LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Chính sách công “Thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” là công tr
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN K H O A HỌC XÃ HỘI
BHIRYU LONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ DÂN CƯ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN MINH
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Chính sách công “Thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu cá nhân với sự hướng dẫn
tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Minh.
Nội dung phản ánh trong luận văn là trung thực và chưa từng công bốtrong bất kỳ công trình khác
Học viên
Bhiryu Long
Trang 4Để có được kết quả như ngày hôm nay, lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến thầy giáo: PGS TS Nguyễn Văn Minh, là người trực tiếp
hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian, công sức đôn đốc, hướng dẫntrong quá trình nghiên cứu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy, cô giáo Học viện Khoa học
xã hội và quý thầy cô công tác tại cơ sở thành phố Đà Nẵng đã nhiệt tình, tậntâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình học tập vànghiên cứu đề tài
Chân thành cảm ơn đến tập thể Ban Thường vụ Huyện ủy, UBNDhuyện, các Phòng: NN&PTNT, Dân tộc, Nội vụ; Văn phòng HĐND&UBNDhuyện, Chi cục thống kê, UBND các xã, thị trấn; các đồng chí, đồng nghiệp
đã giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu điều tra,minh chứng, tổng hợp, phân tích, đánh giá về các nội dung nghiên cứu cóliên quan trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trong thời gian thực hiện cũng như hoàn thành luận văn, tuy đã cónhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, đặc biệt xácđịnh nguyên nhân và đề ra các giải pháp giải quyết vấn đề trong thời gian đến
Kính mong quý thầy, cô giáo tiếp tục chia sẻ, góp ý thêm để đề tài đượchoàn thiện tốt hơn
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠ N G 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ C HÍ NH S ÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ D ÂN CƯ VÙ N G DÂN T Ộ C THI Ể U SỐ . 9
1.1 Một s ố khái n iệ m 9
1.2 Nh ữ ng v ấ n đề ch u ng về dân cư v ùng dân tộc thiểu s ố 10
1.3 Quy t r ình ch í nh s á ch sắp xếp, bố trí d ân c ư 15
1.4 Yêu cầu và các yế u tố ảnh h ư ởng đến qu á trình t h ự c hiện sắp x ế p, bố trí dân cư vùng dân t ộc t h iểu s ố 19
CHƯƠ N G 2 : TH Ự C TRẠNG TH Ự C H IỆ N CH Í NH S ÁCH S Ắ P XẾP, BỐ TRÍ DÂN CƯ V ÙNG D ÂN TỘC THIỂU S Ố HUY Ệ N ĐÔ N G GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 25
2.1 Khái q uát chu n g v ề huyện Đ ô ng Gia n g, t ỉ nh Quảng Nam 25
2.2 Đánh giá kết quả t h ự c hiện chính sách s ắ p xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số giai đo ạ n 201 3 - 2018 huyện Đ ô ng Gia n g, tỉ n h Q uảng N a m 36
CHƯƠ N G 3 : M Ộ T S Ố GIẢI P HÁP T I ẾP TỤC T H ỰC HI Ệ N C Ó HIỆU QUẢ CHÍNH SÁ C H S ẮP XẾP, P HÂN BỐ D Â N CƯ VÙ N G D ÂN T ỘC T H IỂU S Ố TRONG THỜI GI A N ĐẾN TẠI H UY Ệ N ĐÔNG GI A NG, TỈNH Q UẢ N G NAM 48
3.1 Quan điểm, m ục tiêu th ự c hiện chính s ách sắp xếp, bố trí d â n vùng dân tộc thiểu số tại huyện Đô n g Giang, t ỉ nh Quả n g N am 48
3.2 Một s ố giải p háp t r ọng tâm 49
3.3 Nh ữ ng k i ến nghị, đề xuất 60
KẾT L U ẬN . 63
DANH M ỤC T À I L I ỆU TH A M KH Ả O
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
4 UBMTTQVN Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
5 KT-XH Kinh tế - Xã hội
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Việt Nam là một quốc gia bao gồm 54 dân tộc với ngôn ngữ, lối sống
và văn hoá đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng miền Người Kinh chiếmhơn 86% tổng dân số, và 53 dân tộc còn lại có số dân lớn nhất tiếp theo làTày, Thái, Mường, Khmer, Nùng, Mông và Dao chiếm khoảng 10% tổng dân
số Các nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt các nhóm có dân số ít, tập trung chủyếu ở vùng cao và miền núi, hạn chế trong tiếp cận với cơ sở hạ tầng, chămsóc sức khoẻ, giáo dục và các dịch vụ công Mặc dù tăng trưởng kinh tế khácao trong hai thập kỷ qua, nhưng tỷ lệ đói nghèo hiện vẫn còn rất cao ở vùngnúi và vùng cao, nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Các dân tộc thiểu sốchiếm khoảng gần 14% dân số Việt Nam nhưng có tới trên 50% dân số thuộcdiện nghèo Đồng bào các dân tộc anh em Việt nam đã cùng sinh sống hàngngàn năm và trải qua bao thăng trầm với lịch sử dân tộc, bao biến cố vẫn sonsắt bên nhau một lòng, dù văn hóa, địa lý có cách trở nhưng chân lý cộngđồng dân tộc Việt Nam luôn không đổi Sự thủy chung đó đã giúp các dân tộctin tưởng, tôn trọng, giúp nhau ngày càng gắn bó cùng phát triển đi lên Vùngđồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có vị trí, vai trò hết sức quan trọng vềchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng của quốc gia cũngnhư một địa phương cụ thể nào đó Việc thực hiện đúng các chính sách đốivới vùng này tác động trực tiếp có ý nghĩa quyết định đến chiến lược pháttriển trong từng giai đoạn lịch sử của dân tộc
Trong nhiều năm qua Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sáchđúng đắn đối với vùng dân tộc tạo nên diện mạo mới về định hướng phát triểnchung ở các vùng thành thị, trung du, miền núi Trong những chính sách đó,chính sách về sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số là thực tiễn sinh
Trang 8động nhất đáp ứng nhu cầu thiết thực về chiến lược phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và ổn định chính trị vùng dân tộc thiểu số ởhầu hết các địa phương.
Trong những năm qua, cũng như nhiều địa phương khác, ở huyện ĐôngGiang cũng diễn ra quá trình sắp xếp, bố trị lại dân cư phục vụ quá trình pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước, như xây dựng các côngtrình thủy điện, đường giao thông và nhiều loại hình công trình phúc lợi xãhội khác Do vậy, nghiên cứu chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộcthiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam nhằm khẳng địnhthêm tính đúng đắn chiến lược phát triển của quốc gia cũng như giúp huyệnĐông Giang có thực tiễn cần thiết trong quá trình xây dựng và phát phát củamình trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của 53 dântộc thiểu số dựa trên số liệu điều tra về thực trạng kinh tế xã hội của 53 dântộc thiểu số nhằm xây dựng một bức tranh tổng thể về các dân tộc thiểu sốViệt Nam với đầy đủ các đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục,…Dựa trên các phân tích này, đưa ra một số khuyến nghị chính sách để giảiquyết các vấn đề mà người dân tộc thiểu số đang gặp phải Dân tộc thiểu sốcủa Việt Nam có dân số khoảng 13,4 triệu người, phân bố rải rác ở tất cảcác tỉnh thành trong cả nước, trong đó có những dân tộc có dân số đông, trênmột triệu người và cả những dân tộc có vài trăm người Các dân tộc có sựcách biệt khá lớn về tuổi thọ và tỷ suất tử vong ở trẻ em Kết hôn sớm và hônnhân cận huyết thống là hai vấn đề nổi cộm đối với dân tộc thiểu số Vấn đềnày xuất phát từ nhiều nguyên nhân như trình độ phát triển thấp, địa bàn sinhsống biệt lập, ít cơ hội giao lưu, trao đổi, hội nhập với xã hội bên ngoài, tậpquán kết hôn, định kiến giữa các tộc người; hiểu biết chưa đầy đủ về hậu quả
Trang 9của tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản chophụ nữ dân tộc thiểu số chưa thực sự được lưu tâm Tỷ lệ phụ nữ đến các cơ
sở y tế để khám thai chưa cao và chưa phổ biến ở một số dân tộc, trung bìnhchỉ đạt 70,9% phụ nữ khám thai ít nhất một lần tại các cơ sở y tế Tập quánsinh con tại nhà rất phổ biến ở các dâm tộc thiểu số, mới có khoảng 64% các
ca sinh được thực hiện ở cơ sở y tế trong khi có đến một nửa lựa chọn phươngpháp sinh con tại nhà là chủ yếu Sử dụng các biện pháp tránh thai chưa phổbiến, có đến 23% phụ nữ có gia đình không sử dụng một biện pháp tránh thainào Cá biệt, hơn một nửa phụ nữ dân tộc Mảng không áp dụng biện pháptránh thai Nữ giới nhìn chung thiệt thòi hơn nam giới về nhiều mặt, bao gồm
cả tiếp cận giáo dục, lao động, việc làm Tỷ lệ nữ giới mù chữ cao hơn namgiới, nữ giới có việc làm qua đào tạo cũng thấp hơn đáng kể Sự khác biệt nàykhông giống nhau giữa các dân tộc Có 73,3% các hộ dân tộc thiểu số đã đượctiếp cận đến nguồn nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, tỷ
lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh rất thấp, trung bình chỉ có 27,9% Mặc dù tỷ lệ sử
dụng nước hợp vệ sinh khá cao, nhưng có nhiều dân tộc đại đa số các hộkhông được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh, như Khơ Mú, Chứt, La Ha, LaChí, Lào, Pu Péo
Việc tiếp cận cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc còn khá hạn chế với cácdân tộc thiểu số Khoảng cách từ nhà đến chợ, trường học tương đối xa Tìnhtrạng thiếu đất ở, đất sản xuất của người dân tộc thiểu số sinh sống tại hầu hếtcác địa phương trong cả nước là khá phổ biến Về mặt tiếp cận thông tin, đa
số các hộ tiếp cận thông tin qua kênh tivi, tỷ lệ các hộ có máy tính, Internet,điện thoại chưa nhiều
Thu nhập bình quân đầu người trong nhóm dân tộc thiểu số chỉ bằngkhoảng một nửa so với thu nhập bình quân đầu người trên cả nước Tỷ lệ hộnghèo có sự phân hóa sâu sắc giữa các dân tộc, có dân tộc tỷ lệ hộ nghèo rất
Trang 10thấp như Ngái, Hoa, Chu Ru trong khi có nhóm tỷ lệ nghèo rất cao như Ơ Đu,
Co, Khơ Mú và Xinh Mun
Về mặt giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, mặc dù tỷ lệ người dân tộcthiểu số biết tiếng mẹ đẻ khá cao (96%) nhưng số người biết đến bài háttruyền thống, điệu múa và sử dụng nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình lạirất hạn chế Mai một và mất dần bản sắc văn hóa (pha tạp, biến đổi, biến tháivăn hóa, mất dần ngôn ngữ mẹ đẻ…) truyền thống các dân tộc thiểu số đangngày càng diễn ra ở nhiều chiều cạnh khác nhau, nhất là đối với 16 tộc ngườithiểu số rất ít người gồm: Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, Cống, Mảng,
Bố Y, Lô Lô, Cờ Lao, Ngái
Việc phân tích đặc điểm của các dân tộc thiểu số theo từng khía cạnhnhân khẩu học, điều kiện sống, sinh kế, bình đẳng giới, tiếp cận y tế, giáo dụcđào tạo, cơ sở hạ tầng,… cho thấy các khía cạnh này có liên quan chặt chẽđến nhau, các dân tộc làm tốt một số khía cạnh thường sẽ làm tốt ở các khíacạnh khác Ngược lại, các dân tộc gặp khó khăn ở một số vấn đề cũng thườnggặp hạn chế ở các vấn đề còn lại
Chính sách về đất ở, nhà ở được Đảng, nhà nước sớm quan tâm nhằmhạn chế tối đa tập quán du canh du cư, phát nương làm rẫy một thời gian ngắnsau đó chuyển đến nơi mới để sinh sống hoặc khi dịch bệnh xảy ra gán cho
ma quỷ xua đuổi làm bất ổn định đời sống các vùng dân tộc thiểu số Mặtkhác, nhằm ổn định đời sống, tập trung cho phát triển kinh tế, xã hội giữa cácvùng miền, bảo vệ vững chắc quốc phòng - an ninh và thực hiện thắng lợi khuvực phòng thủ ở mỗi cấp Vì vậy, việc triển khai thực hiện sắp xếp, ổn địnhdân cư đã được thực hiện quyết liệt thông qua chương trình 327/CP, 167/CP,661/CP, Quyết định 135/CP, nhà ở 22/CP cho người có công với cách mạng
và nhiều chính sách của địa phương, chương trình nhà ở tình nghĩa,…đã từngbước cải thiện đáng kể nhà ở cho vùng dân tộc thiểu số, từng khu dân cư hình
Trang 11thành và phát triển ổn định phù hợp với phong tục, văn hóa sinh sống của mỗivùng miền Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, xã hội chưa phát triển, nhiều nơi
hạ tầng giao thông yếu kém, rừng và chủ trương cấm rừng trực tiếp ảnhhưởng đến xây dựng nhà ở cộng với chính sách chỉ mang tính hỗ trợ nên sốkhu dân cư hình thành chưa nhiều, nhà ở thực hiện mang tính tạm bợ, không ởđược lâu, khu dân cư không gắn với sản xuất…Trong thời gian qua, công tácsắp xếp, bố trí nhằm ổn định dân cư vùng dân tộc thiểu số trên phạm vi cảnước được triển khai quyết liệt; nổi bật như vùng Tây Bắc do lũ lụt xẩy rathường xuyên nên chính sách này cũng được quan tâm nhiều hơn nhằm ổnđịnh đời sống nhân dân, kinh tế mới vùng Tây nguyên phát triển nhanhchóng… Với tỉnh Quảng Nam, tại các huyện Nam Trà My, Tây Giang, ĐôngGiang công tác này được chính quyền các địa phương đặc biệt quan tâm, nhờ
có chính sách đúng đắn của tỉnh cũng như nhu cầu lớn trong nhân dân Quađánh giá cho thấy việc sắp xếp, bố trí dân cư tại tỉnh đầu tư rất lớn trong thờigian gần đây và cũng là lĩnh vực thành công trong quá trình thực hiện chínhsách an sinh xã hội
Như vậy, qua tham khảo báo cáo đánh giá tình hình kinh tế, văn hóa, xãhội của các dân tộc năm 2015 cho thấy hầu hết trên nhiều lĩnh vực được điềutra làm rõ để có cơ sở đề xuất chính sách thực hiện đối với từng vùng miềnhay nhóm dân tộc Tuy nhiên, chưa có đánh giá nào dành riêng cho phát triểndân cư, mô hình phát triển dân cư của từng vùng dân tộc thiểu số để từ đó đúckết kinh nghiệm phát triển và thực hiện chính sách bố trí, sắp xếp dân cư phùhợp, có tính thống nhất khi triển khai thực hiện Nguyên nhân của vấn đề này
là việc sắp xếp dân cư còn phụ thuộc vào địa lý, yếu tố văn hóa…có nhữngnơi chú trọng “An cư lạc nghiệp”, có nơi lại xem trọng vấn đề khác của đờisống xã hội Vì vây, để có thể đánh giá chính xác với con số đầy đủ việc thựchiện chính sách bố trí, sắp xếp dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số là việc
Trang 12làm khó.
Trong các nhóm chính sách về miền núi và vùng dân tộc thiểu số, đốivới huyện Đông Giang địa bàn có trên 73% tộc người Cơtu sinh sống; chínhsách nhà ở, đất ở, đất sản xuất, quản lý bảo vệ rừng đã tác động tích cực mộtcách đồng bộ qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Và tính hợp lý đãphản ánh khá đầy đủ qua kết quả xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống, bảotồn văn hóa Sự tác động qua lại giữa các chính sách làm rõ nét hơn khi đánhgiá về mức độ phát triển cũng như tính đúng đắn đối với từng chính sách cụthể Trong những năm qua chính sách bố trí, sắp xếp dân cư vùng đồng bàodân tộc thiểu số được các cấp chính quyền triển khai thực hiện thường xuyênvới quy mô và hình thức khác nhau nên kết quả đem lại rất tốt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, luận văn đi sâu nghiên cứu và thực hiện một sốnhiệm vụ trọng tâm như sau:
+ Hệ thống hoá lý luận về một số nội dung liên quan đến chính sáchcông và cơ sở pháp lý về chính sách phát triển kinh tế, xã hội miền núi; chínhsách cụ thể về bố trí, sắp xếp dân cư vùng dân tộc thiểu số
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách bốtrí, sắp xếp dân cư tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
+ Đánh giá thực trạng triển khai thực hiện chính sách bố trí, sắp xếp
Trang 13dân cư tại huyện những năm qua, trọng tâm là giai đoạn 2013-2018.
+ Đề xuất một số giải pháp và những kiến nghị đối với cấp ủy, chínhquyền các cấp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách bốtrí, sắp xếp dân cư tại huyện Đông Giang trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bố trí, sắp xếp dân cưvùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu nội dung thực hiện chính sách về bố trí, sắp xếp dân cưvùng dân tộc thiểu số hiện hành của Chính phủ, địa phương trên cơ sở tổnghợp, đánh giá, đến so sánh, phân tích hiệu quả và kiến nghị, đề xuất vấn đềcần quan tâm
+ Thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2018
+ Không gian: Nghiên cứu thực hiện chính sách bố trí, sắp xếp dân cưtại 11 xã, thị trấn của huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các nghị quyết của Đảng Cộng sảnViệt Nam, cấp ủy các cấp; nghị định, quyết định của Chính phủ; nghị quyếtHĐND tỉnh và các văn bản quản lý nhà nước đối với chính sách bố trí, sắpxếp dân cư và các chính sách phát triển kinh tế, xã hội miền núi
- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo cứu tài liệu, thống kê, so sánh, phân tích, tổng kết,đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bố trí, sắpxếp dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số chính sách phát triểnkinh tế, xã hội miền núi có liên quan
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đấu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung chính gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dântộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùngdân tộc thiểu số tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục thực hiện chính sách sắp xếp, bốtrí dân cư vùng dân tộc thiểu số tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
Trang 151.1.2 Chính sách công
Cho đến nay,cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là mộtchủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi trên thế giới Từ thực tếchính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như quanhững cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, chúng ta cóthể chọn ra một số cách tiếp cận quan trọng nhất để phân tích trước khi đi đếnmột khái niệm chung nhất về chính sách công
Có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về
chính sách công như sau: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng”.
Trang 161.1.3 Công tác dân tộc
Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dântộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng pháttriển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
cư Thực hiện chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg,
ngày 21/4/2012 của Thủ tướng, khái niệm: Bố trí, ổn định dân cư trong huyện
là hình thức bố trí, ổn định dân cư trong phạm vi một hoặc nhiều xã trên địa bàn của một huyện Từ khái niệm trên có thể hiểu Chính sách bố trí, ổn định dân cư là hình thức tác động của nhà nước về bố trí, ổn định dân cư trong phạm vi một hoặc nhiều địa bàn nhất định.
1.2 Những vấn đề chung về dân cư vùng dân tộc thiểu số
1.2.1 Đặc điểm của dân cư vùng dân tộc thiểu số
Tuy chưa có đánh giá chính xác và cụ thể về dân cư vùng dân tộc thiểu
số phục vụ cho đề tài luận văn này, nhưng quá trình tham khảo và nghiên cứu
Trang 17sơ bộ có thể thấy dân cư vùng dân tộc thiểu số có những đặc điểm sau:
- Một là, thường hình thành ở những địa bàn có vị trí, địa lý phức tạp
gắn liền biên giới đất liền của quốc gia Các dân tộc thiểu số đều có quá trìnhhình thành và cư trú mỗi vùng khác nhau trong quá trình phát triển Trong quátrình nghiên cứu cho thấy họ được di cư từ các nơi khác nhau và trải qua sinhsống nhiều nơi với thời gian khác nhau nhưng hàng trăm năm nay từ khi cácdân tộc sinh sống ổn định phần đông đều sống ở địa bàn có vị trí, địa lý phứctạp, ít có đồng bằng, xa biển khơi như Tây bắc, Tây Trung bộ, Tây nguyên vàchỉ có các dân tộc có chủ quyền riêng trước đây của Nam bộ sinh sống địabàn thuận lợi
- Hai là, sống theo cộng đồng có cùng ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập
quán Cộng đồng 53 dân tộc thiểu số đều có sự phản ánh khác nhau về cộinguồn, văn hóa, địa bàn cư trú của cùng tộc người được phát triển gần giốngnhau về mọi mặt Trong quá trình phát triển mỗi tộc người đều có nét riêng vàđược gìn giữ như tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ cái riêng có đó tạo nênnhững đặc điểm về sự đa dạng, phong phú của dân tộc Việt Nam
- Ba là, có điều kiện kinh tế - xã hội chậm phát triển Xuất phát từ vị trí,
địa lý khác nhau cũng như quá trình hình thành nên điều kiện kinh tế - xã hộimỗi vùng có sự phát triển chênh lệch nhau rất lớn về mọi mặt Đặc biệtkhoảng cách phát triển với dân tộc đa số, vùng đồng bằng Hạ tầng kinh tế -
xã hội lạc hậu, yếu kém, khoa học kỹ thuật chậm ứng dụng, trình độ giáo dụchạn chế, năng lực hợp tác, kết nối kinh tế yếu
- Bốn là, có tinh thần đoàn kết, gắn bó chặt chẽ trong một cộng đồng.
Do chưa phát triển cũng như ảnh hưởng văn hóa cộng đồng sâu sắc nên tinhthần gắn bó cộng đồng rất cao, điển hình là mô hình dân cư, nhà nhiều thếhệ Mặt khác, kinh tế thị trường chi phối chưa lớn nên tinh thần cộng đồngvẫn được giữ gìn trọn vẹn
Trang 181.2.2 Vị trí, vai trò của dân cư vùng dân tộc thiểu số
Xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số làkhâu chuẩn bị trước mọi mặt về vật chất và tinh thần, nhằm mục tiêu giữvững hòa bình, ổn định, ngăn ngừa mọi âm mưu, hành động bạo loạn, gâychiến của các thế lực thù địch; sẵn sàng đập tan và đánh thắng trong mọi tìnhhuống, bảo vệ địa bàn chiến lược, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Vìthế, cần phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trên địa bàn, trong đó có
đồng bào dân tộc thiểu số.
Địa bàn các vùng Tây nguyên, Tây bắc, Tây Nam bộ và cả phía Tây cáctỉnh Trung bộ giáp với các nước Trung quốc, Campuchia, Lào là địa bànchiến lược có vị trí, vai trò quan trọng cả về chính trị, kinh tế - xã hội, quốcphòng - an ninh và đối ngoại không chỉ trong chiến tranh giải phóng dân tộctrước đây, mà còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.Chính vì thế, vùng dân tộc thiểu số là một trong những trọng điểm chống phátrong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, ly khai của các thế lựcthù địch Điều đáng chú ý là, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn có ýthức đoàn kết dân tộc, một lòng đi theo Đảng, đã có những đóng góp quantrọng vào sự nghiệp cách mạng Bên cạnh đó vẫn còn một số ít đồng bào bịnhiễm tư tưởng dân tộc tự trị, ly khai, chia rẽ với người Kinh Đó là hậu quảcủa chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp và các thủ đoạn phá hoại đoànkết dân tộc của đế quốc Mỹ trong thời kỳ xâm lược nước ta cũng như hoạtđộng chống phá của các thế lực thù địch hiện nay; trong đó nổi bật là một bộphận người dân của một số dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, ngườiHmông ở Tây Bắc có tư tưởng ly khai, đòi thành lập nhà nước độc lập trongthời gian trước đây
Từ khi đất nước hòa bình đến nay, nhất là những năm thực hiện côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước, kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc
Trang 19thiểu số đã có bước chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân được cảithiện rõ rệt Tuy nhiên, do lịch sử để lại, ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, kinh
tế chậm phát triển, đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèocao so với bình quân chung của cả nước Kèm theo đó là trình độ dân trí chưađồng đều, các tập tục lạc hậu đã ăn sâu, bám rễ, trở thành nếp sống trong sinhhoạt hằng ngày của đồng bào Lợi dụng điều đó, cùng những yếu kém, sai sótcủa các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc, các thế lực thùđịch ra sức xuyên tạc, kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dântộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn Nguy hiểm hơn, chúng lợidụng một số vấn đề nhạy cảm, như: biên giới, dân tộc và tôn giáo, gây xungđột sắc tộc, tôn giáo, làm mất ổn định an ninh, chính trị ở nhiều khu vực, điểnhình là các vụ biểu tình, bạo loạn vào năm 2001, 2004 và 2008 Hiện nay, vấn
đề dân tộc, tôn giáo đang hết sức nhạy cảm, tiếp tục được các thế lực thù địchlợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, hòng làm suy yếu và cô lập ViệtNam trong quan hệ quốc tế, kích động chống đối ở trong nước và tạo cớ canthiệp từ bên ngoài
Từ thực tế cho thấy, vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số trong xâydựng tiềm lực quốc phòng, phát triển kinh tế, ổn định xã hội có ý nghĩa hếtsức quan trọng, một trong những vấn đề mang tính quy luật, không chỉ có ýnghĩa về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mà quan trọng hơn là bảođảm đời sống người dân, trực tiếp thực hiện tốt các chính sách dân tộc củaĐảng và Nhà nước, góp phần to lớn vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàndân tộc, xây dựng quốc gia cường thịnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Đây làvấn đề chiến lược, vừa mang tính cơ bản, lâu dài, vừa cấp thiết đối với sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc Vì thế, việc phát huy vai trò của đồng bào, dân cư cácvùng dân tộc thiểu số, tạo mọi điều kiện để địa bàn này phát triển kinh tế, xãhội, xây dựng tiềm lực quốc phòng vững chắc là hết sức quan trọng và cần
Trang 20được tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn.
1.2.3 Mục tiêu của việc thực hiện sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân
tộc thiểu số
Thực hiện sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số nhằm cụ thể hóachiến lược phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - anninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong công cuộc đổi mới Tạo điều kiện đểgiữa các vùng có điều kiện phát triển như nhau về mọi mặt, giảm dần khoảngcách giàu, nghèo giữa các vùng miền hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Hỗ trợ sắp xếp, bố trí ổn định dân cư nhằm tránh vùng thiên tai,sống phân tán gặp khó khăn về giao thông, đất ở, đất sản xuất Sắp xếp lại các
hộ dân tại các khu dân cư để đảm bảo sử dụng đất hợp lý, mở rộng các khudân cư hiện hữu để bố trí ổn định dân cư đảm bảo được cuộc sống nơi ở mới
an toàn, bền vững, có điều kiện tốt hơn nơi ở cũ, gắn với đất sản xuất và phùhợp quy hoạch xây dựng nông thôn mới; đảm bảo điều kiện cơ sở hạ tầngphục vụ sản xuất, đời sống và vật chất tinh thần được nâng cao
1.2.4 Nguyên tắc sắp xếp, bố trí dân cư
- Nguyên tắc thực hiện
+ Sắp xếp dân cư phải gắn với đất sản xuất và phù hợp quy hoạch xâydựng nông thôn mới theo hình thức xen ghép là chủ yếu Đối với những khuvực không thể bố trí xen ghép thì mới xem xét xây dựng điểm sắp xếp dân cưtập trung nhưng hạn chế thấp nhất việc san ủi gây sạt lở
Trang 21+ Người dân là chủ thể thực hiện các dự án hạ tầng thiết yếu tại cộngđồng, nhà nước hỗ trợ theo định mức.
+ Đảm bảo phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất; trên cơ
sở nguyện vọng và sự đồng thuận của người dân, cộng đồng dân cư
+ Đảm bảo quỹ đất dự phòng đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số
+ Mỗi hộ dân chỉ được hỗ trợ 01 lần
1.3 Quy trình chính sách sắp xếp, bố trí dân cư
- Quy trình chính sách công
+ Khái niệm: Quy trình chính sách được hiểu là quá trình luân chuyển các giai đoạn từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội Các giai đoạn của quy trình chính sách có liên hệ
chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạntiếp theo và kết quả của giai đoạn trước là thông tin cần và đủ cho giai đoạntiếp theo
Các học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều mô hình về quy trình chínhsách công (Public Policy Process) Về thực chất, khó có thể mô tả quy trìnhchính sách một cách đơn giản và rõ ràng, nó vừa có tính liên tục, vừa có tínhbiến động Quá trình đó là liên tục bởi vì các chính sách của Nhà nước thườngbắt nguồn từ những ý đồ hay quyết định đã tồn tại trong quá khứ, chứ khôngphải từ chỗ không có gì Chính sách không chấm dứt đột ngột, nó luôn là tiền
đề cho những ý tưởng mới hoặc chính sách mới trong tương lai Điều đó cónghĩa là, khó có thể tìm được sự khởi đầu cũng như sự kết thúc của hầu hếtchính sách Quy trình chính sách đồng thời cũng là biến động do tác động củanhiều yếu tố tham gia vào việc tạo ra chính sách Đương nhiên, một số chínhsách hay thay đổi thường xuyên hơn và nhiều hơn một số chính sách khác,nhưng rất khó xác định một chính sách nào đó hoàn toàn ổn định trong mộtthời gian dài Các chính sách cần được xem xét như là nó ở trong một trạng
Trang 22thái tương đối ổn định, chứ không phải là nó xác định một cách vững chắc.
Nghiên cứu chính sách theo quan điểm quy trình cũng có nghĩa là hoạtđộng quản lý Nhà nước thông qua việc ban hành các chính sách công xảy ramang tính thường xuyên, các chính sách này ra đời tiếp theo các chính sáchkhác và trong quá trình đó chính sách công luôn được hoàn thiện, bổ sung.Mặt khác, cách tiếp cận chính sách theo quy trình (chu trình/quá trình) có thểgiúp cho những ai quan tâm đến chính sách có thể tiếp cận ở các góc độ khácnhau của chính sách và do đó dễ dàng tham gia vào quy trình này Đồng thờicác nhà quản lý cũng tự xác định vai trò, vị trí, năng lực và những hoạt độngcần thiết khi tham gia vào từng giai đoạn của quy trình chính sách Họ tự biết
họ phải làm gì, làm như thế nào khi nắm vững bản chất của từng giai đoạn
+ Các giai đoạn trong quy trình chính sách công:
Trên thực tế, tuy các mô hình quy trình chính sách công có khác nhau
về chi tiết, song nhìn chung có thể quy về 3 giai đoạn cơ bản của quy trìnhnày là:
Hoạch định chính sách: Trong giai đoạn này, các chính sách được
nghiên cứu đề xuất để Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai Quá trình
đề xuất chính sách bao gồm việc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác địnhcác mục tiêu mà chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết
để đạt tới các mục tiêu đó Muốn xác định được vấn đề chính sách, cần phảithường xuyên quan sát và phân tích tình hình thực tế để dự báo được nhữngmâu thuẫn cơ bản cần giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xãhội
Thực thi chính sách: Đây là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính
sách công trên thực tế Nói cách khác, đây là giai đoạn vận dụng những giảipháp định trước để đạt được các mục tiêu chính sách Chính trong giai đoạnnày, chính sách được biến thành kết quả thực tế Giai đoạn này bao gồm các
Trang 23hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu quả chínhsách cùng các biện pháp tổ chức thực thi để chính sách phát huy tác dụngtrong cuộc sống.
Đánh giá chính sách: Đây là một giai đoạn quan trọng trong quy trình
chính sách Trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả củachính sách công với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội đạtđược thông qua việc thực thi chính sách trên thực tế
- Thực thi chính sách công
+ Khái niệm: Chính sách được hoạch định ra xuất phát từ yêu cầu kháchquan của thực tế, từ những nhu cầu của xã hội Trải qua rất nhiều thời kỳ, từnăm 1930 đến 1960, các nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tậptrung tìm tòi về việc hoạch định chính sách công Song cho đến tận ngày nay,người ta vẫn khó có thể khẳng định rằng, một chính sách đề ra là tốt hay xấu.Điều đó chỉ có thể được đánh giá bằng thực tế là chính sách đó được xã hộichấp nhận hay không Chỉ có thực tiễn là phán xét chính xác nhất chính sáchnào là tích cực và chính sách nào là tiêu cực Trong thập kỷ 70, các nhànghiên cứu đã chuyển trọng tâm sang giai đoạn thực thi chính sách
Theo nguyên lý triết học, chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệtnên nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại Song muốn thực hiệnđược chức năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vậtchất khác Nghĩa là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai trongđời sống xã hội Do vậy, tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan đểduy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước vàcũng là để đạt mục tiêu đề ra của chính sách Với cách tư duy này có thể điđến khái niệm về tổ chức thực thi chính sách như sau:
Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí củachủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt
Trang 24được mục tiêu định hướng của Nhà nước.
1.3.1 Xác định nhu cầu
Nhu cầu là vấn đề cơ bản và quyết định đến kết quả thực hiện chínhsách Khi nhu cầu phát sinh sẽ xuất hiện những đòi hỏi cá nhân từ đối tượnghưởng lợi Vì vậy, nhu cầu được phát hiện thông qua hoạt động tổng kết, đánhgiá, xem xét, kiến nghị từ chính đối tượng hưởng lợi của chính quyền và cơquan quản lý nhà nước trong quá trình hoạt động của mình Quá trình lãnhđạo kinh tế, xã hội chính quyền cơ sở nhận biết nhu cầu tại địa bàn mình để
đề xuất chính quyền cấp trên nhu cầu mình cần để thực hiện chính sách
1.3.2 Lập kế hoạch
Sau khi phát hiện nhu cầu, chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước cótrách nhiệm xem xét, xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả nhữngđòi hỏi từ đối tượng hưởng lợi Tổ chức triển khai họp dân để xác định chínhxác nhu cầu cụ thể cho từng khu dân cư và đối tượng thụ hưởng cụ thể
1.3.3 Thực hiện kế hoạch
Khi kế hoạch được ban hành, chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước
có trách nhiệm chuẩn bị nguồn lực về kinh tế, con người và các điều kiện cầnthiết khác để tiến hành thực hiện kế hoạch Tổ chức kiểm tra, rà soát đốitượng và sau cùng tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc để kế hoạch thực hiệnđạt như mục đích đề ra Thường xuyên đến gặp gỡ, tạo điều kiện để ngườithục hiện chính sách thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Trang 25họp đúng thành phần, đối tượng để đánh giá rút kinh nghiệm và biểu dương khen thưởng những cá nhân, tập thể thực hiện tốt để nhân rộng điển hình.
1.4 Yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số
1.4.1 Yêu cầu của quá trình thực hiện sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số
Sắp xếp, bố trí dân cư là quá trình phức tạp, đòi hỏi có sự đánh giá,nhận định và quyết định tổ chức thực hiện đúng đắn nhiều vấn đề quan trọngliên quan đến quá trình vận dụng các chính sách, phát huy nội lực, tiềm nănglợi thế đáp ứng các yêu cầu về tính ổn định lâu dài, bảo đảm cho phát triểnKT-XH, Quốc phòng-An ninh, đặc biệt sự phù hợp giữa quy hoạch và vănhóa vùng miền Đáp ứng các yêu cầu cơ bản trên thì chính sách mới thực sự
đi vào cuộc sống, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, giảm dần khoảngcách giữa các vùng miền
1.4.1.1 ính ổn định
Vùng dân tộc thiểu số gắn liền giữa tự nhiên với con người, quá trìnhtồn tại và phát triển lâu đời hình thành nên văn hóa đặc trưng ở mỗi vùng,miền Chính vì vậy, xác định tính ổn định một cách bền vững là vấn đề phứctạp, cho nên về cơ bản tính ổn định chỉ xác định các tiêu chí về văn hóa ổnđịnh không xáo trộn, bảo đảm quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội, môitrường phát triển bền vững đồng thời phải gắn liền với sản xuất ổn định
1.4.1.2 Bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội
Bảo đảm phát triển kinh tế, xã hội là đòi hỏi quyết định trong chiến lượcphát triển đất nước hay một địa phương cụ thể nào đó Có thể trước khi chúng
ta thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nói cách khác
là từ khi mở cửa năm 1986 về trước nhu cầu về phát triển chưa phải tiêu chíquan trọng nhưng đến nay vấn đề phát triển và ý thức đổi mới, phát triển
Trang 26không chỉ trong lý luận của đảng phái, nhà nước, của tổ chức, tập thể, cá nhântrong cộng đồng mà là vấn đề có tính quy luật của xã hội loài người Bảo đảmphát triển kinh tế - xã hội là việc thể hiện cơ bản của sự phát triển bền vững
về kinh tế, xã hội, môi trường Trong giai đoạn hiện nay đối với các vùng dân
cư thiểu số ít nhất đáp ứng tiêu chí về xây dựng nông thôn mới mà biểu hiện
cơ bản về hạ tầng, dân cư, vùng sản xuất Các thành tố trên phải đáp ứng ởmức cơ bản nhất thì có thể được xem là ổn định và trong quá trình vận độngdần dần phát triển thêm về việc làm, thu nhập và nhu cầu tự nhiên khác
1.4.1.3 Bảo đảm Quốc phòng - An ninh
Dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số có diện tích trải dài hầu hết ởcác vùng biên giới đất liền của Tổ quốc Sự trải dài như thế tạo thành tườngrào quốc phòng che chắn các vùng trung du, đồng bằng cả nước Chính vị tríđịa lý, tự nhiên như vậy tạo nên cho vùng này quan trọng trong thế trận quốcphòng, an ninh Lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc
mỹ đã chứng minh vị trí quan trọng của nó, như các hoạt động cách mạngluôn lấy địa bàn miền núi làm khu căn cứ cách mạng, là thành lũy hoạt độngvững chắc của hai cuộc kháng chiến trường kỳ Thực dân pháp chọn MườngThanh, đế quốc mỹ chọn Tây nguyên hay nhiều vùng miền khác của cả nước.Tuy nhiện, cũng xuất phát từ vị trí địa lý cách trở, chia cắt cục bộ nên kinh tế,văn hóa, xã hội chậm phát triển, hạ tầng lạc hậu nhất là hạ tầng kinh tế, kỹthuật, giao thông, giáo dục…Khó khăn, chậm phát triển trở nên yếu tố nhạycảm về chính trị, quốc phòng, an ninh khi nhu cầu đời sống cao, giáo dục yếukém không đáp ứng được dẫn đến dễ bị xúi dục, lôi kéo bằng nhiều hình thứcnhất là vùng khó khăn, có đạo, công tác lãnh đạo, quản lý không tốt Vì vậy,đối với vùng này phải quan tâm chính sách phát triển ổn định, chăm lo đờisống nhân dân về mọi mặt, đẩy mạnh dân trí, bảo về văn hóa, xây dựng tiềmlực quốc phòng, an ninh gắn với nền kinh tế ổn định, phát huy thế trận lòngdân
Trang 271.4.1.4 Sự phù hợp giữa quy hoạch và văn hóa vùng miền
Tuy luật quy hoạch chưa ra đời nhưng trong lãnh đạo, quản lý củaĐảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp đã chú trọng hình thành nênchiến lược phát triển kinh tế, xã hội, phát triển ngành cho từng vùng miền của
cả nước sao cho phù hợp với đặc điểm tự nhiên, văn hóa của từng vùng.Trong công tác quản lý nhà nước hiện nay, từ khi có luật quy hoạch ra đời thìviệc thực hiện quy hoạch trở nên bắt buộc, là nguyên tắc và thậm chí đượcxem như quy luật trong khoa học quản lý Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
có mối quan hệ ràng buộc bởi nhiều thành phần như quy hoạch vùng với hạtầng, hạ tầng với dân cư, vùng sản xuất, thành phần kinh tế ngành,…Vì vậy,
sự phù hợp giữa quy hoạch với văn hóa hay các yếu tố khác luôn phải đồng
hạ tầng phục vụ dân sinh mà nhà nước phải thực hiện nhân dân tham gia đốiứng
1.4.2.2 ếu tố xã hội
Trang 28Thực tế cho thấy cộng đồng các dân tộc thiểu số gắn kết theo dòng tộc,huyết thống là chính, gắn kết theo cộng đồng làng xã có nhưng rất hạn chế ở
đa số các dân tộc Có những tộc người thích nghi với kiểu sinh sống, bố trídân cư phải gắn liền với nương rẫy, địa bàn sản xuất, có tộc người khôngmuốn giao lưu bên ngoài, sự kết hợp dân cư mở rộng đa đân tộc, đa địaphương Vì vậy, để kết hợp cộng đồng lại rất khó khăn, dễ mâu thuẫn nhất làtrong quá trình sản xuất, chăn nuôi, kết quả thực hiện nghĩa vụ
1.4.2.3 ếu tố văn hóa
Sự đa dạng, phong phú về văn hóa các dân tộc thiểu số thể hiện một mặttính thống nhất của nó về ý chí vươn cao, sẵn sàng giao thoa để đón nhận tinhhoa của văn hóa khác đan xen trong cái riêng của mình Mặt khác, chính cáiriêng có của mỗi tộc người làm cho họ bảo thủ, đề cao cái riêng mà khôngchịu hòa nhập Khi thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộcthiểu số yếu tố văn hóa sẽ là vấn đề chính quyền cần quan tâm, khi: có sự giaothoa, cởi mở thị việc thực hiện chính sách dễ dàng, thuận lợi Và, ngược lại,khi cơ cấu dân cư cho một cộng đồng có đan xen các tộc người sẽ nảy sinhviệc xác định mô hình, địa lý lập làng cũng như tránh né ngay từ đầu phảichung sống với dân tộc khác trái ngược văn hóa, tập tục với mình
1.4.2.4 ếu tố con người
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Từ khái niệm trên
cho thấy con người vốn phức tạp trong mối quan hệ giữa người với người,người với quan hệ xã hội khác; các quan hệ này xuất phát từ văn hóa, ứng xử,quan hệ huyết thống, tổ chức sản xuất và quá trình nhận thức Thông thường,những người có cùng huyết thống bao giờ cũng dễ cảm nhận, chia sẻ; cùngcộng đồng dân tộc, nhóm dân cư luôn có sự đoàn kết, tương trợ nên làm việc
gì cũng giúp đỡ lẫn nhau Ngược lại, bảo thủ, đố kỵ việc gì cũng không hưởngứng…
Trang 29Như vậy, vấn đề con người là yếu tố quyết định trong nhiều yếu tố cònlại; nhận thức của chúng ta luôn đi qua mọi rào cản, dù vấn đề khó khăn cùngchung tay làm có khó đến mấy cũng sẽ thành công.
1.4.2.5 ếu tố cơ chế, chính sách, pháp luật
Khi đề cập đến kiến trúc thượng tầng là đang đề cập đến một hình thái
xã hội phát triển, cơ chế chính sách công khai, rõ ràng, minh bạch, xã hộithượng tôn pháp luật Đất nước ta từ khi thành lập năm 1945 đến nay đã trảiqua 5 lần sửa đổi hiến pháp; để phù hợp với tiến trình hội nhập và phát triển
đã hình thành nhiều bộ luật, luật, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điềuchỉnh mối quan hệ xã hội; cùng với năng lực phát triển chính sách trên cáclĩnh vực cũng được ban hành qua đó giải quyết đáng kể nhu cầu của đời sốngnhân dân trên phạm vi cả nước, ở hầu hết vùng miền Đặc biệt, từ khi luật Tổchức Chính phủ, luật Tổ chức chính quyền địa phương và luật ban hành vănbản quy phạm pháp luật ra đời đã phân cấp, phân quyền một cách tương đối
cơ bản, cởi trói năng lực xã hội để có thể nhiếu chính sách không chỉ cấpTrung ương mà địa phương cũng có thể ban hành để tự gải quyết nhu cầu nộitại mà quốc gia không thể giải quyết đến mức cụ thể được Chứng minh điều
đó, ngoài chính sách chung từ trước đến nay Trung ương và địa phương cũngchủ động ban hành nhiều chủ trương, chính sách dành riêng cho miền núi,vùng đồng bào thiểu số như chương trình 327/CP, 661/CP, chương trình135/CP, 134/CP, nghị định 01/CP về công tác dân tộc…Tại địa phương cũng
đã ban hành nhiều chính sách cụ thể hóa mục tiêu phát triển vùng miền, nhưtỉnh Quảng Nam có nghị quyết 05-NQ/TU, nghị quyết 12/2017/NQ-HĐNDcủa HĐND tỉnh và nhiều nghị quyết, quyết định lãnh đạo, quản lý khác
Trong quá trình thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật trên đã tác độngtích cực lên đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân nhất là vùng miền núi, dântộc thiểu số trên lĩnh vực kinh tế, giáo dục, ổn định dân cư Tuy nhiên, do
Trang 30nguồn lực hoặc do đánh giá không thấu đáo tình hình nên còn có chính sáchthực sự khó triển khai, không hiệu quả, nhân dân không hưởng ứng cao;chẳng hạn như nhà nước thu hồi đất đã giao cho nhân dân trồng rừng do dự ánkhông hiệu quả ở một số địa phương, việc hổ trợ làm nhà ở có mức quá thấpnên người dân cứ luân quẩn trong vòng xóa nhà tạm mãi không thoát ly được.
Từ thực tế trên cho thấy cơ chế chính sách, pháp luật có nhiều ưu việt nhưngcũng có mặt hạn chế chi phối lên quá trình hình thành, phát triển dân cư
Tiểu kết chương 1
Thực hiện việc ổn định dân cư có vai trò, vị trí quan trọng trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và vấn đề an sinh kháccủa bất kỳ quốc gia, dân tộc hay một địa phương nào Trong những năm quavới những chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, chính sách sắp xếp, bốtrí dân cư vùng dân tộc thiểu số đã được triển khai thực hiện đồng bộ và quyếtliệt Các quan điểm về dân tộc, chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số đãđược đánh giá, đổi mới đáp ứng nhu cầu phát triển trong tình hình mới; các cơquan bộ ngành từ Trung ương đến địa phương đã vận dụng, thực hiện đúngchủ trương, chính sách về phát triển dân cư góp phần thực hiện tốt công cuộcxóa đói, giảm nghèo từng bước cải thiện đời sống nhân dân vùng đồng bàodân tộc thiểu số
Để thực hiện thành công chính sách này có nhiều vấn đề liên quan cầnhiểu thấu đáo, nhất là đánh giá những kết quả nghiên cứu đã có, các vấn đề vềkhái niệm và lý luận, tình hình thực tiễn của các dân tộc thiểu số tác động đếnquá trình thực hiện chính sách công nói chung và chính sách sắp xếp, bố trịdân cư nói riêng Đây là những nội dung chính được đề cập trong nội dungchương 1 của luận văn
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ DÂN CƯ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN ĐÔNG GIANG,
Vị trí địa lý:
+ Phía Đông giáp: huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng
+ Phía Tây giáp: huyện Tây Giang – Tỉnh Quảng Nam
+ Phía Nam giáp: huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc – Tỉnh Quảng Nam
+ Phía Bắc giáp: huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Địa hình
Địa hình huyện Đông Giang khá phức tạp, phần lớn là núi cao xen kẽvới những thung lũng nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi hệ thống sông suối Độ chênhcao khá lớn, địa hình bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao Cao độ bình quân trên700m, Đông Giang là một trong những huyện có địa hình khá phức tạp
Địa hình huyện miền núi được chia thành 3 vùng rõ rệt:
+ Vùng núi cao: Có độ cao trung bình > 1000m phân bố tập trung tạicác xã A Ting, Tà Lu, Kà Dăng, Zơ Ngây tổng diện tích khoảng 22.597,91 hachiếm 27,81% tổng diện tích tự nhiên
+ Vùng núi có độ cao từ 500 đến 1000m phân bố tại các xã Kà Dăng,
Zơ Ngây, Mà Cooi, Tà Lu, Sông Kôn, Arooi và thị trấn P’rao với tổng diệntích khoảng 38.400,61ha chiếm 47,25% tổng diện tích tự nhiên
Trang 32+ Vùng núi thấp có độ cao < 500m Phân bố tại các xã: Ba, Tư, thị trấnPrao với diện tích chiếm khoảng 24,94% tổng diện tích tự nhiên.
Nhìn chung, với địa hình nói trên việc đầu tư hạ tầng, bố trí sản xuấtnông nghiệp, đất đai, công trình thủy lợi, khu dân cư nông thôn tập trung, giaothông…sẽ rất khó khăn và tốn kém
- Khí hậu
Đông Giang nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa thuộc khu vựcĐông Trường Sơn, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2dương lịch và mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8 dương lịch
- Lượng mưa:
Huyện Đông Giang mùa mưa thường kéo dài từ tháng 9 đến tháng 02dương lịch, lượng mưa lớn thường tập trung vào tháng 10, tháng 11, tháng 12dương lịch chiếm 70 – 80% lượng mưa cả năm và mùa mưa lũ
- Gió:
Trong mùa mưa xuất hiện gió mùa Đông Bắc tạo ra những tiểu vùngkhí hậu khác nhau Do ảnh hưởng của không khí lạnh từ vùng núi Bạch Mã vàvùng Bà Nà nên thời tiết huyện Đông Giang thường rét lạnh kéo dài, ảnhhưởng đến thời vụ sản xuất và điều kiện sinh trưởng phát triển của cây trồng.Trong mùa khô xuất hiện gió mùa Tây Nam vào giữa tháng 6 đến tháng 7dương lịch (từ giai đoạn tiết Hạ chí đến Đại thử) thường hay có những đợt giókhô nóng từ Lào thổi qua Mức độ tác động của gió Lào ảnh hưởng đến các xãkhác nhau
Khí hậu huyện Đông Giang là vùng khí hậu nhiệt đới có độ ẩm lớn, tạođiều kiện đa dạng với các loại cây trồng, thuận lợi cho việc sinh trưởng vàphát triển cây trồng cũng như con vật nuôi Tuy nhiên, khó khăn nhất đối vớihuyện là lượng mưa lớn tập trung theo mùa, gây ảnh hưởng đến sản xuất nôngnghiệp và sinh hoạt nhân dân Đặc biệt có các tiểu vùng khí hậu khác nhau
Trang 33nên khó bố trí cây trồng, vật nuôi như những vùng khác Mưa lũ gây sạt lỡ,gây xói mòn đất, hư hỏng các công trình thủy lợi, giao thông…xảy ra thườngxuyên.
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
Căn cứ bản đồ thổ nhưỡng huyện Hiên (trước đây) tỷ lệ: 1/25.000 năm
1978, trên địa bàn huyện Đông Giang có 09 nhóm đất chính, Tài nguyên đấtkhá phong phú với 09 nhóm đất chính, trong đó nhóm đất đỏ chiếm trên 69%tổng diện tích đất tự nhiên Các nhóm đất khác như đất nâu tím trên đá sét(chiếm 15,21% diện tích tự nhiên), đất phù sa sông suối (1,97%), đất vàngnhạt (4,80%) có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ đến trung bình, độdốc lớn > 25% chiếm đa số, do vậy nó phù hợp với nhiều loại cây như: ănquả, lúa, chuối, ngô, rau, đậu…
* Đất sản xuất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp: 4.225,58 ha, chiếm 6,04% tổng diện tích đấtnông nghiệp của huyện Trong đó: đất trồng cây hằng năm là 3.081,08 ha,chiếm 4,37% đất trồng cây lâu năm là 1.174,50 ha, chiếm 1,67%
Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm: 2.352,75 ha, các loại cây trồngđều không chủ động nguồn nước và thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh táccòn hạn chế nên năng suất và sản lượng không cao
- Đất lâm nghiệp có rừng: 66.175ha, chiếm 81,43% tổng diện tích tự
nhiên
+ Đất rừng sản xuất:
Diện tích 19.132,80 ha, phân bố ở hầu hết các xã, trong đó tập trungnhiều nhất ở xã Ba, Tư, Jơ Ngây Chia ra thành: đất có rừng tự nhiên sản xuất9.180,94 ha, đất có rừng trồng sản xuất 3.960,71 ha, đất khoanh nuôi phục hồirừng sản xuất: 5.220,55 ha và đất trồng rừng sản xuất 770,60 ha
Trang 34+ Đất có rừng tự nhiên sản xuất: 9.180,94 ha, chiếm 13,87% diện tíchđất nông nghiệp Phân bố tập trung nhiều ở xã: Ba, A Ting, Mà Cooih, Prao,
Za Hung, rừng ở đây có nhiều chủng loại động thực vật khá phong phú, hiện
có nhiều loại cây gỗ quý như Kiền kiền, gõ, lim với trữ lượng gỗ lớn
+ Đất có rừng trồng sản xuất: 3.960,71 ha, chiếm 5,98% diện tích đấtlâm nghiệp Phân bố hầu hết ở các xã, tập trung nhiều ở xã Ba, Jơ Ngây, Tư,
A Ting, cây trồng chủ yếu là keo lá tràm, một số nơi trồng quế
+ Đất khoanh nuôi phục hồi sản xuất: 5.220,55 ha, chiếm 7,88% diệntích đất lâm nghiệp, tập trung chủ yếu ở xã Jơ Ngây, Tư, Sông Kôn
+ Đất trồng rừng sản xuất: 770,60 ha, diện tích phân bố ở thị trấn Prao,
xã Jơ Ngây và Sông Kôn, cây trồng chủ yếu là keo lá tràm
+ Đất rừng phòng hộ:
Diện tích 36.820,70 ha, phân bố tập trung ở xã Mà Cooih, Kà Dăng, Tư
và rải rác ở các xã còn lại Trong đó: Đất có rừng tự nhiên phòng hộ26.036,62 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 10.784,08 ha
+ Đất có rừng tự nhiên phòng hộ: chiếm 39,33% diện tích đất lâmnghiệp tập trung nhiều nhất ở xã Mà Cooih, Kà Dăng,Tư, thị trấn Prao: 123
ha Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ: chiếm 16,29% diện tích đất lâmnghiệp
+ Đất rừng đặc dụng:
Diện tích 10.247,00 ha, chiếm 15,48% diện tích đất lâm nghiệp Đây làdiện tích thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, vườn Quốc gia Bạch Mã vàkhu bảo tồn thiên nhiên Sao La, phân bố ở các xã Tà Lu, Sông Kôn, A Ting,
Ba, Tư Trong đó: Đất có rừng tự nhiên đặc dụng 90.775,10 ha, đất có rừngtrồng đặc dụng 147,20 ha, Đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng 324,70 ha
* Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt trên địa bàn từ các sông, suối Nước mặt thay đổi theo
Trang 35mùa Mùa mưa nguồn nước dồi dào, mùa khô nguồn nước thấp nên nướckhông ổn định Địa bàn Huyện có các con sông như: sông Vàng, sông Kôn,sông A Vương…
Nguồn nước ngầm thay đổi theo cấp độ địa hình Nguồn nước này chưađược khai thác nhiều Người dân đa số sử dụng nước sinh hoạt từ nước tựchảy qua hệ thống bể lọc Trong tương lai khi nguồn nước ngầm được khaithác, địa phương sẽ có nguồn nước dồi dào, đáp ứng cho sinh hoạt và tưới tiêucho cây trồng nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp
* Tài nguyên rừng
- Huyện nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió ẩm gió mùa, lượng mưa
lớn nên rừng phát triển mạnh, thường xanh quanh năm có nhiều loại gỗ có giátrị kinh tế cao như: Chò, Giỗi, Lim, Sơn Đào, Kiền Kiền và các cây dược liệuquý như Ba Kích và các lâm sản phụ như song, mây các loại động vật như:Nai, Mang, Heo rừng, Sơn Dương, Nhím Tỷ lệ che phủ rừng được giữ vững
và có xu hướng tăng lên Tài nguyên rừng phong phú và đa dạng về số lượngchủng loài, là nơi chứa nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm mang tính đadạng sinh vật học có giá trị và ý nghĩa phục vụ cho công tác nghiên cứu khoahọc
Nhìn chung, công tác quản lý được thực hiện, tình trạng khai thác rừngdiễn ra ít Các loại cây gỗ quý trữ lượng gỗ khá lớn, rừng nguyên sinh và pháttriển tốt Việc xây dựng một số nhà máy thuỷ điện, đường dây điện, giaothông đã sử dụng một số diện tích đất rừng phòng hộ
* Tài nguyên khoáng sản
Huyện Đông Giang có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, đadạng về chủng loại, đặc biệt có nhiều loại khoáng sản có tính năng, công dụng
và giá trị rất cao, phân bổ ở hầu hết các xã trong huyện Các loại khoáng sảnquý hiếm như: Vàng, vàng sa khoáng, than đá, đá xây dựng, thiếc, kaolin, sắt
Trang 36tập trung tại các xã: Ba, Tư, Sông Kôn, A Ting, Kà Dăng, Mà Cooih; nướckhoáng ở Sông Kôn; nguyên liệu chịu lửa, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xâydựng ở thị trấn Prao…
Hiện nay một số điểm khoáng sản đã và đang khai thác như vàng PhuNếp, một số điểm khai thác đang lập hồ sơ trình UBND tỉnh cấp phép hoạtđộng
2.1.3 Dân số và lao động ngành nông nghiệp
2.1.2.1 Dân số
- Dân số 26.635 khẩu, 6.372 hộ (năm 2017), mật độ dân số 30người/km2 Tốc độ tăng dân số là 1,63% giai đoạn 2010-2015 Mật độ dân số
cư trú cao hơn so với huyện Nam Giang, Tây Giang…
- Dân cư phân bố thưa, không đồng đều, tập trung đông ở thị trấn và xã
Ba do ở đây là hai khu vực buôn bán và trao đổi hàng hóa lớn của huyện
- Nhà ở dân cư xây dựng dọc hai bên tuyến Quốc lộ 14G và 1 đoạnđường Hồ Chí Minh qua thị trấn, còn lại là các điểm dân cư có quy mô nhỏphân bố rãi rác thành các cụm dân cư (thôn) trong các xã
- Tỷ lệ dân số phân bố ở khu vực nông thôn chiếm: 81,42%, dân số ở
đô thị chiếm: 18,58% Như vậy, người dân chủ yếu sống ở nông thôn và gắn
bó với ngành nông lâm nghiệp là chủ yếu Tỷ lệ đô thị hóa theo thống kê chỉ ởmức 18,58%
- Cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc: có 06 dân tộc sinh sống, trongđó: dân tộc Cơ tu chiếm 73,21%, dân tộc Kinh chiếm 26,39%, còn lại là dântộc Mường, Thái, Tày, Mnông, Hre, Cadong
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi: từ 15 - 49 tuổi: 12.446 người, đây lànguồn nhân lực quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyệnhiện tại và trong những năm đến Độ tuổi trẻ em từ 0 - 14 tuổi chiếm tỷ trọnglớn: 9.295 độ tuổi > 60 tuổi: 1.803 người
2.1.2.2 Lao động nông nghiệp