1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚCNGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

35 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 315,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và cả trí tuệ.

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ

Đề tài:

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC

NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Họ và tên nhóm Giáo viên môn học Lớp

: : :

TS Ninh Thị Thu Thủy K37.QLK.QNA

Quảng Nam, tháng 11 năm 2019

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, đầu tư ra nước ngoài là xu hướng tất

yếu của các nước trên thế giới Đó không chỉ là đặc quyền của các nước có nền kinh

tế phát triển, có tiềm lực tài chính mạnh, có khoa học công nghệ hiện đại, có trình

độ quản lý tiên tiến mà ngay cả đối với các nước có nền kinh tế đang và kém phát

triển thì dòng đầu tư ra cũng đã phát triển một cách mạnh mẽ Sự tham gia của các

nước đang phát triển làm phong phú, đa dạng thêm môi trường hoạt động đầu tư

quốc tế Vịêt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó, trong những năm gần đây,

hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Vịêt Nam ngày càng

phát triển, không chỉ đầu tư sang các nước đang và kém phát triển mà còn đầu tư

sang các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Pháp… Hoạt động đầu tư

ra nước ngoài giúp doanh nghiệp khai thác được những lợi thế cạnh tranh cũng như

có thể vượt qua các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư để có thể mở rộng thị

trường sản xuất, tạo điều kiện thu được nhiều hiệu quả hơn từ hoạt động sản xuất

kinh doanh

Vậy Việt Nam đã có những chính sách quản lý đầu tư ra nước ngoài như thế

nào? để tạo môi trường thuận lợi khuyến khích doanh nghiệp Để nhìn nhận một

cách cụ thể hơn về vấn đề nãy cũng như để nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư ra

nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trước quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế Em đã quyết định chọn đề tài: “Chính sách quản lý hoạt động đầu tư ra nước

ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.”.

Trang 3

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC

NGOÀI

1 Những vấn đề lý luận chung

1.1 Khái niệm đầu tư và đầu tư ra nước ngoài

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các

hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các

nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy mục tiêu của mọi công

cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà

người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư Nguồn lực hy sinh có thể là tiền,

là tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và cả trí tuệ

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hoạt động đầu tư không

ngừng được mở rộng và chiếm vị thế ngày càng quan trọng Đầu tư không còn bó

hẹp trong phạm vi một quốc gia mà mở rộng trên phạm vi toàn thế giới Sự ra đời

và phát triển không ngừng của đầu tư nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình

quốc tế hoá và phân công lao động quốc tế Chính vì lẽ đó, đầu tư nước ngoài có rất

nhiều cách hiểu Dưới đây là một khái niệm khá phổ biến

Theo hiệp hội luật quốc tế (1966) “ Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ

nước của người đầu tư sang nước sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh

doanh hoặc dịch vụ.”

1.2 Các hình thức đầu tư ra nước ngoài

1.2.1 Đầu tư gián tiếp (FPI)

a Khái niệm

Đầu tư nước ngoài gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần,

cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua

các định chế tài chính trung gian khác mà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý

hoạt động đầu tư

b Đặc điểm của đầu tư nước ngoài gián tiếp

- Chủ đầu tư nước ngoài không kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh

doanh

- Vốn đầu tư là của tổ chức quốc tế thường đi kèm với các điều kiện ưu đãi

Trang 4

và gắn chặt với thái độ chính trị của chính phủ và tổ chức quốc tế khác Còn nếu

vốn đầu tư là của tư nhân thì bị giới hạn bởi tỷ lệ góp vốn theo luật đầu tư của nước

sở tại, thường từ 10% - 25% vốn pháp định

- Chủ đầu tư nước ngoài kiếm lời qua lãi suất cho vay hay lợi tức cổ phần

- Vốn đầu tư được phân tách trong vô số cổ đông và trái phiếu, nên chủ đầu

tư có thể phân tán được rủi ro trong kinh doanh, hay độ rủi ro của đầu tư nước ngoài

gián tiếp là thấp

c Các hình thức đầu tư gián tiếp

- Viện trợ không hoàn lại: các chính phủ, các tổ chức tài chính, kinh tế xã hội

của các nước thông qua các chương trình viện trợ không hoàn lại để giúp đỡ các

nước chậm phát triển chẳng hạn như chương trình xoá đói giảm nghèo, chương

trình nước sạch, chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc, …của Việt Nam hiện

nay, chương trình lương thực của thế giới

- Viện trợ quốc tế có hoàn lại: chủ đầu tư, cũng giống như ở trên song các

nước chậm phát triển phải đi vay có hoàn lại với lãi suất thấp hơn

- Các doanh nghiệp tư nhân của nước này cho các doanh nghiệp của nước

khác vay thông qua bán chịu hàng hoá với giá cao hơn giá theo quan hệ mậu dịch

thông thường, hay là việc các cá nhân nước ngoài bỏ tiền mua trái phiếu của chính

phủ, cổ phiếu của các công ty để hưởng tiền lãi

1.2.2 Đầu tư trực tiếp (FDI)

a Khái niệm

Đây là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua một

phần , thậm chí toàn bộ cơ sở kinh doanh nước ngoài để làm chủ sở hữu toàn bộ hay

một phần cơ sở đó Trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành

hoạt động đối với đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Chịu trách nhiệm theo mức sở

hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của cơ sở đó

b Đặc điểm

- Chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định,

tuỳ theo luật đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận đầu tư quy định Quyền sở hữu

vốn và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư

- Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của mỗi bên Với

Trang 5

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý doanh

nghiệp

- Lợi nhuận nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất

kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc thành lập doanh

nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sáp

nhập các doanh nghiệp với nhau

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn

gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo

ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía tiếp nhận đầu tư Vốn FDI không chỉ

bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà nó

còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như

vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh

quốc tế của các công ty đa quốc gia

- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ

nhà và ít chịu sự chi phối của chính phủ cũng như các quan hệ chính trị giữa chủ

đầu tư với chính phủ nước tiếp nhận đầu tư

c Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu

- Doanh nghiệp lien doanh: là doanh nghiệp được thành lập ở nước chủ nhà

giữa các bên nước chủ nhà và nước ngoài trong đó các bên cùng góp vốn, cùng kinh

doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ góp vốn

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà

đầu tư nước ngoài, do người nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và

chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh ( hợp đồng BBC) là hình thức đầu tư được ký

giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản

phẩm mà không thành lập pháp nhân

- Hợp đồng xây dựng- kinh doanh – chuyển giao (hợp đồng BOT) là hình

thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây

dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định, hết thời

Trang 6

hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước tiếp nhận đầu

- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh ( hợp đồng BTO) cũng có

đủ ba quá trình như hợp đồng trên nhưng có sự hoán đổi vị trí ở hai quá trình sau,

thời gian kinh doanh đủ để nhà đầu tư thu hồi vốn và một phần lợi nhuận

- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao ( hợp đồng BT), sau khi xây dựng chính

phủ sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư

và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng

2 Các nhân tố thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài

2.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

Các chuyên gia kinh tế cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của

vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn

một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn

đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi thừa sang nơi hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận Vì

chi phí sản xuất của cá nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn Tuy

nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên

cao mới được các doanh nghiệp tự sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng

là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng

suất cận biên thấp

2.2 Chu kỳ sản phẩm

Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ

sống của sản phẩm này bao gồm ba giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới;

giai đoạn sản phẩm chính muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hoá Akamatsu Kaname

cho rằng, sản phẩm mới ban đầu được phát minh ở nước đầu tư, sau đó mới xuất

khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm

nhu cầu trên thị trường của người bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển

sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn,

kỹ thuật của nước ngoài ( giai đoạn sản phẩm chin muồi) Khi nhu cầu trên thị

trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại

xuất hiện ( giai đoạn sản phẩm chuẩn hoá) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và

do đó dẫn đến sự hình thành FDI Khi sản xuất ra một sản phẩm đạt tới giai đoạn

Trang 7

chuẩn hoá trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có

rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh

giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới việc cắt giảm

chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang

những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn

2.3 Các lợi thế đặc thù của công ty đa quốc gia

Các công ty đa quốc gia có lợi thế đặc thù ( chẳng hạn năng lực cơ bản) cho

phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ

chọn nơi nào có các điều kiện ( lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy

các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn

và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và

thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng…ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này

2.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là môt biện pháp để tránh xung đột thương mại

song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật

Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan

hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp tại các thị

trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và Châu Âu, để giảm xuất

khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ

ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu

2.5 Có đội ngũ chuyên gia và công nghệ

Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển sang nước kém phát

triển hơn mà chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích

cực đầu tư vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, các công ty ô tô

của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người

Mỹ Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉ có Nhật đầu tư vào

Mỹ, các nước công nghiệp khác cũng có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây

đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ Việc các công

ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính

xách tay của công ty đa quốc gia quốc tịch Mỹ là MBI được xem là một chiến lược

Trang 8

để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của MBI Hay việc TCL

( Trung Quốc) trong sát nhập với Thompson ( Pháp) thành TCL- Thompson

Electronics cũng với chiến lược như vậy

2.5 Có nguồn tài nguyên thiên nhiên

Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào

những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn song đầu tư trực tiếp ra nước

ngoài lớn đầu tiên của Nhật vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung

Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự

2.6 Chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư của nhà nước

Chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư của nhà nước có vai trò quan

trọng trong việc công khai, minh bạch và đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan

đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà

đầu tư

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 Khái quát thực trạng đầu tư ra nước ngoài của DNVN giai đoạn 1989

Trang 9

đến nay

Thực hiện chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ cũng đã

ban hành nhiều chính sách thúc đẩy, hỗ trợ quản lý hoạt động đầu tư ra nước

ngoài nhằm mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp (DN) Việt

Nam ra nước ngoài, để nâng cao năng lực cạnh tranh và phù hợp với xu thế hội

nhập

Sau hơn 30 năm hội nhập và phát triển, đến nay, Việt Nam không chỉ là một

quốc gia tiếp nhận đầu tư hàng đầu trong khu vực, mà còn vươn lên, trở thành

quốc gia có nhiều DN, dự án đầu tư ra nước ngoài Hoạt động đầu tư ra nước

ngoài của Việt Nam ngày càng đa dạng, thể hiện rõ nét qua thị trường, ngành đầu

tư, quy mô, hình thức đầu tư, các loại hình kinh tế và DN tham gia đầu tư Theo

Cục Ðầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Ðầu tư), năm 2018, DN Việt Nam đã

đầu tư sang 35 quốc gia và vùng lãnh thổ với 149 dự án được cấp phép giấy

chứng nhận đầu tư mới, tổng vốn hơn 376 triệu USD, cùng 35 dự án điều chỉnh

vốn với tổng số vốn tăng thêm 56 triệu USD Tính chung cả năm 2018, tổng vốn

đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt hơn 432 triệu

USD

Lũy kế từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài hơn 22 tỷ

USD với các lĩnh vực thế mạnh của Việt Nam là nông nghiệp, lâm nghiệp, năng

lượng và viễn thông Trong đó, tập trung tại các nước như Lào, Campuchia và

Myanmar với vốn đầu tư chiếm gần 40% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của DN

Việt Nam

Trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng vốn đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài

cấp mới và tăng thêm, đạt 183 triệu USD Trong đó, có 55 dự án được cấp giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư mới, với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam đạt 98,3 triệu

USD Có 14 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với vốn đầu tư Việt Nam tăng

thêm là 84,8 triệu USD Xét theo lĩnh vực, hoạt động khoa học công nghệ dẫn

đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký mới và tăng

thêm đạt 81,9 triệu USD, chiếm 44,7% tổng vốn đầu tư; Tiếp đó là lĩnh vực ngân

hàng với 37,1 triệu USD và chiếm 20,3% tổng vốn đầu tư; Lĩnh vực thông tin và

truyền thông với gần 31 triệu USD, chiếm 16,9% tổng vốn đầu tư…

Trang 10

Xét theo địa bàn đầu tư, 6 tháng đầu năm 2019, Việt Nam đã đầu tư sang 25

quốc gia, vùng lãnh thổ Không còn tập trung vào các địa điểm đầu tư truyền

thống hàng đầu như Lào, Campuchia như trước đây, Tây Ban Nha là địa bàn dẫn

đầu về vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, với 1 dự án quy mô vốn đạt 59,8

triệu USD, chiếm 32,7% tổng vốn đầu tư Hoa Kỳ xếp thứ 2 với tổng vốn cấp

mới và tăng thêm là 44,3 triệu USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư Campuchia

xếp thứ 3 với tổng vốn đầu tư 38 triệu USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư

Kinh doanh hiệu quả ở nước ngoài sẽ là đòn bẩy để ngày càng nhiều DN

Việt Nam tiếp tục đầu tư ra nước ngoài Thực tế cho thấy, không chỉ Cuba, Lào

hay Campuchia, thời gian gần đây, các DN Việt Nam đã từng bước mở rộng thị

trường đầu tư Không bó hẹp ở châu Á, DN Việt Nam còn mở rộng địa bàn sang

cả Australia, New Zealand, Mỹ, Canada, Haiti, Cameroon… Để đón đầu cho

dòng vốn đầu tư này, hàng loạt ngân hàng Việt Nam đã “theo chân” DN Việt ra

nước ngoài, BIDV, VietinBank, Sacombank, MB, SHB…

Trong số các quốc gia tiếp nhận đầu tư từ các DN của Việt Nam, Lào và

Campuchia là những nước có số lượng dự án và tổng số vốn cam kết đầu tư lớn

nhất Trong quá trình đầu tư đó, các DN Việt Nam gặp nhiều thuận lợi về sự gần

gũi giữa các quốc gia, quan hệ ngoại giao hữu nghị tốt đẹp, được sự ủng hộ của

chính quyền nước sở tại… nên hoạt động đầu tư đã mang lại được nhiều kết quả

khả quan, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, cộng

đồng tiếp nhận đầu tư, cũng như đóng góp trở lại cho nền kinh tế Việt Nam

Các tập đoàn, công ty lớn đầu tư ra nước ngoài của Viêt Nam bao gồm:

- Tổng công ty Sông Đà, Công ty Cổ phần Điện Việt Lào với dự án thủy

điện Xekaman 1 nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa hai Chính phủ Lào và Việt

Nam về hợp tác phát triển năng lượng điện và mỏ đã xây dựng xong và bàn giao

khu tái định cư Souksavang-Dakbou tại huyện Sansay, tỉnh Attapue, Nam Lào

- Tập đoàn TH và Matxcơva (Liên bang Nga) với thỏa thuận hợp tác để

triển khai Dự án Chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp

công nghệ cao, vốn đầu tư 2,7 tỷ USD

- Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel: với các dự án phát triển mạng viễn

thông ở Campuchia, Lào, Mozambique, Haiiti, Tanzania và tham gia đấu thầu

Trang 11

vào thị trường viễn thông Myanmar Công ty cung cấp dịch vụ điện thoại di động

Bitel, chi nhánh Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel của Việt Nam tại Peru…

- Công ty sữa Vinamilk chuyên bán buôn nguyên liệu nông nghiệp cũng

như bán buôn bán lẻ sữa, các chế phẩm từ sữa Dự án đã và đang được triển khai

tại Ba Lan với tổng mức đầu tư 3 triệu USD Công ty này cũng đang mở rộng

quy mô đầu tư bằng cách đẩy mạnh mua bán và sát nhập (M&A) dồn vốn cho

các dự án đầu tư ra nước ngoài để gia tăng nhanh năng lực cung cấp

-Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, công ty cao su Đắk Lắk với dự án

trồng cây cao su ở Lào

- Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai cũng với dự án trồng cây cao su và sản xuất

mía đường ở Lào

- Tập đoàn Hóa chất Việt Nam với dự án khai thác và chế biến muối mỏ

Kali tại tỉnh Khammuon của Lào

- Tập đoàn FPT với dự án triển khai hạ tầng và cung cấp dịch vụ viễn thông

NFS(I) - Network Facilities Service-Individual đã được Bộ Truyền thông và

Công nghệ Thông tin Myanmar cấp giấy phép và trở thành doanh nghiệp nước

ngoài lần đầu tiên được phép cung cấp dịch vụ viễn thông

- Công ty Phần mềm FPT (FPT Software) đã mở công ty con FPT Software

Philippines đặt tại khu Công nghệ thông tin Cebu, Philippines Trong chiến lược

phát triển dài hạn, doanh nghiệp này kỳ vọng FPT Software Philippines sẽ trở

thành một trung phát triển dịch vụ có quy mô nhân lực và năng lực công nghệ

tương đương các trung tâm lớn khác tại Việt Nam

- Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai với sự mở rộng đầu tư vào dự án phức hợp

tổ hợp khách sạn văn phòng nhà ở cao cấp ở Myanmar với mức đầu tư 440 triệu

USD

2.2 Thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước

ngoài (ĐTRNN ) ở Việt Nam

2.2.1 Chính sách quản lý trong thực hiện thủ tục hành chính liên quan

đến ĐTRNN

Sự khởi sắc của hoạt động đầu tư ra nước ngoài thời gian qua là nhờ việc

chuẩn hóa thủ tục đầu tư và việc hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với bối

Trang 12

QL nhà đầu tư tại địa bàn

QL về chuyên môn của ngành

Hỗ trợ DA ở nước ngoài

QL ngoại hối, tín dụng

QL thuế, tài chính

cảnh mới Theo đó, vừa giúp cơ quan quản lý nhà nước tăng cường hiệu lực quản

lý với các dự án ngoài lãnh thổ Việt Nam Cụ thể như sau:

a Cơ quan quản lý hoạt động ĐTRNN:

Hình 2.1 Mô hình quản lý tương tác đối với các dự án có vốn ĐTRNN

Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định 78/2006/NĐ- CP

Với một dự án ĐTRNN, bên cạnh việc chịu sự quản lý chính từ Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, nhà đầu tư còn phải chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước

(khi thực hiện vay, mua hoặc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài), Bộ Tài chính

(trong lĩnh vực khai, nộp các loại thuế liên quan), Bộ Công thương (trong việc

xuất nhập khẩu hàng hóa, thiết bị nhằm phục vụ hoạt động của dự án), Ủy ban

Nhân dân tỉnh, thành phố (nhằm mục đích quản lý hành chính tại địa bàn nơi nhà

đầu tư có trụ sở kinh doanh chính), và các Bộ Ngoại giao, Bộ quản lý chuyên

ngành

b Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT):

Hiện nay, tất cả các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đều phải được cấp

phép đầu tư, và Bộ KH&ĐT là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm cấp Giấy chứng

Trang 13

nhận đầu tư (theo Luật Đầu tư 2014 là GCN đăng ký đầu tư) cho các doanh nghiệp.

Để tạo điều kiện cho nhà đầu tư, cũng như nhằm mục đích quản lý hiệu quả dòng

vốn chảy ra nước ngoài, Bộ KH&ĐT tiến hành phân loại các dự án, từ đó đưa ra

quy trình thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư phù hợp với từng loại Cơ sở để Bộ

KH&ĐT tiến hành phân loại là dựa trên: (i) Tính chất và độ nhạy cảm của dự án;

(ii) Quy mô vốn đầu tư; (iii) Chủ sở hữu vốn đầu tư

Các dự án về dầu khí có Nghị định quản lý riêng vì đây là loại tài sản chiến

lược của quốc gia, thủ tục cũng thực hiện tương tự như đối với các dự án đầu tư

trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, song quy mô vốn đòi hỏi gấp nhiều lần so với

các dự án trong lĩnh vực khác

Bảng 2.1 sẽ cho thấy rõ hơn về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư đối

với các dự án ĐTRNN ở Việt Nam hiện nay (theo Luật Đầu tư năm 2005 và Luật

Đầu tư năm 2014) Rõ ràng trong Luật Đầu tư mới đã có một sự thay đổi đáng kể về

tư duy và phương pháp quản lý đối với hoạt động ĐTRNN Nếu như Luật Đầu tư

năm 2005 quy định khá nhiều trường hợp thẩm quyền khá rối rắm thì Luật Đầu tư

năm 2014 chủ trương đơn giản hóa thủ tục, trong đó, tôn trọng quyền tự do kinh

doanh của DN khi không phân biệt nguồn vốn từ nhà nước hay vốn ngoài quốc

doanh Đối với nhiều dự án quy mô vốn nhỏ, nhà đầu tư tự quyết định đầu tư và tự

chịu trách nhiệm trước kết quả đầu tư kinh doanh của mình NĐT chỉ cần đăng ký

với Bộ KH&ĐT để được cấp Giấy chứng nhận kinh doanh Đây là bước chuyển cơ

bản để thúc đẩy quá trình tự do hóa về ĐTRNN sau này

Bảng 2.1 Thẩm quyền cấp GCNĐT đối với các DA ĐTRNN

theo Luật Đầu tư 2005 và Luật Đầu tư 2014

Dầu khí ≥ 5.000

Lĩnh vực đầu tư

có điều kiện (**)

≥ 400 (không phân biệt nguồn sở hữu)

Lĩnh vực đầu tư

có điều kiện (*)

≥ 150

Lĩnh vực khác ≥ 300 Thành

phần kinh tế khác

Dầu khí ≥ 8.000

Lĩnh vực khác

≥ 800 (không phân biệt nguồn sở hữu)

Lĩnh vực đầu tư

có điều kiện (*)

≥ 300 Lĩnh vực khác ≥ 600

Trang 14

3 Bộ KH&ĐT

cấp

Nhà nước

Dầu khí < 5.000 Lĩnh vực đầu tư

có điều kiện (**) (Nhà đầu tư tự ra quyết định đầu tư)

< 400 (không phân biệt nguồn sở hữu)

Lĩnh vực đầu tư

có điều kiện (*)

< 150 Lĩnh vực khác < 300

Thành phần kinh tế khác

Dầu khí Lĩnh vực khác

(Nhà đầu tư tự ra quyết định đầu tư)

< 800 (không phân biệt nguồn sở hữu)

Lĩnh vực đầu tư

có điều kiện (*)

< 300 Lĩnh vực khác < 600

Nguồn: Tổng hợp từ Luật Đầu tư 2005 và Luật Đầu tư 2014 của Việt Nam

c Quy trình cấp GCNĐT và thời gian cấp GCNĐT:.

Theo Luật Đầu tư 2014, thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có sự

thay đổi theo như hình 2.2

Hội đồng thẩm định Nhà nước

≤ 5 ngày (Trả lời)

≤ 90 ngày (Trình Hồ sơ thẩm định lên

Cơ quan thẩm tra của Quốc

hội)

≤ 5 ngày (Trình Thủ tướng

Các Bộ, ngành liên quan

Bộ KH&ĐT

Chính Phủ

Hồ sơ

≤ 5 ngày (Trả lời)

≤ 15 ngày (Trả lời)

≤ 30 ngày (Hồ sơ thẩm định)

≤ 3 ngày (Lấy ý kiến)

Trả lời Trường hợp 2: Thủ tướng CP ra

quyết định chủ trươ

Trang 15

Hình 2.2 Mô hình cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ở Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp từ Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2014

Với Luật Đầu tư 2014, thời gian cấp GCNĐT cũng được rút ngắn lại là 15 ngày

đối với các dự án do NĐT tự ra quyết định đầu tư kinh doanh Song, có thể thấy trong

hình 2.3 với các dự án cần sự chấp thuận về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ và

Quốc hội thì thời gian dài hơn và cần quy trình phức tạp hơn

d Công tác kiểm tra, giám sát sau cấp GCNĐT

Đối với nội dung quản lý nhà nước về kiểm tra, giám sát sau cấp GCNĐT,

trong các văn bản quy phạm pháp luật về ĐTRNN đều quy định khá chặt chẽ về vấn

đề báo cáo tình hình thực hiện dự án Theo quy định, bên cạnh các nghĩa vụ đối với

nước chủ đầu tư, với người lao động Việt Nam làm việc trong các dự án đầu tư trực

tiếp của Việt Nam ra nước ngoài, thì các chủ đầu tư Việt Nam cần phải thực hiện

các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam và phải thực hiện nghĩa vụ hành

chính về việc báo cáo tình hình hoạt động của dự án trong vòng 6 tháng kể từ ngày

có quyết toán thuế

Nhà đầu tư cần thực hiện các báo cáo theo quy định và gửi đến Bộ KH&ĐT,

NHNN, Bộ Tài chính và các bộ quản lý chủ quản.Nếu lợi nhuận của nhà đầu tư

được sử dụng để tái đầu tư thì cần phải báo cáo về Bộ KH&ĐT để thực hiện đăng

ký bổ sung hoặc đăng ký mới (nếu như đầu tư vào dự án khác) Các quy định khá

chặt chẽ về chế độ hậu kiểm giúp cho các cơ quan nhà nước quản lý hiệu quả các dự

án đầu tư ra nước ngoài

2.2.2 Chính sách quản lý về thuế và tài chính trong các dự án ĐTRNN

NHNN

Bộ KH&ĐT NĐT

Hồ sơ

≤ 15 ngày (Trả lời)

Đối với DA thông thường và có vốn ngoại tệ chuyển ra nước ngoài ≥ 20 tỷ đồng

Trường hợp 3: Bộ KH&ĐT có

thẩm quyền cấp GCNĐ

Lấy ý kiến

Trang 16

Với các nhà đầu tư Việt Nam, bên cạnh nghĩa vụ phải thực hiện đối với

nước tiếp nhận đầu tư, còn phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính đối với Nhà

nước Việt Nam Theo các văn bản pháp luật hiện hành, các DN VN thực hiện

ĐTRNN vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, đối với

những lao động làm việc trong các dự án ĐTRNN có thu nhập cao phải nộp thuế

thu nhập cá nhân theo Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành Tuy nhiên, theo các

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với các nước thành

viên ASEAN, để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư và lao động Việt Nam trong

các dự án ĐTRNN ở các nước ASEAN, phần thu nhập mà doanh nghiệp và lao

động Việt Nam đã nộp tại nước tiếp nhận đầu tư hoặc được nước tiếp nhận đầu

tư trả thay (với điều kiện có chứng từ hợp lệ) sẽ được khấu trừ ra khỏi thu nhập

chịu thuế nộp tại Việt Nam Tuy nhiên, tổng số thuế được khấu trừ không được

vượt quá tổng số thuế thu nhập phải nộp tại Việt Nam Nếu phần lợi nhuận của

doanh nghiệp được miễn, giảm theo luật pháp của nước nhận đầu tư thì cũng

được trừ khi xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ở Việt Nam Tuy

nhiên, số lỗ phát sinh từ dự án đầu tư ở nước ngoài không được trừ vào số thu

nhập phát sinh của doanh nghiệp trong nước khi tính thuế thu nhập doanh

nghiệp

Thuế suất tính thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân tuân theo quy

định của các Luật liên quan Quy định này cũng là phù hợp với nguyên tắc tài chính

hiện đại, đảm bảo công bằng cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

Trong các dự án ĐTRNN cần có hoạt động xuất nhập khẩu các thiết bị,

phương tiện, vật tư, nguyên vật liệu, nhiên liệu chuyên dụng phục vụ cho dự án, đặc

biệt là trong các lĩnh vực như: dầu khí, khai khoáng, thủy điện, viễn thông , quy

định về thuế xuất nhập khẩu (XNK ) và thuế GTGT được quy định phù hợp với các

Luật thuế XNK và Luật Thuế GTGT hiện hành

Trước khi làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa, thiết bị, các doanh nghiệp

ĐTRNN phải đăng ký, khai báo với cơ quan hải quan theo diện xuất nhập khẩu theo

dự án đầu tư để được hưởng các ưu đãi về thuế Trong trường hợp doanh nghiệp đã nộp

các loại thuế được miễn, giảm thì sẽ được hoàn lại số tiền thuế tương ứng đã nộp

Đối với hàng hóa được nhập khẩu khi thanh lý hoặc kết thúc dự án, hoặc là

Trang 17

phần doanh thu hoặc lợi nhuận được chia theo dự án ĐTRNN thì phải nộp thuế NK

theo quy định của Luật thuế XNK của Việt Nam hiện hành

2.2.3 Chính sách quản lý ngoại hối trong các dự án ĐTRNN

Trước khi có Nghị định 22/1999/NĐ - CP, các giao dịch vốn của các doanh

nghiệp Việt Nam ra nước ngoài được điều chỉnh bởi Nghị định số 63/1998/NĐ-CP

ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối Theo sự phát triển của hoạt

động ĐTRNN, các quy định, chính sách về quản lý ngoại hối cũng được điều chỉnh

cho phù hợp với thực tế Có thể nhận thấy các điểm mới về quản lý ngoại hối của

Việt Nam thông qua bảng 2.2 dưới đây

Bảng 2.2 Quá trình thay đổi trong chính sách của Việt Nam

về quản lý ngoại hối đối với hoạt động ĐTRNN Năm 1998 1999 2001 2005 2006 2013

Văn bản

pháp lý

Nghị định 63/1998 /NĐ – CP

Thông tư 01/1999 / TT- NHNN

Thông tư 01/2001 / TT- NHNN

Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005

và Thông

tư 04/

NHNN

2005/TT-Thông tư 10/2006/

TT-NHNN

Pháp lệnh ngoại hối năm 2013

Thông tư 36/2013/

từ xuất khẩu + mua + vay

Tự có + nguồn thu từ xuất khẩu + mua + vay có thể không cần TS đảm bảo

Tự có + nguồn thu từ xuất khẩu + mua + vay (có thể không cần TS đảm bảo) + các nguồn khác (lợi nhuận, vốn góp ĐT đã thanh lý, lãi cho vay)

Tiến độ chuyển tiền

ra nước ngoài Không quy định

NĐT phải đăng ký tiến độ chuyển tiền ra nước ngoài khi thực hiện đăng ký mở tài khoản ngoại tệ tại NHNN

Thời gian thực hiện

Ngày đăng: 27/03/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w