Đúng như tên gọi của mình, trào lưu Văn học vết thương để chỉ những tác phẩm văn học viết về nỗi đau suốt mười năm “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc.. Tùy tưởng lục có thể coi là một tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ NGUYÊN
ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC VẾT THƯƠNG
TRUNG QUỐC QUA TÙY TƯỞNG LỤC CỦA
BA KIM VÀ DỊCH THUẬT TÁC PHẨM NÀY
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Hà Nội-2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ NGUYÊN
ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC VẾT THƯƠNG
TRUNG QUỐC QUA TÙY TƯỞNG LỤC CỦA
BA KIM VÀ DỊCH THUẬT TÁC PHẨM NÀY
TẠI VIỆT NAM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 02 45
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền
Trang 33 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
Chương 1: VĂN HỌC VẾT THƯƠNG - CÁC NGHIÊN CỨU Ở
TRUNG QUỐC VÀ TIẾP NHẬN Ở VIỆT NAM
12
1.1 Trào lưu sáng tác Văn học vết thương tại Trung Quốc
1.2 Nghiên cứu trào lưu Văn học vết thương Trung Quốc ở
2.2 Đặc trưng Văn học vết thương trong Tùy tưởng lục
2.2.1 Vạch trần tội ác của “bè lũ bốn tên”
2.2.2 Tiếp nối tinh thần Ngũ Tứ
2.2.3 Tinh thần tự sám hối trong Tùy tưởng lục
34
34
41
47
Chương 3: DỊCH THUẬT TÙY TƯỞNG LỤC Ở VIỆT NAM 53
3.1 Vấn đề tái cấu trúc Tùy tưởng lục trong bản dịch tiếng Việt 53
Trang 43.2 Thông điệp tác phẩm sau tái cấu trúc 58
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vào những năm 70 - 80 trên văn đàn Trung Quốc, điều đáng chú ý nhất
có lẽ chính là trào lưu Văn học vết thương Văn học vết thương nguyên gốc tiếng Trung là 伤痕文学 (tức văn học vết thương hay vết sẹo, nhưng ở Việt Nam chúng ta quen dùng với thuật ngữ “Văn học vết thương”) Đúng như tên gọi của mình, trào lưu Văn học vết thương để chỉ những tác phẩm văn học viết về nỗi đau suốt mười năm “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc Mười năm ấy với những nỗi đau, ám ảnh không thể xóa mờ trong trái tim, tâm trí những người trí thức, vết thương bên ngoài thể xác của họ có thể lành nhưng vết thương trong tâm hồn thì vẫn mãi nhức nhối không yên Mười năm “cách mạng văn hóa” là mười năm của khổ đau, mà khổ đau nhất ở đây chính là sự
áp chế về mặt tư tưởng Chính vì vậy, vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, các nhà văn Trung Quốc
đã nhìn lại quãng thời gian đen tối ấy, viết lại những nỗi đau mà vết thương
nó để lại vẫn trong trái tim họ Văn học vết thương phản ánh tấn bi kịch tinh thần mà người trí thức phải chịu trong mười năm “cách mạng văn hóa”, nhằm phủ định cuộc “cách mạng văn hóa” kia, đồng thời Văn học vết thương còn là
sự tiếp nối truyền thống tinh thần đấu tranh của người trí thức từ thời Văn học Ngũ Tứ Đó là tinh thần khai minh, sự dũng cảm của những người cầm bút dám đứng lên để bảo vệ lẽ phải, sự tự do (không chỉ thể xác mà còn là cả tinh thần) cho những người trí thức Không chỉ phản ánh, Văn học vết thương còn như một lời sám hối, phản tư của bản thân nhà văn đối với một giai đoạn lịch
sử (cụ thể ở đây chính là mười năm “cách mạng văn hóa”) Và Văn học vết thương cần được nhìn nhận trong dòng chảy văn học Trung Quốc với tư cách
Trang 6tiếp nối tinh thần của văn học Ngũ Tứ trước đó Ngoài ra, Văn học vết thương cũng bắt đầu chú ý tới những con người, những số phận nhỏ bé trong xã hội Tuy chỉ kéo dài trong khoảng chưa đầy mười năm nhưng Văn học vết thương
có giá trị lịch sử to lớn, nó chính là trào lưu mở đầu cho hàng loạt trào lưu văn học sau đó của Trung Quốc, như Văn học phản tư, Văn học cải cách, Văn học tầm căn Có thể ví Văn học vết thương như cánh én báo hiệu mùa xuân trên văn đàn Trung Quốc hiện đại
Những nhà văn tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương có thể kể tới
Ba Kim, Tiêu Kiền, Vương Tây Ngạn, Kha Linh, Hồ Phong, Ngưu Hán, Tân Địch, Trần Kính Dung, Ngải Thanh, Công Lưu, Lưu Sa Hà…
Trong đó, Ba Kim (tên thật Lý Nghiêu Đường) được coi là “cây đại thụ” trong nền văn học Trung Quốc, là một trong những nhà văn hiện đại nổi tiếng nhất Trung Quốc Ông sinh ra trong một gia đình quan lại phong kiến, chính vì vậy, từ nhỏ Ba Kim đã phải tiếp xúc rất nhiều chuyện bất công, bất hợp lý trong chính dinh cơ rộng lớn của gia đình mình Ông oán ghét, thậm chí căm thù những đấu đá, bất công của chế độ phong kiến ấy Tới năm 1919, phong trào Ngũ Tứ như một luồng gió mới thổi bùng lên tư tưởng dân chủ, đổi mới trong Ba Kim Ông say mê sáng tác vì đó như một cách hữu hiệu để bày tỏ tư tưởng của Ba Kim Và tinh thần ấy như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong
các tác phẩm của Ba Kim, mà sau này, trong Tùy tưởng lục, tinh thần phơi
bày hiện thực đen tối của xã hội, để từ đó kêu gọi mọi người chống lại “cách mạng văn hóa”, cũng như sự phản tư, sám hối của chính nhà văn - người
trong cuộc - đã để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc Và Tùy tưởng lục
cũng trở thành một trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu Văn học vết thương của Trung Quốc
Tuy nhiên, ở Việt Nam, Ba Kim chưa được biết tới nhiều, chủ yếu chỉ
là những giới thiệu sơ lược, các tác phẩm của ông cũng chỉ được dịch rất ít,
Trang 7gồm Gia đình, Mùa xuân, Trời lạnh về khuya và Tùy tưởng lục Trong đó tác phẩm Tùy tưởng lục nguyên bản gồm năm tập, nhưng người dịch (Trương
Chính, Ông Văn Tùng) chỉ chọn trong mỗi tập một số bài để dịch thành một
tập Tùy tưởng lục bằng tiếng Việt Tùy tưởng lục có thể coi là một trong
những tác phẩm tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương, nó là lời tố cáo, phản tư, sám hối của một nhà văn lớn của Trung Quốc về cuộc “cách mạng văn hóa” suốt mười năm Như Ba Kim từng nói, tập sách này như một lời nhắc nhớ về những nỗi đau trong quá khứ, để mỗi người không ai được quên
về những tội ác từng xảy ra, để ngăn chặn những tội ác như thế có thể xảy ra thêm một lần nữa
Ở Việt Nam, trào lưu Văn học vết thương cũng mới chỉ được giới thiệu một cách sơ lược, chưa có một công trình nghiên cứu toàn vẹn nào về trào lưu
văn học này Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đặc trưng
văn học vết thương Trung Quốc qua Tùy tưởng lục của Ba Kim và dịch
thuật tác phẩm này tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra một
cái nhìn sơ bộ về trào lưu văn học vết thương Trung Quốc đặt trong sự quan sát và khái quát về tình hình dịch thuật cũng như tiếp nhận Văn học vết thương Trung Quốc ở Việt Nam Chúng tôi cũng sẽ đi sâu nghiên cứu về
những biểu hiện của Văn học vết thương qua tác phẩm cụ thể là Tùy tưởng lục
cũng như việc tái cấu trúc tác phẩm này qua bản dịch tiếng Việt của tác phẩm
Trang 8chương một “Trở lại với tinh thần Ngũ Tứ” tác giả đã giới thiệu về bối cảnh lịch sử, các đặc trưng và các tác giả tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương Trào lưu Văn học vết thương được hiểu như trào lưu mở đầu cho văn học thời
kỳ mới, được ra đời sau chính sách cởi trói cho văn nghệ của chính phủ Trung
Quốc Trào lưu được định danh qua tên tác phẩm Vết thương của Lư Tân Hoa
Chỉ là một phần trong chương đầu tiên của cuốn sách, tuy nhiên đã khái quát cho người đọc cái nhìn bao quát, đầy đủ về trào lưu văn học này
Tiếp tới, công trình được coi là đầy đủ nhất về nghiên cứu Văn học vết thương là luận án 作为文艺思潮的伤痕文学(1976 - 1984 年)(“Văn học vết thương” với tư cách là một trào lưu văn học (năm 1976 - 1984)) của tác
giả Vương Quỳnh, bảo vệ tại Đại học Sư phạm Hoa Đông, Trung Quốc năm
2009 Trong công trình này, tác giả đã mô tả rất chi tiết bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành, đặc trưng nội dung, ý nghĩa cũng như những hạn chế của trào lưu Văn học vết thương Luận án được cấu trúc gồm bốn chương, đã nêu lên mối quan hệ của “phong trào giải phóng tư tưởng” của Văn học vết thương và “phong trào thơ ca Thiên An Môn”, xem xét Văn học vết thương với tư cách một hình thái ý thức của lịch sử trần thuật mang tính hiện đại, xuất hiện mối quan hệ phức tạp giữa văn học và chính trị Đồng thời thông qua lịch
sử ngữ cảnh mà tái hiện quá trình hình thành khái niệm Văn học vết thương, thông qua một số tác phẩm kinh điển để nghiên cứu trào lưu này Luận án so sánh trào lưu Văn học vết thương với các trào lưu khác để từ đó nhìn nhận tiến trình của văn học Trung Quốc hiện đại Từ đó đi tới kết luận quá trình hình thành, phát triển, suy thoái của trào lưu Văn học vết thương cũng chính
là quá trình chữa lành vết thương do “cách mạng văn hóa” để lại với văn học
và lịch sử tư tưởng Trung Quốc
Bên cạnh đó cũng có những công trình nghiên cứu tiếp cận trào lưu
Văn học vết thương ở những khía cạnh khác nhau, như luận án “伤痕” 与
Trang 9“反思”文学中的创伤叙事研究 (Nghiên cứu tự sự vết thương trong văn học “vết thương” và văn học “phản tư”), tác giả Lý Mẫn, bảo vệ tại Đại học
Sư phạm Sơn Đông, năm 2007, đi theo hướng nghiên cứu là lý giải trào lưu Văn học vết thương và phản tư từ góc độ hoàn cảnh lịch sử, yếu tố, loại hình
tự sự vết thương Luận án gồm bốn chương, trong đó chương một trình bày khởi nguồn và phát triển của tự sự vết thương, khảo cứu tự sự vết thương qua lịch sử Văn học vết thương và Văn học phản tư Ở chương hai tác giả nghiên cứu các yếu tố của tự sự vết thương trên văn bản như nghiên cứu về thời gian, nhân vật, cách sắp xếp tình tiết truyện Trong chương ba, luận án chia tự sự vết thương thành ba loại: loại chính trị, loại luân lý truyền kỳ và loại kinh nghiệm cá nhân Ở chương bốn nghiên cứu những góc khuất trong xã hội mà
tự sự vết thương hướng tới Để từ đó đưa tới kết luận rằng tự sự vết thương trong Văn học vết thương và Văn học phản tư chủ yếu là “vết thương chính trị”
Còn luận văn thạc sĩ伤痕文学叙事模式分析 (Phân tích các mô thức
tự sự của Văn học vết thương) Vu Diễm Hoa, bảo vệ tại Đại học Cát Lâm,
năm 2009, thông qua việc phân tích các mô hình tự sự của trào lưu Văn học vết thương nhằm giới thiệu hoàn cảnh lịch sử ra đời trào lưu này Đồng thời luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa các tác phẩm trong trào lưu Văn học vết thương để từ đó thấy được vai trò của trào lưu này trong tiến trình phát triển của văn học Trung Quốc
Qua đó có thể thấy, Văn học vết thương đã nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Trung Quốc, trào lưu này được nghiên cứu, xem xét
từ nhiều góc độ khác nhau Bên cạnh đó, trong các công trình như giáo trình
Giản sử văn học thời kỳ mới và luận án Nghiên cứu tự sự vết thương trong văn học “vết thương” và văn học “phản tư” đều đề cập tới Ba Kim và Tùy tưởng lục như những tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu Văn học vết
Trang 10thương, là tiếng nói đầu tiên về sự tự sám hối của cá nhân trước vận mệnh của dân tộc, đất nước
Nhưng ở Việt Nam, đây dường như vẫn còn là mảnh đất khá mới mẻ
Trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa, PGS.TS Lê Huy
Tiêu đã giới thiệu về mặt nội dung có thể chia các tiểu thuyết Văn học vết thương thành bốn loại: “Vạch trần tội ác của “bọn bốn tên” và phơi bày nỗi bất hạnh do mười năm động loạn gây nên” [30; tr 69]; “Đồng tình thương xót những cảnh ngộ của nhân dân và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ” [30; tr 70]; “Thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân chống lại
“bè lũ bốn tên” và phe phản động” [30; tr 70]; “Vừa viết về cảnh “động loạn mười năm”, vừa nêu ra những vấn đề khiến mọi người phải suy ngẫm” [30; tr 71] Còn về mặt phương pháp sáng tác, theo tác giả, “tiểu thuyết dòng Văn học vết thương đã khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa” [30; tr 72] Tuy nhiên, về mặt nghệ thuật của các tác phẩm thuộc trào lưu Văn học vết thương “còn thô thiển, quá lộ liễu, cá biệt có những tác phẩm chỉ là những triển lãm những hành vi tội ác mà thôi” [30; tr 72]
Trong luận văn Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới, tác giả Lê Văn Hiệp, bảo vệ tại Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2012, tác giả đã dùng Văn học vết thương Trung Quốc như một thế so sánh để nhằm làm rõ hơn bộ phận văn học
“vết thương” ở Việt Nam Trong luận văn này, theo tác giả “tiêu chí quan trọng và gần như duy nhất tạo nên Văn học Vết thương đó là sự phản ánh và
tố cáo những bi kịch của con người trong Cách mạng văn hóa Vượt ra khỏi tiêu chí này, chẳng hạn nếu như tác giả cố gắng lý giải nguyên nhân của những bi kịch mà người ta phải chịu đựng trong Cách mạng văn hóa, thì những tác phẩm ấy lại được xếp vào trào lưu Văn học Phản tư (suy nghĩ lại,
Trang 11đặt lại vấn đề), trào lưu văn học tồn tại gần như song song với Văn học Vết thương.” [13; tr 30]
Có thể thấy rằng, Văn học vết thương Trung Quốc mới được tiếp cận một cách khá sơ lược ở Việt Nam, đồng thời cách hiểu về trào lưu này cũng chưa thực đầy đủ khi chỉ chú trọng và cho rằng đặc trưng duy nhất của Văn học vết thương là vạch trần tội ác của “cách mạng văn hóa” Trong luận văn này, mục tiêu của chúng tôi là trình bày về hoàn cảnh ra đời, đặc trưng tiêu biểu, giới nghiên cứu Trung Quốc đối với Văn học vết thương và ý nghĩa lịch
sử của trào lưu này Để từ đó có cái nhìn đối sánh với những nghiên cứu, cách hiểu về trào lưu Văn học Trung Quốc này tại Việt Nam có những sai khác, khuyết thiếu gì
Ở Việt Nam, Ba Kim được biết đến hầu hết qua một số bài báo nhỏ, hoặc những bài giới thiệu ngắn về ông trên các tác phẩm đã được dịch của Ba Kim Trong đó Ba Kim được giới thiệu với tư cách một nhà văn lớn, bậc thầy của văn học Trung Quốc hiện đại, khái lược cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng chính trong các sáng tác của Ba Kim Các tác phẩm của Ba Kim đã được dịch
ở Việt Nam có: Gia đình, Mùa xuân, Trời lạnh về khuya và Tùy tưởng lục
Trong đó tác phẩm Tùy tưởng lục được dịch giả Trương Chính, Ông Văn Tùng giới thiệu ở Việt Nam năm 1998 Trong nguyên tác Tùy tưởng lục
gồm năm tập, tập đầu xuất bản năm 1978, tập cuối xuất bản năm 1986 Tập
đầu không có tên gọi riêng mà gọi là Tùy tưởng lục tập một, tập hai đề là Tìm tòi, tập ba đề là Lời nói thật, tập bốn là Nằm bệnh, tập cuối cùng là Vô đề Trong đó, dịch giả Trương Chính, Ông Văn Tùng chọn hai bài ở tập Tùy Tưởng lục tập một, hai mươi sáu bài ở tập Tìm tòi, mười lăm bài ở tập Lời nói thật, mười một bài ở tập Nằm bệnh, năm bài trong tập Vô đề để dịch thành một tập Tùy tưởng lục bằng tiếng Việt
Trang 12Tùy tưởng lục được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất
của Văn học vết thương, chính vì thế chúng tôi chọn tác phẩm này để phân tích, làm rõ những đặc trưng của trào lưu Văn học vết thương trong đó Đồng
thời, bản dịch tiếng Việt của Tùy tưởng lục đã được cấu trúc lại, chúng tôi sẽ
khảo sát cấu trúc bản tiếng Trung, cấu trúc bản dịch, để từ đó xem xét trên cả phương diện mục đích cũng như nội dung, ý nghĩa của tác phẩm có còn giữ nguyên qua quá trình chuyển ngữ và tái cấu trúc hay không
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những biểu hiện cụ thể của trào lưu Văn học vết thương qua tác phẩm
Tùy tưởng lục của Ba Kim Trong quá trình dịch thuật hai dịch giả đã tái cấu
trúc lại tác phẩm, vậy sự tái cấu trúc văn bản liệu có thể đảm bảo được tinh thần “vết thương” trong tác phẩm hay không?
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở của việc xác định đề tài, phân tích lịch sử nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng chính mà luận văn sẽ tiến hành khảo sát là
chỉ ra những đặc trưng của Văn học vết thương trong cuốn Tùy tưởng lục của
nhà văn Ba Kim, bên cạnh đó khảo sát tình hình dịch thuật ở Việt Nam, đặt
Trang 13trọng tâm vào quan sát sự tái cấu trúc về hình thức tác phẩm trong bản dịch tiếng Việt
Phạm vi nghiên cứu là tác phẩm Tùy tưởng lục do Trương Chính - Ông
Văn Tùng dịch nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 1998, trên cơ sở
so sánh, đối chiếu với nguyên bản tiếng Trung随想录(作家出版社,2009) Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của trào lưu Văn học vết thương đã được dịch ở Việt Nam, cũng như các tác phẩm khác của nhà văn Ba Kim để so sánh, đối chiếu, nhằm làm nổi bật vấn đề cần nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi sẽ ứng dụng lý thuyết về dịch thuật, sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp văn học sử
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng các thao tác bổ trợ như thao tác thống
kê, phân tích, tổng hợp…
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn của chúng tôi sẽ được triển khai theo ba chương như sau:
Chương 1: Văn học vết thương - các nghiên cứu ở Trung Quốc và tiếp nhận ở Việt Nam
Chương 2: Đặc trưng Văn học vết thương trong Tùy tưởng lục của Ba
Kim
Chương 3: Dịch thuật tác phẩm Tùy tưởng lục ở Việt Nam
Trang 14Chương 1:
VĂN HỌC VẾT THƯƠNG - CÁC NGHIÊN CỨU Ở TRUNG QUỐC VÀ TIẾP NHẬN Ở VIỆT NAM
Trào lưu Văn học vết thương có giá trị như tiếng nói đầu tiên của văn học Trung Quốc thời kỳ mới, mở ra một loạt các trào lưu sau đó Ở chương này, chúng tôi giới thiệu về hoàn cảnh ra đời, ba đặc trưng tiêu biểu nhất của Văn học vết thương nhằm khu biệt trào lưu này với các trào lưu khác cùng thời kỳ, một số hướng nghiên cứu về Văn học vết thương ở Trung Quốc cũng như những giá trị lịch sử của Văn học vết thương trong tiến trình văn học của Trung Quốc Đồng thời, ở chương 1, chúng tôi cũng trình bày về hiện trạng nghiên cứu Văn học vết thương Trung Quốc tại Việt Nam So sánh và làm rõ cách hiểu về Văn học vết thương ở Trung Quốc và Việt Nam có gì giống và
khác nhau
1.1 Trào lưu sáng tác Văn học vết thương tại Trung Quốc
Đại hội Trung ương Trung Quốc lần thứ 11, sau khi “cách mạng văn hóa” kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới cho văn học nghệ thuật Trung Quốc Cùng với sự thay đổi của cục diện chính trị, phiên họp lần 3 của Đại hội toàn quốc Trung ương Trung Quốc lần thứ 11 đã khẳng định việc cởi trói cho tư tưởng, phủ định “cách mạng văn hóa”, phủ định đấu tranh giai cấp, công tác trọng điểm của toàn Đảng là thực hiện xây dựng kinh tế hiện đại hóa Những chuyển biến lịch sử này đã thực sự cởi trói cho sáng tác văn học, xóa bỏ những “khu vực cấm” trong sáng tác Tháng 10 năm 1979, Đại hội văn học toàn quốc lần 4 được khai mạc, Đặng Tiểu Bình thay mặt Đảng cộng sản Trung Quốc phát biểu, đã chỉ rõ, “Sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ không phải là chỉ huy ra lệnh, không phải yêu cầu văn học nghệ thuật phải kịp thời, cụ thể, trực tiếp trực thuộc các nhiệm vụ chính trị, mà là phải căn cứ vào
Trang 15đặc trưng và quy luật của văn học nghệ thuật, giúp đỡ những người làm công tác văn học nghệ thuật có điều kiện để cống hiến hơn nữa cho sự nghiệp văn học nghệ thuật.”1 [41; tr 2] Chính những phát biểu ấy của Đặng Tiểu Bình cùng những đường lối cải cách mở cửa đã giúp “cởi trói” văn nghệ, để nhà văn, nhà thơ… được quyền nói lên nỗi lòng của mình
Sau không khí ngột ngạt, bị kìm tỏa mọi mặt của “cách mạng văn hóa”, khi mà người viết chỉ được viết trong một khuôn khổ rất hẹp theo đường lối,
sự chỉ đạo của cấp trên, không được phép viết ra ngoài những đường biên ấy, thì sự “cởi trói” trong văn nghệ này đã giúp các nhà văn Trung Quốc dám nói thẳng nói thật, nhìn nhận lại những vấn đề tồn đọng, những góc khuất tối tăm
và cả những đau thương trong quá khứ
Năm 1978, sự xuất hiện của trào lưu Văn học vết thương chính là sự cởi trói mạnh mẽ nhất của giới văn nghệ sĩ đối với các vấn đề thời sự lúc bấy giờ Lúc này, nhà văn Trung Quốc được quyền nhìn thẳng vào mười năm
“cách mạng văn hóa”, được khai thác những đề tài trước đây không được phép, và trào lưu này nhanh chóng trở thành tâm điểm cho văn học Trung Quốc đương đại
Trong cuốn Giản sử văn học thời kỳ mới, Trần Tư Hòa đã viết, “Tháng
10 năm 1976, với việc bắt giam ‘bè lũ bốn tên’ đã kết thúc cuộc ‘cách mạng văn hóa’ trước đây chưa từng xảy ra, truyền thống Văn học Ngũ Tứ bị tàn phá suốt thời gian dài bắt đầu được khôi phục Trong thời gian nửa năm sau đó, giới văn nghệ vẫn còn chưa phổ biến, tự giác từ bỏ phương thức tư duy và phương thức biểu hiện của thời kỳ ‘cách mạng văn hóa’ Dấu vết khôi phục truyền thống Văn học Ngũ Tứ sớm nhất chính là bộ ba tác phẩm: Kịch bản
Bình minh của Bạch Hoa, lấy đề tài về lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc,
lấy bi kịch lịch sử để mượn xưa nói nay, đầu tiên là biểu lộ mối hận dồn nén
Trang 16trong lòng mọi người suốt mấy chục năm nay đối với đường lối ‘tả’ trong nội
bộ Đảng; truyện ngắn Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ lấy sự thiếu hiểu biết
của học sinh trung học làm tiếng chuông cảnh tỉnh, viết ra sự nguy hại của mười năm thịnh hành trào lưu chính trị phản trí thức phản văn hóa; báo cáo
văn học Giả thuyết Goldbach, thể hiện sự bất bình đối với những việc mà
người trí thức gặp phải trong ‘cách mạng văn hóa’, thẳng thắn bày tỏ sự kính trọng và ca ngợi với tầng lớp trí thức ‘Ba cánh én mang theo gió xuân’ này báo hiệu con đường mới mà văn học Trung Quốc đương đại sẽ đi tới, đồng thời, thể hiện xu hướng thay đổi nhanh chóng của giới chính trị và giới tư tưởng.”1 [41; tr 15, 16]
Như vậy, văn học thời kỳ mới của Trung Quốc đã bắt đầu manh nha từ năm 1976, nhưng phải tới tận năm 1978 ta mới có thể nhận thấy sự chuyển
mình mạnh mẽ của cả văn học và tư tưởng Tiêu biểu phải kể tới tác phẩm Vết thương của Lư Tân Hoa đăng trên Văn hối báo Thượng Hải ngày 11 tháng 8
năm 1978 đã gây tiếng vang lớn trong dư luận xã hội Ngày mùng 2 tháng 9,
Văn nghệ báo Bắc Kinh tổ chức tọa đàm về Chủ nhiệm lớp và Vết thương
Trong cuốn giáo trình Giản sử văn học thời kỳ mới, tác giả Trần Tư
Hòa cũng chỉ ra: Văn học vết thương đã biểu đạt lập trường phơi bày và phê phán “cách mạng văn hóa”, điều này đã nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của quần chúng nhân dân, trở thành vũ khí đấu tranh với “cách mạng văn hóa” Chỉ trong ngắn ngủi vài năm nhưng Văn học vết thương đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhờ tiếp thu tinh thần Văn học Ngũ Tứ đã có sức mạnh rất lớn trên phương diện phê phán hiện thực
Văn học vết thương được định danh từ tên truyện ngắn Vết thương của
Lư Tân Hoa, đại diện cho thái độ của thanh niên trí thức với lịch sử và hiện thực cuộc sống Những người thanh niên trí thức này chính là những học sinh,
Trang 17sinh viên… đã bị đưa về nông thôn cải tạo lao động trong “cách mạng văn hóa” Những áp chế về mặt tinh thần, tư tưởng đã để lại những “vết thương” vĩnh viễn không thể liền sẹo trong trái tim họ
Chủ đề của các tác phẩm chủ yếu tập trung phê phán, vạch trần những tội ác của “cách mạng văn hóa” tới tinh thần con người, những vết thương không bao giờ chữa lành Các tác phẩm này dám phá bỏ những nguyên tắc sáng tác trong thời kỳ “cách mạng văn hóa”, dám bày tỏ những bi kịch đau thương trong thời kỳ “văn cách”, chính điều đó đã tạo lên tiếng vang rất lớn trong quần chúng nhân dân Tinh thần dũng cảm dám trực tiếp đối mặt và phê bình hiện thực cuộc sống này đã mở đầu cho hàng loạt các trào lưu, sáng tác dám phơi bày những mặt tối trong xã hội sau này Các nhà văn hy vọng việc phơi bày căn nguyên tội ác của “cách mạng văn hóa” sẽ giúp thúc đẩy xã hội cải cách, tiến bộ hơn
Tinh thần phê phán chính trị của tầng lớp thanh niên trí thức của Văn học vết thương là sự trở về với truyền thống của Văn học Ngũ Tứ Ý nghĩa của sự trở về với truyền thống này chính là ở việc đã luôn dũng cảm đấu tranh, cấp thiết phê phán những ung nhọt, những mặt tối trong xã hội Như Lỗ Tấn từng nói: “Phải chân thành, sâu sắc, mạnh dạn nhìn nhận và viết ra máu thịt của nhân dân.”1 [41; tr 19] Sau “cách mạng văn hóa”, tầng lớp trí thức chính
là người đại diện phát ngôn của nhân dân, các nhà văn từ những tầng lớp lão thành đến những người trẻ tuổi nhất đều nhiệt tình, dũng cảm đối diện với hiện thực xã hội, tạo thành lực lượng phê phán là những người trí thức, như các nhà văn Băng Tâm, Tiêu Kiền, Vương Tây Ngạn, Kha Linh… Họ chính
là những người đầu tiên phản tỉnh, phủ định lại những mặt xấu xa, tăm tối trong xã hội Có thể nói, thời kỳ văn học mới của Trung Quốc được mở đầu
Trang 18
bằng trào lưu Văn học vết thương, đây chính là việc ngọn cờ đấu tranh với tinh thần thanh niên Ngũ Tứ một lần nữa được giương cao
Sự trở về với tinh thần Ngũ Tứ thể hiện đầu tiên ở sự tự giác trở về với tinh thần Ngũ Tứ của các nhà văn Tiêu biểu trong số đó không thể không kể
tới Ba Kim với tác phẩm Tùy tưởng lục Mất tám năm để hoàn thành bộ sách
này, dùng những kinh nghiệm cá nhân để phản tỉnh “cách mạng văn hóa” đồng thời đau lòng kêu gọi sự trở về với truyền thống tinh thần Ngũ Tứ
Bên cạnh đó, giai đoạn này xuất hiện nhóm “những nhà thơ trở về” như
Hồ Phong, Ngưu Hán, Tân Địch, Trần Kính Dung, Ngải Thanh, Công Lưu, Lưu Sa Hà… Họ tự giác tiếp nối tinh thần Ngũ Tứ, một mặt tiếp tục giữ nguyên phong cách sáng tác, mặt khác lại dùng phương thức biểu lộ hoặc nhiệt tình hoặc lạnh lùng phê phán thực tế xã hội suốt mấy chục năm qua, thể hiện cao độ tinh thần dân tộc
Những năm 70 ở Trung Quốc nổi lên phái Thơ mông lung với các cây bút tiêu biểu như: Cố Thành, Thư Đình, Giang Hà, Dương Luyện, Mang Khắc,
Đa Đa, Nghiêm Lực, Lương Tiểu Bân Thơ mông lung chịu ảnh hưởng của văn nghệ phương Tây, sử dụng thủ pháp ẩn dụ, tượng trưng Trong bối cảnh thời đại sau “cách mạng văn hóa”, có thể thấy trên bình diện phê phán hiện thực, Thơ mông lung đã gắn kết vận mệnh cá nhân với vận mệnh dân tộc, hơn nữa còn thể hiện rõ ý thức cá nhân và tìm kiếm tinh thần tự chủ
Giáo sư Trần Tư Hòa kết luận: “Quá trình phát triển của văn học thời
kỳ mới không hề được thuận buồm xuôi gió Khi tinh thần Ngũ Tứ được khôi phục, trong các sáng tác văn học dần dần nảy sinh tinh thần đấu tranh hiện thực mang tính phê phán và ý thức tinh anh của tầng lớp trí thức, văn học không thể tránh khỏi việc cọ xát với hiện thực cuộc sống Từ năm 1979 đến năm 1981, Văn học vết thương và các tác phẩm phản ánh những mặt tối của
xã hội tiếp tục thu hút được sự tranh luận rộng rãi trên phương diện xã hội và
Trang 19tư tưởng văn hóa, thái độ phê phán hiện thực một cách tự phát cũng bắt đầu dần dần giảm xuống, Văn học vết thương theo đó cũng bị các trào lưu văn học khác thay thế.”1 [41; tr 22] Như vậy, có thể thấy, Văn học vết thương với sứ mệnh mở đầu của mình, nó đã hoàn thành xuất sắc vai trò lịch sử, là những tiếng nói đầu tiên của người trí thức sau mười năm “cách mạng văn hóa”, mở
ra một thời kỳ tự do văn nghệ, tự do tư tưởng, tình cảm
Nói tới bất kỳ một trào lưu văn học nào không thể không nhắc tới các tác phẩm tiêu biểu Bởi lẽ, chính những phát biểu, hình tượng, tư tưởng trong các tác phẩm là mấu chốt để tạo nên tiếng vang, hình thành một trào lưu văn
học nào đó Về trào lưu Văn học vết thương, có thể coi truyện ngắn Chủ nhiệm lớp của nhà văn người Tứ Xuyên - Lưu Tâm Vũ - đăng trên tờ Văn học nhân dân số 11 năm 1977 là tác phẩm đầu tiên của dòng Văn học vết thương Chủ nhiệm lớp vén lên bức màn hồi cố lịch sử “vết thương” Nhân
vật được chú ý trong tác phẩm không phải là nhân vật chính Trương Tuấn Thạch mà là lớp trưởng Tạ Huệ Mẫn, người được Lưu Tâm Vũ xây dựng như một hình tượng nhân vật điển hình bị tổn thương về mặt tinh thần Sự xuất hiện của nhân vật này thể hiện rõ thái độ sáng tạo của nhà văn trước hiện thực đời sống và phản ánh hiện thực
Cho đến khi khổ nạn của phong trào “cách mạng văn hóa” được phản ánh thành một trào lưu trong văn học thì tác phẩm được coi là định danh cho
trào lưu Văn học vết thương là truyện ngắn Vết thương của Lư Tân Hoa đăng trên Văn hối báo ngày 11 tháng 8 năm 1978
Mười năm “cách mạng văn hóa” giới văn nghệ sĩ Trung Quốc gần như không có những sáng tác mang tính sáng tạo, các bài viết đều cùng chung một
mô thức về “công, nông, binh”, anh hùng cách mạng Chính vì thế, sau khi được cởi trói, những nhà văn, nhà thơ Trung Quốc say mê khai thác các đề tài
Trang 20mới mẻ mà trước đây không được viết Bởi lẽ đó, vấn đề nội dung, tư tưởng luôn được đặt lên hàng đầu, những cách tân nghệ thuật không quá được chú trọng Cho nên, các tác phẩm thuộc trào lưu này không tránh khỏi những hạn chế còn non yếu về mặt thủ pháp sáng tác Nhưng trên hết, nhìn nhận một cách khách quan, giá trị lớn nhất của Văn học vết thương nằm ở nội dung mà
nó phản ánh Đó là những tiếng nói đau thương của một thế hệ người đi ra từ cuộc “cách mạng văn hóa” tàn khốc Những tiếng nói của người trong cuộc ấy giúp khắc họa một cách rõ nét nhất những tội ác của “bè lũ bốn tên”, những bi kịch mà nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là giới trí thức phải chịu đựng suốt một thập kỷ Chính bởi lẽ đó, Văn học vết thương nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của quần chúng nhân dân, trở thành vũ khí đấu tranh với “cách mạng văn hóa” Chỉ trong ngắn ngủi vài năm nhưng Văn học vết thương đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhờ tiếp thu tinh thần Văn học Ngũ Tứ đã có sức mạnh rất lớn trên phương diện phê phán hiện thực
Nhắc tới một trào lưu văn học, ta không thể không đề cập tới các đặc trưng, tiêu chí để nhận diện, khu biệt trào lưu đó với các trào lưu cùng thời kỳ Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy, trào lưu Văn học vết thương gồm
ba đặc trưng tiêu biểu nhất:
Đặc điểm đầu tiên và nổi bật nhất của Văn học vết thương chính là tập trung phê phán, vạch trần những tội ác của “cách mạng văn hóa” tới tinh thần con người, những vết thương không bao giờ chữa lành Các tác phẩm này dám phá bỏ những nguyên tắc sáng tác trong thời kỳ “cách mạng văn hóa”, dám bày tỏ những bi kịch đau thương trong thời kỳ “cách mạng văn hóa”, chính điều đó đã tạo lên tiếng vang rất lớn trong quần chúng nhân dân Tinh thần dũng cảm dám trực tiếp đối mặt và phê bình hiện thực cuộc sống này đã
mở đầu cho hàng loạt các trào lưu, sáng tác sau này như Văn học phản tư,
Trang 21Văn học tầm căn Các nhà văn hy vọng việc phơi bày căn nguyên tội ác của
“cách mạng văng hóa” sẽ giúp thúc đẩy xã hội cải cách, tiến bộ hơn
Đặc điểm thứ hai của Văn học vết thương chính là sự trở về với truyền thống của Văn học Ngũ Tứ Ý nghĩa của sự trở về với truyền thống này chính
là ở việc đã luôn dũng cảm đấu tranh, cấp thiết phê phán những ung nhọt, những mặt tối trong xã hội Như Lỗ Tấn từng nói: “Phải chân thành, sâu sắc, mạnh dạn nhìn nhận và viết ra máu thịt của nhân dân.”1 [41; tr 19] Sau “cách mạng văn hóa”, tầng lớp trí thức chính là người đại diện phát ngôn của nhân dân, các nhà văn từ những tầng lớp lão thành đến những người trẻ tuổi nhất đều nhiệt tình, dũng cảm đối diện với hiện thực xã hội, tạo thành lực lượng phê phán là những người trí thức Họ chính là những người đầu tiên phản tỉnh, phủ định lại những mặt xấu xa, tăm tối trong xã hội Có thể nói, thời kỳ văn học mới của Trung Quốc được mở đầu bằng trào lưu Văn học vết thương, đây chính là việc ngọn cờ đấu tranh với tinh thần thanh niên Ngũ Tứ một lần nữa được giương cao
Đặc điểm thứ ba của Văn học vết thương chính là sự tự thức tỉnh, sám hối của người trí thức đã bị đày đọa suốt mười năm “cách mạng văn hóa” Không chỉ là tố cáo tội ác của “bè lũ bốn tên”, mà người trí thức còn nhận thấy một phần trách nhiệm không nhỏ của mình ở trong đó Bởi lẽ, chính vì chịu cúi đầu nhận tội, tự làm nô lệ tinh thần nên “bè lũ bốn tên” mới có thể lộng hành như thế Tinh thần phản tỉnh, tự sám hối này thể hiện rõ nhất trong
Tùy tưởng lục của Ba Kim mà chúng tôi sẽ đi sâu phân tích ở chương sau
Trên đây là ba đặc điểm chính của trào lưu Văn học vết thương, chính những đặc điểm này giúp chúng ta nhận diện các tác phẩm thuộc trào lưu Văn học vết thương đồng thời như một đường biên nhằm phân biệt với rất nhiều trào lưu nở rộ thời kỳ “cởi trói” cho văn học này của Trung Quốc
Trang 22
Là tiếng nói đầu tiên của vừa mới thoát khỏi mô thức sáng tác cứng nhắc của “cách mạng văn hóa” nên Văn học vết thương không thể tránh khỏi một số tồn tại, hạn chế nhất định, như:
Văn học vết thương không phủ định triệt để “cách mạng văn hóa”, chỉ
đi từ góc độ chính trị, xã hội, mối quan hệ giữa người với người để khảo sát nguyên nhân gây tổn thương cho tinh thần con người mà thiếu sự phân tích tâm lý văn hóa truyền thống và hệ ý thức phong kiến
Bởi mải mê theo đuổi những đề tài mới mẻ, mang tính thời sự, nên nghệ thuật biểu hiện của Văn học vết thương tương đối non kém Ngoài ra, do tác giả dòng Văn học vết thương nhấn mạnh hiện thực nên tình cảm của nhà văn thường bị kìm nén, quan điểm dao bị động nên nội dung tác phẩm thường nông cạn, hời hợt
Các tác phẩm Văn học vết thương tuy xuất hiện nhiều bi kịch nhưng tinh thần bi kịch đó chủ biểu hiện yếu ớt ở bề ngoài Tác phẩm chú ý miêu tả câu chuyện bi thảm mà coi nhẹ việc khắc họa nhân cách Như vậy, nhân vật chính trong các tác phẩm Văn học vết thương chỉ đơn thuần là kẻ bị hại mà không phải là nhân vật thể hiện cái đẹp
Dù có một vài hạn chế nhất định, nhưng không ai có thể phủ nhận giá trị lịch sử cũng như những đóng góp to lớn của Văn học vết thương đối với văn học đương đại Trung Quốc Trải qua gần bốn mươi năm nhìn lại, văn học giai đoạn từ giữa những năm 70 đến đầu những năm 80 đã bị các trào lưu văn học khác vượt qua khiến cho nhiều người đã quên mất nó, trong vòng văn hóa đại lục, Văn học vết thương đã sớm trở thành một vấn đề cũ Có điều, việc một vấn đề cũ không nhằm chỉ một tác phẩm này vô giá trị hoặc ý nghĩa, mà
là nói các tác phẩm văn học này phải đặt trong bối cảnh văn học đặc trưng xã hội thì mới có ý nghĩa
Trang 23Văn học vết thương mở đầu cho văn học sau “cách mạng văn hóa”, đồng thời chất liệu được sử dụng của trào lưu này cũng được lấy từ mười năm động loạn, đặc điểm tự sự là kể về vết thương cả thể xác lẫn tâm hồn của cá nhân cũng như quần chúng nhân dân do mười năm động loạn gây nên Nguyên tắc của thủ pháp sáng tác là kể lại một cách chân thực hiện trạng và những bạo lực của xã hội ấy Có thể nói, Văn học vết thương giống như Văn học Ngũ Tứ, đã tạo sự chuyển biến mới đối với văn học Trung Quốc
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhân đạo chủ nghĩa là đề tài phổ biến và nhạy cảm ở Trung Quốc Văn học Ngũ Tứ không chỉ phổ biến rộng rãi chủ nghĩa nhân đạo thức tỉnh con người mà còn hình thành nên ý thức chủ thể mạnh mẽ và đặc tính rõ ràng trong sáng tác văn học mới Sự phát triển của văn học mới sau đó dù gặp rất nhiều trắc trở, nhưng chủ nghĩa nhân đạo vẫn
là chủ đề, nội dung tư tưởng mà nhiều tác giả, tác phẩm lớn hướng tới “Cách mạng văn hóa” đã mang tới vô số tai họa cho nhân dân Trung Quốc, ở thời điểm ấy, con người không còn được là con người, mà bị biến thành công cụ đấu tranh giai cấp; một bộ phận bị ép thành “kẻ thù giai cấp” mà bị tước mất
tư cách làm người; một bộ phận khác lấy “danh nghĩa làm cách mạng” mà nảy sinh thú tính tàn sát đồng loại, mất đi sự tôn nghiêm và tự trọng của bản thân Sau khi “cách mạng văn hóa” kết thúc, mọi người nhớ về mười năm động loạn ấy, phản tư lại lịch sử, thì điểm quan trọng và nổi bật nhất chính là những phát hiện và nhận thức mới về “con người”, vấn đề bức thiết là cần phục hồi tôn nghiêm và đề cao giá trị con người Vì vậy, các sáng tác văn học nghệ thuật sau thời kỳ “cách mạng văn hóa”, ngay từ đầu đã tự giác gánh lấy trách nhiệm này Trong Đại hội Văn học Toàn quốc lần 4 năm 1979, các nhà văn đã nêu cao khẩu hiệu “con người là mục đích, con người là trung tâm”, trên bình diện nhân đạo chủ nghĩa đó là sự khẳng định tác dụng vạch trần, tố
Trang 24cáo một giai đoạn lịch sử tàn nhẫn là “cách mạng văn hóa”, đồng thời là lời kêu gọi, là sự kỳ vọng đối với văn học những năm 80
Đối tượng biểu hiện của Văn học vết thương được mở rộng, các nhà văn bắt đầu chú ý đến người dân lao động tầng lớp dưới, từ đó thoát khỏi quy định giáo điều của văn học thập niên 70 và “cách mạng văn hóa” thế kỷ trước chỉ được viết về “công, nông, binh” hay nhân vật anh hùng dân tộc Nhân vật của dòng Văn học vết thương khá đa dạng, có cả những phần tử tri thức, những người phụ nữ nông dân
Các tác phẩm văn học là một bằng chứng sống cho một giai đoạn xã hội, một thời kỳ lịch sử, cho nên Văn học vết thương đã ghi lại một cách chân thực máu và nước mắt của một thời đại Trào lưu này đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử văn học đương đại Trung Quốc, có thể ví như những tiếng nói đầu tiên, mở ra một loạt các trào lưu văn học tiếp sau đó
Văn học vết thương là phong trào đầu tiên, mở ra một thời kỳ văn học
vô cùng sôi nổi của Trung Quốc, vậy nên trào lưu Văn học vết thương là đề tài nghiên cứu của nhiều công trình, bài báo khoa học Từ năm 1977 đến 2009
có khoảng hơn 100 công trình nghiên cứu lý luận và sáng tác về Văn học vết thương hoặc “vết thương” ở Trung Quốc
Những năm 1980, Văn học vết thương nhận được sự chú ý và quan tâm rộng rãi, nhiều cuộc thảo luận sôi nổi đã diễn ra Văn học vết thương trở thành một đề tài văn hóa chính trị quan trọng, thu hút nhiều độc giả, nhà văn đi sâu nghiên cứu Có người gọi là Văn học vạch trần, Văn học thương cảm, Văn học chủ nghĩa hiện thực phê phán, cũng có người gọi là: “lời mở đầu của Văn học thời kỳ mới”… Nghiên cứu về Văn học vết thương cơ bản là thảo luận
các tác phẩm vết thương Kỳ 2 năm 1979, Báo văn nghệ của Trung Quốc đăng bài Là văn học vạch trần sao? đã dẫn đến sự thảo luận về vấn đề ca ngợi
công lao và vạch trần trong văn học đương đại Trung Quốc Sau đó tại hội
Trang 25nghị của báo Văn nghệ ở Bắc Kinh đã thảo luận hai tác phẩm: Chủ nhiệm lớp
và Vết thương Cách gọi Văn học vết thương bắt đầu từ đây, cùng với việc xác
lập khái niệm Văn học vết thương và thảo luận ca tụng và vạch trần Văn học vết thương được nghiên cứu rất sôi nổi, mọi người tập trung thảo luận vào vấn
đề vết thương do “cách mạng văn hóa” gây nên Đây là vết thương lớn đối với một thế hệ thanh niên Trung Quốc trong “cách mạng văn hóa” Vết thương và
ký ức là mệnh đề lịch sử của sự phản tư toàn diện, những người bị hại về tâm hồn, tinh thần đã không ngừng thảo vấn, thể hiện thái độ tình cảm đối với
“cách mạng văn hóa” đặc biệt văn học theo đuổi phản ánh vết thương lịch sử, làm sao để tái hiện lại những vết thương ấy Quá trình này khó khăn nhất là ở bản thân kinh nghiệm vết thương không dễ gì thể hiện và biểu đạt Các nhà văn trải qua “cách mạng văn hóa” chính là chứng nhân của sự kiện lịch sử này,
họ hiểu lịch sử của bản thân và lịch sử vết thương của mọi người, mặc dù họ
bị người khác cho rằng là một nhà nghệ thuật chính trị, nhưng họ dám bước vào vùng cấm kỵ, dám dùng văn học để nói lại những gì đã xảy ra trong sự kiện lịch sử ấy
1977 - 1987 là thời kỳ nghiên cứu Văn học vết thương sôi nổi nhất, nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, các cuộc thảo luận diễn ra sôi nổi Mặc
dù không ít công trình văn học sử của Trung Quốc khi nhắc tới Văn học vết
thương đều cho rằng tên của truyện ngắn Vết thương đã định danh cho trào
lưu Văn học vết thương, nhưng truy nguyên tới cùng thì từ “vết thương” hay Văn học vết thương được giới học thuật dùng để khái quát một trào lưu văn học sớm nhất là từ khi nào? Đã có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này
Có nhà nghiên cứu cho rằng Tài liệu văn học nghệ thuật thời kỳ đổi mới (1976 – 1985) của Khoa Văn học Đại học Phúc Đán đã ghi người sử dụng khái niệm Văn học vết thương sớm nhất là Trần Kị Mẫn trong bài Tiểu luận văn học
“vết thương” trên báo Văn nghệ Thượng Hải số ra tháng 12 năm 1987 Trong
Trang 26cuốn giáo trình Giản sử văn học thời kỳ mới do Trần Tư Hòa chủ biên đã viết: ngày 2 tháng 9, tại hội thảo Báo văn nghệ ở Bắc Kinh, đã thảo luận Chủ nhiệm lớp và Vết thương, đề xuất Văn học vết thương bắt đầu được sử dụng
rộng rãi Giới nghiên cứu Trung Quốc chú ý tới Văn học vết thương như một khái niệm chỉnh thể có lẽ bắt đầu từ năm 1979 Trong quãng thời gian này có
rất nhiều bài viết sử dụng thuật ngữ này như Bức tranh Văn học vết thương (Bào Xương, kỳ 1 năm 1979 Tân Cảng), Cuộc đối thoại liên quan tới Văn học vết thương (Trương Xuân Dư, Bách gia văn nghệ kỳ 1 năm 1979), Văn học vết thương và vết thương trong văn học (Xương Minh Khang, Hải Âu kỳ 8
truyện ngắn tên là Vết thương, như ngọn cờ đầu, các tác giả của kiểu văn học
này đã kể về những ký ức đau thương của mình trong “cách mạng văn hóa”, không chỉ là những tổn hại tinh thần và thể xác, mà nó còn tạo thành di chứng rất lớn sau đó Ông gọi hiện tượng vẫn đang không ngừng thu hút sự thảo luận này là Văn học vết thương Đây là từ Văn học vết thương xuất hiện đầu tiên trong giới văn học Qua đó có thể thấy, cần phải nghiên cứu thêm nữa về nguồn gốc định danh Văn học vết thương Liên quan đến việc thảo luận về khái niệm của Văn học vết thương, đây là vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất, trong mấy năm trở lại đây, không ít nhà nghiên cứu Trung Quốc
đã bắt đầu mở rộng phạm vi Văn học vết thương, bao gồm thêm một số tác
Trang 27phẩm cùng thời kỳ đó, thậm chí không chỉ hạn chế trong phạm vi truyện “vết
thương” mà bao gồm cả Thơ mông lung và Tùy tưởng lục của Ba Kim cũng nằm trong phạm vi thảo luận của Văn học vết thương Coi Một lớp người (Cố Thành), Tùy tưởng lục (Ba Kim), và Vết thương (Lư Tâm Hoa) trở thành ba
tác phẩm tiêu biểu nhất của Văn học vết thương
1.2 Nghiên cứu trào lưu Văn học vết thương Trung Quốc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về phong trào Văn học vết thương của Trung
Quốc dường như vẫn còn là mảnh đất khá mới mẻ Trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa, PGS.TS Lê Huy Tiêu đã giới thiệu về
Văn học vết thương, xét theo khía cạnh nội dung có thể chia tiểu thuyết Văn học vết thương: Vạch trần tội ác của “bọn bốn tên” và phơi bày nỗi bất hạnh
do mười năm động loạn gây nên; Đồng tình thương xót những cảnh ngộ của nhân dân và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ Thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân chống lại “bè lũ bốn tên” và phe phản động Vừa viết về cảnh “động loạn mười năm”, vừa nêu ra những vấn đề khiến mọi người phải suy ngẫm Còn về mặt phương pháp sáng tác, theo tác giả, “tiểu thuyết dòng Văn học vết thương đã khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa Còn về mặt nghệ thuật của các tác phẩm thuộc trào lưu Văn học vết thương, theo tác giả “còn thô thiển, quá lộ liễu, cá biệt có những tác phẩm chỉ
là những triển lãm những hành vi tội ác mà thôi” [30; tr 72]
Ngoài ra, trào lưu Văn học vết thương cũng được nhắc tới trong luận
văn Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới, tác giả Lê Văn Hiệp, bảo vệ tại Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn, năm 2012 Tuy nhiên, trào lưu Văn học vết thương Trung Quốc trong luận văn này chỉ được dùng như một khái niệm nhằm mở rộng để nghiên cứu một bộ phận các tác phẩm viết về vết thương do chiến tranh gây
Trang 28nên ở Việt Nam Trong luận văn này, theo tác giả “tiêu chí quan trọng và gần như duy nhất tạo nên Văn học Vết thương đó là sự phản ánh và tố cáo những
bi kịch của con người trong Cách mạng văn hóa” [13; tr 30]
Còn về các tác phẩm thuộc trào lưu Văn học vết thương, có một số tác
phẩm đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam Tiêu biểu nhất có thể kể tới Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ đăng trên tờ Văn học nhân dân số 11 năm 1977 là
tác phẩm đầu tiên của dòng Văn học vết thương Lưu Tâm Vũ thành danh nhờ
truyện ngắn Chủ nhiệm lớp bởi tác phẩm đã chỉ rõ nguyên nhân khiến tầng
lớp thanh niên trí thức bị “nội thương tinh thần” Ngoài ra, nội dung tác phẩm còn phản ánh chân thực đời sống hiện thực, thể hiện cuộc đấu tranh giai cấp
và đấu tranh chính trị, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của người Trung
Quốc Chủ nhiệm lớp là tác phẩm văn học đầu tiên thời bấy giờ viết về sự giải
phóng tư tưởng và dân chủ nghệ thuật, vạch rõ giới hạn giữa văn học cách mạng và văn học thời kỳ mới, cho nên có ý nghĩa đánh dấu một mốc son lịch
sử văn học Có thể nói, truyện ngắn của Lưu Tâm Vũ cùng chung tiếng nói
chống lễ giáo phong kiến giống như Nhật ký người điên của Lỗ Tấn Chính vì vậy, Chủ nhiệm lớp có ý nghĩa lịch sử và tinh thần tiến bộ sâu sắc
Vết thương của Lư Tân Hoa được Đào Văn Lưu, Nguyễn Thị Hoài Thanh dịch và giới thiệu trong cuốn Truyện ngắn Trung Quốc hiện đại Truyện ngắn Vết thương phản ánh sự nguy hại nghiêm trọng khi con người bị
“nội thương tư tưởng” và hô hào “chữa trị vết thương” Đây là truyện ngắn đầu tiên có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của dòng Văn học vết thương ở
Trung Quốc Truyện ngắn Vết thương dùng nghệ thuật bi kịch làm sức mạnh
nên đã gây chấn động văn đàn đương thời Tác giả khắc họa khá rõ nét nhân tính, chủ nghĩa nhân đạo, đột phá sự o ép văn nghệ trong một thời gian dài nên gây không ít tranh luận trái chiều Cuối cùng, giới phê bình rút ra kết luận
rằng, đứng trên góc độ chính trị, truyện ngắn Vết thương là tiếng nói đầu tiên
Trang 29phủ định triệt để “cách mạng văn hóa” Đến lúc đó, người ta mới thực sự hiểu được rằng, họ quả thực đã trải qua một tai họa lớn, sống cũng với những con người và sự việc xấu xa, thấp hèn, cho nên phải chống lại và gạt bỏ hết tất cả những gì họ phải chịu đựng trước kia
Ngoài ra, trên tạp chí Văn học nước ngoài số 5 năm 1996, Giáo sư Trần
Đình Sử đã dịch và giới thiệu sơ lược về cuộc đời đầy biến động cùng phong cách sáng tác của Cố Thành: “Thơ anh thiên về thức tỉnh hồi ức và tiềm thức tuổi thơ, một tuổi thơ không thuộc về cá nhân riêng lẻ nào, mà thuộc về nhân loại [ ] Thơ anh thể hiện một con người tự nhiên như tư tưởng trở về với thiên nhiên của Rausseau, Wordworth Nhưng thơ anh cũng yếu đuối Cái xứ
sở long lanh tinh khiết ấy không chống đỡ được đã nứt rạn trước sức ép của thực tại Nhưng dù có nhiều phiến diện, nhiều phủ nhận, thơ anh vẫn hướng người đọc về những ước mơ trong lành.” [24; tr 189, 190] Đồng thời tác giả
cũng dịch một số bài thơ của Cố Thành như: Tôi là một đứa trẻ tùy hứng, Gió trộm mất mái chèo của ta, Xa và gần, Đường cong, Bóng núi, Biển phân cách, Nghèo, có một cái mũi lạnh ngắt
Còn Tùy tưởng lục, một trong số các tác phẩm tiêu biểu của trào lưu
Văn học vết thương được Nhà xuất bản Văn hóa thông tin phát hành năm
1998 do hai dịch giả Trương Chính, Ông Văn Tùng dịch Có thể thấy, các tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu Văn học vết thương đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam, tuy nhiên tiếp cận các tác phẩm này mới chỉ dừng lại ở các bài giới thiệu ngắn và rất ít, gần như chưa có một công trình nào nghiên cứu
về các tác phẩm đã kể trên
Như vậy, có thể nhận thấy, đối với trào lưu Văn học vết thương của Trung Quốc, các công trình nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam mới chỉ tiếp cận trào lưu này ở mức độ giới thiệu, khái quát sơ lược nhất và cũng chưa có một cái nhìn toàn diện, một bức tranh Văn học vết thương hoàn chỉnh
Trang 30Đồng thời ta có thể thấy một cách rõ nét cách hiểu về Văn học vết thương tại Trung Quốc và Việt Nam đang có một độ chênh nhất định
Thứ nhất, về hoàn cảnh hình thành nên trào lưu Văn học vết thương, ở Việt Nam nhấn mạnh tới sự kiện “cách mạng văn hóa” kết thúc mà không coi trọng tới yếu tố sự thay đổi đường lối đối với văn học nghệ thuật ở Trung Quốc Có thể nói, chính nhờ chính sách “cởi trói” đối với văn nghệ của Đảng cộng sản Trung Quốc mà nhà văn, nhà thơ Trung Quốc mới có quyền được tự
do nói lên tiếng lòng của mình Điều này trái ngược hoàn toàn với những khuôn khổ chật chội trong văn học thời kỳ “cách mạng văn hóa”, khi mà các sáng tác bị kìm tỏa chặt chẽ, chỉ được viết về “công, nông, binh” và ca ngợi anh hùng cách mạng Có thể nói, nếu không có chính sách mới, sẽ không thể
có những tác phẩm dám vạch trần tội ác lịch sử của “bè lũ bốn tên”, nêu lên những hậu quả mà “cách mạng văn hóa” để lại, đồng thời giương cao ngọn cờ cách mạng mang tinh thần Ngũ Tứ - lật đổ cái cũ, cái hủ lậu, xây dựng cái mới tốt đẹp, dân chủ
Thứ hai, trong Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới Lê Văn Hiệp viết, “Ở đây, theo các
nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc, tiêu chí quan trọng và gần như duy nhất tạo nên Văn học Vết thương đó là sự phản ánh và tố cáo những bi kịch của con người trong Cách mạng văn hóa Vượt ra khỏi tiêu chí này, chẳng hạn nếu như tác giả cố gắng lý giải nguyên nhân của những bi kịch mà người ta phải chịu đựng trong Cách mạng văn hóa, thì những tác phẩm ấy lại được xếp vào trào lưu Văn học Phản tư (suy nghĩ lại, đặt lại vấn đề), trào lưu văn học tồn tại gần như song song với Văn học Vết thương.” [13; tr 30] Tiêu chí tạo nên Văn học vết thương, theo Trần Tư Hòa, Văn học vết thương vạch trần tội ác của “cách mạng văn hóa”, mà ở đây cụ thể là “bè lũ bốn tên” trên tinh thần tiếp nối giá trị truyền thống Ngũ Tứ, đồng thời đó là sự sám hối của người trí
Trang 31thức đối với những vấn đề lịch sử đã qua (tiêu biểu là tác phẩm Tùy tưởng lục
của Ba Kim) Qua đó có thể thấy, ngoài thời gian ra đời của tác phẩm, có ít nhất ba đặc trưng quan trọng để định hướng một tác phẩm có thuộc trào lưu Văn học vết thương hay không chứ không thể chỉ dừng lại ở một tiêu chí “gần như duy nhất” là viết về “cách mạng văn hóa” được
Thứ ba, theo Lê Văn Hiệp: “Kết cục của các tác phẩm Văn học vết thương bao giờ cũng là những kết thúc có hậu theo lối công thức hóa bị ảnh hưởng từ quan niệm sáng tác của giai đoạn trước” [13; tr 31] Tuy nhiên,
trong giáo trình Giản sử văn học thời kỳ mới chỉ rõ bao phủ lên các tác phẩm
Văn học vết thương là không khí âm u, tuyệt vọng Có thể thấy rõ việc này
qua kết thúc tác phẩm Vết thương - một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất
của trào lưu Văn học vết thương Kết thúc truyện là tâm trạng đau đớn, tràn đầy hối hận của Vương Hiểu Hoa trước những sai lầm của bản thân, nỗi day dứt vì không được gặp mẹ lần cuối chắc chắn sẽ theo cô tới suốt cuộc đời
Như vậy, có thể nói rằng, để nhìn nhận Văn học vết thương một cách toàn diện nhất, không thể tách rời nó khỏi hoàn cảnh ra đời là sự kết thúc của cuộc “cách mạng văn hóa”, sự “cởi trói” trong chính sách văn nghệ của Đảng Trung Quốc Đồng thời, Văn học vết thương còn là sự trở về, tiếp nối truyền thống tinh thần Ngũ Tứ đã bị đứt đoạn suốt mười năm trước đó Và cao hơn nữa là sự tự sám hối, ý thức trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc của người
trí thức
Tiểu kết
Những vết thương thể xác và tinh thần trong suốt mười năm “cách mạng văn hóa” khiến trào lưu Văn học vết thương không chỉ có giá trị trong thời điểm những năm 80 của thế kỷ XX tại Trung Quốc, mà nó còn có ý nghĩa như một tài liệu quý báu để hiểu cặn kẽ hơn về giai đoạn mười năm 1966 -
1977 đầy biến động của Trung Quốc Như chúng tôi đã trình bày ở trên, điều
Trang 32khiến giới nghiên cứu Trung Quốc tranh cãi nhiều nhất là định danh của trào lưu Văn học vết thương chứ không phải cách hiểu về trào lưu này (mà ở đây chúng tôi đã chỉ rõ việc nhận diện Văn học vết thương qua ba đặc trưng tiêu biểu là vạch trần tội ác của “bè lũ bốn tên”, tiếp nối tinh thần Ngũ Tứ và ý thức tự sám hối) Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nhìn nhận Văn học vết thương tại Việt Nam cần có một cách hiểu đúng đắn và toàn diện hơn, đặt trào lưu này trong chính bối cảnh lịch sử đặc biệt riêng có của nó để xem xét
Trang 33tác phẩm có giá trị Một trong các tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là Tùy tưởng lục, đây cũng được xếp vào một trong ba tác phẩm tiêu biểu nhất của trào lưu Văn học vết thương Bởi lẽ Tùy tưởng lục là một bộ sách khá đồ sộ,
gồm năm tập, một trăm năm mươi bài ghi chép tỉ mỉ lại những việc đã diễn ra với Ba Kim cũng như gia đình, bè bạn của ông trong suốt mười năm “cách mạng văn hóa” Tập sách được ví như một “bảo tàng cách mạng văn hóa” trên trang giấy, bảo tàng bằng câu chữ này đã đưa người đọc đến với những sự thật mà tại thời điểm đó ít người dám nhìn nhận, nói lên Đó chính là sự thật khách quan về tội ác của “bè lũ bốn tên” cũng như sự dũng cảm nhìn nhận sự thật về “nô lệ tư tưởng” trong bản thân mỗi cá nhân, để từ đó Ba Kim kêu gọi
sự thức tỉnh, tinh thần đấu tranh chống những mầm mống xấu xa vẫn còn ẩn tàng trong xã hội Trong chương 2 này chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược về Ba Kim, cũng như hành trình sáng tác từ Văn học Ngũ Tứ tới Văn học vết thương của ông, đồng thời làm rõ các đặc trưng tiêu biểu của trào lưu Văn học
vết thương qua tác phẩm cụ thể Tùy tưởng lục
2.1 Tinh thần Văn học Ngũ Tứ như là ngọn nguồn của Văn học vết thương
Ba Kim tên thật Lý Nghiêu Đường, tự Thị Cam Còn có các bút danh: Hắc Lãng, Vương Văn Huệ, Âu Dương Kính Dung, Dư Nhất, Hoàng Thụ Huy… Quê gốc ở Gia Hưng Chiết Giang Sinh ra trong một gia đình quan lại
Trang 34của Thành Đô, Tứ Xuyên Năm 1918 học Trường Bổ túc Tiếng Anh của Hội thanh niên Thành Đô, năm 1920 thi đỗ trường Ngoại ngữ Thành Đô Trong thời gian học tập ông đã tiếp nhận luồng văn hóa mới Ngũ Tứ, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng chủ nghĩa vô chính phủ, điều này đã cấu thành nên màu sắc trong các sáng tác thời kỳ đầu của ông
Ba Kim đã từng chứng kiến cuộc sống xấu xa, thối nát của thế lực cầm quyền trong gia đình phong kiến lớn Cảnh ngộ bị áp bức thậm chí phải hy sinh của bao thanh niên, số phận cực kỳ bi thảm của những người bị coi là “hạ đẳng” đã làm ông căm ghét những thối nát bất công của xã hội Dưới ảnh hưởng của phong trào Ngũ Tứ, Ba Kim đã từng bước giác ngộ cách mạng dân chủ Cuộc sống và quá trình phát triển tư tưởng của Ba Kim thời trẻ đã được phản ánh trong tác phẩm của ông sau này Năm 1923, Ba Kim rời bỏ gia đình phong kiến, đến Thượng Hải, Nam Kinh học tập Đầu năm 1927 ông đi Pháp, được tiếp xúc với những tư trào xã hội khác nhau trong những địa bàn rộng lớn hơn Trong các tư trào thì tư trào dân chủ của đại cách mạng tư sản Pháp
có sức hấp dẫn mạnh nhất đối với ông Sau này ông từng nói: “Tất cả chúng ta đều là con đẻ của đại cách mạng Pháp” Ông cũng được cổ vũ bởi chủ trương
và hành động của những đảng viên Đảng hư vô nước Nga Trong tác phẩm của Ba Kim chúng ta có thể thấy được những dấu ấn khác nhau của những ảnh hưởng tư tưởng phức tạp đó
Hoạt động sáng tác của Ba Kim bắt đầu từ năm 1927, lúc ông ở Pháp
Đó là lúc cuộc nội chiến cách mạng lần thứ nhất, do sự phản bội của giai cấp đại tư sản, mà đang từ thế thắng chuyển thành bại Cách mạng đi vào giai đoạn thoái trào Chính phủ Mỹ bất chấp sự phản đối của dư luận thế giới, đã
xử tử một nhà vô chính phủ mà Ba Kim tôn là “thầy” càng làm ông đau buồn
và thất vọng Tất cả những điều đó đã làm cho tác phẩm đầu tay của ông có
một không khí bồn chồn, áy náy Những tác phẩm thời kỳ đầu Diệt vong,
Trang 35Cuộc sống mới, Ái tình tam bộ khúc đều viết về hoạt động của một nhóm
thanh niên trong hoàn cảnh bị bọn quân phiệt thống trị Tác giả đã phô bày tính chất tàn bạo và bất nghĩa của bọn quân phiệt phong kiến, và với nhiệt tình nóng bỏng, đã khắc họa những nhân vật Đỗ Đại Tâm, Trần Chân, Ngô Nhân Dân, Lý Bội Châu ca ngợi lòng căm ghét hiện trạng đen tối, theo đuổi tương lai tươi sáng và tinh thần dám hy sinh của họ
Trong các sáng tác của Ba Kim đã có các tác phẩm Gia đình, Mùa xuân, Đêm lạnh và Tùy tưởng lục được dịch và xuất bản ở Việt Nam Nhìn vào các
tác phẩm đã được giới thiệu ở Việt Nam, chúng ta có thể bước đầu có được cái nhìn tổng quan về hành trình sáng tác từ Văn học Ngũ Tứ tới Văn học vết thương của Ba Kim
Trong đó, các tác phẩm Gia đình, Mùa xuân thuộc bộ ba tác phẩm Kích lưu tam bộ khúc đã thể hiện rất rõ quan điểm sáng tác của Ba Kim thời kỳ
Văn học Ngũ Tứ Truyện kể về sự tan rã của đại gia đình phong kiến họ Cao đầy rẫy những hủ bại, bất công, đồng thời thể hiện tinh thần đấu tranh chống cái cũ của thanh niên Trung Quốc Đánh đổ những hủ bại của Nho giáo, đả đảo đế quốc xâm lược, khát vọng tìm kiếm dân chủ cho dân tộc, đó chính là
tinh thần chủ đạo trong Kích lưu tam bộ khúc Tác phẩm đã in đậm dấu ấn của
thời đại, nơi những người thanh niên trí thức sẵn sàng xuống đường biểu tình chống lại phong kiến lạc hậu và đế quốc xâm lược Trong dòng chảy hừng hực khí thế tuổi trẻ ấy, các tác phẩm của Ba Kim đã góp một tiếng nói vào việc tạo dựng hình tượng người thanh niên, đồng thời cổ vũ cho tinh thần cách mạng, khai minh
Tới truyện vừa Đêm lạnh, vẫn là sự tiếp nối của tinh thần Ngũ Tứ, khi
mà mẹ của Uông Văn Tuyên là đại diện của lớp người phong kiến cũ, còn vợ của anh - Tăng Thụ Sinh - lại là người tiếp thu những tư tưởng, văn hóa mới Cuộc sống của Uông Văn Tuyên luôn đầy rẫy những giằng xé, mâu thuẫn, khi
Trang 36mà anh phải chịu khuất phục trước quyền uy của gia đình, tiêu biểu là mẹ anh, chính bởi lẽ đó anh không có cách nào hòa giải được cuộc xung đột triền miên giữa hai người phụ nữ mà anh yêu
Còn đến Tùy tưởng lục, bộ sách mà Ba Kim coi như nhiệm vụ cuối
cùng trong cuộc đời cầm bút của ông đã mang đậm tinh thần Văn học vết thương và trở thành một trong các tác phẩm tiêu biểu của trào lưu văn học này
Tùy tưởng lục là những ghi chép lại các chuyện mà chính Ba Kim đã phải trải
qua suốt mười năm hạo kiếp “cách mạng văn hóa”, bị kiểm thảo, phê đấu, đang từ một trí thức yêu nước bỗng biến thành “bò” Mười năm ấy, ông luôn phải sống trong tâm trạng phấp phỏng lo âu, sợ hãi Và cũng trong mười năm
“cách mạng văn hóa”, Ba Kim đã mất đi người vợ yêu quý của mình - Tiêu San, mất đi những người bạn, người đồng chí Và điều đau khổ, dằn vặt nhất chính là mười năm ấy ông đã đánh mất cả lương tri của người trí thức, đã khom lưng cúi gối tự nhận tội, tự biến mình thành “bò” Những vết thương đó mãi mãi không bao giờ lành miệng, nó không chỉ là họa hại đối với một mình nhà văn, mà nó chính là cơn ác mộng suốt một thập kỷ đối với nhân dân
Trung Quốc Tùy tưởng lục vừa là một lời sám hối lại vừa là tiếng chuông
cảnh tỉnh đối với nhân dân Trung Hoa Tác phẩm cũng là sự nối dài tinh thần
thanh niên Ngũ Tứ sục sôi nhiệt huyết cách mạng trong Gia đình, Mùa xuân
hay các tác phẩm trước đó của ông
2.2 Đặc trưng Văn học vết thương trong Tùy tưởng lục
2.1.1 Vạch trần tội ác của “bè lũ bốn tên”
“Bè lũ bốn tên” là cụm từ để chỉ một nhóm lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị nhà cầm quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho là cấu kết với nhau lộng quyền và để sát hại những Đảng viên không theo phe cánh của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng sau đó bị bắt và xét xử năm
Trang 371976, sau khi Mao Trạch Đông mất “Bè lũ bốn tên” là những thành viên hoạt động tích cực nhất “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc Nhóm “bè lũ bốn tên” gồm: Giang Thanh (vợ thứ tư của Mao Trạch Đông), Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn Việc bắt giữ và xét xử “bè lũ bốn tên” được xem như đánh dấu sự kết thúc của “cách mạng văn hóa” ở Trung Quốc
“Bè lũ bốn tên” đã gây ra cuộc “cách mạng văn hóa” suốt mười năm ở Trung Quốc, khiến hàng triệu người bị chết, thương tật, trí thức bị đấu tố, truy bức, nhục hình, gây nên vết thương vĩnh viễn không thể xóa mờ cả trên thân thể lẫn tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của những người bị hại Chính những tội
ác này là động lực đầu tiên hình thành nên trào lưu Văn học vết thương Khi
mà người nghệ sĩ được “cởi trói”, được nói lên nỗi lòng mình, thì những ám ảnh suốt mười năm quá khứ ấy chính là đề tài nóng bỏng nhất mà họ quan tâm, hướng tới nhằm vạch trần tội ác của “bè lũ bốn tên”, phơi bày những điều xấu xa, tối tăm trong xã hội mà trước đây đều bị phủ lấp bởi những ngôn
từ sáo rỗng, giả dối
Đặc trưng đầu tiên khi nhắc tới Văn học vết thương chính là việc dám vạch trần, tố cáo tội ác của “bè lũ bốn tên”, những tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần của mười năm “cách mạng văn hóa” lên nhân dân, trong đó có tầng
lớp trí thức Đó cũng là một trong những điều mà Tùy tưởng lục muốn truyền
tải - tố cáo tội ác của “bè lũ bốn tên”, và hơn thế chính là mong mỏi những họa hạn suốt mười năm ấy không phải tái diễn thêm một lần nào nữa trên đất nước Trung Quốc
Ba Kim bắt tay vào viết Tùy tưởng lục năm 1976, tới 1986 thì hoàn
thành bộ sách hơn 40 vạn chữ này Tác phẩm là những ghi chép trung thực nhất của tác giả về cuộc sống trong thời “cách mạng văn hóa”
Trang 38Ba Kim nói, những lời trong cuốn Tùy tưởng lục đều là những lời ông rút từ trong tim mình ra mà viết, những lời nói trong Tùy tưởng lục đều là
những lời nói thật Trong suốt mười năm “cách mạng văn hóa” xã hội toàn là những lời nói dối, nói láo, các tác phẩm văn học cũng chỉ là những lớp vỏ ngôn từ sáo rỗng, mọi người đều bị ngôn từ lừa gạt, không có những lời nói thật, vì vậy mà văn học mất đi sự tín nhiệm, mất đi độc giả, đi dần vào ngõ cụt Trong mười năm hoang đường đáng sợ đó, nghệ thuật nói dối đã đạt đến đỉnh cao nhất, lời nói dối đã trở thành chân lý, nói thật hóa ra mắc trọng tội
“Cách mạng văn hóa” kết thúc, Văn học vết thương đã mở ra một con đường
mới Ba Kim trong Tùy tưởng lục đã nói lên những lời nói thật của lòng mình,
nhà thơ Ngải Thanh cũng đã dám lớn tiếng nói thật những gì suy nghĩ, điều ấy
đã thổi một luồng gió mới vào văn đàn
Những sự kiện trong Tùy tưởng lục đều là những việc chính Ba Kim đã
từng trải qua, mỗi sự kiện đều khắc sâu vào trí não, trái tim ông, chính vì vậy
có người từng gọi Tùy tưởng lục cũng chính là Sám hối lục
Sau khi tập 1 được xuất bản, Tùy tưởng lục đã vấp phải một số lời chỉ trích như: Tùy tưởng lục thiếu kỹ thuật trong sáng tác, không nên chỉ trong
một cuốn sách mà có tới 47 từ “bè lũ bốn tên” Đó là một trong những tiếng nói tố cáo đầu tiên sau “cách mạng văn hóa”, không phải tiếng nói chung chung, mà là sự chỉ mặt điểm tên, vạch trần tội ác của những kẻ gây nên mười năm tai họa cho hàng triệu con người: “Tôi đã thu hoạch được rất nhiều trong cách mạng văn hóa, ‘bè lũ bốn tên’ đã bày bán tất cả các mặt hàng phái ‘tả’ của mình, những thứ đó đều là thứ hàng rách nát của chế độ phong kiến, ngoại trừ vẻ bề ngoài còn lại không có chút gì là cách mạng Lâm Bưu, ‘bè lũ bốn tên’ và ‘người này’, ‘người kia’ dùng việc phục hồi toàn diện chủ nghĩa chuyên chế phong kiến để phản đối ‘xã hội tư bản chưa từng xuất hiện’, họ lôi những thứ ‘đồ cổ’ lên cải trang lại để khiến người ta tin rằng đó là xã hội chủ
Trang 39nghĩa Bọn họ để thúc đẩy cái gọi là ‘chuyên chính toàn diện đối với giai cấp
tư sản’ đã giết không biết bao nhiêu người, khiến chảy không biết bao nhiêu máu Hôm nay tôi mang trong mình vết thương không thể chữa lành chào đón sáu mươi năm phong trào ‘Ngũ Tứ’, tôi chúc mừng bản thân đã vượt qua được vị ‘nữ hoàng’ đao phủ chưa kịp đăng cơ kia Nhưng nhìn lại con đường loang lổ vết máu đã đi qua, nhớ lại mười một năm bạn bè, đồng chí và cả những người lạ lần lượt nằm xuống, tôi lấy cái gì để an ủi người chết, cổ vũ người sống đây?”1 [32; tr 64]
Cũng có nhiều bạn bè của Ba Kim khuyên ông không nên nói quá nhiều những lời nói thẳng, không kiêng kỵ như vậy, để tránh vạ vào thân Ba Kim nói, đã trải qua mười năm địa ngục “cách mạng văn hóa” thì ông không
còn sợ bất cứ điều gì nữa, tất cả những lời trong Tùy tưởng lục đều là thật tâm Như trong bài Không có gì đáng sợ nữa rồi, ông viết: “Thời kỳ đó sống là
một việc không hề dễ dàng Hồng vệ binh một tay cầm ‘hồng bảo thư’ một tay cầm dây lưng khóa đồng và ‘hình tượng anh hùng’ của phái tạo phản đọc thuộc lòng ‘chỉ thị tối cao’ động tay động chân đánh người, thậm chí vẫn còn xuất hiện trong cả cơn ác mộng của tôi Phải đến lúc gần cuối đời, tôi mới có thể nói: ‘Không có gì đáng sợ nữa rồi.’”2 [32; tr 218] Phải trải qua mười năm tăm tối của “cách mạng văn hóa”, phải đối mặt với lằn ranh mỏng manh giữa sống và chết, chính và tà, người ta mới hiểu được giá trị của sự sống chính là
để đấu tranh, để “không còn sợ” bất kỳ thế lực nào
Hầu hết các bài viết trong Tùy tưởng lục đều liên quan tới “cách mạng
văn hóa”, ông nhắc đến những khổ nạn, đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần, mất đi quyền làm người, nhân cách con người trong suốt mười năm ấy: “Tôi
1
Nội dung này do người viết dịch, xem thêm ở phần Phụ lục, bài Sáu mươi năm phong
trào Ngũ Tứ, trang 77
nữa rồi”, trang 81.
Trang 40đã viết không ít ‘đơn nhận tội’, bị phê đấu một lần, chính là đã ‘nhận được một bài học sâu sắc’ Rốt cuộc tôi muốn nói cái gì? Hôm nay phân tích ‘kỹ lưỡng’ bản thân, cũng chẳng qua là mặt dạn mày dày mong qua được một cửa
ải mà thôi Lúc đó tôi đã không còn là nhà văn, ngoài việc nhục mạ bản thân thì chẳng viết được khác, không những chỉ nói dối mà đến cả thật giả cũng không phân biệt nổi, quen rồi bỗng thấy bình thường.”1 [32; tr 465]
Ông dùng những lời văn thấm đượm máu và nước mắt khi nhắc tới
người vợ yêu quý - Tiêu San - của mình trong bài viết Nhớ Tiêu San Ông cật
vấn: Người tại sao lại biến thành thú? Tại thời điểm ấy, bè lũ bốn tên đã biến nhân gian thành địa ngục, sáng xin chỉ thị, tối báo cáo, phê phán tư bản, đấu
tố, sách cấm, báo chữ to tất cả khiến xã hội hỗn loạn, rối ren, mọi thứ bị đảo lộn, những người làm cách mạng bỗng biến thành phản cách mạng, trí thức bị cải tạo, lão cán bộ bị gạt ra rìa, pháp luật bị phá vỡ, những người nói dối thì nhởn nhơ, người nói thật lại hàm oan Trải qua suốt mười năm ấy, khi “bè lũ bốn tên” được dẹp bỏ, Ba Kim muốn dùng những lời lẽ chân thực từ cõi lòng mình để nhớ về, để phản tỉnh bản thân và mọi người về tai họa tưởng rằng đã qua nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ có thể quay lại bất cứ lúc nào ấy
Những gì đã trải qua trong mười năm “cách mạng văn hóa”, Ba Kim đã
phải mất tám năm ghi chép lại thành bộ Tùy tưởng lục này, dù trong thời gian
ấy sức khỏe của ông không được tốt, nhưng bằng nghị lực kiên cường nhất, ông vẫn cố gắng để viết, ông cho rằng đây là việc cần phải làm và cũng là việc cuối cùng trong đời mình, dù cho thế nào cũng phải hoàn thành Ông bị bệnh Parkinson, rất khó khăn trong việc viết chữ, nhưng ông vẫn cố gắng viết từng chữ một, có khi phải mất cả ngày mới viết được hơn 200 chữ, viết chữ không rõ ràng thì lại tô lại Sau đó bệnh trở nặng, ông phải nhập viện, trên