Từ thực tiễn những năm gần đây thấy tội phạm tham ô tài sản ngày càng gia tăng với quy mô, mức độ phức tạp rất cao, điển hình như Tham ô tài sản xảy ra ở các tập đoàn, tổng công ty lớn T
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ GIANG
HỎI CUNG BỊ CAN TRONG VỤ ÁNTHAM Ô TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄNĐIỀU TRA TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ GIANG
HỎI CUNG BỊ CAN TRONG VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN
TỪ THỰC TIỄN ĐIỀU TRA TỈNH QUẢNG NINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Tác giả
Hà Giang
Trang 4Cám ơn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Công an tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Văn Luyện, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỘI PHẠM THAM Ô TÀI SẢN
VÀ HOẠT ĐỘNG HỎI CUNG TRONG VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN 5
1.1 Nhận thức chung về tội phạm tham ô tài sản 5 1.2 Một số vấn đề cơ bản về chiến thuật hỏi cung bị can trong quá trình điều tra vụ án tham ô tài sản 15
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TRẠNG HỎI CUNG BỊ CAN TRONG VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN ĐIỀU TRA TỈNH QUẢNG NINH 34
2.1 Những quy định của pháp luật về hoạt động hỏi cung bị can 34 2.2 Một số kết quả điều tra, xử lý các vụ án tham ô tài sản 35 2.3 Thực trạng hoạt động hỏi cung bị can trong các vụ án tham ô tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra 41 2.4 Nhận xét, đánh giá 52
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HỎI CUNG BỊ CAN TRONG VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN 54
3.1 Dự báo tình hình tội phạm tham ô tài sản trong những năm tới và những khó khăn trong công tác hỏi cung bị can 54 3.2 Một số kiến nghị 58 3.3 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hỏi cung bị can trong vụ án tham ô tài sản 60
KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giai đoạn Điều tra là công việc đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Để thu thập chứng cứ trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra được tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Hoạt động điều tra là bắt buộc đối với tất cả các vụ án hình sự, thiếu hoạt động điều tra, Viện kiểm sát không có cơ sở để truy tố, Tòa án không có cơ sở để xét xử vụ án Chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ về các biện pháp điều tra Điều này được thể hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 của Nhà nước Cộng hòa XHCNViệt Nam, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 2004 và luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 các văn bản chuyên ngành khác Trong những biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, hỏi cung bị can là biện pháp có vai trò, vị trí hết sức quan trọng Qua hỏi cung bị can giúp Cơ quan điều tra làm rõ
sự thật khách quan của vụ án, làm rõ được âm mưu, ý đồ, động cơ, hành vi phạm tội của bị can và đồng bọn Đồng thời hỏi cung còn tạo điều kiện mở rộng công tác điều tra, giúp phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm có hiệu quả Với ý nghĩa ấy hỏi cung bị can đựơc xem là hoạt động trọng yếu của quá trình điều tra vụ án
Trong thời gian qua, những vấn đề lý luận cơ bản về hỏi cung bị can đã được quan tâm tuy nhiên việc nghiên cứu hỏi cung bị can đối với mỗi tội riêng biệt là rất ít
Vì vậy, việc nghiên cứu về hỏi cung bị can trong vụ án Tham ô tài sản có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, là nhiệm vụ đặt ra không chỉ với khoa học điều tra hình sự mà còn là yêu cầu cấp thiết đối với thực tiễn điều tra tội phạm trong giai đoạn hiện nay
Quá trình hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự là quá trình thu thập tài liệu làm rõ toàn bộ về vụ án, hành vi phạm tội của bị can để lập hồ sơ truy tố Hỏi cung
bị can là biện pháp điều tra làm rõ động cơ và mục đích phạm tội phát hiện ra đồng bọn, những vật chứng còn cất giấu hay phát hiện những âm mưu và hành động chuẩn bị để gây án… Điều này lý giải tại sao vấn đề hỏi cung bị can luôn là một
Trang 8trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập pháp mỗi nước khi xây dựng BLTTHS Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra phổ biến bởi vì hỏi cung bị can thường được tiến hành trong hoạt động điều tra mọi loại tội phạm
Một trong những loại tội phạm nguy hại nhất cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định là tội tham ô Khi còn sống Hồ Chí Minh coi tệ tham ô là một căn bệnh, là hành động xấu xa nhất Người cho rằng “Tham ô là lấy của công làm của tư Là gian lận tham lam”, “tham ô là trộm cướp”… Trong cơ chế thị trường hiện nay, kinh tế là lĩnh vực luôn tiềm ẩn khả năng tham ô lớn Do đó lợi ích vật chất được xác định là động lực thúc đẩy mạnh mẽ hành vi tham ô tài sản Từ thực tiễn những năm gần đây thấy tội phạm tham ô tài sản ngày càng gia tăng với quy mô, mức độ phức tạp rất cao, điển hình như Tham ô tài sản xảy ra ở các tập đoàn, tổng công ty lớn Tập đoàn dầu khí, Vinashin… Yêu cầu đặt ra trong công tác Hỏi cung bị can trong các vụ án Tham ô tài sản phải làm rõ được vụ án để thấy rõ kẻ phạm tội, các yếu tố của vụ án, hậu quả xảy ra để Viện kiểm soát và Tóa án đề xuất, quyết định hình phạt thích đáng đồng thời nắm được thực trạng tham ô và rút ra các bài học, biện pháp giải quyết phù hợp.Tại tỉnh Quảng Ninh, số lượng vụ án về tham ô rất đáng kể, công tác hỏi cung bị can nhìn chung được thực hiện hiệu quả, đúng pháp luật,được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đánh giá cao Tuy nhiên việc hỏi cung bị can còn bộc lộ những thiếu sót trong áp dụng pháp luật vào thực tiễn Điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, áp dụng pháp luật vào hỏi cung bị can có hiệu quả, hợp
lý, hợp pháp hơn trong khi số lượng công trình nghiên cứu rất hạn chế
Với những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hỏi cung bị can trong vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn điều tra tỉnh Quảng Ninh” làm Luận văn thạc sĩ của
mình Qua việc tìm hiểu công tác hỏi cung bị can trong vụ án tham ô tài sản trong các quy định của BLTTHS về hỏi cung bị can để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự góp phần tránh bỏ lọt tội phạm, gây oan sai cho người vô tội…
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hỏi cung bị can trong hoạt động điều tra các vụ
án tham ô tài sản nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động hỏi cung bị can trong quá trình điều tra các vụ án tham ô tài sản, góp phần bổ sung, từng bước hoàn thiện lý luận về hỏi cung bị can
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ lý luận cơ bản về tội phạm tham ô tài sản và hoạt động hỏi cung bị can trong vụ án tham ô tài sản
+ Làm rõ những diễn biến của tình hình tội phạm tham ô và kết quả điều tra
+ Kiến nghị và đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục vướng mắc, hạn chế
để nâng cao hiệu quả hoạt động hỏi cung bị can trong điều tra vụ án tham ô tài sản
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn
hoạt động hỏi cung bị can trong vụ án tham ô tài sản
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về mặt nội dung: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu vấn đề hỏi cung bị can
trong điều tra vụ án tham ô tài sản do CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh tiến hành
+ Địa bàn nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở số liệu một số vụ
ántrên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
+Về khoảng thời gian khảo sát:Giai đoạn 2008-2018
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
và pháp luật; các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
Trang 10nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về hoạt động quản
lý kinh tế nói riêng
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, tọa đàm, tham khảo ý kiến chuyên gia, nghiên cứu hồ sơ vụ án để hoàn thiện đề tài này
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống lý luận
về hỏi cung bị can nói chung và trong hoạt động điều tra các vụ án tham ô tài sản nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn:
Những đề xuất của đề tài có thể giúp các Cục nghiệp vụ Cảnh sát, Công an các địa phương nghiên cứu, tham khảo, áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả biện pháp hỏi cung bị can trong hoạt động điều tra các vụ án kinh tế nói chung và tham ô tài sản nói riêng
6.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương Cụ thể:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tội phạm tham ô tài sản và hoạt động hỏi cung
bị can trong vụ án tham ô tài sản
Chương 2: Những quy định của pháp luật về hoạt động hỏi cung bị can và thực
trạng hỏi cung bị can trong vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn điều tra tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Những kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hỏi cung bị can
trong vụ án tham ô tài sản
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỘI PHẠM THAM Ô TÀI SẢN VÀ HOẠT ĐỘNG
HỎI CUNG TRONG VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN
1.1 Nhận thức chung về tội phạm tham ô tài sản
1.1.1 Khái niệm tội phạm tham ô tài sản
Theo từ điển Tiếng Việt, tham ô được hiểu là hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc chức trách để ăn cắp của công”[17,tr.728] Hiểu theo cách chung nhất thì tham ô là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn ấy để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý
Ở nước ta kể từ sau Cách mạng tháng Tám, từ những năm đầu mới giành được chính quyền về tay nhân dân, hành vi tham ô được gọi là “biển thủ công quỹ” hành
vi này lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 “Trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ nhằm bảo vệ tài sản của công” Sau đó khái niệm “biển thủ công quỹ” dần dần được thay thế bằng khái niệm “tham ô” Cùng với quá trình phát triển của xã hội và quá trình hệ thống pháp luật, nhận thức về tội phạm tham ô ngày càng được hoàn thiện Về cơ bản thì nội dung của hai khái niệm” Tham ô tài sản” và khái niệm “Biển thủ công quỹ” không có gì khác nhau, mà chỉ khác nhau về tên gọi của tài sản bị chiếm đoạt mà thôi Tội danh
“Tham ô tài sản” lần đầu tiên được quy định trong văn bản pháp luật hình sự tại Điều 8 của Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN được Uỷ ban thường vụ Quốc hội Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua ngày 21/10/1970 Trước năm 1975, khi đất nước chưa thống nhất giữa 2 miền Nam Bắc, để kịp thời trừng trị tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ngày 25/3/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03 “về tội phạm và hình phạt” Điều 4 của Sắc luật này đã quy định
về tài sản công cộng và tội tham ô tài sản công cộng
Quá trình phát triển của xã hội, hoàn thiện hệ thống pháp luật là một yêu cầu tất yếu, ngày 9/7/1985 Bộ luật hình sự đầu tiên của Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã được công bố và có hiệu lực từ ngày 1/1/1986 Tội tham ô tài sản XHCN đã
Trang 12được quy định tại Điều 133 của Bộ luật này Theo quy định của điều luật thì tham ô tài sản XHCN là hành vi của những người có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn ấy để chiếm đoạt tài sản XHCN mà họ có trách nhiệm trực tiếp quản lý Hơn 10 năm thi hành Bộ luật 1985, nội dung của nhiều điều luật không còn phù hợp và đã được sửa đổi, trong đó có Điều 133 quy định về tội tham ô tài sản XHCN Tại Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 133 (Tham ô tài sản XHCN) được thay thế bằng Điều 278 (Tội tham ô tài sản), nay là Điều 353 BLHS 2015(Sửa đổi
bổ sung 2017) Về khách thể bị xâm hại trong Bộ luật Hình sự 2015 đã mở rộng hơn, không chỉ còn là tài sản XHCN (tài sản của Nhà nước) mà yếu tố tài sản ở đây đã được mở rộng với các hình thức sở hữu Luật sửa đổi đã bỏ yếu tố trực tiếp trong quản lý tài sản và đưa ra khái niệm có trách nhiệm quản lý nhằm mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm tham ô, tránh được sự tranh cãi về khái niệm thế nào là trực tiếp quản lý tài sản Về xác định giá trị tài sản trong Bộ luật cũng có sự thay đổi, trước đây tài sản bị tham ô phải có giá trị từ năm triệu đồng trở lên; thì ở Bộ luật Hình sự 2015 qui định “ " từ hai triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng ” Thông qua giá trị định lượng vật chất ở đây đã thể hiện quan điểm đấu tranh mạnh mẽ, triệt để của Đảng và Nhà nước ta với tội phạm tham ô
Đặc trưng cơ bản nhất của hành vi phạm tội tham ô là lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý Đây là hành vi sử dụng
và dựa vào quyền năng do chức vụ mà có để làm không đúng, sai với chức trách, làm trái nguyên tắc chính sách, chế độ, thể lệ về quản lý tài sản thuộc lĩnh vực công việc của mình phụ trách để chiếm đoạt tài sản Hành vi làm không đúng có thể là trong giới hạn được phép nhưng có liên quan đến cương vị công tác hoặc cũng có thể dùng uy quyền, chức vụ để tác động đến cấp dưới, hoặc người khác Tài sản bị tham ô ở đây có thể được hiểu bao hàm tất cả các tài sản thuộc các nhóm sở hữu: tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước; tài sản thuộc sở hữu chung theo phần hoặc sở hữu chung hỗn hợp
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý
- Bị can trong các vụ án tham ô tài sản là những đối tượng có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết cuộc sống, có trình độ chuyên môn, có quan hệ xã hội rộng rãi
Trang 131.1.2 Những đặc điểm hình sự của tội phạm tham ô tài sản
"Đặc điểm hình sự tội phạm là sự phản ánh của hệ thống những đặc tính, dấu hiệu của những vụ tội phạm trong hiện thực khách quan"
Từ đó cho thấy đặc điểm hình sự của tội phạm là một tập hợp thông tin về hệ thống các đặc điểm, dấu hiệu của một loại tội phạm hoặc một nhóm tội phạm cụ thể được hình thành trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn điều tra, đóng vai trò là cơ sở đưa ra những chỉ dẫn tối ưu hoá quá trình thực hiện mục đích điều tra khám phá tội phạm Cấu trúc đặc điểm hình sự của tội phạm bao gồm những thông tin về các vấn
đề sau: Dấu vết vật chất của vụ án, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm, thời gian
và địa điểm xảy ra vụ án, diễn biến của quá trình gây án, hoàn cảnh điều kiện xảy ra
vụ án, đối tượng bị xâm hại, mục đích và động cơ gây án, phẩm chất cá nhân của người phạm tội, của người bị hại và những hoàn cảnh tạo thuận lợi cho tội phạm
a) Đặc điểm thông tin ban đầu về tội phạm tham ô tài sản:
Để xác định có vụ việc phạm tội xảy ra có căn cứ tiến hành tổ chức hoạt động điều tra, cơ quan điều tra phải có những thông tin cụ thể về vụ phạm tội Những thông tin ban đầu đến với cơ quan điều tra từ nhiều nguồn khác nhau và dưới những hình thức khác nhau
Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về căn cứ khởi tố vụ
án hình sự như sau:
“Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1) Tố giác của cá nhân;
2) Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3) Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4) Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước:
5) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; 5) Người phạm tội tự thú”
Những cơ sở nêu trong điều luật có tính chất quy định chung làm căn cứ để khởi tố vụ án đối với các loại tội phạm Song đi sâu nghiên cứu bản chất của các cơ
sở đó, trên cơ sở các tài liệu thực tiễn của hoạt động điều tra tội phạm thì mỗi loại
Trang 14tội phạm hoặc nhóm tội phạm cụ thể sẽ có những đặc tính riêng về nguồn thông tin ban đầu đối với loại tội phạm hoặc nhóm tội phạm cụ thể ấy
Theo số liệu thống kê tổng hợp nhiều năm của Cơ quan CSĐT, Cơ quan CSKT và kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa học về tội phạm và hoạt động điều tra tội phạm cho thấy các nguồn thông tin ban đầu về các vụ phạm tội kinh tế nói chung, trong đó có các vụ phạm tội tham ô tài sản được tiếp nhận từ các nguồn sau:
- Tố giác của cá nhân
- Tin báo về tội phạm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong đó có các phương tiện thông tin đại chúng
- Kết quả hoạt động nghiệp vụ trinh sát
- Kết quả thanh tra của các cơ quan chức năng và hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát
- Người phạm tội tự thú
- Người phạm tội bị bắt quả tang
- Kết quả khai thác từ các vụ án khác
Tóm lại thông tin ban đầu về vụ tham ô tài sản thường rất đa dạng phong phú
và đòi hỏi phải phân tích đánh giá sâu
b) Đặc điểm về địa bàn, lĩnh vực xảy ra tội phạm tham ô tài sản:
Căn cứ số liệu thống kê của các cơ quan chức năng và các thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng thì thấy rằng: tham ô xảy ra ở tất cả các địa bàn, các lĩnh vực, các địa phương trong toàn quốc, song tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế, các tỉnh có nền kinh tế phát triển Những khu vực này được gọi là các địa bàn trọng điểm về kinh tế, đồng thời cũng là những địa bàn trọng điểm về hoạt động của tội phạm kinh tế Ở các địa bàn này tập trung nhiều cơ quan nhà nước, nhiều doanh nghiệp lớn của Nhà nước cũng như của các thành phần kinh tế khác Trong đó tham ô tài sản chủ yếu xảy ra ở các doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các vụ án tham ô lớn được phát hiện trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây đều xảy ra ở các địa bàn trọng điểm về kinh tế hoặc có liên quan đến các địa bàn này Một vụ án tham ô không còn chỉ xảy ra trong một phạm vi hẹp là một cơ
Trang 15quan, một doanh nghiệp như trước đây Nhiều vụ án tham ô liên quan đến nhiều cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, nhiều cấp từ Trung ương đến cơ sở Đặc biệt đã có cả yếu tố nước ngoài trong một số vụ án tham ô được phát hiện trong thời gian gầy đây
Có những cơ quan, tổ chức trước đây rất ít xảy ra tham ô như lực lượng vũ trang, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan thuộc tổ chức Đảng nhưng thời gian gần đây tham ô đã xảy ra ở đây, có nơi, có lúc rất nghiêm trọng
Ở các ngành, các lĩnh vực trong xã hội đều có tham ô xảy ra, nhưng tập trung chủ yếu ở các ngành, các lĩnh vực trọng điểm tập trung nhiều tài sản, tiền bạc của nhà nước như Tài chính, Ngân hàng, Kho bạc, Thương mại, Đầu tư xây dựng cơ bản, Quản lý nhà đất, Bảo hiểm,Y tế, Giáo dục, Dự trữ quốc gia, Giao thông-Vận tải, thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội của Nhà nước v.v
c) Đặc điểm về đối tượng gây án:
Theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 sủa đổi bổ sung 2017 thì đối tượng phạm tội tham ô là những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn ấy để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý Chức vụ
ở đây là vị trí làm việc trong hệ thống lãnh đạo, điều hành cơ quan, doanh nghiệp
mà người phạm tội được cấp có thẩm quyền phân công Quyền hạn ở đây là những quyền năng đi cùng với các chức vụ ấy và các quyền của những người khác không giữ chức vụ nhưng được giao những nhiệm vụ có trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của cơ quan, doanh nghiệp nhà nước Nói cách khác, chủ thể của tội phạm tham
ô là chủ thể đặc biệt Những người khác không phải chủ thể đặc biệt thì chỉ phạm tội tham ô khi họ là đồng phạm với những chủ thể phạm tội
Như vậy, đối tượng phạm tội tham ô là những người có chức vụ, địa vị trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước hoặc những người khác làm việc trong các cơ quan doanh nghiệp ấy Những người này thường là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan, doanh nghiệp, những người phụ trách các bộ phận của cơ quan, doanh nghiệp, những người khác có trách nhiệm, quyền hạn nhất định đối với công tác quản lý tài sản của cơ quan, doanh nghiệp như nhân viên kế toán, thủ kho, thủ quỹ; nhân viên nghiệp vụ khác như kế hoạch, cung ứng vật tư, kỹ thuật viên v.v
Trang 16Trong cơ chế quản lý hành chính tập trung, bao cấp trước đây, đối tượng tham
ô thường chỉ tập trung ở những đối tượng giữ các chức vụ thấp, những nhân viên nghiệp vụ như: thủ kho, thủ quỹ, kế toán và ở các cơ quan, doanh nghiệp cấp thấp,
ở những bộ phận trực thuộc v.v Nhưng từ khi có sự chuyển đổi cơ chế, địa vị, chức vụ của các đối tượng khi phạm tội tham ô đã thay đổi rất nhiều Nhiều đối tượng phạm tội tham ô giữ những chức vụ, cương vị quan trọng trong hệ thống các
cơ quan chính quyền nhà nước như lãnh đạo cấp Bộ, Lãnh đạo các Tổng cục, Vụ, Cục của các Bộ Nhiều người giữ những chức vụ quan trọng trong các doanh nghiệp nhà nước như Tổng Giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc các tổng công ty, công ty, các viện nghiên cứu Hầu hết các vụ án tham ô tài sản nghiêm trọng được phát hiện trong thời gian gần đây đều có liên quan đến những người đứng đầu các cơ quan, doanh nghiệp nơi xảy ra vụ án
d) Thành phần, đặc điểm tâm lý đối tượng:
Các đối tượng tham ô chiếm phần lớn là những người có trình độ văn hoá cao,
có trình độ chuyên môn được đào tạo có hệ thống, nhất là về nghiệp vụ quản lý kinh
tế Đây là một đặc điểm rất quan trọng trong tổ chức điều tra các vụ án tham ô Với đặc điểm này của tội phạm tham ô, trong việc lập kế hoạch điều tra cần cân nhắc tính toán việc bố trí phân công ĐTV sao cho thích hợp với từng đối tượng
cụ thể Ngoài yêu cầu về kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ĐTV được phân công điều tra loại án này đòi hỏi phải có thêm những phẩm chất khác như có kinh nghiệm sống, có kiến thức xã hội, có nghiệp vụ và những hiểu biết nhất định
về nghiệp vụ chuyên môn liên quan trực tiếp đến đối tượng phạm tội, đặc biệt là đối với ĐTV được phân công hỏi cung bị can
Từ đặc điểm này cần chú ý một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều tra vụ án, đó là: Do có chức vụ quyền hạn, nhiều đối tượng phạm tội giữ những cương vị lãnh đạo quan trọng do đó họ thường có những quan hệ xã hội rộng rãi và phức tạp, nhất là có quan hệ với những người có chức, có quyền, trong hệ thống bộ máy nhà nước do đó dễ tạo ra những vụ án tham ô lớn bị “chìm xuồng” cùng với thời gian
Trang 17Cũng do có những quyền hạn nhất định, các đối tượng thường sử dụng các quyền hạn đó để thực hiện hành vi che giấu tội phạm và cản trở hoạt động điều tra như khống chế những nhân viên dưới quyền không được tạo điều kiện thuật lợi cho hoạt động điều tra, hoặc những người dưới quyền phải tham gia vào việc hợp pháp hoá hoặc thủ tiêu các tài liệu, chứng cứ về tội phạm Thậm chí có khi họ dùng quyền hành
để đổ tội cho người khác để lẩn tránh trách nhiệm
đ) Đặc điểm về thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm:
Cũng như các tội phạm khác một vụ tham ô xảy ra là kết quả của một loạt các hành vi nhất định của chủ thể phạm tội Những hành vi được gọi là thủ đoạn phạm tội (hay thủ đoạn gây án) chỉ có ở những tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý Những hành vi ấy vừa nhằm mục đích phạm tội, vừa nhằm che giấu tội phạm Trong Bộ luật Hình sự có đề cập đến thủ đoạn phạm tội nhưng đó chỉ là những quy định chung có tính khái quát và không phải khi nào cũng được thể hiện rõ trong hành vi của đối tượng gây án mà phải phân tích, mổ xẻ, chứng minh
Đây là một yêu cầu rất quan trọng, bởi vì "Từ phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm mà nghiên cứu phương pháp chiến thuật khám phá tội phạm đó" Tham ô tài sản là loại tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý Người phạm tội sử dụng chính ngay quyền hạn và nghiệp vụ của mình trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi phạm tội Do đó, thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm của loại tội phạm này thường rất tinh vi và phức tạp Tính chất phức tạp và tinh vi còn thể hiện ở hiện tượng sau: Trong thực tế nhiều khi để nhận biết được đối tượng phạm tội tham ô nói riêng và tham nhũng nói chung không khó, chỉ cần quan sát điều kiện sống và sinh hoạt của chúng là có thể nhận biết ngay được Song để chứng minh chúng đã phạm tội tham ô thì lại là một công việc không đơn giản Chính vì vậy số
vụ án tham ô tài sản được phát hiện và xử lý trong những năm gần đây không tăng nhưng vẫn có thể nhận định tội phạm tham ô nói riêng và tham nhũng nói chung ngày càng nghiêm trọng và phức tạp
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, thủ đoạn phạm tội tham ô có những đặc điểm riêng có tính đặc thù Song về bản chất chung của thủ đoạn tham ô là những cách thức để chiếm đoạt tài sản và hợp pháp hoá tài sản bị chiếm đoạt Cách thức chung
Trang 18phổ biến nhất là lập chứng từ giả mạo về các chi phí để rút tiền, tài sản ra khỏi sự quản lý, kiểm soát của cơ quan, doanh nghiệp để chiếm đoạt tài sản đó Chứng từ giả mạo ở đây cần phải được hiểu là chứng từ được hợp thức hoá về mặt hình thức, hoặc hình thức biểu hiện bên ngoài của chứng từ là như thật (theo đúng quy định của Nhà nước) nhưng nội dung là giả là trái với sự thật
Người phạm tội tham ô luôn tìm những thủ đoạn mới trong cách thực hiện và che giấu tội phạm Những thủ đoạn mới đã dần thay thế các thủ đoạn tham ô “cổ điển” như tẩy xoá, sửa chữa chứng từ, sổ sách bằng các phương pháp cơ học hoặc hoá học
Khác với một số loại tội phạm khác, vụ án tham ô tài sản thường là một quá trình được thực hiện bằng một loạt các hành vi tham ô (thực hiện tham ô nhiều lần) trong những khoảng thời gian nhất định, có khi liên tục, có khi gián đoạn; tài sản bị chiếm đoạt nhiều lần Do đó nếu có bị phát hiện thì cơ quan điều tra cũng không dễ
gì phát hiện được toàn bộ các hành vi tham ô mà đối tượng phạm tội đã thực hiện Đây là một thủ đoạn tham ô rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay Thực tế hiện nay cho thấy rất ít vụ án tham ô mà hành vi chiếm đoạt tài sản có khối lượng lớn diễn ra một cách chớp nhoáng bởi vì như vậy rất dễ bị phát hiện và làm rõ
Bằng kinh nghiệm thực tiễn, nhiều cán bộ lãnh đạo và chuyên viên của các ngành bảo vệ pháp luật đã đưa ra kết luận: Chỉ cần chứng minh được 50% số tài sản
bị chiếm đoạt trong một vụ án tham ô đã là thắng lợi lớn Điều đó có nghĩa là rất khó có thể chứng minh làm rõ được toàn bộ các hành vi phạm tội đã thực hiện trong các vụ án tham ô kéo dài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hoàn thiện các cơ chế quản
lý kinh tế, thủ đoạn phạm tội của tội phạm tham ô ngày càng phức tạp về nội dung
và đa dạng về hình thức
Thủ đoạn phạm tội tham ô thường biểu hiện phổ biến dưới các hình thức sau:
- Đánh tráo tài sản: Đưa tài sản có giá trị thấp vào tráo lấy tài sản có giá trị cao
để chiếm đoạt (bán đi lấy chênh lệch hoặc sử dụng trực tiếp cho nhu cầu của đối tượng phạm tội)
Trang 19- Đưa vào các công trình xây dựng những vật tư, nguyên liệu không đúng chủng loại, có giá trị thấp hơn giá trị dự toán tạo ra khoản chênh lệch để chiếm đoạt
- Khai khống, nâng khối lượng công việc đã thực hiện, khai khống chi phí nhân công tạo ra chênh lệch về chi phí để chiếm đoạt
- Móc ngoặc giữa chủ đầu tư (bên A) với nhà thầu (bên B) hoặc thông đồng mua chuộc cán bộ giám sát thi công, cán bộ giám định để thực hiện các hành vi gian dối trong thi công công trình hoặc mua bán vật tư, vật liệu nhằm tạo chênh lệch để chiếm đoạt
- Nâng định mức kinh tế-kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh từ đó dẫn đến nâng khống giá trị chi phí tạo chênh lệch để chiếm đoạt
- Trong đấu thầu xây lắp công trình, mua sắm vật tự, tài sản chủ đầu tư và nhà thầu thông đồng với nhau để thực hiện mục đích tham ô
- Hạ giá sản phẩm sản xuất ra hoặc tài sản thanh lý thấp hơn so với giá trị thực
và giá bán thực tế, tạo chênh lệch để chiếm đoạt
Những người phạm tội tham ô tài sản còn dùng một số thủ đoạn che giấu tội phạm như:
- Thủ tiêu các tài liệu, chứng cứ bằng cách gây ra hoả hoạn Thủ tiêu tài liệu, chứng từ rồi tạo hiện trường giả vụ trộm v.v
- Không sử dụng trực tiếp các tài sản chiếm đoạt là các vật cụ thể cho các nhu cầu sinh hoạt cá nhân mà bán các tài sản đó đi, chuyển đổi thành vàng, ngoại tệ hoặc các tài sản có giá trị khác để cất giấu hoặc sử dụng vào các việc như: cho vay, gửi vào ngân hàng, đầu tư vào kinh doanh v.v
- Tìm mọi cách hợp pháp hoá tiền và tài sản do phạm pháp dưới dạng quà biếu, được thừa kế, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh; mua vé số trúng thưởng v.v
- Sử dụng các mối quan hệ với các nhân vật có địa vị, chức vụ cao trong xã hội
để bao che hành vi phạm tội (hiện tượng "ô dù")
- Sử dụng quyền hành khống chế những người dưới quyền, cản trở họ tố giác với cơ quan chức năng Hoặc không trực tiếp thực hiện tội phạm mà tạo điều kiện
Trang 20cho người khác phạm tội rồi cùng chiếm đoạt tài sản, nếu có bị bại lộ thì chỉ có vi phạm “thiếu trách nhiệm ”
- Dùng các thủ thuật nghiệp vụ kế toán và các chế độ quản lý kinh tế khác trong hạch toán tạo ra hiện tượng lỗ giả trong kết quả hoạt động kinh doanh để che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản Đây là một thủ đoạn khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay
- Tạo ra tình huống phá sản, thanh lý tài sản; hạ giá để chuyển nhượng và nhiều thủ đoạn khác
- Trong những năm gần đây xuất hiện hình thức mới là “tham nhũng chính sách” Đó là những người có quyền lực sử dụng nó để xây dựng, ban hành chính sách đó móc ngoặc với các tập đoàn, tổng công ty để xây dựng, ban hành những chính sách có lợi, sau đó chia nhau những lợi ích như tăng giá một mặt hàng, giảm giá hàng loạt, hạn chế hay nối rộng hạng ngạch xuất nhập khẩu,…chỉ cần một quyết định sẽ tạo ra lợi ích hàng nghìn tỷ đồng chia nhau
e) Đặc điểm về tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm tham ô:
Ngày nay, những vụ tham ô có giá trị tài sản bị chiếm đoạt lớn, đối tượng tham ô không sử dụng trực tiếp tài sản chiếm đoạt được cho nhu cầu cuộc sống mà được chuyển đổi thành tiền và các tài sản có giá trị khác (vàng, ngoại tệ, đá quí) để cất giữ và sử dụng dần cho nhu cầu cuộc sống của cá nhân và gia đình Ngoài ra, chúng còn sử dụng vào các việc khác như: mua bất động sản, gửi vào ngân hàng, cho vay lãi, đầu tư vào kinh doanh
Cùng với nhiệm vụ chính của hoạt động điều tra tội phạm tham ô tài sản là khám phá; làm rõ sự thật của vụ án thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm một trong những yêu cầu rất quan trọng của hoạt động điều tra loại tội phạm này là thu hồi triệt để tài sản bị chiếm đoạt Do đó, nghiên cứu nắm vững các đặc điểm về tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án tham ô tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động điều tra cũng như trong công tác bảo vệ tài sản cho Nhà nước và nhân dân
g) Đặc điểm về quan hệ giữa tội phạm tham ô tài sản và các tội phạm khác
Thực tiễn kết quả hoạt động điều tra, khám phá tội phạm tham ô trong những năm gần đây cho thấy trong các vụ án tham ô lớn hầu hết đều có các tội phạm khác
Trang 21đi cùng Các tội phạm khác thường gặp là: tội nhận hối lộ, Tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi v.v
Thực tiễn cho thấy tội phạm tham ô không chỉ đi liền và gắn với các tội phạm kinh tế khác mà nó còn có mối quan hệ với một số tội phạm và tệ nạn khác như: cờ bạc, mại dâm, ma tuý v.v Sau khi có được tài sản, bọn tội phạm tham ô thường sa vào cuộc sống hưởng lạc, ăn chơi sa đoạ; cờ bạc, mại dâm đã trở thành bạn đồng hành và nhu cầu sống hàng ngày của bọn chúng
Nắm vững mối quan hệ giữa tội phạm tham ô với các tội phạm khác sẽ giúp cho ĐTV trong hoạt động điều tra tội phạm tham ô hoạch định được nhiều phương
án điều tra, biết sử dụng các đặc điểm này để mở rộng khám phá tội phạm Trong lập kế hoạch điều tra các vụ án tham ô, nhất là các vụ án có tính chất phức tạp và nghiêm trọng cần đề cập tới vấn đề chứng minh làm rõ các tội phạm khác có liên quan Điều đó góp phần quan trọng để bảo đảm thực hiện nguyên tắc không để sót, lọt tội phạm
1.2 Một số vấn đề cơ bản về chiến thuật hỏi cung bị can trong quá trình điều tra vụ án tham ô tài sản
1.2.1 Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc của hỏi cung bị can phạm tội tham ô tài sản
Thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy, hỏi cung bị can nói chung và tham ô tài sản nói riêng là một biện pháp điều tra phổ biến, rất phức tạp Tính phức tạp của hỏi
Trang 22cung bị can tham ô được thể hiện ở chỗ trong quá trình hỏi cung thường xảy ra mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là ĐTV luôn mong muốn thu thập được những thông tin chính xác phản ánh sự thật khách quan của vụ án từ lời khai của bị can và một bên
là bị can luôn tìm mọi thủ đoạn cản trở quá trình thu thập thông tin của ĐTV Những mâu thuẫn thường xảy ra trong quá trình hỏi cung có thể là bị can từ chối khai báo, bị can khai báo gian dối Tuy nhiên, có những trường hợp bị can không cố tình khai báo gian dối, mà do bị can bị hạn chế về khả năng nhận biết, trí nhớ nên
đã dẫn đến khai không đầy đủ hoặc khai sai một số tình tiết về vụ án Bên cạnh đó, quá trình hỏi cung bị can còn chịu sự ảnh hưởng, tác động bởi những yếu tố tâm lý của chính chủ thể và khách thể của quá trình hỏi cung
Mục đích của hỏi cung được thể hiện ở chỗ nhằm thu thập củng cố những tài liệu, chứng cứ chứng minh làm rõ sự thật khách quan của vụ án Ngoài xác định rõ
vụ việc và người phạm tội đồng phạm trong vụ án, hỏi cung bị can còn có vai trò quan trọng trong việc tìm ra những nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh tội phạm
để áp dụng những biện pháp phòng ngừa phù hợp và thu lại tài sản, lấy căn cứ để đấu tranh làm rõ vai trò cầm đầu, đồng phạm với các bị can khác
1.2.1.2 Nhiệm vụ của hỏi cung bị can phạm tội tham ô tài sản
Từ lý luận và thực tiễn đã xác định nhiệm vụ của hỏi cung bị can phạm tội tham ô tài sản gồm:
a) Kịp thời làm rõ những người phạm tội, đồng phạm những tài sản vật chứng
còn cất dấu để kịp thời thu giữ và phát hiện sớm những âm mưu và hành động tiếp tục gây án, đang gây án hoặc chuẩn bị gây án để kịp thời ngăn chặn Đây là nhiệm
vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động điều tra các vụ án tham ô tài sản, đặc biệt các vụ án tham ô tài sản có tính đồng phạm Thực hiện tốt nhiệm vụ này, giúp cho ĐTV có điều kiện thuận lợi để hoàn thành việc điều tra, khám phá vụ án Mặt khác, kịp thời ngăn chặn không để tội phạm xảy ra hoặc có thể hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả thiệt hại do tội phạm gây ra
b) Xác định rõ nội dung vụ án, vai trò, vị trí mức độ phạm tội của từng đối tượng, thủ đoạn gây án và che dấu tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội, tài sản bị chiếm đoạt để lập hồ sơ đề nghị truy tố
Trang 23Thực hiện tốt nhiệm vụ này, giúp cho việc điều tra xác định đúng người, đúng tội, đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không làm oan người vô tội Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với cuộc đấu tranh chống tội phạm Có cơ sở để theo dõi tài sản sau này
c) Khai thác mở rộng nhằm phát hiện thêm và làm rõ các hoạt động phạm tội của từng bị can và các đối tượng ổ nhóm tội phạm khác Thu thập những tin tức, tài liệu về hoạt động của những tên tội phạm hay ổ nhóm tội phạm khác mà bị can biết
Nhiệm vụ này đòi hỏi trong quá trình hỏi cung bị can, ĐTV cần thu thập và sử dụng triệt để những tài liệu phản ánh về đặc điểm nhân thân, các quan hệ về quá khứ của từng bị can, về những vụ phạm tội đã xảy ra trước đó nhưng chưa được điều tra, khám phá Khai thác và sử dụng triệt để những mâu thuẫn giữa các thành viên trong vụ
án để làm rõ quá trình hoạt động phạm tội của từng bị can và đồng bọn
d) Làm rõ nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm và những sơ hở thiếu sót trong hoạt động điều tra để có biện pháp khắc phục, ngăn ngừa tội phạm
Thực hiện tốt nhiệm vụ này, giúp cho ĐTV chủ động tìm ra và đề xuất những biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và tham ô tài sản nói riêng có hiệu quả, không để cho tội phạm tiếp tục phạm tội hoặc nảy sinh tội phạm mới
Tóm lại: Thực hiện tốt được các nhiệm vụ trên trong quá trình hỏi cung bị can
nó không chỉ thể hiện tính nhanh chóng, khách quan, toàn diện và đầy đủ của hoạt động điều tra, mà còn thể hiện tính tích cực phòng ngừa tội phạm của biện pháp hỏi cung nói riêng và của hoạt động điều tra nói chung
1.2.1.3 Nguyên tắc của hỏi cung bị can phạm tội tham ô
Hỏi cung là một biện pháp điều tra có liên quan trực tiếp đến quyền tự do thân thể, danh dự và nhân phẩm của con người Cho nên, trong quá trình hỏi cung bị can phạm tội tham ô phải chấp hành theo những nguyên tắc nhất định
a) Nghiêm chỉnh tuân theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến hỏi cung bị can
Trong quá trình tiến hành hỏi cung bị can, ĐTV phải luôn lấy đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm cơ sở, nội dung để giáo dục, thuyết phục bị can khai báo, coi đây là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình
Trang 24Thực hiện nguyên tắc này, trong mọi trường hợp việc hỏi cung bị can phạm tội tham ô phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự được quy định tại các Điều 182, 183, 184 BLTTHS năm 2015
b) Nghiêm cấm bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can
Quá trình tiến hành hỏi cung bị can, ĐTV phải tôn trọng và bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của con người được pháp luật quy định, tất cả những hành vi xâm phạm tới các quyền và lợi ích hợp pháp của con người đều là vi phạm pháp luật
Thực hiện nguyên tắc này, ĐTV cần nắm vững và hiểu về bức cung và nhục hình như sau:
- Bức cung: Là người tiến hành hoạt động điều tra áp dụng những thủ đoạn trái
pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng cho việc giải quyết vụ án Những thủ đoạn này thường được thể hiện thông qua các hành vi tác động đến thể chất và tâm lý của người bị thẩm vấn như:
+ Tra tấn, gây đau đớn về thể xác, tổn hại về sức khoẻ cho bị can, buộc bị can phải khai theo ý muốn chủ quan của ĐTV mặc dù những lời khai này là không đúng
sự thật
+ Đe doạ về tinh thần của bị can
+ Dùng những hành vi dụ dỗ, đánh lừa bị can
+ Dùng lý lẽ ngụy biện truy vặn, dồn bị can vào thế bí không giải thích được
- Nhục hình: là người tiến hành hoạt động điều tra có hành vi dùng vũ lực đối
với bị can như: đánh đập, không cho ăn uống, phơi nắng, cùm chân, xích tay và bằng các hình thức khác tác động về mặt tâm lý làm cho bị can đau đớn về thể xác
và tinh thần Việc áp dụng các hình thức nhục hình cũng có thể nhằm mục đích bức cung hoặc cũng có thể nhằm mục đích trả thù do có những mặc cảm, thù tức cá nhân đối với bị can
Mọi biểu hiện bức cung, nhục hình đều có thể dẫn đến những hậu quả xấu thậm chí ĐTV có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Trên đây là một số những nguyên tắc cần quán triệt trong công tác hỏi cung, ĐTV cần nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung của các nguyên tắc và phải
Trang 25chấp hành nghiêm chỉnh trong quá trình hỏi cung Đồng thời, trong quá trình thực hiện không được coi nặng hoặc xem nhẹ nguyên tắc nào Thực hiện tốt các nguyên tắc trên chính là giúp cho việc hỏi cung bị can đạt được mục đích, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra khám phá các vụ án
1.2.2 Chiến thuật hỏi cung bị can
Để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm hiện nay, lý luận về chiến thuật hỏi cung bị can từng bước được xây dựng và hoàn thiện Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chiến thuật hỏi cung bị can được trình bày trong một số tài liệu, giáo trình và dựa trên cơ sở các khái niệm “Chiến thuật điều tra hình sự”, “thủ thuật chiến thuật” theo chúng tôi khái niệm về “Chiến thuật hỏi cung” được hiểu như sau:
Chiến thuật hỏi cung bị can là hệ thống những thủ thuật và những chỉ dẫn chiến thuật được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động điều tra về chuẩn bị hỏi cung, tiến hành hỏi cung, lập biên bản hỏi cung, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá và sử dụng kết quả hỏi cung để chứng minh sự thật của vụ án
Như vậy, tính chiến thuật của hỏi cung bị can được thể hiện ở chỗ, tùy từng tình huống cụ thể trong từng giai đoạn của quá trình hỏi cung, ĐTV lựa chọn những hành vi ứng xử (thủ đoạn thực hiện hành vi) có hiệu quả cao nhất để đạt được mục đích của cuộc hỏi cung
Chiến thuật hỏi cung bị can bao gồm:
a) Chuẩn bị hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra phức tạp, hiệu quả của nó phụ thuộc vào công tác chuẩn bị của ĐTV Nếu công tác chuẩn bị được tiến hành khoa học, chu đáo, sẽ tạo điều kiện cho ĐTV chủ động, linh hoạt, sáng tạo lựa chọn và áp dụng những thủ thuật, chiến thuật hỏi cung phù hợp trong từng tình huống cụ thể để thu thập lời khai của bị can một cách đầy đủ, chính xác và thuận lợi, không bị rơi vào tình thế bị động, lúng túng trước những diễn biến phức tạp của cuộc hỏi cung Đặc biệt, trong công tác hỏi cung bị can các vụ án tham ô tài sản thì việc chuẩn bị hỏi cung là yêu cầu
vô cùng cần thiết Nội dung của việc chuẩn bị hỏi cung bao gồm:
Trang 26- Nghiên cứu hồ sơ vụ án và các tài liệu có liên quan:
Mục đích của việc nghiên cứu này giúp cho ĐTV nắm được nội dung, diễn biến của vụ án, hành vi phạm tội của bị can và đồng bọn cùng đặc điểm nhân thân của chúng Từ đó, xác định những vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung, dự kiến những tình huống có thể xảy ra và những thủ thuật chiến thuật cần áp dụng, xác định những tài liệu, chứng cứ cần sử dụng trong quá trình hỏi cung Ngoài ra, còn giúp cho ĐTV có khả năng kiểm tra, đánh giá lời khai của bị can ngay trong quá trình hỏi cung Phạm vi những tài liệu, chứng cứ cần nghiên cứu gồm:
+ Những tài liệu, chứng cứ thu thập được từ các hoạt động điều tra tố tụng hình sự như: biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người bị hại, người làm chứng, các lời khai có liên quan kết luận giám định
+ Những tài liệu thu thập được từ biện pháp trinh sát phản ánh về những mối quan hệ, những hành vi nghi vấn của bị can vào thời điểm trước, trong và sau khi
vụ án xảy ra như: báo cáo của trinh sát, đặc tình, cơ sở bí mật,tài liệu của trinh sát
kỹ thuật, những nguồn tài liệu khác
+ Những tài liệu có liên quan đến hoạt động phạm tội và các hoạt động khác của bị can trước đó như: trích lục tiền án, tiền sự,tiểu sử quan hệ bản thân hồ sơ những vụ án do bị can gây ra trước đây
+ Những tài liệu, chứng cứ thu thập được về những vụ án chưa được điều tra khám phá nhưng ĐTV có cơ sở nhận định những vụ án đó là do chính bị can gây ra + Những tài liệu phản ánh về đặc điểm nhân thân của bị can như: quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, nghề nghiệp, điều kiện sống, môi trường giáo dục, đặc điểm tâm lý, tính cách và sở trường
Trên cơ sở nghiên cứu, ĐTV cần phải xác định rõ những vấn đề cần phải làm
rõ trong quá trình hỏi cung; những tài liệu, chứng cứ cần phải thu thập, bổ sung hoặc cần được kiểm tra, xác minh lại để sử dụng trong quá trình hỏi cung; những tài liệu, chứng cứ có thể và cần phải sử dụng trong quá trình hỏi cung
- Lập kế hoạch hỏi cung:
Lập kế hoạch hỏi cung là ĐTV căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ cần đạt được của hoạt động điều tra vụ án để dự kiến và nêu ra những công việc cần giải quyết,
Trang 27những tình huống có thể phát sinh trong quá trình hỏi cung và biện pháp giải quyết tình huống đó
Nội dung của bản kế hoạch hỏi cung bao gồm các vấn đề sau:
+ Xác định những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi cung
+ Những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được về vụ án và hành vi phạm tội của
bị can, những tài liệu chứng cứ khác có thể và cần sử dụng trong quá trình hỏi cung + Dự kiến những câu hỏi cần đưa ra để bị can trả lời:
Trong bản kế hoạch hỏi cung, ĐTV cần dự kiến những câu hỏi và trình tự đưa
ra các câu hỏi để bị can trả lời, nhưng chú ý đảm bảo cho những câu hỏi đó phải rõ ràng, cụ thể và có liên quan đến những vấn đề cần làm rõ Đồng thời, bảo đảm tính lôgic và có cơ sở của các câu hỏi đó Thông thường, những câu hỏi được đưa ra bao gồm các dạng câu hỏi sau:
* Câu hỏi thẳng
* Câu hỏi bổ sung lời khai
* Câu hỏi làm chính xác lời khai
* Câu hỏi gợi nhớ
* Câu hỏi kiểm tra
* Câu hỏi vạch trần lời khai gian dối
+ Dự kiến chiến thuật hỏi:
Trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ về vụ án đã thu thập được, đặc điểm nhân thân của bị can và những vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung ĐTV cần dự kiến những tài liệu, chứng cứ được đưa ra sử dụng trong khi hỏi cung, thời điểm sẽ đưa những tài liệu, chứng cứ đó ra để đấu tranh với bị can, các biện pháp cần thiết
để bảo đảm an toàn những tài liệu, chứng cứ đó khi đưa ra sử dụng, nơi bảo quản chúng trước khi đưa ra sử dụng Dự kiến những thủ thuật chiến thuật thích hợp đối với từng tình huống cụ thể có thể nảy sinh trong quá trình hỏi cung.Dự kiến những thủ thuật tác động tâm lý, sử dụng mâu thuẫn và những tình huống có thể xảy ra trong khi hỏi cung, kế hoạch phối hợp với các lực lượng và biện pháp nghiệp vụ khác phục vụ cho hoạt động hỏi cung
+ Lựa chọn thời gian và địa điểm tiến hành hỏi cung
Trang 28* Về thời gian: Trong mọi trường hợp, việc lựa chọn thời gian tiến hành hỏi cung bị can phải căn cứ vào yêu cầu của pháp luật Song trong các vụ án tham ô tài sản việc lựa chọn thời gian tiến hành hỏi cung đối với từng bị can đòi hỏi ĐTV phải dựa trên cơ sở tính toán, cân nhắc đến tầm quan trọng của những thông tin mà ĐTV biết được, mối quan hệ của các bị can trong vụ án, cũng như vai trò, vị trí của bị can
đó trong vụ án Ngoài ra, ĐTV cần căn cứ vào tình trạng sức khoẻ của bị can, những xúc động mà bị can trải qua trong thời điểm xảy ra vụ án Từ các vấn đề trên, ĐTV xây dựng và lựa chọn một trình tự hỏi cung các bị can về mặt thời gian sao cho có hiệu quả nhất
* Về địa điểm: Trong mọi trường hợp tốt nhất là đưa về phòng hỏi cung của
cơ quan điều tra, việc lựa chọn địa điểm hỏi cung bị can, ĐTV phải tính toán lựa chọn địa điểm có nhiều thuận lợi cho việc hỏi cung như: địa điểm mà bị can không
có khả năng chạy trốn, hành hung ĐTV, thông cung Đặc biệt phải xem xét các vật dụng trong phòng hỏi cung phải loại trừ những thứ có thể dùng làm hung khí Ngoài
ra, không làm cho bị can phân tán tư tưởng khi hỏi cung, có khả năng giữ được bí mật về nội dung cuộc hỏi cung
+ Xác định hình thức triệu tập bị can
Việc xác định hình thức triệu tập bị can ĐTV cần tính toán sao cho có lợi cho việc thiết lập sự tiếp xúc tâm lý giữa ĐTV và bị can, giữ được bí mật với những đối tượng khác Đồng thời, phải đảm bảo đúng các yêu cầu của pháp luật về việc triệu tập bị can
+ Lựa chọn và phân công ĐTV tiến hành hỏi cung
Thông thường ĐTV thụ lý điều tra vụ án sẽ trực tiếp tiến hành hỏi cung Nhưng trong trường hợp điều tra theo nhóm, hoặc vụ án có nhiều bị can hoặc có yêu cầu khác đặt ra thì cần bố trí, lựa chọn ĐTV phù hợp về độ tuổi, đặc điểm tâm lý, tính cách với bị can cần phải hỏi cung
- Chuẩn bị những phương tiện cần thiết cho cuộc hỏi cung:
Bước tiếp theo sau khi lập kế hoạch hỏi cung là ĐTV chuẩn bị những phương tiện phục vụ cho việc hỏi cung như: giấy, bút, biên bản hỏi cung, máy ghi âm, camera, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, buồng hỏi cung và các phương
Trang 29tiện kỹ thuật cần thiết khác Tuỳ theo tính chất, mức độ yêu cầu của vấn đề cần giải quyết; thái độ tâm lý của đối tượng mà tính toán phương tiện cần sử dụng
Trên đây là những nội dung cơ bản cần tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị hỏi cung Song những nội dung này không phải là cố định, mà trong từng trường hợp cụ thể, nó có thể được bổ sung, thay đổi Thực hiện tốt những nội dung trên có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện những bước tiếp theo trong quá trình hỏi cung bị can
b) Tiến hành hỏi cung bị can
Đây là giai đoạn ĐTV tiến hành thu thập lời khai của bị can theo trình tự và nội dung mà bản kế hoạch hỏi cung đã đề ra Tuy nhiên, trong quá trình hỏi cung, ĐTV cần phải linh hoạt, sáng tạo khi thực hiện các nội dung đó Thông thường, việc tiến hành hỏi cung bị can được thực hiện qua các bước sau:
- Giải quyết các thủ tục tố tụng hình sự cần thiết, không chỉ đơn thuần là những yêu cầu của pháp luật, mà còn thể hiện tính chiến thuật trong hỏi cung bị can
Để giải quyết vấn đề này, ĐTV cần thực hiện các công việc sau:
+ Sau khi đến buồng hỏi cung, ĐTV vào phòng hỏi cung trước để kiểm tra phòng, rồi sau đó yêu cầu bị can vào phòng, ngồi đúng nơi quy định
+ Tiến hành nhận dạng và kiểm tra căn cước của bị can
+ ĐTV tự giới thiệu mình với bị can
+ Đọc quyết định khởi tố bị can, giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can
+ Nếu có người bào chữa, người phiên dịch tham dự buổi hỏi cung thì ĐTV cũng cần giải thích quyền và nghĩa vụ của họ Việc giải thích phải được ghi vào biên bản Trong trường hợp đối với người đại diện hợp pháp của bị can tham dự buổi hỏi cung thì cũng tiến hành như vậy
- Thiết lập sự tiếp xúc tâm lý giữa ĐTV và bị can
“Thiết lập sự tiếp xúc tâm lý giữa ĐTV và bị can” hay còn gọi là “giai đoạn tìm hiểu”, “giai đoạn giao tiếp” là quá trình ĐTV thông qua các hình thức như: thăm hỏi, giải thích, khuyên nhủ làm cho bị can hiểu được nhiệm vụ và trách
Trang 30nhiệm của ĐTV, sự vô tư của ĐTV khi hỏi cung, tạo ra môi trường tâm lý thuận lợi cho quá trình hỏi cung
Thông qua quá trình này, ĐTV có thể tìm hiểu, nắm bắt được đặc điểm tâm lý, tính cách, diễn biến tư tưởng của bị can, để cảm hoá giáo dục bị can Quá trình này chỉ tác động bởi những yếu tố: điều kiện hoàn cảnh diễn ra hỏi cung, nghệ thuật ứng
xử của ĐTV, khả năng tự chủ, âm thanh, giọng nói, thái độ, tác phong của ĐTV
Để cho quá trình thiết lập sự tiếp xúc đạt được hiệu quả, ĐTV cần lựa chọn nội dung, cách tiếp xúc phù hợp đối với từng bị can cụ thể Đồng thời phải chuẩn bị nội dung thật cụ thể cho sự tiếp xúc, những nội dung đó bao gồm:
+ Xác định mục đích, yêu cầu và nội dung của sự tiếp xúc
+ Biện pháp và thời gian, địa điểm thực hiện nội dung tiếp xúc
- Hỏi cung bị can theo nội dung đã dự kiến trong bản kế hoạch hỏi cung
Tùy thuộc vào thái độ khai báo của bị can để ĐTV lựa chọn thủ thuật chiến thuật hỏi cung phù hợp Sau đây là những tình huống khai báo cụ thể của bị can và những thủ thuật hỏi cung được áp dụng trong các tình huống cụ thể đó
+ Tình huống bị can khai báo thành khẩn
Đây là tình huống thuận lợi trong công tác hỏi cung Trong tình huống này, ĐTV nên áp dụng thủ thuật như sau:
Để cho bị can tự khai về hành vi phạm tội của mình và đồng bọn bằng một trong hai cách: trình bày bằng miệng hoặc viết bản tự khai về tất cả những tình tiết mà bị can biết theo một trình tự mà bị can lựa chọn hoặc theo sự hướng dẫn của ĐTV
* Đối với trường hợp bị can trình bày bằng miệng: Trong quá trình bị can trình bày, điều tra viên không nên ngắt lời của bị can như: phản ứng lại lời khai, đưa ra những câu hỏi hoặc nhận xét đúng, sai hoặc yêu cầu bị can trình bày cụ thể, chi tiết
về một vấn đề nào đó Bởi vì, sự can thiệp này có thể làm cho bị can lạc hướng khai báo, trình tự khai báo bị xáo trộn dẫn đến bị can có thể bỏ sót hoặc quên những tình tiết quan trọng của vụ án Yêu cầu của ĐTV trong trường hợp này phải chú ý lắng nghe bị can trình bày và quan sát cử chỉ, thái độ khai báo của bị can, chỉ ghi lại những vấn đề mà điều tra viên cho là quan trọng, hoặc những vấn đề mâu thuẫn
Trang 31giữa lời khai trước với lời khai sau, hoặc những vấn đề mà điều tra viên chưa rõ, xét thấy cần phải làm rõ sau này
* Đối với trường hợp bị can viết bản tự khai: Trước khi bị can viết, ĐTV phải xác định thái độ, trách nhiệm cho bị can, động viên, giáo dục để bị can viết đầy đủ, đúng sự thật, không để bị can viết tràn lan, kể lể công lao thành tích và những vấn
đề không có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra Trong quá trình bị can viết, ĐTV cần chú ý giám sát bị can để nắm bắt diễn biến tư tưởng của bị can qua những biểu hiện về
cử chỉ, thái độ, hành động như: chần chừ, do dự, ngồi thừ ra, cắn bút suy nghĩ, đặc biệt chú ý những đoạn bị can viết rồi lại xoá bỏ Sau khi bị can viết xong, phải thu lại đầy
đủ giấy, bút đã đưa cho bị can
+ Tình huống bị can từ chối khai báo
Đây là một trong những tình huống thường xảy ra trong quá trình hỏi cung bị can Khi gặp tình huống này, ĐTV cần phải bình tĩnh thận trọng tìm hiểu nguyên nhân tại sao bị can từ chối khai báo Trên cơ sở đó, ĐTV lựa chọn và sử dụng những thủ thuật tác động làm thay đổi lập trường, thái độ khai báo của bị can
Kết quả nghiên cứu về mặt lý luận và thực tế cho thấy, trong tình huống này ĐTV nên áp dụng thủ thuật như sau:
* Giáo dục thuyết phục bị can thay đổi về nhận thức và khai báo thành khẩn
Là thủ thuật nhằm mục đích, làm cho bị can dần dần chuyển biến về mặt nhận thức, từ bỏ lập trường ngoan cố, khai báo thành khẩn Việc giáo dục, thuyết phục bị can phải linh hoạt, sáng tạo, có tình có lý, phù hợp với từng bị can cụ thể Nội dung giáo dục thuyết phục phải gắn liền với nguyên nhân từ chối khai báo của bị can, tránh trường hợp giáo dục, thuyết phục mang tính chất chung chung, trừu tượng, khó hiểu Để tiến hành thủ thuật này có hiệu quả, ĐTV phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác điều tra, xử
lý tội phạm và biết cách vận dụng nó trong quá trình giáo dục, thuyết phục
* Tác động về xúc cảm
Điều tra viên có thể lợi dụng tình trạng tâm lý lo lắng cho vợ con, bố mẹ của
bị can trong quá trình hỏi cung, nhất là sau khi bị bắt như: hoang mang, lo sợ, tinh thần suy sụp để tác động đến bị can, buộc bị can phải khai báo thành khẩn
Trang 32Cần chú ý chủ động tác động làm thay đổi tâm trạng và tình cảm của bị can đang là động cơ kìm hãm sự khai báo của bị can như: tâm trạng bi quan, thất vọng,
sợ bị mất uy tín
Điều tra viên cần khơi dậy, nhen nhóm những tình cảm, phẩm chất tốt của bị can để làm động cơ thúc đẩy bị can khai báo thành khẩn như: tình cảm của gia đình, quê hương, những thành tích và cống hiến của bị can
* Sử dụng những tình tiết mà tất cả những đồng bọn khác của ổ nhóm tội phạm đã thành khẩn khai báo
Thủ thuật này chỉ áp dụng trong từng trường hợp bị can bị cắt đứt mọi nguồn thông tin, giữa các bị can của vụ án không thông cung được cho nhau, không nắm được tình trạng khai báo của đồng bọn Trong quá trình sử dụng thủ thuật này, ĐTV không nên để bị can đọc lời khai của đồng bọn hoặc sử dụng lời khai của đồng bọn
để đấu tranh với bị can, mà chỉ nên đưa cho bị can xem chữ ký của đồng bọn ở biên bản hỏi cung để làm đòn bẩy tác động tâm lý bị can
* Sử dụng chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can
Điều tra viên chủ động đưa ra những chứng cứ cụ thể chứng minh hành vi phạm tội của bị can, rồi yêu cầu bị can trả lời ngay vào những chứng cứ đó, nhằm đánh mạnh vào tư tưởng ngoan cố của bị can, buộc bị can phải thừa nhận và đi đến thành khẩn khai báo
Những chứng cứ sử dụng để đấu tranh với bị can trong quá trình hỏi cung bao gồm: những vật chứng, kết luận của giám định viên, lời khai của người bị hại, người làm chứng, lời khai của những bị can khác
Khi áp dụng chiến thuật này, ĐTV cần hỏi bị can xung quanh những tình tiết
có liên quan đến tài liệu chứng cứ đó, để sau khi đưa chứng cứ ra bị can không thể xuyên tạc, bác bỏ chứng cứ Trong một số trường hợp khi đưa chứng cứ ra đấu tranh, ĐTV phải giải thích ý nghĩa của chứng cứ, nhất là những chứng cứ thu thập được nhờ những phương tiện kỹ thuật đặc biệt Khi đưa chứng cứ ra đấu tranh với
bị can phải đảm bảo được yếu tố bất ngờ và chú ý không đưa cho bị can cầm, xem các tài liệu, vật chứng, đề phòng bị can phá huỷ, tự sát, hành hung ĐTV Đồng
Trang 33thời, khi sử dụng chứng cứ phải chú ý theo dõi diễn biến tâm lý của bị can, phục vụ cho việc lựa chọn thủ thuật hỏi cung tiếp theo phù hợp
Sử dụng mâu thuẫn giữa bị can với các bị can trong vụ án
Một đặc điểm đặc trưng của các tổ chức tội phạm là giữa các bị can trong vụ
án thường xuất hiện và tồn tại mâu thuẫn về vai trò, vị trí hoặc về quyền lợi Chính
vì những mâu thuẫn này, cho nên sau khi bị bắt và trong quá trình hỏi cung giữa các
bị can thường khai đổ tội cho nhau Mặt khác, một đặc điểm đặc trưng về mặt tâm
lý của các bị can trong tổ chức tội phạm là lo sợ nếu mình là người khai báo chậm hoặc không khai thì đồng bọn khai trước sẽ khai hết tội lõi cho mình và mình sẽ phải chịu hình phạt nặng hơn
Từ những đặc điểm trên, trong quá trình hỏi cung bị can, ĐTV cần chú ý phân tích, nghiên cứu những tài liệu phản ánh về vai trò, vị trí và mối quan hệ giữa các bị can với các bị can trong vụ án để phát hiện, khai thác triệt để mâu thuẫn giữa bị can
và đồng bọn, cũng như nguyên nhân, mức độ của những mâu thuẫn đó, trên cơ sở
đó áp dụng các biện pháp tác động cần thiết làm thay đổi lập trường khai báo của bị can Đây là thủ thuật hỏi cung rất có hiệu quả trong quá trình hỏi cung bị can các vụ
án tham ô tài sản nói riêng và các vụ án kinh tế nói chung
+ Tình huống bị can khai báo gian dối
Bị can khai báo gian dối là trường hợp nội dung lời khai của bị can không đúng với thực tế khách quan Đây là tình huống khó khăn, phức tạp thường xảy ra trong quá trình hỏi cung
Qua nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn công tác hỏi cung, chúng tôi rút ra một
số nguyên nhân phổ biến dẫn tới bị can khai báo gian dối như sau:
* Bị can muốn trốn tránh trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình, hoặc mong muốn chịu hình phạt về một tội danh khác nhẹ hơn
* Bị can mong muốn bao che hay làm giảm nhẹ tội của đồng bọn vì những mối quan hệ gia đình, bạn bè hoặc vì những mục đích vụ lợi khác
* Bị can mong muốn vu khống cho đồng bọn do thù tức hoặc nhằm mục đích bảo đảm an toàn cho bản thân trong tương lai
* Bị can muốn che dấu một tội phạm khác nghiêm trọng hơn
Trang 34Từ những nguyên nhân trên, để xác định và vạch trần sự gian dối trong lời khai của bị can, trong quá trình hỏi cung, ĐTV vẫn chủ động phát hiện những mâu thuẫn trong lời khai của bị can Những mâu thuẫn này thường là:
* Mâu thuẫn giữa lời khai của bị can với lôgic diễn biến của sự việc, hiện tượng
* Mâu thuẫn giữa lời khai của bị can với những tài liệu, chứng cứ khác của vụ
án như: lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định
* Nội dung lời khai trái với những quy luật của tự nhiên, xã hội
* Lời khai của bị can không phù hợp với trình độ nhận thức của bị can
* Mâu thuẫn giữa lời khai của bị can với lời khai của các bị can khác
Ngoài ra, sau khi đã hỏi cung, ĐTV có thể phát hiện mâu thuẫn trong lời khai của
bị can thông qua việc tiến hành kiểm tra lời khai đó bằng các biện pháp điều tra khác, hoặc thu được những chứng cứ mới mâu thuẫn với lời khai đó
Trên cơ sở những mâu thuẫn trong lời khai của bị can, ĐTV có thể sử dụng thủ thuật hỏi cung như trong tình huống bị can từ chối khai báo Ngoài ra, ĐTV có thể áp dụng một số thủ thuật khác như:
* Sử dụng mâu thuẫn trong lời khai của bị can để đấu tranh với bị can
Thực hiện thủ thuật này, trước tiên ĐTV cần phân tích, làm rõ nội dung và nguyên nhân của những mâu thuẫn trong lời khai của bị can Từ đó lựa chọn mâu thuẫn cần đưa ra đấu tranh với bị can
Trường hợp mâu thuẫn phát sinh do bị can cố ý khai sai sự thật thì ĐTV cần phân tích một cách lôgic những mâu thuẫn đó cho bị can thấy và yêu cầu bị can tự giải thích về những mâu thuẫn này Nếu bị can không giải thích được thì bị can tự nhận thấy vô lý trong lời khai của mình và nếu cứ tiếp tục khai báo gian dối thì sẽ tự dẫn mình vào ngõ cụt, do đó buộc phải khai đúng sự thật
Trường hợp mâu thuẫn phát sinh không phải do bị can cố ý khai sai sự thật thì ĐTV không dùng thủ thuật sử dụng mâu thuẫn để đấu tranh với bị can, mà phải dùng những biện pháp khác để kích thích cho bị can nhớ lại những tình tiết đã quên trong khi khai báo Trong trường hợp này, ĐTV nên áp dụng thủ thuật hỏi tuần tự
Trang 35để bị can nhớ lại và trả lời Ngoài ra, có thể kết hợp biện pháp đối chất để làm rõ mâu thuẫn giữa những lời khai của bị can với lời khai của những bị can khác, giữa lời khai của bị can với lời khai của người làm chứng
c) Lập biên bản hỏi cung bị can
Biên bản hỏi cung là một thủ tục tố tụng hình sự bắt buộc trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, nó phản ánh toàn bộ diễn biến của quá trình hỏi cung bị can
Vì vậy, sau mỗi lần hỏi cung, ĐTV đều phải lập biên bản hỏi cung.Trong biên bản hỏi cung phải đảm bảo được những nội dung, trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Cụ thể là:
Ở phần đầu của biên bản cần ghi rõ thời gian, địa điểm tiến hành hỏi cung, họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người lập biên bản, họ tên tuổi, quốc tịch của bị can và những người tham gia trong quá trình hỏi cung Nếu trong quá trình hỏi cung
có người phiên dịch, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can, thì cần giải thích quyền và nghĩa vụ của họ và yêu cầu bị can cùng những người tham gia
dự buổi hỏi cung ký tên
Ở phần nội dung của biên bản ghi chính xác đầy đủ, khách quan những câu hỏi của ĐTV và câu trả lời của bị can Quá trình ghi những câu trả lời của bị can phải chú ý ghi đúng những diễn đạt đặc trưng và cách dùng từ của bị can Sau khi hỏi cung nếu bị can có yêu cầu, đề nghị gì thì thêm cũng được ghi vào biên bản
Ở phần cuối của biên bản ghi rõ thời gian kết thúc lập biên bản và ghi rõ biên bản này đã được đọc cho mọi người cùng nghe, tất cả đều khẳng định sự chính xác của biên bản và cùng ký tên vào biên bản (gồm ĐTV, bị can và có thể có người bào chữa, người đại diện hợp pháp, người phiên dịch)
Ngoài ra, những người tham dự quá trình hỏi cung phải ký tên vào cuối mỗi trang biên bản hỏi cung và dưới những chỗ chú thích, bổ sung, sửa chữa, tẩy xoá
Trong biên bản hỏi cung, ĐTV không được tẩy xoá, sửa chữa, ghi thêm vào biên bản mà không được bị can xác nhận
d) Nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá và sử dụng kết quả hỏi cung
Việc nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá lời khai của bị can là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết, nhằm đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của kết quả
Trang 36hỏi cung, phục vụ cho việc xác lập hệ thống chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan của bất kỳ một vụ án nào nói chung và tham ô tài sản nói riêng
- Nghiên cứu kết quả hỏi cung: Trong mọi trường hợp lời khai của bị can đều phải được nghiên cứu một cách tỷ mỉ, thận trọng Nội dung của sự nghiên cứu bao gồm: xác định xem quá trình thu thập lời khai của bị can có đảm bảo yêu cầu pháp luật về trình tự, thủ tục, cách tiến hành và nội dung của lời khai có đảm bảo sự lôgic không, có phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác về vụ án đã thu thập được hay không Ngoài ra, cần tìm hiểu trong quá trình bị can khai báo có bị ảnh hưởng của những yếu tố chủ quan và khách quan nào không?
- Kiểm tra kết quả hỏi cung: Trong mọi trường hợp lời khai của bị can phải được kiểm tra kịp thời, khách quan, thận trọng và có kế hoạch Để kiểm tra mức độ đúng đắn, chính xác của lời khai, ĐTV có thể áp dụng các biện pháp như: yêu cầu
bị can giải thích những vấn đề chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn trong lời khai, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ về vụ án từ những biện pháp điều tra khác như: lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, lời khai của những bị can khác, kết quả khám xét để kiểm tra lời khai Ngoài ra, có thể tiến hành đối chất, thực nghiệm điều tra
để kiểm tra lời khai hoặc sử dụng các hoạt động trinh sát để kiểm tra Nội dung của sự kiểm tra là ĐTV kiểm tra tính phù hợp và đúng đắn, chính xác của lời khai trong mối quan hệ với các tài liệu chứng cứ khác về vụ án đã thu thập được
- Đánh giá kết quả hỏi cung: Sau khi đã nghiên cứu, kiểm tra, lời khai của bị can cần được đánh giá trên các phương diện: tính khách quan, đầy đủ, lôgic, cụ thể, rõ ràng Sau khi đánh giá, rút ra kết luận về giá trị của lời khai đã thu thập được đối với hoạt động điều tra trong quá trình chứng minh tội phạm, làm rõ các tình tiết của vụ án, làm rõ vai trò vị trí của từng đồng phạm trong vụ án và tài sản chiếm đoạt được
- Sử dụng kết quả hỏi cung: Là sử dụng lời khai của bị can vào việc chứng minh làm rõ tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Lời khai của bị can là một chứng cứ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án, đồng thời còn được dùng làm cơ sở để ĐTV tiến hành những biện pháp
Trang 37ngăn chặn những hoạt động điều tra khác, như mở rộng vụ án, phong tỏa tài sản, thu hồi tài sản đã chiếm đoạt,…
Trên đây là những lý luận cơ bản về chiến thuật hỏi cung bị can trong hoạt động điều tra hình sự Để đáp ứng được yêu cầu hỏi cung của thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, theo chúng tôi về mặt lý luận cần nghiên cứu và xây dựng hệ thống
lý luận về hỏi cung bị can mang tính chất chuyên sâu đối với từng nhóm tội phạm
cụ thể Đặc biệt là đối với các vụ án tham ô tài sản
1.2.3 Những vấn đề cơ bản trong vụ án tham ô tài sản
Khi tiến hành điều tra một vụ án kinh tế nói chung và tham ô tài sản nói riêng, cán bộ được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra phải triệt để tuân thủ Điều 85 BLTTHS 2015, và phải tiến hành làm rõ tất cả những tình tiết liên quan đến vụ án để chứng minh hành vi phạm tội một cách khách quan từ khâu thu thập, phát hiện, đánh giá, xử lý thông tin, tiến hành điều tra, thu thập đánh giá, sử dụng và bảo quản chứng cứ Đó là quá trình tư duy khoa học pháp lý mang tính chất lôgíc, biện chứng dựa trên
cơ sở pháp luật để chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng phạm tội mục đích tìm
ra sự thật của vụ án Tại Điều 85 (BLTTHS) qui định, khi điều tra, truy tố và xét xử vụ
án hình sự Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
1) Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2) Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay
vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích hoặc động cơ phạm tội; 3) Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo
và những đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo;
4) Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội “ Như vậy, trách nhiệm để chứng minh tội phạm, theo Điều 85 BLTTHS 2015 thuộc về các cơ quan đó là : Cơ quan điều tra, Toà án và Viện kiểm sát
1) Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
2) Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
Trang 38Trong khoa học luật hình sự có nhiều quan điểm khác nhau khi đi phân loại nhóm những điều phải chứng minh, tựu trung lại bao gồm:
Nhóm thứ nhất: Những vấn đề phải chứng minh là bản chất của vụ án, đó là
có hành vi phạm tội xảy ra không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự không, địa điểm, thời gian xảy ra hành vi phạm tội, có nằm trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không ?
Nhóm thứ hai: Những vấn đề nhằm chứng minh tính chất mức độ hành vi
phạm tội, đó là : xác định tính chất mức độ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của tội phạm
Nhóm thứ ba: Những tình tiết khác để xác định rõ hành vi phạm tội, đó là, xác
định nhân thân tội phạm, mối quan hệ của các đối tượng trong vụ án, những đối tượng liên quan đến vụ án, những tình tiết xác định bồi thường vật chất, nguyên nhân điều kiện phạm tội
Do vậy, để tiến hành điều tra vụ án tham ô tài sản khi chứng minh những hành
vi phạm tội phải chứng minh những vấn đề sau :
- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không ?
Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên mà cơ quan tiến hành điều tra phải chứng minh, đặc biệt với việc điều tra tội phạm tham ô tài sản, thì phải xác minh làm rõ mức thiệt hại
- Thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc tham ô tài sản và những tình tiết khác của hành vi phạm tội Đây là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm và có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đến toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm Đó là việc cơ quan điều tra xác định có hành vi tham ô xảy ra tại một cơ quan, đơn vị cụ thể đóng tại một địa bàn nhất định Bên cạnh đó phải xác định được thời gian xảy ra hành vi phạm tội, thông thường với tội phạm tham ô thì thời gian xảy ra hành vi phạm tội không giống như một số tội phạm hình sự khác là xảy ra mang tính bột phát nhất thời, mà ở đây tội phạm xảy ra kéo dài trong một quãng thời gian, có sự chuẩn bị kỹ càng về những điều kiện tác động để tiến hành phạm tội, thậm chí những hành vi tham ô này được thực hiện một cách có hệ thống, lặp đi, lặp lại mang tính bền vững,
có tổ chức
Trang 39- Đối tượng thực hiện hành vi phạm tội, tức là ai là tội phạm, họ tên là gì?, bao nhiêu tuổi, nghề nghiệp là gì? đảm nhiệm chức vụ gì? nơi đăng ký hộ khẩu, đã có tiền án, tiền sự gì chưa? có đồng phạm hay không, có bao nhiêu người thực hiện hành vi phạm tội,
Riêng đối với tội danh tham ô tài sản yếu tố bắt buộc đối với chủ thể phải là người giữ chức vụ hoặc được giao đảm nhiệm một công đoạn để thực hiện một công việc nhất định liên quan đến việc quản lý tài sản và đạt độ tuổi nhất định theo luật định
Ở Điều 51 và Điều 52 BLHS năm 2015 còn xác định “ những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo ” Do vậy đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc xét xử tội phạm vừa là để xác định đúng người, đúng tội Đối với tội phạm tham ô tài sản, ĐTV vừa phải thu thập tất cả những tình tiết để chứng minh hành vi phạm tội, cũng vừa phải tìm ra tất cả những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can và xác định cụ thể tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
để giúp cơ quan xét xử xác định khung hình phạt đối với đối tượng phạm tội Để nghiêm trị với kẻ ngoan cố, xảo quyệt.ĐTV phải tìm kiếm và triệt để khai thác các tài liệu, chứng cứ để chứng minh những tình tiết, như các hành vi phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, hành vi ngoan cố không khai báo, dùng thủ đoạn xảo quyệt, đê hèn, tái phạm nhiều lần, mục đích vụ lợi hoặc vì những động cơ cá nhân khác, hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về tài sản
Tóm lại: Nắm vững những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự nói
chung và tham ô tài sản nói riêng có một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác điều tra tội phạm, qua đó nó giúp cho ĐTV xác định làm rõ những tình tiết cần xác minh trong một vụ án, là cơ sở để xác định người phạm tội Nắm vững và áp dụng triệt để những vấn đề phải chứng minh trong quá trình điều tra, chính là ĐTV đã thực hiện và tuân thủ triệt để nguyên tắc pháp chế XHCN, một trong những bảo đảm quan trọng để khám phá đầy đủ các tình tiết của vụ án, thu hồ tài sảnđã bị chiếm đoạt về cho nhà nước
Trang 40Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG HỎI CUNG BỊ CAN VÀ THỰC TRẠNG HỎI CUNG BỊ CAN TRONG VỤ ÁN THAM Ô TÀI
SẢN TỪ THỰC TIỄN ĐIỀU TRA TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Những quy định của pháp luật về hoạt động hỏi cung bị can
- Quy định về hỏi cung bị can trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau:
Điều 131 BLTTHS 2003: Hỏi cung bị can
+ Việc hỏi cung bị can do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, ĐTV phải giải thích cho bị can rõ quyền và nghĩa vụ theo qui định tại điều 49 của Bộ luật này Việc này phải ghi vào biên bản Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình
+ Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ vào biên bản
+ ĐTV hoặc Kiểm sát viên bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 299 hoặc điều 298 của Bộ luật hình sự
- Qui định cụ thể của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về hỏi cung bị can
như sau:
Điều 183 BLTTHS 2015: Hỏi cung bị can
+ Việc hỏi cung bị can do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó Trước khi hỏi cung bị can, ĐTV phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia hỏi cung bị can
+ Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, ĐTV phải giải thích cho bị can rõ quyền
và nghĩa vụ theo qui định tại điều 60 của Bộ luật này Việc này phải ghi vào biên bản Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình