Nhận thức và chủ trương của Đảng về vấn đề tôn giáo: Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương, Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị Quốc gia, 2002; Ban
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ LIÊN
CHỦ TRƯƠNG ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ 1930 – 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ LIÊN
CHỦ TRƯƠNG ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ 1930 – 1945
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 5
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
7 Bố cục của luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương I: Khái quát về tình hình xã hội và đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945 7
1.1 Vài nét về bối cảnh chính trị, xã hội, văn hoá Việt Nam 7
1.2 Các tôn giáo chính ở Việt Nam với đời sống chính trị - xã hội 15
1.2.1 Xuất hiện hai tôn giáo nội sinh 15
1.2.2 Các tôn giáo truyền thống với đời sống chính trị - xã hội 18
Chương II: Chủ trương đoàn kết tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945: Từ lý luận đến thực tiễn 30
2.1 Những luận điểm cơ bản của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 30
2.1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 30
2.1.2 Vấn đề tôn giáo qua các văn kiện Đảng 38
Trang 42.1.3 Một số quan điểm về tôn giáo của các nhân vật lãnh đạo Đảng ta qua
trường hợp Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ 49
2.2 Các tôn giáo trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 58
2.2.1 Các tôn giáo với những cao trào cách mạng 58
2.2.2 Thái độ của các tôn giáo với cách mạng tháng Tám………81
MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng thuộc hình thái ý thức, tư tưởng và cũng là một hiện tượng xã hội Từ xa xưa, tôn giáo đã sớm xuất hiện, nó tồn tại lâu dài với con người bởi trong quá trình sinh sống con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề mà bản thân con người không phải khi nào cũng lý giải và giải quyết được Tôn giáo luôn có đất sống khi con người còn có nhu cầu được an ủi, được che chở, được siêu thoát khỏi cõi trần
Việt Nam là một quốc gia nằm ở giữa ngã ba đường của Đông Nam Á,
có bờ biển dài chạy suốt chiều dài đất nước, là cầu nối Đông – Tây nên đây là nơi tụ hợp, giao lưu của các nền văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng Cũng chính vì
có vị trí địa lý đặc biệt như vậy mà Việt Nam trong nhiều thế kỷ luôn bị các thế lực nhòm ngó, kẻ thù cũng lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng như một công cụ
để thực hiện ý đồ chống phá, thôn tính Việt Nam Vì vậy giải quyết vấn đề tôn giáo trong một quốc gia đa tôn giáo, đa dân tộc là vấn đề nhạy cảm và còn khó khăn hơn khi quốc gia ấy đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù, đất nước chưa thống nhất về một mối, nhân dân chưa giành được chính quyền Đại đoàn kết toàn dân trong tình thế ấy là một việc cấp thiết, Đảng Cộng sản Việt Nam non trẻ mới ra đời đã kiên định với đường lối nhất quán: tôn trọng quyền
tự do tín ngưỡng của nhân dân, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết nhân dân đánh đổ
kẻ thù xâm lược
Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa còn tồn tại, do ảnh hưởng sâu sắc và kéo dài của tư tưởng tả khuynh, không phải nước nào cũng thành công trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Đảng ta, trong sự nghiệp cách mạng nói chung và trong thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám (1930-1945) nói riêng đã có những thành tựu đặc biệt Vì vậy, cần tiếp tục có những nghiên cứu tổng kết
Trang 6tốt hơn những kinh nghiệm quí báu ấy, tất nhiên có cả những hạn chế mang tính lịch sử của nó
Đảng Cộng sản Việt Nam đã dựa trên học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam để xây dựng đường lối, chính sách tôn giáo Đảng đã từng bước giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, góp phần quan trọng trong những thắng lợi sau này và còn có ý nghĩa lâu dài trong công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước
Ngày nay, việc tiếp tục thực hiện chính sách đổi mới về tôn giáo nói chung và chủ trương đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo nói riêng vẫn có ý nghĩa thời sự, khi mà các thế lực thù địch vẫn không hề từ bỏ mưu đồ lợi dụng tôn giáo nhằm làm suy giảm sức mạnh của dân tộc Việt Nam
Đề tài “ Chủ trương đoàn kết tôn giáo của Đảng giai đoạn 1930 - 1945” được chọn làm luận văn thạc sỹ khoa học với mong muốn góp phần làm sáng
tỏ hơn đường lối đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo – dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam non trẻ, đồng thời luận văn khi hoàn thành là một tài liệu khoa học phục vụ nghiên cứu chuyên môn và giảng dạy lịch sử
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo và chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước như: Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình
hình tôn giáo ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, 2005); Hoàng Văn Chức, Quản lý nhà nước về tôn giáo và dân tộc (Nxb Đại học Quốc gia, 2002); Bùi
Đức Luận, Quản lý hoạt động tôn giáo: Cơ sở lý luận và thực tiễn (Nxb Tôn
Trang 7giáo, 2005); Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo ở Việt Nam (Nxb Tôn
giáo, 2005)
Nhận thức và chủ trương của Đảng về vấn đề tôn giáo: Ban tư tưởng
Văn hoá Trung ương, Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng
sản Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002); Ban Tôn giáo chính phủ, Tập văn bản về tổ chức và đường hướng hành đạo của các tôn giáo tại Việt Nam
(Nxb Tôn giáo, 2003); Đỗ Quang Hưng, Vấn đề tôn giáo trong cách mạng
Việt Nam – lý luận và thực tiễn (Nxb Chính trị Quốc gia, 2007);
Một số công trình về hoạt động tôn giáo và những kinh nghiệm trong công tác quản lý tôn giáo, đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo: Trần Quốc Huy,
Công tác đoàn kết thanh niên vùng tôn giáo, dân tộc (Nxb Thanh Niên,
2003); Công an nhân dân, Công tác an ninh trong quản lý Nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo ở Việt Nam (2002); Công an nhân dân, Đấu tranh phòng chống hoạt động lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia (2002)
Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành; các công trình nghiên cứu chuyên khảo; các bài viết trong các cuộc hội thảo về tôn giáo, dân tộc
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên tập trung theo hai hướng: thứ nhất là các lý luận chung và các đường lối chính sách của Đảng ta về tôn giáo sau cách mạng tháng Tám năm 1945; thứ hai là ca ngợi, hun đúc tinh thần đại đoàn kết dân tộc - tôn giáo của nhân dân ta trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Chúng ta cần phải có những công trình khoa học chuyên biệt nghiên cứu việc giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng ta trong các giai đoạn cụ thể Đề tài của chúng tôi là một trường hợp như vậy
Luận văn được triển khai trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của cách nhà nghiên cứu đi trước và có đóng góp về mặt thực tiễn trong nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo
Trang 83 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về chủ trương đại đoàn kết tôn giáo của Đảng trong giai đoạn 1930 – 1945, nghiên cứu tư tưởng của các nhà lãnh đạo tiêu biểu của Đảng ta trong giai đoạn này về tôn giáo, các văn bản, văn kiện của Đảng về đoàn kết dân tộc trong đó có đồng bào tôn giáo và thái độ các tôn giáo đối với chủ trương trên của Đảng
3.2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ trương đoàn kết tôn giáo của Đảng trong giai đoạn 1930 – 1945 đồng thời làm rõ hơn ý nghĩa, vai trò của đường lối trên đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc của Đảng và Nhà nước trong những giai đoạn sau này
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ tình hình, đặc điểm tôn giáo của nước ta và vị trí của nó trong đời sống chính trị - xã hội giai đoạn 1930 – 1945
- Làm rõ những nhận thức của Đảng ta về tôn giáo và việc xác định những đường lối, chủ trương cụ thể vận động đồng bào tôn giáo trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám cũng như thái độ của các tôn giáo với đường lối, chủ trương của Đảng
- Đánh giá kết quả, kinh nghiệm của đường lối vận động các tôn giáo của Đảng ta giai đoạn 1930 – 1945
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình, đặc điểm tôn giáo và chủ trương vận động đồng bào tôn giáo của Đảng Cộng Sản Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945
Trang 94 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tôn giáo trong cách mạng vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng trong cách mạng Việt Nam cũng như quan điểm, chủ trương và đường lối về tôn giáo của Đảng ta trong cách mạng dân tộc dân chủ
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp duy vật biện chứng là các phương pháp cơ bản được sử dụng, bên cạnh đó luận văn còn kết hợp sử dụng các phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh…
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày những chính sách, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 và tái dựng laị mối quan hệ tôn giáo – dân tộc từ đó làm rõ hơn ý nghĩa, vai trò của chính sách đoàn kết tôn giáo của Đảng ta từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác tôn giáo trong lịch sử cũng như những giai đoạn sau này
Luận văn cũng là nguồn tư liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử nói chung và lịch sử Đảng nói riêng
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Tôn giáo và dân tộc luôn là vấn đề lớn ở nước ta Chủ trương đoàn kết tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đảng là đúng đắn song vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra trong thực tiễn Luận văn làm rõ thêm một số lý luận về đoàn kết tôn giáo và vai trò của đoàn kết tôn giáo đối với cách mạng Việt
Trang 10Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn 1930 – 1945 Từ đó có những liên hệ cần thiết với việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay
mà vấn đề tôn giáo – dân tộc luôn là mối quan tâm đặc biệt của Nhà nước ta
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm hai chương:
Chương I: Khái quát về tình hình xã hội và đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945
Chương II: Chủ trương đoàn kết tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ 1930-1945: Từ lý luận đến thực tiễn
Trang 11NỘI DUNG
Chương I: Khái quát về tình hình xã hội và đặc điểm
tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945
1.1 Vài nét về bối cảnh chính trị, xã hội, văn hoá Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1919), tuy là nước thắng trận nhưng Pháp lại chịu nhiều tổn thất lớn Những vùng giàu có nhất nước Pháp, đặc biệt là các vùng công nghiệp phát triển, bị tàn phá nặng nề; nhiều nghành công nghiệp bị đình trệ Nước Pháp trở thành con nợ kếch xù Thực trạng khủng hoảng này đã thôi thúc chính phủ Pháp phải tìm biện pháp thúc đẩy nhanh nền sản xuất trong nước đồng thời đẩy mạnh khai thác thuộc địa, nhất
là ở Đông Dương, nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế và khôi phục vị trí của nước Pháp trên trường quốc tế
Trong dự luật khai thác thuộc địa được Albert Sarraut trình bày trước
Quốc hội Pháp ngày 12 tháng 4 năm 1921 và được đưa vào công trình “Việc
khai thác thuộc địa của Pháp” xuất bản năm 1923 tại Paris thì mục đích trọng
yếu của việc khai thác thuộc địa, về mặt kinh tế, không phải chỉ nhắm đến nông phẩm nhiệt đới mà còn là những nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới lòng đất, tức là mỏ quặng Đây là hai loại sản phẩm đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế chính quốc sau chiến tranh Dự luật này đã viết:
“Trong toàn bộ hệ thống thuộc địa của chúng ta, chương trình này lựa chọn và nhằm vào những trung tâm chính về sản xuất nguyên liệu và thực phẩm cần cho chính quốc, những kho báu lớn về tài nguyên thiên nhiên, những vựa lúa, những vùng trồng trọt quy mô lớn, những vùng rừng đại ngàn, những vùng mỏ quặng lớn nhất, nói tóm lại những điểm chính mà nước Pháp
Trang 12có thể tận khai, ở mức cao nhất những nguồn lợi có ích cho nó bởi nơi đây là nguyên liệu béo, nơi kia là ngũ cốc, nơi kia nữa là bông sợi, xa hơn là đàn gia súc, nơi khác là rừng, nơi khác nữa là kim loại”34, tr.28
Để thực hiện chương trình này, Dự luật cũng đề ra những biện pháp cụ thể như:
“Trước hết, tạo ra những điều kiện cho tất cả mọi cố gắng, hệ thống hoá đường giao thông cần thiết để tiến vào những vùng trung tâm sản xuất và nối chúng với các hải cảng bằng hệ thống đường sắt Trang bị cho những hải cảng
đó, sao cho, có thể tạo thuận lợi dễ dàng cho việc vận chuyển lớn bằng đường biển Tăng khả năng sản xuất hiện có của những vùng được nhằm vào, mở rộng diện tích khai thác, đưa chúng vào trồng trọt, tăng số lượng sản phẩm, giá trị và chủng loại đối với những thứ mà cả trong lòng đất và trên mặt đất có thể cung cấp, hoặc là bằng những phương tiện tưới tiêu, hoặc là bằng việc trồng trọt được cơ khí hoá, hoặc là bằng những nguồn tài nguyên được khai thác một cách khoa học…”34, tr.30
Các lĩnh vực đầu tư của Pháp đối với Việt Nam có sự thay đổi vị trí rất lớn Nếu như ngành khai khoáng chiếm vị trí hàng đầu trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thì ở cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai này nông nghiệp là ngành đứng đầu trong các ưu tiên đầu tư vốn của Pháp Nền kinh tế nông nghiệp thuộc địa bị khai thác một cách tổng lực, trong đó đặc biệt chú trọng đến đồn điền Tuy nhiên các chủ đồn điền người Pháp và người Việt vẫn khai thác theo lối phát canh thu tô kiểu phong kiến và tiền tư bản với mục đích bóc lột lao động sống mà không quan tâm tới đầu tư kỹ thuật
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm dân cư mới Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư
Trang 13bản chủ nghĩa vào Việt Nam, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Vì thế, nước ta không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường, nền kinh tế nước ta bị kìm hãm và phụ thuộc vào kinh tế Pháp
Dưới sự ảnh hưởng của các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp,
xã hội Việt Nam có sự phân hoá giai cấp sâu sắc, đặc biệt là sự phát triển cả
về chất và lượng của giai cấp công nhân Việt Nam Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam đã hình thành Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, số lượng công nhân Việt nam tăng lên đáng kể, từ 10 vạn năm 1914 lên hơn 22 vạn năm 1929 Tuy con non trẻ
và số lượng chỉ chiếm 1% số dân, nhưng giai cấp công nhân Việt Nam sống khá tập trung ở các thành phố, các trung tâm công nghiệp, các cơ sở kinh tế tư bản, các đồn điền Công nhân Việt Nam ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế đồng thời còn có những đặc điểm riêng như: hầu hết xuất thân từ nông dân nên có nhiều mối quan hệ gần gũi với giai cấp nông dân; ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc; phải chịu ba tầng áp bức của đế quốc, phong kiến và tư sản; sinh ra ở một đất nước có truyền thống văn hoá tốt đẹp, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm; sớm tiếp thu những tiến bộ của thời đại và “nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc Trung Nam…” 13, tr.551
Phong trào dân tộc Việt Nam có những bước chuyển biến cả về nội dung và hình thức, những chuyển biến đó bắt nguồn từ trong sự chuyển biến kinh tế, xã hội, văn hoá của đất nước và sự tác động của tình hình thế giới đó
là sự xuất hiện của một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội chủ nghĩa và sự thức tỉnh của các dân tộc bị nô lệ, bị áp bức
Có thể nói, cho đến tận cuối thế kỷ XIX, hệ tư tưởng phong kiến với các quy chuẩn của Nho giáo vẫn bao trùm xã hội Việt Nam, bước sang thế kỷ
XX, hệ ý thức ấy không còn là trụ cột nữa Các tư tưởng tư sản và chủ nghĩa
Trang 14xã hội đã có vị trí và ngày càng khẳng định sự thắng thế Cùng với sự biến đổi
về tư tưởng xã hội thì tư tưởng về tôn giáo cũng có những biến đổi cơ bản trong giai đoạn này Vẫn còn có khoảng cách giữa hệ ý thức xã hội chủ nghĩa
và các tôn giáo song giai đoạn này tư tưởng tả khuynh về tôn giáo trong những người cộng sản đã giảm đi, họ đã xác định vị trí các vấn đề tôn giáo trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
Đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, cùng với sự xuất hiện của ba tổ chức: Hội Việt Nam cách mạng thanh niên; Tân Việt Cách mạng đảng; Việt Nam Quốc dân đảng) đánh dấu một bước tiến dài trong phong trào dân tộc Yêu cầu khách quan cần có một đảng thống nhất lãnh đạo các phong trào cách mạng đã tác động vào các tổ chức tiền cộng sản, dẫn đến sự đấu tranh nội bộ và sự phân hoá tích cực trong các tổ chức này, hình thành nên các tổ chức cộng sản ở Việt Nam: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929); An Nam Cộng sản Đảng (8/1929); Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929)
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản, điều đó chứng tỏ xu thế thành lập Đảng Cộng sản đã trở thành tất yếu của phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam
Ngày 27/10/1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người cộng sản ở Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương, yêu cầu những người cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lập một đảng của giai cấp vô sản
Nguyễn Ái Quốc đã rời Xiêm đến Trung Quốc, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc Hội nghị đã nhất trí với năm điểm lớn theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc và quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 15Các văn kiện Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Chương trình
tóm tắt của Đảng thông qua tại Hội nghị được hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin – tư tưởng tiên tiến của thời đại với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
Sự ra đời của Đảng chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta đã trưởng thành và đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam đồng thời chấm dứt cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước từ cuối thế kỷ trước Đảng ra đời làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam trở nên tiêu điều, thảm hại Sự phân cực giàu nghèo càng sâu sắc hơn Hậu quả của cuộc khủng hoảng là vô cùng tàn khốc đối với mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là công nhân và nông dân
Để giảm bớt khó khăn cho chính quốc, thực dân Pháp đã ra sức vơ vét, bóc lột các thuộc địa, mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và bè lũ tay sai phát triển gay gắt hơn Lúc này, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô phát triển mạnh, mô hình Xô Viết được tuyên truyền sâu rộng tạo niềm hi vọng lớn trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam
Cao trào cách mạng 1930 – 1931 diễn ra mạnh mẽ ở khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam Vùng Nghệ An và Hà Tĩnh trở thành đỉnh cao của cao trào với nhiều cuộc đấu tranh quy mô lớn của nông dân dưới hình thức biểu tình
có vũ trang tự vệ, tiến công vào cơ quan chính quyền địch ở địa phương
Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, đang từng bước có những biến đổi Từ cuối năm 1935, đầu năm 1936 nền kinh tế xứ thuộc địa Đông Dương có dấu hiệu phục hồi trên
Trang 16một số lĩnh vực, tuy nhiên còn tiêu điều, kiệt quệ do hậu quả của thời kỳ khủng hoảng trầm trọng kéo dài Chính sách của chính phủ Pháp vẫn là chính sách bảo hộ giới tư bản tài phiệt Ba thủ đoạn quen thuộc mà chính quyền Thực dân tiếp tục áp dụng để bóc lột quảng đại quần chúng nhân dân bản xứ
là sưu thuế, độc quyền (muối, rượu, thuốc phiện) và lạm phát tiền tệ Chính sách này làm cho cuộc sống của tất cả dân chúng Đông Dương từ công nhân, nông dân, công chức, giáo viên …bấp bênh Ngay cả giới tư sản, địa chủ bản
xứ vẫn cảm thấy môi trường kinh doanh quá ngột ngạt, vận mệnh bấp bênh Đây chính là cơ sở cho bước phát triển mới của phong trào dân tộc dân chủ, chống thực dân phản động ở Việt Nam
Sau gần một năm Đại hội lần VII Quốc tế Cộng sản, đường lối Quốc tế Cộng sản mới được thừa nhận và triển khai tới hoạt động của toàn Đảng Cộng sản Đông Dương Cũng thời gian đó, Đảng đã nghiên cứu tình hình và hoàn cảnh trong nước và kinh nghiệm của các Đảng Cộng sản anh em”, “Nhận xét thấy Đảng ta còn non yếu về kinh nghiệm, cho nên chỉ thị của ban Trung ương có quan hệ đến sự thay đổi về đường lối chính trị và hình thức tổ chức thường không phù hợp với tinh thần các nghị quyết của Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản” Bên cạnh đó “trong Đảng còn tồn tại những tàn dư của Chủ nghĩa bè phái” đường lối đấu tranh giai cấp kiểu tả khuynh, biệt phái, cô độc đã tồn tại và có ảnh hưởng sâu đậm trong nhận thức của nhiều đảng viên, nhất là trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng, hơn nữa đường lối này đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng Để thay đổi chiến lược của Đảng cho phù hợp với tinh thần mới và nhất là đường lối mới trở thành ý chí cho toàn Đảng, thực sự phát huy hiệu lực trong thực tiễn cách mạng, thì cần
có thời gian để triển khai trận trọng, nghiêm túc
Đảng ta đã xem xét lại toàn bộ đường lối chiến lược và sách lược mà Đảng đã theo đuổi từ tháng 10 năm 1930 với tinh thần phê bình nghiêm túc
Trang 17Hàng loạt các sai lầm của Đảng từ trước đây trong nhận thức về nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, về mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, về phương pháp và hình thức tổ chức vận động quần chúng, tổ chức đấu tranh nhận thức về lực lượng cách mạng và mặt trận thống nhất v.v…đã được chỉ rõ và phê bình nghiêm túc Từ
đó Hội nghị tán thành sách lược của Quốc tế Cộng sản và đi đến kết luận dứt khoát, rõ ràng “Ban Trung ương sau khi nghiên cứu những điều kiện chủ quan
và khách quan ở Đông Dương, đã đi đến kết luận rằng thành lập Mặt trận Dân tộc phản đế không thể trì hoãn thêm một phút Các tổ chức đảng, mỗi đồng chí phải hết sức chủ động thành lập Mặt trận Dân tộc phản đế, nhằm tập hợp tất cả các tầng lớp quần chúng để tranh đấu đòi những yêu sách tối thiểu” 7, tr.80
Trung ương Đảng cho rằng: “Ở một xứ thuộc địa như Đông Dương, trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chỉ quan tâm đến sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp có thể sẽ nảy sinh những khó khăn để mở rộng phong trào giải phóng dân tộc” Chỉ thị còn nêu: Ở các nước thộc địa như Đông Dương, tinh thần dân tộc có ảnh hưởng to lớn đến tất cả các tầng lớp xã hội, những người cách mạng và những người cộng sản phải biết phát huy tinh thần đó trong cuộc đấu tranh chống những kẻ áp bức dân tộc
Để thực hiện sứ mệnh lịch sử là làm cho nước ta hoàn toàn độc lập, có thể nói, hơn bao giờ hết vấn đề đoàn kết dân tộc là nhiệm cần kíp, trước mắt Ngay trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người, ai ai cũng phải hiểu rõ vì sao phải làm, ai ai cũng phải gánh một vai và làm ngay không nên người này ngồi chờ người khác
Nếu ở giai đoạn trước, những người cộng sản nói chung và những người cộng sản Việt Nam nói riêng vẫn chịu ảnh hưởng tả khuynh hoặc dè dặt
Trang 18khi bàn về tôn giáo và những người có tôn giáo trong mối quan hệ với cách mạng, thì ở giai đoạn này, khi nhận thức rõ được vai trò của các tầng lớp nhân dân trong lực lượng cách mạng, Đảng ta đã có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ tôn giáo – dân tộc và vai trò của đồng bào tôn giáo trong sứ mệnh lịch sử này
Như vậy, trong đội ngũ những người cộng sản lãnh đạo đã có sự chuyển hướng nhận thức trên một số vấn đề quan trọng, rõ ràng nhất là đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và để thực hiện được nhiệm vụ đó cần phải thực hiện vận động tất cả các tầng lớp nhân dân vào Mặt trận Việt Minh Nội dung sự chuyển hướng nhận thức này cơ bản theo sát tinh thần của Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng
Với những nhận thức trên, Đảng ta khẳng định: Lực lượng cách mạng
là toàn thể dân tộc Việt Nam được tập hợp lại trong Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt Minh Mặt trận chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị, giai cấp, đoàn kết chiến đấu để đấnh đuổi Pháp - Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở
Từ đầu nguồn cách mạng Pác Bó, Việt Minh đã lan toả khắp nông thôn, thành thị, có hệ thống từ trung ương tới địa phương Lực lượng chính trị quần chúng ngày càng đông đảo và được rèn luyện trong đấu tranh chống Pháp - Nhật theo khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh Trên cơ sở lực lượng chính trị của quần chúng, Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho quần chúng cách mạng, từng bước tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, lập các khu căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Vào cuối năm 1944 đầu 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Đêm ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương Cũng ngay trong đêm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã
Trang 19họp Hội nghị mở rộng tại làng Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) Ngày
12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật – Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta
Chỉ thị chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa
Giữa năm 1945, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, Trung ương quyết định họp Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào từ ngày 13/5 – 18/5/2945 đưa ra nhận định: Cơ hội tốt cho ta giành chính quyền đã tới và quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân đồng minh vào Đông Dương
Ngay trong đêm 13/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh Tổng khởi nghĩa
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền Chỉ trong vòng 15 ngày (từ ngày 14 – 28/8/1945) cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chính Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
1.2 Các tôn giáo chính ở Việt Nam với đời sống chính trị -
xã hội
1.2.1 Xuất hiện hai tôn giáo nội sinh
Đạo Cao Đài
Năm 1926, một tôn giáo có tính dung hợp tương đối mới, mang tinh thần phản kháng xã hội đã xuất hiện ở Việt Nam, đạo Cao Đài Đạo Cao Đài
là tên ngắn gọn, tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Sự xuất hiện này là
Trang 20một hệ quả của một phong trào cách mạng quốc gia phát triển trong những năm 1925 – 1926 của lực lượng tư sản và địa chủ bất lực và bất mãn chống lại chính quyền thực dân
Sự ra đời của đạo Cao Đài gắn chặt với bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Nam Bộ trong cuộc khai thác thuộc địa quy mô của thực dân Pháp sau Thế chiến thứ nhất Lúc đó ở Nam Bộ hình thành một tầng lớp tư sản gốc địa chủ và thầng lớp công chức, quan lại có yêu cầu vươn lên trong kinh doanh, muốn có vị trí chính trị để hỗ trợ cạnh tranh với tư bản Pháp
Những năm 20 của thế kỷ XX, đạo Cao Đài phát triển khá mạnh, tạo một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống chính trị, tư tưởng nhân dân Nam
Bộ Đặc biệt trong những năm 1926 – 1932 “tuy không có con số thống kê chính thức nhưng tín đồ của nó đã vượt lên con số hàng triệu” 40, tr.120 Đạo mở rộng nhanh, đa số tín đồ có thu nhập khá giả, thuộc tầng lớp trung lưu của xã hội lúc đó Hệ thống tổ chức của đạo thấp thoáng cơ chế của chính quyền tư sản: lập pháp và hành pháp (Hiệp Thiên đài và Cửu Trùng đài) Thành phần tín đồ nhiều màu sắc ở các địa phương khác nhau, ngay từ lúc khai sáng đã chia thành 12 chi phái mang tính cách cát cứ với xu hướng hoạt động không thống nhất
Sau khi vào Đông Dương, Nhật đã lợi dụng Cao Đài - chủ yếu là phái Tây Ninh – làm chỗ dựa chính trị, tình báo, tổ chức lực lượng bán vũ trang, cả làm kinh tế nữa Nhật cũng đưa Cao Đài lên nắm chính quyền khi đầu hàng Đồng minh nhưng Cách mạng Tháng Tám đã làm vỡ ý đồ đó
Cuộc kháng chiến chống Pháp tạo ra sự phân hoá lớn trong đạo Cao Đài Tuy nhiên xu hướng yêu nước đã có từ trước vẫn được phát huy trong các chi phái Tiêu biểu như nhân vật Cao Triều Phát - Chủ tịch Hội thánh Cao Đài 12 phái thống nhất
Trang 21Mặc dù vậy, những ảnh hưởng của đạo Cao Đài theo thời gian không được phát triển thêm hơn, không lôi cuốn được nhiều hơn nữa sự tham gia của quần chúng thực hiện những mục tiêu khác ngoài tôn giáo
Phật giáo Hoà Hảo
Một tôn giáo mang đậm phong vị, đặc tính Nam Bộ cũng xuất hiện trong thời kỳ này là Phật giáo Hoà Hảo Đây được coi là một độc đáo khác của dòng “Tiên tri tản mạn” ở Nam Bộ Thành phần tham gia là những người nông dân nghèo
Đạo Hoà Hảo cũng ra đời trong bối cảnh của đạo Cao Đài, nhưng gắn hơn với các đạo lạ Giáo chủ của Phật giáo Hoà Hảo là Huỳnh Phú Sổ Ông
có khả năng nắm bắt tâm lý của người dân rất giỏi Trên cơ sở hai tôn giáo đã
có ông nghĩ ra một tôn giáo mới Tôn giáo mới ông nghĩ lấy cái gốc là của nhà Phật kết hợp với tinh thần của Đạo Bửu sơn kỳ hương Ông không bắt thuộc kinh kệ mà chỉ cần biết đến “Sấm giảng”
Từ năm 1939 -1943, sự phát triển của tôn giáo này bình thường Phật giáo Hoà Hảo không vượt khỏi tầm ngắm của thực dân Thực dân cũng lôi kéo, đàn áp những người theo Phật tử Hoà Hảo như các tín đồ tôn giáo khác Năm 1944 – 1945, Huỳnh Phú Sổ tiếp xúc với một số lãnh đạo Việt Minh nhưng sau đó ông bị lôi kéo về Sài Gòn Năm 1946, vị Giáo chủ này đã lập
“Việt Nam Dân chủ Xã hội đảng” còn gọi tắt là Đảng Dân Xã Từ đó, Phật giáo Hoà Hảo chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang Từ đó, Phật giáo Hòa Hảo là một tổ chức chính trị, không còn thuần túy tôn giáo nữa
Sau cái chết của Huỳnh Phú Sổ gây nên sự xáo trộn trong nội bộ, thực dân đã lợi dụng sự xáo trộn này để lôi kéo, hướng các thủ lĩnh của Hoà Hảo vào cuộc chiến tranh xâm lược bằng cách huấn luyện họ trở thành lực lượng đối kháng lại nhân dân, đối kháng lại Việt Minh
Trang 22Một số nhân vật tiêu biểu của tôn giáo này mang khuynh hướng chống Cộng sản và cát cứ ngày càng tăng như : Trần Văn Soái ; Lâm Thành Ngươn, Nguyễn Giác Ngộ… Dưới sự giúp sức của Phòng nhì Pháp, họ luôn chống phá các cơ sở kháng chiến của ta ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với khẩu hiệu “chống Cộng, cứu nước, giữ Đạo, thờ Thầy”
Nhưng đa số tín đồ Hòa Hảo xuất thân từ thành phần lao động, nông dân chất phác nên có cảm tình với cách mạng Do đó, có một số tín đồ, chức sắc về sau có đóng góp quan trọng cho lực lượng kháng chiến chống ngoại xâm
Trong kháng chiến chống Pháp, Hoà Hảo bị phân hoá làm hai Một bộ phận theo kháng chiến, một bộ phận theo thực dân
1.2.2 Các tôn giáo truyền thống với đời sống chính trị - xã hội
Phật giáo
Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên
Ấn Độ cổ đại là một quốc gia rộng lớn và có nền văn minh sớm ở châu Á Giống như hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Phật ra đời cũng dựa trên những tiền đề về kinh tế, xã hội, tư tưởng nhất định
Phật giáo bắt nguồn, phát triển và đồng hành với nhiều học thuyết, tư tưởng, trường phái khác nhau ở Ấn Độ Sau đó, Phật giáo phân thành hai nhánh và bắt rễ sâu vào khắp các quốc gia ở châu Á rồi từ đây lan rộng ra toàn thế giới
Phật giáo du nhập vào Việt Nam ở những năm đầu công nguyên và phát triển cực thịnh thời Đinh - Lê - Lý - Trần Từ thế kỷ XV trở đi, Phật giáo dần suy thoái, nó rời chốn cung đình và chỉ còn là niềm an ủi của quần chúng chốn thôn dã
Trang 23Vào khoảng những năm 1920-1930, trong không khí tưng bừng của phong trào chấn hưng Phật Giáo trên thế giới, đặc biệt ở Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ và Miến Điện, một số tăng sĩ và cư sĩ đã phát động phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Việt Nam, từ đó đưa đến sự thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại miền Bắc vào năm 1934 đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ, và xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ Ở miền Trung, Hội An Nam Phật Học cũng ra mắt tại chùa Từ Đàm và cho xuất bản tạp chí Viên Âm vào 1934, đặt biệt hội đã
mở các Phật Học Viện cho tăng chúng tu học như phật học đường Báo Quốc
và Kim Sơn, Trúc Lâm và Tây Thiên Ở Bình Định có hội Phật Học Bình Định, ở Đà Nẵng có hội Phật Học Đà Thanh, ra tạp chí Tam Bảo Tại miền Nam, năm 1920, Hội Lục Hòa được thành lập để đoàn kết và vận động phong trào chấn hưng Phật Giáo Hội nghiên cứu Phật Học Nam Kỳ ra đời, đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn; xuất bản tạp chí Từ Bi Âm (1932) Năm 1933 Liên Đoàn Học Xã ra đời Năm 1034, hội Phật Học Lưỡng Xuyên ra đời, xuất bản tạp chí
Du Tân Phật học và mở Phật Học đường Lưỡng Xuyên
Dưới chế độ bảo hộ của Pháp, các tổ chức Phật giáo chỉ được mang danh nghĩa là các Hội đoàn, không được coi là các Giáo hội Các tổ chức đầu tiên lần lượt xuất hiện, bắt đầu từ miền Nam, ra miền Trung rồi miền bắc
Năm 1930, tại Sài Gòn, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành
lập, trụ sở tại chùa Linh Sơn, Hội trưởng là Thiền sư Từ Phong Hội cũng xuất bản tạp chí Từ Bi Âm do thiền sư Khánh Hòa chủ nhiệm, số đầu tiên ra mắt vào ngày 1/3/1932
Năm 1932, tại Huế, Hội An Nam Phật học được thành lập, do cư sĩ Lê Đình Thám làm Hội trưởng, Thiền sư Giác Tiên làm Chứng minh Đạo sư, trụ
sở đặt tại chùa Trúc Lâm Hội xuất bản tạp chí Viên Âm, ra số đầu tiên ngày 1/12/1933
Trang 24Năm 1934, tại Hà Nội, Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập, do cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng, tôn Thiền sư Thích Thanh Hanh (Tổ Vĩnh Nghiêm) làm Thiền gia Pháp chủ Hội xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935
Phong trào chấn hưng có thể nói được khởi xướng từ Thiền sư Khánh Hòa tại miền Nam, thiền sư Phước Huệ tại miền Trung, và thiền sư Thanh Hanh tại miền Bắc Ba vị được tôn là Tổ của phong trào
Tiếp đó đã xuất hiện thêm một số hội như Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh; Hội Phật học Kiêm Tế tại Rạch Giá, ra tạp chí Tiến Hóa; Hội Tịnh độ Cư sĩ tại Chợ Lớn của giới cư sĩ, ra tạp chí Pháp Âm; Hội Thiên Thai Thiền Giáo tông Liên hữu do Thiền sư Huệ Đăng sáng lập năm 1934 tại Bà Rịa; Hội Phật giáo Tương tế do trụ trì chùa Thiên Phước là Lê Phước Chi thành lập ở Sóc Trăng Tại miền Bắc có hội Bắc Kỳ Phật giáo Cổ Sơn môn
Một số tạp chí khác cũng xuất bản như Pháp Âm, Quan Âm, Tam Bảo, Tiếng Chuông Sớm, Duy Tâm, Tiến Hóa Một nhà xuất bản là Phật học Tùng thư do ông Đoàn Trung Còn thành lập năm 1932 Giai đoạn này nhiều kinh sách đã được xuất bản như sách Phật giáo Sơ Học, Phật Giáo Vấn Đáp, Phật Giáo Giáo Khoa Thư, và những kinh bản bằng quốc ngữ như Kim Cương, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm
Các tổ chức đầu tiên đã quy tụ được rất nhiều bậc cao tăng và nhân sĩ như Trần Trọng Kim, Thiều Chửu, Bùi Kỷ Lễ Phật đản tại Huế năm 1935 đã mời được vua Bảo Đại và Thái hậu làm Hội chủ danh dự
Các trường giảng dạy Phật học được tổ chức ở khắp ba miền, tập trung tại các chùa lớn, đào tạo nhiều tăng, ni sinh
Thực dân Pháp đã tìm đủ mọi cách để lôi kéo, thao túng nhiều nhân vật
và tổ chức Phật giáo nhằm tạo cơ sở xã hội và chính trị cho chế độ thực dân song đại bộ phận tăng ni, Phật tử vẫn nêu cao tinh thần yêu nước, gắn bó với dân tộc và ủng hộ kháng chiến Nhiều nhà sư đi theo cách mạng, tham gia
Trang 25Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt và nhiều cơ sở thờ tự của Phật giáo trở thành nơi nuôi dưỡng, che dấu cán bộ cách mạng
Công giáo
Có thể nói thế kỷ XVI đánh dấu bước đặt nền móng của Công giáo vào Việt Nam với sự có mặt của Thánh Phan Xicô Xavier dòng Tên trên đường sang Nhật đã đặt chân đến Việt Nam Trải qua những bước thăng trầm từ giai đoạn mở đạo, giai đoạn hình thành và phát triển ở Việt Nam, Công giáo có những đóng góp nhất định Là một tôn giáo độc thần, bước đầu Công giáo cũng có nhiều điểm xa lạ với tâm thức người Việt, song cùng với thời gian và khả năng thích nghi, Công giáo đã tìm được một vị trí đáng kể trong tâm linh người Việt
Từ năm 1848, do tình hình trong nước xảy ra nhiều biến cố phức tạp nên vua Tự Ðức liên tiếp ra các đạo dụ khác để ngăn cản, hạn chế, trừng trị các hoạt động của giáo sĩ và giáo dân có ảnh hưởng xấu tới an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc Sự gia tăng về số lượng và mức độ của hình phạt được qui định trong các đạo dụ cấm đạo, sát đạo của nhà Nguyễn hoàn toàn trùng hợp với sự gia tăng những hoạt động lợi dụng truyền giáo phục vụ công cuộc xâm lược của các giáo sĩ Sự trùng hợp đó cho phép ta kết luận: Chính sách cấm đạo, sát đạo của các vua nhà Nguyễn là hậu quả tất yếu do nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc, nảy sinh từ chính sách thực dân - Gia tô của Pháp đối với nước ta thời đó Ðiều đáng tiếc ở đây là các vua nhà Nguyễn đã phạm sai lầm về phương pháp Hậu quả của sai lầm đó như chúng ta đã biết -
nó tạo ra cái cớ để bọn thực dân dụng danh nghĩa "bảo vệ những người đồng đạo" để tiến hành xâm lược nước ta bằng quân sự
Khi triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Thân 1884 với Pháp, công nhận
sự đô hộ của Pháp, Công giáo Việt Nam phát triển nhanh chóng Giáo dân tăng nhanh, cơ sở tôn giáo như: nhà thờ, tu viện, tòa giám mục, trường học,
Trang 26viện dưỡng lão, viện cô nhi được xây dựng khắp nơi Các giáo phận được chia nhỏ lại: miền Bắc: Hà Nội, Phát Diệm, Hưng Hoá, Vinh, Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh và Phủ doãn Lạng Sơn Ở miền Nam: Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, và một phần của giáo phận Nam Vang Tổng cộng là 12 giáo phận
Năm 1925, Tòa Thánh lập Toà khâm sứ ở Đông Dương, đặt tại Phủ Cam (Huế) Ngày 10 tháng 01 năm 1933, Giáo hoàng Piô XI ra sắc lệnh bổ nhiệm Linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng làm Giám mục Hiệu tòa Sozopoli, giữ chức Giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Phát Diệm Ông
là vị giám mục tiên khởi người Việt Nam.Sự cộng tác của giáo hội với thực dân Pháp ở Việt Nam còn thể hiện ở chỗ, giáo hội là chỗ dựa cho chính sách ngu dân về văn hóa của bọn thực dân Về thực chất đây là một bộ phận của chính sách cai trị thuộc địa theo lối đồng hóa nền văn hóa dân tộc Mục tiêu của sự đồng hóa này là "Thiên Chúa giáo hóa" Việt Nam để đạt mục đích xâm lược và cai trị dân bằng cách sử dụng giáo sĩ vào công việc quản lý nhà nước, loại trừ ảnh hưởng của Nho giáo (hệ tư tưởng chính thống trong nền văn hóa Việt Nam dưới thời phong kiến) Nhiều giám mục đã đề nghị thực dân đàn áp đội ngũ sĩ phu "Văn Thân" của Việt nam, vì theo họ: Bọn Văn Thân rất có ảnh hưởng, họ công tiến lớn và một khi được làm quan là thiên hạ kính trọng
họ, vì vậy nhất thiết phải thanh toán bọn họ đi , bởi vì họ quá yêu nước không thể nào chấp thuận sự cai trị của chúng ta Hơn nữa, chẳng bao giờ một người Văn Thân chịu theo đạo Ki-Tô!
Ðối với quần chúng, các giám mục Pháp chủ trương tôn giáo hóa bằng nhiều biện pháp khác nhau: Làm cho họ thấy rõ lợi ích của việc theo đạo; hoặc bằng cách nào đó để họ thấy được vấn đề là nếu đã theo đạo mà bỏ đạo thì không an toàn về cuộc sống; kể cả dụ dỗ và cưỡng bức theo đạo
Ðối với giáo dân, giáo hội cấm không cho họ tiếp xúc với xã hội người lương, các tài liệu sách báo có tư tưởng yêu nước, cách mạng Việc làm này
Trang 27phục vụ cho chính sách chia rẽ lương - giáo, biến các làng giáo dân, khu vực giáo dân thành những cứ địa riêng để cha cố dễ bề quản lý hoặc huy động vào các mục đích thực dân khi cần thiết
Về phía thực dân Pháp, trong quá trình thực hiện chính sách ngu dân của mình ở Việt Nam, chính phủ Pháp đã tiến hành nhiều biện pháp để ngăn cản việc truyền chức linh mục, giám mục cho giáo sĩ người Việt Nam Họ sợ rằng nếu các giáo sĩ Việt Nam có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc nắm giữ các chức vụ quan trọng trong giáo hội thì sẽ tác động trực tiếp tới giáo dân và làm cho giáo dân thức tỉnh chống lại kẻ xâm lược Trong nội bộ giáo hội, các giáo sĩ nước ngoài cũng tìm cách ngăn cản xu hướng tiến bộ của một
số giáo sĩ người Việt, ngăn cản luồng tư tưởng đòi trả giáo hội Việt Nam cho người Việt Nam
Trên thực tế, trong chừng mực nhất định, thực dân Pháp đã thực hiện được âm mưu tách cộng đồng giáo dân của Ðạo Thiên Chúa ra khỏi cộng đồng dân tộc, bằng cách tạo ra trong giáo dân sự mặc cảm, sự ngộ nhận nguy hiểm rằng giữa đức tin và nghĩa vụ công dân có một sự mâu thuẫn không thể dung hòa, mà sự lựa chọn theo đúng ý Chúa là từ bỏ dân tộc để giữ lấy đức tin Hướng giáo dân vào cuộc đấu tranh chống lại chính dân tộc mình để bảo
vệ đức tin - vào cuộc đấu tranh giữa các ý thức hệ và chủ thuyết khác nhau
Vì thế khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thì bọn thực dân và những người cầm đầu giáo hội lại tung ra các luận điểm về "mối hiểm họa cộng sản", "mâu thuẫn cộng sản - công giáo"
"vô thần - hữu thần" để biện hộ cho hành vi cướp nước và bán nước, chống lại các phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ và hòa bình của nhân dân ta
Cộng đồng Công giáo trong xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trước các tác động của hoàn cảnh lịch sử, vẫn sống lặng lẽ và khép kín trên quê hương của họ Tuy vậy chúng ta vẫn nhận thấy có sự quan hệ qua
Trang 28lại giữa đạo và đời Bởi họ vốn là anh em cùng dòng họ, cùng một làng, rộng hơn là cùng một nước, cùng dân tộc Lối sống của giáo dân qua mối quan hệ gia đình, thân tộc cũng không nằm ngoài cấu trúc của gia đình thân tộc người Việt truyền thống Tuy nhiên, về mặt tâm linh họ cũng có những nét khác so với gia đình người Việt truyền thống như họ không thờ cúng tổ tiên, không lập gia phả, không xây dựng từ đường họ tộc Điều đó không có nghĩa là họ không duy trì mối quan hệ dòng họ huyết thống một cách bền chặt Hiệp ước
ấp Phát Diệm lập năm 1866 ghi: “mồ mả hiếu sự là lẽ thường tình của con người báo về cội nguồn gốc gác, mọi người đều cùng lòng, cùng lý như vậy, nên phải giúp đỡ lẫn nhau” 35, tr.45
Một số địa phương vẫn duy trì ngày Tết Đoan ngọ, nhưng được giáo dân tổ chức thành ngày tết ông bà để con cháu tỏ lòng hiếu thuận với người đã sinh thành dưỡng dục Đây cũng là dịp để người thân trong họ tộc gặp gỡ, tụ họp chia sẻ với nhau mọi điều trong cuộc sống Vì thế mà tình làng nghĩa xóm, tình họ tộc của người giáo dân vẫn được bền chặt
Tin lành
Tin lành là một tôn giáo cách tân, mang tư tưởng tự do tư sản và đề cao vai trò cá nhân Điều này được thể hiện ngay trong cách tổ chức giáo phái và giáo lý của tôn giáo này Dù rằng ra đời từ Công giáo song Tin lành có những đặc điểm riêng biệt, tự do và cách tân hơn rất nhiều
Có mặt ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX theo chân các nhà mục sư tuyên
uý được Hội truyền giáo thuộc địa cử sang để phục vụ nhân viên và binh lính quân đội viễn chinh Pháp Các mục sư này cũng đã chú ý đến việc phát triển đạo Tin lành ở Việt Nam nhưng không triển khai được Phải đến tận cuối thế
kỷ XIX, một số tổ chức truyền giáo chuyên nghiệp từ Bắc Mỹ đến Việt Nam thăm dò tình hình và đặt những dấu ấn lên “miền bán đảo lớn đã bị bỏ quên
…và cần phải được chinh phục cho Chúa Kitô” này – đây là nhận định của
Trang 29mục sư A.B.Simpson - người sáng lập Hội truyền giáo CMA trên đường đi truyền đạo ở Hoa Nam, Trung Quốc đã sang Việt Nam nắm tình hình năm 1887
Sau khi thiết lập được cơ sở Tin lành ở Quảng Tây, Trung Quốc, Hội truyền giáo CMA đã cử một số giáo sĩ vào Việt Nam Năm 1897, mục sư C.H Recves từ Quảng Tây vượt qua biên giới đến Lạng Sơn, song không đạt kết quả như mong muốn nên phải quay trở lại Năm 1901, mục sư R.A Jaffray từ Trung Quốc dọc theo sông Hồng đến Hà Nội với ý định xây dựng cơ sở Tin lành ở đây nhưng cũng không thành công
Sau nhiều lần truyền giáo không thành, năm 1911, Hội truyền giáo đã chuyển hướng hoạt động và cử mục sư R.A Jaffray cùng hai mục sư P.M Hosler và G.L Hughes tới Đà Nẵng Ở đây với sự giúp đỡ của ngài Bonnet (người của tổ chức Thánh kinh hội Anh quốc), các mục sư nói trên đã lập được hội thánh Tin lành đầu tiên Vì thế, năm 1911 đánh dấu sự du nhập chính thức của đạo Tin lành vào Việt Nam
Năm 1914, sau khi đặt được cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng, ông A.B Simpson đã chỉ đạo tăng cường giáo sĩ và đã bổ sung 9 giáo sĩ thuộc CMA vào Việt Nam, trong đó có 4 người Canada, 2 người Mỹ, 2 người Nauy và 1 người Anh
Năm 1915, lấy lý do các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương cấm các giáo sĩ CMA hoạt động Trước tình hình ấy, mục sư R.A Jaffray với tư cách Phó hội trưởng CMA đã gặp toàn quyền Đông Dương yêu cầu cho các giáo sĩ Tin lành được tự do truyền đạo Cuộc gặp gỡ đã cho kết quả rất tốt, đến năm 1916, CMA đã lập được 16 chi hội, trong đó có 5 chi hội ở Bắc Kỳ, 6 ở Trung Kỳ và 5 ở Nam Kỳ Các chi hội trên đều tập hợp trong một tổ chức lấy tên là Hội Thánh Tin lành Đông Pháp (Mission Evangelique de L`Indochine Francaise) và đều có giấy phép hoạt động hợp pháp của Khâm sứ 3 kỳ
Trang 30Cùng với sự lớn mạnh của các chi hội truyền giáo, Tin lành xây dựng nhiều thánh thất, các cơ sở in ấn phát hành nguyệt san, Kinh thánh bằng tiếng Việt và tiếng Campuchia Chỉ trong vòng hai năm, đến 1922, nhà in Tin lành
đã phát hành 12.807 ấn phẩm Năm 1921, trường Thánh kinh được mở tại Đà Nẵng dưới sự dẫn dắt của mục sư D.I.Jeffrey với chương trình đào tạo dựa theo trường Thánh kinh Nyack - Mỹ, số chủng sinh tăng lên theo mỗi năm Khoá đầu có 8 chủng sinh, khoá 2 năm 1922 có 11 chủng sinh; khoá năm
1928 có 87 chủng sinh; khoá năm 1929 có 94 chủng sinh; khoá năm 1930 có
99 chủng sinh
Ngoài ra còn một số các hoạt động của các chức sắc trong việc lôi kéo người theo Tin lành, như mục sư R.A Jaffray đã thuê nhà số 5 Vọng Đức làm nơi quy tụ thanh niên và tập hợp những người theo đạo để thuyết giảng
Đạo Tin lành là một tôn giáo có đường hướng và phương thức hoạt động rất năng động, đạo Tin lành tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, nhất là lĩnh vực từ thiện nhân đạo, lấy đó làm phương tiện mở rộng ảnh hưởng Điều này tạo ra uy tín và khả năng tiếp cận, chung sống với nhiều chế
độ chính trị khác nhau
Ngoài tầng lớp thị dân, đối tượng truyền đạo quan trọng thứ hai của đạo Tin lành là đồng bào các dân tộc thiểu số Đó là những vùng đất mới - nơi chưa có tôn giáo chính thống hoặc tôn giáo, tín ngưỡng cũ đang suy thoái, mất uy tín, nơi đời sống dân sinh, trình độ dân trí thấp Truyền đạo đến những vùng này, đạo Tin lành không những phát huy lợi thế vốn có "đơn giản về luật
lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo" mà còn nghiên cứu rất kỹ đặc điểm lịch sử, văn hoá, tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của từng dân tộc, chủ động địa phương hoá, dân tộc hoá để dễ dàng hoà nhập
Trang 31Trong những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, Tin lành đã thăm dò truyền giáo lên khu vực Tây Nguyên Việc này đã có hiệu quả bởi sau đó Tin lành đã thực sự tìm thấy đất sống ở đây
Thế chiến thứ hai nổ ra, năm 1940 Nhật vào Đông Dương, tình hình ở khu vực này phức tạp, vì vậy Uỷ ban truyền giáo ở New York đã ra lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ ở Đông Dương Đến năm 1945, chỉ còn lại duy nhất vợ chồng mục sư W.C.Cardman ở lại Sài Gòn Tuy nhiên sau chiến tranh thế giới thứ II, các giáo sĩ thuộc Uỷ ban truyền giáo lần lượt trở lại Việt Nam Nhưng Hội thánh Tin Lành ở Việt Nam lại rơi vào suy thoái, số hội thánh không hoạt động ở miền Bắc là 8, miền Trung là 17 và miền Nam là 30 45, tr377
Từ năm 1948, các hoạt động của Tin Lành ở cả 3 miền được phục hồi dần, nhà thờ mở cửa lại, mục sư, truyền đạo quay về nhiệm sở Trường Thánh kinh Đà Nẵng sau nhiều năm đóng cửa đã hoạt động trở lại từ tháng 8 năm
1948 - mục sư Ông Văn Huyền làm Giám đốc
Cũng như các tôn giáo khác được truyền từ nước ngoài vào Việt Nam, một bộ phận nhân dân ta tiếp nhận đạo Tin Lành với niềm tin tín ngưỡng mới
mẻ, trong đó có những giá trị đạo đức phù hợp với đời sống tinh thần và văn hoá của dân tộc Mặc dù trong quá trình lịch sử tồn tại ở Việt Nam, giống như các tôn giáo khác, đạo Tin Lành cũng bị các thế lực phản động lợi dụng, hòng biến tôn giáo thành lực lượng đối lập với nhân dân, chống lại cách mạng Đây
đó vẫn còn một bộ phận đồng bào tín đồ chưa thấu hiểu đường lối, chính sách của Đảng đối với tôn giáo, nên đã có những biểu hiện thiếu tin tưởng, thậm chí còn một số người nghe và làm theo những kẻ lợi dụng tôn giáo, làm phương hại lợi ích quốc gia, dân tộc Điều đó không phù hợp với trách nhiệm của người công dân đối với đất nước, nhưng không phải ai theo đạo Tin Lành cũng rơi vào âm mưu, ý đồ của địch Nhìn một cách tổng thể, thời gian qua đông đảo tín đồ, chức sắc đạo Tin Lành đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp
Trang 32xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đạo đời hoà hợp, xã hội yên bình Trong lịch sử đã có nhiều giáo sĩ, tín đồ đạo Tin Lành tham gia kháng chiến chống thực dân, đế quốc, góp phần mình vào sự nghiệp giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, đạo Tin Lành cũng vì thế mà gắn bó mật thiết hơn với chế độ, đất nước và dân tộc
Tiểu kết
Ngoài các tôn giáo chính thức, nước ta còn các tôn giáo thành lập sau
có liên quan đến Phật giáo như Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Bửu Sơn Kỳ Hương,
Tứ Ân Hiếu Nghĩa, hoặc du nhập ở bên ngoài vào như: Bà-la-môn; Baha’i,…
Như vậy, ở Việt Nam có cả những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, có cả tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Công giáo, Tin lành; có cả những tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như: Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo
Trong số đó có những tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, luật lệ,
lễ nghi và tổ chức giáo hội, chức sắc), có cả những hình thức sơ khai thờ đa thần (quen gọi là tín ngưỡng dân gian); có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định, có những tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm định hướng mới cho phù hợp
Ở phương Tây, tôn giáo chi phối chính trị Ở phương Đông, ngược lại chính trị lại đứng trên tôn giáo Ở nước ta, các triều đại phong kiến Việt Nam, các vua chúa đều có ý thức sử dụng các lực lượng tôn giáo về nhiều mục tiêu như an sinh xã hội, đạo đức cộng đồng… trong đó nổi bất nhất là hợp nhất tam giáo Vấn đề tôn giáo chỉ xuất hiện khi tôn giáo ở phương Tây thâm nhập Trong những thời điểm nhất định, ở những địa phương nhất định đã ảnh hưởng đến sự đoàn kết dân tộc Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo hiện
Trang 33nay diễn ra theo chiều hướng loại dần các yếu tố tiêu cực Tuy vậy, vẫn có những yếu tố lợi dụng tôn giáo phục vụ mục đích xấu
Thái độ của người dân Việt Nam mềm mỏng, có nhiều khả năng tiếp thu các tôn giáo khác nhau, tạo nên bầu khí xã hội với tôn giáo tương đối thuận lợi
Tôn giáo là một động lực để cố kết và phân ly xã hội Ở Việt Nam, trong lịch sử không phải mọi chuyện đều tốt đẹp, thuận lợi, nhưng khả năng
cố kết cộng đồng là nổi bật hơn cả
Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, thể hiện rõ những yếu tố tích cực góp phần đưa chủ trương đại đoàn kết dân tộc vào thực tiễn trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Tôn giáo và văn hoá luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Nước ta
có nhiều tôn giáo để lại những dấu ấn khá sâu đậm đối với văn hóa dân tộc như Phật giáo, Công giáo, với những tác phẩm trong nhiều lĩnh vực như kiến trúc, văn học nghệ thuật, thẩm mỹ, nhân cách…tạo cho nền văn hoá Việt Nam một bản sắc riêng, phong phú và tinh tế
Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước có chủ trương khẳng định tôn giáo còn tồn tại lâu dài ở đất nước ta
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo như nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới Sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng đã góp phần làm cho nền văn hoá nước ta phong phú và đặc sắc Tuy nhiên, đó cũng là những thách thức không nhỏ đã và đang đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung, chính sách đối với từng tôn giáo trong từng thời điểm cụ thể nói riêng
Trang 34Chương II: Chủ trương đoàn kết tôn giáo
của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Từ lý luận đến thực tiễn
2.1 Những luận điểm cơ bản của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo
2.1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
C.Mác –Ph.Ăngghen, V.I.Lênin - những luận điểm cơ bản về tôn giáo
Quan điểm của Mác - Angghen về tôn giáo là một bước ngoặt cách mạng so với các quan điểm trước đấy về tôn giáo của các nhà triết học kể cả duy tâm và duy vật đó là con người sáng tạo ra tôn giáo theo sự suy tư và tình cảm của mình, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người Và con người ở đây
là con người cụ thể, sống trong môi trường tự nhiên – xã hội cụ thể chứ không phải là con người chung chung, trừu tượng
Do đó, luận điểm cơ bản và cũng là nền tảng đầu tiên của C.Mác và Ph.Angghen về tôn giáo đó là: Tôn giáo là sự tha hoá của nhận thức con người về thế giới và về chính bản thân mình, hay nói chính xác, tôn giáo là tự
ý thức đã bị tha hoá của con người, Ph.Angghen đã khái quát lại trong mệnh
đề “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình những lực lượng siêu nhân trần thế” 1, tr.252
Vào những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XIX, trên diễn đàn tư tưởng Đức, vấn đề tôn giáo và phê phán tôn giáo được bàn luận sôi nổi C.Mác và
Trang 35Ph.Angghen cũng đề cập đến vấn đề này Sự suy nghĩ của hai ông về vẫn đề tôn giáo là một bộ phận trong quá trình tìm tòi khám phá những quy luật của đời sống hiện thực và cũng là một bộ phận của sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi sự áp bức, bóc lột đầy đau khổ của các xã hội hiện thực đó, trong đó có sự áp bức về tinh thần mà tôn giáo là một nguyên nhân cơ bản Vì thế, vấn đề tôn giáo trở thành một bộ phận của Chủ nghĩa Mác Hai ông đã vận dụng quan điểm triết học Duy vật biện chứng để giải thích vấn đề tôn giáo, bản chất, nguồn gốc, chức năng… làm cho học thuyết về tôn giáo của hai ông có một cơ sở khoa học chắc chắn
Phê phán Chủ nghĩa duy tâm và thần học, C.Mác và Angghen đã giải thích cơ sở làm phát sinh tôn giáo, Chủ nghĩa Vô thần trước Mác mới chỉ phê phán tôn giáo thuần tuý ở góc độ nhận thức luận nên đã đẫn đến sự đối lập cực đoan trừu tượng giữa tôn giáo và khoa học Tôn giáo được giải thích như
là sự mông muội của con người vì vậy cần nâng cao dân trí, tăng cường giáo dục được xem là phương tiện chủ yếu để khắc phục niềm tin tôn giáo C.Mác cũng đưa ra nhận định xem tôn giáo là sự phản ánh những điều kiện xã hội nhất định “Nhà nước ấy, xã hội ấy, đã sản sinh ra tôn giáo Rằng tôn giáo là
sự phản ánh nghèo nàn của hiện thực”1, tr.437
Lập trường duy vật triệt để của C.Mác đã giúp ông vượt lên tầm của thời đại, đưa ra một kiểu mẫu trong việc phân tích tôn giáo và các hiện tượng
xã hội Ta thấy thế giới quan duy vật được C.Mác vận dụng tài tình trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo có trước hay con người có trước
Như vậy, quan niệm mác xít về bản chất tôn giáo tuyệt nhiên không chỉ giới hạn ở chỗ thừa nhận hiện tượng này như là sự phản ánh thế giới hiện thực, hư ảo, lộn ngược, ngoài giới hạn đó, sự phản ánh tôn giáo bắt nguồn từ những điều kiện hiện thực, do nhu cầu cần khắc phục những giới hạn hiện thực Vì lẽ đó, tôn giáo không chỉ là “thuốc phiện” của nhân dân được hiểu
Trang 36theo nghĩa đơn giản nhất mà còn chứa đựng những nhân tố có ý nghĩa cho con người và xã hội về mặt văn hoá, đạo đức, tâm linh
Ph.Angghen trong một bài viết vào tháng 6 năm 1874 đã phê phán sai lầm cực đoan của những người theo chủ nghĩa Bờ - lăng – ki về chủ nghĩa Vô thần khi họ muốn xoá bỏ tôn giáo bằng sắc lệnh để thiết lập một xã hội không
có chỗ cho cha cố và cấm tất cả mọi sinh hoạt tôn giáo Sở dĩ có những quan điểm cực đoan như vậy, theo Ph.Angghen là vì họ không thấy được nguyên nhân sâu xa của tôn giáo, không biết được tôn giáo nảy sinh trong cuộc sống
hiện thực Trong tác phẩm Chống Đuy Rinh, Ph.Angghen đã kịch liệt phê
phán Đuy Rinh về quan niệm muốn xoá bỏ mọi hình thức thờ cúng một cách cực đoan, Đuy Rinh cho rằng, cần phải phế bỏ mọi thành tố chủ yếu của sự thờ cúng
C.Mác và Ph.Angghen chưa bao giờ nghĩ rằng, các biện pháp hạn chế cưỡng bức lại có thể xoá bỏ được ý thức tôn giáo Những quan điểm cứng nhắc cực đoan đòi hỏi giải quyết mau chóng vấn đề tôn giáo, đòi xoá sạch ý thức tôn giáo chẳng qua chỉ bộc lộ sự hiểu biết nghèo nàn, giản đơn về một hiện tượng xã hội hết sức phức tạp và nhạy cảm được nảy nở từ những điều kiện sống, từ trọng nhận thức của con người
V.I Lênin, người đã kế thừa, phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới cũng như ứng dụng nó vào thực tiễn làm cho Chủ nghĩa xã hội lần đầu tiên trở thành hiện thực trong xã hội loài người, cũng là người có nhiều đóng góp cho lý luận mác xít phê phán tôn giáo Trong điều kiện mới, cho phép và đòi hỏi Lênin phải vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác một cách toàn diện, trong đó có tư tưởng về tôn giáo
Vấn đề tôn giáo, nhất là đạo chính thống giữ vị trí quốc giáo của chế độ Nga hoàng - đạo chính thống là công cụ để nô dịch, kìm kẹp tinh thần quần chúng Các phái phản động cố gắng làm cho tôn giáo hoạt động sôi nổi hẳn
Trang 37lên, hòng thông qua tuyên truyền tôn giáo để lôi kéo quần chúng nhân dân không tham gia cách mạng, sử dụng tôn giáo để củng cố chế độ Nga hoàng Lênin chỉ rõ: “Khắp nơi bọn tư sản phản động đã chú trọng và ở trong nước hôm nay chúng cũng bắt đầu chú trọng khêu lên những thù hằn tôn giáo, để cho quần chúng chú ý về phía đó, khiến cho họ không để ý đến vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và chủ yếu” 39, tr.174-175
Trong hoàn cảnh Đảng Dân chủ - Xã hội Nga đang tổ chức lực lượng
để giành chính quyền, Nga hoàng và các thế lực phản động lại lợi dụng tôn giáo để chống lại cách mạng Lênin đã khẳng định quan điểm mác xít về lập trường, phương pháp giải quyết tôn giáo: Giai cấp vô sản tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của quần chúng Tôn giáo là việc tư nhân đối với nhà nước, chứ không phải là việc tư nhân đối với các đảng của giai
cấp công nhân Trong bài Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo, tháng 12 năm 1905,
Lênin đã viết: “Chúng ta đòi hỏi rằng, đối với Nhà nước mà nói, tôn giáo phải
là một việc tư nhân, nhưng đối với đảng của chính chúng ta thì bất luận thế nào chúng ta không thể coi tôn giáo là một việc tư nhân được Nhà nước không được dính đến tôn giáo, các đoàn thể tôn giáo không được dính đến chính quyền Nhà nước Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mà mình thích, hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào, nghĩa là làm người vô thần, như bất cứ người xã hội chủ nghĩa nào cũng là người vô thần Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau hoàn toàn không thể dung thứ được” 40, tr.515
Do đó, các Đảng Cộng sản cần xác định vị trí các vấn đề tôn giáo trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đoàn kết tập hợp quần chúng, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo, không xúc phạm, không tuyên chiến với tôn giáo, vạch rõ sự lợi dụng tôn giáo của giai cấp thống trị và các thế lực thù địch
Trang 38Trong việc giải quyết vấn đề kết nạp những người có tôn giáo vào Đảng, theo Lênin “Không nên nhất luật, và bất cứ trong trường hợp nào, cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thành đảng viên Đảng Dân chủ - Xã hội, nhưng lại càng không nên nhất luật tuyên bố ngược lại Nếu có một linh mục nào lại cùng đi với chúng ta để cùng hoạt chính trị, tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại cương lĩnh của đảng thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ Đảng Dân chủ - Xã hội” 40, tr.519-520
Như vậy, Lênin đã bước đầu hiện thực hoá tư tưởng của C.Mác và Ph.Angghen, giải quyết thành công vấn đề tôn giáo trong quá trình giành và giữ chính quyền Xô Viết Trong thời kỳ giành chính quyền, Lênin đã sớm truyên truyền, đấu tranh, phát triển, bảo vệ tư tưởng của Chủ nghĩa Mác về tôn giáo nhằm thống nhất tư tưởng trong Đảng Dân chủ - Xã hội Nga, để từ
đó tập hợp lực lượng cách mạng, vô hiệu hoá sự lợi dụng tôn giáo của kẻ thù, góp phần không nhỏ vào thành công Chủ nghĩa Xã hội tháng Mười Nga
Hồ Chí Minh với vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam
Tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó dựa trên luận thuyết chủ yếu của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo, tín ngưỡng nhưng được vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam Nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là tư tưởng đoàn kết lương giáo, hoà họp dân tộc về quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Những tư tưởng ấy không chỉ được thể hiện thông qua những bài viết, lời phát biểu, chỉ thị, sắc lệnh mà còn qua những cử chỉ, hành động cũng như phong cách ứng xử của Người đối với tín đồ, giáo sĩ, nhà tu hành của các tôn giáo
Vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng trong chủ nghĩa Mác – Lênin và nhiệm vụ nặng nề của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đặc biệt là truyền thống đoàn kết, bao dung, yêu thương giống nòi của dân tộc
Trang 39Việt Nam là cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng đại đoàn kết lương giáo hoà hợp, hoà hợp dân tộc ở Hồ Chí Minh
Vấn đề tôn giáo được Nguyễn Ái Quốc đề cập đến trong các bài viết của Người trong quá trình tìm hiểu tình hình xã hội Việt Nam và các nước thuộc địa, phụ thuộc khác
Bài “Phong trào cộng sản Quốc tế Đông Dương” được đăng trên Tạp
chí Cộng sản, tháng 5/1921 - Người viết: “Bây giờ hãy xét những lý do lịch
sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn
là ở châu Âu…Khổng Tử vĩ đại (551 trước Công nguyên) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản” Người cũng so sánh cách mà các ông vua phương Đông khai thác Khổng Tử giống như các đế quốc phương Tây khai thác Kitô giáo
Trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”, Matxcơva năm
1924, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “ Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn giáo theo cách nghĩ của châu Âu Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội Chúng tôi không có những người tư tế nào Những người già trong gia đình hay các già bản thực hiện những nghi lễ tưởng niệm Chúng tôi không biết uy tín của người thầy cúng, của linh mục là gì”
Nguyễn Ái Quốc nhận xét trong cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp”
rằng: Chúa đầy lòng nhân ái và toàn năng Là đấng sáng thế tối cao, Người đã nặn ra một chủng tộc gọi là thượng đẳng để đặt lên lưng một chủng tộc gọi là
hạ đẳng cũng do Người nặn ra…
Rõ ràng với chủ đề “Chủ nghĩa giáo hội”, Nguyễn Ái Quốc đã muốn vạch trần chân tướng của chủ nghĩa thực dân Pháp mà không phải là sự kỳ thị tôn giáo nói chung
Một quan chức cấp cao của Chính phủ Pháp, nhân vật đối thoại chủ yếu
với Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1945 – 1946, trong cuốn Đối diện với Hồ
Trang 40Chí Minh (Face à Ho Chi Minh) cũng có nhận xét như sau: “Về phần tôi, phải
nói rằng, chưa bao giờ tôi có cớ để nhận thấy nơi các chương trình của Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu với bất kỳ một tôn giáo nào…” 31, tr.119
Sự am tường về giáo lý, lịch sử các tôn giáo và lịch sử dân tộc là cơ sở
để Hồ Chí Minh nói đến sự trùng hợp giữa mục đích của tôn giáo và lý tưởng của dân tộc; tôn giáo không đối lập với dân tộc, với Tổ quốc, và hơn thế nữa, tôn giáo cũng không đối lập với lý tưởng cộng sản Năm 1927, Người viết:
“Nếu Khổng Tử sống ở thời đại chúng ta…, cũng có khả năng là siêu nhân này chịu thích ứng với hoàn cảnh và nhanh chóng trở thành người kế tục trung thành của Lênin”
Cuốn Đường cách mệnh - xuất bản năm 1927 - bàn về những vấn đề cơ
bản của cách mạng Việt Nam, đã được Người thể hiện một cách súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu chỉ rõ rằng cách mệnh là sự nghiệp của quần chúng, “cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người” Trong tác phẩm này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã dành hơn một nửa
số trang để giới thiệu về nội dung và cách thức tổ chức các đoàn thể quần
chúng Ở phần Tổ chức công hội, ghi rõ: “Ai là thợ thuyền thì được vào hội,
dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc, miễn là theo đúng quy tắc hội là được” 2, tr.67
Như vậy, ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Hồ Chí Minh đã ý thức sâu sắc vai trò của các tầng lớp nhân dân trong cuộc cách mạng dân tộc Với suy nghĩ ấy, Người đã quán triệt nhiệm vụ đại đoàn kết toàn dân tộc trong
lý luận cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam
Sau này, trong từng giai đoạn cụ thể của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã vận dụng tư tưởng về tôn giáo của Người thực hiện đoàn kết , phát huy sức mạnh dân tộc nhằm mục tiêu độc lập, thống nhất Tổ quốc