1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tác động qua lại giữa chính sách khoa học và công nghệ với bảo hộ sở hữu công nghiệp (nghiên cứu trường hợp tỉnh hải dương)

103 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu, việc tìm hiểu sự tác động của chính sách khoa học công nghệ tới hoạt bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có ý nghĩa cấp thiết trong giai đoạn hiện nay trên một

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUANG PHÚC

SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUANG PHÚC

SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VỚI BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG)

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Kết cấu của luận văn 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 13

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 13

1.1.1 Khái niệm chính sách 13

1.1.2 Tác động của chính sách 16

1.1.3 Chuỗi tác động của chính sách 17

1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 17

1.2.1 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ 17

1.2.2 Vật mang chính sách khoa học và công nghệ 18

1.2.3 Kiến tạo xã hội của chính sách khoa học và công nghệ 20

1.3 Cơ sở lý luận về bảo hộ sở hữu công nghiệp 21

1.3.1 Khái quát về sở hữu trí tuệ 21

1.3.2 Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp 23

1.3.3 Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp 26

1.3.4 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 29

1.4 Mối quan hệ giữa chính sách khoa học và công nghệ với bảo hộ sở hữu công nghiệp 33

1.4.1 Sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở hữu công nghiệp 33

1.4.2 Sự tác động của bảo hộ sở hữu công nghiệp đến chính sách khoa học và công nghệ 39

Kết luận Chương 1 42

CHƯƠNG 2 43

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 43

ĐẾN BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 43

Trang 4

2.1 Tác động dương tính của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở

hữu công nghiệp 43

2.1.1 Tác động đến nhận thức về sở hữu công nghiệp 43

2.1.2 Hỗ trợ doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu công nghiệp 50

2.1.3 Thu thập thông tin và bổ sung cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp 56

2.2 Tác động âm tính của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở hữu công nghiệp 56

2.2.1 Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 56

2.2.2 Thực thi chính sách không nhất quán 57

2.2.3 Để hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tồn tại trên thị trường: lỗi từ khâu hoạch định chính sách 61

2.2.4 Thông tin khoa học và công nghệ không đảm bảo kịp thời 66

2.3 Đánh giá tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở hữu công nghiệp 67

2.3.1 Đánh giá tác động dương tính 67

2.3.2 Đánh giá tác động âm tính 68

Kết luận Chương 2 69

CHƯƠNG 3 71

TÁC ĐỘNG CỦA BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 71

ĐẾN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 71

3.1 Bảo hộ sở hữu công nghiệp – một công cụ thực hiện chính sách khoa học và công nghệ 71

3.1.1 Thực hiện nghiên cứu tại doanh nghiệp 71

3.1.2 Thực hiện nghiên cứu tại tổ chức 74

3.1.3 Thực hiện nghiên cứu tại cộng đồng 80

3.2 Bảo hộ sở hữu công nghiệp – một công cụ tác động trở lại quá trình hoạch định chính sách khoa học và công nghệ 84

3.2.1 Tránh nghiên cứu lặp lại những kết quả đã công bố 84

3.2.2 Bổ khuyết thông tin khoa học và công nghệ 88

3.2.3 Thị trường chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp 93

3.3 Đánh giá tác động của bảo hộ sở hữu công nghiệp đến chính sách khoa học và công nghệ 96

3.3.1 Đánh giá tác động dương tính 96

3.3.2 Đánh giá tác động âm tính 97

Kết luận Chương 3 98

KẾT LUẬN 99

KHUYẾN NGHỊ 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Danh sách các doanh nghiệp đƣợc hỗ trợ kinh phí bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 2009 trang 48 Bảng 2.2 Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp và số văn bằng đƣợc cấp trang 51

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã trở thành yếu tố cốt lõi của sự phát triển của mỗi quốc gia Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, KH&CN là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước Chính sách KH&CN là các chủ trương, biện pháp của Nhà nước nhằm phát triển KH&CN phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách KH&CN được xây dựng trên

cơ sở những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với từng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế trong từng giai đoạn phát triển Với tư cách là động lực chủ yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, Chính sách KH&CN có tác động sâu sắc, toàn diện và có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của mọi mặt của đời sống xã hội nói chung cũng như trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế nói riêng Chính sách KH&CN tác động trực tiếp tới hiệu quả của quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD, kinh tế tri thức là “nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc tạo ra, phân phối

và sử dụng tri thức và thông tin” Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình

Dương, APEC thì cho rằng kinh tế tri thức là “nền kinh tế trong đó việc tạo

ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế”

Như vậy, trong nền kinh tế tri thức, vấn đề mấu chốt chính là việc tạo dựng, phân phối, khai thác và sử dụng các tri thức và thông tin Đây cũng chính là những nội dung cơ bản của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng Chính sách KH&CN có tác động trực tiếp và quyết định tới hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Ngược lại hoạt động bảo hộ sở hữu công nghiệp cũng tác động trở lại

Trang 7

Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu, việc tìm hiểu sự tác động của chính sách khoa học công nghệ tới hoạt bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có ý nghĩa cấp thiết trong giai đoạn hiện nay trên một số phương diện như sau: một mặt, làm rõ cơ chế tác động của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (đối tượng tác động, hiệu quả tác động, phương thức tác động, …); mặt khác, từ những nhu cầu thực tế phát sinh trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp để xác định những kiến nghị, đề xuất nhằm hoạch định, hoàn thiện chính sách khoa học công nghệ có liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp là một việc quan trọng

Bên cạnh đó, xuất phát từ đặc thù kinh tế - xã hội, dân cư – lãnh thổ, phong tục tập quán của từng cộng đồng dân cư cụ thể, sự tác động của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn của từng địa phương cũng có những đặc thù riêng nhất định Với tư cách là một người đang tham gia hoạt động thực tiễn tại địa phương tỉnh Hải Dương, với sự hạn chế ít nhiều trong việc tiếp cận các vấn đề lý thuyết về chính sách KH&CN, về sự tác động đến hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt với mong muốn đem những kết quả nghiên cứu của mình đóng góp cho sự phát triển của hoạt động quản lý KH&CN của tỉnh nhà, học viên lựa

chọn đề tài Sự tác động qua lại giữa chính sách KH&CN với bảo hộ sở hữu

công nghiệp (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương) làm nội dung nghiên

cứu cho Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hiện nay, hướng nghiên cứu về tác động của chính sách khoa học công nghệ là một trong những vấn đề then chốt, kinh điển trong khoa học quản lý nói chung và quản lý khoa học công nghệ nói riêng Trong đó, phải kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như:

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước Khoa học và Công nghệ với việc phát

triển nông nghiệp, nông thôn do GS.TS Chu Tuấn Nhạ chủ trì năm 1997 đã

nghiên cứu vai trò của khoa học, kết quả nghiên cứu khoa học thể hiện qua công nghệ để chuyển giao cho nông nghiệp và phát triển nông thôn;

Trang 8

- Nghiên cứu của Đàm Văn Nhuệ và Nguyễn Đình Quang (1998) “Lựa

chọn công nghệ thích hợp ở các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam”, đã phân

tích tình hình công nghệ trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác của doanh nghiệp

- Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) “Nghiên cứu cơ sở khoa học

cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam”,

đã đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Bên cạnh những điểm tích cực của những chính sách này cũng cho thấy có sự chưa phù hợp của môi trường chính sách với nhu cầu của hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp;

- Nghiên cứu của Vũ Cao Đàm (2003) “Đổi mới chính sách tài chính cho

hoạt động KH&CN”, đã đề cập đến tín dụng cho hoạt động KH&CN cho thấy

rằng tín dụng đối với hoạt động KH&CN hầu như không phát huy được hiệu quả, do sự khác nhau giữa bản chất hoạt động của ngân hàng và hoạt động KH&CN;

- Nghiên cứu của Hoàng Xuân Long (2006) “Phân tích một số mô hình

liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp để phát triển công nghệ mới” đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến sự liên kết này, gồm:

Lãnh đạo doanh nghiệp phải thực sự coi trọng khoa học và công nghệ Đồng thời thái độ đối với KH&CN phải thể hiện cụ thể ở các mặt như đầu tư kinh phí cho nghiên cứu và triển khai (R&D), chú trọng phát triển bộ phận R&D trong doanh nghiệp; có chiến lược phát triển kinh doanh và định hướng phát triển công nghệ rõ ràng; doanh nghiệp phải nắm vững thông tin và có khả năng phân tích về các đối tác cần liên kết; xây dựng được quan hệ tin cậy lẫn nhau; phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp với Viện, Trường trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên kết, thay vì giao trọn gói cho Viện hoặc Trường tiến hành nghiên cứu;

- Tác động của chính sách KH&CN đến hiệu quả quản lý tài sản sở

hữu trí tuệ bằng nguồn kinh phí Nhà nước (nghiên cứu trường hợp Trường

Trang 9

Đại học Bách khoa) (Luận văn thạc sĩ của học viên cao học Nguyễn Thị

Hương Giang, chuyên ngành Quản lý KH&CN, ĐHKHXH&NV, 2009)

- Tác động của chính sách khoa học và công nghệ tới bảo hộ sáng chế

(Luận văn thạc sĩ của học viên cao học Hoàng Thị Hải Yến, chuyên ngành Quản lý KH&CN - ĐHKHXH&NV ĐHQGHN, 2010)

- Sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với hoạt động chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

(Luận văn thạc sĩ của học viên cao học Nguyễn Đức Chính, chuyên ngành Quản lý KH&CN, ĐHKHXH&NV, 2011)

- Chính sách phát triển công nghệ theo hướng thị trường kéo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương), (Luận văn thạc sĩ của học viên cao học Vũ Ngọc Dương, chuyên

ngành Quản lý KH&CN, ĐHKHXH&NV, 2012)

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu tổng quan về chính sách khoa học và công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả

và quyền sở hữu công nghiệp

Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã công bố, đề tài nghiên cứu của học viên sẽ đề cập tới việc nghiên cứu một cách toàn diện những tác động của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Hải Dương, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường những tác động tích cực của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nâng cao hiệu quả của hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn cũng như đưa ra những kiến nghị góp phần hoạch định, hoàn thiện chính sách KH&CN có liên quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp từ những nhu cầu thực tế phát sinh trong hoạt động này tại địa phương

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu sau đây:

Trang 10

Chính sách KH&CN có tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngược lại bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò là công cụ trong việc thực hiện chính sách KH&CN, đồng thời tác động trở lại quá trình điều chỉnh chính sách KH&CN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài này phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách KH&CN, kiến tạo xã hội của chính sách KH&CN, bảo hộ sở hữu công nghiệp và sự tác động qua lại của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo hộ sở hữu công nghiệp

- Chứng minh chính sách KH&CN đã tác động dương tính đến bảo hộ

sở hữu công nghiệp;

- Chứng minh bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò là công cụ trong việc thực hiện chính sách KH&CN, đồng thời tác động trở lại quá trình điều chỉnh chính sách KH&CN

4 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong giai đoạn 2002-2012

5 Mẫu khảo sát

Luận văn khảo sát trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong đó tập trung vào:

- Huyện Kinh môn: khảo sát việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể;

- Huyện Thanh Hà: khảo sát việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý;

- 42 doanh nghiệp trong diện được hỗ trợ bảo hộ sở hữu công nghiệp;

- 5 doanh nghiệp là chủ bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích Ngoài ra, Luận văn còn khảo sát:

- Các đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế và nhãn hiệu do các cá nhân, doanh nghiệp Hải Dương nộp được Cục SHTT chấp nhận/từ chối bảo hộ nhằm chứng minh chính sách KH&CN đã tác động dương tính và tác động âm tính đến bảo hộ sở hữu công nghiệp;

Trang 11

- Hoạt động thực thi quyền sở hữu công nghiệp tại Hải Dương để chứng minh bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò là công cụ trong việc thúc đẩy thực hiện chính sách KH&CN, đồng thời tác động trở lại quá trình điều chỉnh chính sách KH&CN

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Chính sách KH&CN, bảo hộ sở hữu công nghiệp đã tác động qua lại lẫn nhau như thế nào?

- Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

1 Chính sách KH&CN đã tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp như

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Chính sách KH&CN đã tác động dương tính đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngược lại bảo hộ sở hữu công nghiệp là một công cụ thực hiện chính sách KH&CN

- Các giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

1 Chính sách KH&CN đã tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp thể

hiện trên các khía cạnh: tác động đến nhận thức của doanh nghiệp/cá nhân về

sở hữu công nghiệp; hỗ trợ cho doanh nghiệp/cá nhân xác lập quyền sở hữu công nghiệp

2 Bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò là một công cụ quan trọng

để thực hiện chính sách KH&CN

3 Bảo hộ sở hữu công nghiệp đã tác động trở lại quá trình điều chỉnh chính sách KH&CN, thể hiện trên các khía cạnh: bổ khuyết, sửa đổi các quy định của chính sách KH&CN

Trang 12

Xin lưu ý: giả thuyết nghiên cứu cụ thể số 1 mà Luận văn đã nêu là chưa hoàn toàn chính xác, nó đã bị thực tiễn khảo sát tại Chương 2 bác bỏ một phần Luận văn sẽ lý giải điều này tại mục 2.2 và tiểu mục 2.3.2

8 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được tác giả Luận văn sử dụng trong nghiên cứu là:

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu dựa trên các báo cáo liên quan đến thực trạng tác động của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương của các cơ quan, tổ chức có liên quan;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là các báo cáo của cơ quan quản lý KH&CN, quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp; các báo cáo tại các hội thảo chuyên đề; các bài báo, bài viết và các công trình nghiên cứu khác

- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả Luận văn tiến hành phỏng vấn sâu 3 nhà quản lý KH&CN, 5 đại diện doanh nghiệp, 2 đại diện tổ chức có liên quan đến sở hữu công nghiệp Phương pháp tiến hành phỏng vấn: tác giả liên hệ qua điện thoại, email gửi trước câu hỏi, hẹn thời gian trực tiếp phỏng vấn, trao đổi;

- Phương pháp quan sát: tác giả đã trực tiếp quan sát trên thị trường tỉnh Hải Dương và đã phát hiện ra vấn đề nghiên cứu mới, dẫn đến việc bác

bỏ 1 phần giả thuyết nghiên cứu đã đề ra

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn

- Chương 2 Tác động của chính sách KH&CN đến bảo hộ sở hữu công nghiệp

- Chương 3 Tác động của bảo hộ sở hữu công nghiệp đến chính sách KH&CN

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách

1.1.1 Khái niệm chính sách 1

Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có: tiếp cận chính trị học, tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp [4;11]

Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:

- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị

pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà

chủ thể quyền lực mong đợi

- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể

quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó

- Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động

của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra

- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời

khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)

1 Tham khảo từ: Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 14

- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một

đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ

thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý

Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”

Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:

- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích

thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội

- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các

đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )

- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và

nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là

cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách

- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói

trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh

doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,

Trang 15

Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:

- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó

trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn

thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau

- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố

bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách

thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này

tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao

giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển

- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những

biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm

“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó

Định nghĩa của Luận văn

Từ những quan niệm trên đây về chính sách, Luận văn sử dụng định nghĩa chính sách:

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một/một nhóm mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển chung của xã hội.”

Thuật ngữ “Nhà nước” trong định nghĩa trên đây được hiểu là:

Trang 16

- Cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm: Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp;

- Cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: Chính phủ, Ủy ban Nhân dân các cấp;

- Cơ quan tư pháp: Tòa án Nhân dân tối cao Trong Luận văn này không khảo sát các văn bản của các cấp tòa án địa phương, Viện Kiểm sát Nhân dân các cấp

1.1.2 Tác động của chính sách 2

- Tác động dương tính của chính sách: tác động dương tính của một

chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới

Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở

để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách

- Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính của một chính

sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách

- Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một

chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính

Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng

cao hiệu quả của chính sách

Trang 17

Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm

thiểu hiệu quả của chính sách

1.1.3 Chuỗi tác động của chính sách

Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau Các tác động này có thể dương tính, âm tính, ngoại biên Chính đây là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách

- Tác động trực tiếp của chính sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau

khi chính sách được công bố Tác động trực tiếp có thể là dương tính, âm tính,

ngoại biên

- Tác động nối tiếp của chính sách: tác động nối tiếp diễn ra sau tác

động trực tiếp Tác động nối tiếp có thể xuất hiện sau tác động trực tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động nối tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên

- Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kế tiếp diễn ra sau tác động

nối tiếp Tác động kế tiếp có thể xuất hiện sau tác động nối tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động kế tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên

- Tác động gián tiếp của chính sách: Tác động gián tiếp diễn ra sau tác

động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếp ngoại biên

1.2 Chính sách khoa học và công nghệ

1.2.1 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ

Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO)

đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp

và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”.

Trang 18

Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN

Định nghĩa của Luận văn

Trên cơ sở tham khảo khái niệm chính sách mà Vũ Cao Đàm đã đưa ra, Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau:

Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do Nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới

dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN

- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá

nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN

- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã

hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -

xã hội nói chung

1.2.2 Vật mang chính sách khoa học và công nghệ

Vật mang chính sách trong định nghĩa trên bao gồm:

a Hiến pháp: Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất

b Luật và pháp lệnh

Trong Luận văn này, văn bản luật với tư cách là vật mang chính sách

KH&CN bao gồm:

Trang 19

- Luật SHTT được Quốc hội thông qua năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009;

- Luật chuyển giao công nghệ được Quốc hội thông qua năm 2006;

- Luật Công nghệ cao được Quốc hội thông qua năm 2008

d Thông tư

Trong Luận văn này, thông tư với tư cách là vật mang chính sách

KH&CN bao gồm: Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp

e Các văn bản khác

Ngoài các văn bản chính sách trên, thì chính sách KH&CN điều chỉnh lĩnh vực sở hữu công nghiệp còn có:

- Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình hỗ

trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp”, chương trình này hướng tới

Trang 20

+ Hỗ trợ doanh nghiệp khai thác thông tin sở hữu trí tuệ

1.2.3 Kiến tạo xã hội của chính sách khoa học và công nghệ

Theo Vũ Cao Đàm [4;116] thì khái niệm kiến tạo xã hội (social construction) được Emile Durkheim đưa ra đầu tiên khi bàn về hành vi tập thể (collective behavior) Tuy nhiên, người đầu tiên viết sách về chủ đề ngày lại

là Peter Berger và Thomas Luckma

Kiến tạo xã hội được định nghĩa là bất kỳ thực thể nào (tự nhiên hoặc nhân tạo) được thiết chế hóa trong hệ thống xã hội Kiến tạo xã hội được tạo dựng bởi các thành viên tham dự trong một nền văn hoá hoặc xã hội đặc thù, trong đó người ta chấp nhận những hành vi hiện hữu hoặc đi theo những quy luật của tập quán [23]

Kiến tạo xã hội của chính sách được thể hiện thông qua 9 nội dung sau đây (xếp theo thứ tự tác động):

- Biến đổi tập quán, đó là biến đổi những thói quen hằng ngày

- Biến đổi lối sống dạng đơn giản là những biến đổi tác phong, cách sống, và cao nhất là biến đổi triết lý về lối sống

- Biến đổi quan hệ giữa con người là biến đổi cách thức xử sự giữa con người với nhau, những quan hệ truyền thống giữa con người bị biến dạng, những kiểu quan hệ truyền thống mất đi, những kiểu quan hệ mới xuất hiện,

có thể tốt hơn hoặc xấu hơn so với một chuẩn mực đạo đức nào đó

- Biến đổi các chuẩn mực xã hội là một trong những biến đổi sâu sắc nhất trong đời sống và quan hệ giữa con người

- Biến đổi văn hóa, như biến đổi phong tục, tập quán, lối sống,…

- Biến đổi thiết chế là biến đổi cả một hệ thống chuẩn mực, những hệ thống chuẩn mực truyền thống dần biến mất, thay vào đó là một hệ thống chuẩn mực mới, nghĩa là những thiết chế mới

- Biến đổi cấu trúc xã hội

- Biến đổi toàn bộ paradigma, là giai đoạn cuối cùng cao nhất, triệt để

nhất của biến đổi xã hội Đó là sự biến đổi sâu sắc, bao gồm, từ gốc là triết lý

Trang 21

phát triển xã hội, đến hệ quan điểm phát triển xã hội, hệ chuẩn mực phát triển

xã hội và cuối cùng là những hệ khái niệm được sử dụng trong xã hội

- Biến đổi hệ thống quản lý [4;131]

Trong mối quan hệ với bảo hộ sở hữu công nghiệp, kiến tạo xã hội của chính sách KH&CN đã tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, sự tác động này được thể hiện trên các khía cạnh:

- Tác động đến nhận thức của cá nhân/doanh nghiệp về tài sản trí tuệ do mình sáng tạo nên, cá nhân/doanh nghiệp hình thành hành vi đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tài sản trí tuệ của mình (khi chưa có quy định của chính sách KH&CN thì hành vi này chưa được hình thành);

- Thực hiện chính sách KH&CN, Nhà nước đã hỗ trợ cá nhân/doanh nghiệp trong việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tài sản trí tuệ của mình, sự hỗ trợ này thể hiện qua việc: hỗ trợ tài chính, hỗ trợ truyền thông KH&CN, hỗ trợ thông tin KH&CN…

Vậy bảo hộ sở hữu công nghiệp là gì? Luận văn sẽ lý giải ngay sau đây

1.3 Cơ sở lý luận về bảo hộ sở hữu công nghiệp

1.3.1 Khái quát về sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền được pháp luật bảo hộ đối với tài sản

trí tuệ Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property

Organization viết tắt là WIPO), tài sản trí tuệ (Intellectual Property) hay sở

hữu trí tuệ là khái niệm dùng để chỉ những sáng tạo trí tuệ của con người như sáng chế, tác phẩm văn học và nghệ thuật, các biểu tượng, tên, hình ảnh và kiểu dáng được sử dụng trong thương mại [22; 51]

Điều 2.viii Công ước Stockholm thành lập WIPO (được ký tại

Stockholm 14.7.1967) định nghĩa: “Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền

đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; các quyền liên quan đến hoạt động của các nghệ sĩ biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, chương trình phát sóng; quyền đối với sáng chế ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ; tên thương mại; quyền chống cạnh tranh không lành

Trang 22

mạnh; các quyền khác liên quan đến hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật” 3

Khoản 1 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ là

quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”

Như vậy, có thể thấy các thuật ngữ: tài sản trí tuệ, sở hữu trí tuệ, quyền

sở hữu trí tuệ trong nhiều trường hợp được sử dụng với cùng một nghĩa Kể từ đây, bài giảng sử dụng thuật ngữ sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ

Ngày nay, vai trò của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển khoa học và công nghệ, cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã được khẳng định

ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cụ thể là:

- Sở hữu trí tuệ thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế

- Sở hữu trí tuệ khuyến khích các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ

- Sở hữu trí tuệ hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho hoạt động nghiên cứu triển khai Trước hết phải nói tới vai trò của thông tin sáng chế Trong tất cả các dạng thông tin kỹ thuật được công bố, thông tin sáng chế là dạng thông tin kịp thời, đầy đủ và toàn diện nhất [3; 57]

Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp đối với tài sản trí tuệ Công

ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 1967 (WIPO) quy định

rằng sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với: Các tác phẩm văn học, nghệ

3 Article 2.viii (Convention Establishing the World Intellectual Property Organization) definitions:

“intellectual property” shall include the rights relating to: literary, artistic and scientific works;

performances of performing artists, phonograms, and broadcasts; inventions in all fields of human endeavor; scientific discoveries; industrial designs; trademarks, service marks, and commercial names and

designations; protection against unfair competition; and all other rights resulting from intellectual activity in

Trang 23

thuật và khoa học; Chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; Sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người; Các phát minh khoa học; Kiểu dáng công nghiệp; Nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn thương mại và tên thương mại; Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; Tất cả những quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật

Kể từ khi thông qua Công ước này, quyền sở hữu trí tuệ còn được mở rộng thêm, bao gồm quyền đối với giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật thương mại và thông tin bí mật và thể hiện nghệ thuật truyền thống dân gian Một danh mục đầy đủ hơn về các quyền sở hữu trí tuệ được liệt kê trong Phần II của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), cụ thể là: quyền tác giả và

quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và thông tin bí mật

Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định quyền sở hữu trí tuệ gồm các nhánh sau:

- Quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả:

- Quyền sở hữu công nghiệp (là quyền hợp pháp đối với sáng chế, kiểu

dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp; bí mật thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh)

- Quyền đối với giống cây trồng: là quyền hợp pháp đối với giống cây trồng mới được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển

1.3.2 Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp

- Sáng chế

Đối tượng bảo hộ là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự

Trang 24

nhiên Sáng chế có thể được bảo hộ dưới dạng yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích

Để được bảo hộ dưới dạng Bằng độc quyền sáng chế, giải pháp kỹ

thuật phải đáp ứng ba điều kiện: có tính mới (so với trình độ kỹ thuật trên thế

giới); có trình độ sáng tạo (tính không hiển nhiên) và có khả năng áp dụng

công nghiệp (có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt)

Để được bảo hộ dưới dạng Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, giải pháp kỹ thuật liên quan phải đáp ứng các điều kiện: không phải là hiểu biết thông thường và có tính mới, có khả năng áp dụng công nghiệp

- Kiểu dáng công nghiệp

Đối tượng bảo hộ là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, mầu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này Kiểu dáng được thể hiện trên sản phẩm, bộ sản phẩm Để được bảo hộ, kiểu dáng

công nghiệp phải đáp ứng ba điều kiện: có tính mới (so với thế giới), có tính

sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp

- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn

Đối tượng bảo hộ là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn Để được bảo hộ, thiết kế

bố trí mạch tích hợp bán dẫn phải đáp ứng hai điều kiện: có tính nguyên gốc

và có tính mới thương mại

Trang 25

các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

- Nhãn hiệu

Đối tượng bảo hộ là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch

vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Theo quy định của pháp luật Việt Nam, dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu phải là các dấu hiệu thể hiện được dưới dạng đồ họa, bởi vậy các dấu hiệu âm thanh, mùi vị và các dấu hiệu không nhìn thấy được bằng mắt thường sẽ không được bảo hộ Để được bảo

hộ, nhãn hiệu phải đáp ứng hai điều kiện sau: là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác

- Chỉ dẫn địa lý

Đối tượng bảo hộ là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Để được bảo hộ, chỉ dẫn địa lý phải đáp ứng hai điều kiện sau: sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn đó quyết định

- Tên thương mại

Đối tượng bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác nhau trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh được hiểu là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng Để được bảo hộ, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Trang 26

Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp trong Luận văn

Trong phạm vi của Luận văn, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được giới hạn gồm các đối tượng:

- Sáng chế;

- Kiểu dáng công nghiệp;

- Nhãn hiệu;

- Chỉ dẫn địa lý

Đây là các đối tượng được pháp luật bảo hộ tại tỉnh Hải Dương

1.3.3 Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp

Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Bảo hộ: bảo vệ, che chở, bênh vực,

không để tổn thất, thiệt hại” [17; 110]

Theo Từ điển Luật học: “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là chế định của

Bộ luật dân sự về việc Nhà nước công nhận quyền sở hữu của tác giả các sáng tác trong lĩnh vực công nghệ bằng việc cấp văn bằng bảo hộ về các quyền, lợi ích, nghĩa vụ đối với sáng tác của mình trong thời gian bảo hộ”

[10;32]

Theo Vũ Khắc Trai: “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là việc Nhà

nước, thông qua hệ thống luật pháp và các cơ quan có thẩm quyền, xác lập quyền sở hữu đối tượng Sở hữu công nghiệp cho tổ chức, cá nhân và thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm quyền đó được thực thi, chống lại mọi sự xâm phạm của người khác” [11;21]

Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng: “Bảo hộ quyền sở hữu công

nghiệp là việc Nhà nước bảo đảm độc quyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp cho cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ hoặc được chuyển giao văn bằng bảo hộ” [8;18]

Từ đó, có thể xem bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là việc Nhà nước đảm bảo cho tổ chức, cá nhân quyền sở hữu, quyền sử dụng các đối tượng của

Trang 27

quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, không phải bất

cứ tài sản trí tuệ nào cũng được Nhà nước bảo hộ, ví dụ:

- Nhà nước không cấp bằng độc quyền sáng chế cho tất cả mọi sáng chế, mà chỉ những sáng chế đạt đủ 3 điều kiện: tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp;

- Nhà nước chỉ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu khi nhãn hiệu

có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau

sở hữu công nghiệp, trong hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ và trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khi bị các chủ thể khác xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Các văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ được chia thành bốn nhóm, đó là:

- Nhóm 1: quy định về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;

- Nhóm 2: quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các

đối tượng mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký bảo hộ hoặc khi có yêu cầu của chủ thể quyền;

- Nhóm 3: quy định về nội dung, hạn chế quyền sở hữu trí tuệ;

- Nhóm 4: quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tự

bảo vệ của chủ thể quyền, thẩm quyền và các biện pháp của cơ quan nhà nước bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ khi có hành vi xâm phạm

Trang 28

Thực thi quyền SHTT được hiểu là việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ các quyền cho chủ các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ theo luật định và ngăn chặn, xử lý người khác sử dụng, khai thác trái phép các đối tượng sở hữu trí tuệ đó Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chính là việc sử dụng các thiết chế cần thiết bảo đảm cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện các quyền của mình trên thực tế nhằm bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ là một thực quyền [7;21]

Hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật và hệ thống các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định pháp luật về thực thi quyền Cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện nay đã và đang được hoàn thiện theo hướng phù hợp với phù hợp với yêu cầu thực tế của Việt Nam cũng như yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có yêu cầu của Hiệp định TRIPS

Thực thi quyền sở hữu công nghiệp gồm các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự

Các cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bằng các biện pháp hành chính gồm có:

- Cơ quan Thanh tra chuyên ngành (Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra Nông nghiệp và Phát triển nông thôn);

- Cơ quan Quản lý thị trường;

- Cục Quản lý cạnh tranh (xử lý hành chính các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN);

- Cơ quan Công an;

- Cơ quan Hải quan;

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện

Các cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bằng các biện pháp dân sự và hình sự gồm có tòa án nhân dân các cấp

Trang 29

1.3.4 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Việc người thứ ba không phải là chủ sở hữu quyền thực hiện các hành vi liên quan đến đối tượng sở hữu trí tuệ đang trong thời hạn bảo hộ

mà không được phép của chủ sở hữu quyền và không thuộc các trường hợp pháp luật không cấm sử dụng thì bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Hậu quả của hành vi xâm phạm quyền là thu hẹp quyền và gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền

- Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu

dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:

+ Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết

kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ sản phẩm nào có tính nguyên gốc của thiết

kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu;

+ Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời đối với các đối tượng này

- Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh

doanh:

+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

+ Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

+ Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;

Trang 30

+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

+ Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi quy định trên đây;

+ Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm đối với dược phẩm hoặc nông hoá phẩm theo quy định tại Điều 128 Luật sở hữu trí tuệ

- Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó; + Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch

vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch

vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu

đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng

Về nguyên tắc, quyền sử dụng của chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ giới hạn ở việc sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ đăng ký kèm theo

Trang 31

nhãn hiệu đó Tuy nhiên, việc bảo hộ nhãn hiệu nhằm mục đích rộng hơn phạm vi quyền sử dụng này, đó là bảo hộ danh tiếng của chủ sở hữu nhãn hiệu

và chống lại sự lạm dụng uy tín, danh tiếng cũng như gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Việc xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu luôn luôn được xác định theo nguyên tắc này

Như vậy, có thể thấy trong số các hành vi nêu trên, một số hành vi thuộc nhóm (i) hành vi sử dụng nhãn hiệu thuộc độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu được thực hiện bởi người thứ ba mà không được sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu (hành vi đầu tiên trong nhóm nêu trên) và (ii) các hành vi sử dụng không thuộc độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu nhưng gây thiệt hại hoặc có thể gây hại đến quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng (các hành vi còn lại nêu trên đây) Đặc biệt, theo quy định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng thì nhãn hiệu nổi tiếng

có phạm vi bảo hộ rộng nhất, mở rộng đến cả việc sử dụng nhãn hiệu cho những hàng hoá, dịch vụ khác hoàn toàn với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng Quy định như vậy không những nhằm bảo vệ lợi ích của chủ

sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, tránh sự lạm dụng quyền và làm giảm khả năng phân biệt của nhãn hiệu đó (việc sử dụng đó không mang tính cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng vì chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng và người sử dụng nhãn hiệu bị coi là xâm phạm sử dụng nhãn hiệu đó cho các hàng hoá, dịch vụ khôgn mang tính cạnh tranh với nhau), mà còn bảo vệ người tiêu dùng, tránh cho người tiêu dùng liên tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu bị coi là xâm phạm do chủ nhãn hiệu nổi tiếng sản xuất hoặc cung cấp hoặc có liên quan đến chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng

- Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên

thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều

bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại

Trang 32

- Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý

được bảo hộ:

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;

+ Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với rượu vang, rượu mạnh cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về nguồn gốc xuất

xứ thật của hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo các từ loại, kiểu, dạng, phỏng theo hoặc những từ tương tự như vậy

- Các hành vi sau đây bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

+ Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là

Trang 33

thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu

và không có lý do chính đáng;

+ Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng [2;12]

1.4 Mối quan hệ giữa chính sách khoa học và công nghệ với bảo hộ sở hữu công nghiệp

1.4.1 Sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở hữu công nghiệp

Chính sách KH&CN điều chỉnh nhiều lĩnh vực trong hoạt động KH&CN, trong đó có lĩnh vực sở hữu công nghiệp

a Tác động dương tính

Chính sách KH&CN tác động dương tính đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, tác động dương tính của chính sách KH&CN đến bảo hộ sở hữu công nghiệp là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách, tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, chính sách KH&CN đã tác động đến:

- Khuyến khích hoạt động sáng tạo;

- Tạo lập, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ;

- Xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh;

- Thực thi quyền sở hữu công nghiệp chống hành vi xâm phạm quyền

sở hữu công nghiệp

Trong lịch sử phát triển KH&CN trên thế giới, các quốc gia có chính sách KH&CN đúng hướng như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là các

Trang 34

quốc gia có chế độ bảo hộ và thực thi quyền SHTT tiên tiến, thể hiện ở việc

có hệ thống pháp luật về SHTT đủ mạnh để có thể thực thi được việc bảo hộ quyền SHTT

Khi khảo sát sự tác động của chính sách KH&CN đến bảo hộ SHTT nói chung và bảo hộ sở hữu công nghiệp nói riêng, các nhà nghiên cứu không chỉ lấy số lượng bằng sáng chế được cấp để đánh giá, bởi vì theo báo cáo của WIPO, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành quốc gia có số lượng bằng sáng chế được cấp phép nhiều nhất trong năm 2011 với khoảng 526.000 bằng sáng chế, tương đương 1/4 số lượng bằng sáng chế được cấp phép trên phạm vi toàn cầu, trong cùng năm 2011 Mỹ chỉ cấp khoảng 503.000 bằng sáng chế Tiêu chí để đánh giá sự tác động của chính sách KH&CN đến bảo hộ sở hữu công nghiệp là mức độ thực thi hữu hiệu việc bảo hộ thể hiện ở sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp khi ứng dụng các kết quả nghiên cứu, sự nghiêm minh của pháp luật khi giải quyết tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Trong danh sách 10 doanh nghiệp hang đầu trên thế giới, người ta không thấy tên bất kỳ một doanh nghiệp nào của Trung Quốc, trong năm

2011 (năm mà Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ về số lượng bằng sáng chế được cấp) thì cả 10 doanh nghiệp hàng đầu thế giới đều có quốc tịch Hoa Kỳ

Như vậy, chính sách KH&CN đã tác động dương tính đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, thể hiện trên các mặt: khuyến khích hoạt động sáng tạo; tạo lập, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ; xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh; thực thi quyền sở hữu công nghiệp chống hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

b Tác động âm tính

Tác động âm tính của một chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách Bên cạnh sự tác động dương tính như đã nêu, chính sách KH&CN cũng tác động âm tính đến bảo hộ sở

hữu công nghiệp

Trang 35

động SHTT trên thế giới thực sự chuyển sang một thời kỳ mới cả về nội dung lẫn quan hệ quốc tế Lần đầu tiên trong hoạt động này:

- Xuất hiện các chuẩn mực về nội dung và về thủ tục tiến hành việc bảo

hộ quyền SHTT;

- Xuất hiện trạng thái cam kết có tính chất bắt buộc đối với các nước tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế phải thực hiện các nghĩa vụ về SHTT và các hậu quả pháp lý hoặc hậu quả kinh tế khi không hoàn thành các nghĩa vụ đó;

- Đặt các nước, nhất là các nước đang phát triển, dưới sự kiểm soát gắt gao về việc tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về bảo hộ quyền SHTT

Thực tế cho thấy, đến nay phần lớn các sản phẩm, công nghệ mới đều được tạo ra từ các nước phát triển, hoặc thuộc quyền kiểm soát của các nước

đó Việc sử dụng, nhập khẩu các sản phẩm, công nghệ đó bị khống chế bởi độc quyền của chủ sở hữu thuộc các nước phát triển

Việc áp dụng cơ chế bảo hộ quyền SHTT một cách cứng rắn có thể sẽ hạn chế khả năng tiếp cận của xã hội và người tiêu dùng đối với hàng loạt sản phẩm, đặc biệt là thuốc và nhu yếu phẩm, điều này có thể ảnh hưởng đến một

số chính sách xã hội, nhất là chính sách nâng cao mức sống văn hoá và bảo đảm sức khoẻ cho người dân

Việc áp dụng cơ chế bảo hộ quyền SHTT với tiêu chuẩn cao theo yêu cầu của các điều ước quốc tế sẽ đặt các doanh nghiệp và các nhà đầu tư của các nước đang phát triển vào một môi trường pháp lý phức tạp, bắt buộc họ phải chi phí cho việc sử dụng cơ chế này Điều đó dường như tạo thêm một gánh nặng hoặc rào cản đối với những nỗ lực thâm nhập vào thị trường của các doanh nghiệp, đồng thời đặt doanh nghiệp vào những ràng buộc và có thể sẽ bị rơi vào các vụ việc kiện tụng, tranh chấp với những người khác

Việc áp dụng cơ chế bảo hộ quyền SHTT ở mức độ khắt khe sẽ tạo nên

sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ,

Trang 36

thậm chí giữa nền kinh tế lớn với nền kinh tế nhỏ Khả năng tài chính hạn hẹp, quy mô phần lớn là nhỏ và rất nhỏ của các doanh nghiệp cũng là một hạn chế lớn cho các nước đang phát triển trong việc khai thác cơ chế bảo hộ quyền SHTT tại các nước khác

Các nước đang phát triển lo ngại rằng các biện pháp và thủ tục thực thi việc bảo hộ quyền SHTT có thể trở thành rào cản đối với các hoạt động thương mại hợp pháp, ảnh hưởng tới khả năng tạo ra nền tảng công nghệ bền vững và có tiềm năng phát triển, đặc biệt là ảnh hưởng tới chính sách bảo đảm y tế và dinh dưỡng cho người dân cũng như ảnh hưởng tới các chính sách thúc đẩy lợi ích công cộng trong các lĩnh vực sống còn đối với sự phát

triển kinh tế - xã hội

Đối với Việt Nam, kể từ năm 2005 (năm ban hành Luật SHTT) đã xây dựng được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về SHTT, tuy nhiên nhìn chung, hệ thống các văn bản pháp luật về SHTT của nước ta hiện nay tương đối đầy đủ và đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với các điều ước quốc tế về SHTT, góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo; tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp luật về SHTT của nước ta hiện còn tồn tại một số điểm khiếm khuyết, bất cập, đó là:

- Hệ thống văn bản pháp luật còn tương đối cồng kềnh và phức tạp;

- Một số văn bản còn quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau hoặc không phù hợp thực tiễn;

- Tính đồng bộ giữa quy định của pháp luật về SHTT với các lĩnh vực

khác có liên quan chưa đảm bảo (ví dụ: pháp luật về tài chính, doanh nghiệp

chưa có hướng dẫn về hạch toán tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp; việc

cổ phần hóa, góp vốn, liên doanh, liên kết bằng tài sản trí tuệ; pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm, thi hành án chưa có hướng dẫn cụ thể về việc dùng tài sản trí tuệ để thế chấp, cầm cố trong các giao dịch bảo đảm hoặc dùng tài sản trí tuệ để thi hành án, .) Điều này cũng khiến cho các hoạt

Trang 37

động chuyển giao, chuyển nhượng, sử dụng, khai thác tài sản trí tuệ của chủ thể quyền SHTT còn gặp khó khăn, lúng túng [3;50]

Các quốc gia trên thế giới cũng áp dụng chính sách KH&CN đối với việc bảo hộ sở hữu công nghiệp khác nhau Trong khi Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản

và Hàn Quốc… có chính sách KH&CN thể hiện ở mức độ đầu tư tài chính và các nguồn lực khác cho nghiên cứu ở mức độ cao, đồng thời thực thi một hệ thống pháp luật đủ mạnh để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, thì Trung Quốc lại có chính sách KH&CN đối với bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo chiều hướng khác

Có thể nói, về hình thức hệ thống pháp luật SHTT của Trung Quốc có thể so sánh với nhiều nước phát triển, trong khi Việt Nam chỉ có Luật SHTT thì Trung Quốc đã có các luật chuyên ngành như Luật Quyền tác giả, Luật Sáng chế, Luật Nhãn hiệu… Nhưng Trung Quốc lại thực thi một chính sách KH&CN ngược lại, họ đầu tư lớn, có trọng điểm các nguồn lực vào việc nghiên cứu các lĩnh vực cần thiết nhưng hiện tại doanh nghiệp chưa có nhu cầu, ví dụ Trung Quốc đã đầu tư cho lĩnh vực khoa học vũ trụ để tiến tới xây dựng trạm không gian vào khoảng năm 2020, nhằm đưa Trung Quốc trở thành quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ, còn đối với những lĩnh vực mà doanh nghiệp có nhu cầu thì nhà nước không chủ trương đầu tư cho nghiên cứu mà doanh nghiệp tự nghiên cứu hoặc thực thi chính sách

Plagiarius (thuật ngữ này không chỉ dịch là “đạo văn”, mà thực chất là đánh

cắp tài sản trí tuệ)

Theo khảo sát của Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp Business

Software Association, gọi tắt là BSA, vào năm 2005 Trung Quốc dẫn đầu các

nước vi phạm bản quyền phần mềm với tỷ lệ vi phạm là 92%, kết quả khảo sát năm 2011 Trung Quốc vẫn đứng đầu bảng xếp hạng với tỷ lệ vi phạm là 86%, đứng nhì là Nigeria với tỷ lệ vi phạm là 81%

So sánh tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm giữa Trung Quốc và Nigeria (một quốc gia nghèo tại Châu Phi) để thấy chính sách KH&CN đã tác động âm tính đến bảo hộ sở hữu công nghiệp

Trang 38

Trong khi đó thì Dự thảo Luật sửa đổi Luật KH&CN của Việt Nam lại

chủ trương Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập

các quỹ để hỗ trợ, đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ 2 Quỹ hỗ trợ, đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm:…c) Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao

Điều 25 Luật Công nghệ cao 2006 quy định: 2 Nguồn tài chính hình

thành Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia bao gồm: a) Vốn điều lệ của Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao quốc gia được hình thành từ ngân sách nhà nước và được bổ sung từ ngân sách nhà nước trong quá trình hoạt động

Qua đó, có thể thấy pháp luật đã quy định quỹ đầu tư mạo hiểm do Nhà nước thành lập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó một phần được hình thành

và bổ sung từ ngân sách nhà nước

Đầu tư mạo hiểm (Venture capital) là việc cung cấp vốn tài chính cho

các tổ chức ở giai đoạn khởi động tăng trưởng ban đầu, mạo hiểm được định nghĩa là một tương lai dự báo của quá trình chuyển đổi thành với mức độ rủi

ro và đầu tư được giả định đầy đủ Đầu tư mạo hiểm xuất hiện với vốn chủ sở hữu tư nhân trong nửa đầu của thế kỷ 20 là lĩnh vực của các cá nhân và gia đình giàu có, như Vanderbilts, Whitneys, Rockefellers, Warburgs… Theo thông lệ quốc tế trong hoạt động tài chính, các đầu tư mạo hiểm đều được hình thành từ vốn của chủ sở hữu tư nhân4

Luật Ngân sách nhà nước 2002 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là

toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước Từ định nghĩa này, cho

thấy không một cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào lại có thể dự toán được

4 Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Venture_capital: Venture capital is a subset of private equity Therefore, all venture capital is private equity, but not all private equity is venture capital

Trang 39

các khoản đầu tư mạo hiểm Ngân sách nhà nước chỉ chi cho nghiên cứu khoa học trong phạm vi có thể dự toán được Vì lẽ này, thông lệ quốc tế không lấy ngân sách nhà nước để đầu tư mạo hiểm

Như vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao được hình thành từ ngân sách nhà nước là trái với thông lệ quốc tế về hoạt động tài chính, việc này thể

hiện tư duy cũ: Nhà nước làm khoa học, chứ không phải tư duy mới: Nhà

nước quản lý khoa học [6;15]

Như vậy, có thể rút ra nhận xét:

- Trung Quốc áp dụng chính sách KH&CN: Nhà nước không can thiệp,

để các doanh nghiệp tự đầu tư cho các nghiên cứu mà doanh nghiệp có nhu cầu, để có kết quả năm 2011 đã cấp khoảng 526.000 bằng sáng chế, tương đương 1/4 số lượng bằng sáng chế được cấp phép trên phạm vi toàn cầu, tất nhiên trong số này có các patent được cấp cho công nghệ cao;

- Việt Nam thực thi chính sách KH&CN: Nhà nước hình thành, bổ sung cho quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao từ nguồn ngân sách nhà nước, kết quả là không có bất kỳ một patent nào được cấp cho các sáng chế công nghệ cao (trong 10 năm, tỉnh Hải Dương không có bất kỳ một patent nào được cấp cho sáng chế công nghệ cao), các cá nhân và doanh nghiệp Việt Nam đã lúng túng nghiên cứu lặp lại các sáng chế mà loài người đã bỏ qua nhiều năm Luận văn sẽ chứng minh các nhận định này trong chương 2

1.4.2 Sự tác động của bảo hộ sở hữu công nghiệp đến chính sách khoa học

và công nghệ

Sự tác động này thể hiện việc bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò

là công cụ trong việc thúc đẩy thực hiện chính sách KH&CN, đồng thời tác động trở lại quá trình điều chỉnh chính sách KH&CN

a Tác động dương tính

Khi đánh giá mức độ đóng góp của SHTT vào sự phát triển kinh tế xã hội thì đặt nó thông qua các tiêu chí như:

Trang 40

- Có hay không việc áp dụng sáng chế, sáng kiến vào hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại lợi ích thông qua tiết kiệm được nguồn nhân lực, chi phí sản xuất, thời gian sản xuất, tăng năng suất lao động;

- Giá trị của các sản phẩm được nâng lên thông qua việc bảo hộ SHTT

Khi thực thi hữu hiệu việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì đã đảm bảo cho người nghiên cứu, doanh nghiệp đầu tư các nguồn lực cho nghiên cứu khoa học được sở hữu kết quả nghiên cứu của mình, pháp luật đảm bảo trừng

trị nghiêm minh đối với tất cả các hành vi Plagiarius (ăn cắp) tài sản trí tuệ

Chủ sở hữu kết quả nghiên cứu được pháp luật về SHTT bảo đảm quyền:

- Chuyển nhượng kết quả nghiên cứu để thu hồi vốn, tái đầu tư cho các nghiên cứu tiếp theo;

- License kết quả nghiên cứu cho nhiều chủ thể khác nhau nhằm thu hồi vốn, tái đầu tư cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời nhân rộng các kết quả nghiên cứu, để chính sách KH&CN thực hiện được mục tiêu kinh tế - xã hội

Việc thực hiện bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và tác động trở lại đối với việc thực thi chính sách KH&CN đúng hướng

Như vậy, có thể khẳng định bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đã tác động dương tính đến chính sách KH&CN, đồng thời là một công cụ hữu hiệu để thực hiện chính sách KH&CN

b Tác động âm tính

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm