tập về an toàn sử dụng hóa chất, tỷ lệ không thay quần áo và không tắm rửa trước khi về nhà là 47,1% và 33,6% [21]
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Người lao động trong các Công ty công nghiệp ô tô và đóng tàu
- Môi trường làm việc của người lao động
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu tại 03 Công ty: Công ty Cổ phần cơ khí ô tô Thống Nhất-Thừa Thiên Huế Thành phố Huế), Công ty Cổ phần cơ khí ô tô 3.2 Hưng Yên , Công ty TNHH một thành viên đóng tàu Bạch Đằng (Hải Phòng)
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang định tính và định lượng, kết hợp với hồi cứu
2.2 1 Thiết kế nghiên cứu
Điều tra mô tả cắt ngang có phân tích dựa trên nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính
Trang 37dung môi: 150 người, lao động gián tiếp: 150 người
Qua thực tế trong công tác quản lý sức khỏe cho các doanh nghiệp lắp ráp ô
tô và đóng tàu thuộc ngành Giao thông vận tải chúng tôi thấy tại các dây chuyền sản xuất có sử dụng hóa chất và dung môi hữu cơ tùy theo quy mô sản xuất, có số lượng người lao động trong dây chuyền sơn từ 40-50 người Do đó cỡ mẫu chọn trong nghiên cứu s là toàn bộ công nhân có tiếp xúc với hóa chất và dung môi hữu cơ tại các đơn vị được chọn để nghiên cứu: 03 đơn vị x 50 người = 150 người)
Nhóm chứng được chọn 150 người từ các khu vực văn phòng, hành chính và công nhân không tiếp xúc trực tiếp với hóa chất và dung môi hữu cơ
2.2 3 ách chọn mẫu
Các đối tượng được chọn ngẫu nhiên từ các đơn vị nghiên cứu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện
Đặc điểm điều kiện lao động:
+ Công tác bảo hộ lao động
+ Các trang bị bảo hộ lao động cá nhân
Tình hình sức khỏe, cơ cấu bệnh t t và ệnh nghề nghiệp:
- Chiều cao, cân nặng, BMI và phân loại sức khỏe
- Cơ cấu bệnh tật: nội khoa, ngoại khoa, mắt, tai m i họng, răng hàm mặt…
- Tình trạng rối loạn cơ xương nghề nghiệp
- Bệnh bụi phổi - silic nghề nghiệp
- Bệnh điếc nghề nghiệp
Trang 382.3.1 Xác định môi trường làm việc của người lao động tại các đơn vị đóng tàu
và lắp ráp ô tô
Đo và phân tích các yếu tố trong môi trường không khí theo các phương pháp do Tổng cục Môi trường-Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định, theo thường quy kỹ thuật Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường và theo “NMAM-NIOSH Manual of Analytical Methods” của Viện Sức khoẻ và An toàn lao động Mỹ
Các chỉ tiêu đánh giá môi trường làm việc được xác định theo thường qui kỹ thuật Y học lao động – Vệ sinh môi trường 2002 Đánh giá kết quả, phân tích đo đạc, áp dụng theo Tiêu chuẩn vệ sinh lao động số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002) [2], [5]
- Cường độ chiếu sáng: được xác định bằng máy ISO - ILM 350 (Anh), giới hạn
đo từ 0 - 50.000 lux, chính xác tới 1 lux ở thang đo từ 0 - 100 lux
- Cường độ tiếng ồn: được đo bằng máy đo tiếng ồn hiện số RION NL-04 (Nhật Bản) có phân tích dải tần số từ 63Hz-8000Hz Khi đo, micro của máy đặt ngang tầm tai người công nhân và cách người đo 0,5m; đo 3 lần, lấy giá trị trung bình Đơn vị
đo là dBA
Phương pháp xác định nồng độ bụi và hàm lượng silic tự do trong bụi
Nồng độ bụi toàn phần và bụi hô hấp trong không khí được xác định bằng máy lấy mẫu Skan air controller Đan Mạch và giấy lọc chuyên dùng GF/A của Mỹ Hàm lượng silic tự do trong bụi hô hấp được xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ hồng ngoại trên máy M500 của hãng Buck- Scientific (Mỹ do phòng thí nghiệm bụi Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường-Bộ Y tế thực hiện
Trang 39 Phương pháp xác định các ếu tố hóa học
Nồng độ hơi khí độc được xác định bằng máy QUEST TECHNOLOGIES MULTILOG 2000 của Mỹ Nồng độ CO, CO2, NO2, SO2, Benzen, Toluen, Xylenbiểu thị bằng mg/m3 Nồng độ các hợp chất hữu cơ bay hơi VOCs như Benzen, Toluen, Xylen được phân tích bằng máy sắc ký khí, biểu thị bằng mg/m3
Kỹ thuật khảo sát, đo đạc các yếu tố môi trường lao động được thực hiện bởi Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường GTVT - Cục Y tế Giao thông vận tải, Viện sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường - Bộ Y tế
2.3.2 Phương pháp khảo sát điều kiện lao động
Điều kiện lao động của công nhân tại các Công ty được điều tra bằng bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm:
- Vị trí thường xuyên lao động của công nhân
- Công tác bảo hộ lao động của công nhân
- Các phương tiện bảo vệ cá nhân được trang bị
- Đặc điểm phương tiện bảo vệ cá nhân được trang bị
2.3.3 Phương pháp khảo sát tình trạng sức khoẻ, cơ cấu bệnh tật, bệnh nghề nghiệp và liên quan đến nghề nghiệp
2.3.3.1.Phương pháp xác định các chỉ số hình thái - th lực
- Chiều cao đứng: được đo bằng thước đo chiều cao của Trung Quốc đơn vị tính là centimet cm Đối tượng được đo đứng thẳng, bốn điểm: chẩm đầu), vai, mông và hai gót chân tiếp xúc với mặt phẳng đứng của thước đo khi đo hai chân chụm lại, không đi giầy, dép [3]
- Trọng lượng cơ thể: được xác định bằng cân y học ở tư thế đứng không đi giầy, dép Đơn vị tính là kilogam kg [3]
2.3.3.2 Phương pháp xác định cơ cấu bệnh t t
Khám lâm sàng: toàn diện, hệ thống theo bệnh án mẫu, chú ý các triệu chứng, bệnh lý liên quan đến công việc và môi trường lao động
Thực hiện khám lâm sàng do các bác sỹ chuyên khoa thuộc Trung tâm Bảo vệ sức khỏe lao động và Môi trường GTVT - Cục Y tế Giao thông vận tải, Viện sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường - Bộ Y tế
Cận lâm sàng: xét nghiệm máu, nước tiểu
Phương pháp đánh giá thị lực:
Trang 40- Thị lực được xác định bằng bảng thị lực vòng hở Landolt gồm các vòng hở giống như chữ C có các hướng khác nhau, có độ tương phản giữa chữ và nền đạt 85%
- Đối tượng đứng cách bảng thị lực đúng 5m và xác định được hướng của vòng
hở Landolt ở mức độ nào thì đánh giá thị lực ở mức độ đó Nếu thị lực <10/10 xác định là giảm thị lực
Phương pháp đánh giá các chỉ số chức năng hệ tim - mạch lâm sàng):
- Tần số mạch yên tĩnh tương đối: được lấy vào lúc nghỉ yên tĩnh tương đối cùng với đo huyết áp ở mạch quay tay phải Kết quả tính bằng nhịp/phút
- Huyết áp động mạch yên tĩnh tương đối: được đo vào lúc yên tĩnh tương đối ở
tư thế nằm, ở tay trái bằng huyết áp kế đồng hồ của Trung Quốc theo phương pháp của Korotkop Đơn vị tính là milimet thuỷ ngân mmHg Phân độ tăng huyết áp theo JNC-VII (2003)
- Phương pháp phân tích định lượng kim loại nặng trong máu: Chì, Crom
0,5mL máu + 0,5mL HNO3 đậm đặc, ngâm qua đêm
Đun cách cát cho tới khi mẫu cạn khô
Để nguội, cho thêm 0,5mL HNO3 đậm đặc đun tới khi thu được cặn trắng
Cho thêm 0,5 mL H2O2 đun tiếp tục cho tới khi hết khói trắng
Để nguội, hoà tan cặn mẫu bằng nước cất, cho đủ thể tích 5mL
Phân tích mẫu trên máy quang phổ hấp thụ nguyên tử