Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được các mục đích nêu trên, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau: - Tổng quan tình hình nghiên cứu về động từ chuyển động trong và ngoài nước; xác địn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐỐI CHIẾU NHÓM ĐỘNG TỪ CHUYỂN ĐỘNG
ĐA HƯỚNG ANH – VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐỐI CHIẾU NHÓM ĐỘNG TỪ CHUYỂN ĐỘNG
ĐA HƯỚNG ANH – VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học So sánh – Đối chiếu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các kết quả khảo sát và miêu tả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu động từ và động từ chuyển động trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu động từ và động từ chuyển động ở Việt Nam 9
1.2 Cơ sở lí luận 11
1.2.1 Phạm trù từ loại động từ 11
1.2.2 Khái niệm cụm từ 26
1.2.3 Nghĩa của từ 28
1.2.4 Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ 38
1.2.5 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 40
1.3 Tiểu kết 42
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ CHUYỂN ĐỘNG ĐA HƯỚNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 43
2.1 Dẫn nhập 43
2.2 Đặc điểm ngữ pháp của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt 43
2.2.1 Đặc điểm ngữ pháp của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh 43
2.2.2 Đặc điểm ngữ pháp của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Việt 49
2.2.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ pháp của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt 55
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt 57
2.3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh 57
2.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Việt 67
2.3.3 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt 73
2.4 Tiểu kết 88
Chương 3: HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG TỪ CHUYỂN ĐỘNG ĐA HƯỚNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 90
3.1 Dẫn nhập 90
Trang 53.2 Hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong tác phẩm văn học tiếng Anh và tiếng Việt 90
3.2.1 Hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong tác phẩm văn học tiếng Anh 90 3.2.2 Hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong tác phẩm văn học tiếng Việt 98 3.2.3 Đối chiếu hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong tác phẩm văn học tiếng Anh và tiếng Việt 104
3.3 Hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 106
3.3.1 Khái niệm về thành ngữ 106 3.3.2 Hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong thành ngữ tiếng Anh 107 3.3.3 Hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong thành ngữ tiếng Việt 125 3.3.4 Đối chiếu khả năng hoạt động của động từ chuyển động đa hướng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 135
3.4 Tiểu kết 146 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ động từ cụm (phrasal verbs) của động từ chuyển động đa hướng tiếng Anh 45 Bảng 2.2 Phân bố số lượng nghĩa của 10 động từ chuyển động đa hướng tiếng Anh
và tiếng Việt 74 Bảng 3.1 Tần số xuất hiện của động từ chuyển động đa hướng trong tác phẩm văn học tiếng Anh 91 Bảng 3.2 Tần số xuất hiện của động từ chuyển động đa hướng trong các tác phẩm văn học tiếng Việt 98 Bảng 3.3 Số lượng thành ngữ có chứa động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt 136 Bảng 3.4 Hoạt động nghĩa của các động từ chuyển động đa hướng trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 137
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTCĐĐH Động từ chuyển động đa hướng
TĐTV Từ điển tiếng Việt
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong hệ thống từ loại của ngôn ngữ, động từ là từ loại thực từ cực kỳ phức tạp
xét trên phương diện ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa Tính phức tạp ấy có nguồn gốc từ bản chất ngữ nghĩa của từ loại này Ở bậc khái quát nhất, ý nghĩa của động từ là ý nghĩa vận động; động từ chỉ ra hành động, trạng thái như một quá trình của các đối tượng, sự vật, hiện tượng nằm trong phạm trù thực thể có thể diễn đạt bằng danh từ Trong hoạt động hành chức, động từ có chức năng chủ yếu làm vị ngữ trong câu Đồng thời động từ
có khả năng kết hợp rất đa dạng, phong phú, có thể đảm nhận và chi phối nhiều thành phần cú pháp quan trọng trong câu Do đó, đối chiếu đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ loại động từ nói chung, một nhóm động từ nói riêng, trong các ngôn ngữ thuộc loại hình khác nhau là hướng nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.2 Ở nhiều ngôn ngữ, các động từ chuyển động có những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp riêng biệt, tạo thành một phạm trù riêng trong nội bộ động từ Trong nhiều ngôn ngữ châu Âu, nhóm động từ này đã được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất lâu, chủ yếu tập trung vào bình diện ngữ pháp, khả năng kết hợp, đặc điểm ý nghĩa trong quan hệ với các thành phần khác trong câu Trong tiếng Việt, các động từ với ý nghĩa chuyển động hình thành một danh sách dài và đa
dạng Ngoài các động từ chỉ các dạng khác nhau của chuyển động (như đi, chạy,
nhảy, bay, bò, leo, trượt, ), có một nhóm động từ chuyển động có nội dung ngữ
nghĩa khá đặc biệt Đó là các động từ chuyển động bao hàm cả hướng chuyển động
trong nội dung ngữ nghĩa của chúng, như: ra, vào, lên, xuống, sang, qua, lại, tới,
về, Nhóm động từ chuyển động này trong tiếng Việt đã được Nguyễn Lai (1990)
nghiên cứu sâu và toàn diện [44] Tuy nhiên, các động từ trong tiếng Việt chỉ các dạng chuyển động bao hàm theo các hướng khác nhau (được gọi là các động từ chuyển động đa hướng) lại chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống Mặc dù đã có những nghiên cứu về động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng các nghiên cứu này phần nhiều mới chỉ tập trung vào miêu tả, phân tích chúng trong từng ngôn ngữ riêng lẻ Nhìn chung, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu đối chiếu động từ trong tiếng Anh và tiếng Việt nói
Trang 9chung, đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu một cách toàn diện, có
hệ thống về nhóm động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt Việc nghiên cứu đối chiếu này nếu thực hiện tốt có thể được xem như là một mẫu
về cách thức đối chiếu có thể áp dụng sang các tiểu nhóm động từ khác Vì vậy, việc nghiên cứu đối chiếu các động từ chuyển động đa hướng này trong hai ngôn ngữ là cần thiết
1.3 Nghiên cứu đối chiếu một nhóm động từ cụ thể của hai ngôn ngữ thuộc loại hình khác nhau như tiếng Anh và tiếng Việt, ngoài ý nghĩa lí luận như được chỉ
ra cụ thể ở mục 6 dưới đây còn giúp ích cho việc giảng dạy tiếng Anh, tiếng Việt như một ngoại ngữ, trong công tác biên dịch, biên soạn giáo trình và biên soạn từ điển đối chiếu
Từ những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài "Đối chiếu nhóm động từ
chuyển động đa hướng Anh - Việt" cho luận án của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định rõ được những điểm giống nhau
và khác nhau về phương diện ngữ pháp và ngữ nghĩa của các động từ chuyển động
đa hướng trong hai ngôn ngữ, dưới tác động, ảnh hưởng của loại hình ngôn ngữ Đồng thời, bước đầu nêu lên được những đặc điểm của các động từ này về phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa thông qua hoạt động hành chức của chúng trong các thành ngữ và một số tác phẩm văn học của hai ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nêu trên, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về động từ chuyển động trong và ngoài nước; xác định cơ sở lí luận cho luận án;
- Miêu tả và phân tích đặc điểm ngữ pháp của các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt; đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp của nhóm động từ này trong hai ngôn ngữ;
- Miêu tả, phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt; đối chiếu để tìm ra những tương đồng và khác biệt về nghĩa và quá trình phát triển nghĩa của nhóm động từ này trong hai ngôn ngữ;
Trang 10- Tìm hiểu khả năng hoạt động của các động từ chuyển động đa hướng trong một số tác phẩm văn học và trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
3 Đối tƣợng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng ngiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời luận án cũng tìm hiểu hoạt động của các động từ này trong một số tác phẩm văn học và thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để thấy được những đặc điểm của các động từ này về phương diện ngữ pháp, ngữ nghĩa thông qua hoạt động hành chức của chúng trong các thành ngữ và một số tác phẩm văn học của hai ngôn ngữ Nhóm động từ
chuyển động đa hướng được chọn nghiên cứu gồm 10 động từ tiếng Anh (run, go,
walk, jump, creep, climb, step, dive, swim, fly) và 10 động từ tiếng Việt (chạy, đi, nhảy, bò, trèo, leo, bước, lặn, bơi, bay)
3.3 Ngữ liệu nghiên cứu
Luận án thống kê các động từ chuyển động đa hướng từ các nguồn ngữ liệu nghiên cứu sau:
* Các từ điển giải thích:
- Từ điển tiếng Anh: Advanced Learner‟s Dictionary , Nxb ĐH Oxford, tb
2015[131];
- Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) Nxb Từ điển Bách Khoa, 2012 [58]
Đây là hai cuốn từ điển giải thích có chất lượng và uy tính nhất so với các từ điển giải thích tiếng Anh và tiếng Việt hiện có
Để tìm hiểu hoạt động của các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án khảo sát hoạt động của các động từ này trong một số tác phẩm văn học và trong các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt Cụ thể là 4 tác phẩm văn học, trong đó, 2 tác phẩm viết về các sự kiện xảy ra trong những thập niên 30 của thế kỉ XX
và 2 tác phẩm viết về các sự kiện xảy ra trong những thập niên 80 của thế kỉ XX Luận
án còn thu thập các động từ này trong 14 từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 11Trong luận án, tiếng Anh được sử dụng làm ngôn ngữ chuẩn hay mẫu (etalon) và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu, có nghĩa là việc đối chiếu - so sánh được thực hiện một chiều Anh - Việt
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện được nhiệm vụ của luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm
ngữ pháp, ngữ nghĩa của các động từ chuyển động đa hướng của hai ngôn ngữ khi nằm trong hệ thống và khi sử dụng
4.2 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Phương pháp này được sử dụng
phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của từng động từ để thấy được các nét nghĩa/nghĩa vị
và cơ sở sự phát triển nghĩa của các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh
và tiếng Việt
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Luận án sử dụng phương pháp này để
tìm ra những tương đồng và khác biệt về các phương diện khả năng tạo tổ hợp và ngữ nghĩa của nhóm động từ chuyển động đa hướng trong hai ngôn ngữ, từ đó bước đầu đưa ra những nhận xét về đặc điểm tư duy và văn hóa của hai dân tộc
4.4 Thủ pháp thống kê, phân loại: Thủ pháp này được sử dụng nhằm thống
kê, phân loại các động từ chuyển động đa hướng theo những đặc trưng ngữ nghĩa,
ngữ pháp của chúng phục vụ cho việc nghiên cứu đối chiếu của luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đối chiếu có hệ thống
và chuyên sâu động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt ở bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Kết quả nghiên cứu của luận án, ở một mức độ nhất định, có những đóng góp vào việc nghiên cứu lí thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu nói chung, vào đối chiếu một nhóm từ nói riêng của các ngôn ngữ thuộc loại hình khác nhau Việc chỉ rõ những sự tương đồng và khác biệt về các bình diện ngữ pháp
và ngữ nghĩa của các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt
là cơ sở để làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy thể hiện qua ngữ nghĩa của nhóm động từ chuyển động đa hướng trong hai ngôn ngữ
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lí luận
Trang 12Luận án góp thêm những cơ sở lí luận cách thức nghiên cứu đối chiếu động từ trong tiếng Anh và tiếng Việt nói chung, nhóm động từ chuyển động đa hướng nói riêng; chỉ ra những tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của
10 động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và 10 động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Việt Từ đó, có thể nhận thấy một số đặc trưng văn hóa và tư duy thể hiện qua phân tích và luận giải về sự phát triển nghĩa, về sự hoạt động của nhóm động từ này trong tác phẩm văn chương và trong thành ngữ của hai ngôn ngữ Anh
và Việt
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đối chiếu nhóm động từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt
có những đóng góp thiết thực cho việc dạy và học tiếng Anh, giúp cho người học tiếng Anh tiếp thu và sử dụng tiếng Anh được thuận lợi trong quá trình học tập Kết quả nghiên cứu của luận án cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác dịch thuật cũng như công tác biên soạn từ điển Anh - Việt và Việt - Anh
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2 Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của nhóm động từ chuyển động
đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 Hoạt động của nhóm động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu động từ và động từ chuyển động trên thế giới
Là một trong các từ loại thực từ trong hệ thống từ loại của ngôn ngữ, động từ luôn
là đối tượng được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Xét về mặt lịch sử, việc nghiên cứu trên thế giới về động từ nói chung và động từ chuyển động nói riêng được bắt đầu chú trọng vào những năm 70 của thế kỷ XX và được tiến hành theo các hướng khác nhau Các học giả nghiên cứu theo hướng cấu trúc luận tiêu biểu như Ju.X Xtepanov (1977), Frawley (1992), Levin & Rappaport Hovav (1992), Delahunty (1994) Van Valin (1997) nghiên cứu theo hướng ngữ pháp chức năng R M W Dixon (2005) thuộc trường phái ngữ pháp dựa trên ngữ nghĩa Tiêu biểu cho các nghiên cứu về động từ chuyển động theo hướng tri nhận phải kể đến Miller & Johnson-Laird (1987), Kudrnáčová ( 2005, 2008), Talmy (1985, 1991, 2000) và Slobin (2004).v.v
Các tác giả nghiên cứu động từ theo hướng cấu trúc luận truyền thống bao gồm Delahunty (1994), Frawley (1992), có chung quan điểm cho rằng động từ là từ hoặc cụm từ chỉ hành động (acts); quá trình (process), trạng thái (states); nguyên nhân (cause) chuyển động … và mô tả động từ chuyển động là sự chuyển dịch vị trí của một thực thể Tiếp theo, Biber (1999) đã chia động từ ra làm bảy loại chính về
mặt ngữ nghĩa, bao gồm: activity verbs (động từ hoạt động), communication verbs
(động từ giao tiếp), mental verbs ( động từ tinh thần), causative verbs (động từ gây khiến), occurrence verbs (động từ xuất hiện), existence verbs (động từ tồn tại) và aspectual verb (động từ có (phạm trù) thể) Trong đó động từ chuyển động được xếp
vào nhóm động từ hoạt động (activity verbs)
R.M.W Dixon (2005) cho rằng ngôn ngữ bao gồm từ vựng và ngữ pháp Ngữ pháp gồm hai phần: Hình thái học (morphology) giải quyết cấu trúc của từ và cú pháp (syntax) giải quyết cách mà từ được kết hợp với nhau [108, 6] Theo đó, tác giả khẳng định trong tiếng Anh tính từ phải đứng trước danh từ và mạo từ đứng trước tính từ trong ngữ danh từ (noun phrase), động từ (verb) hoặc ngữ động từ
(verb phrase) phải theo sau một ngữ danh từ (noun phrase) và khẳng định ― động từ
là trung tâm của mệnh đề Một động từ có thể nói đến một hoạt động và phải có một
số người tham gia có vai trò trong hoạt động đó; hoặc một trạng thái mà người tham gia trải qua [108, 6-7]
Trang 14Ngoài những nghiên cứu về động từ nói chung, một số nghiên cứu đi sâu vào nhóm động từ chuyển động cũng đã được thực hiện Động từ chuyển động được hiểu một cách đơn giản là động từ biểu thị hành động đưa chủ thể hành động từ một
địa điểm này đến địa điểm khác trong không gian, ví dụ như go (đi), run (chạy),
jump (nhảy), swim (bơi), Động từ chuyển động cũng đã được các nhà ngôn ngữ
học nước ngoài, nhất là phương Tây, nghiên cứu từ rất lâu
Trong các học giả nghiên cứu về động từ chuyển động theo hướng truyền thống
trước hết phải kể đến Ju.X Xtepanov (1977) trong công trình Những cơ sở của ngôn
ngữ học đại cương Ông đã phân tích ngữ nghĩa của một số động từ chuyển động trong
tiếng Nga khi bàn về các nhóm từ phản nghĩa - đồng nghĩa; những khái niệm về thế đối lập, đặc trưng khu biệt, kết cấu và hệ thống [90,92-95] và về tam giác ngữ nghĩa; khái niệm về cái biểu đạt [90, 97-98] Ông đã chỉ ra ngữ nghĩa của các động từ này như sau:
идти (idti) [Đi]- di chuyển được (trên mặt đất; không có phương tiện giúp đỡ);
bằng chân
ехать (ekhat‟)[Đi] - di chuyển được (trên mặt đất; có các phương tiện giúp
đỡ); bằng xe
лететь (letet') [Bay] - di chuyển được (không phải trên mặt đất; có các phương
tiện giúp đỡ); trên không trung hoặc trong vũ trụ
плыть (plưt‟) [Bơi]- di chuyển được (không phải trên mặt đất; không có các
phương tiện giúp đỡ); trên mặt nước hoặc trong nước [90, 97]
Miller & Johnson-Laird (1987) cho rằng động từ chuyển động là ―những
động từ được miêu tả, được học đầu tiên, được sử dụng thường xuyên nhất và được quan niệm là nổi trội nhất” Nói chung, các động từ chuyển động cả nội
động từ và ngoại động từ điển hình chỉ diễn tả một trong ba thực thể ngữ nghĩa,
đường đi, phương thức chuyển động, hoặc cách thức chuyển động và xu hướng
phân tích các động từ chuyển động là tách riêng các động từ chuyển động có hướng với các động từ chuyển động không hướng/ đa hướng [129,527]
Theo Levin & Rappaport Hovav (1992), các động từ chuyển động có thể được
mô tả chính xác hơn bằng cách xác định thành tố nghĩa nào được từ vựng hóa trong bản thân động từ thay vì xác định vai trò đề ngữ (theme) theo giả thuyết Bất đổi cách
Van Valin (1997) cho rằng ―đối với các động từ chuyển động, chúng ta cần nêu
chuyển động và sự thay đổi vị trí theo thời gian‖ Động từ chuyển động tiếng Anh có xu
hướng kết hợp chặt chẽ với một số thành phần hoặc nét đặc trưng ngữ nghĩa cụ thể nhất
Trang 15định như là phương thức chuyển động trong các động từ như run (chạy), swim (bơi), fly
(bay ), gây khiến chuyển động như blow (thổi), pull (kéo), kick (đá), hay hướng chuyển
động như enter (vào), exit (ra), lên (ascend), descend (xuống) [152, 109]
Beth Levin (1993) có công trình nghiên cứu chuyên sâu về động từ chuyển
động trong tiếng Anh là ―Các lớp động từ trong tiếng Anh và sự chuyển đổi: Nghiên
cứu sơ bộ” (English Verb Classes and Alternations: A preliminary investigation)
Sự phân loại động từ chuyển động tiếng Anh của tác giả đã được nhiều nhà nghiên cứu đi sau tiếp thu Các nghiên cứu của tác giả về động từ chuyển động được định hướng bởi lý thuyết nghĩa của động từ chịu sự ảnh hưởng của hình thái cú pháp Kudrnáčová ( 2005) khi nghiên cứu về động từ chuyển động đã cho rằng đặc tính ngữ nghĩa của động từ chuyển động tiếng Anh là phức tạp và thể hiện một số cấp độ cấu tạo khác nhau Động từ chuyển động cũng đã được mô tả là những hoạt động tiến triển về không gian và/ hoặc tiến triển về thời gian Kudrnáčová đã phân biệt giữa chuyển động thuần túy ―pure motion‖ và chuyển động như một hoạt động
― motion as an activity‖ [121, 23]
Trong số các nhà nghiên cứu động từ nói chung và động từ chuyển động nói riêng theo hướng tri nhận phải kể đến Talmy (1985, 1991, 2000) và Slobin (2004) Talmy đã có những công trình nghiên cứu về sự chuyển động dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố ngữ nghĩa gắn với sự kiện chuyển động như mục đích chuyển động, thực thể chuyển động, thực thể quy chiếu, hướng hay quỹ đạo chuyển động, cách thức và/hoặc nguyên nhân chuyển động, v.v Ông cũng nêu rõ có ba hệ thống động
từ chuyển động có sự hòa nhập Đó là: động từ hòa nhập có hướng chuyển động (path-conflating verbs), động từ hòa nhập biểu thị cách thức chuyển động (manner-conflating verbs) và động từ hòa nhập thực thể chuyển động (figure-conflating verbs) Đây cũng là ba kiểu hình của động từ chính được tìm thấy ở nhiều ngôn ngữ Talmy (2000) đã phân biệt hai loại ngôn ngữ là ngôn ngữ định khung phụ từ (satellite-framed) và ngôn ngữ định khung động từ (verb-framed languages) theo cách mà các yếu tố của ngữ cảnh chuyển động khác nhau được sắp đặt theo yếu tố ngôn ngữ Tiếng Anh được coi là loại ngôn ngữ định khung phụ từ (satellite-framed) vì đa số các động từ chuyển động có thành phần cốt lõi của sự chuyển động nhưng hướng hoặc quỹ đạo chuyển động lại được thể hiện trong các từ
(thường là giới từ) đi kèm như up, down… hoặc trong các cụm giới từ như into/out
of (vào trong, ra ngoài), còn các động từ thì tự do thể hiện cách thức chuyển động
Trang 16Slobin (2004) cho rằng cách thức của chuyển động dễ dàng được mã hóa bao nhiêu thì lượng thông tin được đưa ra càng phong phú bấy nhiêu Theo ông, cách thức của chuyển động dễ dàng được mã hóa hơn khi nó được thể hiện bằng (1) một động từ xác định thay vì một động từ không xác định, (2) một từ đơn thay vì một cụm từ hoặc một mệnh đề, (3) một đơn vị từ có tần số xuất hiện cao thay vì một đơn vị từ có tần số xuất hiện thấp [138]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu động từ và động từ chuyển động ở Việt Nam
Cũng như các nghiên cứu về động từ nói chung và động từ chuyển động nói riêng trên thế giới, các công trình nghiên cứu từ loại động từ nói chung, động từ chuyển động ở Việt Nam nói riêng được tiếp cận theo hai hướng: nghiên cứu theo ngữ pháp truyền thống (cấu trúc) coi động từ là một phạm trù từ loại và nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học tri nhận Các công trình nghiên cứu về động từ của Nguyễn Kim Thản (1962, 1977), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đái Xuân Ninh (1978), các tác giả Ngữ pháp tiếng Việt (Ủy ban Khoa học xã hội, 1983), Đinh Văn Đức (1986), Lê Biên (1999), Diệp Quang Ban (2003, 2004), v.v đều nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp của động từ theo hướng cấu trúc luận Trong những năm 90 của thế
kỷ XX, do ảnh hưởng của ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam cũng có ảnh hưởng của hướng nghiên cứu tri nhận học thể hiện trong một số nghiên cứu của Nguyễn Lai (1990), Lý Toàn Thắng (2015)
và Hoàng Tuyết Minh (2014, 2015)
Mặc dù động từ và động từ chuyển động ít nhiều được các tác giả nêu trên đề cập đến trong công trình nghiên cứu của mình, tuy nhiên từ trước đến nay có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về động từ và động từ chuyển động Nguyễn Kim Thản (1977) với
chuyên luận ―Động từ trong tiếng Việt” là người đầu tiên có công trình nghiên cứu
chuyên sâu về động từ trong tiếng Việt Các tác giả như Đái Xuân Ninh (1978), Đinh Văn Đức (2010), Diệp Quang Ban (2003, 2004), Nguyễn Tài Cẩn (2004) có nghiên cứu về động từ, nhưng không phải là chuyên luận về động từ mà động từ chỉ là một từ loại đặt trong hệ thống từ loại của tiếng Việt Nguyễn Thị Quy (1995) đã nghiên cứu vị
từ trong đó có động từ chuyển động theo hướng ngữ pháp chức năng với công trình ―Vị
từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó‖ đã chia vị từ hành động thành năm
nhóm, trong đó động từ chuyển động bao gồm động từ chuyển động đa hướng được xếp vào nhóm 1(-Tác động; - Mục tiêu; một diễn tố) [64, 89]
Trang 17Trong bài "Một cách lí giải mối quan hệ ngữ nghĩa giữa động từ chuyển động có
định hướng và từ chỉ hướng trong tiếng Việt" [51, 48 - 52], Hà Quang Năng đã phân
tích đặc điểm ngữ nghĩa của các động từ chuyển động có định hướng trong tiếng Việt
(ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về , lại, đến, tới), chỉ ra bốn nét nghĩa cần yếu, bắt buộc
luôn có trong cấu trúc nghĩa khái quát của các động từ này: [(hoạt động) (vận động di chuyển) (hướng trong không gian) (điểm đến)] [51, 49] Tác giả cũng chỉ rõ, các động
từ này, trong cấu trúc nghĩa của mình, không chứa nét nghĩa biểu thị cách thức của hoạt động di chuyển mà chỉ có nét nghĩa chỉ hướng hoạt động Ngược lại, các động từ
chuyển động kiểu: đi, chạy, bò, nhảy, trèo, bước, thì nét nghĩa cách thức chuyển động
luôn luôn có mặt trong cấu trúc nghĩa của mình, nhưng lại hoàn toàn không hàm chứa nét nghĩa biểu thị hướng chuyển động [51, 51] Như vậy, sự khác nhau chủ yếu về nghĩa giữa động từ chuyển động có định hướng với các động từ chuyển động biểu thị những dạng chuyển động cụ thể khác trong tiếng Việt là do sự có mặt hai nét nghĩa
"cách thức chuyển động" và "môi trường của hoạt động" ở động từ như đi, chạy, bay
và hai nét nghĩa "hướng chuyển động trong không gian" và "đích, điểm đến của hoạt
động" ở các động từ chuyển động có định hướng như ra, vào, về quy định
Trong công trình ―Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt‖ [1990], Nguyễn
Lai đã mô tả và phân tích chi tiết nhóm từ chỉ hướng chuyển động trong tiếng Việt theo
cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận Gọi là nhóm động từ từ đa phương/ đa hướng,
ông đã chia động từ chuyển động thành hai nhóm là động từ vận động không / đa hướng
như chạy, nhảy, bay, bò, leo, v.v và động từ vận động có hướng (tự thân mang hướng) như ra, vào, lên, xuống, sang, qua, lại, tới, Trong đó ông đã chú trọng nhiều hơn đến
nhóm thứ hai do các đặc trưng ngữ nghĩa và cú pháp đặc biệt của chúng
Nguyễn Văn Hiệp (2013 ), trong ―Sự phát triển ngữ nghĩa của các từ RA, VÀO
trong tiếng Việt từ góc độ nghiệm thân‖ đã nghiên cứu sự phát triển nghĩa của hai từ
này theo hướng của ngôn ngữ học tri nhận Theo đó, trên cơ sở phân tích con đường phát triển nghĩa của các từ này, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự phát triển nghĩa của chúng [32]
Gần đây, Hoàng Tuyết Minh (2014; 2015) với hai nghiên cứu về động từ
chuyển động theo hướng tri nhận: ―Nghiên cứu động từ thể hiện sự tình chuyển
động tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (có đối chiếu với tiếng Anh), [47] và ―Thành tố nghĩa và phạm trù nghĩa của động từ chuyển động có hướng trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)” [48] Trong các nghiên cứu này,
Trang 18động từ chuyển động tiếng Việt nói chung và động từ chuyển động có hướng nói riêng đã được nghiên cứu dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận và được đối chiếu với tiếng Anh để tìm ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Đây cũng là những nghiên cứu chuyên sâu về động từ chuyển động trong tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận
Ngoài những công trình đã nêu trên, còn có một số bài viết về động từ chuyển
động trong các tạp chí như "Phân tích đối chiếu một số động từ chuyển động đa nghĩa
Pháp - Việt và đánh giá khả năng nhận hiểu từ đa nghĩa của sinh viên" [31, 16 - 23]; ;
"Kiểu hình của động từ chuyển động tiếng Việt có sự liên hệ với tiếng Anh" [82]; "Luận
giải sự phát triển nghĩa của động từ “chạy” theo hướng tri nhận" [15, 45 - 57]
Mặc dù đã có những nghiên cứu về động từ chuyển động tiếng Anh và tiếng Việt, song cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu có hệ thống và chuyên sâu về nhóm động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và tiếng Việt Vì vậy, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi tập trung đối chiếu nhóm
động chuyển động đa hướng chỉ động tác vận động bao gồm 10 động từ run, go,
walk, jump, creep, climp, step, dive, swim, fly trong tiếng Anh và 10 động từ chạy,
đi, nhảy, bò, leo, trèo, bước, lặn, bơi, bay trong tiếng Việt trên phương diện ngữ
pháp và ngữ nghĩa để tìm ra những tương đồng và khác biệt của nhóm động từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Phạm trù từ loại động từ
1.2.1.1 Động từ tiếng Anh
a Khái niệm động từ tiếng Anh
Theo từ điển tiếng Anh (Oxford Advanced learner‘s Dictionary): Động từ là
một từ hoặc một nhóm từ diễn tả một hành động (eat), một sự kiện/ sự việc (happen) hoặc một trạng thái (exist) [131, 1735] Trong Ngữ pháp tiếng Anh
Longman (Longman English Grammar), động từ cũng được định nghĩa ― là một từ
(run) hoặc một cụm từ (run out of) diễn tả sự tồn tại của một trạng thái (love, seem) hay việc thực hiện một hành động (take, play)‖[94, 159] Delahunty (1994) đã đưa
ra định nghĩa chi tiết hơn về động từ ―động từ là những từ chỉ hành động (kiss, run,
walk), sự tiến triển (grow, change), trải nghiệm (know), hay trạng thái Chức năng
ngữ nghĩa của động từ là miêu tả một chuyển động, một hành động, sự việc hay
Trang 19trạng thái‖ [106, 117] Như vậy, có thể nói hầu hết các nhà nghiên cứu tiếng Anh đều cho rằng động từ là từ hoặc nhóm từ chỉ hành động, sự việc hay trạng thái
b Phân loại động từ tiếng Anh
Từ trước đến nay, động từ trong tiếng Anh đã được nhiều nhà ngôn ngữ học
phân chia theo nhiều cách khác nhau tùy theo quan điểm và mục đích nghiên cứu
Kudrnácová [120, 54] đã chia động từ từ vựng thành bốn nhóm: trạng thái (state)
như knowing the answer, hoạt động (activities) như running(chạy), hoàn thành (accomplishment) như running a mile (chạy một dặm) và hành động đạt được (achievement) như reaching the border (tới được biên giới) Một trong những nhà
nghiên cứu đã phân chia động từ một cách tương đối chi tiết và cụ thể, trong đó có động từ chuyển động, là Frawley [110, 140] Ông đã chia động từ thành bốn loại chính là: hành động (acts); trạng thái (states); gây khiến (causes) và chuyển động Động từ trong tiếng Anh còn được phân loại dựa vào ý nghĩa bao gồm: động
từ thể chất (Physical verbs) mô tả hành động cụ thể của vật chủ, đó có thể là chuyển động của cơ thể hay sử dụng một vật nào đó gây ra hành động hoàn chỉnh; động từ
trạng thái bao gồm những động từ được bổ sung bởi các tính từ dùng để chỉ sự tồn tại của một tình huống nào đó và động từ chỉ hoạt động nhận thức (Mental verbs)
bao gồm những từ diễn tả hành động (liên quan đến nhận thức) như khám phá, hiểu biết hoặc suy nghĩ về một vấn đề nào đó
Một trong số các nhà nghiên cứu sâu về ngữ pháp tiếng Anh là Randolph
Quirk (1976) đã dựa vào tân ngữ (objects) và bổ ngữ của động từ để chia động từ
tiếng Anh thành hai loại: động từ nội hướng (intensive verbs) và động từ ngoại hướng (extensive verbs).Trong đó, động từ nội hướng được dùng để mô tả chủ ngữ,
nghĩa là chỉ nhấn mạnh và bản thân chúng không mang nhiều ý nghĩa mà chỉ thể hiện sự kết nối giữa chủ ngữ và bổ ngữ cho chủ ngữ Trong khi động từ ngoại
hướng được dùng để diễn tả điều chủ ngữ đang làm và không có bổ ngữ cho chủ ngữ Cách phân loại động từ này được Quirk R thể hiện trong các cấu trúc câu sau [134, 167]:
(1) SVA S V intens A place
Mary is in the house
(2) SVC S V intens C s
Trang 20Mary is kind
a nurse
Somebody caught the ball
(4) SVOA S V complex trans O d A place
I put the plate on the table
(5) SVOC S V complex trans O d C o
a fool
She gives me expensive presents
(7) SV S V intrans
The child laughed
(S: chủ ngữ; V intens : động từ nội hướng; A place : trạng ngữ nơi chốn; V monotrans : động từ có một tân ngữ; V ditrans : động từ có hai tân ngữ; V complex trans : động từ phức hợp có một tân ngữ và một trạng ngữ; V intrans : nội động từ; C s : bổ ngữ chủ ngữ; C o : bổ ngữ tân ngữ; O d : tân ngữ trực tiếp; O i : tân ngữ gián tiếp)
Dựa vào chức năng của động từ trong ngữ động từ (verb phrase), Randolph Quirk đã chia động từ tiếng Anh thành hai loại chính bao gồm động từ đầy đủ ý
nghĩa hay động từ từ vựng (Full / lexical verbs ) và trợ động từ (auxiliary verbs) Trợ động từ gồm hai loại: Trợ động từ căn bản (Primary auxilary verbs) và trợ động từ tình thái (Modal auxiliary verbs) [134, 26]:
LEXICAL: walk, write, play, beautify, etc
(động từ từ vựng) (đi bộ, viết, chơi, làm đẹp, v.v.)
AUXILIARY: Primary (trợ động từ cơ bản): do, have, be
(trợ động từ) Modal (trợ động từ tình thái): can, may, shall, will
could, might, should, would
must, ought to, used to, need, dare
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án không đi sâu tìm hiểu hoạt động và chức năng của động từ trong cấu trúc mệnh đề hoặc cấu trúc câu mà chỉ tập trung vào
Trang 21chức năng của động từ trong ngữ động từ (vern phrase) Theo cách phân loại động
từ này của Quirk R., đối tượng nghiên cứu của luận án là nhóm động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh thuộc nhóm động từ từ vựng (lexical verbs)
c Đặc điểm của động từ tiếng Anh
Dựa vào khái niệm về động từ trong tiếng Anh và tiếng Việt nêu trên, có thể thấy ngay sự khác biệt giữa động từ tiếng Anh và động từ tiếng Việt Động từ tiếng
Anh được định nghĩa là từ hoặc cụm từ trong khi tiếng Việt động từ chỉ là từ Sự
khác biệt ở đây là trong tiếng Anh có động từ cụm (phrasal verbs) Loại động từ này gồm có động từ chính và giới từ hoặc trạng từ hoặc cả hai Nghĩa của động từ cụm không phải là nghĩa do các từ thành phần tạo nên mà là nghĩa chung của cả cụm
không liên quan đến nghĩa của các từ thành phần chẳng hạn như look after (trông
nom/ chăm sóc), look for (tìm kiếm), get up (ngủ dậy), grow up (trưởng thành), …
Về ngữ nghĩa, động từ trong tiếng Anh được định nghĩa là những từ chỉ hành
động, quá trình, những trải nghiệm hoặc trạng thái, theo Delahunty (1994),
Frawley (1992), Quirk R và nhiều nhà nghiên cứu tiếng Anh khác
Về mặt hình thức, động từ trong tiếng Anh trực tiếp làm vị ngữ trong câu;
đứng sau các trợ động từ tình thái và biến đổi hình thái theo ngôi, thì, thể,…
giống như các ngôn ngữ hòa kết khác Hầu hết động từ từ vựng (lexical verbs) trong tiếng Anh có năm hình thức: the base (nguyên thể), the –S form (thêm s vào ngôi thứ 3 số ít) ; the past( quá khứ), the –ing participale (phân từ hiện tại thêm –ing), và –ed participle (phân từ quá khứ thêm –ed) Đối với các động từ quy tắc(regular verbs) thì quá thứ và phân từ quá khứ có hình thức giống nhau là thêm –
ed
1.2.1.2 Động từ tiếng Việt
a Khái niệm động từ tiếng Việt
Trong giới Việt ngữ học, động từ cũng được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra định nghĩa khác nhau Nguyễn Kim Thản cho rằng: "Động từ là loại từ biểu thị quá trình (sự hoạt động, động tác, hành vi, biến hóa và trạng thái), trước hết có những đặc trưng ngữ pháp trái ngược với danh từ, nghĩa là:
- Nó có thể tự do, trực tiếp làm vị ngữ của câu, không cần phải có hệ từ là làm môi giới;
- Nó không thể kết hợp với những từ kiểm nghiệm của danh từ, nghĩa là không thể đứng sau số từ, lượng từ, các phó danh từ và trước các đại từ chỉ định" [69, 200]
Trang 22Đái Xuân Ninh (1978), trong ―Hoạt động của từ tiếng Việt”, chỉ ra rằng ―về
mặt ý nghĩa, động từ biểu thị hoạt động và trạng thái v.v.‖ [53, 86-87] Đinh Văn
Đức (2010), trong Ngữ pháp tiếng Việt cũng đã khẳng định động từ chỉ các hành
động (chạy, đọc), trạng thái (ngủ, thức), các liên hệ dưới dạng tiến trình (yêu, hiểu)
có mối quan hệ với chủ thể và diễn ra trong thời gian và cho rằng ý nghĩa của động
từ trên bậc khái quát nhất là ý nghĩa vận động - động từ chỉ các dạng vận động khác nhau của tất cả những gì nằm trong phạm trù thực thể (thực thể về mặt từ loại là khái niệm có thể diễn đạt bằng danh từ) [17, 127- 128] Diệp Quang Ban (2013),
trong Ngữ pháp tiếng Việt,(Tập 1) cho rằng: ― Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa
khái quát về quá trình Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian‖ [2, 103]
Như vậy, có thể thấy hầu hết các nhà nghiên cứu tiếng Việt đều cho rằng động
từ là từ biểu thị hành động, trạng thái và quá trình hay sự tiến triển
b Phân loại động từ tiếng Việt
Với chuyên luận ― Động từ trong tiếng Việt‖, Nguyễn Kim Thản là người đầu
tiên và cũng là người duy nhất cho đến nay có công trình nghiên cứu chuyên sâu về động từ trong tiếng Việt Ông áp dụng cách phân loại hai chiều để phân loại các
động từ trong tiếng Việt:
1 Phân loại theo sự phân phối của các hư từ phục vụ động từ [68, 98]
2 Phân loại theo tính chất chi phối của động từ [68, 123]
Theo đó, ông đã chia động từ tiếng Việt thành 6 nhóm Tuy nhiên, nhóm động
từ chuyển động không được ông đề cập đến thành nhóm riêng
Đái Xuân Ninh (1978), trong Hoạt động của từ tiếng Việt, cũng chia động từ thành hai loại là động từ được xác định và động từ không được xác định [53,86-87] Diệp Quang Ban (2013) trong Ngữ pháp tiếng Việt, (Tập 1) đã chia động từ thành hai lớp con: lớp động từ không độc lập và lớp động từ độc lập Động từ
không độc lập là những động từ về mặt ý nghĩa, chưa biểu thị trọn vẹn, chưa đầy đủ
và khi làm thành phần câu thì thường đòi hỏi kết hợp với thực từ hay tổ hợp thực từ Động từ độc lập là những động từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành động hoặc trạng thái), có thể nhận thức được tương đối rõ ngay cả khi không có từ khác đi kèm và
có đầy đủ khả năng kết hợp và chức năng cú pháp của động từ [2,104,109,110]
Trang 23Đinh Văn Đức cho rằng ―việc phân loại động từ trong các ngôn ngữ nói chung
và trong tiếng Việt nói riêng là một việc phức tạp‖ [17,136] Tuy nhiên ông cũng
phân chúng thành một vài loại cơ bản bao gồm : động từ nội động (không cần bổ ngữ) và động từ ngoại động (đòi hỏi bắt buộc phải có bổ ngữ); động từ tình thái-
ngữ pháp (Động từ trống nghĩa như cần, muốn, phải, có thể …); động từ tổng hợp
(là những động từ có cấu trúc song tiết, trong đó các tiếng một được đặt đẳng lập
như: cày cấy, ca hát, trò truyện hoặc chính phụ như : viết lách, nói năng, làm
lụng,…); và các động từ chuyển động Ông cho rằng : ―Trong tiếng Việt, các động
từ với ý nghĩa chuyển động hình thành một danh sách dài và đa dạng‖[17,141] Và ông cũng phân chia động từ chuyển động thành động từ chỉ các dạng khác nhau của chuyển động và động từ chuyển động bao hàm cả hướng chuyển động Theo cách phân loại của ông, nhóm động từ chuyển động đa hướng, đối tượng của luận án nằm trong nhóm động từ chuyển động này
c Đặc điểm của động từ tiếng Việt
Trong khi tiếng Anh, ngôn ngữ biến hình, ý nghĩa ngữ pháp như thời, thể,
thức, dạng … được thể hiện bằng các phương tiện hình thái học của động từ thì
tiếng Việt, ngôn ngữ đơn lập, thể hiện các ý nghĩa này bằng các phương tiện từ
vựng như hư từ (đa, đang, sẽ, …) và trật tự từ
Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng động từ tiếng Việt mang những đặc điểm
chính của động từ trong một loạt các ngôn ngữ cùng loại hình như tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Tày, tiếng Mèo, với những đặc điểm sau:
- Về mặt ý nghĩa, chúng biểu thị quá trình, cũng tức là biểu hoạt động hay
trạng thái nhất định của sự vật trong quá trình
- Về mặt hình thức, ngoài những đặc điểm chung của vị từ (có khả năng trực
tiếp làm vị ngữ), chúng còn có thể đặt sau những hư từ chỉ sự cầu khiến hãy, đừng,
chớ [68, 23-24]
Trong ―Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)‖, Đinh Văn Đức cho rằng ― Động từ có
một khả năng kết hợp đa dạng và phong phú Các khả năng kết hợp của động từ được khái quát hóa trong cấu trúc của đoản ngữ động từ (gọi tắt là động ngữ)”
Ông cũng cho rằng: “Động ngữ là cấu trúc ngữ pháp của một tổ hợp tự do theo
quan hệ chính phụ do động từ làm trung tâm, chung quanh nó là các thành tố phụ thuộc nhiều kiểu loại‖[17, 131] Cấu trúc cụm động từ gồm có thành tố chính và các
Trang 24thành tố phụ; thành tố chính ở trung tâm, thành tố phụ được phân bố ở vị trí trước
và sau trung tâm:
Ví dụ: (xe) đã chạy rồi
Thành tố phụ của cụm động từ có loại cố định và có loại di động từ phía trước
ra phía sau trung tâm và ngược lại:
(xe) chạy băng băng - (xe) băng băng chạy
Mỗi từ loại trong hoạt động của lời nói có cả một chùm chức năng cú pháp đặc trưng cho chức năng của từ loại đó Trong chùm chức năng của mỗi từ loại bao giờ cũng có một chức năng nổi lên như là chức năng trung tâm, tiêu biểu Đối với động từ, chức năng đó là
vị ngữ "Động từ trong tiếng tiếng Việt giữ chức năng vị ngữ là chủ yếu Theo thống kê, có tới 99% câu đơn tiếng Việt có vị ngữ do động từ đảm nhận" [17, 132]
+ Động từ trong tiếng Việt làm vị ngữ trực tiếp không có hệ từ Ví dụ:
(1) Người bồi chạy lên gác một lúc [Giông tố, 187]
(2) Long đi một lúc thì đến bến đò [Giông tố, 284]
+ Động từ trong chức năng chủ ngữ là rất hiếm hoi Ví dụ:
(3) Đi có thế mà lâu thế [Giông tố, 387]
(4) Đi bộ cũng là một thứ rèn luyện thể lực [Phố, 16]
(5) Đi xuất khẩu lao động là để cứu nhà [Phố, 49]
+ Động từ cũng có thể đảm nhận chức năng định ngữ Ví dụ:
(6) Ngôi nhà mới làm (chưa quét vôi);
(7) Cuốn sách vừa mới xuất bản
Trong tiếng Việt, động từ, trong khi làm định ngữ cho danh từ, có khả năng kết hợp chặt chẽ với danh từ tới mức trở thành từ ghép, nhất là các tổ hợp song tiết:
nhà ăn, trường học, bàn viết, chậu giặt, xe đẩy, kim khâu, dao mổ,
Động từ trong chức năng bổ ngữ và trạng ngữ là những thành tố phụ trong quan hệ với động từ trung tâm của đoản ngữ/ cụm từ Các động từ khi đứng làm trung tâm đoản ngữ/ cụm từ có thể tiếp nhận những động từ khác làm thành tố phụ Các thành tố phụ này xét về phương diện chức năng có thể xem là bổ ngữ (kiểu
Động ngữ
thành tố phụ trung tâm thành tố phụ
Trang 25như: tập nói, bắt làm, mời ăn, dạy hát, xin nghỉ, cấm đi, đòi xem, giục về, ), hoặc trạng ngữ (kiểu như: chạy ra, làm nhanh, hát hay, tìm được, teo lại, bám lấy, ),
tùy theo khả năng và kiểu bổ sung chi tiết cho động từ chính
1.2.1.3 Động từ chuyển động trong tiếng Anh và tiếng Việt
a Động từ chuyển động trong tiếng Anh
+ Khái niệm động từ chuyển động trong tiếng Anh
Như đã thể hiện rõ ràng trong chính tên gọi của nó, động từ chuyển động là
những động từ diễn tả một loại chuyển động như go (đi), run (chạy), jump (nhảy),
swim (bơi) …
Van Valin [152, 109] cho rằng đối với các động từ chuyển động, chúng cần thể hiện sự chuyển động cộng với sự thay đổi vị trí theo thời gian Động từ chuyển động tiếng Anh có xu hướng kết hợp chặt chẽ với các thành phần hay đặc
điểm ngữ nghĩa như là cách thức chuyển động thể hiện trong các động từ như run (chạy), slide (trượt), fly (bay), nguyên nhân như (blow), thổi (blow), kéo (pull), đá
(kick), hay hướng chuyển động như enter (vào), rise (lên), follow (theo sau)
Talmy‘s (2000) cho rằng động từ chuyển động tiếng Anh có thể được hiểu là thể
hiện ba loại về mặt ngữ nghĩa Đó là cách thức chuyển động như hop (nhảy lò cò), nguyên nhân chuyển động như kick (đá) và hướng chuyển động như exit (ra),
enter(vào) Mặt khác, yếu tố hướng chuyển động có để được diễn tả trong tiếng Anh
bằng động từ và bằng các giới từ, ví dụ như out, into(ra ngoài,vào trong) Điều đó có
nghĩa là hướng chuyển động có thể được thể hiện bằng hai yếu tố ngôn ngữ khác nhau Theo Kudrnáčová (2005), động từ chuyển động mô tả những hoạt động tiến triển về không gian và/ hoặc tiến triển về thời gian Kudrnáčová (2008) đã phân biệt giữa chuyển động thuần túy ( pure motion) và chuyển động như một hoạt động (motion as an activity) Thuật ngữ chuyển động thuần túy ( pure motion) ở đây biểu thị chuyển động như là thay đổi vị trí/ địa điểm theo thời gian – một hiện tượng
thuộc động lực thực sự, ví dụ: Peter walked to the bank (Peter đi bộ đến ngân
hàng) và thuật ngữ chuyển động như một hoạt động (motion as an activity) Ở đây
biểu thị sự chuyển động hoàn thành một vai trò nguyên nhân dẫn đến thay đổi về
trạng thái của tác nhân, ví dụ: Tom walked himself to exhaustion (Tom đi bộ đến kiệt
sức)[120, 23]
+ Phân loại động từ chuyển động tiếng Anh
Trang 26Từ trước đến nay đã có rất nhiều sự phân loại động từ chuyển động, tiêu biểu như sự phân loại động từ chuyển động trong tiếng Anh của Levin & Rappaport – Hovav (1992), Levin (1993), Cifuentes – Honrubia (1999) và De Miguel (1999), Morimoto (2001) đối với động từ tiếng Tây Ban Nha
Levin and Rappaport-Hovav [126, 252-253] đã đưa ra 3 nhóm nội động từ chuyển động như sau:
- Lớp động từ chuyển động đến (arrive class): arrive (đi đến), come (đi tới), go
(đi), depart (ra đi/rời khỏi), fall (rơi xuống), return (trở lại),… Những động từ này
không có đối cách và thể hiện định hướng vốn có ngay trong động từ, vì nghĩa của những động từ này bản thân nó đã bao gồm hướng chuyển động xác định
- Lớp động từ chuyển động cuộn (roll class): roll (cuộn), slide (trượt), move
(di chuyển), swing (đu đưa), spin (quay), rotate (xoay),… Những động từ này là
động từ không có đối cách chỉ ra cách thức cũng như nguyên nhân trực tiếp bên ngoài của chuyển động, nghĩa là, hành động được những động từ này biểu thị chịu
sự tác động trực tiếp của các tác nhân bên ngoài Tác giả Levin và Hovav đã chỉ ra rằng, một đặc điểm thú vị của các động từ chỉ cách thức chuyển động bị tác động của các tác nhân bên ngoài là chúng có thể được sử dụng như cả ngoại động từ và nội động từ.Ví dụ:
Rappaport Andrew rolled Bill down the hill (Andrew đã lăn Bill xuống sườn đồi)
- Bill rolled down the hill (Bill đã lăn xuống sườn đồi)
Cách sử dụng động từ như thế này có thể thấy trong rất nhiều ngôn ngữ (Hale
và Keyser, 1987, 1992)
- Lớp động từ chuyển động chạy (Run class): run (chạy), walk (đi bộ), gallop
(phi nước đại), jump (nhảy), swim (bơi),… Những động từ này thể hiện cách thức
của chuyển động nhưng không thể hiện nguyên nhân tác động trực tiếp từ bên ngoài (ví dụ: các hành động tự phát) Chủ thể cú pháp kiểm soát trực tiếp các hành động
do chủ thể tạo ra
Mặc dù động từ chuyển động được các nhà ngôn ngữ học phân loại theo nhiều cách khác nhau nhưng sự phân loại động từ chuyển động tiếng Anh của Beth Levin
(1993) là rõ ràng và cụ thể Beth Levin (1993) trong Các lớp động từ trong tiếng
Anh và sự thay thế: Nghiên cứu sơ bộ (English Verb Classes and Alternations: A
preliminary investigation) đã nghiên cứu sâu về động từ tiếng Anh trong đó có động
từ chuyển động Nghiên cứu của tác giả được định hướng bằng lý thuyết nghĩa của
Trang 27động từ chịu sự ảnh hưởng của hình thái cú pháp Levin chỉ ra việc xác định động từ bằng thay thế cú pháp tương đồng (similar syntactic alternations) tạo ra phương thức hiệu quả cho việc phân loại động từ chặt chẽ theo ngữ nghĩa Theo đó, nội động từ chuyển động và ngoại động từ chuyển động đã được phân chia thành 9 nhóm [125, 263-270], (xem phụ lục I) bao gồm:
1 Nhóm động từ bản thân nó đã có định hướng chuyển động (Inherently
directed motion): advance (tiến tới), arrive (đi đến), ascend (lên), come (đến),
depart (ra đi/rời khỏi), descend (xuống), enter (vào), escape (thoát khỏi), exit (ra)…
Nghĩa của các động từ này bao gồm chiều hướng chuyển động rõ ràng ngay cả khi không có bổ ngữ chỉ phương hướng
2 Nhóm động biểu thị chuyển động dời chỗ (leave verbs): abandon (bỏ đi),
desert (trốn khỏi), leave ( rời đi…) Các động từ này không chỉ rõ cách thức của
chuyển động; chúng chỉ biểu thị có một hành động đã diễn ra, di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác Hướng chuyển động của chủ thể của những động từ này được hiểu là xuất phát từ vị trí ban đầu của chủ thể trước khi rời đi Vị trí đó không thể được thể hiện trong cụm giới từ
3 Nhóm động từ biểu thị chuyển động cuốn/cuộn (roll verbs): bounce (vụt
lên), drift (cuốn đi), drop (rớt xuống), float (nổi lên), … và cả những động từ mô tả
chuyển động xung quanh một trục như: coil ( cuộn/quấn), revolve (quay tròn),
rotate (xoay), spin (quay), twirl (bện lại), twist (vặn lại), whirl (xoay tít), wind (quấn lại) … Loại động từ chuyển động cuộn này chỉ rõ cách thức chuyển động
cũng như đặc tính vốn có của thực thể, nghĩa là, thực thể chuyển động không nhất thiết phải kiểm soát chuyển động của nó
4 Nhóm động từ biểu thị chuyển động chạy (Run verbs): amble (đi nước kiệu),
bolt (chạy lao đi/lồng lên), climb (trèo), crawl (bò), fly (bay) jump (nhảy), walk (đi bộ)…
Hầu hết các động từ này đều miêu tả cách thức mà các thực thể chuyển động, mặc dù một vài trong số các động từ trên có thể sử dụng để miêu tả cả chuyển động của các thực thể vô tri vô giác Hơn nữa, nếu động từ không xuất hiện trong các
cụm giới từ thì không suy ra được một chuyển động định hướng xác định nào
5 Nhóm động từ là tên phương tiện chuyển động: (Verbs that are Vehicle
names): balloon (đi bằng khí cầu), bicycle (đi xe đạp), boat (đi bằng thuyền), bus
Trang 28(đi xe buýt), motobike (đi xe máy), skate (trượt băng), ski (trượt tuyết), yarcht (đi du thuyền), …
Những động từ này có tên gọi là tên phương tiện chuyển động Về mặt nguyên tắc, trong loại động từ này, có rất nhiều trường hợp người ta có thể sử dụng bất kỳ tên phương tiện nào để làm động từ Loại động từ là tên phương tiện cũng không thể hiện được hướng của chuyển động nếu không có sự xuất hiện của các cụm từ chỉ phương hướng rõ ràng nên chúng cũng là những động từ chuyển động đa hướng
6 Nhóm động từ chuyển động bằng phương tiện không phải là tên phương tiện chuyển động: (Verbs that are not vehicle names):
Trong tiếng Anh vẫn có một số động từ biểu thị hoạt động di chuyển bằng phương tiện, nhưng động từ không phải là tên phương tiện chuyển động (Verbs that are not vehicle
names) như cruise (đi chơi biển), drive(lái xe), fly (bay), row (đi thuyền), sail (đi tàu thủy),
tack (đổi hải trình),… Nhóm động từ này chỉ ra chuyển động dùng phương tiện gì để di
chuyển nhưng tên của phương tiện không trùng với động từ
7 Nhóm động từ biểu thị “vũ điệu” (waltz verbs): boogie (nhảy điệu bugi-ugi),
pop (nhảy điệu pop), cancan (nhảy điệu căng-căng), tango (nhảy điệu tăng-gô), tapdance (nhảy điệu clacket/nhảy thiết hài), waltz (nhảy điệu van-xơ), …
Hướng cụ thể của chuyển động sẽ không suy ra được nếu không có sự xuất hiện của các cụm từ chỉ phương hướng rõ ràng Bất kỳ tên một điệu nhảy nào cũng
có thể sử dụng như động từ chuyển động
8 Nhóm động từ biểu thị chuyển động đi kèm (accompany verbs):
accompany (kèm theo), conduct ( tiến hành), escort (hộ tống), guide (hướng dẫn), lead (dấn dắt), shepherd dẫn đi), … Các động từ này liên quan đến hành động một
người đi kèm/giúp người khác di chuyển từ vị trí này tới ví trí khác
9 Nhóm động từ biểu thị chuyển động theo đuổi (chase verbs): chase (đuổi
theo), follow (đi theo), pursue (theo đuổi), shadow (theo dõi), tail (bám đuôi), track (theo dấu vết), trail (truy lùng),… Đây là những ngoại động từ tiêu biểu, với chaser là chủ thể theo đuổi, và người bị theo đuổi là đối tượng của động từ
Theo một cách tiếp cận khác, nhiều nhà nghiên cứu về động từ chuyển động, trong
đó có Levin (1993) và Kudrnáčová (2008), đã cho rằng động từ chuyển động tiếng Anh
có thể được chia thành 2 loại chính với những đặc tính và hoạt động riêng biệt Hai loại
này gồm động từ chuyển động có hướng/ đường chuyển động (path verbs) và động từ
Trang 29chuyển động không mang hướng hay còn gọi là động từ chuyển động đa hướng chuyển
động theo kiểu, cách thức chuyển động (manner of motion verbs)
Động từ chuyển động có hướng (Path Verbs)
Trong tiếng Anh, loại động từ chuyển động có hướng gồm tất cả các động từ
tự thân chứa hướng chuyển động bởi vì hướng chuyển động tiêu biểu cho đặc điểm
cơ bản của loại động từ này đã được xác định ngay trong chính động từ chuyển
động mà không cần có giới từ chỉ hướng đi kèm, ví dụ như các động từ arrive (đi
đến), leave (rời đi), come (đến), ascend (lên), descend (xuống), enter (vào), escape (thoát khỏi), exit (ra), … Những động từ chuyển động có hướng này trong tiếng
Anh được gọi là “Path verbs” Động từ có hướng khác với các động từ dời chỗ tức
là những động từ chuyển động chỉ thể hiện sự rời chỗ chuyển động mà không mang hướng trong động từ Đây là những động từ chuyển động đa hướng Khi muốn thể hiện hướng chuyển động chúng thường đi với giới từ chỉ hướng, ví dụ như các động
từ run (chạy), walk (đi bộ), swim (bơi), fly (bay), … Chúng có thể kết hợp với các
giới từ chỉ hướng, ví dụ: He ran into the room ten minutes ago (Anh ấy đã chạy vào
phòng cách đây mười phút) hay She is walking along the street (Cô ấy đang đi bộ
dọc theo phố)
Kudrnáčová (2008) đã chỉ ra rằng: ―Động từ có hướng không cung cấp gì về cách thức chuyển động (manner of motion) mà chỉ cung cấp thông tin về hướng
chuyển động Ví dụ John left (John rời đi); John arrived (John đã đến)[121, 7]
Levin (1993) khi nói về nhóm động từ chuyển động có hướng cũng cho rằng
―Nghĩa của những động từ này bao gồm chi tiết cụ thể về hướng chuyển động thậm chí ngay cả khi không có bổ ngữ chỉ hướng‖ [125, 263] Levin (1993) đã xác định
về ngữ nghĩa học thì động từ chuyển động có hướng khác về cơ bản so với các động
từ chỉ cách thức chuyển động (manner of motion verbs) Động từ có hướng không thể dùng một mình trong câu vì nó chỉ nêu hướng chuyển động và luôn phải cần đến điểm không gian mà nó chuyển động đến Nói cách khác, nó chỉ đơn thuần diễn tả
sự dời chỗ bằng cách nêu cụ thể sự chuyển động của một thực thể như là sự thay đổi
vị trí của thực thể đó với một điểm không gian được nêu cụ thể [121, 35] Vì vậy ta
không thể nói một thực thể chỉ là đến „come‟ mà phải nêu rõ đến một nơi nào đó
‗come to (/into) a place‟ hoặc rời ‗leave‘ mà phải nói rời chỗ nào ‗leave a place‟
Như vậy, động từ có thể được dùng với những địa điểm không gian cụ thể tùy vào ngữ cảnh cụ thể Levin (1993) đã liệt kê một danh mục các động từ chuyển động có
Trang 30hướng trong tiếng Anh gồm các động từ như sau: advance (tiến tới), arrive (đi đến),
ascend (lên), come (đến), depart (ra đi/rời khỏi), descend (xuống), enter (vào), escape (thoát khỏi), exit (ra), …
Kudrnáčová (2008) đã nêu một loạt các ví dụ về các cấu trúc câu có thể có động từ chuyển động có hướng và đa hướng tham gia Theo các ví dụ này thì động
từ chuyển động có hướng tham gia vào ít loại cấu trúc câu hơn là động từ chuyển động đa hướng thể hiện cách thức chuyển động Để giải thích hiện tượng này , tác giả đã trích dẫn lời của Rappaport Hovav và Levin, những người đã giải thích sự khuôn phép về cú pháp của động từ chuyển động có hướng bằng cách đưa ra nhóm động từ kết quả mà chứa nhóm động từ chuyển động có hướng để giải thích Động
từ chuyển động có hướng từ vựng hóa kết quả của sự kiện, trong khi động từ chuyển động không mang hướng thể hiện cách thức chuyển động lại từ vựng hóa loại quy trình dẫn đến kết quả và như vậy nó sẵn sàng xuất hiện trong nhiều cấu trúc
cú pháp [121, 9] Tác giả đã đưa ra một số ví dụ để chứng minh cho điều này và nêu
rõ: Có thể sử dụng động từ thể hiện cách thức chuyển động run (chạy) trong câu Pat
ran herself ragged nhưng lại không thể sử dụng động từ chuyển động có hướng arive/ leave (đến/ rời đi) trong câu như sau : John arrived / left himself ragged
Động từ chuyển động đa hướng thể hiện cách thức chuyển động (Manner
of Motion Verbs)
Động từ chuyển động chỉ phương thức chuyển động cho thấy thông tin về cách thức chuyển động nhưng khác với động từ có hướng (động từ tự thân mang hướng chuyển động) là không cho biết thông tin về hướng chuyển động cụ thể, ví
dụ như He is running (Anh ấy đang chạy) hay She has gone (Cô ấy đã đi rồi) trừ khi chúng được kết hợp với các cụm từ chỉ hướng Ví dụ như trong câu He is
running to the store (Anh ấy đang chạy đến cửa hàng) hay She has gone to London (Cô ấy đã đi Luân Đôn)
Những động từ này bản thân nó đã bao gồm khái niệm truyền lực từ người/vật tham gia này đến người/vật tham gia khác (cũng có thể hai người/ vật tham gia này
là một, nghĩa là tự người / vật đó tác động vào bản thân) Ví dụ: John walked
himself to the station)‖ (John đã tự đi bộ đến ga) [121, 10] Do có khả năng kết hợp
với các cụm từ chỉ hướng và ý nghĩa của nó, động từ chuyển động chỉ cách thức chuyển động được sử dụng trong nhiều cấu trúc khác nhau hơn là nhóm động từ chuyển động có hướng Nhóm ĐTCĐĐH mà luận án nghiên cứu thuộc loại thứ hai,
Trang 31tức là loại động từ chuyển động chỉ cách thức chuyển động không mang một hướng
cụ thể nào nhưng có thể kết hợp với các từ chỉ hướng khác nhau để thể hiện
nhiều/đa hướng chuyển động
b Động từ chuyển động trong tiếng Việt
Trên thế giới, nhóm động từ chuyển động được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và ít nhiều đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về động từ Tuy nhiên, ở Việt
Nam, nhóm động từ chuyển động này chưa được các nhà ngôn ngữ quan tâm nhiều
Chỉ có một số ít các nhà nghiên cứu như Nguyễn Lai, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thị Quy
và một số ít các nhà ngôn ngữ khác đề cập đến trong các nghiên cứu của mình
Trong chuyên khảo Động từ trong tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản khi phân loại
động từ trong tiếng Việt tuy không xếp thành nhóm riêng nhưng ông cũng cho rằng:
―Trong những động từ thuần, có một nhóm động từ đặc biệt là những động từ vận động
có phương hướng xác định: ra, vào, lên, xuống, sang, qua, lại tới, đến‖ [68, 101] Trong công trình Hoạt động của từ tiếng Việt [53] Đái Xuân Ninh đã chỉ ra
mối quan hệ giữa nhóm động từ chuyển động với các từ chỉ phương hướng trong
tiếng Việt để diễn tả sự chuyển động Nguyễn Thị Quy (1995), trong nghiên cứu Vị
từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó, đã phân chia vị từ hành động thành
các nhóm : Các vị từ hành động (- Tác động; - Mục tiêu) một diễn tố, các vị từ hành động (- Tác động; + Mục tiêu) hai diễn tố, các vị từ tạo tác hai diễn tố, các vị từ (+ Tác động) hai diễn tố, các vị từ (+ Tác động) ba diễn tố [64]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Đinh Văn Đức phân chia động từ thành các
tiểu loại dựa vào đặc trưng ngữ pháp của động từ, vì theo ông, "đặc trưng ngữ pháp của mỗi một động từ được quy định bởi bản chất ngữ pháp của bản thân từ đó và theo lớp, loại mà nó có quan hệ, tức là các tiểu loại, các phạm trù từ vựng - ngữ pháp bộ phận" [17, 114] Vì vậy, dựa vào đặc trưng ngữ pháp, ông đã phân chia động từ tiếng Việt thành một vài tiểu loại cơ bản, trong đó có động từ chuyển động Cụ thể là:
- Động từ nội động và động từ ngoại động;
- Các động từ tình thái - ngữ pháp;
- Các động từ tổng hợp;
- Các động từ chuyển động [17, 114 - 120]
Ông cho rằng: "Trong nhiều ngôn ngữ, các động từ chuyển động được phân
loại thành một nhóm riêng với một số đặc điểm ngữ pháp riêng biệt Trong tiếng Việt, các động từ với ý nghĩa chuyển động hình thành một danh sách dài và đa
Trang 32dạng Ngoài các động từ chỉ các dạng khác nhau của chuyển động (đi, chạy, bay,
leo, bò, ) có một nhóm động từ chuyển động có ngữ nghĩa khá đặc biệt Đó là các
động từ chuyển động bao hàm cả hướng chuyển động: ra, vào, lên, xuống, qua, lại,
tới, đến, về, "[17, 141-142] Chúng tôi lựa chọn cách phân loại động từ tiếng Việt
của Đinh Văn Đức, vì cách phân loại này cho phép xác định rõ đối tượng nghiên cứu của luận án là các động từ chuyển động đa hướng là các động từ chỉ các dạng
khác nhau của chuyển động (đi, chạy, bay, bò, leo, bơi, ) đối lập với nhóm động từ bao hàm cả hướng chuyển động (ra, vào, lên, xuống, đến, tới, sang, qua, về, )
trong nội bộ nhóm động từ chuyển động trong tiếng Việt
1.2.1.4 Động từ chuyển động đa hướng
Động từ chuyển động đa hướng được khảo sát trong luận án được hiểu là các
động từ chuyển động từ hai hướng trở lên như run (chạy), swim (bơi), fly (bay), go
(đi), trong tiếng Anh, đi, chạy, bơi, bay, bò, trèo,…trong tiếng Việt Tuy cùng
thuộc nhóm động từ chuyển động, nhưng động từ chuyển động đa hướng khác với các động từ chuyển động có bao hàm cả hướng chuyển động trong nội dung ý nghĩa
của mình như exit (ra), enter (vào), ascend (lên), descend (xuống),… trong tiếng Anh hay ra, vào, lên, xuống, tới, đến, lại, về,…trong tiếng Việt Trong phạm vi của
luận án, các ĐTCĐĐH được lựa chọn khảo sát là các động từ dịch chuyển vị trí từ hai hướng trở lên, tự thân vận động trong các môi trường chuyển động như trên cạn, trên không và dưới nước Các động từ này chỉ các phương thức khác nhau của chuyển động; sự chuyển động đều được thực hiện bằng các bộ phận của cơ thể người/động vật Vì vậy, để xác định được các động từ chuyển động đa hướng khảo sát cần phải dựa vào một tập hợp các tiêu chí: nội dung ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của các động từ này Cụ thể là:
- Về phương diện ngữ pháp, các động từ này là những động từ có đầy đủ những đặc điểm cơ bản về khả năng kết hợp, chức năng cú pháp của từ loại động từ;
- Về phương diện ngữ nghĩa, cấu trúc nghĩa của các động từ này luôn có mặt hai nét nghĩa "cách thức chuyển động" biểu thị động tác của các bộ phận cơ thể người/động vật và nét nghĩa "môi trường mà chuyển động diễn ra"
Dựa vào các tiêu chí này, chúng tôi đã xác lập được danh sách các động từ chuyển động đa hướng trong tiếng Anh và trong tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu của luận án Theo đó, thuộc nhóm động từ này trong tiếng Anh có 10 động từ:
run (chạy), go (đi), walk (đi bộ), jump (nhảy), climb (trèo), creep (bò), step (bước),
Trang 33dive (lặn), swim (bơi), fly (bay); trong tiếng Việt có 10 động từ: chạy, đi, bay, bò, bơi, bước, trèo, leo, lặn, nhảy
1.2.2 Khái niệm cụm từ
Từ kết hợp với từ một cách có tổ chức và có ý nghĩa làm thành những cụm từ , tức là những kiến trúc lớn hơn từ Mỗi từ trong cụm từ là một thành tố Cụm từ có thể có cấu trúc tương đương với câu nhưng chưa thành câu, cũng có thể là một đoạn
có nghĩa của câu Các cụm từ chưa thành câu được gọi chung là cụm từ tự do hay
được gọi là cụm từ Khi đề cập đến đơn vị này, các nhà Việt ngữ đã đưa ra những
thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khác nhau cả về nội hàm và ngoại diên Lê
Văn Lý gọi phrase là nhóm từ ngữ, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê gọi là từ
kết, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu lại gọi là từ tổ, Nguyễn Tài Cẩn và các tác
giả công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt gọi là đoản ngữ, Cao Xuân Hạo gọi
là ngữ đoạn, Các tác giả Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học cho rằng:
―Ngữ kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ
với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan” [92, 176] Diệp
Quang Ban cho rằng: "Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp tự do
với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức năng ngữ pháp của kiến trúc này)" [2, 6] Theo ông, quan hệ giữa
các thành tố trong cụm từ , ngoài tính chất lỏng (cụm từ tự do, cụm từ) và chặt (cụm từ cố định), còn được xét ở kiểu quan hệ Các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có thể có ba kiểu quan hệ cú pháp: quan hệ chủ - vị (quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ); quan hệ chính- phụ (quan hệ giữa thành tố chính với thành tố phụ; quan hệ bình đẳng (quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng với nhau về ngữ pháp)
Nguyễn Tài Cẩn cho rằng, với 3 loại quan hệ khác nhau sẽ có 3 loại tổ hợp tự
do khác nhau: "loại tổ hợp gồm nhiều trung tâm nối liền với nhau bằng quan hệ
đẳng lập gọi là liên hợp, loại tổ hợp gồm hai trung tâm nối liền với nhau bằng quan
hệ tường thuật gọi là mệnh đề và loại tổ hợp gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ gọi là đoản ngữ (hoặc ngữ)" [4, 148]
Như vậy, qua các định nghĩa, ta thấy cụm từ (ngữ) có những đặc điểm sau:
i Về cấu tạo: Cụm từ là một kiểu kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc
nhiều thực từ trên cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc - theo quan hệ phù hợp, chi phối
Trang 34hay liên hợp Trong một cụm từ, từ đóng vai trò chủ yếu về ngữ nghĩa và ngữ pháp gọi
là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính là thành tố phụ Thành tố chính của cụm từ có thể là danh từ (tạo nên cụm danh từ hay danh ngữ), động từ (tạo nên cụm động từ hay cụm động từ ngữ), tính từ (tạo nên cụm tính từ hay tính ngữ)
ii Về quan hệ giữa các thành tố: Xét quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống
ngữ pháp, các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có thể có 3 kiểu quan hệ cú pháp phổ biến sau đây:
- Quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ, gọi tắt là quan hệ chủ - vị
- Quan hệ giữa thành tố chính và thành tố phụ về ngữ pháp, gọi là quan hệ chính phụ
- Quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng với nhau về ngữ pháp, gọi là quan hệ đẳng lập
Tương ứng với 3 kiểu quan hệ cú pháp đó là 3 kiểu loại cụm từ sau: cụm chủ -
vị, cụm chính - phụ, cụm đẳng lập
Vì cụm từ đẳng lập thường đơn giản về mặt cấu trúc, đặc trưng của toàn tổ hợp không khác với đặc trưng của từng thành tố của chúng, nên có thể dùng cả tổ hợp thay thế cho mỗi thành tố Trái lại, cụm từ chủ vị thì đặc trưng của toàn tổ hợp hoàn toàn khác với đặc trưng của từng thành tố chính của nó, nên không thể dùng từng thành tố chính thay cho toàn tổ hợp và quan hệ chủ vị lại là một trong những quan hệ chính của nòng cốt câu Còn cụm từ chính phụ bao giờ cũng chỉ có một thành tố chính nên giới ngôn ngữ học thường quan tâm nhiều đến loại cụm từ này Cụm từ chính phụ là một loại tổ hợp tự do có 3 đặc điểm:
- "Nó gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết về mặt ý nghĩa;
- Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ;
- Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm;
- Trung tâm thuộc từ loại nào thì toàn đoản ngữ cũng giữ các đặc trưng của từ loại đó Vì vậy có thể căn cứ vào trung tâm để phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ danh từ (danh ngữ), đoản ngữ động từ (động ngữ), đoản ngữ tính từ (tính ngữ)" [4,149 - 150] Cụm từ chính phụ thường được phân chia thành ba phần rõ rệt: phần
Trang 35phụ trước, phần trung tâm, phần phụ sau Theo đó, người ta căn cứ vào từ loại của thành phần trung tâm của cụm từ để gọi tên cụm từ đó
iii Về chức năng: Cũng giống như từ, cụm từ cũng là phương tiện định danh biểu
thị sự vật, hiện tượng, quá trình, phẩm chất, trạng thái, Ý nghĩa ngữ pháp của cụm từ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng
Cụm từ thường được chia ra thành hai kiểu: cụm từ tự do và cụm từ cố định Cụm
từ tự do bao gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành cụm từ đó; mỗi liên hệ cú pháp của các yếu tố trong cụm từ tự do là mối liên hệ linh hoạt và có sức sản sinh Còn trong cụm từ cố định thì tính độc lập về mặt từ vựng của một hoặc cả hai thành tố bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của cụm từ cố định trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt Cụm từ, ngoài chức năng định danh giống như các thực từ (thường là các cụm từ chính phụ , cụm từ đẳng lập), còn có chức năng khác như chức năng biểu thị sự tình các quan hệ trong phát ngôn hay trong câu, chức năng làm thành phần khác nhau trong câu
Cụm từ cố định (còn gọi là từ tổ cố định) là "các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là
ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhưng đã cố định hóa, cho nên cũng
có tính chất chặt chẽ, có sẵn, bắt buộc có tính chất xã hội như từ" [11, 72] Về hình thức, cụm từ cố định có hình thức cố định, nghĩa là các từ tạo nên nó, trật tự và quan hệ giữa các từ là cố định Về mặt ngữ nghĩa, nghĩa của cụm từ cố định có: "a tính biểu trưng; b tính dân tộc; c tính hình tượng và tính cụ thể; d tính biểu thái" [11, 82 - 86]
Động từ cụm (phrasal verb) hay còn được gọi là ngữ vị từ trong tiếng Anh là sự
kết hợp giữa một động từ và tiểu từ (particle) Tiểu từ này có thể là một trạng từ
(adverb), hay là một giới từ (preposition) hoặc cả hai Động từ cụm có vai trò:
- là ngoại động từ (transitive) theo sau là một danh từ hoặc một đại từ làm chức
năng tân ngữ (object) của động từ
Ví dụ: He listens to pop music every day( Anh ấy nghe nhạc pop hàng ngày)
- là nội động từ (intransstive) không có túc từ theo sau
Ví dụ: The plane is taking off (Máy bay đang cất cánh)
1.2.3 Nghĩa của từ
1.2.3.1 Khái niệm về nghĩa của từ
Trong các tài liệu về ngữ nghĩa học, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nghĩa
từ vựng của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước Trong số các tác giả nước
Trang 36ngoài có ảnh hưởng đến cách hiểu nghĩa từ vựng ở Việt Nam phải kể đến trước hết
là A.I.Smirnitski Ông cho rằng: ―Nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự
vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lý tương tự về tính chất, hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng lẻ của thực tế) nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ‖ [Dẫn theo 20,119]
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ, nhưng, tựu trung lại, có thể phân thành ba nhóm: (i) Nhóm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó; (ii) Nhóm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó; (iii) Nhóm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần
Nguyễn Thiện Giáp (2008) trong Giáo trình ngữ nghĩa học cho rằng cấu trúc ý
nghĩa của từ rất phức tạp, trong đó có cả nhân tố từ vựng lẫn nhân tố ngữ pháp Ông
đã tổng kết khá đầy đủ với tám quan niệm về nghĩa của từ Theo ông, nhìn chung có thể thấy các ý kiến bàn về nghĩa của từ và các đơn vị ngôn ngữ khác nổi lên hai
khuynh hướng: (1) cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng,khái niệm, sự phản ánh ); cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng,
hoặc quan hệ của từ với khái niệm, )
Đỗ Hữu Châu (1981), trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, khi nghiên cứu chức năng tín hiệu học của từ đã cho rằng: ―nghĩa của từ là một thực thể tinh thần‖
Theo ông, nghĩa của từ gồm 4 thành phần tương ứng với 4 chức năng quan trọng mà từ
đảm nhận Đó là: ―a Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật b Ý nghĩa biểu niệm
ứng với chức năng biểu niệm c Ý nghĩa biểu thái tương ứng với chức năng biểu thái
Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng” Còn “d Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp‖ [11, 97] Cùng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, Đỗ
Việt Hùng (2013) cho rằng: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần có quan hệ ổn
định với hình thức từ” [35, 37] Hoàng Văn Hành cũng đã đưa ra quan niệm về nghĩa
của từ: ―Nghĩa của từ không phải chỉ là hệ quả của quá trình nhận thức, mà còn là hệ
quả của những quá trình có tính chất tâm lý xã hội, có tính chất lịch sử nữa‖ [25,9]
Gần đây, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các công trình nghiên cứu ngữ nghĩa học của
các tác giả trong và ngoài nước, Lê Quang Thiêm (2013) trong công trình Ngữ nghĩa
học đã đưa ra kiến giải về 3 tầng và 6 kiểu nghĩa chức năng từ vựng một cách chi tiết
và bao quát bản chất tinh thần - xã hội của nội dung nghĩa từ vựng của ngôn ngữ [75,122-123]
Trang 37Luận án theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu về nghĩa của từ: ―nghĩa của từ là
một thực thể tinh thần‖ với 4 thành phần đã nêu để miêu tả, phân tích các nét nghĩa
của nhóm động từ chuyển động đa hướng là đối tượng nghiên cứu của luận án
1.2.3.2 Các thành phần nghĩa của từ và cấu trúc nghĩa của từ
a Các thành phần nghĩa của từ
Theo hình tháp nghĩa hình học không gian mà Đỗ Hữu Châu (2005) đã đưa ra,
có thể thấy rõ mối quan hệ giữa từ và các nhân tố tạo thành ý nghĩa Ông khẳng
định từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ
của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan hệ với nhân
tố người dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội, từ mối quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ với các từ khác sẽ hình thành các ý nghĩa, cấu trúc và quan
hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp [10] Như vậy, dựa trên sự phân định trên của Đỗ Hữu Châu
(2005), ta có thể thấy rằng có hai thành phần nghĩa lớn: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Trong đó ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa của riêng từ, còn ý nghĩa ngữ pháp
là ý nghĩa mang tính đồng loạt chung cho nhiều từ Theo ông, nghĩa của từ định
danh là một thể thống nhất gồm bốn thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu
niệm, nghĩa ngữ pháp và nghĩa biểu thái.Trong đó ba thành phần nghĩa nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái tạo thành ý nghĩa từ vựng của từ
- Nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là thành phần nghĩa của từ liên quan
đến sự vật hoặc phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
- Nghĩa biểu niệm (signicative meaning): Là thành phần nghĩa của từ liên quan
đến hiểu biết về ý nghĩa biểu vật của từ Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
có các thuộc tính được phản ánh vào tư duy và hình thành nên khái niệm Vì vậy, khái niệm là một phạm trù của tư duy được hình thành từ những hiểu biết trong thực
tế Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng Khi các dấu hiệu bản chất
đó được phản ánh vào ngôn ngữ sẽ hình thành nên các nét nghĩa Tập hợp các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ chính là ý nghĩa biểu niệm của từ
- Nghĩa biểu thái (pragmatical meaning): Là phần nghĩa của từ có liên quan
đến thái độ, cảm xúc, cách đánh giá Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con
người
Trang 38b Cấu trúc ngữ nghĩa của từ
Nghĩa của từ là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người và được thể hiện bằng ngôn ngữ Sự phản ánh đó tồn tại trong từ dưới dạng một cấu trúc, được gọi là cấu trúc nghĩa của từ Ngữ nghĩa học hiện đại đã chứng minh được rằng, cấu trúc nghĩa của từ do một chùm những thành tố có quan hệ hữu cơ với nhau, được tổ chức theo tôn ti nhất định Như vậy, có thể suy ra rằng: "1 nghĩa của phần lớn các từ không phải là không phân tích ra được nữa; 2 nghĩa bao hàm những đơn vị nhỏ hơn gọi là nét nghĩa Nét nghĩa là đơn vị cơ bản phản ánh thuộc tính hoặc quan hệ có giá trị khu biệt của hiện tượng, sự vật trong thế giới khách quan" [28,33]
U Weinreich (1971), nhà ngôn ngữ học Mỹ, cho rằng: ―Mong muốn phân tích
một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một cấp hệ (hệ thống tôn ti cấp bậc) giữa các thành tố luôn luôn là một trong những động cơ chủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa học‖ [153, 317] Ở Việt Nam, việc phân tích nghĩa từ vựng của từ ra
thành nét nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu,
Hoàng Văn Hành, Lê Quang Thiêm…vận dụng vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt
trong các công trình nghiên cứu của mình Hoàng Phê trong bài ―Phân tích ngữ
nghĩa‖ sau khi đưa ra những ví dụ phân tích nghĩa thành nét nghĩa của những từ mẹ, cha, vợ, chồng đã kết luận rằng: ―Nói tóm lại, nghĩa của từ nói chung: a/ là một tập
hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; b/ giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc) biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; c/ các nét nghĩa có tính độc lập tương đối.‖ [56,15] Dựa trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa của các từ đại diện,
Hoàng Phê đã khẳng định: “ Nghĩa của từ, nói chung, là một tập hợp những nét
nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; giá trị các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc), biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện ở khả năng độc lập và tác động qua lại với những nét nghĩa của những từ khác khi từ
tổ hợp với nhau‖ [59, 15] Ông cũng khẳng định rằng: ―Mỗi nghĩa từ là một tổ hợp
đặc biệt những yếu tố ngữ nghĩa (gọi là nét nghĩa) ( ) Đó là "những yếu tố ngữ nghĩa chung cho nghĩa các từ thuộc cùng một nhóm từ hoặc riêng cho nghĩa của một từ, đối lập với nghĩa của những từ khác trong cùng một nhóm Nét nghĩa được diễn đạt bằng một từ (hoặc cụm từ )…” [56, 3]
Trang 39Sự phân tích nghĩa từ thành các nét nghĩa đã được áp dụng rất hiệu quả trong
công tác biên soạn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) để phân tích và miêu tả
nghĩa từ vựng của từ trong từ điển
Ngữ nghĩa của các động từ chuyển động đa hướng sẽ được chúng tôi miêu tả, phân tích dựa vào các định nghĩa các động từ được khảo sát trong từ điển Chúng tôi triệt để vận dụng quan niệm và kết quả phân tích ngữ nghĩa của Hoàng Phê, chủ
biên của cuốn Từ điển tiếng Việt (tái bản 2012) Trong luận án, chúng tôi chọn
nguồn dữ liệu là các kết quả phân tích nghĩa của một số từ điển giải thích và chủ
yếu là hai cuốn từ điển: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, tái bản 2012) và
Từ điển tiếng Anh: Oxford Advandced Learner‟s Dictionary (Tái bản 2015) và sử
dụng có chọn lọc kết quả phân tích của từ điển giải thích để thực hiện khảo sát nghĩa của nhóm động từ chuyển động đa hướng chỉ động tác vân động của người và động vật thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
1.2.3.3 Sự phát triển nghĩa của từ
Cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ cũng phát triển theo Ngoài việc xuất hiện những từ mới để biểu đạt những khái niệm, sự vật mới còn có tình trạng các từ chuyển nghĩa để biểu đạt những sự vật, khái niệm mới Ví dụ: trong tiếng
Việt từ dứt điểm vốn là thuật ngữ thể thao hay không người lái vốn xuất phát từ
thuật ngữ quân sự trong tên gọi " máy bay không người lái" nay đã chuyển sang một
nghĩa mới trong một số ngữ cảnh cụ thể, ví dụ: Vấn đề này cần giải quyết dứt điểm
Ăn bát mì không người lái (=không có thịt)
Đỗ Hữu Châu (1981), trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, cho rằng: ―Từ
(đơn hoặc phức) lúc mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi‖
[7,147] Theo Nguyễn Thiện Giáp, ―Sự xuất hiện nghĩa chuyển là cách tiết kiệm
nhất của ngôn ngữ để phản ánh sự phát triển không ngừng của thế giới khách quan, đời sống và nhận thức của con người theo nghĩa hẹp, chuyển nghĩa là kết quả của hiện tượng ẩn dụ và hoán dụ” [21, 139]
a Nghĩa gốc (original meaning)
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), “ Nghĩa gốc là nghĩa mà từ đó phái sinh ra
các nghĩa khác” [21, 265]
Cùng quan điểm, một số tác giả khác như Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu,
Hoàng Trọng Phiến (2001) trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, cũng cho rằng
Trang 40nghĩa gốc là nghĩa cơ bản hay nghĩa đầu tiên dựa vào đó người ta xây dựng nên các nghĩa khác
b Nghĩa chuyển (transferred meaning)
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: ― Nghĩa chuyển tiếp bao giờ cũng có thể giải thích được qua nghĩa trực tiếp, còn nghĩa trực tiếp không giải thích được‖[ 21, 264]
c Các phương thức chuyển nghĩa của từ
Nghĩa của từ vừa là sản phẩm của quá trình hoạt động, là kết quả của sự tổng hợp, khái quát nghĩa từ các ngữ cảnh sử dụng, vừa là một thành tố của hệ thống ngôn ngữ Ngữ cảnh sử dụng ngôn ngữ chính là sự biểu hiện cụ thể bằng câu, lời trong tính xác định cụ thể của nó Sự biểu hiện cụ thể này tất yếu phải nằm trong các văn bản thuộc các loại hình phong cách chức năng khác nhau Theo quan điểm của Lê Quang Thiêm, sự phát triển nghĩa từ vựng của từ thể hiện qua ba tầng nghĩa với sáu kiểu nghĩa: "tầng nghĩa trí tuệ, gồm các kiểu nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu hiện; tầng nghĩa thực tiễn, gồm có kiểu nghĩa biểu thị và nghĩa biểu chỉ; tầng nghĩa biểu trưng, gồm có kiểu nghĩa biểu trưng và nghĩa biểu tượng" [75, 1- 10] Như vậy, trong phân tích ngữ nghĩa học truyền thống, nghĩa từ vựng của từ thường được xét
từ hai hướng: hướng nhận thức duy lí và hướng biểu cảm/biểu xúc Theo cách lưỡng phân này, sự phát triển nghĩa của từ được xem xét cả ở bình diện hệ thống và bình diện hoạt động Ngữ nghĩa học truyền thống đã phát hiện ra những quá trình phát triển ý nghĩa cơ bản Đó là các quá trình mở rộng và thu hẹp nghĩa, chuyển đổi tên gọi bằng ẩn dụ và hoán dụ
Mở rộng và thu hẹp ý nghĩa của từ
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2014), mở rộng nghĩa của từ là một quá trình phát triển từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng "Ý nghĩa được hình thành nhờ quá trình này gọi là nghĩa rộng" [22,81] Thu hẹp nghĩa là cách giới hạn phạm vi ý nghĩa của từ từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể Mở rộng và thu hẹp nghĩa của từ là quá trình chuyển từ khái niệm về loại sang khái niệm về chủng (thu hẹp), hoặc chuyển từ khái niệm về chủng sang khái niệm về loại (mở rộng)
Chuyển đổi tên gọi - ẩn dụ và hoán dụ
Chuyển đổi tên gọi là kết quả của những quá trình liên tưởng khác nhau
Nguyễn Thiện Giáp (2014) trong Nghĩa học Việt ngữ đã chỉ ra ba nguyên nhân
chính là động lực làm cho các từ có thể phát triển thêm nghĩa mới như sau:
1 Sự biến đổi, phát triển không ngừng của đời sống: Qua quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên và xã hội, con người đã làm cho thế giới và xã hội ngày càng