Trên thực tế, quan hệ Mỹ - Mỹ Latinh đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề khá phức tạp, như sự bất bình đẳng trong quan hệ kinh tế hai bên, cũng như
Trang 1Đại học quốc gia Hà nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Từ sau chiến tranh lạnh đến nay
Chuyên ngành : Quan hệ Quốc tế
Mã số : 603140
Luận văn thạc sĩ
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Thiết Sơn
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC MỸ LATINH TRƯỚC KHI KẾT THÚC CHIẾN TRANH LẠNH 8
1.1 Vai trò của khu vực Mỹ Latinh đối với nước Mỹ 8
1.2 Khái quát về chính sách của Mỹ với Mỹ Latinh trước khi kết thúc chiến tranh Lạnh 16
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC MỸ LATINH TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 25
2.1 Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại Mỹ đối với Mỹ Latinh trên một số lĩnh vực 25
2.1.1 Chính trị – ngoại giao 26
2.1.1.1 Điểm qua quan hệ ngoại giao Mỹ - Mỹ Latinh từ sau Chiến tranh Lạnh 26
2.1.1.2 Phổ biến dân chủ: nội dung quan trọng trong chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh về mặt chính trị 35
2.1.2 Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh 41
2.1.3 Chính sách an ninh - quân sự của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh 49
2.1.4 Một số chính sách khác của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh ……… 62
2.1.4.1 Chính sách của Mỹ đối với phong trào cánh tả Mỹ Latinh 63
2.1.4.2 Chính sách chống ma túy của Mỹ tại Mỹ Latinh 66
2.2 Các biện pháp thực thi chính sách của Mỹ với khu vực Mỹ Latinh tại một số quốc gia 71
2.2.1 Đối với Venezuela……… 72
2.2.2 Đối với Colombia……… 77
2.2.3 Đối với Brazil……… 81
Trang 3CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI MỸ LATINH VÀ DỰ BÁO VỀ XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH MỚI 84 3.1 Một số vấn đề còn tồn tại trong chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh 84 3.2 Dự báo về xu hướng chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Mỹ Latinh 94 KẾT LUẬN ……… 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 104
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ACN: Andean Community of Nations
Cộng đồng các nước Andean
ALBA: Alternativa Bolivariana para América Latina y El Caribe
Giải pháp Bolivar cho các dân tộc châu Mỹ
ATPDEA: Andean Trade Preferential Drug Erdication Act
Luật Ưu đãi thương mại nhằm loại bỏ ma túy của các nước vùng Andes
CBI: Caribbean Basin Initiative
Sáng kiến về khu vực Caribbean
CIA: Central Intelligence Agency
Cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ
DR-CAFTA: Dominican Republic and Central America Free Trade Agreement
Thỏa thuận mậu dịch tự do với Trung Mỹ và Cộng hòa Dominica
EAI: Enterprise for the American Initiative
Sáng kiến cho các nước châu Mỹ ENL: National Liberation Army
Quân đội giải phóng quốc gia Colombia
EU: European Union
Liên minh châu Âu
FARC: Fuerzas Armadas Revolucionarias de Colombia
Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia
FBI: Federal Bureau of Investigation
Cục điều tra liên bang Mỹ
FTA: Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
FTAA: Free Trade Area of the Americas
Khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ
IDB: Inter-American Development Bank
Trang 5Ngân hàng phát triển Liên Mỹ
IAEA: International Atomic Energy Agency
Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
IMF: International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
Mercosur: Mercado Común del Sur
Thị trường chung Nam Mỹ
NAFTA: North American Free Trade Agreement
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
NATO: North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NED: National Endowment for Democracy
Quỹ dân chủ quốc gia
NGO Non governmental organization
OPEC Organization of the Petroleum Exporting Countries
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
TNCs Transnational Corporations
Công ty xuyên quốc gia
USAID U.S Agency for International Development
Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ
US SouthCom U.S Southern Command
Bộ tư lệnh phía Nam của Mỹ
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chiến tranh Lạnh kết thúc cùng với sự chấm dứt của trật tự thế giới hai cực
đã dẫn đến những thay đổi lớn về tương quan lực lượng trên thế giới Nước Mỹ mất
đi đối trọng và trở thành siêu cường duy nhất có khả năng chi phối đời sống chính trị quốc tế Vì vậy, những chính sách đối ngoại của Mỹ không chỉ tác động đến bản thân nước Mỹ mà còn ảnh hưởng to lớn đến cục diện toàn thế giới
Khu vực Mỹ Latinh, với vị trí địa lý đặc biệt của mình, từ lâu đã là mục tiêu quan trọng trong chiến lược bành trướng ảnh hưởng ra bên ngoài của Mỹ Khu vực này từng được Mỹ xem như bàn đạp đầu tiên để tiến ra thế giới, và đã trở thành sân sau phục vụ cho những lợi ích chiến lược của Mỹ trong suốt nhiều thế kỷ Như vậy, những điều chỉnh lớn về mặt chính sách sau Chiến tranh lạnh của Mỹ không thể bỏ qua Mỹ Latinh
Trên thực tế, quan hệ Mỹ - Mỹ Latinh đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
và cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề khá phức tạp, như sự bất bình đẳng trong quan
hệ kinh tế hai bên, cũng như những can thiệp trực tiếp về chính trị, xã hội, quân sự
và tư tưởng của Mỹ đối với khu vực này Chính vì vậy, việc hoạch định chính sách của Mỹ với Mỹ Latinh luôn rất phức tạp và đòi hỏi phải tính đến rất nhiều yếu tố khác nhau Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các nước Mỹ Latinh sẽ góp phần đưa ra những đánh giá đúng đắn về bản chất, cũng như xu hướng của mối quan hệ này
Trong điều kiện có ít thông tin, hiểu biết về quan hệ quốc tế của khu vực, nghiên cứu quan hệ giữa Mỹ với các nước Mỹ Latinh là hết sức cần thiết, đáp ứng nhu cầu mở rộng quan hệ quốc tế, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước ta hiện nay Theo cách xem xét
đó, đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các nước Mỹ Latinh từ sau chiến tranh lạnh đến nay” được tôi lựa chọn nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 72 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này ở Việt Nam, nhất là những công trình nghiên cứu bài bản, qui mô đến chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các nước Mỹ Latinh Phần lớn các nghiên cứu là những bài báo mang nặng tính thông tin được đăng trên một số tạp chí như Châu
Mỹ Ngày nay, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế Chẳng hạn như: “Chính sách của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh”, của tác giả Trần Đình Vượng đăng trên Tạp chí Châu
Mỹ ngày nay, số 3/2002 chủ yếu phân tích chính sách của Mỹ trên khía cạnh kinh tế
- thương mại trong những năm gần đây Những vấn đề về chính trị - an ninh chưa được tác giả đề cập Một số nghiên cứu của Viện Nghiên cứu châu Mỹ - Viện Khoa học xã hội Việt Nam có liên quan đến đề tài cũng chỉ điểm qua chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh, chẳng hạn như: nghiên cứu “Hoa Kỳ - Những xu hướng thay đổi chiến lược kinh tế sau Chiến tranh lạnh” năm 1998 do Đỗ Lộc Diệp chủ biên, hay một công trình khác cũng do tác giả trên chủ biên là “Mỹ Latinh một vùng năng động” xuất bản năm 1998; Cũng của Viện Nghiên cứu châu Mỹ có công trình
“Chính sách kinh tế Mỹ dưới thời Bill Clinton” do Vũ Đăng Hinh chủ biên năm
2002, đề cập đến chính sách kinh tế của Mỹ nhưng rất ít phân tích đối với Mỹ Latinh; Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác “Chính trị - ngoại giao của các nước Mỹ Latinh trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Hồ Châu trên tạp chí Châu
Mỹ ngày nay số 1/1999, “trò của Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh” của Đỗ Minh Tuấn
đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 11/2005
Ngoài những công trình của tác giả Việt Nam còn có một số công trình khác của tác giả nước ngoài được dịch sang tiếng Việt như: “Quan hệ Mỹ - các nước Mỹ Latinh: mối quan hệ bị lãng quên” của Forge G.Castaneda đăng trên tạp chí Châu
Mỹ ngày nay số 1/2004 Nghiên cứu này điểm lại chính sách của Mỹ đối với các nước Mỹ Latinh từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay chủ yếu trên các vấn đề
an ninh chính trị, với quan điểm phê phán chính sách của Mỹ; công trình “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh Lạnh” của Randall Ripley, James Lindsay (2002) cũng là một nghiên cứu sát với đề tài Tuy nhiên, nghiên cứu này
Trang 8vẫn đề cập một cách chung về chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh Lạnh
Vì Mỹ Latinh chưa phải là ưu tiên chính sách của Mỹ nên những phân tích trong nghiên cứu này chưa nói nhiều đến chính sách của Mỹ với các nước Mỹ Latinh
Như vậy có thế thấy nghiên cứu về chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh ở Việt Nam còn rất hạn chế Điều này càng khẳng định thêm sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực Mỹ Latinh kể từ sau chiến tranh Lạnh Từ đó đưa ra một số dự báo về triển vọng của chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực, và một vài nhận xét
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực
Mỹ Latinh kể từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc (năm 1991), xét trên bình diện đa phương Bao gồm mục tiêu cơ bản, nội dung và những biện pháp triển khai cụ thể của Mỹ trên các lĩnh vực chủ yếu như chính trị, kinh tế, an ninh và một số lĩnh vực khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo Các phương pháp khoa học
xã hội liên ngành cũng được sử dụng làm sáng tỏ thêm các vấn đề nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh trước khi kết thúc chiến tranh Lạnh
Chương 2: Chính sách đối ngoại của Mỹ với các nước Mỹ Latinh từ sau chiến tranh Lạnh
Chương 3: Một số vấn đề tồn tại trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với
Mỹ Latinh và dự báo về một số xu hướng điều chỉnh mới
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI KHU VỰC
MỸ LATINH TRƯỚC KHI KẾT THÚC CHIẾN TRANH LẠNH
1.1 Vai trò của khu vực Mỹ Latinh đối với nước Mỹ
Từ trước đến giờ, các nước Mỹ Latinh vẫn được xem là “sân sau” của Mỹ Thuật ngữ “sân sau” này đã phản ánh phần nào về bản chất của mối quan hệ Mỹ -
Mỹ Latinh Ngay từ những ngày đầu áp dụng học thuyết bành trướng ảnh hưởng toàn cầu, Washington đã muốn nắm khu vực này trong tay và không cho phép các nước phương Tây khác nhòm ngó tới đây Mỹ Latinh quá gần Mỹ và vì vậy, cũng quá nhạy cảm đối với Mỹ, nếu người Mỹ bỏ qua khu vực này thì lợi ích và an ninh của chính họ sẽ bị đe dọa trực tiếp Vì vậy, dù chỉ là một “đối tác” không ngang bằng trong quan hệ với Washington, nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này đối với Mỹ Tất cả những hoạch định về chính sách mà Washington theo đuổi tại Mỹ Latinh chủ yếu đều xuất phát từ tầm quan trọng về địa kinh tế - chính trị của khu vực này và những lợi ích gắn bó chặt chẽ của Mỹ tại đây
Trước tiên, về mặt địa lý, Mỹ Latinh là một vùng đất rộng lớn và giàu có về
tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản, hơn nữa lại có vị trí địa lý gần gũi với nước
Mỹ Khu vực với tổng diện tích ước tính khoảng 21,069,501 km² (chiếm 1/7 tổng diện tích thế giới) và số dân 569 triệu người (theo số liệu của CIA - The World Factbook) này bao gồm 8 nước thuộc vùng Trung Mỹ (là Belize, El Salvador, Costa Rica, Guatemala, Honduras, Mexico, Nicaragua, Panama); 13 nước thuộc vùng Nam Mỹ (là Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Colombia, Ecuador, Guiana thuộc Pháp, Guyana, Paraguay, Peru, Suriname, Uruguay, Venezuela); và 19 quốc gia hải đảo thuộc khu vực Caribean (là Antigua & Barbuda, Aruba, Bahamas, Barbados, Cuba, Dominica, Cộng hòa Dominica, Grenada, Guadeloupe, Haiti, Jamaica, Martinique, Puerto Rico, St Kitts & Nevis, St Lucia, St Vincent & the Grenadines, Trinidad & Tobago, quần đảo Turks & Caicos, Quần đảo Virgin)
Trang 10Mỹ Latinh là một khu vực rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên, là nguồn cung cấp nông sản, lâm sản và khoáng sản quan trọng cho thế giới cũng như cho
Mỹ (chuối chiếm 95% sản lượng toàn thế giới, cà phê 80%, đường 42%, nitơrát 95%, bạc 45%, đồng 22%, dầu mỏ 16% ) Hiện nay, rất nhiều nước trong khu vực
đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế thế giới: Brazil đứng đầu thế giới về sản
xuất đường mía và cà phê, chiếm 1/2 sản lượng cà phê thế giới, là nhà cung cấp đậu tượng lớn thứ 2 thế giới, một trong 4 nước đứng đầu thế giới về chăn nuôi, công nghiệp thép đứng hàng thứ hai thế giới và cũng là nước xuất khẩu dầu thô; Mexico giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đứng đầu thế giới về khai thác bạc, thứ 5 thế giới
về khai thác và thứ 9 về xuất khẩu dầu lửa và khí đốt (chiếm khoảng 1/3 tổng thu nhập quốc dân); Chile là nước sản xuất đồng lớn nhất thế giới, chiếm 35,4% sản lượng toàn cầu và 46% xuất khẩu của Chile; đứng đầu thế giới về sản xuất bột cá Ngoài ra nước này cũng rất giàu các nguồn tài nguyên khoáng sản như đồng, diêm tiêu, sắt, than, gỗ và hải sản; Venezuela đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu dầu lửa Dầu lửa là ngành kinh tế quan trọng nhất chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 1/2 thu ngân sách Chính phủ và 1/3 GDP của đất nước này Venezuela cũng rất giàu có về các nguồn tài nguyên than đá, quặng sắt, kim cương, vàng, kẽm, bạc, bô-xít, thuỷ điện; Peru đứng đầu thế giới về sản xuất bột cá và len; thứ tư về đồng; thứ năm về vàng; thứ hai thế giới về sản xuất bạc và thứ tám về sản xuất kẽm; Colombia đứng đầu khu vực Mỹ Latinh về trữ lượng than (chiếm 40% tổng trữ lượng), thứ hai khu vực về tiềm năng thuỷ điện (sau Brazil), dầu lửa có trữ lượng khoảng 3,1 tỷ thùng, ngoài ra còn có vàng, bạc, platin; Argentina là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về các sản phẩm đậu, ngô và lúa mì…[58]
Hiện nay, khu vực khai khoáng của Mỹ Latinh đã thu hút tới 24% tổng vốn đầu tư trong lĩnh vực này của toàn thế giới (năm 2007), trong đó chủ yếu tập trung tại Chile, Peru, Mexico, Argentina và Brazil Hiện đã có 1.821 công ty đầu tư vào các dự án khai khoáng tại khu vực này với số với lên tới gần 10 tỷ USD, tăng 40%
so với năm 2006, trong đó chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khai thác vàng, bạc, đồng, sắt, kẽm và niken
Trang 11Với nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn như vậy, các nước Mỹ Latinh đã trở thành nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu vô cùng quan trọng cho Mỹ Nếu như giai đoạn trước năm 1930, Mỹ Latinh cung cấp chủ yếu nguồn nguyên liệu thô cho các nước phương Tây đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp của các nước này Thì sau đó, cùng với việc bành trướng và mở rộng ảnh hưởng xuống phía Nam, Mỹ đã dần dần biến các nước này phục vụ cho lợi ích của mình [2,tr35] Thực tế là tư bản Mỹ, thông qua các công ty xuyên quốc gia, đã kiểm soát hầu hết những nguồn tài nguyên quan trọng tại các nước Mỹ Latinh như những quặng mỏ khổng lồ tại Peru, các nhà máy lọc dầu tại các quốc gia như Brazil, Colombia, Venezuela…
Với tư cách là nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhu cầu năng lượng và nguyên liệu với nền kinh tế Mỹ là rất cao Gần một phần ba năng lượng tiêu thụ ở Mỹ là từ nguồn cung cấp nước ngoài, trong đó gần 2/3 là dầu mỏ Riêng kim ngạch nhập khẩu dầu thô của Mỹ trong tháng 4/08 đã tăng vọt lên 29,3 tỷ USD Với mức thâm hụt trung bình 59,3 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2008, các chuyên gia dự kiến tổng thâm hụt thương mại của Mỹ trong cả năm 2008 có thể lên tới 707,5 tỷ USD,
so với 700,3 tỷ cả năm 2007 Đây sẽ là năm thứ 6 liên tục, thâm hụt thương mại của
Mỹ tăng mạnh, thâm hụt thương mại của Mỹ với các quốc gia thành viên OPEC lên tới 15,6 tỷ USD
Trong vòng 25 năm trở lại đây, trong bối cảnh nguồn năng lượng toàn cầu khan hiếm, Mỹ Latinh vẫn là khu vực cung cấp năng lượng quan trọng cho Mỹ (Mỹ nhập khẩu khoảng 30% dầu từ Mỹ Latinh) [41,tr143] Hiện tại, việc phát triển năng lượng sinh học ở Brazil đã mở ra những triển vọng mới cho hợp tác năng lượng của
Mỹ tại đây Trong 8 tháng đầu năm nay, Braxin đã sản xuất 580.000 tấn dầu diezel sinh học Chính điều này cũng góp phần tăng vị thế của khu vực này trên bản đồ các khu vực xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới
Điểm thứ hai lý giải cho sự quan tâm của Mỹ đối với Mỹ Latinh, đó là, khu
vực này là một thị trường rộng lớn và tiềm năng cho các doanh nghiệp của Mỹ khai thác tìm kiếm lợi nhuận Với việc thúc đẩy tiến trình tự do hóa đầu tư và thương
Trang 12mại ở khu vực, các doanh nghiệp Mỹ có rất nhiều cơ hội trong việc xâm nhập thị trường và khuyếch trương ảnh hưởng Các doanh nghiệp này với lợi thế về công nghệ, vốn, trình độ quản lý đã đè bẹp các doanh nghiệp địa phương và thao túng nền kinh tế khu vực Đặc biệt, những TNC của Mỹ đã có một tiếng nói khá quan trọng đối với hoạch định chính sách của các chính phủ Mỹ Latinh Góp phần phổ biến thói quen tiêu dùng, lối sống Mỹ và tuyên truyền cho ảnh hưởng của nước Mỹ tại đây
Riêng trong thập kỷ 1970, các TNC của Mỹ kiểm soát 70% hoạt động xuất khẩu, 95% công nghiệp khai thác, 75% công nghiệp luyện kim và thủy điện, 40% công nghiệp vận tải, 50% công nghiệp chế biến của Mỹ Latinh [19,tr20] Đặc biệt,
Mỹ đẩy mạnh sự xâm nhập của mình vào những nền kinh tế tương đối đóng của khu vực thông qua việc giảm sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động đầu tư, tín dụng, tiền tệ và ngoại thương Trong giai đoạn đầu thập kỷ 90, thông qua các thể chế kinh tế quốc tế như IMF hay WB, Mỹ đã gây sức ép lên tiến trình tư nhân hóa tại các nước trong khu vực để đổi lại là các khoản vay tín dụng và việc giải quyết khoản nợ nước ngoài to lớn của những quốc gia này Cụ thể như quá trình tư nhân hóa tại Paraguay, Bolivia, Panama và một số nước khác đã được bắt đầu ngay sau khi IMF nêu điều kiện cho vay tín dụng nếu triển khai quá trình phi nhà nước hóa nền kinh tế, mở đường cho những doanh nghiệp Mỹ hoạt động tại đây [19,tr37]
Hoạt động xuất khẩu của khu vực đã được mở rộng đáng kể, từ năm 1990 đến năm 2001, xuất khẩu tăng từ 161,4 tỉ tới 391,4 tỉ đôla Mỹ Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu lại nằm trong tay các TNC Mexico tuy được đánh giá là nước đứng đầu trong khu vực về khối lượng xuất khẩu, nhưng 1/3 tổng số doanh thu từ hoạt động xuất khẩu lại chảy vào túi của ba TNC của Mỹ hoạt động tại nước này (IBM, General motors và Chrycles)
Trong giai đoạn gần đây, Mỹ Latinh được Uỷ ban Kinh tế Mỹ Latinh và Caribean của Liên hợp quốc (CEPAL) nhận định là khu vực có nền tảng kinh tế vĩ
mô tương đối vững chắc và đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhờ được hưởng lợi từ hai yếu tố là giá nguyên liệu tăng cao và gặp thuận lợi trong tiếp cận nguồn tài
Trang 13chính bên ngoài Theo số liệu sơ bộ của CEPAL, năm 2007, GDP của khu vực Mỹ
Latinh tăng 5,6% và đây là năm thứ 5 liên tiếp khu vực này đạt tăng trưởng cao, trong đó các nước dẫn đầu là Panama (tăng 9,5%), Argentina (8,6%), Venezuela (8,5%) và Peru (8,2%) Ngoài ra, khu vực này còn có được thặng dư tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán quốc tế cao chưa từng có, và cải thiện được các chỉ số liên quan đến thất nghiệp, chống đói nghèo và phân phối thu nhập
Kim ngạch trao đổi buôn bán giữa Mỹ và các nước Mỹ Latinh cũng đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó riêng kim ngạch thương mại giữa Mỹ và Mexico đã đạt mức cao kỷ lục là 347 tỷ USD (2007) Hiện Mexico là đối tác thương mại lớn thứ ba của Mỹ, sau Trung Quốc và Canada Tổng kim ngạch trao đổi thương mại của các nước Mỹ Latinh (không tính Mexico) với Mỹ năm 2007 đạt 142,300 tỷ USD, trong đó Mỹ Latinh đã xuất siêu 27,244 tỷ USD Trong 6 tháng đầu năm 2008, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Mỹ và khu vực Mỹ Latinh tăng 19,7% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 318,87 tỷ USD, trong đó nhập siêu của khu vực Mỹ Latinh đã lên tới trên 50 tỷ USD Hiện nay, tại khu vực Mỹ Latinh trao đổi thương mại giữa Brazil và Mỹ tăng trưởng cao nhất với 26,5%, đạt trên 29,7 tỷ USD Bên cạnh đó, Mexico, Chile và Venezuela tiếp tục là những đối tác thương mại lớn của Mỹ tại khu vực này
Kim ngạch buôn bán của khối các nước Trung Mỹ tham gia Hiệp định Thương mại Tự do với Mỹ (CAFTA) trong 6 tháng đầu năm 2008 cũng ước tính tăng 13% so với cùng kỳ năm 2007, lên hơn 22,4 tỷ USD Tại khu vực Trung Mỹ, Costa Rica (mặc dù chưa tham gia CAFTA) tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ, với mức tăng trưởng trao đổi thương mại khoảng 29%
Tuy nhiên, cùng với những lợi ích kinh tế - chính trị của khu vực và sự gia
tăng vị thế của Mỹ Latinh trong đời sống quốc tế, ngày càng có nhiều quốc gia lớn muốn xâm nhập và gây ảnh hưởng tại đây Đây cũng là một yếu tố khiến Mỹ phải chú tâm nhiều hơn đến khu vực này
Chính phủ Trung Quốc mới đây đã công bố văn kiện về chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Trung Quốc với các
Trang 14khu vực này trong tương lai Nước này nhấn mạnh mong muốn mở rộng và tăng cường hợp tác với Mỹ Latinh trong các lĩnh vực năng lượng và tài nguyên thiên nhiên Hiện tại, Trung Quốc có nhu cầu cấp bách đối với hầu hết các loại nguyên vật liệu nhằm đáp ứng cho nền kinh tế khổng lồ đang tăng trưởng rất nhanh (trên 9%/năm) Hàng năm, Bắc Kinh nhập rất nhiều quặng sắt của Brazil, đồng của Chilê hay đậu nành của cả khu vực Nam Mỹ Từ 5 năm qua, kim ngạch xuất khẩu từ Nam
Mỹ sang Trung Quốc đã tăng rất nhanh Chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2004, Bắc Kinh đã nhập khẩu hơn 2 tỷ USD đậu nành và các sản phẩm tái chế từ Argentina
Song song, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh đầu tư trực tiếp vào khu vực Trung và Nam Mỹ Hôm 17/11, Bắc Kinh ký thỏa thuận đầu tư 20 tỷ USD trong vòng 10 năm với Argentina trên các lĩnh vực đường sắt, khai thác dầu khí và nông nghiệp Còn Brazil – một thị trường khổng lồ trong khu vực, có nhiều triển vọng thu hút khoảng 10 tỷ USD vốn từ giới đầu tư Trung Quốc trong vài năm Ngoài ra, các tập đoàn của Trung Quốc còn liên kết với các đối tác bản địa trên các
dự án khai thác quặng sắt ở Peru, vàng ở Venezuela hay dầu mỏ ở Ecuador Năm
1978, Trung Quốc mới chỉ đầu tư 200 triệu USD vào Châu Mỹ Latinh, tuy nhiên tới năm 2000 con số này đã tăng lên 10 tỷ Chính quyền nước này cũng cho biết thêm, hiện tại có khoảng 30.000 hợp đồng đã được ký kết giữa Trung Quốc và Mỹ Latinh
Bên cạnh Trung Quốc, Nga cũng đã hướng mối quan tâm vào khu vực này khi cam kết sẽ đưa mối quan hệ với châu Mỹ Latinh trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình Thủ tướng Nga Putin đã khẳng định rằng “Mỹ Latinh đang trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi mắt xích thế giới đa cực đang được hình thành Chúng tôi sẽ dành nhiều sự quan tâm hơn tới khu vực này trong chính sách kinh tế và đối ngoại của chúng tôi” Về cơ bản, hợp tác của Nga với khu vực tập trung nhiều hơn vào khía cạnh quân sự Nga đã cho triển khai đội tàu chiến hải quân tới tập trận tại vùng biển Caribean Nước này cũng đã ký các hợp đồng cung cấp vũ khí trị giá hơn 4,4 tỷ USD cho Venezuela từ năm 2005
Trang 15Tương tự với Trung Quốc và Nga nhưng trên quy mô nhỏ hơn, các quốc gia châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hay Việt Nam cũng đang tăng cường thắt chặt quan hệ thương mại với khu vực Mỹ Latinh
Sự xuất hiện của những nhân tố mới trong khu vực đã tạo cho Mỹ Latinh một tầm quan trọng khác trong chiến lược chung của Mỹ Rõ ràng từ trước đến nay, người Mỹ vẫn luôn lo ngại sự xâm nhập từ bên ngoài vào sân sau của mình Từ những năm 1830, học thuyết Monroe đã thể hiện tinh thần này Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế biến đổi và nhiều nhân tố mới xuất hiện như ngày nay, Mỹ khó lòng ngăn cản được những nước như Trung Quốc hay Nga chiếm lĩnh khu vực này Rõ ràng Mỹ Latinh đang ngày càng có một tầm quan trọng lớn hơn trong cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc
Mặt khác, xét trên phương diện chiến lược, thâu tóm khu vực Mỹ Latinh là
một phần trong ý đồ khuyếch trương ảnh hưởng của Mỹ ra bên ngoài từng bước một Mỹ Latinh là bước đầu tiên rất quan trọng không thế bỏ qua Kể từ học thuyết Monroe cho đến những giai đoạn sau đó trong mối quan hệ Mỹ - Mỹ Latinh, người
ta luôn nhận thấy Washington đưa khu vực này vào trong những toan tính kinh tế - chính trị của mình Như chúng ta đã biết, chính sách kinh tế quốc tế của Mỹ những thập kỷ cuối thế kỷ XX đặc trưng bởi mong muốn mở cửa thị trường các quốc gia cho cạnh tranh và giảm những can thiệp của nhà nước trong hoạt động kinh tế Mỹ Latinh chính là phép thử đầu tiên cho chiến lược này của Mỹ Các triển khai của Mỹ trong việc xây dựng mô hình kinh tế tân tự do ở Mỹ Latinh đã được tiến hành tại tất
cả các nước trong khu vực Mục tiêu chính của Mỹ là đạt được một thỏa thuận toàn cầu trong khuôn khổ WTO, những hiệp định khu vực này có thể cung cấp một khung tham chiếu có giá trị Mặt khác, nếu những đàm phán đa phương vấp phải khó khăn, Washington luôn luôn sẵn sàng quay trở lại với những dự định khu vực của mình
Cuối cùng, sự quan tâm của Mỹ đối với Mỹ Latinh xuất phát từ rất nhiều
những vấn đề nảy sinh trong khu vực như: chủ nghĩa cộng sản trong giai đoạn chiến tranh Lạnh, khủng hoảng kinh tế, các phong trào kháng chiến, ma túy, nhập cư…
Trang 16Đây là những vấn đề đe dọa trực tiếp đến lợi ích của Mỹ tại khu vực mà Washington không thể bỏ qua Đồng thời, ở bên trong nước Mỹ, cũng có rất nhiều vấn đề mới như nhập cư bất hợp pháp từ bờ Nam Rio Bravo, sự bùng nổ của tiêu thụ ma túy (đặc biệt là heroin và cocain) hay sự thay đổi của thị trường lao động Tâm lý của dân chúng Mỹ là sự hoài nghi về địa vị của đất nước mình trên thế giới,
về an ninh quốc gia, an ninh lãnh thổ và an ninh cá nhân Thế mà những nguồn gia tăng bất ổn định này lại xuất phát chủ yếu từ khu vực Mỹ Latinh Vì vậy, hoạch định chính sách của Washington liên quan đến khu vực chịu sự chi phối to lớn không chỉ của những nhân tố bên ngoài mà cả bên trong nước Mỹ Những nhà lãnh đạo buộc phải đưa ra những tham số mới trong định nghĩa về an ninh quốc gia và đưa Mỹ Latinh vào trong phạm vi quan tâm của mình
Hơn nữa, một lý do quan trọng là sự ổn định ở Mỹ Latinh mang lại bối cảnh thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các công ty Mỹ Trên thực tế, Mỹ đã không ngần ngại can thiệp vào những vấn đề của các nước trong khu vực như giúp đỡ tài chính tối đa cho Chile trong công cuộc cải cách đất nước của Pinochet; Mexico cũng đã nhận được nhiều giúp đỡ về tài chính để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội (trong năm 1994 là cuộc nổi dậy ở miền Nam đất nước do những bất bình với Chính phủ Mexico), hay như xóa nợ cho Peru và Argentina vào năm 1992 [19, tr29]
Như vậy, kể từ những giai đoạn đầu bành trướng ảnh hưởng của chủ nghĩa
đế quốc Mỹ, khu vực Mỹ Latinh đã đóng một vai trò nhất định trong chiến lược của
Mỹ Điều này không chỉ do những nhân tố khách quan chi phối, mà một phần quan trọng chính từ vai trò địa kinh tế - chính trị và tầm quan trọng chiến lược của khu vực này Mối quan tâm của Mỹ với khu vực có thể thay đổi theo từng giai đoạn nhưng rõ ràng tầm quan trọng mà những nước Mỹ Latinh tác động lên nước Mỹ là bất biến Trên những cơ sở đó, chính sách của Mỹ đối với khu vực giai đoạn trước Chiến tranh Lạnh sẽ được tóm lược sau đây
Trang 171.2 Khái quát về chính sách của Mỹ với Mỹ Latinh trước khi kết thúc chiến tranh Lạnh
Học thuyết Monroe “châu Mỹ là của người Mỹ”
Mong muốn đưa Mỹ Latinh vào vùng ảnh hưởng của đế chế Mỹ không phải
là điều mới mẻ Kể từ năm 1823, trong bài diễn văn hàng năm đọc trước Quốc hội, tổng thống thứ 5 của Mỹ James Monroe đã bày tỏ mong muốn thống trị về chính trị, kinh tế và quân sự đối với khu vực khi yêu cầu người châu Âu không can thiệp ở
Mỹ Latinh Và trong suất thế kỷ XIX và XX, người ta đã chứng kiến Washington thiết lập những điều kiện cho sự thống trị bá quyền thực sự tại nơi được xem là sân sau của Mỹ hơn là một đối tác bình đẳng
Về cơ bản, nội dung học thuyết của tổng thống Monroe thể hiê ̣n mong muốn đưa Mỹ trở thành người bảo trợ cho an ninh và sự ổn đi ̣nh của Tây bán cầu , và không mô ̣t lực lượng nào khác có quyền can thiệp vào công việc này của Mỹ Để thực hiện điều đó, Mỹ đã cho triển khai sau đó rất nhiều những cuô ̣c chiếm đóng dồn dâ ̣p, những kế hoa ̣ch bí mâ ̣t , hay những khoản đầu tư ồ a ̣t…Cũng trong thế kỷ XIX và đầu XX , xuất hiện mô ̣t vài hướng tiếp câ ̣n lý thuyết khác , như thuyết Số
mê ̣nh hiển nhiên và Hê ̣ luâ ̣n Roosevelt, bổ sung cho ho ̣c thuyết Monroe
Nhìn chung , vấn đề Mỹ Latinh đối với nước Mỹ là mô ̣t chủ đề vừa thuô ̣c chính sách đối ngoại, vừa là đối nô ̣i Điều này đă ̣c biê ̣t đúng với vùng Carribean và Trung Mỹ , nhưng lại ít phù hợp hơn nếu áp du ̣ng vào khu vực Nam Mỹ Những quan điểm về mối quan hê ̣ Liên Mỹ giải thích ta ̣i sao khu vực này dường nh ư ít đươ ̣c nước Mỹ quan tâm mă ̣c dù nó là mô ̣t vùng mang lợi ích thiết yếu với nước
Mỹ Chính vì vậy, vấn đề đă ̣t ra là phải xem xét la ̣i mối quan hê ̣ Liên Mỹ kể từ cuối thế kỷ XX Chính diễn biến của Chiến tranh Lạnh cũ ng ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hê ̣ này: trong thời kỳ căng thẳng với Liên Xô, nước Mỹ tỏ ra khá cứng rắn trong quan hê ̣ với các nước Mỹ Latinh , nhưng sau đó, cùng với sự rung chuyển của khối X ô viết, mối nguy cơ từ chủ n ghĩa cộng sản trong khu vực cũng giảm đi , những trách nhiê ̣m mới của nước Mỹ trên quy mô toàn cầu ngày càng tăng lên Đối với Mỹ Latinh, Mỹ phải đưa ra một dự định mới lạ để có thể thổi một luồng gió mới
Trang 18vào mối quan hệ n ày Bên ca ̣nh đó , những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu kể từ đầu những năm 1980 buô ̣c các chủ thế quốc tế phải thích ứng Mối quan hê ̣ liên Mỹ cũng vậy: mô ̣t phần , cần phải thích ứng với viê ̣c mở cửa các thi ̣ trường qu ốc gia, viê ̣c bỏ qua những chính sách thay thế nhâ ̣p khẩu trong nước ; mă ̣t khác, phải thích ứng với sự phát triển và gia tăng của các liên minh khu vực
Hành động đầu tiên của Mỹ thể hiện học thuyết Monroe chính là vào những năm 1860, với vấn đề Mexico Khi đó, hoàng tử nước Áo Maximilian, lợi dụng tình hình xung đột và nội chiến bên trong nước Mỹ, đã xưng hoàng đế Mexico với sự hỗ trợ của Pháp và Tây Ban Nha vào năm 1863 Chính phủ Mỹ không thừa nhận chế
độ quân chủ này, nhưng phải cho đến khi nội chiến chấm dứt mới can thiệp Bắt đầu
từ mùa hè năm 1865, Bộ trưởng ngoại giao Seward tiến hành một chiến dịch ngoại giao nhằm buộc lực lượng của Pháp rút khỏi Mexico Năm 1866 người Pháp đồng ý rút khỏi Mexico và một năm sau đó, Maximilian đã bị bắt và xử bắn Như vậy, thời
kỳ 1863-1867 đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc khẳng định những nguyên lý được xác lập bởi Monroe
Nếu Mexico là trường hợp can thiệp thật sự đầu tiên của Mỹ tại khu vực Mỹ Latinh dưới ngọn cờ của Học thuyết Monroe, thì giai đoạn tiếp theo đó, thời kỳ Venezuela và cuộc “chiến tranh” Mỹ - Tây Ban Nha 1898 đã củng cố quyền tối cao
của Mỹ trong khu vực và chấm dứt tham vọng quyền lực của người châu Âu tại đây
Vào năm 1895, xuất hiện bất đồng về vấn đề biên giới giữa Venezuela và Guiana thuộc Anh Tình hình ngày càng căng thẳng giữa hai phía, Washington đã
đề xuất đóng vai trò trung gian giải quyết xung đột sau khi cảnh báo Anh về bất kỳ
nỗ lực nào chiếm giữ lãnh thổ Tổng thống Grover Cleveland tuyên bố sẵn sàng sử dụng mọi phương tiện cần thiết để chống lại Anh Những người Anh, khi đó đang gặp phải những khó khăn với thuộc địa tại Nam Phi, đã chấp nhận vai trò trọng tài của Mỹ Như vậy, vấn đề Venezuela đã cho thấy nước Anh đã từ bỏ vai trò của mình tại Nam Mỹ trong suốt thế kỷ XIX, và có sự nhường bước này là tác động cạnh tranh từ phía Mỹ Sự chuyển giao quyền lực này được thể hiện cụ thể qua việc bãi bỏ Hiệp ước Clayton-Bulward và thay thế bằng Hiệp ước Hay-Paunceforte
Trang 19(1902), khẳng định bá quyền của Mỹ tại vùng Carribean và Trung Mỹ, cũng như là
ưu thế của Mỹ về mặt hàng hải và quân sự tại Mỹ Latinh
Trường hợp xâm lược Cuba và Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha đánh dấu sự
ra đi cuối cùng của người Tây Ban Nha khỏi Tây bán cầu Cuba từ lâu đã là đối tượng thèm muốn của Mỹ, nước Mỹ coi hòn đảo này như một phần không thể thiếu của mình Tuy nhiên, những đề xuất đối với Tây Ban Nha để có được Cuba đều không có kết quả Cho đến tháng 2/1898, với lý do chiến hạm Maine bị nổ trong vinh La Habana, Mỹ đã tiến hành can thiệp quân sự chống lại Người Tây Ban Nha
Tổng thống MacKinley đã bào chữa cho cuộc chiến tranh là để chống lại một hành động xâm phạm đến an ninh của Mỹ và bảo vệ cuộc tranh đấu của những dân tộc Mỹ anh em chống lại một thế lực Châu Âu Sau khi MacKinley tuyên chiến vào tháng 4/1898, quân đội Mỹ cũng đã nắm lấy cơ hội để xâm chiếm những căn cứ Tây Ban Nha khác trong vùng và tại Philippin Hiệp ước Paris ký tháng 12/1898 đặt dấu chấm dứt cho cuộc chiến tranh mà người Tây Ban Nha không thể tránh khỏi
Chiến thắng này đánh dấu một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại Mỹ; Chủ nghĩa biệt lập, đã dẫn dắt chính sách đối ngoại của Mỹ từ khi ra đời, đã nhường chỗ cho một chính sách mang tính đế quốc chủ nghĩa Người Mỹ bề ngoài mong muốn xây dựng một mối quan hệ đặc quyền với vùng Caribbean và Trung Mỹ, nhưng trên thực tế, đó là sự bắt đầu của một chính sách can thiệp thật sự
Rõ ràng, Mỹ không chỉ bằng lòng với việc đuổi những lực lượng châu Âu ra khỏi bán cầu Tây, mà còn muốn thay thế những vị trí bỏ trống Thông qua những học thuyết khác có cùng tư tưởng với học thuyết Monroe như Số mệnh hiển nhiên (Manifest Destiny) hay Hệ luận của Roosevelt (The Roosevelt Corollary), Mỹ đã tiến hành can thiệp về mặt chính trị, quân sự và kinh tế tại Mỹ Latinh
Một trong những mục đích quan trọng của Mỹ trong thế kỷ XIX là mở rộng lãnh thổ quốc gia Giai đoạn đầu thế kỷ, sự mở rộng được tiến hành thông qua việc mua bán lãnh thổ Louisiana năm 1804 và Florida năm 1819 Tuy nhiên, quan điểm
mở rộng lãnh thổ quốc gia đã có sự thay đổi, thể hiện qua việc Mỹ tiến hành thôn tính Taxas vào năm 1845 và chiến tranh với Mexico (1846 – 1848) Với chiến thắng
Trang 20của mình, Mỹ đã ký Hiệp ước Guadalupe- Hidalgo tháng 2/1848, thu nhận California, New Mexico, Utah, Arizona Texan và Nevada Người ta có thể sử dụng học thuyết Số mệnh hiển nhiên mà John L.Sullivan đưa ra để lý giải một phần hành động này Học thuyết cho rằng nước Mỹ được dành cho đặc quyền mở lãnh thổ trên toàn châu lục Quyền tự nhiên này có được là do tính ưu việt của người da trắng văn minh (những người Anglo – Saxon) so với những người Anh - điêng và các dân tộc khác trong vùng Bởi vì nước Mỹ thuộc vào một nền văn minh cao hơn, quyền của
họ là thống trị châu lục Vì vậy, Mỹ không ngần ngại khi sử dụng công cụ chiến tranh cho mục tiêu tối cao đó
Quan điểm này được phần lớn giới tinh hoa trong xã hội Mỹ tán đồng Chẳng
có gì đáng ngạc nhiên bởi vì những lý thuyết phân biệt chủng tộc đã ngự trị tư duy khoa học và chính trị Mỹ lúc đó Ý tưởng những người Mỹ là một dân tộc được Thượng đế ủng hộ và có sứ mệnh giúp đỡ những dân tộc khác “lạc hậu” hơn ra khỏi bóng tối, tức là áp đặt sự thống trị của người Anglo-Saxon tại châu Mỹ đã được thể hiện rõ ràng
Can thiệp quân sự của Mỹ tại Mỹ Latinh giai đoạn 1898 - 1934
Quốc gia Năm
Trang 21Quan hệ ngoại giao láng giềng thân thiện - chủ nghĩa Liên Mỹ
Chủ nghĩa can thiệp đã trở thành một bộ phận cấu thành của Chính sách Mỹ Latinh của Mỹ cuối thế kỷ XIX và đầu XX Chính vì vậy, Mỹ đã ra sức thúc đẩy xây dựng chủ nghĩa Liên Mỹ (Panamericanism) như một công cụ để xoa dịu phản ứng của các nước Mỹ Latinh đối với những can thiệp của mình Hội nghị Liên Mỹ đầu tiên diễn ra tại Washington vào 2/10/1889 đã không đưa đến việc ký kết những hiệp định quan trọng, ngoại trừ hiệp định thành lập Liên hiệp quốc tế các nền cộng hòa châu Mỹ (the International Union of American Republics) Các quốc gia trong khu vực kể từ đây phải tính đến các lợi ích của Mỹ với tư cách là một cường quốc khu vực Sau đó, rất nhiều những hội nghị Liên Mỹ đã được tổ chức (tại Mexico (1901), Rio de Janeiro (1906), Buenos Aires (1910), Santiago (1923) (1928) (1933), Buenos Aires (1936) (1938), La Havana, (1940)) Chiến lược của nước Mỹ trong những hội nghị này là giữ một thái độ hòa giải đối với các nước Mỹ Latinh, hành động với vai trò trung gian cho những xung đột giữa các nước Mỹ Latinh Nếu nước
Mỹ duy trì thái độ như vậy, họ sẽ giữ được vai trò trung tâm trong tiến trình Liên
Mỹ
Giai đoạn sau đó, nước Mỹ theo đuổi một sự cân bằng giữa chủ nghĩa can thiệp cực đoan và chủ nghĩa liên Mỹ mang tính chất hợp tác Không một vị tổng thống nào thể hiện tham vọng kết hợp hai khía cạnh hoàn toàn khác biệt này rõ nhất bằng Wilson Vừa mang tính chất đế quốc vừa thể hiện tính hợp tác, chủ nghĩa Wilson khá nghịch lý khi sự can thiệp sức mạnh (dưới thời tổng thống Wilson nước
Mỹ tham gia vào nhiều cuộc can thiệp quân sự nhất) được đặt bên cạnh chủ nghĩa lý tưởng thái quá về nền dân chủ trong khu vực Trên thực tế, chính sách Mỹ Latinh của những tổng thống Mỹ sau đó từ Cleveland đến Hoover đều giống như vậy: một chính sách can thiệp mang tính chất “ổn định”[26,tr21]
Tuy nhiên, dưới thời kỳ cầm quyền của F.D Roosevelt, chính sách Mỹ Latinh có một sự biến đổi lớn Roosevetl tuyên bố một chính sách láng giềng thân thiện và tiến hành học thuyết phi can thiệp: Nước Mỹ sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước Mỹ Latinh nữa Và để chứng tỏ điều này, Roosevelt đã rút
Trang 22quân Mỹ khỏi Haiti và Nicaragua năm 1934, ông cũng đã ký vào nghị định thư Buenos Aires 1936 (tuyên bố không chấp nhận sự can thiệp của một Nhà nước châu
Mỹ vào công việc nội bộ của một Nhà nước khác tại bán cầu dưới bất kỳ lý do nào) Bằng chứng rõ nhất cho chiều hướng mới trong chính sách Mỹ Latinh của Mỹ là vấn đề Mexico năm 1937 – 1938 Bộ ngoại giao Mỹ đã không có những phản ứng chính thức khi Chính phủ Cárdenas đã tiến hành quốc hữu hóa ngành công nghiệp điện và dầu lửa mà không bồi thường tổn thất cho các doanh nghiệp Mỹ
Sở dĩ Roosevelt theo đuổi một chính sách mới với Mỹ Latinh là có lý do Thời kỳ này, khủng hoảng kinh tế đang diễn ra tại Mỹ, tất cả các nguồn tài nguyên quốc gia đều được huy động để chống lại khủng hoảng Việc duy trì những toán quân Mỹ tại nước ngoài hay những can thiệp quân sự tại Mỹ Latinh đòi hỏi phải chi
phí tốn kém và hạn chế những cải cách trong chương trình phục hồi kinh tế New Deal Mặt khác, tình hình quốc tế những năm 1930 ngày càng tỏ ra đáng lo ngại với
sự phát triển của Chủ nghĩa phát-xít và những nguy cơ của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất Vì vậy, chính quyền Mỹ nhận thấy tầm quan trọng của việc “đóng cửa” hoàn toàn Tây bán cầu trước tất cả tác động bên ngoài Tất cả những yếu tố này đã khiến nước Mỹ từ bỏ chủ nghĩa can thiệp trực tiếp của mình
Sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, những bước đi đầu tiên xây dựng một hệ thống an ninh tập thể Liên Mỹ đã được Roosevelt đề đạt và đã được người kế nhiệm
là H.Truman bổ sung Ba trụ cột của hệ thống này là: Hiệp ước tương hỗ giữa các nước châu Mỹ (The Inter-American Treaty of Reciprocal Assistance – TIAR, Rio
de Janeiro 1947), giải quyết hòa bình các tranh chấp (Pacte de Bogota 1948) và Hiến chương của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ 1948 Với TIAR, các quốc gia châu Mỹ cam kết không chấp nhận sự can dự của các cường quốc châu Âu vào công việc nội bộ của mình Hiệp ước quân sự này cũng nhằm chống lại Liên bang Xô viết khi những mầm mống của Chiến tranh Lạnh đang hiện ra Hội nghị Bogota với việc thông qua Hiệp ước Bogota đã thiết lập nên một cơ chế điều chỉnh những khác biệt giữa các nước châu Mỹ Hội nghị này cũng là sự mở đầu cho Chủ nghĩa Liên Mỹ về chính trị, tuy nhiên phải đến 13 năm sau, nghĩa là dưới thời Kennedy, bản phác thảo
Trang 23về chủ nghĩa Liên Mỹ kinh tế mới ra đời Liên minh vì sự tiến bộ (The Alliance for Progress) là một chương trình hợp tác liên Mỹ do tổng thống Kennedy đề xuất vào năm 1961, với thời hạn 10 năm, nhằm mục tiêu cơ bản là tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và thúc đẩy những cải cách xã hội tại Mỹ Latinh, tấn công vào tất cả những lĩnh vực đời sống: kinh tế, y tế, văn hóa, Tuy nhiên, sau những mục đích bên ngoài này, vẫn ẩn chứa động cơ chính trị: đó là loại trừ tất cả các cơ hội của chủ nghĩa cộng sản lan truyền trên châu lục nhờ vào việc củng cố nền dân chủ
Tuy nhiên, sau sự ra mắt đầy phô trương, chương trình này đã nhanh chóng gặp phải nhiều vấn đề Giới tinh hoa lãnh đạo tại các nước Mỹ Latinh có sự nhìn nhận khá tiêu cực về những cải cách đã tiến hành, họ cho rằng chúng chủ yếu chỉ làm suy giảm địa vị của họ Hơn nữa, cánh tả Mỹ Latinh không tin tưởng vào nước
Mỹ, vốn được xem là một đế quốc Vì vậy, chỉ 3 năm sau khi được đưa ra, Liên minh vì sự tiến bộ đã thể hiện sự yếu kém về thực chất Quan tâm của nước Mỹ giờ đây đang hướng về khu vực Đông Nam Á và những dính líu tại Việt Nam Và mặc
dù vẫn kéo dài 10 năm như dự kiến, dự án của Kennedy đã khó lòng đạt tới những mục tiêu đề ra
Như vậy, sự phát triển của chủ nghĩa Liên Mỹ về kinh tế trong suốt những năm 1960 không đi cùng với một tiến trình tương đồng về chính trị Mặt khác, bản thân chủ nghĩa Liên Mỹ, mặc dù đã có một kết quả nào đó dưới thời Roosevelt và Truman, đã bị suy yếu vào những năm 1950 với sự quay trở lại của chủ nghĩa đơn phương và chủ nghĩa can thiệp Rõ ràng, chủ nghĩa can thiệp của Mỹ đối với Mỹ Latinh là một nhân tố bất biến
Chiến tranh Lạnh và chính sách đảo chính phòng ngừa của Mỹ
Sau Thế chiến thứ hai, vấn đề đặt ra với nước Mỹ nằm ở chỗ: nước này đạt được địa vị siêu cường thế giới, và những trách nhiệm của Mỹ cũng mang tính toàn cầu Tuy nhiên, Liên bang Xô viết lại thiết lập một hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội hoàn toàn khác, cạnh tranh với Mỹ Mỹ Latinh giờ đây chỉ là một con tốt trên bàn cờ chiến lược toàn cầu của Mỹ, tuy nhiên vẫn là một mắt xích không thể thiếu
Trang 24Vì vậy, bất chấp những tham vọng tự chủ của các chính phủ Mỹ Latinh và sự tác động của Liên Xô, Mỹ vẫn không từ bỏ vai trò của mình trong khu vực
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thông qua Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) và Hiệp ước Rio (1947), một hệ thống an ninh khu vực đã được thiết lập dưới sự bảo trợ của Mỹ và chủ yếu nhằm vào chủ nghĩa cộng sản Mỹ khẳng định rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ đe dọa tới an ninh khu vực và mọi hành vi xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị trả đũa Những can thiệp tiếp theo của Mỹ mang tính chất chính trị - quân sự phản ánh điều này: Khủng hoảng tên lửa Cuba (11/1962), can thiệp quân sự tại Cộng hòa Dominica (1965), Grenada (1984) và Panama (1989) Trong tất cả các trường hợp, Mỹ đều không bị chỉ trích bởi những thể chế quốc tế cao nhất, bất chấp sự phản đối của đông đảo công luận Mỹ Latinh và trong một số trường hợp của cả các nước thành viên
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những can thiệp mang tính kinh tế - chính trị, đặc biệt là tại Guatemala năm 1954 và Chile năm 1973 Trong trường hợp của Guatemala, cải cách nông nghiệp mà tổng thống Arbenz tiến hành đã châm ngòi cho khủng hoảng Khi chính phủ nước này tiến hành quốc hữu hóa đất trồng trọt bằng
cách trưng dụng đất của những chủ sở hữu lớn, trong đó có United Fruit, đánh đổi
lại là sự miễn trừ thuế dựa trên những khai báo về thuế của doanh nghiệp này Công
ty này đã từ chối và cầu viện đến sự can thiệp của chính phủ Mỹ Lập tức, Mỹ tố cáo đường lối cộng sản của chế độ Azbenz, đồng thời CIA triển khai kế hoạch lật
đổ chính phủ Guatemala vốn theo đuổi sự độc lập với Mỹ Tháng 6/1954, vụ đảo chính được tiến hành và nhân vật thân Mỹ được đưa lên nắm quyền là Carlos Castillo Armas Tẩt cả những kháng nghị của chính phủ Guatemala đều không được OAS xem xét, bởi vì sức ép từ phía Mỹ hơn là hiệp ước Caracas mà những nước này đã ký vào, tuyên bố chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản trong khu vực
Trường hợp của Chile cũng có những khía cạnh tương đồng Salvador Allende, người đứng đầu chính phủ theo khuynh hướng marxist đã lên nắm quyền một cách dân chủ và tiến hành chương trình quốc hữu hóa các ngành công nghiệp
Trang 25chính của Chile Đường lối này không đoạn tuyệt hoàn toàn với các chính sách cải cách xã hội quan trọng của Eduardo Frei, tuy nhiên đối với những doanh nghiệp Mỹ
đó lại là một thảm họa Chính phủ Allende đã quốc hữu hóa các mỏ đồng của doanh
nghiệp Mỹ Anaconda và Kennecott Sau đó, tham vọng quốc hữu hóa Công ty điện thoại và điện báo quốc gia (do International Telephone and Telegraph - ITT kiểm
soát) đã thổi bùng lên sự giận dữ của phía Mỹ Những người đứng đầu ITT, sử dụng ảnh hưởng đối với các nhà cầm quyền Mỹ, đã thúc đẩy các âm mưu, ám sát và tham vọng đảo chính trước khi lật đổ được chính phủ Allende vào ngày 11/9/1973
Như vậy, bên cạnh khía cạnh chính trị của những can thiệp của Mỹ (chống lại chủ nghĩa cộng sản), thì việc bảo vệ quyền lợi kinh tế của Mỹ cũng là một nhân
tố quan tro ̣ng quyết định
Tóm lại, cho đến những năm 1980, học thuyết Monroe vẫn là khuôn khổ lý thuyết và thực tế cho việc hoạch định chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh Trong suốt hai thế kỷ XIX và XX, nước Mỹ đã xây dựng và theo đuổi chủ nghĩa bá quyền khu vực và thế giới, Mỹ Latinh chỉ là bước đệm mở đầu cho chủ nghĩa can thiệp của người Mỹ Quan hệ Liên Mỹ từ giai đoạn bắt đầu cho đến khi kết thúc chiến tranh Lạnh có thế khái quát thành 4 giai đoạn quan trọng sau: 1)Học thuyết Monroe 1823
ra đời là nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa đế quốc Mỹ tại bờ phía Nam Rio Grande; 2) Giai đoạn 1880-1890, trong thời gian đó chủ nghĩa đế quốc được cụ thể hóa bằng chủ nghĩa can thiệp quân sự dưới vỏ bọc là Chủ nghĩa Liên Mỹ (Panamericanism); 3) Sự bình thường hóa quan hệ tương đối, đă ̣c biê ̣t trong giai đoa ̣n những năm 1930 đến 1950 và sự đẩy mạnh vị trí trung tâm quyền lực của Mỹ trong Chủ nghĩa Liên Mỹ; 4) Quay trở lại với chính sách can thiệp của Mỹ bắt đầu từ giữa những năm
1950, liên quan đến bối cảnh của Chiến tranh Lạnh, và kéo dài cho cuối những năm
1980
Trang 26CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI CÁC NƯỚC MỸ LATINH TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
2.1 Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại Mỹ đối với Mỹ Latinh trên một số lĩnh vực
Chiến tranh La ̣nh kết thúc chính thức vào năm 1991 cùng với sự sụp đổ của
hệ thống xã hội chủ nghĩa đã đặt dấu chấm hết cho trật tự thế giới hai cực Trong bối cảnh toàn cầu mới này , Mỹ trở thành siêu cường “không đối thủ” [30, tr284] về kinh tế và quân sự Vị thế của Mỹ trên trường quốc tế được củng cố hơn rất nhiều
và đạt được sức mạnh chưa từng có
Chiến lươ ̣c toàn cầu của Mỹ cũng đã có những bước điều chỉnh quan tro ̣ng Chính quyền Mỹ đã chuyển từ chiến lược “ngăn chặn”, chủ yếu nhằm vào chủ nghĩa cộng sản, sang một chiến lược mới là “can dự và mở rộng” Những ý tưởng đầu tiên về chiến lược này được đưa ra trong phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher tại trường Đại học Tổng hợp Columbia ngày 20/9/1993, và chính thức được đề cập đến như một chiến lược cụ thế trong bài phát biểu của Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake tại trường Đại học tổng hợp Johns Hopkins ngày 21/9/1993 Sau đó, ngày 27/9/1993, trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức đưa ra chiến lược an ninh quốc gia “cam kết và
mở rộng” Trong chiến lược này, Mỹ xác định mục tiêu hàng đầu là đảm bảo sự lãnh đạo của mình trên toàn thế giới và ưu tiên triển khai các hoạt động trên cơ sở
ba nội dung chính: 1)Đảm bảo vững chắc an ninh của Mỹ bằng một lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu cao, duy trì tiềm lực phòng thủ và đẩy mạnh các biện pháp hợp tác an ninh; 2)Hỗ trợ cho hoạt động phục hồi nền kinh tế Mỹ thông qua mở cửa thị trường nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu; 3) Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài [9,tr186]
Trang 27Như vậy, với sự điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia và những mục tiêu mới được đề ra, chính sách đối ngoại của Mỹ bắt đầu có những thay đổi quan trọng,
và chính sách với khu vực Mỹ Latinh cũng sẽ không phải là một ngoại lệ
Trên thực tế, kết thúc của chiến tranh Lạnh và "mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản" không làm lục địa Mỹ Latinh xa rời khỏi những mối quan tâm lợi ích chiến lược của Mỹ Giai đoạn này, chính sách của Mỹ đối với khu vực này tập trung vào hai mục tiêu rõ ràng là củng cố dân chủ và thiết lập nền kinh tế thị trường trong khu vực Nước Mỹ vừa muốn thúc đẩy tự do thương mại trong khu vực để thông qua đó thu về những lợi ích kinh tế và kiểm soát nguồn dự trữ to lớn tài nguyên
thiên nhiên ở đây; đồng thời kiềm chế và giập tắt tất cả các nhân tố gây bất ổn định
có thể tác động xấu đến tiến trình dân chủ hóa và đe dọa vai trò của Mỹ tại khu vực
"sân sau" này
Chủ nghĩa can thiệp của Mỹ (vốn dựa trên ba hình thức can thiệp là: can thiệp quân sự nhằm loại bỏ những chính phủ “thù địch” và thiết lập lại những chính phủ “bạn bè”; những can thiệp thuần túy chính trị nhằm giúp đỡ các nhóm và các chính phủ Mỹ Latinh trong tình trạng khó khăn; cuối cùng là những can thiệp về kinh tế để giúp đỡ những doanh nghiệp Mỹ gặp khó khăn) tiếp tục được triển khai tại khu vực dưới những hình thức khác nhau Sau đây, chính sách của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh sẽ được xem xét đến trên các bình diện: 1) Chính trị - ngoại giao; 2) Kinh tế; 3)An ninh - quân sự; 4)Và một số chính sách khác
2.1.1 Chính trị – ngoại giao
2.1.1.1 Điểm qua quan hệ ngoại giao Mỹ-MỹLatinh từ sau Chiến tranh Lạnh
Quan hệ ngoại giao Mỹ - Mỹ Latinh sau khi chiến tranh Lạnh chấm dứt có thể được chia thành một số giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn đầu những năm 1990
Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc cùng với sự đổ vỡ của chủ nghĩa cộng sản
và trật tự thế giới hai cực, các nước Mỹ Latinh bước ra khỏi bối cảnh đó với mong muốn hòa nhập vào hệ thống quốc tế mới Những nước này muốn xây dựng một mô hình mới cho phép họ xích lại gần phần còn lại của thế giới đồng thời thiết lập
Trang 28những chế độ dân chủ bền vững, xây dựng những chương trình kinh tế tự do Đối với những chính phủ đương thời, vấn đề đặt ra là tôn trọng trật tự thế giới mới sau chiến tranh Lạnh, duy trì những nguyên tắc an ninh quốc tế mở rộng và tham dự vào sân chơi lớn của quá trình Toàn cầu hóa Đó là những ưu tiên chính trị và tư tưởng hàng đầu của hầu hết những người đứng đầu tại Mỹ Latinh
Trong bối cảnh đó, diễn ra cuộc tấn công của Iraq đối với Koweit năm 1991
Mỹ Latinh nằm trong số những quốc gia ủng hộ nghị quyết sử dụng sức mạnh quân
sự của Liên Hiệp Quốc, và những nước này đã liên kết với Mỹ trong cuộc tấn công trừng phạt Iraq Về cơ bản, những chính phủ Mỹ Latinh giai đoạn này có sự gần gũi tương đối với Mỹ nói riêng và những lực lượng gìn giữ trật tự quốc tế nói chung Lúc này không còn những chính phủ quân sự trong khu vực nữa, và đại diện chính trị của phe tả chỉ được thể hiện trong các nhóm quân đội cách mạng Vì đây là giai đoạn chuyển đổi nên các nước Mỹ Latinh chú tâm vào chính sách đối ngoại hơn là đối nội: những khoản viện trợ, khoản vay, hợp tác quốc tế, đầu tư nước ngoài, đều nằm trong tầm tay của các quốc gia Mỹ Latinh Những nguyên tắc phi đối lập, để tự
nó (laisser-faire) mà các nước này cam kết là sự đảm bảo cần thiết để họ nhận được
sự viện trơ ̣ bên ngoài
Về phía Mỹ, có thể ghi nhận một số động thái ngoại giao quan trọng với khu vực Mỹ Latinh trong thập kỷ 90 Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên toàn châu Mỹ đã được tổ chức năm 1994 tại Miami, Florida với sự tham dự của 34 quốc gia thuộc châu lục Tại Hội nghị này, Mỹ đã đề xuất việc thành lập khu vực liên kết kinh tế toàn châu Mỹ - FTAA Ngoài ra, Hội nghị này cũng dẫn đến một loạt các cuộc tiếp xúc mở rộng giữa các nước thuộc Tây bán cầu ở nhiều mức độ khác nhau nhằm xây dựng một mô hình mới trong quan hệ chính trị ngoại giao giữa Mỹ và Mỹ Latinh
Về cơ bản, sự can thiệp và đối đầu căng thẳng trong giai đoạn chiến tranh Lạnh không còn Chính sách đơn phương thù địch của Mỹ với một số nước trong khu vực (như Cuba với đạo luật Helms Burton) đã bị dư luận quốc tế phản đối mạnh mẽ và người Mỹ buộc phải có những nhượng bộ nhất định Các vấn đề về dân chủ nhân quyền, chống tham nhũng không gây nên nhiều tranh cãi như giai đoạn trước đó
Trang 29Tổng thống kế nhiệm Bush cha là Bill Clinton cũng đã có sự quan tâm nhất định với khu vực trong nhiệm kỳ thứ hai của mình Để xúc tiến cho FTAA, ông đã hai lần đến thăm chính thức các nước Mỹ Latinh vào tháng 5/1997 (đến Mexico, Colombia, Barbados) và tháng 10/1997 (đến Venezuela, Brazil, Argentina) Rõ ràng, Mỹ không còn giữ thái độ lạnh nhạt như trước đây Clinton đã tuyên bố xác nhận địa vị “đồng minh quân sự phi NATO” của Argentina, và gỡ bỏ lệnh cấm vận
về xuất khẩu vũ khí hiện đại cho các nước Mỹ Latinh
Điều này cho thấy quan hệ Mỹ - Mỹ Latinh trong sự tái định hình về mặt chiến lược những năm 1990 đã có những bước tiến đáng kể so với giai đoạn trước Không còn kẻ thù chung là chủ nghĩa cộng sản Hiệp ước Warsaw và chiến tranh Lạnh lùi xa Tuy nhiên, bóng đen của những mối đe dọa, những nguồn xung đột mới (nghèo đói, phân cực xã hội, nợ nần…) đang dần lan tỏa Trong khi những chính phủ Mỹ Latinh hợp tác với Mỹ, và những liên minh, những bài diễn văn chính trị tỏ ra mờ nhạt thì xã hội dân sự đường như ít tỏ ra tán đồng với những gì đang diễn ra Sự tham gia vào những xung đột của các nước Mỹ Latinh ngày càng nhiều và đa dạng, trong khi OAS và những chính phủ khu vực đã đạt được một hiệp ước về hoạt động vũ trang, những quốc gia khác còn tham gia vào những cam kết
bổ sung: Argentina gửi một phân đội đến Iraq, Venezuela và Mexico giúp đỡ về dầu lửa Có thể nói, Mỹ và những nước Mỹ Latinh sống trong một giai đoạn tin tưởng
đã tuyên bố rằng chủ nghĩa khủng bố không chỉ tác động đến an ninh lãnh thổ mà
nó còn đe dọa nghiêm trọng đến những giá trị dân chủ, hòa bình và an ninh quốc tế,
Trang 30và nó là mối bận tâm sâu sắc của tất cả các quốc gia thành viên Vì vậy, cần phải đưa ra được những biện pháp hiệu quả trong lòng hệ thống Liên Mỹ để phòng ngừa, trừng trị và loại bỏ chủ nghĩa khủng bố với một sự hợp tác rộng rãi hơn Ủy ban này đóng một vai trò chủ đạo đối với chiến lược hỗ trợ bổ sung cho cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ tại khu vực
Cuộc chiến chống khủng bố cũng được hưởng ứng ở Mỹ Latinh, chính phủ nhiều nước chấp nhận hợp tác một cách tình nguyện và tích cực với Mỹ: Ở Colombia là cuộc chiến chống lại những nhóm quân được chính phủ xếp vào thành phần khủng bố (Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia - FARC, Quân đội giải phóng quốc gia - ELN và Lực lượng tự vệ thống nhất – AUC); Ở Peru là tổ chức
“Con đường sáng”; Còn tại ngã ba biên giới (Paraguay, Argentina và Brazil) là cuộc chiến chống lại những nhóm bị tình nghi là có quan hệ với Bin Laden Sự đóng góp này của các nước Mỹ Latinh đổi lại được Mỹ đền bù xứng đáng bằng những chương trình viện trợ kinh tế
Tuy nhiên, rõ ràng sau ngày 11/9, những toan tính chính trị ngoại giao của
Mỹ với Mỹ Latinh đã có sự thay đổi Nó không hẳn là cái gì đó kiểu như sự thờ ơ hay “lãng quên” mà người ta vẫn nghĩ Mối quan tâm trước đây của Mỹ với khu vực không còn như trước nữa, Wasington tính toán đến một chính sách rõ ràng, thực dụng và dính líu hơn Mối quan hệ với phần còn lại của Tây bán cầu được tập trung hướng tới trên bình diện an ninh Và sự thay đổi này là ít được trông đợi, thậm chí nguy hiểm đối với tiến trình cải cách kinh tế và dân chủ hóa của Mỹ Latinh Có thể nhận thấy rõ điều này qua những kế hoạch và hành động cụ thể của Mỹ Mối quan tâm chống khủng bố dường như đã chi phối những kế hoạch tiếp cận các nước Tây bán cầu Đầu năm 2002, chính quyền Bush đã mở rộng sáng kiến chống ma túy của
Kế hoạch Colombia thành chống nổi loạn trực tiếp và quy cho tất cả các cuộc tấn công vũ trang là âm mưu của chủ nghĩa khủng bố Điều này tác động lớn đến tiến trình hòa bình tại đất nước đầy bất ổn Colombia Với những kế hoạch đặt an ninh nội địa lên trọng tâm, Mỹ đã siết chặt rào cản với những dòng nhập cư từ Mỹ Latinh, đặc biệt là từ Mexico Bên cạnh đó, chiến dịch chống khủng bố đã khiến Bộ
Trang 31ngân khố Mỹ suy sụp và không cứu vãn được khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng bùng nổ tại Argentina năm 2001 và lan tràn ra các nền kinh tế Mỹ Latinh khác
Giai đoạn thứ ba: chiến tranh Iraq 2003
Mười hai năm đã trôi qua kể từ sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, nhưng cuộc chiến ở vùng Vịnh lần này diễn ra trong một bối cảnh quốc tế không còn như trước, và sự ủng hộ của các chính quyền cũng như dư luận Mỹ Latinh cũng
đã thay đổi
Tại cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, trong tổng số 34 nước thành viên OAS thì chỉ có 7 nước tham gia vào liên minh với Mỹ Những nước khác có những thái
độ riêng: Mexico, Brazil, Chile, Venezuela, Argentina và Peru thể hiện sự phản đối
rõ ràng Những nước còn lại không tán đồng hành động này nhưng ít cương quyết hơn Sự phân chia về tư tưởng, đối mặt về chính trị và không ăn khớp của các đồng minh không chỉ mang tính chất tạm thời, mà nó thể hiện sự phi hợp tác lâu dài của những nước này với Mỹ Mặt khác, tình đoàn kết giữa Mỹ Latinh với Mỹ không phải là một tấm séc khống, nó đã bị chi phối bởi những mối quan hệ sức mạnh, bởi các nhân tố chính trị mới nổi lên, trong bối cảnh xã hội dân sự ngày càng mở rộng qua mọi phương tiện
Tình cảm chống Mỹ ngày càng gia tăng của các xã hội Mỹ Latinh có thể có những lý giải duy lý, tuy nhiên trước tiên nó mang yếu tố cảm tính Ngày nay, việc những nước này từ chối đi theo mô hình Mỹ là đã rõ ràng Đối với những xã hội này, kết cục bi thảm do những chính sách của IMF, tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa cũng như tình trạng khủng hoảng của các nước trong khu vực có chung một nguồn gốc: cách thức hành xử của Mỹ thông qua việc áp đặt chính sách ngoại giao, mô hình kinh tế và xã hội của mình Sau cuộc chiến tranh Iraq, người ta nhận thấy rõ hơn rằng luật pháp quốc tế đã bị bỏ qua, quyền tự quyết của các Nhà nước bị xem nhẹ, các tổ chức quốc tế như OAS, Liên Hiệp Quốc, và WTO đều bị hạn chế trong phạm vi hành động Và siêu cường Mỹ tiếp tục áp đặt những điều này nhân danh an ninh chung và những nguy cơ mới đe dọa toàn cầu
Trang 32Đóng góp vào những quan điểm của xã hội dân sự là việc lên nắm quyền của các chính phủ dân túy tại đây: Tổng thống Hugo Chavez ở Venezuela, Luciano Gutierrez tại Ecuador và Lula da Silva tại Brazil Những phong trào phản đối đa dạng đi cùng với tiến trình này đôi khi được xem như những hành động khủng bố Hoạt động chống Mỹ, đặc biệt là sau chiến tranh Iraq, đã trở thành trào lưu và Mỹ Latinh cũng không nằm ngoài điều này
Đối với cuộc chiến này, quan điểm của các nước Mỹ Latinh tỏ ra khá trái
chiều [47] Tổng thống Mexico Vicente Fox và tổng thống Chile Ricardo Lagos
phát biểu rằng “rất lấy làm tiếc về sự bùng nổ chiến tranh tại Iraq” Hai nước này là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Mexico tham gia vào NAFTA cùng với Mỹ và Canada Chile muốn trở thành đối tác ưu tiên của
Mỹ Quan điểm mà hai chính phủ này thể hiện tại Hội đồng bảo an đã từng rất quan trọng với chính quyền Bush trong thời điểm cần sự ủng hộ cho một hành động quân
sự
Tổng thống Luis Lula da Silva của Brazil đã cho rằng “thái độ của người đồng nhiệm Mỹ là thiếu tôn trọng Liên Hiệp Quốc” Chính phủ Cuba đã miêu tả hành vi quân sự này như một sự diệt chủng với những hậu quả khôn lường cho phần còn lại của nhân loại Argentina thông qua Bộ trưởng ngoại giao của mình, đã cho biết “nước này chống lại hành vi đánh bom vào dân thường Iraq” bất chấp những mối quan hệ hữu hảo với Mỹ trước đây Phó tổng thống Venezuela, José Vicente Rangel đã chỉ trích sự can thiệp của Mỹ Ông này đã nhấn mạnh rằng Mỹ và Anh sử dụng cuộc xung đột quân sự như một hình thức gây áp lực lên OPEC Các nước thành viên Mercosur “không công nhận quyết định của Mỹ tấn công Iraq mà không được Liên Hiệp Quốc cho phép”, và những nước này “không tham dự vào bất kỳ hoạt động quân sự nào và không ủng hộ Mỹ cũng như Anh”
Từ Mexico cho đến Santiago, qua Bogota, Caracas và Buenos Aires, những đoàn biểu tình gồm các sinh viên, nghiệp đoàn, các tổ chức phi chính phủ, các đảng chính trị cũng như những xã hội dân sự cũng bày tỏ sự không tán đồng với can thiệp quân sự của Mỹ tại Iraq
Trang 33Những quan điểm của Bolivia, Peru, Paraguay kém dứt khoát hơn Tại đây, những kêu gọi hòa bình vang lên nhưng thái độ chống Mỹ không rõ ràng Người ta vẫn cảm thấy sức ép của Washington đối với những nước này
Trái lại, Colombia, Honduras, El Salvador, Costa Rica, Cộng hòa Dominica
và Nicaragua là những nước đã công khai tham gia vào những sáng kiến của Nhà trắng và gia nhập liên minh của Mỹ theo mức độ và khả năng của riêng mình
Như vậy, mối quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Mỹ Latinh sau ngày 11/9 đã chịu những tác động quan trọng Kể từ ngày 11/9, mối quan tâm đến Mỹ Latinh đã
bị đẩy xuống hàng thứ hai trong chính sách đối ngoại của Mỹ Phần lớn ủng hộ ý kiến cho rằng Mỹ Latinh đã bị tác động bởi vụ khủng bố 11/9, đó chính là ở sự thờ
ơ Mỹ dành cho khu vực này
Trước những vụ tấn công này, quan hệ song phương đã từng có những hy vọng tốt đẹp Tuy nhiên sau đó, mọi chú ý đã hướng về cuộc chiến chống khủng bố Mối bận tâm hàng đầu của Mỹ đối với khu vực Mỹ Latinh không nghi ngờ gì chỉ là vấn đề an ninh Những hiệp ước thương mại trở thành chủ đề trong khuôn khổ những chính sách an ninh và theo sau những lợi ích thiết yếu của chính quyền Mỹ
Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh tại Iraq, người ta nhận thấy rằng: xung đột này đã làm rệu rão tạm thời hệ thống những đồng minh phương Tây và đã bẻ gẫy trụ cột của trật tự quốc tế vốn dựa trên sự tồn tại của Liên Hiệp Quốc Trong tiến trình tái định hình trật tự quốc tế, những chính phủ Mỹ Latinh đang dần chuyển hướng theo sau ủng hộ các kế hoạch châu Âu và xa rời Mỹ Vai trò của Mỹ ở Mỹ Latinh rõ ràng cũng không còn như trước nữa Trên lĩnh vực kinh tế, những thành công mà Mỹ Latinh gặt hái được gần đây dựa trên một nền tài chính ổn định, tăng trưởng thương mại và mối liên kết đầu tư ngày một tăng với châu Âu và châu Á
Điều đó chứng tỏ: “Mỹ không còn là đối tác quan trọng nhất của khu vực này”[22]
và ảnh hưởng của Mỹ đang bị các thế lực mối nổi chiếm lấy Mặt khác, sự lên ngôi của những chính phủ cánh tả và tinh thần dân tộc chủ nghĩa ngày càng đào sâu hố ngăn cách Mỹ - Mỹ Latinh Nền chính trị chuyển đổi đã trao quyền lực vào tay những nhân vật cấp tiến cánh tả như nhà lãnh đạo của Phong trào Xã hội chủ nghĩa
Trang 34(Movimento Al Socialismo - MAS) Evo Morales tại Bolivia năm 2005 ; đại diện của đảng Alianza PAIS, Rafael Correa tại Ecouador (đã trúng cử Tổng thống Ecuador vào tháng 11/2006, với 56,67% số phiếu bầu); những nhân vật này đã thiết lập các liên minh với tổng thống Venezuela Hugo Chavez và củng cố cực phê phán chống Mỹ
Những căng thẳng chủ yếu hiện nay trong quan hệ Mỹ - Mỹ Latinh liên quan đến một số vấn đề: năng lượng (là nguyên nhân chủ yếu làm cho căng thẳng giữa
Mỹ và Venezuela, nước xuất khẩu dầu hàng đầu khu vực, lên đến đỉnh điểm); những biện pháp hạn chế tỉ lệ người nhập cư trái phép của Mỹ (gồm cả việc dựng nên những hàng rào ngăn cách dọc theo biên giới với Mexico, đã gây nên sự phản ứng dữ dội cả trong và ngoài nước Mỹ) Các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã luôn cảnh báo phải lưu tâm hơn đến khu vực giàu tiềm năng như Mỹ Latinh, đặc biệt là trong việc giải quyết ổn thỏa những bất đồng này
Trên thực tế, sự quan tâm của chính quyền Bush đã quay trở lại với Mỹ Latinh mặc dù khá muộn màng Đầu năm 2007, tổng thống Bush đã có cuộc viếng thăm đến các nước Brazil, Uruguay, Colombia, Guatemala và Mexico Chuyến viếng thăm vào những tháng cuối của nhiệm kỳ, tiếp theo những thay đổi tại Nghị viện Mỹ, được xem như một tham vọng của ông Bush nhằm lấy lại ảnh hưởng đã mất trong một khu vực trước đây luôn bị chính quyền Mỹ bỏ qua
Phát biểu trước chuyến đi, Tổng thống Mỹ Bush đã nói: “Tôi muốn nói với người dân Brazil, Urugoay, Colombia, Guatemala và Mexico là Mỹ rất quan tâm tới cuộc sống của người dân ở đây Đây là mối quan tâm lớn của chúng tôi không kém cuộc chiến chống khủng bố hay vấn đề Iraq Năm ngoái, chúng tôi đã giành 1,6 tỉ USD cho việc hỗ trợ phát triển ở các nước này, rất nhiều vấn đề xã hội, giáo dục y
tế ở mỗi nước đã được cải thiện Với chuyến thăm này, tôi muốn các bạn hiểu hơn
về nước Mỹ”[57] Mặc dù đã có một tuyên bố đầy thiện chí trước chuyến đi nhưng ông Bush không che dấu được những mục đích quan trọng khác của người Mỹ Trong bối cảnh mà hoạt động can thiệp quân sự tỏ ra quá tốn kém với ngân sách quốc gia và nhu cầu khan hiếm năng lượng của thế giới đang lên cao, chuyến viếng
Trang 35thăm này được xem như “sự quay trở lại của ethanol” Chính quyền Bush muốn tìm kiếm những mối liên kết về năng lượng, đặc biệt là với Brazil về vấn đề hợp tác sản xuất ethanol
Khắp nơi tại Mỹ Latinh, làn sóng biểu tình phản đối ông Bush ngày càng gia tăng Tại Saul Paulo, hơn 6.000 người đã tham gia các cuộc biểu tình phản đối chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Những người biểu tình giương cao các khẩu hiệu coi ông Bush là “kẻ hiếu chiến”, “'kẻ gây ô nhiễm môi trường”' Đám đông biểu tình yêu cầu Mỹ chấm dứt cuộc chiến tại Iraq, không được tra tấn tù nhân, ngừng theo đuổi các nguyên tắc kinh tế không công bằng
Sự phản đối này không nằm ngoài dự tính của bất cứ ai Tuy nhiên, song song với chuyến viếng thăm của tổng thống Mỹ, người đồng nhiệm Venezuela của ông cũng đã thực hiện những chuyến công du tương tự tại Argentina, Bolivia, Nicaragua và Jamaica Hai cuộc viếng thăm diễn ra đồng thời này đã biến tính chất ngoại giao và thương mại thành một bài toán về vấn đề cạnh tranh giữa hai khu vực ảnh hưởng, hai hệ tư tưởng Điều này cho thấy, hàn gắn quan hệ giữa Mỹ và Mỹ Latinh không đơn giản trong một sớm một chiều Khi mà những nỗ lực từ phía Washington không hoàn toàn vô tư và thiện chí như những gì họ nói ; Và sự phản đối Mỹ của một bộ phận lớn trong khu vực có xu hướng ngày càng phát triển và cực đoan hơn
Trong bản báo cáo mới đây (tháng 5/2008) của Hội đồng quan hệ đối ngoại
Mỹ (Council on Foreign Relations-CFR) đã khuyến cáo rằng Washington nên thừa nhận sự chi phối của họ ở khu vực Mỹ Latinh đã chấm dứt và Mỹ phải can dự với
Mỹ Latinh theo các điều kiện riêng Mỹ nên tiến hành cải cách toàn diện luật nhập
cư và xúc tiến hợp tác hơn nữa với những nước xuất khẩu năng lượng chính của Mỹ Latinh Chỉ có vậy, Mỹ mới mong phần nào xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với
Mỹ Latinh và lấy lại vị thế “đã mất” của mình tại khu vực này
Trang 362.1.1.2 Phổ biến dân chủ: nội dung quan trọng trong chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh về mặt chính trị
Phổ biến dân chủ là một trong những nội dung quan trọng của chính sách đối ngoại Mỹ Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng những thể chế dân chủ tự do của Mỹ và các “giá trị” tốt đẹp mà Mỹ tôn trọng như kinh tế thị trường, tự do, nhân quyền cũng là những giá trị cần thiết cho các nước khác Cũng “tất yếu phải tốt đẹp” cho phần còn lại của thế giới Và để phổ biến nền dân chủ kiểu Mỹ ra bên ngoài, Mỹ sẽ không ngần ngại thực sử dụng tất cả các biện pháp, kể cả bằng sức mạnh
Đối với khu vực Mỹ Latinh, phổ biến dân chủ là một nội dung quan trọng trong những hoạch định chính trị của Mỹ Tại đây, chính phủ Mỹ đã không ngừng rao giảng về sự cần thiết tiến hành dân chủ hóa, thực chất là để can thiệp vào khu vực thông qua con đường chính trị Phần lớn những quốc gia trong khu vực cho đến đầu những năm 1980 vẫn nằm trong tay các chế độ độc tài, vốn bất lực trong việc tiến hành các cải cách kinh tế và chính trị ở quy mô lớn Nội chiến hoành hành ở Trung Mỹ, trong khi đó Colombia nằm dưới sự thống trị của những tập đoàn buôn
ma túy quốc tế, hoạt động bên cạnh những nhóm nổi dậy vũ trang Cuộc khủng hoảng nợ quốc tế cuối những năm 1980 diễn ra đã làm suy sụp hoàn toàn nền kinh
tế khu vực và kéo theo là sự giảm sút nghiêm trọng mức sống của người dân Mỹ Latinh
Trong bối cảnh đó, chính quyền Mỹ đã theo đuổi một chính sách khá thực dụng với khu vực, đó là dùng hoạt động quân sự để mở đường cho tiến trình phổ biến dân chủ Theo ông Bush, điều mà những người dân Mỹ Latinh cần chính là những chính phủ dân chủ được ra đời từ những hòm phiếu Sự tự do dân chủ này sẽ kéo theo tự do về việc làm và thương mại Tuy nhiên, những mục tiêu này không thể đạt được nếu chiến tranh xung đột còn xảy ra trong khu vực, đặc biệt là tại Trung Mỹ Thực tế là trong những năm 70 và 80, Trung Mỹ được biết đến như khu vực bất ổn định và đầy xung đột Năm 1986, Oscar Arias Sánchez lên nắm quyền ở Costa Rica Ông đã đề xuất tiến trình khôi phục hòa bình cho khu vực được biết đến
Trang 37dưới tên gọi “tiến trình Esquipulas" Năm tổng thống của các nước Trung Mỹ đã ký vào tuyên bố chung Esquipulas ngày 24 - 25/5/1986, mở ra quá trình thiết lập hòa bình với hiệp định Esquipulas được ký sau đó vào tháng 8/1987
Vấn đề quan trọng trước hết với Washington lúc này là giải quyết những xung đột tại đây Chính quyền Bush đã tiến hành những can thiệp quân sự tại khu vực như ủng hộ kế hoạch khôi phục hòa bình tại Trung Mỹ của Arias, vốn đã bị tổng thống tiền nhiệm Reagan bỏ qua Năm 1983, Mỹ đã tiến hành càn quét phong trào cộng sản ở Grenada và năm 1989 xâm lược Panama Song song với những can thiệp trực tiếp, Washington cũng gián tiếp ủng hộ lực lượng Contras (là lực lượng đối lập ở Nicaragua được Mỹ tiếp tế về vũ khí và tài chính nhằm chống lại chế độ Sandinist trong những năm 1980) và chế độ ở Salvador Sự quay trở lại của chủ nghĩa can thiệp quân sự đã gây ra những lo ngại sâu sắc từ phía các nước Mỹ Latinh Tuy nhiên, bất chấp sự phản đối từ phía Mỹ Latinh, Mỹ vẫn tiến hành các
can thiệp quân sự dưới chiêu bài bảo vệ nền dân chủ
Về cơ bản, tiến trình dân chủ hóa được Mỹ ủng hộ trong khu vực bắt đầu từ hiệp định Esquipulas từng bước đã mang lại những kết quả nào đó: Năm 1988, chính phủ của Ortega đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn với lực lượng Contras Guatemala và Salvador cũng đã có giải pháp đàm phán cho những cuộc nội chiến của đất nước mình Tuy nhiên, Mỹ Latinh trong những năm cuối thể kỷ XX, vẫn là khu vực bất ổn định về chính trị Khu vực này đã trải nghiệm tất cả các thăng trầm trong đời sống chính trị, từ đảo chính, độc tài tại Nam Mỹ; đến nội chiến ở Trung
Mỹ Nền dân chủ non trẻ theo mô hình Mỹ ra đời sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc
đã tỏ ra vô cùng mong manh Tính hợp pháp của các hệ thống dân chủ và những thể chế được đảm bảo bằng Nhà nước pháp quyền, sự hình thành và tính minh bạch của những thể chế này trong việc thực hiện quyền đại diện nhân dân vẫn còn khá hạn chế, thậm chí bị xóa mờ Mặc dù theo những số liệu tống kê, những biến đổi dân chủ của Mỹ Latinh khá rõ ràng: từ 1930 đến 1980, 40% những thay đổi chính phủ của Mỹ Latinh diễn ra sau một cuộc đảo chính quân sự Con số này đã giảm một nửa trong những năm 1980 trước khi bằng không vào năm 1991, năm diễn ra cuộc
Trang 38đảo chính quân sự cuối cùng tại Haiti [48] Tuy nhiên, sau sự quay trở lại của những chính phủ dân chủ, 14 tổng thống ở Mỹ Latinh đã không thể kết thúc trọn vẹn nhiệm kỳ của mình Điều này không chỉ xuất hiện tại những quốc gia nhỏ có truyền thống bất ổn định, mà những nước lớn như Brazil (1992), Venezuela (1993) và Argentina (2001) cũng đã rơi vào hoàn cảnh này Đặc biệt phải kể đến trường hợp của Bolivia, ba tổng thống của nước này đã bị lật đổ vào các năm 1985, 2003 và
2005 Tại Ecuador một loạt những cuộc nổi dậy và gián đoạn đã xảy ra trong nhiệm
kỳ tổng thống năm 1997, 1999 và 2005
Ở một khía cạnh nào đó, tiến trình phổ biến dân chủ trong giai đoạn này còn được thực hiện thông qua những ủng hộ của Mỹ về mở cửa thị trường và cải cách kinh tế theo mô hình Mỹ Phần lớn những nhân vật lãnh đạo trong giai đoạn quá độ dân chủ ở Mỹ Latinh đều thuộc thế hệ mới những người được đào tạo tại Mỹ Những nhân vật này đã đề xuất những kế hoạch cải cách tập trung vào phục hồi kinh tế, học tập mô hình tân tự do của Mỹ, nhưng đa số đều thất bại Mexico là một trong những trường hợp điển hình nhất Năm 1983, tổng thống Madrid đã đưa ra chương trình PIRE (Chương trình khôi phục trật tự của nền kinh tế) với mục tiêu
"khôi phục những điều kiện cần thiết cho sự ổn định giá và những điều kiện tài chính nhằm tấn công vào sự mất cân đối của ngân sách"[38] Đồng peso đã bị phá giá để lấy lại giá trị thực trên thị trường; giá cả được điều chỉnh; thu hẹp chi tiêu công, nhất là những khoản chi xã hội và đầu tư; lương bổng được ấn định lại trong khi hàng triệu viên chức phải nghỉ việc tạm thời; quá trình tư hữu hóa và giải thể của các doanh nghiệp nhà nước diễn ra Bất chấp một vài kết quả khả quan, tình trạng siêu lạm phát đã gây ra sự bần cùng hóa trong dân chúng (Từ năm 1983 đến
1989, thu nhập của tầng lớp trung lưu trên tổng thu nhập quốc dân giảm từ 36,6% xuống 33,6%) [31,tr30] Nhằm khắc phục những hệ quả tiêu cực từ chính sách của người tiền nhiệm, Carlos Salinas de Gortari đã đưa ra Chương trình đoàn kết quốc gia (Pronasol) vào tháng 12/1989 Mục tiêu của chương trình này nhằm thúc đẩy giai đoạn quá độ giữa mô hình can thiệp trước đây với những định hướng mới của
Trang 39chính sách tân tự do; đồng thời hạn chế những tác động về mặt xã hội của sự chuyển đổi kinh tế đang diễn ra đối với bộ phận nhân dân dễ bị ảnh hưởng nhất
Những hoạt động cải cách được tiến hành khắp nơi tại Mỹ Latinh gần như giống hoàn toàn với những gì tại Mexico Colombia, Chile hay Argentina cũng bắt đầu những cải cách theo mô hình tân tự do: tư hữu hóa, tự do hóa và tái lập những quy chế mới Bên cạnh sự cải thiện tình hình kinh tế quốc gia, sự lựa chọn của các chính phủ Mỹ Latinh còn thể hiện mong muốn xâm nhập vào thị trường giàu có của
Mỹ Tuy nhiên, tiến trình dân chủ hóa mà Mỹ muốn tiến hành ở Mỹ Latinh gặp phải rất nhiều khiếm khuyết Khó khăn lớn nhất với nước Mỹ là muốn những xã hội có cấu trúc kinh tế, xã hội và chính trị khác biệt với nước Mỹ đi theo hệ thống chính trị tương tự như mô hình dân chủ Mỹ
Sau vụ tấn công ngày 11/9, bên cạnh những bận tâm mới cho kế hoạch chống khủng bố, vấn đề gìn giữ dân chủ, bao gồm cả bằng sức mạnh, được gắn với nhu cầu thiết yếu về an ninh khu vực Dưới sự xúc tiến của Mỹ, một đồng thuận đã được thiết lập trong lòng OAS: Bảo vệ trật tự dân chủ đi đôi với quyền can thiệp chống lại tất cả các sự sai phạm của mệnh lệnh này Tuy nhiên, ảnh hưởng của Mỹ tại OAS ngày càng giảm sút do sự chống đối từ các lực lượng đối lập ngày càng gia tăng Như trong hội nghị của tổ chức tập hợp 37 nghị viện của các nước thành viên tại Panama tháng 6/2007, yêu cầu của Bộ trưởng ngoại giao Mỹ Condoleezza Rice gửi một ủy ban điều tra đến Venezuela để xem xét những lý do xung quanh vấn đề của đài truyền hình Radio Caracas Televisión (RCTV) đã bị các nước thành viên bác bỏ
Trước những khó khăn của các mối quan hệ đa phương, chính quyền Mỹ đã
sử dụng đến công cụ là những tổ chức phi chính phủ và một số các cơ quan khác Trong đó Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (United States Agency for International Development, USAID) được xem như một trụ cột, đặc biệt là trong việc viện trợ về tài chính Tổ chức này được xem là công cụ thích hợp nhất khi hoạt động ngoại giao
là không đủ và việc sử dụng sức mạnh quân sự hàm chứa nhiều nguy cơ, ông Andrew Natsios, người điều hành cơ quan này đã tuyên bố như vậy Và điều này đã
Trang 40được thể hiện rất rõ ở Venezuela, nơi mà USAID tài trợ kinh phí cho rất nhiều sáng kiến cho hoạt động của những nhà xây dựng dân chủ “democracy builders” Viện cộng hòa quốc tế (International Republican Institut), được lãnh đạo bởi ứng cử viên tổng thống John McCain, là một trong 5 tổ chức phi chính phủ quan trọng đóng góp vào quỹ USAID cho các chương trình và hoạt động chính trị của phe đối lập tại Venezuela
Như vậy, Washington đã sử dụng tất cả các công cụ nhằm hợp pháp hóa quyền can dự dân chủ của mình như: can thiệp quân sự, thúc đẩy các hiệp định tự
do thương mại, củng cố hợp tác quân sự nhân danh cuộc chiến chống khủng bố và
ma túy, sử dụng các công cụ là các tổ chức quốc tế… Hiện nay, những vấn đề đáng quan tâm của Mỹ đối với Mỹ Latinh trên góc độ dân chủ thể hiện rõ trong bản Báo cáo điều tra hàng năm (2005) về những thể chế tại Mỹ Latinh và Carribean của tổ chức Inter-American Dialogue [24] Bản báo cáo tập hợp ý kiến đánh giá của 100 chuyên gia, nhà phân tích Mỹ, Canada và Mỹ Latinh, đã chỉ ra rằng: Haiti và Venezuela hiện nay “không thể được coi như những nền dân chủ thực sự” Haiti đã được xem là một “Nhà nước phá sản - States in bankruptcy” (quan niệm này được các chuyên gia về Luật quốc tế dành cho những quốc gia thường xuyên chịu sự bất
ổn định trong quá trình quản lý những thể chế đảm bảo chủ quyền đất nước Haiti
đã được Tạp chí Foreign policy và Quỹ Hòa bình xếp vào vị trí thứ 11 trong danh sách những “nhà nước phá sản”) Còn Cuba là quốc gia duy nhất trong khu vực có chế độ độc quyền Trường hợp của Venezuela đặc biệt hơn vì tổng thống Hugo Chavez, nhờ vào tính hợp pháp đạt được thông qua trưng cầu dân ý và nhất là sức mạnh từ những khoản tiền do bán dầu lửa đã tạo nên một nguồn bất ổn tiềm năng trong khu vực Chavez đã can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động chính trị của các nước láng giềng đặc biệt là Bolivia Cùng với việc phân chia quyền lực bên ngoài, Chavez đã thao túng Tòa án tối cao bằng những người thân tín của mình Ông này thậm chí đã thông qua đạo luật hạn chế tự do báo chí và gây sức ép lên phe đối lập và những tổ chức phi chính phủ chỉ trích chính phủ của mình Tổng thống Venezuela trên thực tế đang tạo nên trong lòng xã hội một ranh giới ngăn cách