1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quản lý đất ngập nước thị xã quảng yên tỉnh quảng ninh

88 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khai thác có hiệu quả tiềm năng ĐNN phục vụ phát triển kinh tế, xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, việc nghiên cứu hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quản lý

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60.85.01.03

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Nhữ Thị Xuân

Hà Nội - 2014

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆN CHỈNH BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NGẬP NƯỚC 14

1.1 Khái quát về đất ngập nước 14

1.1.1 Định nghĩa đất ngập nước 14

1.1.2 Phân loại đất ngập nước 15

1.1.3 Đất ngập nước và sự phát triển bền vững 17

1.1.4 Vai trò và tầm quan trọng của đất ngập nước 17

1.1.5 Các đặc điểm tự nhiên chủ yếu hình thành đất ngập nước ở Việt Nam 21

1.1.6 Phân bố đất ngập nước ở Việt Nam 22

1.2 Quản lý và sử dụng đất ngập nước 22

1.2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam 22

1.2.2 Quan điểm và giải pháp quản lý và sử dụng đất ngập nước 24

1.2.3 Các mục đích của việc quản lý đất ngập nước 25

1.2.4 Các yếu tố tác động đến quản lý và sử dụng đất ngập nước 26

1.2.5 Kinh nghiệm quản lý ĐNN ở một số nước trên thế giới 27

1.2.6 Quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam 29

1.3 Hiện chỉnh bản đồ 31

1.3.1 Mục đích hiện chỉnh bản đồ 31

1.3.2 Xác định độ biến đổi về nội dung bản đồ 31

1.3.3 Các phương pháp hiện chỉnh bản đồ 31

1.4 Biến động sử dụng đất 33

CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG TƯ LIỆU VIỄN THÁM TRONG HIỆN CHỈNH BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT 36

2.1 Khái quát về bản đồ hiện trạng sử dụng đất 36

2.1.1 Khái niệm 36

2.1.2 Mục đích và yêu cầu 36

2.1.3 Nội dung bản đồ HTSDĐ 37

2.1.4 Các phương pháp thể hiện nội dung bản đồ HTSDĐ 42

2.1.5 Độ chính xác chuyển vẽ các yếu tố nội dung cơ sở địa lý từ các bản đồ tài liệu sang bản đồ nền 43

2.2 Khái quát về viễn thám 43

2.2.1 Khái niệm viễn thám 43

2.2.2 Đặc tính cơ bản của tư liệu viễn thám 44

2.2.3 Đặc tính phản xạ phổ của các đối tượng tự nhiên 45

2.2.4 Khả năng khai thác thông tin từ ảnh viễn thám trong nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất 46

Trang 4

2.2.5 Chiết xuất thông tin trên ảnh vệ tinh 49

2.3 Khái quát về phần mềm ArcGIS 50

2.4 Các bước nghiên cứu 52

CHƯƠNG 3 HIỆN CHỈNH BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NGẬP NƯỚC THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH 53

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thị xã Quảng Yên 53

3.1.1 Vị trí địa lý 53

3.1.2 Điều kiện tự nhiên 54

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 57

3.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Quảng Yên 60

3.2 Hiện trạng sử dụng ĐNN thị xã Quảng Yên năm 2005 61

3.3 Hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất bằng ảnh vệ tinh SPOT-5 62

3.3.1 Thu thập, phân tích và đánh giá tài liệu 63

3.3.2 Xử lý, khai thác thông tin bản đồ HTSDĐ gốc 64

3.3.3 Xử lý ảnh vệ tinh 66

3.3.4 Giải đoán và điều vẽ ảnh vệ tinh 67

3.3.5 Điều tra khảo sát, đối chiếu thực địa 68

3.3.6 Chỉnh sửa bản đồ HTSDĐ gốc 70

3.3.7 Bản đồ kết quả 70

3.4 Phân tích hiện trạng sử dụng đất ngập nước thị xã Quảng Yên năm 2013 71

3.5 Nghiên cứu tình hình biến động sử dụng đất ngập nước ở thị xã Quảng Yên giai đoạn năm 2005-2013 73

3.5.1 Thành lập bản đồ biến động sử dụng đất ngập nước ở Thị xã Quảng Yên giai đoạn năm 2005-2013 73

3.5.2 Đánh giá tình hình biến động sử dụng đất ngập nước thị xã Quảng Yên giai đoạn năm 2005-2013 75

3.5.3 Nguyên nhân gây biến động ĐNN 78

3.6 Đề xuất một số giải pháp sử dụng và quản lý hợp lý ĐNN khu vực nghiên cứu 79

3.6.1 Quan điểm đề xuất giải pháp 79

3.6.2 Một số giải pháp sử dụng và quản lý hợp lý đất ngập nước 80

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 87

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đƣợc đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả luận văn

Trần Thị Nhƣ Hoa

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại Bộ môn Địa Chính, Khoa Địa Lý, Trường Đại

Khoa học Tự nhiên, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nhữ Thị Xuân

Trong quá trình hoàn thành luận văn, học viên luôn nhận được sự giúp đỡ

nhiệt tình, góp ý và động viên quý báu của PGS.TS Nhữ Thị Xuân, các thầy cô

giáo trong Bộ môn Địa Chính, Khoa Địa Lý, Phòng Đại học và sau Đại học, Ban

giám hiệu Trường Đại Khoa học Tự nhiên, cán bộ nhân viên phòng Trắc địa, cũng

như sự giúp đỡ và tạo điều kiện của lãnh đạo Trung tâm Địa chất và Khoáng sản

Biển, các đồng nghiệp

Nhân dịp này, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo,

các đồng nghiệp cơ quan chủ quản, đặc biệt là PGS.TS Nhữ Thị Xuân đã tạo điều

kiện cho học viên được sử dụng, thừa kế những thành quả nghiên cứu để hoàn thành

Trang 7

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ĐNN HTSDĐ BĐSDĐ RNM HST PTBV

BVMT

Đất ngập nước Hiện trạng sử dụng đất Bản đồ sử dụng đất Rừng ngập mặn

Hệ sinh thái Phát triển bền vững

Bảo vệ môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Ma trận biến động 34

Bảng 2.1: Tỷ lệ bản đồ nền dùng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất…… 45

Bảng 2.2: Các thông số ảnh của vệ tinh SPOT-5 48

Bảng 3.1: Diện tích một số loại hình sử dụng đất chính qua các năm 57

Bảng 3.2: Cơ cấu sử dụng ĐNN thị xã Quảng Yên năm 2005 61

Bảng 3.3: Một số mẫu giải đoán ảnh vệ tinh bằng mắt 69

Bảng 3.4: Cơ cấu sử dụng đất thị xã Quảng Yên năm 2013 70

Bảng 3.5: Cơ cấu sử dụng ĐNN thị xã Quảng Yên năm 2013 71

Bảng 3.6: Các loại hình biến động sử dụng đất 76

Bảng 3.7: Định hướng sử dụng và quản lý một số khu vực ĐNN 83

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Nguyên tắc nghiên cứu biến động trong GIS 34

Hình 2.1: Đặc tính phản xạ phổ của một số đối tượng tự nhiên 45

Hình 2.2: Sơ đồ các bước nghiên cứu (bỏ bước 4) 52

Hình 3.1: Vị trí địa lý Thị xã Quảng Yên trong tỉnh Quảng Ninh 53

Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu cơ cấu sử dụng ĐNN năm 2005 61

Hình 3.3: Sơ đồ quy trình hiện chỉnh bản đồ HTSDĐ bằng ảnh vệ tinh 63

Hình 3.4: Chuyển đổi *.dgn trong ArcCatalog 65

Hình 3.5: Màu sắc, gán nhãn đối tượng và bảng thuộc tính 66

Hình 3.6: Đặt hệ tọa độ địa lý trong ArcCatalog 66

Hình 3.7: Công cụ Georeferencing nắn ảnh vệ tinh trong ArcMap 67

Hình 3.8: Sơ đồ tuyến thực địa khảo sát ở Quảng Yên 69

Hình 3.9: Biểu đồ cơ cấu cơ cấu sử dụng ĐNN năm 2013 72

Hình 3.10: Sơ đồ quy trình nghiên cứu biến động tình hình sử dụng đất ngập nước thị xã Yên Hưng 2005-2013 74

Hình 3.11: Mô tả cách thức làm việc công cụ Dissolve 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất ngập nước (ĐNN) ở thị xã Quảng Yên nói riêng, ở Việt Nam và trên thế giới nói chung đóng vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như lọc nước thải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt, hạn hán ), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở bờ biển, ổn định mức nước ngầm cho những vùng sản xuất nông nghiệp, tích luỹ nước ngầm, là nơi trú chân của nhiều loài chim di cư quý hiếm, là nơi giải trí, du lịch rất giá trị… Về lâu dài, ĐNN đóng vai trò quan trọng về môi trường, sinh thái, phát triển kinh tế - xã hội

Do nhiều nguyên nhân khác nhau, ĐNN của Thị xã Quảng Yên đang suy thoái cả về số lượng và chất lượng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chức năng môi trường và hệ sinh thái đất ngập nước, phá vỡ cảnh quan môi trường

Để khai thác có hiệu quả tiềm năng ĐNN phục vụ phát triển kinh tế, xã hội

đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, việc nghiên cứu hiện chỉnh bản đồ hiện trạng

sử dụng đất phục vụ quản lý và sử dụng hợp lý ĐNN thị xã Quảng Yên có ý nghĩa

vô cùng quan trọng, không chỉ xác định thực trạng ở thời điểm nghiên cứu, xác định được quá trình biến đổi của ĐNN hiệu quả mà còn giúp cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách hợp lý và bền vững, tuân theo các quy luật phát triển của tự nhiên Chính vì vậy học viên đã lựa chọn đề tài luận văn

“Nghiên cứu hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quản lý đất ngập nước thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh” hoàn toàn xuất phát từ sự cần

thiết của thực tế khách quan và có ý nghĩa lớn về mặt khoa học cũng như thực tiễn trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đất ngập nước

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục tiêu

Ứng dụng viễn thám và GIS kết hợp điều tra thực địa hiện chỉnh bản đồ HTSDĐ và thành lập bản đồ biến động ĐNN làm cơ sở để đưa ra một số giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý ĐNN góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường cho thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

b Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:

1- Tổng quan ĐNN và hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quản lý ĐNN

2- Nghiên cứu đặc điểm các yếu tố hình thành và ảnh hưởng tới ĐNN khu vực nghiên cứu

3- Ứng dụng viễn thám hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng SDĐ thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

4- Thành lập bản đồ biến động ĐNN khu vực nghiên cứu

5- Đánh giá hiện trạng quản lí và sử dụng ĐNN khu vực nghiên cứu

Trang 11

6- Đề xuất một số giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý ĐNN khu vực nghiên cứu góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

- Phạm vi khoa học: Đề tài tập trung nghiên cứu hiện chỉnh bản đồ hiện

trạng sử dụng đất bằng ảnh vệ tinh, thành lập bản đồ biến động đất ngập nước, phân tích, đánh giá hiện trạng và biến động ĐNN trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý ĐNN khu vực thị xã Quảng Yên

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

+ Các quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống: Hệ thống là một phức hợp các yếu tố tác động lẫn

nhau và tác động tới môi trường bên ngoài hệ thống thông qua dòng vật chất và năng lượng Một hệ thống bất kỳ nào cũng là một bộ phận của hệ thống cấp cao hơn Giữa các hệ thống đó tồn tại một mối quan hệ tương tác lẫn nhau Mỗi hệ thống có tính hoàn chỉnh về cấu trúc và thống nhất về chức năng thông qua dòng vật chất và năng lượng Lãnh thổ Quảng Yên như là một địa hệ thống hoàn chỉnh, được hình thành từ mối tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật), các hợp phần kinh tế xã hội (các dạng khai thác sử dụng tài nguyên) Khi tác động vào một phần nào đó của hệ thống thì các hợp phần khác cũng thay đổi theo, dẫn đến những biến đổi của cả hệ thống Bởi vậy, nghiên cứu ĐNN trên quan điểm hệ thống cho phép tìm hiểu, phân tích các yếu tố động lực thành tạo và tác động lên ĐNN cũng như mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố một cách toàn diện và đồng bộ

- Quan điểm tổng hợp: Theo quan điểm này, mỗi một đơn vị ĐNN đều được

cấu thành bởi các hợp phần tự nhiên như: địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng và sinh vật Mỗi hợp phần đó luôn tồn tại trong mối tác động tương hỗ với các hợp phần còn lại và đều góp phần vào quá trình phát triển của ĐNN Do đó, khi nghiên cứu ĐNN trên quan điểm địa lý tổng hợp thì phải xem xét các yếu tố đó, không xem nhẹ bất kỳ một hợp phần nào mà phải đặt nó trong mối liên hệ chặt chẽ với các hợp phần khác Trong đề tài, đặc điểm hệ thống các điều kiện tự nhiên và xã hội trong mỗi đơn vị ĐNN được phân tích nhằm làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện

tự nhiên và hoạt động khai thác lãnh thổ Điều này giúp định hướng phát triển bền vững dải ven biển khu vực nghiên cứu

- Quan điểm phát triển bền vững: Một trong số những định nghĩa được biết

đến nhiều nhất về phát triển bền vững là: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ trong tương lai” (Hội nghị thế giới về môi trường và phát triển, WCED, 1978) Đối với bất kể vùng lãnh thổ nào khi khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế xã hội, nguyên tắc phát triển bền vững phải được đặt lên hàng đầu Sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội, và bảo vệ môi trường là mục tiêu của phát

Trang 12

triển bền vững ĐNN là sản phẩm của tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, mức độ bền vững của ĐNN dải ven biển cũng là thước đo mức độ của chính sách phát triển kinh tế của khu vực Nghiên cứu biến đổi ĐNN khu vực Quảng Yên không chỉ xác định sự biến đổi của ĐNN trong quá khứ mà nhằm tới mục đích quan trọng là phục vụ phát triển bền vững khu vực nghiên cứu

- Quan điểm lịch sử: Trong lịch sử hình thành và phát triển, các hợp phần

cảnh quan đều có quy luật phát triển riêng Dựa trên quan điểm này có thể phân tích được sự thay đổi của các yếu tố thành tạo ĐNN trong quá khứ so với hiện tại Nghiên cứu ĐNN theo quan điểm lịch sử sẽ trả lời được một cách chính xác các câu hỏi sau: ĐNN được thành tạo trong thời gian nào? Nguyên nhân hình thành? Đặc điểm phát triển trong quá khứ và tương lai? Đồng thời, mỗi vùng ĐNN đều có quá trình phát sinh và phát triển của riêng chúng Thông qua phân tích các nhân tố hình thành ĐNN có thể xác định được quá trình phát triển của mỗi dạng cảnh quan đó Bởi vậy, quan điểm lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu biến đổi ĐNN

+ Các phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thu thập, phân tích và đánh giá tài liệu

Luận văn đã sử dụng phương pháp này nhằm phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó về khu vực, lãnh thổ để nắm rõ hơn thực trạng của khu vực cũng như các công trình nghiên cứu đã tiến hành tại đây; đồng thời nhận thấy những tài liệu, số liệu còn thiếu hoặc sai sót để bổ sung và cập nhật giúp công tác điều tra thực tế hiệu quả hơn Các tài liệu đã được sử dụng bao gồm các công trình nghiên cứu cơ bản, các đề tài khoa học, các dự án phát triển ở khu vực Quảng Yên,

và các công trình nghiên cứu về vấn đề và địa bàn nghiên cứu; ngoài ra, còn tham

khảo các văn bản pháp lý liên quan

* Phương pháp khảo sát thực địa

Để khảo sát thực địa đạt kết quả thì yêu cầu quan trọng là xác định các tuyến khảo sát và điểm khảo sát thích hợp Tuyến khảo sát đã đi qua các khu vực ĐNN điển hình của khu vực thị xã Quảng Yên Sau khi lựa chọn điểm ngoài thực địa, tiến hành khảo sát như sau:

- Sử dụng bản đồ địa hình, ảnh viễn thám kết hợp với máy GPS để xác định địa điểm hành chính, toạ độ địa lý của điểm khảo sát

- Mô tả một số yếu tố như: hình thái địa hình, vị trí điểm trên lát cắt địa hình, quá trình địa mạo đang diễn ra, thủy văn

- Về hoạt động nhân sinh, quan sát và ghi lại các tác động của con người đến môi trường; tiến hành điều tra xã hội học (hỏi người dân bản địa theo phiếu điều tra

có sẵn) để tìm hiểu hiện trạng sử dụng và quản lý ĐNN tại địa phương

* Phương pháp điều tra xã hội học

Đây là một phương pháp đánh giá nhu cầu của cộng đồng với sự tham gia của nhà khoa học, nhà quản lý và cư dân địa phương để tìm hiểu và đánh giá nhanh

Trang 13

các vấn đề của khu vực nghiên cứu Thông qua việc điều tra, luận văn có thể xác định các bên hưởng lợi từ tài nguyên đất ngập nước, đối tượng quản lý, sử dụng, mục đích sử dụng, vấn đề tồn tại trong quản lý và sử dụng đất ngập nước, Phương pháp được thực hiện thông qua việc phỏng vấn nhanh các hộ gia đình và một số cán

bộ địa phương có liên hệ trực tiếp tới quản lý và sử dụng ĐNN nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp,

* Phương pháp bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS)

Phương pháp bản đồ được sử dụng trên thực địa và biểu thị các kết quả nghiên cứu

Sử dụng ảnh viễn thám SPOT-5 và phần mềm ARCGIS để hiện chỉnh và thành lập bản đồ hiện trạng và bén động ĐNN

5 Các kết quả và ý nghĩa của đề tài

a Các kết quả đạt được

- Hiện chỉnh bản đồ HTSDĐ thị xã Quảng Yên bằng ảnh viễn thám

- Thành lập bản đồ biến động sử dụng ĐNN khu vực nghiên cứu giai đoạn 2005-2013

- Phân tích hiện trạng sử dụng và quản lý ĐNN khu vực Quảng Yên, phân tích nguyên nhân biến động ĐNN

- Đề xuất một số giải pháp sử dụng và quản lý hợp lý ĐNN cho khu vực nghiên cứu

b Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Góp phần xây dựng cơ sở khoa học ứng dụng viễn thám

hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quản lý đất ngập nước

- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp trực quan bản đồ HTSDĐ tại thời điểm mới

nhất, bản đồ biến động ĐNN phục vụ công tác quản lý đất ngập nước khu vực nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ

quản lý đất ngập nước

Chương 2: Ứng dụng tư liệu viễn thám trong hiện chỉnh bản đồ

Chương 3: Hiện chỉnh bản đồ hiện trạng sử dụng đất, thành lập bản đồ biến

động sử dụng đất phục vụ quản lý đất ngập nước thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh với sự trợ giúp của viễn thám và GIS

Trang 14

có khoảng 50 định nghĩa về ĐNN đang được sử dụng (theo Dugan, năm 1990)

Các định nghĩa về ĐNN có thể chia thành hai nhóm chính Một nhóm theo định nghĩa rộng, nhóm thứ hai theo định nghĩa hẹp

Các định nghĩa về ĐNN theo định nghĩa rộng như định nghĩ của Công ước Ramsar, định nghĩa theo các chương trình điều tra ĐNN của Mỹ, Canada, New Zealand và Ôxtrâylia

Theo công ước Ramsar (năm 1971), ĐNN được định nghĩa như sau:

Theo công ước RamSar (Điều 1.1), các vùng ĐNN được định nghĩa như sau:

“Các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước, tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước đứng hay chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả những vùng nước biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6m” Ngoài ra, Công ước (Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập nước: “Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”

- Theo chương trình quốc gia về điều tra ĐNN của Mỹ: “Về vị trí phân bố, đất ngập nước là những vùng đất chuyển tiếp giữa những hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông” Đất ngập nước phải có ba thuộc tính sau (theo Cowardin và cộng sự, năm 1979):

+ Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh + Nền đất hầu như không bị khô

+ Nền đất không có cấu trúc không rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước ở mức cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm

- Theo các nhà khoa học Canađa: “Đất ngập nước là đất bão hòa nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh Đó là những nơi khó tiêu hóa nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ước”

- Theo các nhà khoa học New Zealand: “Đất ngập nước là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ước từng thời kỳ hoặc thường xuyên Những vùng ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất nước Nước có thể là

Trang 15

nước ngọt, nước mặn hoặt nước lợ Đất ngập nước ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loài thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt”

- Theo các nhà khoa học Ôxtrâylia: “Đất ngập nước là vùng đầm lầy, bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tỉnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”

- Định nghĩa do các kỹ sư quân đội Mỹ đề xuất và là định nghĩa chính thức tại Mỹ: “Đất ngập nước là những vùng đất bị ngập hoặc bão hòa giữa nước bề mặt hoặc nước ngầm một cách thường xuyên và thời gian ngập đủ để hỗ trợ cho tính ưu việt của thảm thực vật thích nghi điển hình trong những điều kiện đất bão hòa nước” Đất ngập nước nhìn chung gồm: đầm lầy, đầm phá, đầm lầy cây bụi những vùng đất tương tự

Những định nghĩa trên theo nghĩa hẹp, nhìn chung đều xem ĐNN như đới chuyển tiếp sinh thái (Ecotone), những diện tích chuyển tiếp giữa môi trường trên cạn và ngập nước, những nơi mà sự ngập nước của đất gây ra sự phát triển của một

hệ thực vật đặc trưng ( theo Coward và cộng sự, năm 1979; Enny, năm 1985)

Hiện nay, định nghĩa theo công ước Ramsar là định nghĩa được nhiều người

sử dụng

1.1.2 Phân loại đất ngập nước

Theo hệ thống phân loại ĐNN của Việt Nam dùng để xây dựng bản đồ ĐNN quốc gia, tỷ lệ 1/1.000.000 và cấp vùng tỷ lệ 1/250.000 có thể sử dụng hệ thống phân loại tới cấp 4 Đối tượng quản lý hoặc lập chính sách ở đây là một địa lý mà các đơn vị phân biệt nhau dựa vào thảm thực vật hoặc một tập hợp các loại hình sử dụng đất Diện tích của mỗi vùng như vậy thường là hàng triệu ha Tuy nhiên, nếu

sử dụng để lập kế hoạch quản lý cho một khu vực từ vài chục nghìn ha trở xuống có thể sử dụng hệ thống phân loại tới cấp 5 hoặc cấp 6, đối tượng quản lý là tập hợp của các nhóm loài thực vật ưu thế hoặc một loại hình sử dụng đất Sau đó có thể đưa thêm nhiều chỉ tiêu khác nếu cần lập kế hoạch quản lý hoặc lập bản đồ ở tỷ lệ lớn hơn nếu đối tượng quản lý là một loài

- Cấp 1: Tên gọi = Hệ thống (System): Sự phân biệt đầu tiên là giữa ĐNN bị

ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường biển (mặn) và ĐNN không bị ảnh hưởng bởi môi trường biển (ngọt)

+ ĐNN ở vùng biển và ven biển (Marinel coastal Wetlands) là những vùng

ĐNN bị ảnh hưởng bởi thủy triều ven biển bao gồm cả những vùng nước lợ

+ ĐNN ngọt (Fesh Water) bao gồm những loại ĐNN không nhận nước từ biển

mặc dầu chúng nằm gần ven biển, độ mặn trong nước thường xuyên nhỏ hơn 4g/lít Trong hệ thống này có những cánh đồng trồng cây nông nghiệp đã được ngọt hoá bằng đê ngăn mặn, các vùng đồng bằng ngập nước định kỳ hay ngập nước theo mùa, nguồn nước từ các sông hoặc hồ chứa, các cùng đầm lầy, các hồ tự nhiên hoặc nhân tạo, các đồng cỏ hoặc rừng đầm lầy ngập nước định kỳ hay ngập nước theo

Trang 16

mùa, các đồng ruộng trồng cây nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản có thời gian ngập nước ít nhất 6 tháng trong năm ở đồng bằng, trung du hoặc miền núi, các kênh rạch, sông suối có nước chảy thường xuyên ít nhất là 6 tháng trong năm…

- Các đơn vị cấp 2: Tên gọi = Hệ thống phụ (Sub-system): Đây là những phức

hợp các vùng ĐNN cùng chịu ảnh hường của các yếu tố sinh vật học, hóa học, địa mạo thủy văn như nhau Những phạm trù rộng lớn này bao gồm: vùng ven biển, vùng cửa sông, vùng ĐNN chịu ảnh hưởng của sông, vùng ĐNN thuộc về hồ, đầm

- Đơn vị cấp 3: Tên gọi = lớp (Class): Các lớp được phân ra từ các hệ thống

phụ căn cứ vào mức độ ngập nước, thời kỳ ngập nước Các loại chế độ nước sử dungh ở đây được điều chỉnh từ các loại cơ bản phản ánh được tần suất ngập nước bao gồm các đơn vị sau:

+ Các hệ thống phụ vùng cửa sông ven biển, hồ nước mặn, thuộc hệ thống nước mặn được chia thành: vùng ngập triều, vùng gian triều

+ Các hệ thống phụ thuộc về sông, hồ đầm, thuộc hệ thống nước ngọt được chia thành: sông rạch chảy thường xuyên hoặc theo mùa, ngập mưa thường xuyên hoặc theo mùa

- Các đơn vị cấp 4: Tên gọi = Lớp phụ (Sub-Class): Lớp phụ được phân chia

từ lớp căn cứ vào các yếu tố hiện trạng thực vật và tập hợp của một số loại hình sử dụng đất

- Các đơn vị cấp 5: Loại: Chỉ tiêu phân loại là nhóm loài thực vật ưu thế hoặc

Trong phân loại đất theo mục đích sử dụng, khái niệm đất mặt nước được dùng để chỉ đất sông suối và mặt nước thuỷ lợi, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản,

đất mặt nước chuyên dùng… Theo tôi, nếu chỉ phân loại đất theo mục đích sử dụng (không căn cứ vào nguồn gốc hình thành, thổ nhưỡng, nền đáy…) thì khái niệm đất mặt nước hẹp hơn khái niệm đất ngập nước Đất mặt nước chỉ là vùng ĐNN ngập thường xuyên như ao hồ, sông suối Nhưng các loại đất khác như đất úng trũng trồng 1 lúa + cá, đất bán ngập hay ĐNN không thường xuyên là đất ngập nước, nhưng đôi khi không gọi là đất mặt nước

Trang 17

1.1.3 Đất ngập nước và sự phát triển bền vững

Lịch sử chứng minh rằng, những vùng ĐNN thường là nơi nuôi dưỡng các nền văn minh vĩ đại của Mesopotania và Ai Cập thông qua các chức năng quan trọng như điều tiết nước ngầm, khống chế lũ lụt, giữ lại chất dinh dưỡng, chất cặn, các độc tố, chắn sóng, chắn gió, bảo vệ bờ biển, phục vụ giao thông thuỷ, du lịch, bảo

vệ đa dạng sinh học… tạo ra các sản phẩm như rừng, động vật hoang dã, tôm, cá, bò sát, nơi cư trú của động vật nước Cho đến nay, ĐNN tại các sông Niger, Indus, Mekong, v.v luôn giữ vai trò quan trọng cho phúc lợi và sự bình yên của những người dân sống ở các vùng phụ cận

Từ quan niệm sai lầm cho rằng ĐNN là một vùng đất có năng suất thấp, bẩn thỉu, chứa đầy bệnh tật, côn trùng và cá sấu nên nhiều vùng ĐNN đã biến mất và thay vào đó là đất nông nghiệp, đất ở, khu công nghiệp và bước đầu đã mang lại những lợi ích nhất định Nhưng lợi ích đó không thể bù đắp được những hậu quả to lớn do suy thoái ĐNN gây ra cho con người, như lũ lụt, mặn hoá, sóng biển… Những quan niệm mới hiện nay đều phải thừa nhận ĐNN là hệ sinh thái bền vững, đối lập hẳn với những quan niệm sai lầm trên Ngày nay vấn đề bảo vệ ĐNN ngày càng được coi trọng theo quan điểm môi trường và chiến lược PTBV [5]

Phương hướng bảo tồn và phát triển đất ngập nước ở nước ta

- Xã hội hoá bảo tồn và phát triển đất ngập nước: Các cấp, các ngành, các địa

phương, cộng đồng và mọi người dân, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi đều coi công tác bảo tồn ĐNN là trách nhiệm chung Thông qua các hình thức tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, thu hút người dân vào công tác bảo tồn và phát triển đất ngập nước;

- Bảo tồn và phát triển đất ngập nước theo hướng du lịch sinh thái Có nghĩa

là phát triển du lịch dựa vào những giá trị hấp dẫn của ĐNN và văn hoá bản địa, quản lý bền vững ĐNN về môi trường sinh thái, giáo dục, nâng cao ý thức BVMT

và có những đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng Mô hình này đang được nhiều địa phương thực hiện như Hồ Ba Bể, hồ Núi Cốc, hồ Đồng

Mô Thông qua phát triển du lịch sinh thái, tạo thu nhập, cảnh quan môi trường …

mà đất ngập nước ao, hồ, đầm được bảo tồn và phát triển

- Xây dựng mô hình đất ngập nước theo hướng nông nghiệp đa canh Mô hình

kết hợp trồng lúa, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… Như mô hình lúa xuân - Cá hè đông ở Mê Linh - Vĩnh Phúc, vừa đạt hiệu quả kinh

tế cao vừa giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động Mô hình này sử dụng lao động hơn mô hình độc canh 2 lúa từ 264-704 công/ha (Nguyễn Ích Tân, 1999)

1.1.4 Vai trò và tầm quan trọng của đất ngập nước

Trải qua một quá trình khai thác sử dụng lâu dài con người mới nhận biết được những giá trị đích thực của ĐNN, vai trò và tầm quan trọng của nó

Trang 18

Mỗi vùng ĐNN đều bao gồm các thành phần vật lý, sinh học hoặc hóa học như đất, nước, các loại động thực vật và các chất dinh dưỡng Các quá trình xảy ra giữa và trong các thành phần này cho phép ĐNN thực hiện một số chức năng như khống chế lũ lụt, chống bào mòn và tạo ra các sản phẩm như các loại động vật hoang dã, tôm cá và tài nguyên rừng…

Đất ngập nước như là hệ sinh thái đặc thù, có đa dạng sinh học cao, là nơi bảo vệ nguồn gen động thực vật quí, có chức năng duy trì nguồn nước, và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia

Giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái ĐNN ngày càng được con người đánh giá cao, nó đáp ứng được các nhu cầu phát triển khi duy trì được tính tổng hợp về chức năng của chúng chứ không phải chuyển đổi sang sử dụng đơn mục đích Nói cách khác, nếu được quản lý một cách nhạy bén, khi các HST này ở nguyên trạng tự nhiên thì có thể đáp ứng được một loạt các sản phẩm và dịch vụ về môi trường và cuộc sống

1.1.4.1 Các chức năng của đất ngập nước

- Nạp và tiêu nước ngầm

Chức năng nạp nước ngầm xuất hiện khi nước di chuyển từ vùng ĐNN xuống tầng nước ngầm trong lòng đất Ở tầng này, nó có thể được hút lên để con người sử dụng hay chảy dưới lòng đất tới khi nó lại dâng lên bề mặt ở một vùng ĐNN nào khác như một sự điều tiết nước ngầm

Quá trình nạp nước ngầm rất có lợi cho việc chứa nước khi có lũ vì nước từ

bề mặt ngấm xuống được lưu giữ tạm thời dưới lòng đất chứ không nhanh chóng bị chảy trôi đi như trên bề mặt

- Khống chế lũ lụt :

Bằng cách giữ và điều hòa lượng nước mưa như “bồn chứa” tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lưu.Việc bảo tồn các kho khử nước tự nhiên sẽ tránh được chi phí rất tốn kém để xây dụng các đập chắn và hồ chứa nước

Các vùng đầm lầy được tạo nên do sông và suối, đầm lầy thẩm thấu được nước mưa và kiểm soát được dòng chảy của nước mưa ra sông, suối, hồ

- Chống sóng, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn:

Thực vật ở vùng ĐNN có thể làm ổn định có thể ổn định bờ biển bằng cách giảm năng lượng của sóng, dòng chảy … Đồng thời phần rễ chìm của cây ngập mặn trải rộng dưới nước để giữ trầm tích lại và tránh không cho nước cuốn trôi xuống biển Một số RNM được trồng theo chiến lược giữa đất liền và biển nhằm làm bờ biển ổn định và bảo vệ các cộng đồng dân cư ven biển khỏi những cơn bão

và sóng thần

Trang 19

- Xử lý nước, giữ lại chất lắng đọng và chất độc:

Chất lắng đọng và chất độc thường là chất gây ô nhiễm nước chủ yếu ở nhiều hệ sông ngòi Các vùng ĐNN thường nằm trong các lưu vực sông nên chúng

có tác động như “bể lọc” tự nhiên, và ở nơi nào có lau sậy và cỏ làm chậm dòng chảy của sông thì khả năng lắng đọng được tăng lên Việc giữ lại chất lắng đọng ở các vùng ĐNN đầu nguồn sẽ kéo dài tuổi thọ tối đa cho các hồ chứa và các kênh đào phía hạ lưu và giảm chi phí cho việc nạo vét chất lắng đọng ra khỏi các đập nước, các nhà máy thủy điện…

- Giữ chất dinh dưỡng và sản xuất sinh khối:

Chức năng này xuất hiện khi các chất dinh dưỡng quan trọng nhất là photpo, nitơ và các nguyên tố vi lượng được tích lũy trong ĐNN, cung cấp cho vi sinh vật, phát triển nguồn lợi thuỷ sản và lâm nghiệp Một vai trò quan trọng của ĐNN trong mùa sinh trưởng và tích lũy các chất dinh dưỡng, sau đó sẽ là nguồn cấp thức ăn cho các động vật và là nguồn phân bón cho các loài thực vật sống trong hệ sinh thái

đó

Nhiều vùng ĐNN là nơi sản xuất sinh khối trợ giúp cho một số lượng cá lớn, gia súc và động vật hoang giã sống nhờ nguồn nước, tầng đất giàu chất dinh dưỡng hoặc nhờ các đồng cỏ tươi tốt

- Ổn định vi khí hậu:

Do chu trình trao đổi chất của nước trong các hệ sinh thái, lớp phủ thực vật của vùng ĐNN, sự cân bằng giữa O2, CO2 trong khí quyển có thể làm ổn định được các điều kiện khí hậu địa phương, đặc biệt là lượng mưa và nhiệt độ Đó là điều kiện ảnh hưởng trực tiếp đến bất kì một hoạt động nông nghiệp hay nhiều hoạt động khác của con người, đồng thời ảnh hưởng đến tính ổn định của các hệ sinh thái tự nhiên và làm giảm hiệu ứng nhà kính

- Giao thông đường thủy:

Môi trường nước của các con sông, kênh rạch, các hồ chứa nước lớn, vùng ngập lụt… có thể dùng để vận chuyển hàng hóa và làm đường giao thông công cộng, nó có thể là giải pháp rất tiện lợi thay thế cho các hình thức giao thông đường

bộ thường đắt tiền hơn Một số nơi giao thông đường thủy là phương tiện giao thông duy

1.1.4.2 Giá trị của đất ngập nước ở Việt Nam

a Giá trị kinh tế

ĐNN góp phần quan trọng cho sự phát triển của các ngành nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, năng lượng, giao thông thủy Các dòng chảy thường xuyên tạo các vùng châu thổ rộng lớn, phì nhiêu (là vùng sản xuất nông nghiệp trù phú),

có khu hệ cá phong phú với sản lượng cao, là nguồn lợi cung cấp cho nhiều cộng đồng dân cư sống xung quanh

Giai đoạn sau năm 1989, các vùng ĐNN góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu 1 triệu tấn gạo/năm

Trang 20

(1976-1988) đã trở thành nước không chỉ cung cấp đủ gạo ăn mà còn xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thứ 2 thế giới Kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản liên tục tăng, thúc đẩy sự phát triển của một số ngành như công nghiệp chế biến thủy hải sản Nổi bật trong giai đoạn này là sự phát triển mạnh của ngành du lịch dựa trên các giá trị của ĐNN [3] Vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà, Côn Đảo, các bãi biển nổi tiếng, các khu du lịch sinh thái như Vườn quốc gia Xuân Thủy, Vườn quốc gia hồ Ba Bể…là điểm thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước

Các nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Ninh, Mai Trọng Nhuận (2003) đã lượng giá kinh tế một số vùng ĐNN điển hình ven biển Việt Nam và đưa ra kết quả: vùng bãi triều Tây Nam Cà Mau đạt giá trị cao nhất, tiếp đó là vùng cửa sông Tiền, cửa sông Ba Lạt và đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, thấp nhất là cửa sông Bạch Đằng

b Giá trị văn hóa

ĐNN có những giá trị văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng và khảo cổ quan trọng đối với cộng đồng địa phương cũng như quốc gia ĐNN Việt Nam là cội nguồn của nền văn minh lúa nước ĐNN và các tài nguyên của nó là nguồn cảm hứng của nhiều sáng tạo nghệ thuật ở Việt Nam Những biểu tượng nổi tiếng mang ý nghĩa quốc gia có liên quan đến ĐNN như: Hoa Sen được chạm khắc trong các đền chùa, trong các điệu múa, bài ca dao, và được bình chọn là Quốc hoa Việt Nam; Chim Hạc (Sếu) và Rồng là hai trong bốn loài sinh vật quý có ý nghĩa, có đời sống liên quan đến ĐNN, còn là vật thờ thiêng liêng

ĐNN là nơi lưu giữ những chứng tích của các cuộc kháng chiến bảo vệ dân tộc (cửa sông Bạch Đằng,…), là nơi gắn liền với các di tích lịch sử (đền Bà ở cửa Lân thuộc cửa sông Hồng, chiến khu cách mạng U Minh Thượng, bãi Nhà Mạc,…) Thêm vào đó, các khu ĐNN còn đóng góp giá trị lớn về giáo dục môi trường, lịch sử văn hóa, nghiên cứu khoa học

c Đa dạng sinh học

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, được coi là một trong những trung tâm

có mức đa dạng sinh học cao trên thế giới Đa dạng sinh học có ý nghĩa rất lớn, là

cơ sở sinh tồn cho mọi sinh vật; cung cấp cho con người nguồn lương thực và thực phẩm, các nguồn dược liệu quan trọng, nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng;

Các vùng ĐNN nội địa lớn như Đồng Tháp Mười, U Minh và hệ thống sông suối là nơi chứa nhiều loài động thực vật đặc hữu Các hệ sinh thái ĐNN ven biển (rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển, đầm phá, cửa sông) là nơi cư trú của nhiều loài cá, chim di cư, cỏ biển, rong tảo,… ĐNN vùng cửa sông là nơi có sự đa dạng

về các loài chim định cư, di cư, nơi phân bố của rừng ngập mặn, đầm lầy nước mặn, cỏ biển và tảo Các đầm phá miền Trung là nơi cư trú của nhiều loài cá và chim di cư, có nét độc đáo về sinh cảnh tự nhiên, chứa đựng giá trị đa dạng sinh học lớn [3]

Trang 21

Giá trị sử dụng ĐNN được tập hợp trên cơ sở sử dụng trực tiếp hay gián tiếp Giá trị sử dụng trực tiếp là những giá trị gắn liền với cuộc sống hàng ngày của con người mà ĐNN mang lại như đánh bắt cá, thu lượm củi đun, nghỉ ngơi, giải trí

… [14, 15]

Việc sử dụng trực tiếp có thể mang tính thương mại hoặc phi thương mại Giá trị phi sử dụng bao hàm những giá trị liên quan tới sử dụng hàng hóa môi trường hiện nay và trong tương lai (tiềm năng) trên cơ sở sự tồn tại của chúng và nhiều khi không liên quan đến việc thực tế của chúng [14] Giá trị phi sử dụng được chia thành giá trị thừa kế (để lại) và giá trị tồn tại Giá trị phi sử dụng khi gộp lại có thể rất lớn

Vì vậy, việc bỏ qua giá trị này trong hoạch định chính sách quốc gia, thẩm định các dự án liên quan đến ĐNN có thể dẫn đến các sai lầm nghiêm trọng trong phân bố và sử dụng tài nguyên

1.1.5 Các đặc điểm tự nhiên chủ yếu hình thành đất ngập nước ở Việt Nam

Đặc điểm địa mạo: 3/4 diện tích tự nhiên Việt Nam là đồi núi, có hướng

nghiêng chung từ Tây sang Đông Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là những vùng trũng, tạo nên hai vùng ĐNN tiêu biểu cho địa mạo vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long

Đặc điểm khí hậu: thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình

hàng năm khá cao (hơn 20oC/năm), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%/năm), lượng mưa dồi dào (1500mm/năm) Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt - ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình ĐNN

Đặc điểm thủy văn: hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển

khá dày Tổng số các con sông lớn nhỏ ở Việt Nam lên tới 2500, trong đó những con sông dài trên 10 km là 2360 sông (Phan Nguyên Hồng, 1996) Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành hệ thống cửa sông là một trong những loại hình ĐNN quan trọng của Việt Nam Hiện nay, cả nước có trên 3500 hồ chứa nước nhỏ và 650

hồ chứa nước vừa và lớn, các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà có diện tích mặt nước 23400 ha, hồ Hòa Bình 218 km2, hồ Dầu Tiếng 35000 ha, hồ Trị An 27000 ha (Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, 2003)

Thổ nhưỡng: có 15 nhóm đất, trong đó có 7 nhóm đất liên quan đến các đặc

trưng của các vùng ĐNN, đó là đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất glây, đất than bùn, đất xám và đất cát Do các đặc điểm khác nhau về địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng đã hình thành các đặc trưng về thực vật của các vùng ĐNN với hai dạng điển hình là thực vật vùng ĐNN mặn và thực vật vùng ĐNN ngọt

Ngoài các đặc điểm tự nhiên trên, các yếu tố nhân sinh như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, sản xuất muối, công nghiệp và đô thị hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một số loại ĐNN nhân tạo

Trang 22

1.1.6 Phân bố đất ngập nước ở Việt Nam

Việt Nam là một nước giàu các hệ sinh thái đất ngập nước, với diện tích ĐNN hơn 10 triệu ha, chiếm 1/3 diện tích đất đai cả nước Chủ yếu phân bố ở vùng châu thổ sông Hồng (1,29 tr ha), sông Cửu Long (3,9 tr ha), các HST đầm phá, các bãi bùn, các cửa sông và RNM phân bố dọc theo bờ biển kéo dài từ Móng Cái ( Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) [5]

Các vùng ĐNN nước ngọt ở Việt Nam phân bố rộng khắp các vùng trong cả

nước, có mặt ở cả ba miền và các vùng sinh thái Bao gồm:

- Sông suối: Nước ta có khoảng 2500 sông suối lớn nhỏ, dọc bờ biển trung bình khoảng 20km có một sông chảy ra (chưa kể các sông chảy về Campuchia) Các hệ thống sông lớn: hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, hệ thống sông miền Trung, hệ thống sông Đồng Nai, hệ thống sông Cửu Long

- Các hồ chứa:

+ Các hồ tự nhiên: Hồ Ba Bể, Hồ Tây, Hồ Lắk và một số hồ khác như Hồ Chữ (Phú Thọ), Biển Hồ (Gia Lai), Hồ Biển Lạc (Bình Thuận)

+ Hồ nhân tạo: cả nước hiện có 360 hồ, trong đó 14 hồ có diện tích từ 1000 - 10000ha Hồ Dầu Tiếng, Hồ Hòa Bình, Hồ Trị An, Hồ Đa Nhim, Hồ Thác Bà, Hồ Thác Mơ, Hồ Kẻ Gỗ,…

- ĐNN vùng đồng bằng châu thổ: Châu thổ sông Hồng (1,29 triệu ha); châu thổ sông Cửu Long (3,9 triệu ha), trong đó các vùng Đồng Tháp Mười, Rừng Tràm

U Minh (U Minh Hạ, U Minh Thượng) Vùng Tứ Giác Long Xuyên, nhiều vùng đồng cỏ và đầm lầy ngập nước (không kể rừng tràm)

ĐNN ven biển phân bố rộng khắp vùng bờ biển Việt Nam Chiều dài bờ biển

3650km, diện tích các huyện ven biển 56 000km2

(thuộc 125 huyện và 29 tỉnh) Diện tích ĐNN ven bờ 1 000 000 ha

Rừng ngập mặn và bãi sình lầy tập trung chủ yếu ở các vùng châu thổ, vùng cửa sông và vùng triều Các đầm phá cũng tập trung ở vùng bờ biển miền Trung (từ Huế đến Ninh Thuận) Các rạn san hô và hệ rong tảo - cỏ biển phân bố nhiều ở

vùng bờ biển Nam Trung Bộ

Như vậy, có thể thấy rằng, ở Việt Nam, có 5 vùng ĐNN quan trọng, đó là: ĐNN vùng cửa sông Đồng bằng sông Hồng; ĐNN các đầm phá ở miền Trung; ĐNN châu thổ sông Cửu Long; ĐNN các hồ và một số kiểu ĐNN khác (rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển)

1.2 Quản lý và sử dụng đất ngập nước

1.2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam

Sau khi tham gia Công ước Ramsar về bảo tồn ĐNN, nước ta đã ban hành nhiều luật liên quan đến việc quản lý, bảo tồn và phát triển đất ngập nước Có thể tóm tắt một số văn bản liên quan đến các khía cạnh quản lý ĐNN như sau:

Trang 23

- Quản lý, bảo vệ đất ngập nước:

+ Quyết định 845/TT ngày 22 tháng 12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt “Kế hoạch hành động bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam” có

đề cập đến vấn đề xây dựng và quản lý bảo vệ các khu vực ĐNN quan trọng trước tình trạng suy thoái nghiêm trọng của vùng đất này, trong đó có đất ao hồ, đầm nội địa với mục tiêu là bảo vệ đa dạng sinh học, ngăn chặn các nguồn ô nhiễm nước, chống tiêu thoát nước quá mức

+ Nghị định 109/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn các vùng ĐNN trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng các vùng ĐNN có các hệ sinh thái đặc thù và có tầm quan trọng tầm cỡ quốc tế và quốc gia, có giá trị đa dạng sinh học cao Việc ban hành Nghị định trên có một ý nghĩa hết sức to lớn Nó là cơ sở pháp lý và khoa học quan trọng để Nhà nước thống nhất quản lý và xây dựng quy hoạch, kế hoạch cho các cấp, các ngành và hợp tác quốc tế nhằm bảo tồn và khai thác bền vững vùng đất này Mặc dù, đất ngập nước ao hồ thuộc tỉnh mà không phải

là các khu bảo tồn ĐNN nhưng cũng được đề cập trong khoản 1 điều 16 của Nghị định trên Việc điều tra, nghiên cứu và bảo vệ các vùng ĐNN ao hồ thuộc về trách nhiệm của UBND các cấp, nhất là cấp tỉnh

Theo Thông tư 18/2004/TT-BTNMT, ngày 23 tháng 8 năm 2004 về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước, ĐNN là vùng ngập nước thường xuyên hoặc tạm thời, nước chảy hoặc nước tù, nước ngọt, nước mặn, nước lợ Đất ngập nước được phân thành ĐNN ven biển và ĐNN nội địa Đất ngập nước nội địa gồm: ao hồ, đầm, sông suối, vùng sản xuất lúa nước …

Theo Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ

về bảo tồn và PTBV các vùng ĐNN thì việc bảo tồn vùng ĐNN là hoạt động khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái đặc thù, có tầm quan trọng quốc

tế, quốc gia, có giá trị đa dạng sinh học cao nhằm cân bằng sinh thái, bảo vệ các giống, loài đang sinh sống, cư trú và phát triển trên các vùng đất ngập nước

PTBV các vùng ĐNN là các hoạt động sử dụng, khai thác hợp lý các tiềm năng về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong giới hạn cho phép nhằm duy trì chức năng sinh thái và BVMT các vùng đất ngập nước

Theo Nghị định 109/2003/ NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ

về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước, nội dung quản lý Nhà nước về bảo tồn

và PTBV các vùng ĐNN gồm:

+ Điều tra, nghiên cứu về các vùng đất ngập nước;

+ Xây dựng cơ chế, chính sách, luật pháp về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước;

+ Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng các vùng ĐNN cho các mục đích bảo tồn

và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội;

+ Quản lý các vùng ĐNN đã được khoanh vùng bảo vệ;

Trang 24

+ Quản lý các hoạt động khai thác nguồn lợi và tiềm năng các vùng ĐNN thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, du lịch, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện và các lĩnh vực khác có liên quan đến bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước;

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với việc bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước;

+ Khuyến khích và tạo điều kiện để cộng đồng, đặc biệt là những người dân sinh sống trên các vùng ĐNN tham gia vào việc bảo vẹ các hệ sinh thái, đa dạng sinh học và BVMT các vùng đất ngập nước;

+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước

Cũng theo Nghị định này thì Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo tồn và PTBV các vùng đất ngập nước Theo Thông tư 18/2004/TT-BTNMT, ngày 23 tháng 8 năm 2004 về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn các vùng đất ngập nước, đất ao hồ, đầm thuộc loại ĐNN nội địa, theo những tiêu chí đưa ra thì đất ao hồ được xác định là đối tượng được bảo tồn theo Nghị định 109/NĐ-CP của Chính phủ

Ngoài ra còn có các luật và văn bản dưới luật về đất đai, môi trường nước liên quan đến quản lý, sử dụng ĐNN như: Luật đất đai 2003; Nghị định 181/CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003;

Tuy nhiên, các văn bản luật trên cũng chỉ quy định một cách sơ lược về quy định thẩm quyền ra quyết định quản lý đối với các ao hồ thuộc ranh giới hành chính của các địa phương (xã, huyện, tỉnh) chứ chưa quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa các địa phương, các ngành như thế nào

- Xử phạt hành chính: Trước tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá tăng nhanh, nhiều cơ sở sản xuất ra đời nhưng công nghệ thì lạc hậu, không phải là công nghệ sạch có thể giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP, ngày 20 tháng 4 năm

2003 về kế hoạch xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nước; Nghị định 67/CP, ngày 13 tháng 6 năm 2003 về phí BVMT đối với nước thải Chủ trương của Chính phủ là cương quyết đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm, và Nhà nước phải thu phí BVMT đối với nước thải Đây là chủ trương rất đúng đắn, gần phát triển kinh tế, xã hội với BVMT

1.2.2 Quan điểm và giải pháp quản lý và sử dụng đất ngập nước

Sử dụng tiết kiệm, hợp lý và bền vững

Muốn quản lý tốt nguồn lợi ĐNN thì phải quản lý số lượng nước, phải tiết kiệm trong sử dụng thông qua đầu tư công nghệ để tái sử dụng nước, sau đó đảm bảo nguồn nước phải sạch, không được đưa vào thuỷ vực các nguồn gây bẩn, nếu bẩn thì phải có biện pháp làm sạch trước khi sử dụng Khai thác nguồn lợi sinh vật

Trang 25

dưới nước phải hợp lý, tức là lấy đi phần tăng trưởng của nguồn lợi ở mức chi phí tối thiểu, nếu khai thác bất hợp lý sẽ gây ra sự nghèo kiệt nguồn gen, giảm tính đa dạng sinh học (Vũ Trung Tạng, 1995) [8]

Quản lý thống nhất và tổng hợp đất ngập nước

Quản lý thống nhất và tổng hợp theo ngành và tiểu ngành để nhằm vào công tác quy hoạch và quản lý ĐNN có tính đến sự cạnh tranh và mâu thuẫn trong việc sử dụng nước của các ngành, như xây dựng các hồ chứa nước đa mục tiêu, vấn đề phân phối nước, hệ thống cấp giấy phép và sử dụng hồ đa mục đích Ngoài ra, còn có các chỉ tiêu như thống nhất và tổng hợp về môi trường – kinh tế và xã hội; thống nhất

và tổng hợp về mặt hành chính; thống nhất và tổng hợp về mặt địa lý (Lâm Minh Triết, 2001) [8]

Đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các ngành kinh tế và các mục đích sử dụng

Các hoạt động kinh tế đơn phương quản lý, khai thác nguồn lợi đầm phá ven biển thường phát sinh tranh chấp với nhau mà nguyên nhân bắt nguồn từ phương thức quản lý Do sử dụng ĐNN không mang tính chất tổng hợp và thống nhất nên tạo ra những bất đồng về lợi ích giữa các ngành với nhau Những giải pháp đưa ra là nhằm hài hoà giữa lợi ích kinh tế đa phương với BVMT và PTBV tài nguyên đất ngập nước, trên cơ sở đó xác định các mục tiêu ưu tiên và ban hành những quy định cần thiết

Hiện nay, ở Việt Nam, vai trò và giá trị ĐNN chưa được nhận thức đầy đủ, tự

do hưởng lợi, dẫn đến quản lý lỏng lẻo, sử dụng bừa bãi gây suy thoái đất ngập nước Chưa lượng hoá giá trị tài nguyên ĐNN hồ đầm, thiếu các công cụ quản lý, quyết định quản lý sử dụng ĐNN còn thiếu cơ sở khoa học Các cấp, các ngành chưa quan tâm đến bảo tồn và phát triển đất ngập nước, cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chồng chéo Nghiên cứu gần đây chưa làm rõ vai trò tham gia của cộng đồng trong quản lý sử dụng đất ngập nước …

Tóm lại, ĐNN vô cùng quý giá, để sử dụng hợp lý và bền vững đòi hỏi phải có một tư duy “chiến lược”, một hành động mang tầm “quốc gia” và mang lại một “lợi ích thiết thực” cho “cộng đồng và người dân”

1.2.3 Các mục đích của việc quản lý đất ngập nước

Khái niệm quản lý ĐNN có các nghĩa khác nhau vào thời gian khác nhau và đối với những nguyên tắc khác nhau Cho đến giữa thế kỉ XX, quản lý ĐNN thường

có nghĩa là tiêu nước ĐNN để sử dụng vào mục đích nông nghiệp và các mục đích khác Hiện nay, quản lý ĐNN bao gồm nhiều phương án phụ thuộc vào các mục đích của các nhà quản lý ĐNN

ĐNN bị biến đổi hoặc tàn phá thông qua việc tiêu thoát nước, lấp đất, quai

đê, chuyển đổi thành đất nông nghiệp, làm ô nhiễm nước và khai thác khoáng sản

Do đó, ĐNN hiện đang được quan tâm bảo vệ thông qua việc nghiên cứu, đề xuất

và thực hiện các chính sách, văn bản pháp lý khác nhau tại mỗi quốc gia Các vùng đồng bằng có ĐNN dần được quản lý và phân vùng nhằm giảm thiểu sự xâm lấn

Trang 26

của con người và đa dạng hóa mức nước được giữ lại ĐNN ven biển có các chương trình bảo vệ vùng để chống gió bão và bảo vệ nơi ẩn náu cho các sinh vật vùng cửa sông ven biển

Một quyết định quản lý hữu hiệu là tạo một hàng rào đơn giản để bảo vệ Thông thường, để tối ưu hóa một mục tiêu là không phù hợp Vì vậy, hiện nay, hầu hết những mục tiêu quản lý được ấn định rộng để đạt nhiều mục đích Việc quản lý

đa mục đích tập trung hỗ trợ mức hệ thống hơn là đối với từng loại riêng biệt (theo Weller, năm 1978)

1.2.4 Các yếu tố tác động đến quản lý và sử dụng đất ngập nước

* Các yếu tố tự nhiên

- Quá trình mặn hóa: Sự xâm nhập mặn của nước biển sẽ ảnh hưởng các hệ

sinh thái, làm mất cân bằng môi trường sống của nhiều loại thủy sinh nước ngọt Ðiều đó có thể dẫn đến diện tích rừng ngập mặn giảm, nguồn thức ăn thực vật và dinh dưỡng của các loài sinh vật sống ở sông, biển cũng giảm Bên cạnh đó, diện tích đất nông nghiệp bị nhiễm mặn cũng sẽ không thể canh tác được

Việc khoanh đầm nuôi dọc bờ biển, cửa sông và ven sông với diện tích lớn

đã làm giảm đáng kể diện tích phân phối nước triều, đặc biệt khi triều cường, điều này kéo theo sự xâm nhập mặn vào sâu trong lục địa (trùng với mùa khô)

- Biến đổi khí hậu:

Biến đổi khí hậu và ĐNN có sự tương tác mật thiết với nhau Dưới tác động của biến đổi khí hậu, các hệ sinh thái ĐNN chịu những rủi ro nặng nề nhất, so với các hệ sinh thái trên cạn và biển; nhưng nếu được quản lý tốt, các hệ sinh thái ĐNN

và đa dạng sinh học của nó sẽ có vai trò lớn trong giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu tác động tới các hệ sinh thái ĐNN theo nhiều cách khác nhau Nhiệt độ tăng sẽ tác động tới các loài động, thực vật nhạy cảm với nhiệt độ; lượng mưa giảm sẽ thu hẹp diện tích ĐNN, làm tăng phát thải khí nhà kính vào khí quyển do sự phân hủy của các chất hữu cơ, nhất là than bùn Biến đổi khí hậu (nước biển dâng) dẫn tới sự thu hẹp diện phân bố địa lý của ĐNN Hơn thế nữa, các hệ sinh thái ĐNN phụ thuộc một cách chặt chẽ vào mức nước của thủy vực và vì thế sự thay đổi các điều kiện khí hậu sẽ ảnh hưởng tới lượng nước trong các hệ sinh thái, qua đó ảnh hưởng tới các chức năng đặc trưng của ĐNN bao gồm cả thành phần và cấu trúc của các quần xã sinh vật Do đó, biến đổi khí hậu là một yếu tố quan trọng trong quản lý ĐNN Bảo tồn và sử dụng một cách khôn khéo ĐNN chắc chắn là sẽ không thể đạt được nếu không tính tới yếu tố biến đổi khí hậu

* Các yếu tố kinh tế - xã hội

- Tăng trưởng dân số và quá trình đô thị hóa: Khi dân số và mức sống tăng,

nhu cầu lương thực sẽ ngày càng tăng lên, đòi hỏi các sản phẩm cây trồng tăng lên, kéo theo đó là nhu cầu về nước và đất ở tăng

Trang 27

- Nhu cầu nước cho các ngành không giống nhau: Trên thế giới, nhu cầu về

nước cho các mục đích sử dụng chiếm tỷ lệ khác nhau như: cho sản xuất nông nghiệp chiếm 80%, sinh hoạt chiếm 15% và nước dùng cho công nghiệp chiếm 5% [7] Do sự bành trướng và ưu tiên nước cho các ngành sản xuất phi nông nghiệp đã làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng cho mục đích nông nghiệp

- Sự ô nhiễm nước: Ô nhiễm nguồn nước ngọt là một trong những nguyên

nhân gây xung đột trong khai thác nguồn nước trên thế giới Do đẩy nhanh thâm canh trong nông nghiệp, việc sử dụng phân bón hóa học ngày càng tăng lên, đó là nguyên nhân làm cho đất và nguồn nước bị ô nhiễm bởi nitrat và phốtphat Chúng gây nên sự mất cân bằng chức năng của các hệ sinh thái thủy vực dẫn tới sự nghèo nàn đáng kể của các hệ động thực vật dưới nước

1.2.5 Kinh nghiệm quản lý ĐNN ở một số nước trên thế giới

- Xây dựng các chiến lược quản lý ĐNN tại Úc [18]

+ Quản lý ĐNN dựa vào toàn dân, thu hút sự tham gia người dân;

+ Thi hành các chính sách nhân dân, và xây dựng thể chế pháp luật và phổ biến chương trình toàn dân;

+ Xây dựng các nhóm cộng tác với các bang và chính quyền địa phương + Đảm bảo cơ sở khoa học chắc chắn cho chính sách và quản lý;

+ Chương trình hành động quốc tế, tham gia công ước quốc tế về bảo tồn ĐNN

- Chiến lược quản lý ĐNN của World Bank: không chỉ tập trung đến các lĩnh vực sử dụng ĐNN mà quản lý ĐNN, và phối hợp giữa sử dụng ĐNN với quản lý các dịch vụ, có nghĩa là phải quản lý tổng hợp ĐNN [18]

+ Thiết lập cơ cấu tổ chức: Xác định các quy pháp pháp luật, các quyền và nghĩa vụ, cấp phép sử dụng nước; trách nhiệm của các chủ quản khác nhau và tiêu chuẩn chất lượng nước, cung cấp dịch vụ (đặc biệt đối với người nghèo), đối với môi trường, cho quản lý và sử dụng nước, đối với xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng của nguồn nước; quản lý lưu vực cấp địa phương tới quốc tế

+ Các công cụ quản lý: gồm tổ chức điều tiết; công cụ tài chính; tiêu chuẩn

và kế hoạch, cơ chế tham gia; kiến thức và hệ thống thông tin làm thúc đẩy nhanh

sự minh bạch mà làm ảnh hưởng tới sự phân phối nước; sử dụng và bảo tồn, duy trì, đảm bảo và bền vững hệ thống nguồn nước Nhất là vấn đề cải tổ và quản lý ngành kinh tế nước

+ Phát triển và quản lý cơ sở hạ tầng để điều chỉnh lưu lượng hàng năm cho hạn hán, lũ lụt, hồ chứa đa mục đích cho chất lượng và bảo vệ nguồn nước

- Chi Lê

Theo cách tiếp cận của Chi Lê thì mục tiêu là xem xét nước như một hàng hóa kinh tế, không chỉ cho sản xuất nông nghiệp mà mang tính đa ngành [17]:

Trang 28

+ Thừa nhận nước không chỉ là một nhân tố, sản phẩm cho sản xuất nông nghiệp, mà còn cho các ngành khác, hay ĐNN phải được sử dụng tổng hợp, phải được chuyển đổi, chuyển nhượng giống như các yếu tố đầu vào kinh tế khác

+ Phải liên kết chặt chẽ giữa tài nguyên có tính lưu động, dễ biến đổi như nước với tài nguyên bất động như tài nguyên đất đai

+ Hậu quả quan trọng của sự chia cắt đất đai (địa giới hành chính) đến quyền

sử dụng nước Nhà nước quy định quyền sử hữu nước như bất cứ quyền sở hữu khác, cho phép hợp đồng cho thuê và bán giữa những người mua bán tự nguyện

- Tunisia: Tiếp cận quản lý lưu vực

+ nhà nước có vai trò quan trọng trong đầu tư bảo tồn và phát triển nguồn nước, xây dựng các hồ chứa, phải phối hợp giữa các phương thức canh tác truyền thống của người nông dân với kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan đến nước, như các kỹ thuật canh tác bảo tồn đất và nước, các loại cây trồng chịu hạn, các kỹ thuật tưới [15]

Mấu chốt cho sự thành công của nước này là cần có sự trợ giúp và sự phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học với cán bộ khuyến nông dựa trên cách tiếp cận quản lý lưu vực Đề xuất những cơ sở khoa học cho Nhà nước đầu tư, nâng cao năng lực của cộng đồng và khuyến khích sự tham gia của họ và công tác quản lý và phát triển ĐNN trong mối liên quan hệ thống của lưu vực

- Bài học về sự tùy ý san lấp Hồ Tỳ Bà ở Trung Quốc:

nhân dân huyện Thông Hải sống quanh hồ, trên 50% đồng ruộng cũng ở ven hồ, 80% nguồn thu nhập kinh tế của huyện dựa vào hồ này Năm 1956, để tăng thêm lương thực, nhân dân bắt đầu khai hoang các đồi núi ven hồ để canh tác, vây hồ làm ruộng, mở rộng diện tích trồng trọt Năm 1958, hồ bị vây lấn 1133 ha, sau đó lại lấn tiếp 333ha Đồng thời họ còn chặt phá rừng khiến cho tỷ lệ che phủ của rừng giảm thấp rõ rệt Thời kỳ đầu lương thực quả thực có tăng lên, nhưng diện tích hồ ngày càng thu nhỏ Đến những năm 80 diện tích hồ từ 4667 ha thu hẹp còn 1333 ha, lượng nước từ 1,7 tỷ m3

xuống còn 170 000 m3 Vì rừng bị chặt phá nên một lượng đất lớn bị trôi chảy, hàng năm đất đổ vào lòng hồ khoảng 54 000 tấn Môi trường sinh thái của vùng này sau khi bị phá hoại nghiêm trọng theo đó khí hậu cũng bị biến đổi theo, hạn hán liên tiếp xẩy ra Năm 1983 hạn rất nặng, hồ cạn kiệt 7794 ha đồng ruộng bị hạn, 4667 ha khô nứt nẻ, lúa và hoa màu chết gần hết, sản lượng lương thực giảm 2650 tấn [5]

Tùy ý khai hoang và lấn hồ làm ruộng đã đưa lại cho huyện Thông Hải một bài học sâu sắc Bắt đầu từ năm 1983 họ đã dùng biện pháp giảm bớt canh tác trả lại diện tích cho lòng hồ và trồng cây gây rừng, nên đất dần dần cải thiện được môi trường sinh thái Ngày nay hồ này đã được phục hồi như trước Nhân dân vùng đó còn nhờ vậy mà mở nhiều loại kinh doanh nên thu nhập tăng lên [5]

Trang 29

Sự biến đổi tang thương của Hồ Tỳ Bà cho thấy, nếu khai hoạch lấn hồ để canh tác mà không nghiên cứu cẩn thận môi trường sinh thái của vùng đó sẽ phá hoại cân bằng sinh thái dẫn đến hàng loạt phản ứng dây chuyền khiến cho môi trường sinh thái xấu đi, thiên tai sẽ xẩy ra gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp Bài học nhắc nhở với chúng ta rằng: tùy ý khai hoang hoặc lấn hồ làm ruộng là

“được không bằng mất” [5]

Bài học nhãn tiền về lũ lụt toàn lưu vực sông Trường Giang năm 1998 của Trung Quốc đã phải rút ra bài học cho nhiều quốc gia đó là phương châm xây dựng gồm 32 chữ “khoanh rừng trồng cây, trả đất cho rừng, trả ruộng cho hồ, giảm thấp đỉnh lũ, xây dựng hợp lý, giãn dân đồng đều, gia cố đê điều, nạo vét lòng sông” [5]

1.2.6 Quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam

1.2.6.1 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất ngập nước

a Quản lý đất ngập nước ở các cấp

Cho đến trước năm 2003, Việt Nam vẫn chưa có một cơ quan nào chịu trách nhiệm duy nhất về quản lý ĐNN ở cấp trung ương Mỗi bộ, ngành tùy theo chức năng được Chính phủ phân công thực hiện việc quản lý theo lĩnh vực từng ngành

bao gồm các đối tượng ĐNN

Đến năm 2003, Nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003, đã phân công nhiệm vụ cho các Bộ, ngành và địa phương trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN

Tình hình quản lý ĐNN ở cấp tỉnh cũng tương tự như ở cấp Trung ương, nghĩa là mỗi sở, ngành sẽ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực của mình trong đó có vấn đề liên quan ĐNN theo quy định của pháp luật và sự phân công của

Ủy ban Nhân dân tỉnh

b Việc sử dụng đất ngập nước

Theo thống kê sơ bộ, có khoảng trên 50% tổng diện tích ĐNN được sử dụng cho gieo trồng (chủ yếu là lúa) với sự quay vòng sử dụng rất cao (2-3 vụ); 25% tổng diện tích ĐNN được sử dụng cho mục đích nuôi trồng thủy sản; 10% sông suối, 10% là hồ chứa nước nhân tạo (thủy lợi, thủy điện) và trong xu thế ngày càng gia tăng

Tính đến năm 2013, diện tích đất trồng lúa nước trên toàn quốc chỉ còn khoảng 3,8 triệu ha Giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2002 đã vượt mức 2 tỷ USD Nguồn thu từ du lịch trên các vùng ĐNN như Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Phú Quốc, Côn Đảo, Phong Nha - Kẻ Bàng, Mũi Cà Mau, Đồng bằng sông Cửu Long,… ngày càng tăng

Hầu hết, diện tích của loại ĐNN trồng lúa và nuôi trồng thủy sản do các hộ gia đình sử dụng theo kinh nghiệm sản xuất và tập quán canh tác của từng địa phương Phần diện tích ĐNN còn lại do nhà nước quản lý và thường được sử dụng thông qua một dự án đầu tư hay kế hoạch quản lý được nhà nước phê duyệt và cấp kinh phí Việc sử dụng ĐNN bắt đầu bằng việc quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia,

Trang 30

cấp vùng, cấp tỉnh và các cấp thấp hơn, dựa trên các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và các mục tiêu phát triển mà Chính phủ đề ra cho từng vùng và từng tỉnh Tuy nhiên, việc sử dụng đất theo quy mô hộ gia đình còn nhiều tồn tại mà quan trọng nhất là vốn đầu tư và sự hiểu biết về sử dụng ĐNN Nhiều hộ nông dân ở vùng ven biển ít vốn đầu tư và thiếu kiến thức về nuôi trồng thủy sản, nên đã gặp thất bại trong các vụ nuôi tôm và để lại hậu quả về môi trường

Số lượng các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ĐNN (những khu ĐNN có tầm quan trọng quốc gia được Thủ tướng Chính phủ xác lập) cũng tăng lên Diện tích ĐNN phục vụ nuôi trồng thủy sản tăng, trong khi diện tích rừng ngập mặn ven biển giảm đi Điều này gây bất lợi về môi trường và sinh thái, nhưng lại góp phần nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Đồng thời, loại ĐNN canh tác lúa nước cũng tăng lên phục vụ cho mục tiêu phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực quốc gia

Trong nhiều năm trở lại đây, việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ĐNN đang diễn ra một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch Khai hoang để trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, mở rộng các khu dân cư, đô thị hóa, khu công nghiệp, phát triển giao thông, chặt phá rừng ngập mặn,… làm cho diện tích ĐNN tự nhiên bị thu hẹp, tài nguyên suy giảm, tăng cường các tai biến xói lở, bồi tụ, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng (ô nhiễm dầu, các kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, ô nhiễm các

vi sinh vật gây bệnh), tổn thất về đa dạng sinh học Nếu không có các giải pháp hữu hiệu, xu hướng này sẽ còn tiếp tục xảy ra trong thời gian tới

Có thể nói, sự bất cập trong quản lý và sử dụng ĐNN xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về giá trị, chức năng và phương pháp sử dụng ĐNN hợp lý; công tác điều tra, nghiên cứu về các chính sách liên quan đến ĐNN còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, đôi khi còn hạn chế lẫn nhau

1.2.6.2 Các phương thức, phương pháp quản lý đất ngập nước

Do việc quản lý ĐNN ở Việt Nam còn mang tính chuyên ngành nên chưa có một hệ thống công cụ kỹ thuật tổng hợp trong quản lý ĐNN Một số giải pháp kỹ thuật đã được đề xuất liên quan đến các khía cạnh của ĐNN thuộc các ngành: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy lợi

Bên cạnh đó, một số cơ quan khoa học, đào tạo và quản lý ở một số vùng ĐNN đã áp dụng các phương pháp tiếp cận và công cụ kỹ thuật mới trong việc quản

lí tài nguyên ĐNN [3]

Các phương pháp tiếp cận quản lí tài nguyên ĐNN đã và đang được áp dụng

ở các mức độ khác nhau bao gồm:

- Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng

- Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên

- Dự án bảo tồn và phát triển tổng hợp

- Cách tiếp cận quản lý liên ngành

- Quản lý dựa trên cơ sở tiếp cận hệ sinh thái

Trang 31

Ngoài ra, các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn, lượng giá kinh tế, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám, công nghệ thông tin, mô hình hóa bản đồ cũng bắt đầu được sử dụng trong quản lý, bảo tồn ĐNN

1.3 Hiện chỉnh bản đồ

1.3.1 Mục đích hiện chỉnh bản đồ

Mặt đất luôn bị biến đổi, đặc biệt ở những nơi diễn ra sự tác động của con người tới thiên nhiên mạnh Trong khi đó những gì biểu thị trên bản đồ tại một thời điểm đã qua nào đó vẫn giữ nguyên, không thay đổi và trở thành lạc hậu so với sự tiến triển của thực tế Do vậy, bản đồ cần phải được định kỳ hiện chỉnh, tuỳ thuộc vào mức độ và ý nghĩa của những biến đổi diễn ra ở ngoài thực địa kể từ sau khi bản đồ được thành lập hoặc hiện chỉnh lần cuối, cũng như tầm quan trọng của vùng

- Ranh giới có thay đổi

- Mới xuất hiện hoặc có những thay đổi lớn về các đối tượng trên bản đồ

1.3.2 Xác định độ biến đổi về nội dung bản đồ

Để xác định mức độ thay đổi của nội dung bản đồ so với thực địa có một số phương pháp Hiện nay, ở Việt Nam sử dụng phương pháp đo đếm thống kê độ biến đổi theo từng nhóm đối tượng thể hiện trên bản đồ, thông qua việc so sánh và đối chiếu giữa bản đồ cần hiện chỉnh với ảnh vệ tinh hoặc với các tài liệu khác (theo

Thông tư số 05/2012/TT-BTNMT) [1] Các nhóm đối tượng thuộc yếu tố nội dung

bản đồ bao gồm: đối tượng dạng vùng (các loại hình sử dụng đất); đối tượng tuyến (hệ thống giao thông, thủy văn ); đối tượng dạng điểm và các ghi chú địa danh

Độ biến đổi của các đối tượng được xác định bởi số lượng diện tích, chiều dài, đối tượng điểm đã biến đổi và mới xuất hiện (n), so với tổng toàn bộ (không biến đổi, đã biến đổi và mới xuất hiện) diện tích, chiều dài và số lượng đối tượng đó (N) trên bản đồ Độ biến đổi của từng nhóm đối tượng được tính theo công thức:

1.3.3 Các phương pháp hiện chỉnh bản đồ

Bản đồ có thể hiện chỉnh theo các phương pháp sau [13]:

Trang 32

- Hiện chỉnh theo ảnh hàng không

- Hiện chỉnh theo tài liệu bản đồ (theo các bản đồ có tỷ lệ lớn hơn mới thành lập hoặc mới hiện chỉnh)

- Hiện chỉnh trực tiếp ngoài thực địa

- Hiện chỉnh theo ảnh vệ tinh có độ phân giải cao

Mỗi phương pháp hiện chỉnh có ý nghĩa độc lập Song để đạt hiệu quả cao,

có thể áp dụng kết hợp các phương pháp trên

a Hiện chỉnh bản đồ bằng phương pháp dựa vào ảnh hàng không

Tiến hành chỉnh sửa bản gốc hiện chỉnh ở nội nghiệp theo ảnh hàng không, sau đó khảo sát kiểm tra ngoài thực địa, hoặc khảo sát thực địa trước khi điều vẽ nội nghiệp, tuỳ thuộc vào đặc điểm của khu vực hiện chỉnh, yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế

Hiện chỉnh bản đồ theo ảnh hàng không qua các giai đoạn sau:

- Thu thập, đánh giá, hệ thống hoá tài liệu

- Nghiên cứu đặc điểm địa lý khu vực hiện chỉnh

- Xác định độ biến đổi nội dung, đánh giá bản đồ cần hiện chỉnh

- Chụp ảnh hàng không (nếu chưa có ảnh mới chụp của khu vực hiện chỉnh)

- Xử lý ảnh hàng không, quy tỷ lệ ảnh về tỷ lệ bản đồ, thành lập bình đồ ảnh

- Lập bản gốc chỉnh sửa

- Điều vẽ ảnh nội nghiệp, chỉnh sửa bản gốc ở nội nghiệp

- Tiếp biên, lập thiết kế khảo sát ngoại nghiệp

- Khảo sát, kiểm tra thực địa

- Hoàn chỉnh (chỉnh sửa và trình bày) bản gốc hiện chỉnh

- Kiểm tra nghiệm thu

b Hiện chỉnh bản đồ bằng phương pháp dựa theo tài liệu bản đồ

Phương pháp này được áp dụng khi có bản đồ tỷ lệ lớn hơn mới thành lập hoặc mới hiện chỉnh Các bước thực hiện qua các giai đoạn thu thập tài liệu, nghiên cứu đặc điểm địa lý khu vực hiện chỉnh, xác định độ biến đổi nội dung, đánh giá bản đồ cần hiện chỉnh, lập bản gốc chỉnh sửa, chỉnh sửa bản gốc ở nội nghiệp, tiếp biên, hoàn chỉnh (chỉnh sửa và trình bày) bản gốc hiện chỉnh, kiểm tra nghiệm thu

c Hiện chỉnh bản đồ bằng các phương pháp đo trực tiếp ngoài thực địa

Khi thực hiện phải khảo sát tổng quan toàn khu hiện chỉnh và lập thiết kế chi tiết chỉnh sửa tại thực địa những biến đổi trên bản đồ Trên bản thiết kế nêu rõ các điểm trắc địa nhà nước cũ và mới đo tồn tại ngoài thực địa, khu vực cần chỉnh sửa địa vật và phương pháp thực hiện, khu vực cần chỉnh sửa, lưới điểm trạm đo và chỉ dẫn phương pháp xác định các điểm trạm đo Ngoài thực địa tiến hành đo vẽ chỉnh sửa các địa vật biến đổi từ các điểm trắc địa, các điểm đường chuyền, các điểm trạm

đo

Trang 33

d Hiện chỉnh bản đồ bằng phương pháp dựa theo ảnh vệ tinh có độ phân giải cao

Ảnh vệ tinh dùng để hiện chỉnh bản đồ phải được chụp trước thời điểm hiện chỉnh không quá 2 năm Để hiện chỉnh bản đồ, tuỳ theo đặc điểm của từng vùng và đối tượng cần hiện chỉnh và tỷ lệ bản đồ cần hiện chỉnh, sử dụng ảnh với độ phân giải khác nhau

Công nghệ hiện chỉnh bản đồ theo ảnh vệ tinh có thể tóm tắt như sau: Thu thập, đánh giá tài liệu, xác định cơ sở toán; lập bản gốc chỉnh sửa; xử lý ảnh vệ tinh (loại trừ các sai số do quá trình thu nhận ảnh), đưa ảnh về tỷ lệ bản đồ cần hiện chỉnh, thành lập bình đồ ảnh vệ tinh; lập maket biến đổi (xác định những đối tượng mới xuất hiện trên ảnh (không có trên bản đồ), đối tượng thay đổi cấp bậc; điều vẽ nội nghiệp (điều vẽ những đối tượng mới xuất hiện, xoá bỏ những đối tượng đã bị mất trên ảnh, thay đổi ký hiệu đối với những đối tượng thay đổi cấp bậc); điều tra khảo sát ngoại nghiệp; chuyển vẽ chỉnh sửa; biên tập bản đồ; kiểm tra, hoàn thiện được bản gốc hiện chỉnh; chế in; in bản đồ

Do khả năng thông tin và dấu hiệu điều vẽ ảnh vệ tinh có mặt hạn chế so với ảnh hàng không nên trước khi điều vẽ nội nghiệp cần tiến hành khảo sát để xác định khoá suy giải ảnh

1.4 Biến động sử dụng đất

* Khái niệm chung về biến động: Cụm từ biến động được nhắc đến ở mọi nơi, mọi lúc ví như: Biến động thị trường, biến động giá cả, biến động không gian, biến động dân số, biến động tâm lí Như vậy, biến động được hiểu là sự biến đổi, thay đổi, thay thế trạng thái này bằng một trạng thái khác liên tục của các sự vật, hiện tượng tồn tại trong môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội

* Biến động về diện tích đối tượng (biến động lượng)

Giả sử cùng đối tượng A ở thời điểm T1 có diện tích là S1, ở thời điểm T2 có diện tích là là S2 Như vậy, ta nói rằng A bị biến đổi diện tích ở thời điểm T1 so với T2 (sự biến đổi này có thể bằng nhau, lớn hay nhỏ hơn) nếu ta dùng kỹ thuật để chồng xếp hai lớp thông tin này thì phần diện tích của phần trùng nhau sẽ được gán giá trị cũ của đối tượng A, còn giá trị khác sẽ là giá trị của phần biến động Giá trị biến động này là bao nhiêu tăng hay giảm phụ thuộc vào thuật toán được sử dụng

* Nguyên tắc nghiên cứu biến động bằng GIS

Ta có thể biểu hiện nghiên cứu biến động như sau: Cùng một đối tượng trên mặt đất được phản ánh trên hai lớp thông tin khác nhau sẽ cho một giá trị như nhau,

Trang 34

tất nhiên có sự giới hạn về chu vi và diện tích có thể biến đổi (bằng nhau, lớn hơn hay nhỏ hơn) nếu ta chồng xếp hai lớp thông tin đó thì phần diện tích trùng nhau của đối tượng sẽ được gán giá trị cũ, còn các giá trị khác sẽ là các giá trị của các lớp thông tin biến động, tuỳ theo phép toán sử dụng trên lớp thông tin về chúng kết quả sẽ thể hiện sự tăng hoặc giảm về mặt diện tích của đối tượng trên thực tế:

Hình 1.1: Nguyên tắc nghiên cứu biến động trong GIS

Một trong các phương pháp nghiên cứu biến động là thiết lập ma trận biến động (ma trận hai chiều) Trong các phần mềm xử lí chuyên dụng (AcrGIS, ILLWIS, IDRISI), ma trận được thực hiện trong chức năng CROSSING Nguyên tắc của CROSSING là tạo bản đồ mới thể hiện sự biến động về số lượng giữa các đối tượng, sự biến động đó được thể hiện bằng một bảng thống kê hai chiều một cách rõ ràng

Giả sử có hai bản đồ Avà B, thể hiện hiện trạng lớp phủ bề mặt của cùng một khu vực nhưng ở hai thời điểm kác nhau, khi đó ma trận biến động được thành lập

Trang 35

Các đơn vị nằm theo đường chéo của ma trận là các đơn vị không biến động, các đơn vị bản đồ khác nằm ngoài động chéo nói lên tính chất của sự biến động, ví

dụ đơn vị biến động 12, 13, 45, 54

Như vậy, với n đối tượng trên bản đồ thành phần sẽ có n*n đối tượng trên bản đồ biến động Kết quả thu được là bản đồ được thể hiện đầy đủ số lượng pixel của các loại hình biến động và diện tích của từng đối tượng biến động (đơn vị tính diện tích m2 hoặc ha)

Biến động được thể hiện qua hai hình thức chính như sau:

Biến động về diện tích: Biến động về diện tích thể hiện qua các thời gian khác nhau

Biến động về bản chất của đối tượng: Khi chồng hai bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại hai thời điểm khác nhau ta thấy đối tượng không thay đổi về diện tích

mà thay đổi về bản chất ở đây là thay đổi về mục đích sử dụng đất thì ta gọi là biến động về bản chất của đối tượng theo thời gian

Trang 36

Khoanh đất là đơn vị cơ bản của bản đồ hiện trạng sử dụng đất, được xác định trên thực địa và thể hiện trên bản đồ bằng đường bao khép kín Trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất tất cả các khoanh đất phải xác định được vị trí, hình thể, loại

đất theo hiện trạng sử dụng của khoanh đất đó

2.1.2 Mục đích và yêu cầu

a Mục đích

- Thể hiện kết quả thống kê, quy hoạch sử dụng đất, kiểm kê toàn bộ quỹ đất

đã giao và chưa được giao sử dụng theo định kỳ hàng năm và 5 năm

- Làm tài liệu phục vụ cho phương án cũng như công tác quy hoạch sử dụng

và kiểm tra thực hiện quy hoạch và kế hoạch hàng năm đã được phê duyệt

- Xây dựng tài liệu cơ bản phục vụ các yêu cầu cấp bách và công tác quản lý đất đai

- Làm tài liệu thống nhất để các ngành khác sử dụng, nhằm xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển của ngành mình, đặc biệt là những ngành sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp

Trang 37

* Sai sô chuyển vẽ vị trí các các yếu tố nội dung bản đồ không được vượt quá ± 0,2mm tính theo tỷ lệ bản đồ nền.

+ Độ chính xác chuyển vẽ các yếu tố nội dung hiện trạng sử dụng đất từ các tài liệu dùng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất sang bản đồ nền phải đảm bảo các yếu cầu sau:

* Sai số tương hỗ chuyển vẽ các yếu tố nội dung hiện trạng sử dụng đất không vượt quá ± 0,7 mm tính theo tỷ lệ bản đồ nền;

* Sai số chuyển vẽ vị trí các yếu tố nội dung hiện trạng sử dụng đất không được vượt quá ± 0,5mm tính theo tỷ lệ bản đồ nền

- Mỗi khoanh vi nhỏ nhất phải phù hợp với tỷ lệ, mục đích, mức độ chi tiết hoá và khái quát hoá

- Phải thể hiện toàn bộ thửa đất trong đường địa giới hành chính, được xác định theo hồ sơ địa giới hành chính, hay quyết định điều chỉnh địa giới hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đối với đơn vị hành chính có biển, đảo thì bản đồ HTSDĐ phải thể hiện toàn bộ diện tích các loại đất, phần đất liền và các đảo, quần đảo tính đến mép nước biển triều kiệt trung bình

- Đối với khu công nghệ cao, khu kinh tế phải thể hiện toàn bộ diện tích trong đường ranh giới của của khu công nghệ cao, khu kinh tế đó

- Phải đáp ứng đồng bộ và hiệu quả các yêu cầu cấp bách của công tác quản

lý, đặc biệt là công tác kiểm kê đất đai và quy hoạch sử dụng đất

2.1.3 Nội dung bản đồ HTSDĐ

2.1.3.1 Yêu cầu về nội dung

- Nội dung bản đồ HTSDĐ đáp ứng mục đích, yêu cầu tỷ lệ bản đồ đặt ra Bản đồ phải thể hiện đầy đủ các loại hình sử dụng đất phù hợp với biểu mẫu thống

kê, nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho người sử dụng về tình hình sử dụng đất thể hiện được trên các bản đồ với các vấn đề: vị trí, hình dạng, kích thước, số lượng, loại hình sử dụng đất của các khoang vi đất

- Bản đồ HTSDĐ thể hiện đầy đủ quỹ đất đai trong địa giới hành chính, mức

độ chi tiết của nội dung và tiêu chuẩn thể hiện trên bản đồ như hệ thống kí hiệu, phương pháp thể hiện nội dung

2.1.3.2 Những nội dung chính

Nội dung bản đồ HTSDĐ gồm 2 phần cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau đó là yếu tố cơ sở địa lý và yếu tố nội dung chuyên môn Tùy thuộc vào tỷ lệ, mục đích, yêu cầu, khu vực cần thành lập bản đồ mà yếu tố nội dung sẽ được thể hiện với các mức độ khác nhau

a Các yếu tố cơ sở địa lý

+ Các yếu tố cơ sở toán học gồm: Khung bản đồ, lưới kilômét, lưới kinh vĩ tuyến, chú dẫn, trình bày ngoài khung và các đối tượng liên quan;

Trang 38

Bản đồ nền phải được thành lập theo quy định tại Quyết định số 83/2000/QĐ-TTg ngày 12/7/2000 của Thủ tướng Chính phủ về sử dụng Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc tế WGS-84 và hệ tọa độ quốc gia Việt Nam-2000

* E-líp-xô-ít quy chiếu WGS-84 với kích thước:

- Sử dụng lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với múi chiếu 3o có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài K0 = 0.9999 để thành lập các bản đồ nền tỷ lệ từ 1/10.000 đến 1/1.000

* Tỷ lệ của bản đồ nền được lựa chọn dựa vào: kích thước, diện tích, hình dạng của đơn vị hành chính; đặc điểm, kích thước của các yếu tố nội dung hiện trạng sử dụng hiện trạng sử dụng đất phải biểu thị trên bản đồ hiện trạng sửu dụng đất Tỷ lệ của bản đồ nền cũng là tỷ lệ của bản đồ hiện trạng sử dụng đất quy định trong bảng sau:

Bảng 2.1: Tỷ lệ bản đồ nền dùng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Cấp xã

1:1.000 1:2.000 1:5.000 1:10.000

Dưới 120

Từ 120 đến 500 Trên 500 đến 3.000 Trên 3.000

Cấp huyện

1:5.000 1:10.000 1:25.000

Dưới 3.000

Từ 3.000 đến 12.000 Trên 12.000

Cấp tỉnh

1:25.000 1:50.000 1:100.000

Dưới 100.000

Từ 100.000 đến 350.000 Trên 350.000

Biểu thị lưới kilômét hoặc lưới kinh, vĩ tuyến:

- Bản đồ nền tỷ lệ 1/1.000, 1/2.000, 1/5.000 và 1/10.000 chỉ biểu thị lưới kilômét, với kích thước ô lưới kilômét là 10cm x 10cm;

Trang 39

- Bản đồ nền tỷ lệ 1/25.000 biểu thi lười kilômét, với kích thước ô lưới kilômét là 8cm x 8cm;

- Bản đồ nền tỷ lệ 1/50.000, 1/100.000, 1/250.000 và 1/1.000.000 chỉ biểu thị lưới kinh, vĩ tuyến Kích thước lưới kinh, vĩ tuyến của bản đồ nền

+ Các yếu tố hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội:

- Đối với cấp xã và tương đương gồm: trụ sở UBND cấp xã, các địa vật độc lập có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội: tháp chuông nhà thờ, đình chùa, chợ, trường học, bệnh viện, công viên, khách sạn,…tên xã, phường, tên thôn ấp bản, tên các con sông lớn, các dãy núi…

- Đối với cấp huyện và tương đương: gồm các trung tâm huyện lị, UBND xã phường thị trấn và các địa vật đặc trưng: đình chùa, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa…

Ghi chú tên địa danh: ghi chú tên địa danh trên bản đồ bao gồm: tên sông, tên suối, kênh mương chính, tên núi, tên thị xã thị trấn và một số điểm dân cư lớn quan trọng

- Đối với cấp tỉnh và tương đương: gồm UBND tỉnh, UBND huyện, đình chùa, nhà thờ lớn

Ghi chú địa danh: ghi chú địa danh trên bản đồ bao gồm: tên sông suối chính, đường quốc lộ, tỉnh lộ, tên huyện, thị xã

- Đối với cấp xã và tương đương

Hệ thống sông ngòi kênh mương tưới tiêu, ao hồ, trạm bơm (hướng chảy)

- Đối với cấp huyện và tương đương

Thể hiện tất cả các sông kênh mương chính có chiều dài trên bản đồ ≥ 1 cm, các ao hồ có diện tích trên bản đồ ≥ 4mm2 Những vùng có ít sông suối hiếm nước

có thể thể hiện những đối tượng chưa đạt tới mức quy định trên

- Đối với cấp tỉnh và cả nước

Thể hiện sông suối, kênh mương chính, ao hồ lớn, các công trình đầu mối quan trọng, ở những vùng ít sông, suối hiếm nước có thể thể hiện mức độ chi tiết hơn

+ Mạng lưới giao thông

- Đối với cấp xã và tương đương

Đường sắt các loại, các loại đường giao thông (quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và tên gọi), các đường liên xã, đường đi lớn trong khu dân cư và ngoài đồng ruộng, các

Trang 40

công trình liên quan với đường sá như cầu cống, bến phà…

- Đối với cấp huyện và tương đương: trên bản đồ thể hiện tất cả các loại đường đất, đường ô tô Cấp loại đường ở bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp huyện

từ quốc lộ đến đường liên xã

- Đối với cấp tỉnh và tương đương: trên bản đồ thể hiện đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường giao thông Trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp tỉnh đến đường liên huyện

- Đối với cấp huyện và tương đương: thể hiện bằng đường bình độ, các điểm

độ cao điển hình Ở vùng đồng bằng phải thể hiện địa hình ở mức độ chi tiết nhất đối với tỷ lệ bản đồ mà nguồn tài liệu hiện có có thể cung cấp được Ở vùng trung

du miền núi số lượng đường bình độ trên bản đồ cấp huyện giảm đáng kể so với bản

đồ địa hình cùng tỷ lệ Khi lược bỏ đường bình độ cần chú ý sao cho vẫn thể hiện được các đỉnh, chân đồi núi nơi chuyển sang đồng bằng hay lòng thung lũng

- Đối với cấp tỉnh và tương đương: thể hiện bằng đường bình độ cái của bản

đồ cùng tỷ lệ và các điểm độ cao điển hình

- Đối với cấp cả nước: thể hiện bằng đường bình độ cái của bản đồ địa hình cùng tỷ lệ Lưu ý khi thể hiện dáng đất phải phù hợp với các yếu tố khác (đường sá, thủy lợi, thực vật)

b Các yếu tố nội dung chuyên môn của bản đồ HTSDĐ

* Ranh giới đất

+ Đối với cấp xã và tương đương

Bản đồ HTSDĐ cấp xã thể hiện toàn bộ quĩ đất đang được sử dụng trong địa giới hành chính Vì thế cần thể hiện các nội dung sau:

- Khoanh đất là yếu tố nội dung chính của bản đồ hiện trạng sử dụng đất, được thể hiện dưới dạng đường viền khép kín Khoanh đất có thể là một hoặc nhiều thửa đất nằm liền kề nhau và có cùng mục đích sử dụng đất Khoanh đất phải được thể hiện đúng vị trí, hình dạng, kích thước theo tỷ lệ

- Tất cả các khoanh đất có diện tích ≥ 10 mm2 theo tỷ lệ bản đồ phải thể hiện chính xác theo tỷ lệ

- Nếu khoanh đất có diện tích ≤ 10 mm2 nhưng có giá trị kinh tế cao và các đặc tính riêng khác thì có thể nới rộng, phóng đại lên nhưng không vượt quá 1,5 lần,

Ngày đăng: 26/03/2020, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w