Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và với mong muốn được góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực phía Tây Hà Nội một cách bền vững; với mục đích nghiên cứu địa mạo để góp phầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRỊNH THỊ HÒA
NGHIÊN CỨU ĐỊA HÌNH VÀ MỘT SỐ QUÁ TRÌNH BỀ MẶT PHỤC
VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KHU VỰC HUYỆN BA
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 14
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN BA VÌ 14
1.1 Một số khái niệm liên quan 14
1.1.1 Khái niệm về địa hình và các quá trình bề mặt 14
1.1.2 Đất đai và đơn vị đất đai 15
1.1.3 Đánh giá đất 16
1.1.4 Quy hoạch sử dụng đất 16
1.1.5 Quản lý đất đai 18
1.1.6 Mối tương quan giữa đơn vị địa mạo và đơn vị đất đai 19
1.2 Nghiên cứu địa hình phục vụ công tác quản lý đất đai 22
1.2.1 Nghiên cứu địa hình cho việc xác định địa giới hành chính 23
1.2.2 Nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng phục vụ đánh giá, phân hạng thích nghi đất đai 24
1.2.3 Nghiên cứu cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng trong sử dụng hợp lý tài nguyên đất 32
1.2.4 Nghiên cứu địa hình và các quá trình bề mặt cho quy hoạch sử dụng đất đai 34
1.2.5 Nghiên cứu địa hình và các quá trình bề mặt cho quản lý đất đai trong bối cảnh biến đổi môi trường 38
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu địa hình phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất 41
1.3.1 Trên thế giới 41
1.3.2 Ở Việt Nam 43
CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỊA HÌNH, CÁC QUÁ TRÌNH BỀ MẶT VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN BA VÌ 45
Trang 32.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển địa hình ở khu vực huyện
Ba Vì 45
2.1.1 Các nhân tố tự nhiên 45
2.1.1.1 Địa chất 45
2.1.1.2 Địa hình 47
2.1.1.3 Khí hậu 49
2.1.1.4 Thủy văn 52
2.1.1.5 Lớp phủ thực vật 53
2.1.2 Các hoạt động nhân sinh 55
2.1.2.1 Các hoạt động kinh tế xã hội 55
21 2.2 Hệ thống chính sách phát triển kinh tế và chính sách bảo vệ chống xói mòn đất 60
2.2 Hiện trạng sử dụng đất và tập quán canh tác của người dân ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của đất 61
2.3 Nhận xét chung về tình hình quản lý, hiện trạng sử dụng đất 64
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA MẠO CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN BA VÌ 66
3.1 Đặc điểm địa hình và các quá trình bề mặt huyện Ba Vì 66
3.1.1 Khái quát địa hình khu vực 66
3.1.2 Đặc điểm các kiểu nguồn gốc địa hình 69
3.2 Các quá trình địa mạo hiện đại và tai biến thiên nhiên 74
3.3 Phân tích đánh giá điều kiện địa mạo cho quy hoạch đất đai huyện Ba Vì 75 3.3.1 Phân tích địa mạo - thổ nhưỡng cho đánh giá và quy hoạch sử dụng đất 75 3.3.2 Phân tích các quá trình địa mạo cho định hướng quy hoạch sử dụng đất 76
3.4 Một số đề xuất cho công tác quản lý đất đai ở khu vực huyện Ba Vì 83
trên cơ sở nghiên cứu địa hình 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 4DANH MUC CÁC BẢNG
Bảng 1 : Các chỉ tiêu xác định các đơn vị đất đai 29 Bảng 2: Các chỉ tiêu và phân cấp các chỉ tiêu đơn vị bản đồ đất đai huyện Ba Vì 31 Bảng 3 Một số chỉ tiêu khí hậu ở Ba Vì 52 Bảng 4: Cơ cấu sử dụng đất của huyện Ba Vì năm 2010 63 Bảng 5: Kết quả phân hạng thích nghi đất đai cho loại hình sử dụng đất trồng lúa 2
vụ ở huyện Ba Vì 74 Bảng 6: Một số đề xuất hỗ trợ cho công tác quản lý đất đai khu vực huyện Ba Vì 83
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 10
Hình 2: Biến trình nhiệt độ trung bình năm theo độ cao trên núi Ba Vì 50
Hình 3 : Bản đồ địa mạo huyện Ba Vì 66
Hình 4 : Vị trí lát cắt AB 62
Hình 5: Lát cắt địa chất – địa mạo khu vực phía tây huyện Ba Vì 69
Hình 6: Bản đồ thổ nhưỡng Huyện Ba Vì 77
Hình 7: Bản đồ xói mòn thực tế chưa phân loại (ảnh trái), đã phân loại 77
Hình 8: Sơ đồ thể hiện mối tương quan tạo thổ nhưỡng với độ dốc địa hình 81
Trang 6DANH MỤC CÁC ẢNH
Ảnh 1: Thảm thực vật Xã Minh Quang 48
Ảnh 2: Vuờn chè ở Xã Yên Bài 48
Ảnh 3: Khu du lịch Khoang Xanh và quang cảnh khu du lịch Hồ Tiên Sa 51
Ảnh 4: Thảm rừng trồng các đồi xã Tản Lĩnh 52
Ảnh 5: Xẻ núi xây dựng các khu nghỉ dưỡng gây ra xói mòn rửa trôi đất xã Vân Hòa 53
Ảnh 6: Trồng lúa nước ở các vùng trũng thấp, bãi bồi ven sông suối và trồng dứa trên các gò đồi ở xã Tản Lĩnh 54
Ảnh 7: Bề mặt tích tụ sông- hồ- đầm lầy ở khu vực xã Cẩm Lĩnh 66
Ảnh 8: Bề mặt thềm bị chia cắt mạnh ở khu vực xã Thái Hòa 66
Ảnh 9: Bãi nổi tuổi Holocen muộn 67
Ảnh 10: Bề mặt tích tụ sông – hồ ở khu vực hồ Suối Hai 67
Ảnh 11: Bề mặt đáy suối tích tụ ở phía Tây núi Ba Vì 67
Ảnh 12: Sườn xâm thực bóc mòn ở sườn Tây núi Ba Vì 68
Trang 7MỞ ĐẦU
Địa hình là một dạng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt đã được con người sử dụng từ rất lâu phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình Trong suốt lịch sử phát triển của loài người, địa hình có nhiều chức năng khác nhau: là môi trường sống; là ranh giới tự nhiên và ranh giới hành chính giữa các quốc gia, các khu vực; địa hình
có chức năng du lịch giải trí, chức năng văn hóa tinh thần, chức năng bảo vệ, góp phần đáp ứng nhu cầu cả về vật chất và tinh thần con người Vì vậy, địa hình là một phần quan trọng trong sự phát triển bền vững, là đối tượng quy hoạch và quản lý lãnh thổ Địa hình vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên vừa hỗ trợ cho các hoạt động của con người Các nhà quy hoạch và quản lý đất đai phải hiểu rõ từng đơn vị địa hình để từ đó vạch ra các phương án quy hoạch sử dụng đất thích hợp
Việc nghiên cứu địa hình có thể giúp xác lập đơn vị đất đai, đánh giá khả năng thích nghi đất đai từ đó cho phép xác định tiềm năng sản xuất của đất và là cơ
sở, căn cứ cho việc quy hoạch sử dụng đất Đồng thời, việc đánh giá được các quá trình địa mạo hay quá trình bề mặt địa hình đang diễn ra sẽ giúp đưa ra được những kết luận chính xác về những loại tai biến môi trường có khả năng xảy ra trong tương lai khi con người tác động và tự nhiên Hiểu được nguồn gốc địa hình cùng những quá trình động lực đang diễn ra trên đó, việc sử dụng đất sẽ an toàn hơn, lâu bền hơn và hợp lý hơn
Các huyện Thạch Thất, Sơn Tây, Ba Vì khi được sáp nhập vào Hà Nội đã trở thành nơi tập trung nhiều hoạt động phát triển kinh tế xã hội – khai thác tài nguyên, đồng nghĩa với việc có những biến động về sử dụng đất và môi trường: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của các huyện ngày một tăng cao, do đó nhu cầu đất ở cho người dân là một nhu cầu cấp thiết Bên cạnh đó để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện đề ra thì các cơ sở kinh tế công nghiệp và dịch vụ phải có quỹ đất tương đối lớn để xây dựng các công trình Nhu cầu cải tạo, nâng cấp và xây dựng cơ
sở hạ tầng của huyện (như: Giao thông, cấp thoát nước, các công trình phúc lợi công cộng, xã hội…) cũng gây sức ép lớn đến đất đai.Với tốc độ đô thị hoá như
Trang 8rộng và nhanh chóng được hình thành như thị trấn Tây Đằng, thị tứ Tản Lĩnh, Minh Quang, Nhông, Vạn Thắng, Sơn Đà và cụm đô thị Suối Hai Theo dự báo thì từ nay đến năm 2030, sự phát triển này sẽ làm mất đi một diện tích lớn đất nông, lâm nghiệp và các loại đất khác Và tài nguyên thiên nhiên ở khu vực này đang bị con người khai thác ngày càng mạnh làm biến đổi, phá vỡ cân bằng tự nhiên, làm biến đổi địa hình Một số loại tài nguyên đang ngày càng cạn kiệt và suy thoái dần như: đất bị suy thoái, xói mòn, laterit hóa; nguồn nước ở các sông suối, hò chứa nước bị cạn dần và ô nhiễm Vì vậy khi hoạch định kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất của các huyện, của các xã phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội trên
cơ sở sử dụng quỹ đất hợp lý
Như vậy, từ thực tế phát triển kinh tế xã hội những năm gần đây cũng như dự báo phát triển trong tương lai sẽ gây áp lực đến sử dụng đất đai của các huyện trong khu vực Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các huyện đến năm
2030 cần quản lý đất đai một cách hiệu quả và phù hợp với những diễn biến về tài nguyên và môi trường của khu vực nghiên cứu
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và với mong muốn được góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực phía Tây Hà Nội một cách bền vững; với mục đích nghiên cứu địa mạo để góp phần sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên
đất đai nên học viên đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu địa hình và một số quá trình
bề mặt phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất khu vực huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội” cho luận văn thạc sỹ của mình
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ được vai trò của nghiên cứu địa mạo trong trong công tác quy hoạch, quản lý đất đai khu vực huyện Ba Vì
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn nghiên cứu trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về địa hình và các quá trình bề mặt
Trang 9Nội dung nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu của luận văn, nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau :
1 Phân tích cơ sở khoa học của nghiên cứu địa hình và các quá trình bề mặt cho công tác quy hoạch sử dụng đất
2 Nghiên cứu đặc điểm địa mạo và phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng tới quá trình thành tạo địa hình và các quá trình
bề mặt trong khu vực nghiên cứu
3 Nghiên cứu đánh giá hiện trạng quy hoạch sử dụng đất khu vực huyện Ba
Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây và tỉnh Vĩnh Phúc
Phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình
Phía Bắc và phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 42.804,37ha Trung tâm huyện Ba Vì
là thị trấn Tây Đằng, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 53km theo đường QL32, và bao gồm 30 xã: Ba Trại, Ba Vì, Cẩm Lĩnh, Cam Thượng, Châu Sơn, Chu Minh, Cổ Đô, Đông Quang, Đồng Thái, Khánh Thượng, Minh Châu, Minh Quang, Phong Vân, Phú Châu, Phú Cường, Phú Đông, Phú Thượng, Phú Sơn, Sơn Đà, Tân Hồng, Tản Lĩnh, Thái Hòa, Thuần Mỹ, Thụy An, Tiên Phong, Tòng Bạt, Vân Hòa, Vạn Thắng, Vật Lại, Yên Bài
Trang 10Hình 1: SƠ ĐỒ VỊ TRÍ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Trang 11Phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp được sử dụng để thực hiện đề tài:
+ Phương pháp thu thập tổng hợp và xử lý thông tin: Mục tiêu là hệ thống hóa các tài liệu, số liệu rời rạc sẵn có theo định hướng nghiên cứu, phân tích và đánh giá chung Dựa vào các nguồn tài liệu, số liệu thu thập được để xây dựng cơ
sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích đặc điểm địa hình và một số quá trình bề mặt vào khu vực nghiên cứu
+ Phương pháp khảo sát điều tra, thực địa: Để kiểm tra mức độ chính xác của tài liệu, số liệu thu thập và bổ sung những số liệu còn thiếu và tìm hiểu sự phân hóa lãnh thổ, cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của một số loại hình sản xuất chính Thông qua việc khảo sát thực địa, điều tra xã hội học để đánh giá hiện trạng sử dụng đất và hiện trạng môi trường khu vực nghiên cứu Phương pháp khảo sát thực địa sẽ giúp cho việc tìm hiểu sự phân hóa của các điều kiện tự nhiên, sự chia cắt của địa hình, hướng chảy của các con sông, ranh giới của các loại đất
+ Phương pháp phân tích hệ thống: Các đối tượng của tự nhiên tồn tại trong một hệ thống nhất hoàn chỉnh, vì vậy sử dụng phương pháp phân tích hệ thống để nhận thức được đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng trong một địa hệ sinh thái Từ đó giúp con người có biện pháp bảo vệ và khai thác hợp lý Áp dụng phương pháp này để nghiên cứu, đưa ra các giải pháp phục vụ cho việc định hướng phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp huyện Ba Vì
+ Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS): Đã được khẳng định là
có hiệu quả trong nghiên cứu tai biến thông qua khả năng phân tích không gian và tích hợp dữ liệu Cơ sở dữ liệu không gian sử dụng cho đánh giá xói mòn đất huyện
Ba Vì gồm các lớp thông tin bản đồ địa hình, các hợp phần tự nhiên, kinh tế - xã hội Với sự hỗ trợ của phần mềm GIS (IL WIS, ArcGis, Envi) và Mapinfo, đề tài tiến hành biên tập, bổ sung các bản đồ hợp phần; Phân tích tổng hợp, chồng ghép các lớp thông tin, thực hiện các phép phân tích không gian trong tính toán mức độ xói mòn tiềm năng, đánh giá độ nhạy cảm của những không gian xói mòn, trượt lở
Trang 12+ Nhóm các phương pháp địa mạo:
Phương pháp hình thái và trắc lượng hình thái
Hình thái và trắc lượng hình thái là cơ sở định lượng của địa mạo học, giúp nghiên cứu nguồn gốc phát sinh và động thái của địa hình Phương pháp này nghiên cứu hình thái mô tả và hình thái trắc lượng của địa hình như: độ cao, độ dốc, độ chia cắt ngang, độ chia cắt sâu, hướng sườn… nhằm phát hiện ra các quá trình tự nhiên đang diễn ra, phát triển ra mối liên hệ giữa dạng địa hình, nền thạch học với quá trình động lực hiện đại
Phương pháp địa mạo – cấu trúc
Nhằm xác định mối liên hệ giữa hình thái địa hình với cấu trúc địa chất về các mặt cấu trúc kiến tạo và thạch học, tìm ra sự phụ thuộc của hình thái địa hình đối với các điều kiện cấu trúc và thạch học trên cơ sở hiện tượng xâm thực chọn lọc
Phương pháp mô tả - so sánh
Để xác định những dấu hiệu khác nhau của các quá trình địa mạo, chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi địa hình, đến các quá trình hình thành vỏ phong hóa – thổ nhưỡng, qua đó có thể dự báo các xu hướng phát triển của địa hình
Phương pháp địa lý – địa mạo
Dựa trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa địa hình với môi trường tự nhiên được áp dụng để đánh giá tính ổn định của địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng và thực vật
Phương pháp bản đồ
Dùng để nghiên cứu khái quát vùng nghiên cứu trên bản đồ địa mạo và bản
đồ hiện trạng sử dụng đất
Trang 13Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu địa mạo cho công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Ba Vì
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới địa hình, các quá trình bề mặt và hiện trạng sử dụng đất huyện Ba Vì
Chương 3: Phân tích đánh giá điều kiện địa mạo cho công tác quy hoạch
sử dụng đất huyện Ba Vì
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO CHO CÔNG TÁC QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN BA VÌ 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm về địa hình và các quá trình bề mặt
Địa hình là tập hợp của vô vàn những thể gồ ghề, lồi lõm hoặc tương đối bằng phẳng, phân cách với nhau bởi những đường ranh giới ít nhiều rõ ràng, tức là tập hợp của các dạng địa hình (ví dụ quả đồi, con sông, gò đất, quả núi, đụn cát, bãi bồi, doi cát, v.v [4].
Địa hình được phân biệt bởi các yếu tố địa hình Các yếu tố địa hình được đặc trưng bởi hình thái, trắc lượng hình thái, nguồn gốc và tuổi địa hình
Dạng địa hình có thể là một khối nhô cao so với bề mặt nằm ngang, gọi là
địa hình dương, hoặc có thể lõm xuống, gọi là địa hình âm Mỗi dạng địa hình lại bao gồm những yếu tố thành phần, đó là bề mặt (như bề mặt đỉnh, các bề mặt sườn, gọi là các bề mặt sơ đẳng), các đường và các điểm đặc trưng Các dạng địa hình thường được sắp xếp, kết hợp với nhau theo những quy luật nhất định để tạo thành những đơn vị địa hình cấp cao hơn [4]
Hình thái địa hình: Bao gồm những thông tin định lượng về độ cao tương
đối, độ cao tuyệt đối, độ chia cắt ngang, độ dài, độ dốc sườn và bề mặt, độ uốn khúc của các dòng sông, v.v Tất cả những thông tin đó được thể hiện dưới dạng các chỉ
số và hệ số [4]
Nguồn gốc hình thành địa hình: Địa hình trên bề mặt Trái đất luôn biến đổi, một mặt do những lực có nguồn gốc ở trong lòng Trái đất sinh ra (nội lực), mặt khác do những lưc ở bên ngoài Trái đất sinh ra (ngoại lực)
Nội lực là lực được sinh ra ở bên trong Trái đất Nguyên nhân chủ yếu sinh
ra nội lực là các nguồn năng lượng trong lòng Trái đất như: năng lượng của sự phân hủy các chất phóng xạ, sự chuyển dịch và sắp xếp lại các vật chất cấu tạo Trái đất theo trọng lực, sự ma sát vật chất
Trang 15Ngoại lực là những lực được sinh ra bên ngoài trên bề mặt Trái đất như các nguồn năng lượng của gió mưa, nước chảy, băng, sóng biển, Nguyên nhân chủ yếu sinh ra ngoại lực là do nguồn năng lượng bức xạ mặt trời
Tuổi địa hình: là khoảng khoảng thời gian, trong đó nó đã được hình thành
và các dạng của nó vẫn còn giữ được những đường nét chính cho tới ngày nay [4]
Tập hợp các dạng địa hình liên kết với nhau một cách có quy luật, có quan
hệ mật thiết với nhau về nguồn gốc phát sinh và cùng tồn tại trên cùng một không gian mặt đất nhất định được gọi là kiểu địa hình như kiểu địa hình đồng bằng sông ( gọi là đồng bằng aluvi), kiểu địa hình đồng bằng biển, kiểu địa hình đồi xâm thực – bóc mòn, kiểu địa hình cao nguyên dung nham, v.v
Có hai nhóm kiểu địa hình chính đó là: Nhóm kiểu địa hình bào mòn và nhóm kiểu địa hình tích tụ
1.1.2 Đất đai và đơn vị đất đai
Đất đai (land): là một tổ hợp các dạng tài nguyên thiên nhiên được đặc trưng
bởi một lãnh thổ, một chất lượng của các loại đất, bởi một kiểu khí hậu, một dạng
địa hình, một chế độ thủy văn, một kiểu thảm thực vật…Là một cơ sở không gian
(đơn vị lãnh thổ) của việc bố trí các đối tượng sản xuất, định cư và là phương tiện sản xuất mà trước hết và rõ ràng nhất là kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp với dân cư
và xây dựng dân dụng.v.v…Khi nói đến đơn vị đất đai có nghĩa là một bộ phận không gian lãnh thổ đó đã kèm theo người sở hữu hoặc người có quyền sử dụng và quản lý nó [12]
Đặc tính đất đai là các thuộc tính của đất tác động đặc biệt đến tính thích nghi của đất đó đối với loại hình sử dụng đất Các đặc tính đất đai (như chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khả năng thoát nước, chế độ cung cấp dinh dưỡng của đất…) ảnh hưởng đến tính thích hợp sản xuất của các loại hình sử dụng đất, nó trả lời trực tiếp cho yêu cầu sử dụng đất
Đơn vị đất đai (Land Unit): là một khoanh đất cụ thể được thể hiện trên bản
đồ, có những đặc tính và tính chất tương đối đồng nhất mà nhờ đó có thể phân biệt
Trang 16Các tiêu chí/cách thức để xác định một đơn vị đất đai của Nhà nước Việt Nam hiện nay
1.1.3 Đánh giá đất
Đánh giá đất theo FAO: là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn
có của khoanh đất (vạt đất) cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu cần phải có [21]
Trong đánh giá đất, đất đai được định nghĩa như một khoanh đất được xác định về vị trí đía lý, là một phần diện tích bề mặt Trái Đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên dưới bề mặt của nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng khoanh đất đó trong hiện tại và tương lai
Như vậy đánh giá đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế - xã hội Đặc điểm đánh giá đất của FAO là dựa vào những tính chất đất đai có thể đo lường hoặc ước lượng – định lượng được Cần thiết có sự lựa chọn chỉ tiêu đánh giá đất thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp
và có ý nghĩa tới việc sử dụng hợp lý đất đai của vùng nghiên cứu
Mục đích ý nghĩa của việc đánh giá đất:
- Kết quả đánh giá đất cho phép xác định tiềm năng sản xuất của đất đai và là
cơ sở, căn cứ cho việc lập quy hoạch sử dụng đất
- Phục vụ cho việc định hướng sử dụng đất, đặc biệt đối với khu vực miền núi, để đảm bảo an toàn lương thực, chống xói mòn, thoái hóa đất và bảo vệ môi trường
- Kết quả đánh giá đất là cơ sở cho việc xây dựng các dự án đầu tư sản xuất
và đề xuất các biện pháp khoa học kỹ thuật phù hợp với điều kiện của địa phương
1.1.4 Quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực vô cùng quý giá của quốc gia song là nguồn tài nguyên hạn chế Trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước
Trang 17ta hiện nay, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã hội một cách khoa học, tiết kiệm và có hiệu quả là vô cùng quan trọng Vì vậy công tác quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai là một công
cụ thiết yếu trong hệ thống quản lý đất đai ở nước ta
Điều 6 của Luật đất đai năm 2003 xác định một trong những nội dung quản
lý Nhà nước về đất đai là quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Hiểu theo nghĩa rộng thông thường quy hoạch sử dụng đất là sự phân bố, bố trí đất đai cho các mục đích phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước và từng địa phương trong một giai đoạn nhất định ở tương lai [20] Hiểu theo nghĩa rộng, quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và
có hiệu quả cao; thông qua việc phân bố quỹ đất đai cho các mục đích sử dụng và
tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [20]
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất là quỹ đất đai của các cấp lãnh thổ hành chính (cả nước, tỉnh, huyện, xã) hoặc một khu vực Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, quy hoạch sử dụng đất được thực hiện nhằm xác định cơ cấu đất đai hợp
lý, phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng, các ngành kinh tế, xác định sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất vào đầu tư và phát triển sản xuất, đảm bảo an toàn lương thực,phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường
Quy hoạch sử dụng đất được lập cho thời kỳ 10 năm chẵn với tầm nhìn 20 năm Một kỳ quy hoạch gồm 2 kỳ kế hoạch sử dụng đất cho từng giai đoạn 5 năm Khi có thay đổi về cơ cấu sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, thay đổi về
cơ cấu, vị trí, diện tích sử dụng đất do tác động của thiên tai, chiến tranh thì quy hoạch sử dụng đất được điều chỉnh
Trang 181.1.5 Quản lý đất đai
Quản lý đất đai là quá trình quản lý việc sử dụng và phát triển tài nguyên đất đai Tài nguyên đất đai được sử dụng cho nhiều mục đích, có thể bao gồm nông nghiệp hữu cơ, trồng rừng, quản lý tài nguyên nước và các dự án du lịch sinh thái
[12]
Đất đai là tài nguyên vô giá, vì vậy quản lý đất đai là một nhiệm vụ của hệ thống hành chính công do nhà nước thực hiện Ở các quốc gia khác nhau thì có các quan niệm khác nhau về nhiệm vụ của hệ thống quản lý đất đai Có nước quan tâm chủ yếu tới khía cạnh thuế, có nước lại tập trung vào khía cạnh quy hoạch phát triển…Ở nước ta Nhà nước quản lý đất đai về mọi mặt như:
1 Quản lý về mặt hành chính lãnh thổ mà mỗi thửa đất là một đơn nguyên của hệ thống quản lý, hay nói cách khác đây chính là quản lý ranh giới thửa đất để xác định phần diện tích mà chủ sở hữu hay người sử dụng được pháp luật thừa nhận
về pháp lý, được Nhà nước bảo hộ về thực hiện các quyền hợp pháp
2 Quản lý về mặt tài sản dân sự đối với đất đai trong hệ thống đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trước pháp luật
3 Quản lý về mục đích sử dụng đất cho phù hợp với nhu cầu phát triển kinh
tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường được xác định trong quy hoạch sử dụng đất đai
4.Quản lý về mặt kinh tế đối với đất đai bao gồm định giá, xác định thuế và các loại nghĩa vụ tài chính đối với đất đai
Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được ghi nhận tại điều 6 Luật đất đai
2003, bao gồm 13 nội dung [12]
a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và
Trang 19d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
g) Thống kê, kiểm kê đất đai;
h) Quản lý tài chính về đất đai;
i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;
k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;
m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
1.1.6 Mối tương quan giữa đơn vị địa mạo và đơn vị đất đai
a Vai trò của địa hình đối với đơn vị đất đai
Thổ nhưỡng là một yếu tố tạo nên đơn vị đất đai, là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vì nó là hợp phần quan trọng trong nông nghiệp, là nhân tố không thể bỏ qua trong nghiên cứu sử dụng quy hoạch không gian lãnh thổ Thổ nhưỡng là lớp vỏ cảnh quan, còn địa hình là nền móng của cảnh quan Giữa địa hình và thổ nhưỡng
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau liên quan đến sự tiến hóa của địa mạo ở vị trí mà
nó được hình thành Đất là kết quả của sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và cả các hoạt động của con người trong một khoảng thời gian nhất định Vì vậy, giữa thổ nhưỡng và địa hình có mối quan hệ nguồn gốc, địa hình là nhân tố phát sinh thổ nhưỡng, khi nghiên cứu các loại đất không thể tách ra khỏi việc nghiên cứu địa hình mà chúng nằm trên
Trang 20Địa hình đóng vai trò đáng kể trong việc quyết định sự thể hiện cụ thể mối tác động của các nhân tố tự nhiên khác trong việc tạo thành đất Địa hình phân bố lại nước nên ảnh hưởng đến chế độ nước trong đất, quá trình phong hóa hóa học,…
Sự trao đổi năng lượng giữa mặt trời và đất đá cũng như sinh vật sống trên đó và xác hữu cơ đó, sự trao đổi ấy khác nhau ở các sườn đồi núi theo hướng Đông, Tây, Nam hay Bắc, cụ thể là sườn Tây hứng nhiều nhiệt hơn sườn Đông khiến cho chế
độ nhiệt trong đất khác nhau ở các sườn ấy; nơi cao bị xâm thực, nơi thấp được bồi
tụ bằng sản phẩm của xói mòn Tất cả những hiện tượng đó ảnh hưởng đến sự hình thành đất [13]
- Vai trò quan trọng của địa hình trong sự hình thành đất là sự ảnh hưởng đối với sự chuyển động vật chất rắn của đất, được thể hiện dưới tác dụng của trọng lực
Sự ảnh hưởng này liên quan đến mức độ rửa trôi và sắp xếp lại thành phần vật chất của vật liệu Qua đó có thể đánh giá độ dày mỏng của lớp đất trên các bề mặt địa hình
- Sự phân đới các loại đất theo chiều thẳng đứng cũng được quyết định bởi
độ cao tuyệt đối của địa hình Độ cao ảnh hưởng đến nền nhiệt ẩm, do vậy ảnh hưởng tới tốc độ và mức độ các quá trình phong hóa đá và ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của đất Càng lên cao, quá trình phong hóa càng giảm, vỏ phong hóa mỏng vì vậy đất được hình thành có tầng dày mỏng hơn
- Chế độ ẩm của đất và sự chuyển của các dạng vận động trong nước của các nguyên tố hóa học cũng chịu tác động của địa hình Đối với các dạng địa hình lớn ảnh hưởng đến chuyển động của các khối khí; sự phân bố lượng mưa rơi lại chịu ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ bởi các dạng trung và tiểu địa hình
Những nhận xét trên có ý nghĩa rất quan trọng, từ những nghiên cứu địa mạo
về mặt phát sinh và động lực để khoanh ra các kiểu địa hình, trên đó thổ nhưỡng sẽ được phát triển
Thông qua việc nghiên cứu thổ nhưỡng dưới góc độ nguồn gốc phát sinh có ý nghĩa quan trọng đối với quy hoạch không gian lãnh thổ, đặc điểm thổ nhưỡng phản ánh động lực quá trình địa mạo đang diễn ra Những lãnh thổ có quá trình tạo thổ
Trang 21nhưỡng đang bị gián đoạn, đất đang bị thoái hóa, xói mòn trơ sỏi đá, đất kém phì nhiêu không những không có khả năng tạo ra năng suất cây trồng cao mà còn phản ánh động lực quá trình địa mạo đang diễn ra mạnh mẽ, hoặc là quá trình ngoại sinh xảy ra mạnh, hoặc là do hoạt động của con người tác động rất lớn đến cảnh quan
Từ đó có các biện pháp cải tạo sử dụng hợp lý tài nguyên đất, sử dụng hợp lý không gian lãnh thổ
b, Mối quan hệ giữa quá trình địa mạo và thổ nhưỡng
Sự hình thành và phát triển thổ nhưỡng gắn liền với sự phát triển của địa hình hay nói cách khác quá trình tạo nhưỡng có tương quan với quá trình tạo hình thái Trên dạng địa hình nào sẽ hình thành nên loại thổ nhưỡng đó Mối quan hệ giữa địa mạo và thổ nhưỡng là mối quan hệ trái ngược nhau: Khi quá trình tạo hình thái mạnh, tức là bề mặt địa hình bị biến đổi mạnh thì quá trình tạo thổ nhưỡng sẽ giảm yếu, hơn nữa đất còn bị bào mòn, cắt cụt và trẻ hóa liên tục Lớp thổ nhưỡng
do đó mỏng dần, vì phần được tạo mới không bù lại được phần đã bóc đi
Vào những giai đoạn khí hậu khô nóng là giai đoạn diễn ra quá trình phong hóa vật lý và trọng lực bóc lộ liên tục Điều này đặc biệt thấy rõ trong các miền bán khô hạn Khí hậu khắc nghiệt làm cho lớp phủ thực vật nghèo nàn thưa thớt, sườn bị các quá trình phong hóa vật lý và trọng lực bóc lộ liên tục Lớp thổ nhưỡng do đó mỏng dần, vì phần được tạo mới không bù lại được phần đã bị bóc đi
Vào những giai đoạn khí hậu khô nóng là giai đoạn diễn ra quá trình phong hóa vật lý phát triển mạnh làm phá hủy đá gốc, tích tụ vật liệu, vỏ phong hóa khá dày Vào giai đoạn khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, tập trung làm cuốn trôi, vận chuyển vật liệu theo cả ng chảy ngầm, h nh thành các khe xói chia cắt bề mặt địa hình, khi đó quá trình tạo hình thái diễn ra mạnh mẽ Các sản phẩm phong hóa được vận chuyển từ trên núi cao, những nơi địa hình cao xuống nơi địa hình trũng thấp tích tụ ở đó
Vật liệu ở những nơi có địa hình cao – nơi có quá trình tạo hình thái mạnh –
bị vận chuyển đi nơi khác, có khi bị lộ trơ cả đá gốc tạo điều kiện cho quá trình
Trang 22có địa hình thấp trũng, quá trình tạo hình thái diễn ra yếu hoặc không diễn ra sẽ tập trung vật liệu kết hợp với lớp phủ thực vật dày hình thành lớp vỏ phong hóa khá dày, lớp thổ nhưỡng dày mà không bị vận chuyển đi nơi khác
Do đó xem xét mối tương quan giữa quá trình tạo hình thái và quá trình tạo thổ nhưỡng không thể tách rời yếu tố khí hậu của môi trường địa lý và yếu tố vật chất, thạch học Quá trình trên mới chỉ dừng lại ở mức bóc mòn di chuyển của các oxit chứa trong thành phần thạch học của từng loại đá Trong cùng một điều kiện khí hậu, trên cùng một loại đá nhưng có nơi hình thành loại đất này có nơi lại hình thành loại đất khác do đó sẽ ảnh hưởng tới loại cây trồng và hướng sử dụng tài nguyên đất
Trên mỗi đơn vị địa hình khác nhau sẽ xảy ra quá trình tạo hình thái khác nhau quyết định đến tính chất và độ dày thổ nhưỡng Trên bề mặt đỉnh các núi thấp thường thoải, độ dốc không lớn có khả năng lưu giữ các sản phẩm phong hóa, vì vậy tầng đất khá dày và thực vật phát triển mạnh
Trên các sườn núi quá trình trọng lực xảy ra là chủ yếu đã vận chuyển các vật liệu phong hóa tại chỗ xuống chân sườn, vì vậy thổ nhưỡng rất mỏng hay có chỗ không có và lộ trơ đá gốc Dưới chân sườn chủ yếu xảy ra quá trình tích tụ vật liệu
do đó lớp thổ nhưỡng dày Tuy nhiên có những hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất ở mỗi vùng lãnh thổ phải phân tích đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng của khu vực
đó
1.2 Nghiên cứu địa hình phục vụ công tác quản lý đất đai
Quản lý đất đai là một công việc phức tạp phải giải quyết nhiều vấn đề như:
sử dụng hợp lý và bảo vệ đất, sử dụng các tài nguyên, giảm thiểu tai biến thiên nhiên, nghỉ ngơi, giải trí, phát triển bền vững, v.v…và ở nhiều quy mô không gian khác nhau từ toàn cầu đến địa phương Các vấn đề toàn cầu như nóng lên của khí hậu, ô nhiễm môi trường, thoái hóa đất và sa mạc hóa, v.v Còn quy mô ở địa phương là các vấn đề về xói mòn đất, phá hủy sườn, bồi lắng, lũ lụt, v.v…Nguyên nhân của những vấn đề trên đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến địa hình cũng như quá trình phát triển của nó
Trang 231.2.1 Nghiên cứu địa hình cho việc xác định địa giới hành chính
- Địa giới hành chính là giới hạn phần lãnh thổ của các đơn vị hành chính các cấp, được thể hiện cụ thể bằng đường địa giới hành chính và các mốc địa giới hành chính các cấp Đường địa giới hành chính có thể là một con sông, một dãy núi…v.v
- Các vùng khác nhau có điều kiện kinh tế - xã hội cũng như đặc điểm tự nhiên khác nhau
- Dựa vào đặc điểm tự nhiên khác nhau mà chúng ta phân ra các vùng khác nhau, các đơn vị hành chính khác nhau Ví dụ như: dựa vào các yếu tố tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn…) và các yếu tố dân cư, xã hội mà đã chia nước ta thành các vùng khác nhau như sau:
+ Vùng Đông Bắc: vùng núi và vùng trung du Đông Bắc có địa hình không cao so với vùng Tây Bắc, phía Tây của vùng có những dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phanxipan cao hơn 3000m Ở phía Đông của vùng khí hậu nhiệt đới, nhưng lại là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc, là khu vực có mùa đông lạnh nhất ở nước ta
+ Vùng Tây Bắc: đặc trưng nổi bật của vùng này là địa hình núi cao, hiểm trở với dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ biên giới Việt Trung về đồng bằng Địa hình cắt xẻ mạnh, đại bộ phận lãnh thổ của vùng thuộc lưu vực sông Đà Vùng có khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa: mùa hè với gió mùa Tây Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, thời tiêt nóng
ẩm, mưa nhiều Mùa đông với gió mùa Đông Bắc, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có thời tiết lạnh, khô và ít mưa Tháng 4 và tháng 10 là những tháng giao mùa
+ Vùng Đồng bằng Sông Hồng: Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa trung du, miền núi phía Bắc và Tây Bắc với vùng biển phía Đông Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông dày đặc Đồng bằng sông Hồng vốn là sản phẩm bồi tụ của
hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Nét đặc trưng của vùng là có một mùa đông lạnh từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau Đồng thời mùa này cũng là mùa
Trang 24+ Vùng Bắc Trung Bộ: đây là nơi bắt đầu của dãy Trường Sơn, mà sườn Đông đổ xuống vịnh Bắc Bộ và biển Đông có độ dốc khá lớn Đại bộ phận lãnh thổ
là đồi núi lớn Đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia cắt, sông suối dốc, chảy xiết, thường gây lũ lụt bất ngờ Là vùng khắc nghiệt nhất so với các vùng trong cả nước Hàng năm có nhiều thiên tai nhất trong cả nước, chịu ảnh hưởng của gió phơn (gió Lào)
+ Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: phía Bắc có những khối núi đâm thẳng ra tận bờ biển, phía Nam địa hình có phần thoải hơn và có những đồng bằng ven biển
Về khí hậu, trên nền chung của cả nước là tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa; khí hậu của vùng còn mang sắc thái của khí hậu á xích đạo
+ Vùng Tây Nguyên: địa hình bao gồm các cao nguyên lượn sóng ở độ cao
600 – 800m so với mực nước biển Tây Nguyên nằm về phía Tây của dãy Trường Sơn, bề mặt địa hình dốc, thoải dần từ Đông sang Tây, thuộc chiều đón gió Tây và Tây Nam Sườn Đông dốc đứng ngăn chặn gió Đông Nam thổi vào Địa hình bị chia cắt phức tạp, có tính phân bậc rõ ràng Các bậc cao nằm về phía Đông, bậc thấp nhất ở phía Tây Tây Nguyên có nhiều dạng địa hình khác nhau, nhưng có thể khái quát thành 3 dạng địa hình: địa hình cao nguyên, địa hình vùng núi, địa hình thung lũng
+ Vùng Đông Nam Bộ: nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long với những vùng đất gò đồi lượn sóng
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long: địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình so với mực nước biển là 3 – 5m
- Địa hình là cơ sở của việc phân định ranh giới hành chính giữa các vùng lãnh thổ khác nhau Vì vậy việc nghiên cứu địa mạo là rất quan trọng đối với việc phân định ranh giới hành chính trong cả nước
1.2.2 Nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng phục vụ đánh giá, phân hạng thích nghi đất đai
Thổ nhưỡng là nơi tạo ra môi trường sống cho con người và các loài sinh vật trên Trái đất, là nền móng, nơi diễn ra mọi hoạt động sống, là nơi thiết đặt các hệ
Trang 25thống nông – lâm nghiệp để sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người
Sự hình thành và phát triển thổ nhưỡng gắn liền với sự phát triển địa hình Trên dạng địa hình nào sẽ hình thành nên loại thổ nhưỡng đó, vì vậy trong nghiên cứu thổ nhưỡng phục vụ mục đích nông nghiệp cần quan tâm đến nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển của nó Địa hình là cấu trúc của cảnh quan còn thổ nhưỡng phản ánh các dạng địa hình và các quá trình địa mạo Giữa địa hình và thổ nhưỡng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Có thể nói cảnh quan địa mạo nào sẽ cho thổ nhưỡng ấy [2] Mối quan hệ giữa địa mạo và thổ nhưỡng là mối quan hệ trái ngược nhau: Khi quá trình tạo hình thái mạnh, tức là bề mặt địa hình bị biến đổi mạnh thì quá trình tạo thổ nhưỡng sẽ giảm yếu, hơn nữa đất còn bị bào mòn, cắt cụt và trẻ hóa liên tục Điều này đặc biệt thấy rõ trong các miền bán khô hạn Khí hậu khắc nghiệt làm cho lớp phủ thực vật nghèo nàn thưa thớt, sườn bị các quá trình phong hóa vật lý và trọng lực bóc lộ liên tục Lớp thổ nhưỡng do đó mỏng dần, vì phần được cải tạo mới không bù lại được phần đã bị bóc đi
Mối tương quan này ảnh hưởng đến quá trình phát sinh thổ nhưỡng Nếu địa hình bị biến đổi mạnh mã sẽ dẫn tới sườn bị bóc lộ liên tục, lớp vỏ thổ nhưỡng không những bị nghèo, luôn bị trẻ hóa mà trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, dễ có
cơ hội tạo lớp vỏ phong hóa cứng như lớp vỏ phong hóa laterit điển hình ở Việt Nam
Trong Đệ Tứ, lãnh thổ Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng đã nhiều lần diễn ra sự biến đổi tương quan này Nguyên nhân sâu xa là do sự dao động khí hậu toàn cầu trong Đệ Tứ liên quan đến các thời kỳ nóng ẩm khác nhau Vào những giai đoạn khí hậu nóng là giai đoạn diễn ra quá trình phong hóa vật lý phát triển mạnh làm phá hủy đá gốc, tích tụ vật liệu, vỏ phong hóa khá dày Vào giai đoạn khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, tập trung làm cuốn trôi, vận chuyển vật liệu theo cả dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, hình thành các khe xói chia cắt bề mặt địa hình, khi đó quá trình tạo hình thái diễn ra mạnh mẽ Các sản phẩm phong
Trang 26hóa được vận chuyển từ trên núi cao, những nơi địa hình cao xuống nơi địa hình thấp và tích tụ ở đó
Vật liệu ở những nơi có địa hình cao – nơi có quá trình tạo hình thái mạnh bị vận chuyển đi nơi khác, có khi bị lộ trơ đá gốc tạo điều kiện cho quá trình phong hóa đá tiếp tục xảy ra vào những giai đoạn khí hậu nóng; còn những nơi có địa hình thấp trũng, quá trình tạo hình thái diễn ra yếu hoặc không diễn ra sẽ tập trung vật liệu kết hợp với lớp phủ thực vật dày hình thành lớp vỏ phong hóa khá dày, lớp vỏ thổ nhưỡng dày mà không bị vận chuyển đi nơi khác
Do đó, khi xem xét mối tương quan giữa quá trình tạo hình thái và quá trình tạo thổ nhưỡng không thể tách rời yếu tố khí hậu của môi trường địa lý và yếu tố vật chất, thạch học Quá trình trên mới chỉ dừng lại ở mức bóc mòn di chuyển vật liệu ở dạng thô Còn quá trình tạo lớp vỏ phong hóa laterit liên quan đến sự di chuyển của các oxit chứa trong thành phần thạch học của từng loại đá Sự hình thành lớp vỏ phong hóa này bị ảnh hưởng ngoài điều kiện khí hậu còn bị tác động rất lớn của điều kiện địa hình và thành phần thạch học.Vì không phải vỏ phong hóa laterit ở đâu cũng hình thành mà nó chỉ hình thành ở những địa hình gò đồi thoải, dốc từ 3-80 để có sự lưu thông nước ngầm tạo ra đới laterit ở những loại đá chứa nhiều khoáng vật silimanit, các đá giàu sắt, nhôm như: Nhóm đá phun trào trung tính – bazơ như andezit, andezitobazan, trachit…Các đá này nghèo SiO2, tương đối giàu Al2O3 và cao oxít sắt và kiềm thổ Loại đá này có hàm lượng SiO2 thấp < 52%, lượng SiO2 chỉ vừa đủ để cân bằng với lượng oxít sắt, oxít nhôm và các oxít khác để tạo thành khoáng vật Do đó nhiều khả năng sinh ra các quặng sắt, hoặc tạo
vỏ phong hóa nhiều sắt, nhôm là kiểu feralit có tầng sét nâu đỏ, hình thành khung xương, kết von
Thông qua việc phân tích đặc điểm của thổ nhưỡng và sự xuất hiện của lớp
vỏ phong hóa laterit có thể đánh giá được quá trình tạo hình thái Ngược lại thông qua hình thái địa hình có thể xác định được nguồn gốc của các loại đất khác nhau Trong cùng một điều kiện khí hậu, trên cùng một loại đá nhưng có nơi hình thành
Trang 27loại đất này, có nơi hình thành loại đất khác Do đó sẽ ảnh hưởng tới loại cây trồng
và hướng sử dụng tài nguyên đất
Trên mỗi đơn vị địa hình khác nhau sẽ xảy ra quá trình tạo hình thái khác nhau quyết định đến tính chất và độ dày của thổ nhưỡng Trên bề mặt đỉnh các núi thấp, thường thoải, độ dốc không lớn có khả năng lưu giữ các sản phẩm phong hóa tại chỗ xuống chân sườn Vì vậy, thổ nhưỡng rất mỏng hay có chỗ không có và lộ trơ đá gốc Dưới chân sườn chủ yếu xảy ra quá trình tích tụ vật liệu, do đó lớp thổ nhưỡng dày Tuy nhiên để có những hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất ở mỗi vùng lãnh thổ mà không gây hậu quả về sau thì cần phải phân tích đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng của khu vực đó
Sau khi phân tích đặc điểm địa mạo – thổ nhưỡng của khu vực nghiên cứu thì các nhà quản lý đất đia cần tiến hành công tác đánh giá, phân hạng đất Các kết quả đánh giá đất là cơ sơ xác định tiềm năng đất đai, lập quy hoạch sử dụng đất, thu thuế sử dụng đất và phục vụ cho nhiều mục đích phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nhất là đối với nông – lâm nghiệp
Căn cứ vào hướng dẫn của FAO, quy trình thực hiện đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất gồm 9 bước như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu cần đánh giá
Bước 2: Thu thập tài liệu, số liệu
Bước 3: Xác định các đơn vị đất đai
Bước 4: Xác định các loại hình sử dụng đất
Bước 5: Đánh giá khả năng thích nghi
Bước 6: Xác định và đánh giá hiện trạng kinh tế - môi trường
Bước 7: Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất
Bước 8: Quy hoạch sử dụng đất
Bước 9: Ứng dụng kết quả của việc đánh giá đất
Chín bước trên không phải tách rời nhau mà có quan hệ hữu cơ với nhau Tuy nhiên có thể tách quá trình này thành 2 công đoạn lớn:
Trang 281 Đánh giá đất đai (bước 1 – 7)
2 Quy hoạch sử dụng đất (bước 8 – 9)
Sơ đồ về trình tự hoạt động đánh giá đất bao gồm các nội dung chính sau:
- Dựa vào mục tiêu và quy mô của từng dự án tiến hành thu thập các tài liệu, thông tin có sẵn về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội có liên quan đến sử dụng đất của vùng nghiên cứu phục vụ cho mục đích đánh giá đất đai
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và mô tả các đơn vị bản đồ đất đai dựa trên kết quả điều tra tài nguyên đất (loại đất, khí hậu, địa hình, thực vật, thủy văn, nước ngầm…)
- Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất với các thuộc tính chính liên quan đến:
+ Các chính sách và mục tiêu phát triển
+ Những hạn chế chủ yếu trong sử dụng đất
- Đối chiếu, xếp hạng thích nghi của đơn vị đất đai đối với loại hình sử dụng đất trên cơ sở so sánh các yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình với các tính chất của các đơn vị đất đai
- Lựa chọn loại hình sử dụng đất thích hợp nhất, đáp ứng các mục tiêu kinh
tế, xã hội, môi trường và đề xuất các hệ thống sử dụng đất tối ưu phục vụ quy hoạch
sử dụng đất vùng nghiên cứu
- Qua đây ta thấy, vai trò nghiên cứu địa mạo góp phần không nhỏ trong quy tình đánh giá đất đai Mà thể hiện rõ nhất ở khâu xác định các đơn vị đất đai và đánh giá thích nghi đất đai
Việc lựa chọn các chỉ tiêu xác định các đơn vị đất đai căn cứ vào mục đích, phạm vi đánh giá và và yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất trong vùng nghiên cứu Có thể chia ra các nhóm chỉ tiêu xác định các đơn vị bản đồ đất đai như sau:
- Nhóm các chỉ tiêu về đất: bao gồm các loại đất, tầng dày lớp đất, độ dốc, độ phì, thành phần cơ giới…
- Nhóm các chỉ tiêu về chế độ nước: như điều kiện tưới tiêu, mức độ ngập lụt
và tình trạng xâm nhập mặn…
Trang 29- Nhóm chỉ tiêu về khí hậu thời tiết: nhiệt độ, lượng mưa, gió, sương mù…Các chỉ tiêu trên được phân cấp thành các chỉ tiêu chi tiết hơn nhằm phân biệt
rõ các đơn vị đất đai với nhau và đáp ứng các yêu cầu đánh giá thích nghi đất đai đối với loại hình sử dụng đất
Chẳng hạn, theo kết quả đánh giá đất toàn quốc của Viện Quy hoạch và thiết
kế nông nghiệp cho thấy các chỉ tiêu xác định các đơn vị đất đai bao gồm 7 chỉ tiêu: loại đất, tầng dày lớp đất, độ dốc, lượng mưa trung bình/năm, thủy văn nước mặt, điều kiện tưới tiêu và nhiệt độ
Bảng 1 : Các chỉ tiêu xác định các đơn vị đất đai
11 Nhóm đất mòn trơ sỏi đá
G1 G2
G3 G4
G5 G6 G7 G8 G9 G10
G11 G12
Trang 306 Tưới tiêu 1 Tưới tiêu chủ động
2 Tưới tiêu bán chủ động
3 Không được tưới tiêu
I1 I2 I3
Nguồn: Viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp 1995
Đối với các khu vực đánh giá có diện tích không lớn hơn và có cùng điều kiện khí hậu thời tiết thì trong xác định các đơn vị bản đồ đất đai một số các chỉ tiêu được coi là đồng nhất như lượng mưa, nhiệt độ…Mặt khác, để làm rõ sự khác biệt
về tính chất đất đai có thể dùng các chỉ tiêu phân cấp chi tiết hơn như thành phần cơ giới, độ phì nhiêu…
Trang 31Bảng 2: Các chỉ tiêu và phân cấp các chỉ tiêu đơn vị bản đồ đất đai huyện Ba Vì
9 Đất đỏ vàng trên đá macma bazơ trung tính
10 Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước
11 Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
G1 G2 G3 G4 G5 G6 G7 G8 G9 G10 G11
Theo hướng dẫn của FAO thì yêu cầu sử dụng đất được xác định theo các chỉ tiêu tạo lập đơn vị đất đai (như thổ nhưỡng, tầng dầy của đất, độ dốc, thành phần cơ
Trang 32giới…) và các chỉ tiêu phân cấp của chúng theo hướng mức độ thích nghi từ cao tới thấp; gồm 4 cấp:
S1 là rất thích nghi
S2 là thích nghi trung bình
S3 là ít thích nghi
N là không thích nghi
Quy trình đánh giá thích nghi được tiến hành theo các bước sau:
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất bền vững và ổn định của hiện tại để phát triển tiếp tục cho giai đoạn tương lai
- Xem xét, đánh giá các loại hình sử dụng đất không bền vững ở thời điểm hiện tại
- Xây dựng phương án quy hoạch và các biện pháp cải tạo đất, cải tạo hệ thống thủy lợi và thiết kế đồng ruộng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng (tức là thay đổi loại hình sử dụng đất)
- Xác định các loại hình sử dụng đất cho tương lai
- Phân hạng thích nghi đất đai cho giai đoạn tương lai
Trên cơ sở kết quả phân hạng thích nghi đất đai và từ phân tích điều kiện kinh tế xã hội và môi trường tiến hành đề xuất sử dụng đất cho vùng nghiên cứu giai đoạn hiện tại và tương lai với nội dung chủ yếu sau:
- Xác định được các hệ thống sử dụng đất thích hợp cho vùng nghiên cứu
- Đề xuất loại hình sử dụng đất thích hợp nhất tức là cho hiệu quả kinh tế cao
và bền vững cả về điều kiện xã hội và môi trường
- Đề xuất các chính sách sử dụng đất, các dự án đầu tư sản xuất và các biện pháp khoa học kỹ thuật phù hợp với loại hình sử dụng đất đã được lựa chọn cho vùng nghiên cứu
1.2.3 Nghiên cứu cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng trong sử dụng hợp lý tài nguyên đất
Đất là môi trường sống của các loài sinh vật trên Trái đất, là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là cơ sở vật chất tạo ra của cải vật chất của con người, đồng
Trang 33thời là nơi chứa các loại rác thải của con người thải ra môi trường Đất là tài nguyên có hạn, đất có khả năng canh tác lại càng ít ỏi, môi trường đất hiện nay đang ngày càng bị ô nhiễm, thoái hóa và xói mòn đất Vì vậy sử dụng hợp lý tài nguyên đất là việc làm cấp thiết và quan trọng không chỉ của các nhà quản lý mà còn của mỗi cá nhân
Theo các nhà khoa học Nga V.P.Trôiski (1997) và X.N.Vôncôva (1995) thì sử dụng hợp lý tài nguyên đất là sử dụng đất đai trong đó chú ý nhiều và đầy đủ tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế và đặc điểm của lãnh thổ, đảm bảo cơ bản lợi ích về kinh
tế của xã hội, đem lại hiệu quả cao trong sản xuất và các dạng hoạt động khác, đảm bảo bảo vệ và tái sản xuất sản phẩm và những tính chất ích lợi khác của đất đai Trước đó nhiều năm, FAO đã đưa ra các quy trình đánh giá đất, tạo cho đất đai một sự phát triển bền vững
Các dạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng được khai thác triệt để, mạnh mẽ cho nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế, sự khai thác này nhiều khi lại quá mạnh, nó vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của các dạng tài nguyên, dẫn đến hậu quả to lớn là sự suy thoái của tự nhiên và điều kiện môi trường của hành tinh chúng ta
Vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
rõ ràng đã trở thành vấn đề bức thiết, có tầm quan trọng to lớn Trong đó, trước hết
đã nảy sinh một nhu cầu có sự đánh giá tổng hợp cac điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên lãnh thổ, xây dựng các cơ sở khoa học sử dụng hợp lý chúng
Sử dụng hợp lý tài nguyên đất là sử dụng đất làm cho đất không bị thoái hóa Nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng là nghiên cứu tổng thể các nhân tố hình thành đất
và các quá trình bề mặt tác động lên sự hình thành đó Mỗi đơn vị cảnh quan phản ánh tổng thể các yếu tố tự nhiên, khi con người tác động lên một trong các hợp phần
sẽ làm các hợp phần khác bị biến đổi Do vậy, để quản lý cũng như sử dụng hợp lý tài nguyên đất cần phải nghiên cứu quá trình tiến hóa của cảnh quan đất
Cơ sở khoa học quan trọng của việc sử dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên, tài
Trang 34cảnh quan và nhất là bản đồ cảnh quan ở các tỷ lệ khác nhau sẽ cho một phương thức tiếp cận tổng hợp nhất, tương đối gần gũi, xác thực với hiện trạng tự nhiên mỗi vùng Qua việc phân tích các quy luật hình thành, đặc điểm phân hóa theo không gian và thời gian, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mối liên quan
và tác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần của tự nhiên cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau và đặc biệt là việc đánh giá tổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽ cho phép xác định mức độ “thích hợp nhất”, tỉ tương đối “thích hơp” hay
“không thích hợp” của mỗi một đơn vị lãnh thổ cho từng ngành sản xuất, từng dạng
sử dụng tài nguyên,… Chính trong quá trình phân tích cảnh quan, miêu tả các đặc điểm của từng đơn vị trong hệ thống phân loại các tổng hợp thể tự nhiên, đã làm sáng tỏ không chỉ các đặc điểm chung, các đặc điểm riêng của cảnh quan đó, mà còn một cách định tính làm rõ những đặc điểm chức năng của chúng
Cũng qua các nội dung phân tích cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng đã làm sáng
tỏ thêm những đặc trưng biến động về cấu trúc, chức năng của chúng dưới tác động của các hoạt động mang tính nhân tác Tác động của con người lên các đơn vị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ thông qua các hoạt động sản xuất, kinh tế đã làm biến đổi không chỉ thành phần và yếu tố tự nhiên, các đơn vị cảnh quan theo từng cấp, mà còn phản ánh khá rõ ràng những vấn đề mang tính lịch sử sử dụng lãnh thổ, những kinh nghiệm thực tiễn phát triển sản xuất, sử dụng các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích ứng dụng
Nghiên cứu cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các quá trình bề mặt và sự hình thành đất Xem xét được lịch sử tiến hóa của các đơn vị địa mạo – thổ nhưỡng để từ đó có các biện pháp khai thác sử dụng hợp lý
1.2.4 Nghiên cứu địa hình và các quá trình bề mặt cho quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất được xem là công việc rất phức tạp giải quyết các vấn đề như sử dụng đất và bảo vệ đất, giảm thiểu các tai biến thiên nhiên một cách tối ưu hướng tới phát triển bền vững ở từng địa phương và từng thời điểm nhất định
Trang 35Theo Pierre Merlin, quy hoạch nói chung là sự can thiệp cố ý, nghĩa là những hành động được thực hiện có thỏa thuận nhằm bố trí, sắp đặt có trật tự đối với các khu dân cư, các hoạt động kinh tế,các công trình xây dựng, các thiết bị, cơ sở hạ tầng và các hoạt động truyền thông Để đảm bảo quy hoạch lãnh thổ đạt hiệu quả tốt, việc quy hoạch cần phải đạt được 3 yêu cầu sau:
+ Sử dụng và có hiệu quả cao nhất các tài nguyên lãnh thổ
+ Giảm bớt sự phát triển bất cân đối trong sự phát triển các lãnh thổ
+ Tiên đoán để có sự phát triển tốt hơn về mặt lãnh thổ, đảm bảo ổn định môi trường tự nhiên và xã hội
Các yêu cầu này chỉ đạt được khi công tác quy hoạch lãnh thổ đi theo con đường hòa hợp với thiên nhiên, tức là phải theo quan điểm sinh thái môi trường Cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc quy hoạch nói chung đã khẳng định để đạt được các mục tiêu kinh tế, chính trị của công tác này thì các nhiệm vụ chuyên môn – nghiên cứu các điều kiện tự nhiên trong đó việc nghiên cứu địa mạo vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết
Nghiên cứu địa hình và các quá trình bề mặt đóng vai trò quan trọng trong việc chọn và đánh giá mặt bằng xây dựng, xác định các điều kiện đặt nền móng cho các công trình, xác định quy luật phát triển theo thời gian và không gian của các quá trình động lực ngoại sinh quyết định đến sự ổn định địa hình các công trình xây dựng lên nó Các tài liệu địa mạo còn có ý nghĩa lớn đối với việc tìm kiếm và xác định các quy luật thành tạo, phân bố các khoáng sản ngoại sinh, đặc biệt là vật liệu xây dựng Việc nghiên cứu, tìm hiểu những đặc trưng địa mạo khu vực, đặc biệt là động lực của các quá trình ngoại sinh là đối tượng không thể thiếu được trong quy hoạch sử dụng đất đai
Kết quả cuối cùng của mỗi cuộc nghiên cứu địa mạo trên bất kỳ lãnh thổ nào thường là việc xây dựng bản đồ địa mạo lãnh thổ nào đó Bản đồ này biểu thị sự mô
tả cụ thể sự phân bố về mặt không gian theo lãnh thổ hay các dạng địa hình cơ bản riêng biệt nào phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh này hay nguồn gốc phát sinh
Trang 36Bản đồ địa mạo thật ra là cơ sở để đặt kế hoạch và lập dự án cho các biện pháp và công trình xây dựng đòi hỏi phải nghiên cứu sơ bộ địa hình, và cũng là theo yêu cầu của công tác đó mà bản đồ đã được thành lập một cách thích hợp Có thể định nghĩa
“bản đồ địa mạo là sản phẩm của công trình nghiên cứu địa hình bề mặt Trái Đất về các mặt hình thái, nguồn gốc, lịch sử phát triển và những thay đổi hiện tại của nó”
Bản đồ địa mạo phải nêu đặc tính của các thành phần địa hình đó về mặt nguồn gốc phát sinh trong mối liên hệ về cấu trúc bên trong của chúng, thí dụ có thể thể hiện dải đất cao có sườn không đối xứng như là một địa hình dạng đơn nghiêng
có sườn dốc là bậc đoạn tầng có sự xen kẽ những lớp thạch nham có độ cứng không đồng nhất hoặc ít thể hiện những dãy, cồn cát được thành tạo do hoạt động của gió
Trên cơ sở bản đồ địa mạo hiện nay của một lãnh thổ nào đó, có thể dựng lại được với một mức độ chính xác nhiều hay ít của địa hình lãnh thổ trong quá khứ và cũng có làm dự đoán sự phát triển trong tương lai của địa hình lãnh thổ đó Thông qua bản đồ địa mạo có thể hiểu được đến chừng mực nào đó lịch sử phát triển của địa hình lãnh thổ vẽ trên bản đồ Bản đồ địa mạo không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà rất quan trọng đối với việc lập kế hoạch xây dựng các công trình, quy hoạch
đô thị góp phần cảnh báo các tai biến thiên nhiên sẽ xảy ra trong tương lại Việc thành lập bản đồ địa mạo bắt đầu cho việc xác định các đơn vị cơ bản hình thành cảnh quan
Nội dung quan trọng nhất trong việc nghiên cứu địa mạo phục vụ quy hoạch
sử dụng đất là việc xây dựng bản đồ phân vùng địa mạo Thành lập bản đồ phân vùng địa mạo theo nguồn gốc phát sinh và theo nguồn gốc hình thái nhằm mục đích vạch các giới hạn địa hình, thể hiện được mối quan hệ giữa các nhân tố hình thành địa hình và có thể nhận được khái niệm rõ rệt về địa hình
Các bản đồ địa mạo được thành lập theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái, trên bản đồ phản ánh các kiểu địa hình, hình dáng địa hình, phản ánh cấu trúc địa chất của cảnh quan Trên bản đồ địa mạo thành lập theo nguyên tắc này các kiểu địa hình được thể hiện với các tên gọi: núi kiến tạo – xâm thực, núi bóc mòn – xâm thực, đồng bằng bóc mòn – tích tụ, đồng bằng tích tụ… Nguyên tắc này sử dụng trong
Trang 37việc thành lập bản đồ địa mạo tỷ lệ trung bình và tỷ lệ nhỏ, nội dung phản ánh một cách đặc trưng chung
Do đó bản đồ địa mạo chi tiết có thể được sử dụng thiết thực cho nhiều ngành trong xã hội ngày nay Trong dự án kỹ thuật sử dụng bản đồ địa mạo ở giai đoạn thăm dò có thể cung cấp nhiều thông tin và tiết kiệm nguồn tài chính Quản lý các thông tin địa mạo có ích như một công cụ cho mục đích lập kế hoạch và các dự
án công nghệ thông tin là một công cụ cho mục đích lập kế hoạch và các dự án công nghệ thông tin là một công cụ tốt để bổ sung cho bản đồ địa chất Các thông tin được trình bày trong bản đồ là mối quan tâm lớn trong các dự án cho nông nghiệp, khu dân cư, truyền thông, du lịch, giải trí và quản lý các nguồn tài nguyên
Hiện nay bản đồ địa mạo chưa có nguyên tắc thành lập nào cụ thể Dựa vào đối tượng của bản đồ địa mạo người ta chia ra 4 nguyên tắc thành lập bản đồ địa mạo khác nhau và được sử dụng một cách có hiệu quả:
- Nguyên tắc nguồn gốc – hình thái phản ánh lên bản đồ các kiểu địa hình và nhóm kiểu địa hình
- Nguyên tắc nguồn gốc phản ánh các bề mặt sơ đẳng đồng nhất về nguồn gốc – hình thái như kiểu địa hình núi, kiểu địa hình đồng bằng…
- Nguyên tắc nguồn gốc – lịch sử phản ánh các bề mặt đồng nhất hình thái – nguồn gốc và cùng tuổi
- Nguyên tắc kiến trúc – hình thái và chạm trổ hình thái hay còn gọi là nguyên tắc địa mạo cấu trúc Nguyên tắc này phản ánh các kiểu kiến trúc hình thái, các đơn vị kiến trúc - hình thái (là những thể sơn văn – địa chất trong đó hình thái bên ngoài có đường ranh giới phù hợp với cấu trúc bên dưới và các chạm trổ hình thái (trên bề mặt bị chia nhỏ, phức tạp
Với mục đích thành lập bản đồ địa mạo phục vụ trong phân vùng, quy hoạch
và quản lý sử dụng hợp lý lãnh thổ thường phải sử dụng nguyên tắc 1, tuy nhiên nếu phục vụ vấn đề sử dụng đất cụ thể yêu cầu bản đồ địa mạo phản ánh nguồn gốc và tuổi địa hình Đối với bản đồ địa mạo tỷ lệ lớn 1:25000 thể hiện các dạng địa hình
Trang 38và các thành phần địa hình khác ở cấp nhỏ hơn Trên bản đồ còn biểu hiện thành phần đất đá của lớp phủ
Quy hoạch sử dụng đất là sử dụng từng dạng địa hình vì vậy trên bản đồ địa hình phải thể hiện cấu trúc địa chất, qua đó phản ánh các kiểu địa hình, và ngược lại, liên quan nguồn gốc hình thái của địa hình Đồng thời trên mỗi kiểu địa hình xảy ra những quá trình địa mạo khác nhau Vì vậy trên bản đồ địa mạo phải thể hiện được các dạng địa hình cụ thể phản ánh kiến trúc hình thái và chạm trổ hình thái
Do đó với mục đích quản lý và sử dụng lãnh thổ nội dung nghiên cứu địa mạo là nghiên cứu hình thái và trắc lượng hình thái địa hình để phân ra các cùng lãnh thổ, ứng với mỗi kiểu địa hình có những cách sử dụng và quản lý khác nhau Địa hình vùng núi cần phải có những biện pháp bảo vệ và trồng rừng, có các biện pháp canh tác hợp lý trên đất dốc Vùng đồng bằng thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, tuy nhiên phải chú ý đến việc tiêu thoát nước tránh ngập lụt Vùng gò đồi có địa hình cao hơn không bị ngập lụt, tuy nhiên xảy ra quá trình bóc mòn sườn do hoạt động xói mòn của dòng chảy, vì vậy cần có những biện pháp sử dụng sao cho hợp lý nhất Những vùng trũng thấp ở các thung lũng xen đồi sót có thể phát triển
hệ thống các ao hồ vừa có diện tích nuôi trồng thủy sản vừa tạo cảnh quan đẹp, thoáng mát
Nghiên cứu hình thái địa hình giúp cho việc sơ bộ vạch ra các kế hoạch sử dụng đất đai; nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử phát triển địa hình giúp cho việc sử dụng từng dạng địa hình cụ thể hơn, có thể thấy được các giai đoạn phát triển của địa hình đã trải qua, đang tồn tại và sẽ trải qua trong tương lai để có những biện pháp giảm thiểu các tai biến có thể xảy ra Vì vậy, bản đồ địa mạo chung được thành lập theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái
1.2.5 Nghiên cứu địa hình và các quá trình bề mặt cho quản lý đất đai trong bối cảnh biến đổi môi trường
Ngày nay, các hiểm họa và thách thức về môi trường không còn là giới hạn trong phạm vi của từng quốc gia hay từng khu vực mà đã mang tính toàn cầu Một
Trang 39trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại đó là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng – những biểu hiện chính của biến đổi khí hậu (BĐKH)
Việt Nam là một trong những nước bị uy hiếp nhiều nhất bởi sự BĐKH toàn cầu Trong đó, tài nguyên đất là một trong những đối tượng chịu tác động mạnh mẽ của BĐKH Các vấn đề ngập úng, hạn hán, sa mạc hóa, nhiễm mặn, xói mòn, rửa trôi, sạt lở… ngày càng nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và
sự phát triển kinh tế - xã hội
Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến đất đai Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đất thể hiện ở lượng mưa và nhiệt; ảnh hưởng gián tiếp thông qua sinh vật.BĐKH gây rối loạn chế độ mưa, nguy cơ nắng nóng nhiều hơn,… làm cho lượng sinh dưỡng trong đất bị mất cao hơn, hiện tượng xói mòn, khô hạn nhiều hơn Nước biển dâng, thiên tai, bão lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng nhiễm mặn, ngập úng, sạt lở bờ sông, bờ biển… dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất
+ Thực trạng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất:
Sự không đồng nhất về địa hình, địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng cũng như sự phát
triển kinh tế xã hội đã tạo nên những vùng lãnh thổ đặc trưng, đồng thời cũng gặp phải những tác động của sự thay đổi các yếu tố khí hậu đến tài nguyên đất khác nhau Nguyên nhân của chúng không thể khẳng định hoàn toàn là do BĐKH nhưng cũng không thể phủ nhận là không chịu ảnh hưởng của BĐKH
- Đất bị xói mòn rửa trôi: BĐKH gây rối loạn chế độ mưa nắng, nguy cơ nắng nóng nhiều hơn, lượng mưa thay đổi, lượng dinh dưỡng trong đất bị mất cao hơn trong suốt các đợt mưa dài, gây ra hiện tượng xói mòn nhiều hơn Các quan trắc có hệ thống về xói mòn đất từ 1960 đến nay cho thấy trên thực tế có khoảng 10 – 20% lãnh thổ Việt Nam bị ảnh hưởng xói mòn từ trung bình đến mạnh
Vùng Tây Bắc đất dốc chiếm 98% nên nguy cơ thoái hóa và xói mòn đất là rất lớn hàng năm, chỉ trong 6 tháng mùa mưa, lượng đất mất đi đã chiếm tới 75 –
Trang 40trong các trận mưa giông ở thời kỳ chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa (tháng 3- 4) hoặc từ mùa mưa sang mùa khô (tháng 11)
Ở miền Trung, mùa mưa tập trung vào 4 tháng đầu năm và giữa mùa gió mùa Đông Bắc, có nơi mưa dồn dập từ tháng 9 đến tháng 12, là nguyên nhân chính gây xói mòn, rửa trôi
Sạt lở đất ở ven sông và vùng cao: Sạt lở đất ven sông và vùng cao cũng là một vấn đề xảy ra thường xuyên ở Việt Nam Dọc theo các hệ thống sông vào mùa mưa lũ, có hiện tượng sạt lở đất nghiêm trọng ở nhiều nơi, đặc biệt ở phần hạ lưu các con sông Hồng, sông Cửu Long, Trà Khúc,
Những nơi có độ dốc cao, tầng đất không dày, sâu trên 1m đã gặp ở những tầng đá vụn, đất không bám được vào lớp đá vụn phía dưới bị bong ra, lở xuống phía dưới theo trong lực Ở Mường Tè (Lai Châu), Yên Sơn (Sơn la)… các trận mưa rào đầu vụ đã làm trượt cả tầng đất mặt đang trồng lúa, ngô xuống dưới chân dốc
Sạt lở, trượt lở không chỉ làm lấp đất đang sản xuất mà còn làm hư hại đường giao thông, công trình xây dựng và có những vụ đã vùi lấp một phần diện tích bản làng, sông suối
- Đất bị khô hạn và hoang mạc hóa: Sự phối hợp không hài hòa giữa chế độ nhiệt và chế độ tạo mưa tạo nên sự khắc nghiệt có khả năng thúc đẩy các quá trình hạn hán, hoang mạc hóa của đất Nguy cơ nắng nóng và đất đai bị khô cằn nhiều hơn làm giảm năng suất trồng trọt
Sự gia tăng nhanh chóng diện tích hoang mạc ở các vùng khô hạn, bán khô hạn, kể cả một số vùng ẩm ướt không chỉ do khí hậu và BĐKH, mà còn do sức ép của sự gia tăng dân số và một số hoạt động của con người Diện tích đất liên quan đến hoang mạc phân bố trên khắp các vùng trong cả nước, đặc biệt ở vùng Tây Bắc
và Duyên hải miền Trung Theo kết quả điều tra gần đây nhất, cả nước có tới 9,34 triệu ha đất đồi núi trọc, đồi cát,trảng cỏ có liên quan đến hoang mạc hóa, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc, trong đó khoảng 7,85 triệu ha chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa.Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều vùng