1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề li khai dân tộc ở một số nước đông nam á sau chiến tranh lạnh

123 120 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tinh thần đó, chúng tôi mong muốn được phác thảo ra một bức tranh khái quát về vấn đề li khai dân tộc ở một số quốc gia Đông Nam Á, tìm ra những nguyên nhân lịch sử, chính trị, kinh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Duy Huệ

Vấn đề li khai dân tộc ở một số nước Đông Nam

Á sau chiến tranh lạnh

Luận văn ThS Quốc tế học: 60.31.40

Nghd : TS Đặng Xuân Kháng

Trang 2

1.2 Tình hình li khai dân tộc ở các khu vực trên thế giới 7

1.4 Quyền tự quyết dân tộc và li khai dân tộc 22

Chương 2: HIỆN TƯỢNG LI KHAI DÂN TỘC Ở MỘT SỐ NƯỚC

ĐÔNG NAM Á TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

28

2.3.2 Li khai dân tộc ở các tỉnh Nam Thái Lan 80

Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC TỪ CUỘC CHIẾN

CHỐNG LI KHAI DÂN TỘC Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Vấn đề li khai dân tộc là một trong những vấn đề đang nổi cộm lên trong nền chính trị quốc tế Li khai dân tộc có liên quan chặt chẽ đến vấn đề dân tộc, một trong những vấn đề phức tạp nhất, nhạy cảm nhất trong quan hệ quốc tế Một số nhà nghiên cứu nâng vấn đề li khai dân tộc lên thành chủ nghĩa li khai, một biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc nằm trong quá trình phát triển của xã hội loài người Điều đó đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề li khai dân tộc trong công tác nghiên cứu, nhất là từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hệ tư tưởng không còn là tác nhân chủ yếu gây ra những xung đột dân tộc trên thế giới hiện nay

Ở hầu hết tất cả các khu vực dân tộc trên thế giới, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển, trong đó có Đông Nam Á, nhiều quốc gia đang phải đương đầu với vấn đề li khai dân tộc Tại một số quốc gia, xung đột li khai dân tộc đã trở thành một cuộc chiến đẫm máu kéo dài Hàng chục ngàn người phải bỏ mạng Hàng chục vạn người phải di dời chỗ ở Chiến sự không chỉ gây ra những thảm họa nhân đạo mà còn làm đình đốn nền kinh tế, làm tổn thương tình cảm giữa các dân tộc trong một quốc gia

Có nhà nghiên cứu còn cho rằng vấn đề li khai dân tộc là một trong những trở ngại mà Đông Nam Á phải vượt qua để ổn định và phát triển 21, tr 38

Hầu hết các nước Đông Nam Á là quốc gia đa dân tộc Làm thế nào để xây dựng

sự hòa hợp dân tộc bền vững ở các quốc gia là một thách thức lớn ở khu vực Các thế lực

li khai dân tộc ở Inđônêsia, Philipphin, Thái Lan đang cố gắng đòi các quyền tự trị hoặc độc lập hoàn toàn Thực tế họ đã đạt được những mục tiêu nhất định và để lại những hậu quả khôn lường Vấn đề dân tộc và li khai dân tộc đang diễn ra rất phức tạp, nhưng không phải là không có con đường giải quyết Thực tế cũng cho thấy trong mấy chục năm qua, ở một số quốc gia Đông Nam Á, vấn đề dân tộc và li khai dân tộc không phải lúc nào cũng bằng phẳng nhưng các quốc gia này đã giải quyết thành công, xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao

Đất nước chúng ta đang trong quá trình hội nhập vào khu vực và thế giới Vấn đề

li khai dân tộc ở các nước xung quanh trong khu vực chắc chắn có liên quan tới vấn đề đối ngoại và hoạch định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Chúng tôi mong muốn được phác thảo ra một bức tranh chung với những sự kiện chủ

Trang 4

yếu về phong trào li khai dân tộc ở một số nước, nêu lên quá trình phát sinh, phát triển của nó, bước đầu rút ra nguyên nhân, bài học để góp một tiếng nói vào vấn đề này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, việc nghiên cứu vấn đề li khai dân tộc thường gắn liền với việc nghiên cứu xung đột dân tộc, tôn giáo, khủng bố Từ những năm 1990 trở lại đây, khi mà chiến tranh lạnh kết thúc, đề tài này được đề cập tới nhiều hơn Nhìn chung các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm tiếp cận Có nghiên cứu đứng trên quan điểm địa chính trị để xem xét Có nghiên cứu đứng trên quan điểm địa kinh tế để xem xét Có nghiên cứu đứng trên phương diện xã hội học, dân tộc học Có nghiên cứu đứng trên phương diện văn hóa học Cũng có nghiên cứu vận dụng kết hợp tổng hợp các quan điểm trên

Ở nước ta trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu, giảng dạy, cơ quan nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề li khai dân tộc trong nhiều bài viết, tạp chí, ấn phẩm sách báo Một số luận văn cử nhân cũng đề cập đến đề tài này Tuy nhiên vẫn chưa có một công trình lớn nào đề cập một cách toàn diện, sâu sắc tới hoạt động li khai dân tộc ở các nước Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh đến nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ổn định chính trị, xã hội là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển của mỗi quốc gia Một trong những vấn đề liên quan đến sự ổn định chính trị, xã hội là giải quyết tốt hay không tốt mối quan hệ dân tộc, tôn giáo Đông Nam Á đã và đang có

sự bất ổn về mặt dân tộc và tôn giáo, sự bất ổn dẫn đến các cuộc chiến đòi ly khai dân tộc Giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo không còn là vấn đề riêng của quốc gia nào

Nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước Với tinh thần đó, chúng tôi mong muốn được phác thảo ra một bức tranh khái quát về vấn đề li khai dân tộc ở một số quốc gia Đông Nam Á, tìm ra những nguyên nhân lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa phát sinh các hiện tượng li khai dân tộc ở một số nước Đông Nam Á và đánh giá những tác động tiêu cực của nó tới an ninh, chủ quyền, rút ra một số bài học chung về chính sách dân tộc, tôn giáo

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là một số cơ sở lý luận về vấn đề li khai dân tộc, chủ nghĩa dân tộc, một số hiện tượng li khai nổi cộm lên ở một số nước Đông Nam Á như Inđônesia, Philippines và Thái Lan

Phạm vi nghiên cứu trong luận văn chỉ dừng lại ở một số nước, một số hiện tượng li khai dân tộc ở các địa phương qua mốc thời gian chủ yếu từ sau chiến tranh lạnh đến nay

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu chúng tôi sử dụng bao gồm các tác phẩm của các cá nhân và tập thể trong, ngoài nước Nguồn trong nước, chúng tôi đã tham khảo sách, tạp chí

do các trung tâm nghiên cứu phát hành như Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Thông tin quốc gia, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Nguồn nước ngoài, chúng tôi tham khảo các tác phẩm của các tác giả được dịch ra tiếng Việt do các nhà xuất bản như Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Nhà xuất bản Lao động và các nhà xuất bản có uy tín phát hành Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số bách khoa toàn thư của Anh, Mỹ và nguồn tài liệu phong phú trên mạng của các cơ quan báo chí, các tổ chức, các trường đại học Chúng tôi cố gắng sử dụng các phương pháp: hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp theo quan điểm lịch đại và đồng đại

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn chia làm ba chương:

Chương 1: Vấn đề li khai dân tộc

Chương 2: Hiện tượng li khai dân tộc ở một số nước Đông Nam Á từ sau

chiến tranh lạnh

Chương 3: Nguyên nhân và bài học từ cuộc chiến chống li khai dân tộc ở

một số nước Đông Nam Á

Trang 6

Chương 1: VẤN ĐỀ LI KHAI DÂN TỘC

1.1 Khái niệm

Nhìn chung, giới nghiên cứu có quan điểm tương đối thống nhất về thuật ngữ li khai dân tộc Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1994 và một

số từ điển khác của Việt Nam xuất bản từ năm 2000 đến nay, từ li khai là tách ra khỏi, lìa

bỏ một tổ chức, một đảng phái hay những tư tưởng quan điểm chính trị nào đó Hiểu theo nghĩa này, li khai dân tộc chỉ hiện tượng một dân tộc, hay một nhóm dân tộc tách ra khỏi một quốc gia dân tộc nhằm thực hiện một nhà nước độc lập hay tự trị Theo Từ điển Oxford advanced leaner's xuất bản năm 1992 của Anh thì li khai (secede) nghĩa là từ bỏ một cái gì đó, rút ra khỏi tư cách hội viên của một tổ chức, một quốc gia Với từ này, Encyclopedia Encatar của Microsoft (Mỹ) có định nghĩa là việc chính thức rút khỏi tư cách thành viên của một tổ chức, một nhà nước hay một liên minh

Từ nội hàm của khái niệm li khai qua một số từ điển chúng tôi đồng ý với cách diễn đạt của Hao Shi Yuan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Dân tộc Trung Quốc trong bài viết: "Li khai dân tộc và chủ nghĩa khủng bố” 20, tr 117 Li khai dân tộc là thuật ngữ chỉ việc bên trong một quốc gia độc lập có chủ quyền, có lãnh thổ toàn vẹn, do mâu thuẫn về vấn đề dân tộc, dưới tác động của các nhân tố bên trong, bên ngoài, một số thế lực trong các dân tộc phi chủ thể hoặc các dân tộc thiểu số đưa ra các yêu sách chính trị, tiến hành hoạt động bạo lực, thậm chí thực hiện các hành động chống đối quân sự để đòi thành lập nhà nước độc lập hay tự trị

Căn cứ lý luận của các thế lực li khai dân tộc chủ yếu là nguyên tắc tự quyết dân tộc, lấy nhân quyền làm cái cớ để truyền bá và kích động, từ đó họ tìm kiếm địa vị chính trị hợp pháp ở trong nước và ngoài nước, kể cả tranh thủ một số thế lực quốc tế nào đó, nhằm thực hiện mục tiêu chính trị là thành lập nhà nước độc lập hoặc tự trị cao độ

Li khai dân tộc là một trong những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, nhưng không đồng nhất với chủ nghĩa dân tộc

Chủ nghĩa dân tộc là hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm lý đòi hỏi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc Chủ nghĩa dân tộc hình thành và phát triển gắn liền với quá trình đấu tranh để xây dựng và bảo vệ cộng đồng quốc gia dân tộc Tuỳ tình hình đặc điểm dân tộc, giai cấp và lịch sử của từng dân tộc,

Trang 7

chủ nghĩa dân tộc mang dấu ấn dân tộc và giai cấp khác nhau Có chủ nghĩa dân tộc truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, có chủ nghĩa dân tộc tư sản,

có chủ nghĩa dân tộc Xô Viết, có chủ nghĩa dân tộc sô vanh nước lớn, có chủ nghĩa dân tộc cách mạng

Li khai dân tộc và chủ nghĩa dân tộc có điểm chung là đều gắn liền với vấn đề dân tộc, một trong những nội dung quan trọng trong đời sống chính trị xã hội loài người Đến cuối những năm 1980, theo đà tiêu vong của chủ nghĩa thực dân, về cơ bản thế giới

đã hình thành trên 160 quốc gia có chủ quyền ổn định Ngoài một số vùng đất uỷ trị của Liên Hợp Quốc, các nước thuộc địa cũ của các cường quốc về cơ bản đã được độc lập

Do nguyên nhân lịch sử, đại đa số các quốc gia trên thế giới đều do nhiều dân tộc hình thành nên và về cơ bản đều duy trì được cục diện thống nhất Tuy vậy, ở một số quốc gia

và khu vực, những hiện tượng li khai dân tộc vẫn phát sinh và phát triển

Có một điều cần phân biệt là, do tàn dư thống trị của chủ nghĩa thực dân còn chưa hoàn toàn được xóa bỏ, nên phong trào giải phóng dân tộc ở một số nơi còn tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề Tuy nhiên, nó không thuộc phạm trù li khai dân tộc Thí dụ, vấn đề thành lập nhà nước Palestine độc lập ở Trung Đông Phong trào xây dựng nhà nước độc lập của New Caledonia, một vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp ở Tây Nam Thái Bình Dương Việc Đông Timo tách khỏi Inđônêsia để thành lập nhà nước độc lập cũng không thuộc vấn đề li khai dân tộc Việc sử dụng lực lượng quân đội của Tổng thống Inđônêsia Suharto để giành lấy Đông Timo sau khi các lực lượng thực dân Bồ Đào Nha rút đi đã làm cho tiến trình tự quyết dân tộc của khu vực này bị trì hoãn Do đó, việc Liên Hợp Quốc đưa vấn đề Đông Timo vào phạm vi giải quyết của mình là chuyện bình thường(1)

Hiện tượng li khai dân tộc không những tồn tại ở các nước đang phát triển, mà còn tồn tại ở các nước phát triển, có tính phổ biến nhất định Các thế lực li khai dân tộc

(1)

Về vấn đề Đông Timo có 2 loại ý kiến trái ngược nhau Loại thứ nhất cho rằng Đông Timo là kết quả của một phong trào li khai thành công Loại thứ hai như bài viết đã trình bày Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đông Timo vẫn nằm dưới sự cai trị của Bồ Đào Nha cho tới năm 70 của thế kỷ XX Khi Bồ Đào Nha tuyên bố rút khỏi Đông Timo, Tổng thống Inđônêsia Suharto đã có ý định sáp nhập Đông Timo vào Inđônêsia Ông tìm cách ngăn cản Đông Timo độc lập Ngày 1 tháng 7 năm 1976 Suharto sử dụng vũ lực sáp nhập Đông Timo vào Inđônêsia Do khác nhau về ngôn ngữ, tôn giáo, sau mấy trăm năm thống trị của Bồ Đào Nha, người dân Đông Timo luôn đấu tranh đòi độc lập, chống lại chính sách hà khắc của Tổng thống Suharto Ngày 30 tháng 8 năm

1999 gần 80% dân số Đông Timo đã bỏ phiếu tán thành độc lập Ngày 4 tháng 9 năm 1999 ngay sau khi kết quả trưng cầu dân ý được công bố, quân đội Inđônêsia đựoc lệnh đàn áp quyết liệt Cộng đồng thế giới đã ủng hộ nguyệt vọng độc lập của nhân dân Đông Timo Liên Hợp Quốc đã đưa lực lượng gìn giữ hòa bình tới duy trì trật

tự ở Đông Timo Ngày 30 tháng 8 năm 2001 cử tri Đông Timo đi bỏ phiếu bầu Hội đồng lập hiến Tiếp sau đó người dân Đông Timo đã tiến hành bầu cử tổng thống lập ra một nhà nước mới ở Đông Nam Á

Trang 8

tồn tại bên trong các quốc gia có chủ quyền hiện tại, về cơ bản thuộc về các thế lực chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong các dân tộc phi chủ thể hoặc các dân tộc thiểu số Họ thường tự xưng là đại biểu cho lợi ích của dân tộc mình, đòi thực hiện các quyền tự quyết dân tộc, từ đó tạo ra thách thức đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia độc lập có chủ quyền Xét về mặt các quốc gia trên thế giới giới hiện tại lấy nhà nước đa dân tộc làm chủ thể thì các thế lực li khai dân tộc trong cộng đồng quốc tế và ở các quốc gia liên quan

là không có tính hợp lý và hợp pháp

Nhìn chung các dân tộc phi chủ thể hay các dân tộc thiểu số ở các nước có hiện tượng li khai dân tộc đều thuộc những quần thể yếu thế Tức là về các mặt địa vị chính trị, địa vị kinh tế, ảnh hưởng văn hóa, quy mô dân số, tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán đều ở trạng thái không chủ đạo nên ngoài việc thông qua cơ chế chính trị để thực hiện mục tiêu độc lập ở một số quốc gia, các thế lực li khai dân tộc đều thông qua phương thức nặc danh, bí mật để tạo ra các vụ việc Cũng có khi họ ngầm hoạt động phá hoại cơ sở hạ tầng vật chật như cầu cống, giao thông, nhà cửa, trạm kiểm soát Một số thế lực li khai còn có phương thức hoạt động theo kiểu chiến tranh du kích, tiến hành ám sát, bắt cóc, tập kích vào các cơ sở dân sự, quân sự ở quy

mô lớn Thậm chí họ còn dùng cả những phương thức có tính cực đoan và biện pháp của chủ nghĩa khủng bố để nhằm mục đích tạo ra tình trạng bất ổn trong xã hội, gây sức ép về chính trị, thu hút sự quan tâm của dư luận và sự can thiệp của quốc tế Mục tiêu cuối cùng của các thế lực li khai là đạt tới tư cách đàm phán, khiến nhà nước phải nhượng bộ và thừa nhận địa vị hợp pháp của họ

Li khai dân tộc và xung đột dân tộc, tộc người là hai vấn đề khác nhau mặc dù chúng đều xuất phát từ chủ nghĩa dân tộc và liên quan đến vấn đề dân tộc Vấn đề xung đột dân tộc, tộc người là một hiện tượng lịch sử có từ hàng ngàn năm nay, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc Xung đột dân tộc, tộc người có thể dẫn đến chiến tranh với các khả năng đồng hóa, hợp nhất, thống nhất hoặc li khai dân tộc Nhân loại không thể đếm xuể các cuộc xung đột dân tộc, tộc người từ xưa đến nay Nhưng không phải bất kỳ một xung đột dân tộc, tộc người nào cũng dẫn đến li khai dân tộc Li khai dân tộc chỉ diễn ra khi một quốc gia đa dân tộc đã hình thành và gắn liền với lịch sử hiện đại từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

1.2 Tình hình li khai dân tộc ở các khu vực trên thế giới

Trang 9

Hiện tượng li khai dân tộc không chỉ diễn ra ở một khu vực mà còn diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới Nó không chỉ phát sinh, phát triển sau chiến tranh lạnh mà

đã ăn sâu bén rễ ngay từ trong chiến tranh lạnh Có điều vấn đề li khai dân tộc đã bị chìm

đi bởi sự đối đầu căng thẳng giữa hai phe, đứng đầu là hai siêu cường Liên Xô và Mỹ

Ở châu Âu, châu lục bao gồm gần 90 dân tộc, tộc người có ngôn ngữ dân tộc riêng, là cơ sở cho sự hình thành 45 quốc gia độc lập Sức mạnh lớn nhất trong lịch sử châu Âu hiện đại là chủ nghĩa dân tộc Chủ nghĩa dân tộc đã đem lại cho châu Âu cả sự thống nhất lẫn chia rẽ Thống nhất trong Liên minh châu Âu, chia rẽ Đông - Tây trong chiến tranh lạnh Sau chiến tranh lạnh, xung đột bạo lực giữa các dân tộc, tôn giáo vẫn chưa được giải quyết dứt điểm Mặc dầu là một châu lục tương đối thuần nhất nhưng châu Âu vẫn có vấn đề li khai dân tộc 30 Hiện tượng li khai dân tộc khiến người ta chú ý nhất là cuộc đấu tranh của người Bắc Ireland đòi tách khỏi Vương quốc Anh Thế lực li khai ở Bắc Ireland đã thành lập được Mặt trận dân tộc thống nhất Ireland Sự việc này bắt nguồn từ khi Anh chia Ireland ra hai vùng để cai trị vào năm 1920 Phía Bắc Ireland là của người theo đạo Tin Lành Phía Nam Ireland là của người theo Thiên Chúa giáo Trong những năm 1960, theo đà phát triển của phong trào dân quyền của cư dân Bắc Ireland, mâu thuẫn giữa các tín đồ tôn giáo ngày càng gay gắt Đã có những cuộc xung đột đẫm máu giữa các tín đồ theo các tôn giáo khác nhau Với tôn chỉ dùng vũ lực

để thực hiện sự thống nhất Ireland, quân đội Cộng hòa Bắc Ireland (IRA) tiến hành hoạt động bạo lực, khủng bố nhằm vào quân đội, cảnh sát và các nhân vật chính trị chủ yếu của Anh Họ không ngừng gây ra xung đột vũ trang với tổ chức bán quân sự địa phương Hoạt động li khai của họ đã có lịch sử gần 30 năm Khoảng 3500 người bị chết Hơn 3 vạn người bị thương Chi phí ngăn chặn bạo lực hàng năm lên tới 4 trăm triệu bảng Anh

Tại Pháp, năm 1975, ở đảo Corse, một hòn đảo ở biển Địa Trung Hải đã xuất hiện các hoạt động bạo lực đòi tách ra khỏi nước này Năm 1976 những người theo tư tưởng li khai dân tộc đã thành lập Mặt trận giải phóng dân tộc Corse (The National Liberation Front of Corse) Họ đưa ra cương lĩnh chính trị giành độc lập bằng vũ trang Các hoạt động bạo lực của các thế lực li khai dân tộc ngày một gia tăng Đặc biệt họ đã thực hiện những vụ đánh bom vào các cơ quan, tòa nhà của chính phủ Năm 1982, Chính

Trang 10

phủ Pháp buộc phải đưa ra một chương trình phân cấp quản lý Nghị viện Pháp đã thành lập Hội đồng vùng Corse Hội đồng này bao gồm 50 thành viên chuyên kiểm soát công việc chi tiêu, thuế, thương mại, giao thông

Do chính sách trấn áp mạnh mẽ của Chính phủ Pháp, Mặt trận giải phóng dân tộc Corse đã hoạt động trả thù theo kiểu chủ nghĩa khủng bố Trong một đêm họ đã gây ra

45 vụ nổ bom tại Corse và Paris Sau đó Chính phủ Pháp tăng cường kiểm soát, cấm tổ chức này hoạt động và tiến hành truy quét quyết liệt Tổ chức này phân hóa thành Liên minh toàn quốc Corse và Phong trào tự quyết Corse Các tổ chức này đều có lực lượng

vũ trang riêng của mình Một mặt, họ tiến hành đấu tranh giành quyền lực thông qua nghị trường, mặt khác, họ liên tục tấn công khủng bố từ giữa những năm 1990 Các tổ chức chính trị và bạo lực lấy việc giành độc lập cho Corse làm mục đích đã phân hóa liên tục, hình thành nên một loạt tổ chức vũ trang bí mật Các tổ chức này liên tiếp gây ra các

vụ khủng bố như đánh bom, bắt cóc, ám sát Chỉ trong vòng hơn một chục năm họ đã tiến hành 713 vụ đánh bom nhằm vào các tòa nhà công cộng 26

Ở Bắc Mỹ có thế lực li khai đòi độc lập cho các cư dân nói tiếng Pháp ở địa phận Quebec, Canađa từ mấy chục năm nay Họ sử dụng cả phương thức chính trị lẫn phương thức bạo lực để đạt được mục tiêu độc lập Họ đã thành lập Mặt trận giải phóng Quebec

để tập hợp tất cả các lực lượng chống đối chính phủ Ít nhất có 11 nhóm hoạt động bạo lực từ năm 1963 đến 1970 Các nhóm này đã đặt bom vào những mục tiêu mà họ cho là biểu tượng của sự áp bức như các cơ quan liên bang, những tượng đài, sở giao dịch chứng khoán Hành động gây tiếng vang làm xôn xao dư luận là vào tháng 10 năm

1970, họ bắt cóc một tuỳ viên thương mại Anh và Bộ trưởng Lao động Quebec Chính quyền Canađa đã ban hành đạo luật với những biện pháp áp dụng trong thời chiến Quyền công dân bị hạn chế và bị đặt trong tình trạng khẩn cấp Quân đội được huy động vào chiến dịch truy quét gắt gao Hàng trăm dân thường bị bắt giữ, tra hỏi Cuộc khủng hoảng này chỉ chấm dứt khi Bộ trưởng Lao động bị sát hại và khi những kẻ khủng bố bị bắt giam giữ, tù đày Tuy bị trấn áp nhưng những thế lực li khai dân tộc vẫn nhiều lần đòi trưng cầu dân ý về nền độc lập của Quebec 24 Ngày 27 tháng 11 năm 2006 để ngăn chặn Quebec đòi tách ra khỏi Canada, Hạ viện Canada đã biểu quyết công nhận Quebec

Trang 11

là một quốc gia nằm trong một nước Canada thống nhất Các nhà quan sát quốc tế e rằng tình hình Quebec chắc sẽ không chỉ dừng lại ở đó

Ở Pêru có Tổ chức Con đường sáng (Shining Path) của tộc người India Tổ chức này có cơ sở rộng rãi trong những dân tộc bản địa Mục tiêu chính trị của tổ chức này là lật đổ chính quyền hiện tồn để thành lập một nhà nước hoặc một nền tự trị của người India Tương tự như vậy còn có Tổ chức Quân giải phóng Zapata ở Mêhicô, một tổ chức

li khai dân tộc cũng đòi tách ra khỏi quốc gia này

Ở châu Á, lịch sử đã hình thành nên đa số các quốc gia dân tộc đa tộc người Sau Chiến tranh thế giới thứ II, phong trào giải phóng dân tộc trên khắp châu lục này đã phát triển mạnh mẽ Đến cuối những năm 1980 ách cai trị của chủ nghĩa thực dân về cơ bản

đã chấm dứt Tuy nhiên, do di sản của thực dân để lại, do sự phức tạp về vấn đề dân tộc

và tôn giáo, tình hình li khai dân tộc diễn ra ở nhiều quốc gia mới giành được độc lập

Ở khu vực Nam Á, chính sách li khai tôn giáo đã làm nên một nhà nước Pakistan Hồi giáo bên cạnh nhà nước Ấn Độ Bản thân Pakistan năm 1970, phần Đông đất nước lại tách thành nhà nước Bănglađét sau một cuộc đảo chính Rồi từ đó, trong nội bộ các nước, xu hướng li khai dân tộc vẫn âm ỉ kéo dài cho đến tận ngày nay 25

Ở Trung Quốc, vấn đề li khai dân tộc đã xuất hiện từ lâu ở Tây Tạng Vào năm

1956, một số thế lực li khai đã tiến hành hoạt động du kích chống lại chính quyền trung ương Mặc dầu Chính phủ Trung Quốc đã trao quyền tự trị cho vùng này nhưng lực lượng nổi dậy được sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài đã phát động một phong trào chống đối mạnh mẽ trên quy mô lớn, làm thiệt hại lớn về người và của, đe doạ sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chính phủ đã tiến hành những biện pháp trấn áp cứng rắn Dalai Lama phải trốn sang Ấn Độ, thành lập một cộng đồng người dân tộc Tây Tạng ở hải ngoại Ngày 9/3/1961 Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết lên án Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vi phạm nhân quyền, đàn áp Phật giáo Tây Tạng Hơn 10 ngàn người dân tộc di dời lánh nạn sang các nước láng giềng như Ấn Độ, Nêpan, Butan Tháng 10/1987 những cuộc biểu tình của người dân tộc Tây Tạng lại diễn

ra liên tiếp Các cuộc thương lượng bí mật giữa đại diện chính phủ và Dalai Lama không tiến triển Một bên phủ nhận nền tự trị hiện thời Một bên từ chối thoả hiệp trao thêm

Trang 12

quyền tự trị cho Tây Tạng Năm 1993, nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra cùng với các hoạt động bạo lực, khủng bố Năm 1995, khi Tây Tạng tiến hành chọn Lama, những cuộc xung đột mới lại tiếp tục nổ ra với yêu sách đòi độc lập hoàn toàn cho Tây Tạng Tháng

5 năm 1996, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã sử dụng lực lượng vũ trang truy quét các

tu viện của người Tây Tạng Rất nhiều người bị chết và bị thương Đoàn Lama bị kết án

tù đày Cuộc hội đàm bí mật giữa hai bên sụp đổ

Tình hình li khai dân tộc cũng diễn ra ở Xrilanka với tổ chức li khai dân tộc Những con hổ giải phóng Tamil Ở Mianma có tổ chức li khai dân tộc của người karen, người Arakan Ở Philippin có tổ chức li khai của người Moro Ở Inđônêsia có tổ chức li khai của người Aceh, Tây Papua Ở Thái Lan có tổ chức li khai của người Pattani 2

Ở châu Phi, sau khi giành được độc lập, các quốc gia đã kế thừa di sản chính trị từ

sự chiếm đóng sau hàng trăm năm của chủ nghĩa thực dân châu Âu Đa số các nước ở châu Phi có đường biên giới tùy tiện, theo ý chí của các cường quốc thực dân, không phù hợp với lịch sử văn hóa tự nhiên trong quá trình cai trị, các thế lực thực dân đế quốc lợi dụng mâu thuẫn giữa các dân tộc, tộc người thi hành chính sách chia để trị và đã để lại những hậu quả khôn lường Chẳng hạn họ đã lợi dụng mâu thuẫn giữa người Hutu và người Tutsi ở Ruanda và Burundi, đã gieo mầm thù hận dân tộc giữa hai tộc người, dẫn tới nạn sát hại diệt chủng trong những năm 1990 tại các quốc gia này Ước chừng có trên

800 ngàn người, chủ yếu là người Tutsi bị giết hại Hàng triệu người Hutu phải đi lánh nạn tại Tandania Ở nhiều nước châu Phi khác, các đảng phái chính trị thường hình thành trên cơ sở dân tộc, tộc người Điều đó đã tạo nên sự bất ổn trong nền chính trị của các quốc gia non trẻ Xung đột li khai dân tộc diễn ra ở nhiều nơi, ví dụ việc li khai dân tộc của người Igbo dẫn tới cuộc nội chiến ở Nigiêria từ năm 1967 đến 1970 Vùng Nam Phi, vùng Sahara, nơi tập hợp chủ yếu người Phi da đen, nơi đây được chia ra thành hàng trăm nhóm dân tộc, ngôn ngữ Sau quá trình phi thực dân hóa, sự đối kháng dân tộc đã diễn ra gay gắt Ở Chad, sau 10 năm xung đột, đến năm 1979 đất nước bị phân chia làm đôi Ở Xuđăng cuộc chiến tranh tàn khốc đã đi đến chỗ trao quyền tự trị cho khu vực miền Nam Ở Etiôpia, sự sụp đổ của chế độ quân chủ đã kéo theo sự li khai của các dân tộc ở

Trang 13

ngoại vi Ở khu vực Trung Phi có cuộc xung đột và mưu toan li khai của người Biafra đã dẫn Nigiêria đi đến việc phân chia cơ cấu liên bang theo thành phần dân tộc 28

Điểm qua các hiện tượng li khai dân tộc ở các châu lục, chúng ta thấy vấn đề li khai dân tộc không phải là vấn đề của riêng quốc gia nào Bước sang kỷ nguyên mới, sự đối đầu và rơi rớt của chiến tranh lạnh tưởng chừng như đã chấm dứt Xu thế hội nhập, hợp tác đang là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế Nhưng một hiện tượng lịch sử khác lại đang diễn ra gay gắt Bên cạnh việc các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia giảm xuống thì việc các cuộc nội chiến, xung đột dân tộc, li khai dân tộc lại tăng lên và trở thành điểm nóng ở nhiều nơi trên thế giới

1.3 Các loại hình li khai dân tộc

Li khai dân tộc trên thế giới hiện nay được tạo thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có bối cảnh lịch sử, chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, tôn giáo khác nhau nhưng

có mục tiêu chính trị giống nhau là thành lập nhà nước độc lập theo dân tộc Do đó rất khó phân loại vấn đề này một cách rạch ròi Xét từ phương thức hoạt động và tình hình ở các quốc gia và khu vực khác nhau, các nhà nghiên cứu phân chia vấn đề li khai dân tộc thành 4 loại hình cơ bản 20, tr.123

1.3.1 Loại hình li khai dân tộc đối kháng quân sự

Loại hình li khai dân tộc đối kháng quân sự chủ yếu chỉ những hiện tượng li khai dân tộc tiến hành hoạt động nhằm thành lập các quốc gia độc lập bên trong một quốc gia

có chủ quyền nào đó bằng phương thức chiến tranh Đặc điểm của loại hình này là các thế lực li khai dân tộc đã có lực lượng chống đối quân sự tương đối mạnh Đương nhiên

nó phải có một quá trình lâu dài xây dựng lực lượng từ không đến có, từ yếu đến mạnh

Nó có một vùng lãnh thổ hay một khu vực kiểm soát ổn định Các hoạt động chính trị và lực lượng vũ trang của các thế lực li khai tuy bị nhà nước dân tộc coi là bất hợp pháp, nhưng thế lực của họ đã trở thành đối thủ chính trị, đối thủ quân sự, đối thủ đàm phán, buộc nhà nước dân tộc phải thừa nhận

Tiêu biểu cho loại hình này là hiện tượng li khai dân tộc nhằm thành lập một nhà nước do Tổ chức Những con hổ giải phóng Tamil (Liberation Tiger of Tamil Eelam, LTTE) lãnh đạo ở Xrilanka Dân tộc chủ thể ở Xrilanka là người Sinhalese theo Phật

Trang 14

giáo, chiếm khoảng 74% dân số toàn quốc Thứ đến là người Tamil theo Ấn Độ giáo, chiếm khoảng 18% dân số Là những người dân di cư từ Nam Ấn Độ tới Xrilanka vào thế kỷ XIV, người Tamil từng thành lập Vương quốc Jaffna Tamil, kiểm soát vùng ven biển phía Bắc và phía Đông Xrilanka Sau khi thực dân Anh xâm lược, biến Xrilanka thành thuộc địa, rất nhiều người Tamil lại từ Ấn Độ di cư sang Xrilanka theo các con đường lao động Các thế lực thực dân Anh áp dụng chính sách chia để trị đối với người Sinhalese và người Tamil, lợi dụng sự khác biệt dân tộc, tôn giáo giữa hai nhóm dân tộc này để tạo ra bầu không khí chính trị có lợi cho sự thống trị của thực dân Anh Trong quá trình đô hộ, một mặt thực dân Anh nâng cao địa vị của người Tamil, khiến cho người Tamil có được ưu thế về trình độ giáo dục, được tuyển vào làm công ăn lương trong chính quyền đô hộ Khi Phật giáo của người Sinhalese phục hưng, ý thức dân tộc của họ dấy lên, các thế lực thống trị thực dân đã xoa dịu bằng việc cơ cấu lại nhân lực hành chính, khiến cho người Sinhalese chiếm đa số dân nhận được quyền ưu đãi hơn Sau khi Xrilanka giành được độc lập vào năm 1948, do ưu thế mà họ có được trong lĩnh vực chính trị, chính phủ do người Sinhalese chi phối đã tăng cường củng cố chủ nghĩa dân tộc về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa Phật giáo đã trở thành quốc giáo Ngôn ngữ Sinhalese là ngôn ngữ quốc gia Ngoài ra chính phủ của người Sinhalese còn thi hành một loạt chính sách kiềm chế người Tamil, ưu đãi nhiều mặt cho người Sinhalese Chính phủ cho phép ưu đãi thí sinh Sinhalese, nâng điểm chuẩn với người Tamil trong chế độ thi tuyển sinh đại học Chính phủ còn thực hiện chính sách di dân lên các vùng phía Bắc

và Đông Bắc, nơi người Tamil định cư, gây nên sự bất mãn sâu sắc trong người Tamil Vào cuối những năm 1950, ở Xrilanka đã bùng phát xung đột giữa người Sinhalese và người Tamil lần thứ nhất Từ đó về sau, cuộc đấu tranh của người Tamil nhằm bảo vệ các lợi ích dân tộc của họ diễn ra liên tục Đến đầu những năm 1970, phong trào độc lập dân tộc đã hình thành trong người Tamil Năm 1972 ba chính đảng lớn của người Tamil hợp nhất thành Mặt trận liên hợp Tamil, đề ra mục tiêu thành lập một nhà nước độc lập Các tổ chức bạo lực vũ trang như Những con hổ mới Tamil, Mặt trận giải phóng Tamil Eelam cũng lần lượt được thành lập Năm 1975, Những con hổ mới Tamil đổi tên thành Những con hổ giải phóng Tamil và ám sát thị trưởng thành phố Kufua mở màn cho

Trang 15

những hoạt động bạo lực Vào tháng 8 năm 1983, người Sinhalese trong một lần xung đột

đã giết hơn 300 người Tamil Khoảng 100 ngàn người Tamil phải tị nạn tới các bang miền Nam Ấn Độ Lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil đã đáp lại bằng việc phát động một cuộc chiến tranh du kích, tấn công trả đũa vào người Sinhalese và lực lượng an ninh chính phủ ở phía Bắc và phía Đông Xrilanka Từ đó, hai bên tiến hành nhiều cuộc giao tranh quyết liệt

Những bang miền Nam Ấn Độ có số đông người Tamil sinh sống đã giúp đỡ, ủng

hộ cơ sở vật chất, quân trang quân dụng cho những người cùng dòng máu với mình ở Xrilanka Chính phủ Ấn Độ cũng lên tiếng bênh vực cho những người Tamil ở bên kia

bờ biển Mặc dù vậy, Ấn Độ và Xrilanka đã có nhiều nỗ lực giải quyết xung đột Hai nước đã ký kết một hiệp định hòa bình, ngăn chặn xung đột bạo lực giữa 2 nhóm dân tộc vào tháng 7 năm 1987 Theo hiệp định, một lực lượng giữ gìn hòa bình Ấn Độ làm trung gian thay thế cho quân đội Xrilanka đóng ở bán đảo Jaffua Hiệp định cũng bao gồm việc thành lập một khu tự trị của người Tamil ở phía Bắc và phía Đông các tỉnh

Các đảng phái của người Sinhalese phản đối chống lại việc triển khai quân đội

Ấn Độ ở Xrilanka Họ phát động phong trào bạo loạn làm mất ổn định tình hình đất nước Cuối cùng sự can thiệp của Ấn Độ đã không đem lại hòa bình cho 2 nhóm dân tộc Lực lượng giữ gìn hòa bình của Ấn Độ về nước vào tháng 4 năm 1990 Nhiều trận đánh

ác liệt diễn ra giữa quân đội Xrilanka và LTTE trong những năm 1990 Đặc biệt nó trở thành một cao trào khi Tổng thống Ranasinghe Premadasa bị ám sát trong lễ diễu hành ngày 01 tháng 5 năm 1993 Chính phủ Xrilanka đã buộc trách nhiệm cho các lực lượng LTTE Từ đó đến nay mâu thuẫn dân tộc Sinhalese và Tamil ngày một trở nên gay gắt

Trước sức ép của cộng đồng quốc tế, nhiều cuộc đàm phán được mở ra nhưng rồi quá trình thương lượng lại đi vào bế tắc vì lập trường của hai bên quá khác biệt Đến cuối năm 1995, xung đột li khai dân tộc đã trở thành một cuộc nội chiến Quân đội Xrilanka phản công quyết liệt, giành lại thành phố Jaffua, thành phố mà LTTE chiếm giữ từ 1985 Đến giữa những năm 1996, quân chính phủ đã kiểm soát được bán đảo Jaffua nhưng lực lượng LTTE vẫn còn rất mạnh Họ tiếp tục tấn công vào lực lượng quân chính phủ ở phía Bắc và phía Đông của đất nước Các hoạt động bạo lực diễn ra liên miên không dứt

Trang 16

Các lực lượng li khai với nòng cốt Những con hổ giải phóng Tamil trở thành lực lượng quân sự đối kháng trực tiếp với quân chính phủ Cho đến năm 2000, LTTE tuyên bố họ

có nhiều căn cứ và đã ám sát khoảng 150 quan chức chính trị Xrilanka Lực lượng li khai này hiện nay vẫn tiếp tục mục tiêu độc lập của mình Tháng 10 năm 2006 cuộc đàm phán giữa Chính phủ Xrilanka và LTTE đang diễn ra tại Giơnevơ Có khả năng Chính phủ Xrilanka sẽ chấp nhận một khu tự trị đặc biệt cho người Tamil Kể từ vòng đàm phán cuối cùng giữa hai bên tại Thụy Sĩ, ít nhất có 2850 người bị sát hại Cả hai bên đều đổ lỗi cho nhau về tình trạng đẫm máu này trong cuộc chiến kéo dài ba thập kỷ của LTTE vì một nền độc lập cho người Tamil ở đất nước đa phần là người Sinhalese 41

Tương tự như các thế lực li khai của người Tamil ở Xrilanka còn có hiện tượng li khai Chesnia ở Nga cũng thuộc loại này Từ giữa những năm 1990 trở lại đây, các thế lực li khai Chesnia không ngừng tiến hành các hoạt động quân sự và khủng bố hết sức đẫm máu nhằm mục đích đòi độc lập Hiện nay về cơ bản Chính phủ Nga đã khống chế được tình hình ở Chesnia Nhưng để giải quyết triệt để vấn đề Chesnia thì còn cần nhiều thời gian

Tại khu vực Đông Nam Á, hiện tượng li khai dân tộc của người Aceh ở Inđônesia, người Moro ở Philippine cũng thuộc loại hình đối kháng quân sự

1.3.2 Loại hình li khai dân tộc tương tác

Loại hình li khai dân tộc tương tác chỉ hiện tượng li khai dân tộc của các dân tộc khác nhau bên trong một quốc gia độc lập có chủ quyền Các thế lực li khai tìm cách gạt

bỏ lẫn nhau nhằm thành lập nhà nước độc lập riêng rẽ Điểm nổi bật của loại hình li khai tương tác là các thế lực li khai dân tộc ở trong tình trạng xung đột đều không phải là lực lượng bảo vệ sự thống nhất quốc gia Mục tiêu tranh giành của các bên là lãnh thổ và quyền thành lập một nhà nước độc lập Điều chú ý là trong hiện tượng li khai dân tộc thuộc loại hình này, đằng sau hai bên hoặc nhiều bên xung đột đều có sự ủng hộ của các thế lực bên ngoài

Cuộc nội chiến ở Bosnia - Hersegovina ở Nam Tư là thí dụ điển hình thuộc loại hình li khai dân tộc tương tác Trong những năm 1990, Nam Tư cũ đi tới tan rã trong chế

độ dân chủ đa đảng mà vấn đề li khai dân tộc là động lực cơ bản dẫn tới tình trạng chia rẽ

Trang 17

trong Liên bang Nam Tư Tuyên bố độc lập của Slovenia, Croatia và rút ra khỏi Liên bang Nam Tư đã đặt các thành viên còn lại của Nam Tư và cộng đồng thế giới trước một

sự việc "đã rồi" Hàng loạt vấn đề đặt ra không ai có thể trả lời ngay được Việc tuyên bố đơn phương độc lập có đủ cơ sở pháp lý để quốc tế công nhận hay không? Liên bang Nam Tư với tính chất là một chủ thể có quyền bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình hay không Quyền dân tộc tự quyết tách ra có giới hạn đến đâu?

Bosnia - Hersegovina không giống với các nước cộng hòa khác của Nam Tư cũ,

mà là một nước cộng hòa do ba tôn giáo, hai dân tộc và một quần thể Hồi giáo cấu thành

Từ những năm 1990, việc chính đảng hóa trên cơ sở dân tộc và tín ngưỡng tôn giáo do diễn biến đa nguyên hóa chính trị ở Bosnia - Hersegovina tạo thành đã làm cho nước này lâm vào cuộc nội chiến triền miên Cuộc chiến tranh li khai dân tộc, tôn giáo này kéo dài bốn năm, từ năm 1992 đến cuối năm 1995 khi các bên khi ký Hiệp định Dayton(1) Trong cuộc chiến tranh này, người Croat và người Hồi giáo đã tiến hành một cuộc nội chiến cực kỳ tàn khốc nhằm triệt để phân rõ mốc giới của mỗi bên Họ đã thực hiện một cuộc thanh lọc sắc tộc nhân danh sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất dân tộc, tôn giáo Các bên

đã xua đuổi và tàn sát trên quy mô lớn với thường dân vô tội; cưỡng ép tập thể có tổ chức phụ nữ gọi là dị tộc, dị giáo; hình thành nên hoạt động khủng bố thù hận dân tộc Trong cuộc tàn sát, giao tranh lãnh thổ kiểu chủ nghĩa dân tộc cực đoan này, ở Bosnia - Hersegovina đã hình thành nên ba phái Người theo đạo Thiên Chúa cho mình là người Croatia, người theo Chính Thống giáo cho mình là người Serb, còn người theo đạo Hồi

tự tách thành một nhóm đặc biệt

Với sự chi phối của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là của Mỹ, căn cứ vào Hiệp định Dayton(2), Bosnia - Hersegovina cuối cùng trở thành một nước do người Hồi giáo và người Croat hợp thành cùng tồn tại bên cạnh nước cộng hòa của người Serb Mỗi một nhóm sắc tộc ở Bosnia - Hersegovina lại mâu thuẫn với hai nhóm khác và tạo nên tình trạng chiến tranh của mọi người chống lại nhau Cốt lõi gây ra xung đột là mâu thuẫn giữa người Hồi giáo và người Serb, mâu thuẫn người Hồi giáo và người Croat Cuộc

(1)

Dayton thuộc bang Ohio của Mỹ

(2) Hiệp định giữa những người lãnh đạo thuộc các nhóm sắc tộc Hồi gáo, serb và croat ở Bosnia - Hersegovina nhằm chấm dứt cuộc nội chiến Hiệp định này bắt đầu ký tắt ở Dayton bang Ohio của Mỹ ngày 21 tháng 11 năm 1995

Trang 18

chiến tranh li khai ở đất nước này kéo dài từ năm 1992-1995 Số nạn nhân bị chết trong các cuộc xung đột lên tới hàng chục ngàn người Số lượng người tị nạn lên tới hàng triệu người Trách nhiệm gây ra các cuộc xung đột li khai dân tộc thuộc về các phe phái dân tộc của các nước cộng hòa Các phe phái này lôi kéo, kích động quần chúng tham gia giành chính quyền, đòi lãnh thổ và quyền sở hữu của cộng đồng Không một bên nào bảo

vệ sự thống nhất chung

Trong toàn bộ nội chiến Bosnia - Hersegovina đằng sau xung đột 3 bên đều có lực lượng quốc tế ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp Đằng sau người Serb là các nước Đông Chính giáo như Nga, Hy Lạp; đằng sau người Croat là các nước Thiên Chúa giáo như Cộng hòa Liên bang Đức, Ý; đằng sau người Hồi giáo là thế giới Hồi giáo và các lực lượng phương Tây trong đó có Mỹ 10, tr 96

Thuộc loại hình li khai tương tác còn có cuộc tranh chấp Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ

ở Sip, một đảo rộng trên 9 nghìn km2 Người Hy Lạp di cư sớm nhất vào đảo này Còn người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu di cư vào đảo này từ thế kỷ XVI trong thời kỳ đế quốc Oxman thống trị Người Hy Lạp, người Thổ Nhĩ Kỳ tuy có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau nhưng trong lịch sử chưa từng xuất hiện tranh chấp dân tộc lớn Sau khi đế quốc Oxman tan rã, Anh đã chiếm đóng Sip và lợi dụng người Thổ Nhĩ Kỳ để chế ngự phong trào thành lập nhà nước độc lập của người Hy Lạp, làm cho mâu thuẫn giữa người Hy Lạp và người Thổ Nhĩ Kỳ trở nên gay gắt, dẫn đến xung đột dân tộc vào cuối những năm

1950 Năm 1959 trên cơ sở đàm phán ba bên Anh, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, các nước đã xác định phương án thành lập quốc gia độc lập Sip và thực hiện nguyên tắc hai dân tộc

Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cùng cầm quyền Nhưng kết cấu nhà nước do lực lượng bên ngoài áp đặt và thể hiện lợi ích của 3 nước Anh, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời với sự can thiệp của Liên Hợp Quốc, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cùng đem quân giúp người Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ ở đảo Sip Cuối cùng dẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ trên đảo Sip năm 1974 Thổ Nhĩ Kỳ chiếm khoảng 37% lãnh thổ miền Bắc đảo Năm 1975 Thổ Nhĩ Kỹ thành lập bang của người Thổ Nhĩ Kỳ trong nước Cộng hòa Sip, bầu ra thống đốc bang, thành lập nghị viện bang Năm 1977 hai bên đạt được thể chế mới của nhà nước Sip, nước Cộng hòa Liên bang Sip Năm 1983 nghị viện

Trang 19

bang Thổ Nhĩ Kỳ thông qua quyết định độc lập, tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Sip Thổ Nhĩ Kỳ lập tức công nhận và trao đổi đại sứ Từ đó nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Sip trở thành nước cộng hòa trong Cộng hòa Liên bang Sip Vấn đề Sip

đã trở thành vấn đề lớn mà Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp phải đối mặt

1.3.3 Loại hình li khai dân tộc thống nhất xuyên biên giới

Loại hình li khai dân tộc thống nhất xuyên biên giới chỉ việc một dân tộc trong lịch sử vốn là đồng nhất nhưng thực tế hiện tại lại thuộc về một nước hay nhiều nước khác nhau, tiếp giáp nhau Xuất phát từ những nguyên nhân chính trị nào đó, những thế lực li khai muốn thông qua hoạt động vũ trang bạo lực để thực hiện mục tiêu thành lập một nhà nước độc lập hay tự trị Các thế lực li khai dân tộc thuộc loại hình này có ảnh hưởng xuyên quốc gia và đặc điểm hợp tác xuyên biên giới Hoạt động li khai dân tộc của nó làm nguy hại đến tính toàn vẹn lãnh thổ của một số quốc gia và khu vực

Tiêu biểu nhất thuộc loại hình li khai dân tộc thống nhất xuyên biên giới là phong trào đòi độc lập nhằm hình thành nhà nước của người Kurd ở khu vực Trung Đông Người Kurd là một tộc người lớn thứ tư chỉ sau người Arab, người Thổ Nhĩ Kỳ và người

Ba Tư Dân số tộc người khoảng 25 triệu, người Kurd theo đạo Hồi, cư trú tại bốn nước: Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq và Xiri Từ thế kỷ XVI, phần lớn người Kurd nằm dưới quyền thống trị của đế quốc Oxman, một phần nằm dưới quyền thống trị của người Ba Tư Đến cuối thế kỷ XIX đế quốc Oxman sụp đổ và bị thu hẹp, ý thức dân tộc của người Kurd bắt đầu trỗi dậy Điều này thu hút sự chú ý của các cường quốc thực dân châu Âu Chúng nhăm nhe dòm ngó lãnh thổ của đế quốc Oxman Anh và Nga Sa hoàng bắt đầu thực thi nhiều kế hoạch nhúng tay vào công việc nội bộ của đế quốc Oxman Một trong những kế hoạch là lợi dụng vấn đề người Kurd Sang thế kỷ XX, người Kurd thành lập tổ chức chính trị và đề xuất yêu cầu chính trị, yêu sách về quyền dân tộc Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Oxman tan rã hoàn toàn Cuộc cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ bùng

nổ Phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc và thành lập nhà nước dân tộc cũng phát sinh Hiệp ước Sevres được thay thế bằng hiệp ước Lôdan (1923), ký kết dưới sự chi phối của các cường quốc vì quyền lợi của các cường quốc Sau chiến tranh, các hiệp ước

Trang 20

đã quy định thành lập các nhà nước Xiri, Libăng, Palestin và Iraq Người Kurd chỉ được xác định địa vị tự trị, nên trong thực tế không thể thực hiện được sự thống nhất và độc lập Trong hoàn cảnh đó, người Kurd đã tham gia cuộc cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ do Kemal lãnh đạo Nhưng thắng lợi của cuộc cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ không đảm bảo nền độc lập và sự thống nhất của người Kurd Họ bị phân tán sinh sống trên đất của các nhà nước: Thổ Nhĩ Kỳ độc lập, Iraq dưới quyền ủy trị của Anh, Xiri dưới quyền ủy trị của Pháp và Iran Như vậy, sau khi đạt được lợi ích ở Trung Đông, đế quốc Anh, Pháp đồng thời cũng chia cắt tộc người Kurd Và sau khi tuyên bố độc lập, Thổ Nhĩ Kỳ không những không thực hiện cam kết về sự tự trị của người Kurd mà còn thi hành chính sách đồng hóa cưỡng bức đối với họ, dẫn tới cuộc khởi nghĩa năm 1925 Chính phủ Thổ Nhĩ

Kỳ tiến hành đàn áp quyết liệt Hơn 70 ngàn người Kurd bị giết hại Tuy vậy cuộc chiến đấu của người Kurd vẫn kéo dài đến năm 1938 Sau đó phong trào đấu tranh đòi độc lập chuyển đến vùng biên giới Iraq và Iran Sự hợp tác xuyên biên giới của người Kurd bắt đầu hình thành vào những năm1940 Năm 1944, các lực lượng đấu tranh đòi độc lập đã tuyên bố thành lập nhà nước độc lập và chế định ra quốc kỳ Kurdistan Năm 1946 Đảng Dân chủ Kurdistan tuyên bố thành lập nước Cộng hòa tự trị Kurd Mahabad trên lãnh thổ Iran, nhưng bị đàn áp dã man Phong trào đấu tranh đòi độc lập của người Kurd đi vào thoái trào Đến cuối những năm 1950 phong trào thành lập nhà nước Kurdistan lại dâng cao Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh vũ trang do Đảng Công nhân Kurdistan lãnh đạo Đảng này thành lập năm 1978 Đầu những năm 1980 bắt đầu tiến hành chiến tranh du kích và hoạt động khủng bố, trở thành sự thách thức lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ Từ giữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990, chiến tranh du kích do Đảng Công nhân Kurdistan lãnh đạo chủ yếu dùng phương thức tấn công vào các trạm gác, đồn trú quân chính phủ, đốt phá ở các làng mạc, bắt cóc, giết hại quan chức địa phương Từ những năm 1990 trở đi, cùng với sự sụp đổ của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết,

sự phân rã của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư, Tiệp Khắc, một loạt các quốc gia mới hình thành, cuộc đấu tranh của người Kurd lại dâng lên mạnh mẽ Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ một mặt phải hủy bỏ bộ luật có tính phân biệt dân tộc như luật cấm dùng tiếng Kurd, mặt khác bắt đầu dùng không quân kết hợp với lục quân tiến vào lãnh

Trang 21

thổ Iraq, càn quét ác liệt trên quy mô lớn Đảng Công nhân Kurdistan và các tổ chức của

nó bị tổn thất nặng nề Năm 2000 người đứng đầu đảng là Okalan bị bắt và bị kết án tử hình Phong trào đấu tranh đòi độc lập cho người Kurd ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở Iraq và một số nước về cơ bản ở trong tình trạng thoái trào Vấn đề đấu tranh của người Kurd nhằm mục đích thống nhất dân tộc và thành lập một nhà nước độc lập xuyên lãnh thổ 4 quốc gia nhìn chung đã bị mất thời cơ lịch sử, không còn khả năng đe dọa đối với chính quyền bất kỳ nước nào Các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran, Xiri coi phong trào đấu tranh của người Kurd là những hiện tượng li khai dân tộc nhằm chia cắt lãnh thổ

Tương tự như các thế lực li khai xuyên biên giới Kurdistan còn có vấn đề người Anbani trên bán đảo Balkan Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ nhất năm 1912 làm cho thế lực đế quốc Oxman về cơ bản rút ra khỏi châu Âu Sau khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, năm 1928 Serbia và Hersegovina cùng với những tỉnh của Croatia thống nhất với Serbia và Mongtenegro hình thành nên các dân tộc lấy tên là Yugoslavia Từ đó

nó trở thành thùng chứa thuốc nổ của châu Âu Tiếp liền theo đó là việc các dân tộc Balkan liên tiếp đưa ra kế hoạch nhà nước đại dân tộc, trong đó bao gồm cả kế hoạch Đại Anbani Kế hoạch này đã được thực hiện sau khi chủ nghĩa phát xít Ý xâm lược Anbani trong chiến tranh thế giới lần thứ hai nhằm thực hiện lợi ích chiến lược của nó tại bán đảo Balkan, tức là thống nhất hầu như tất cả các khu vực có người Anbani tụ cư do Ý chiếm đóng vào Đại Anbani, bao gồm Kosovo thuộc Nam Tư, khu vực phía Tây Maxêđônia Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nam Tư đã khôi phục lãnh thổ vốn có, nhưng người Anbani

và vùng Kosovo, Maxêđônia thuộc Nam Tư cùng người Anbani của Hy Lạp không hề từ

bỏ những nỗ lực thành lập Đại Anbani Năm 1980 sau khi Tổng thống Titô của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư qua đời, tỉnh tự trị Kosovo của Nam tư xuất hiện các hoạt động đòi li khai dân tộc, đòi độc lập và sáp nhập với Anbani Năm 1989 nước Cộng hòa Serbia thuộc Nam Tư xóa bỏ địa vị tự trị của Kosovo, mâu thuẫn giữa hai dân tộc Anbani và Serb ngày càng gay gắt Trong những năm 1990, Nam Tư có chiều hướng tan

rã, các thế lực li khai dân tộc của người Anbani cũng ngày càng gia tăng hoạt động Quân giải phóng dân tộc Kosovo xuất hiện năm 1997, bắt đầu thông qua hoạt động khủng bố bạo lực để mưu cầu độc lập Hành động trấn áp của Chính phủ Nam Tư đối với các thế lực

Trang 22

li khai dân tộc ở Kosovo khiến cho phương Tây có cớ nhúng tay vào công việc khu vực Balkan Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã phát động cuộc chiến tranh bằng không quân chống lại Nam Tư vào tháng 2 năm 1999 Sau cuộc chiến tranh, Kosovo nằm dưới quyền kiểm soát của lực lượng giữ gìn hòa bình quốc tế Các thế lực li khai dân tộc Anbani ở Maxêđônia đến nay vẫn chưa chấm dứt hoạt động

1.3.4 Loại hình li khai dân tộc khủng bố bạo lực

Loại hình li khai dân tộc khủng bố bạo lực chỉ thế lực li khai dân tộc lấy hoạt động khủng bố làm phương thức chủ yếu để mưu đồ thành lập nhà nước dân tộc độc lập Đặc điểm quan trọng của loại hình này là chưa hình thành tình trạng cục diện đối kháng chiến tranh Các thế lực li khai không có đủ lực lượng công khai hành động chống đối chính phủ Nó chỉ chuyên tiến hành các hoạt động khủng bố, gây sức ép để đạt mục đích

Điển hình nhất thuộc loại hình li khai dân tộc khủng bố là Tổ chức Tổ quốc - tự

do xứ Basque (Basque Homeland and Freedom) ở Tây Ban Nha, tức ETA theo cách gọi tắt trong tiếng Tây Ban Nha Dân tộc Basque là một trong những dân tộc cổ xưa nhất ở châu Âu Trong lịch sử, tuy chưa từng thành lập nhà nước Basque, nhưng truyền thống văn hóa độc đáo của tộc người này luôn được thừa kế và bảo vệ ngoan cường Năm 1931 khi Cộng hòa Tây Ban Nha được thành lập, cùng với Pháp tiến hành phân định ranh giới Một bộ phận của khu vực vốn do người Basque cư trú được nhập vào Pháp Ngay từ thời gian đó, người Basque đã có yêu sách đòi thành lập nhà nước độc lập thống nhất Vào thời gian nội chiến (1936-1939) Chính phủ Cộng hòa Tây Ban Nha đã cho phép người Basque thành lập một khu tự trị riêng, nhưng khi chính quyền rơi vào tay nhà độc tài Francisco Franco thể chế tự trị bị bãi bỏ Cùng với việc nắm quyền, Franco sử dụng vũ lực dập tắt các cuộc phản kháng của người Basque Ông ta đã tiến hành việc thanh lọc dân tộc, đóng cửa các trường học, báo chí của người Basque Đặc biệt nghiêm trọng là việc thủ tiêu, tù đày những nhà trí thức và cấm được nói tiếng Basque Ước chừng đã có

50 ngàn người bị giết, 100 ngàn người bị bắt giam, hơn 200 ngàn người bị đi đày, hàng trăm người phải cư trú ở Pháp, Mỹ 29

Ách thống trị kiểu phân biệt chủng tộc, áp bức, kỳ thị, khủng bố dã man của chính quyền Franco đối với người Basque đã khơi dậy sự đấu tranh phản kháng do Đảng

Trang 23

Dân tộc chủ nghĩa Basque lãnh đạo Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong khi đấu tranh giành địa vị tự trị của người Basque, Đảng Dân tộc chủ nghĩa Basque phân hóa ra một lực lượng cấp tiến, chủ trương thông qua đấu tranh vũ trang để thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Basque Năm 1958 lực lượng cấp tiến tuyên bố tách khỏi Đảng Dân tộc chủ nghĩa Basque để thành lập ETA Họ đã triển khai các hoạt động khủng bố bạo lực nhằm vào ách thống trị độc tài Tây Ban Nha ETA lấy khu vực người Basque ở miền Nam nước Pháp làm căn cứ, hình thành nên một hệ thống tổ chức chặt chẽ, chuyên dùng các biện pháp khủng bố như phá hoại, đánh bom, ám sát các nhân vật chính trị, cảnh sát

để khuyếch trương việc thành lập nhà nước vào những năm 1970 Các hoạt động li khai diễn ra mạnh mẽ Bạo lực liên tiếp nổ ra Tháng 10 năm 1973, ETA đã ám sát người kế nhiệm Franco, Thủ tướng Carero Blanco trong vụ đánh bom vào chiếc xe chở ông tới sân bay Năm 1975 sau khi lật đổ nền thống trị độc tài Franco, Tây Ban Nha tiến hành cải cách dân chủ Khu vực của người Basque đã giành được quyền tự trị hạn chế, bao gồm việc được bầu nghị viện riêng Điều này đã làm dịu đi mâu thuẫn dân tộc ở Tây Ban Nha Nhưng ETA vẫn không từ bỏ hoạt động khủng bố bạo lực nhằm thành lập nhà nước độc lập Đến tháng 11 năm 1995 vẫn còn tới 560 tù nhân chính trị người Basque, khoảng 2000 người bị kết tội hoạt động khủng bố sống lưu vong ở nước ngoài Tháng 7 năm 1997 một làn sóng bạo lực lại bắt đầu, mở màn lực lượng li khai dân tộc giết hại một ủy viên hội đồng, một thành viên của đảng cầm quyền, tiếp theo hầu hết những vụ giết hại đều nhằm vào những nhà chính trị, những thành viên của đảng cầm quyền không hợp tác thương lượng với ETA Năm 1998 ETA tuyên bố ngừng hoạt động nhưng những hoạt động khủng bố đến nay vẫn tiếp tục

Tương tự như hiện tượng li khai khủng bố bạo lực Basque, ở Pháp có hiện tượng

li khai tại đảo Corse Ở Đông Nam Á có các thế lực li khai tại miền Nam Thái Lan

Mấy loại hình li khai dân tộc kể trên là những hình thức biểu hiện tương đối nổi bật trên thế giới hiện nay Các thế lực li khai dân tộc này đều đã lớn mạnh ở các mức độ khác nhau, hình thành nên các lực lượng chính trị và lực lượng quân sự mà nước sở tại khó có thể xóa bỏ ngay được Các thế lực li khai dân tộc khi thì thông qua cơ chế dân chủ, khi thì thông qua hoạt động chính trị, vũ trang hay hoạt động bạo lực khủng bố để

Trang 24

mở rộng ảnh hưởng, gây sức ép, đàm phán, quốc tế hóa vấn đề li khai nhằm thực hiện quyền tự quyết dân tộc hoặc thành lập nhà nước độc lập Các tổ chức của các thế lực li khai dân tộc, đặc biệt là các tổ chức vũ trang, bạo lực nhìn chung là bất hợp pháp nhưng

do được nhất thể hóa hoặc kết hợp với các thế lực chính trị nên có đặc điểm bán công khai và công khai hóa Trong số những hiện tượng li khai dân tộc từ trước đến nay, không ít các thế lực đã đạt được tư cách đối thủ đàm phán với chính phủ, còn đại đa số là

ở giai đoạn các tổ chức chính trị bất hợp pháp và các nhóm vũ trang, bạo lực bí mật

1.4 Quyền tự quyết dân tộc và li khai dân tộc

Phong trào dân tộc, theo một số các nhà nghiên cứu xuất hiện từ những cuộc cách mạng ở châu Âu năm 1848 Những cuộc cách mạng này đều do các tầng lớp quý tộc, trung lưu khởi xướng, được giai cấp công nhân và nông dân ủng hộ Cuộc cách mạng lần đầu tiên nổ ra ở Pháp tháng 2 năm 1848 rồi lan rộng tới Ba Lan, Đan Mạch, Đức, Ý, Séc, Slôvakia, Hungari, Croatia, Rumani Trong số những nước nổ ra phong trào cách mạng

ở châu Âu, một số nước đặt ra yêu cầu quyền tự quyết dân tộc, tách khỏi những đế chế chi phối họ Nguyên tắc một dân tộc một nhà nước (Nation - State) được mọi người truyền tụng và theo đuổi Việc hình thành các quốc gia dân tộc đã diễn ra cùng với sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc và nó đã trở thành một giá trị thiêng liêng đòi hỏi lòng trung thành của các cá nhân và quần chúng

Từ thời gian đó, quốc gia lấy quốc huy, quốc ca, quốc kỳ làm biểu trưng Dân tộc trên bình diện quốc gia là do toàn thể công dân hợp thành Nhưng bên trong dân tộc vẫn bao gồm một số hoặc nhiều tộc người tự nhiên, lịch sử Chúng thể hiện ở sự khác biệt hay bất đồng về các mặt ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và lịch sử, nguồn gốc dân tộc Nói chung, tộc người tạo thành nhà nước dân tộc thường là tộc người chiếm đa

số mang đặc trưng tự nhiên, lịch sử Giới tinh hoa của tộc người chủ thể đương nhiên trở thành tầng lớp nắm chính quyền nhà nước dân tộc í thức và văn hóa chủ lưu của xã hội cũng là ý thức và văn hóa của tộc người chủ thể Nhu cầu về chính trị, liên kết dân tộc cũng thuộc về tộc người chủ thể Tất nhiên, sự áp bức dân tộc, sự đồng hóa cưỡng bức dân tộc khác tất yếu sẽ dẫn đến phản kháng của các dân tộc phi chủ thể hay dân tộc thiểu

Trang 25

số và có thể dẫn đến li khai dân tộc, dựa theo nguyên tắc tự quyết dân tộc, một dân tộc, một nhà nước

Sự trào dâng của chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu và sự xuất hiện mô hình nhà nước dân tộc trước hết làm cho các dân tộc đặt trước sự thống trị của các đế quốc

Áo - Hung, Oxman, Nga Sa hoàng, Đức dấy lên phong trào giải phóng dân tộc Sự kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự tan rã của các đế quốc thống trị các khu vực Trung, Đông Âu và khu vực Tây Á đã làm cho các khu vực này xuất hiện làn sóng chủ nghĩa dân tộc lần thứ nhất trong thế kỷ XX Hơn 10 quốc gia dân tộc được

tổ chức lại và thành lập mới 22, tr.144

Có ảnh hưởng trực tiếp đến làn sóng thành lập nhà nước độc lập là tư tưởng về quyền tự quyết dân tộc Trong giai đoạn Cách mạng tháng Mười Nga, xuất phát từ tình hình đế quốc Nga Sa hoàng là một nhà tù của các dân tộc, Lênin đã đề xướng quyền tự quyết của giai cấp vô sản các dân tộc, đồng thời chủ trương thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa trong đó các dân tộc đều bình đẳng trên cơ sở quyền tự quyết này(1) Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Mỹ can thiệp sâu vào công việc của châu Âu

để thực hiện lợi ích của mình Nội dung quyền tự quyết dân tộc được thể hiện trong 14 điểm của Chương trình cách mạng dân chủ thế giới của Wilson ngày 8-1-1918 Chương trình 14 điểm của Wilson được xem như là cơ sở để giải quyết các vấn đề châu Âu sau chiến tranh Nó được xác định trong hệ thống Hòa ước Verseille và được thực thi trong việc cải tổ các nước Trung, Đông Âu, Trung Cận Đông Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nguyên tắc tự quyết dân tộc được ghi vào Hiến chương Liên Hợp Quốc, trở thành chuẩn mực cho sự đồng thuận quốc tế Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến hết thập kỷ 60, 70 của thế kỷ

XX chính là việc thực hiện nguyên tắc tự quyết dân tộc để thực hiện việc giải phóng dân tộc, thành lập nhà nước độc lập Nó đã tạo thành làn sóng dân tộc thứ hai của thế kỷ XX

(1) Tuyên ngôn của các dân tộc Nga ký ngày 15-11-1917:

- Quyền bình đẳng và chủ quyền của tất cả các dân tộc Nga;

- Quyền tự quyết của các dân tộc Nga kể cả quyền li khai và thành lập các quốc gia độc lập;

- Bãi bỏ mọi đặc quyền và hạn chế về dân tộc hoặc về tôn giáo - dân tộc;

- Quyền tự do phát biểu của tất cả các dân tộc thiểu số hoặc của các nhóm sắc tộc

Trang 26

Nếu như Hội Quốc Liên (The league of Nations) thành lập ngày 15-11-1920 có 28 thành viên tham gia trọn vẹn, 35 thành viên lúc rút ra, lúc nhập vào thì số thành viên Liên Hợp Quốc từ 25-10-1945(2)

đến hết năm 1990 tăng lên thêm 104 nước Như vậy phong trào giải phóng dân tộc trên nguyên tắc tự quyết dân tộc về cơ bản đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình Đa số các nhà chính trị và học giả, đặc biệt là các học giả ở những nước đang phát triển cho rằng trong quá trình tiếp tục xóa bỏ di sản của chủ nghĩa thực dân, quyền tự quyết dân tộc chủ yếu thể hiện ở việc các nhà nước dân tộc phải bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không cho phép các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của mình Do vậy quyền tự quyết dân tộc hiện nay gắn làm một với việc bảo vệ chủ quyền quốc gia Việc vận dụng nguyên tắc tự quyết dân tộc nằm ở mối quan hệ liên quốc gia, ở bình diện xã hội quốc tế chứ không phải là ở bên trong quốc gia Khác với hiện tượng li khai dân tộc đó là vấn đề ở bên trong của một quốc gia có chủ quyền Li khai dân tộc là lạm dụng quyền tự quyết dân tộc Nó không phải là một bộ phận hợp thành của phong trào giải phóng dân tộc Giải quyết xung đột li khai dân tộc là vấn đề nội bộ của quốc gia, không nằm trong phạm trù nguyên tắc tự quyết dân tộc của thời đế quốc chủ nghĩa và thời kỳ phi thực dân hóa Nhưng cũng có những nhà chính trị, các học giả, đặc biệt là ở phương Tây ủng hộ quyền hoàn toàn tự quyết của tất cả mọi dân tộc, kể cả những dân tộc thiểu số rất ít người muốn tách ra khỏi quốc gia dân tộc Họ đồng nhất hiện tượng li khai dân tộc với quyền tự quyết dân tộc, gắn nó với lĩnh vực nhân quyền, cho rằng nhân quyền cao hơn chủ quyền Họ đã lợi dụng những hiện tượng

li khai dân tộc vào mục đích chính trị và làm phương tiện sách lược để can thiệp vào công việc của các nước khác Họ cho rằng sự gia tăng của các quốc gia dân tộc trong Tổ chức Liên Hợp Quốc là sự gia tăng của các nhà nước dân tộc cỡ nhỏ Các quốc gia này xuất hiện không chỉ là kết quả của phong trào dân tộc và quá trình phi thực dân hóa mà còn là kết quả của sự phân rã dân tộc, li khai dân tộc Mọi người đều thừa nhận sự gia tăng của các thể chế "tiểu nhà nước" ít nhiều mang tính chất tự trị sẽ còn tiếp tục tăng

(2) Liên Hợp Quốc ban đầu có 51 thành viên sáng lập trong đó 50 nước tham dự Hội nghị Sanfrancisco Ba Lan không kịp dự Hội nghị nhưng đã ký vào Hiến chương ngay sau đó

Trang 27

lên Sự xuất hiện ngày càng nhiều phong trào giác ngộ ý thức dân tộc, những hiện tượng

li khai dân tộc và những đòi hỏi tự trị trong số các dân tộc thiểu số và ở các địa phương đây đó đang thách thức các nhà nước dân tộc

Những thế lực li khai dân tộc đang đòi hỏi vị trí chủ thể của mình ở trong nước và trên thế giới, họ đòi xét lại phạm vi địa lý sinh tồn cũng như vị trí chính trị hiện hành Thực tế đó đã va chạm xung đột tới tính toàn vẹn và thống nhất của nhà nước dân tộc

Nó đụng chạm tới "chủ nghĩa dân tộc quốc gia", đụng phải những nền văn hóa chính thức, những cái đã từng phủ nhận chúng hay ít nhất là hạ thấp chúng

Tôn trọng cá tính của các dân tộc trên cơ sở hài hòa và cân bằng giữa các dân tộc trong một quốc gia gắn với tự quyết dân tộc không có nghĩa là phải li khai dân tộc Ý tưởng muốn làm cho ranh giới dân tộc, tộc người và biên giới quốc gia nhập làm một e rằng không có ai làm nổi, kể cả người dã man Nếu có làm theo cái ý tưởng đó thì thế giới này sẽ đi về đâu? Các quốc gia dân tộc có hàng trăm dân tộc cùng chung sống như Inđônesia, Mỹ, Nga, Trung Quốc và các quốc gia dân tộc có hàng chục dân tộc phổ biến hiện nay trên thế giới có thể sẽ chia ra trong mỗi quốc gia thành hàng chục tiểu quốc gia dân tộc nữa Lúc đó Liên Hợp Quốc sẽ như thế nào Trật tự thế giới lúc đó sẽ ra sao?

Theo thống kê chưa đầy đủ thì từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, mỗi thập niên có từ 1,6 đến 3,9 triệu người bị chết trong các cuộc xung đột dân tộc 10,

tr 6 Liên Hợp Quốc lúc mới thành lập bao gồm hơn 50 quốc gia đến nay có tới 191 quốc gia Bán đảo Scandinavian là một minh chứng cho sự gia tăng của các quốc gia dân tộc Kể từ những năm 1900, do mâu thuẫn về quyền lực, Na uy tuyên bố li khai khỏi Thụy Điển Một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào tháng 8/1905 Đa số người dân

Na uy bỏ phiếu tán thành rút khỏi nhà nước liên bang Cơ quan lập pháp Thụy Điển cũng nhất trí phê chuẩn vấn đề li khai của Na uy vào ngày 4/10/1905, chấm dứt quá trình thống nhất lâu đời giữa họ 30 Hai nước đã tiến hành phân chia công bằng tất cả những

gì là của chung, từ lãnh thổ đến quy chế trao giải Nobel Đó là tấm gương li khai hòa

Trang 28

bình theo kiểu của người Bắc Âu Thông thường thì các hiện tượng li khai đều diễn ra trong cảnh đổ máu Đúng một trăm năm sau trên bán đảo Balkan, nước Cộng hòa Montenegro, thành viên của Liên bang Cộng hòa Serbia và Montenegro cũng chia tay với nhà nước liên bang Từ năm 1946 đến năm 1991 Montenegro nằm trong Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Nam Tư bao gồm nước Cộng hòa Croatia, Slovenia, Bosnia - Herzegovina, Serbia và Maxêđônia Liên bang Nam Tư tan rã năm 1991 khi các nước cộng hòa tuyên bố nền độc lập của mình Năm 1992 Serbia và Montenegro tuyên bố kế thừa Liên bang Nam Tư, lấy tên là Liên bang Cộng hòa Nam Tư Năm 2003 Liên bang Nam Tư thay đổi hiến pháp mới, trao quyền tự trị lớn hơn cho 2 nước cộng hòa kể cả việc tiến hành trưng cầu dân ý về nền độc lập hoàn toàn Mặc dầu có sự dàn xếp của EU

để duy trì Liên bang Nam Tư nhưng mâu thuẫn giữa họ ngày một tăng Ngày 21/5/2005 Montenegro tiến hành cuộc trưng cầu dân ý Theo kết quả, đa số người dân Montenegro với dân số xấp xỉ 700.000 người sẽ tách khỏi Liên bang Nam Tư trên 10 triệu người để thành lập một nhà nước độc lập Hai bên tiến hành thủ tục phân chia lại biên giới, lãnh thổ, tài sản Ngày 16/6/2006 Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết công nhận nước Cộng hòa Montenegro 41

Theo chiều hướng này, chiến tranh xung đột sắc tộc, li khai dân tộc còn tiếp tục gia tăng Những “vùng xám” của thế giới vẫn cứ mở rộng Điều làm mọi người quan tâm

là giải quyết vấn đề xung đột li khai dân tộc như thế nào? Người ta dự đoán số thành viên Liên Hợp Quốc sẽ tăng thêm hàng chục thành viên nữa trong thời gian tới Vấn đề xung đột dân tộc, li khai dân tộc đang nổi lên và trở thành vấn đề cấp bách của thực tiễn và lý luận mà nhân loại phải giải quyết

Trang 29

Chương 2: HIỆN TƯỢNG LI KHAI DÂN TỘC Ở MỘT SỐ NƯỚC

ĐÔNG NAM Á TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Thực ra hiện tượng li khai dân tộc ở Đông Nam Á đã phát sinh và gắn liền với quá trình phi thực dân hóa ngay từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Hiện tượng li khai dân tộc diễn ra ở Penang Malaysia, ở những vùng tộc người Karen Mianma, ở Ambon Inđônêsia 2, tr.55 Tuy nhiên những hiện tượng li khai này đều không thành công và không đi đến một kết quả nào, thậm chí không có một tiếng vang nào Nguyên nhân trước hết là do phong trào li khai trong thời gian này không đại diện cho dân tộc, tộc người, không phù hợp với xu thế phát triển chung trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập chủ quyền Tiếp theo là do phong trào nhỏ yếu, xuất hiện ở những vùng cư dân phân tán Điểm giống nhau của các cuộc nổi dậy li khai thời kì này là đều diễn ra trong thời gian chuyển tiếp sau công cuộc phi thực dân hóa Chúng đều xuất hiện

ở các vùng ngoại vi, xa trung tâm của các nước mới giành độc lập, chính quyền còn non trẻ Chúng là sản phẩm còn rơi rớt lại của chính sách chia để trị, sản phẩm của chính sách kiềm chế phong trào giải phóng dân tộc

Vào cuối những năm 1970, cuộc chiến tranh lạnh đi vào giai đoạn cuối Bầu không khí hòa hoãn đã xuất hiện trong cả hai phe Ở Đông Nam Á, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân đội khỏi miền Nam Việt Nam và dần dần rời bỏ các căn cứ quân sự tại khu vực Đông Nam Á Một số hiện tượng li khai dân tộc đã xuất hiện trở lại

ở Inđônêsia, Philippin và Thái Lan Ban đầu giới quan sát trong và ngoài khu vực không chú ý tới Tất cả đều dồn sự quan tâm đến cuộc chạy đua nước rút trong thế cờ tàn của cuộc chiến tranh lạnh Đặc biệt là cuộc cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam - Campuchia và cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung mà báo chí phương Tây gọi là

“cuộc chiến tranh giữa những người anh em đỏ” Những cuộc chiến tranh này đã kéo theo tất cả các nước Đông Nam Á vào thế đối đầu Vì vậy, những hiện tượng li khai dân tộc ở một số nước bị chìm đi Ngoại trừ hiện tượng ly khai dân tộc ở Mindanao Philippin, một số hiện tượng ly khai dân tộc ở các nước khác đều chưa đạt được mục đích và chưa có được một “tầm vóc” đáng kể nào 2, tr 342 Vấn đề này chỉ thực sự thu hút sự chú ý của dư luận vào những năm sau chiến tranh lạnh Hiện tượng li khai dân tộc phát triển mạnh mẽ trong một bối cảnh khu vực và quốc tế mới

Trang 30

Trong khu vực, có một số yếu tố tác động trực tiếp đến xung đột li khai dân tộc

Về mặt kinh tế, sau hàng thập niên thực hiện chính sách tự do có sự điều tiết của nhà nước, tốc độ phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia có những bước tiến thần kỳ Việc tiến hành công nghiệp hóa thành công đã tạo ra một tầng lớp tư bản và giai cấp trung lưu dân tộc Đồng thời nó cũng tạo ra nhiều vấn đề về xã hội Khoảng cách phát triển giữa trung tâm và ngoại vi, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, khoảng cách giữa thành thị

và nông thôn, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo quá lớn Mâu thuẫn trong xã hội theo đà phát triển kinh tế cũng ngày một sâu sắc, góp phần thúc đẩy và làm gay gắt thêm xung đột li khai dân tộc

Một yếu tố nữa ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề li khai dân tộc ở các quốc gia Đông Nam Á là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính bắt đầu từ Thái Lan và lan rộng khắp khu vực vào năm 1997-1998 Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, đồng tiền ở nhiều nước mất đi khoảng 50% giá trị Nhiều nền kinh tế lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đời sống nhân dân từ thành thị tới nông thôn chao đảo Bất ổn kinh tế lan tới chính trường Biểu tình bạo loạn diễn ra khắp Inđônêsia, Philippin và Thái Lan, đòi hỏi cải thiện tình hình kinh tế và thực thi dân chủ Những rối loạn chính trị và chiều hướng dân chủ đến lượt nó lại làm trầm trọng thêm xung đột li khai dân tộc ở các quốc gia

Một sự kiện đáng chú ý nữa là sau chiến tranh lạnh, các nước Đông Nam Á đã tập hợp đầy đủ mười thành viên trong Tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Trong chặng đường phát triển của mình, ASEAN đã có nhiều đóng góp cho khu vực nói riêng và quốc tế nói chung Về tình hình an ninh chính trị, các nước ASEAN cam kết tôn trọng chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Chính điều này là một nhân tố rất tích cực, ít nhất nó cũng không làm trầm trọng thêm tình hình li khai dân tộc trong khu vực và góp phần không nhỏ trong việc ngăn ngừa mưu toan quốc tế hóa vấn đề li khai dân tộc ở Đông Nam Á Điều này khác hẳn với các khu vực khác trên thế giới, nơi vấn đề

Trang 31

li khai dân tộc ở một nước này luôn bị nước khác lợi dụng, làm cho tình hình càng thêm phức tạp(1)

Trên thế giới, sau chiến tranh lạnh, cạnh tranh kinh tế diễn ra quyết liệt trong cơn lốc toàn cầu hóa Lực lượng chính chi phối toàn cầu hóa là ba trung tâm Mỹ, Nhật, Tây

Âu và một số cường quốc khác Toàn cầu hóa đã khoét sâu mâu thuẫn Bắc - Nam, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bần cùng hóa một bộ phận lớn nhân dân các nước đang phát triển Thế giới bước vào đầu thế kỷ XXI nghèo hơn, bất công hơn nhiều so với nửa thế kỷ trước Tính hai mặt của toàn cầu hóa làm bùng nổ sự xung đột giữa tính dân tộc và tính toàn cầu, đe dọa an ninh chủ quyền, bản sắc văn hóa dân tộc Hậu quả tất yếu là một

bộ phận những người cùng khổ bị gạt ra ngoài lề cuộc sống Chính bộ phận này trở thành những người lính tham gia vào những cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo, li khai dân tộc

Sau chiến tranh lạnh, cục diện chính trị thế giới thay đổi rõ rệt Ngày 26 tháng 12 năm 1991 Xô Viết tối cao thông qua nghị quyết giải thể Liên bang Xô Viết Cùng với những rối loạn chính trị làm tan rã Liên Xô, ở Liên bang Nam Tư, Cộng hòa Croatia, Slovenia tuyên bố độc lập, tách khỏi nhà nước liên bang Tiếp đó Maxêđônia, Bosnia - Hezegovina cũng không còn là những người anh em trong cộng đồng này nữa Năm

1992 Serbia và Montenegro tuyên bố kế thừa Liên bang Nam Tư, tạo ra 5 nước cộng hòa trên đất Nam Tư cũ, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được Liên Hợp Quốc và Tổ chức

An ninh và Hợp tác châu Âu thừa nhận

Tình hình li khai dân tộc cũng diễn ra ở Tiệp Khắc và một loạt các nước châu Phi… Như vậy, trên thế giới chỉ trong vòng một vài năm đã xuất hiện một loạt các quốc gia dân tộc mới, làm cho số lượng các quốc gia tăng lên gần 1/10(1)

Dù xét theo quan điểm nào thì những sự kiện xảy ra ngay sau chiến tranh lạnh đã làm cho các phần tử cực đoan dân tộc, các thế lực li khai dân tộc ở các khu vực, trong đó có Đông Nam Á được kích thích, được tiếp thêm sức mạnh thực hiện các mục tiêu mà họ đã đề ra

(1)

Ấn Độ ủng hộ lực lượng li khai dân tộc “Những con hổ giải phóng Tamil” ở Xrilanka Pakistan hậu thuẫn lực lượng li khai Hồi giáo chống lại quyền kiểm soát của Ấn Độ ở Kashmir…

(1) Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc tăng số lượng các quốc gia dân tộc sau năm 1991 không phải là do vấn

đề li khai dân tộc đưa đến Nó là kết quả của sự thay đổi to lớn tính chất xã hội cũng như sự đảo lộn hệ tư tưởng

ở các quốc gia nói trên Nó là sản phẩm kết thúc và còn rơi rớt lại của cục diện chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống đối kháng nhau Nhưng cũng có nhà nghiên cứu cho rằng đó là kết quả tích tụ về thảm kịch dân tộc từ những năm đầu thế kỷ XX, là sự thất bại của chính sách dân tộc, dẫn đến li khai dân tộc

Trang 32

Sự kiện cuối cùng là chủ nghĩa khủng bố tấn công vào các biểu tượng, sức mạnh của nước Mỹ: Tháp đôi và Lầu Năm Góc Hoa Kỳ đã điều chỉnh lại chiến lược toàn cầu, phát động cuộc chiến tranh chống khủng bố quốc tế Mỹ công khai thực hiện chiến lược

“đánh đòn phủ đầu” với các quốc gia “không thân thiện” Mỹ đã tấn công và lật đổ các chính quyền ở Apganistan năm 2001, Iraq năm 2003; thiết lập các chế độ thân Mỹ, đồng thời tạo ra sự hiện diện về quân sự và chính trị của Mỹ ở Trung Á, Trung Đông nhằm kiểm soát khu vực có vị trí địa chính trị rất quan trọng nằm trên ngã ba châu Âu - châu Á

- châu Phi Sự hiện diện của Mỹ ở khu vực này, cùng với cuộc chiến chống khủng bố đã thổi bùng lên những tư tưởng dân tộc, tôn giáo cực đoan, làm gay gắt và phức tạp thêm vấn đề li khai dân tộc mà các quốc gia mà Đông Nam Á là một trong những tâm điểm

2.1 Li khai dân tộc ở Inđônêsia

2.1.1 Tổng quan

Cộng hòa Inđônêsia bao gồm phần lớn quần đảo Malay Diện tích nếu tính cả vùng biển là gần 5 triệu km2, trong đó phần lãnh thổ chiếm 1.904.569 km2 Inđônêsia là một trong những quốc đảo lớn nhất Đông Nam Á và thế giới Quốc gia này có tới trên 13.500 hòn đảo Về thành phần dân tộc, Inđônêsia là quốc gia đa dân tộc và là quốc gia

có thành dân tộc phức tạp nhất trên thế giới Hiện nay Inđônêsia có tới gần 400 tộc người lớn nhỏ, nói hơn 200 ngôn ngữ và thổ ngữ khác nhau Tuy số tộc người nhiều nhưng đại

bộ phận dân số đều thuộc chủng tộc Nam Á, một chủng nằm giữa hai chủng Môngôlôid

và Australôit

Năm 1945 Inđônêsia tuyên bố độc lập Nhưng sau đó Inđônêsia lại rơi vào ách thống trị thực dân một lần nữa Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Sukarno, năm 1949 Inđônêsia chính thức giành lại nền độc lập từ thực dân Hà Lan Năm 1967, Suharto được Hội đồng tư vấn nhân dân bầu làm Tổng thống Inđônêsia Dưới sự lãnh đạo của ông, Inđônêsia đã chấm dứt thời gian đối đầu với Malaysia Từ năm 1968 Tổng thống Suharto

đã ban hành “sắc lệnh mới” (new order) nhằm chủ trương tăng cường kiểm tra, giám sát lực lượng vũ trang, cốt để biến lực lượng này thành chỗ dựa vững chắc trong hệ thống tổ chức và hoạt động của chính phủ Tổng thống Suharto là biểu tượng của trung tâm quyền lực Tất cả các chính sách chủ yếu do ông quyết định Lực lượng vũ trang là công cụ đắc

Trang 33

lực của chính quyền Ngoài ra, Tổng thống Suharto còn có chỗ dựa vững chắc là Đảng Golka(1), một đảng chiếm hầu hết ghế trong Hạ viện Inđônêsia

Tổng thống Suharto là người ủng hộ phương Tây và được phương Tây ủng hộ Mặc dù trong 2 nhiệm kỳ đầu nhiều nhà máy thuộc sở hữu nhà nước vỡ nợ (10 tỉ USD)

đe dọa tới nền tài chính của Inđônêsia nhưng Chính phủ Mỹ và các nước phương Tây đã cứu giúp phục hồi nền kinh tế của nước này Vào đầu những năm 1980, Suharto thay đổi chính sách kinh tế, hướng tới xuất khẩu bằng chính sách mở cửa, thúc đẩy đầu tư nước ngoài, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế Suharto đã thực hiện một loạt những cải cách trên một phạm vi rộng lớn nhằm cắt giảm các chi phí, tăng cường sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu Những chính sách của Suharto đã đem lại sự tăng trưởng kinh tế liên tục

từ những năm 1980 đến đầu những năm 1990 Thế nhưng, sự phát triển kinh tế của Inđônêsia không phải là sự phát triển bền vững, hài hòa Cùng với sự phát triển là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở trong nước Sự bất bình đẳng về kinh tế, xã hội lớn dần lên ở đất nước trên 200 triệu dân và đặc biệt trầm trọng ở nông thôn, những vùng ngoại

vi cùng với sự bùng nổ của dân số Bên cạnh tầng lớp trung lưu khá giả là tầng lớp lao động nghèo khổ ngày càng bần cùng hơn Trình độ sản xuất ở nhiều vùng không khác gì thời nguyên thủy Phần lớn tài sản của Inđônêsia tập trung trong tay tầng lớp tư bản người Hoa, người bản địa thân quen với các quan chức cao cấp, tập trung vào gia đình họ hàng Tổng thống Suharto Mỗi người con của ông nắm giữ một lĩnh vực kinh doanh, có chung cổ phần với các công ty hàng đầu của người Hoa và quan hệ rất chặt chẽ với các

xí nghiệp, giới chóp bu quân đội Tổng thống Suharto trở thành người giàu có thứ 6 trên thế giới với số vốn lên tới trên 16 tỉ USD 3, tr 275

Sự chống đối Suharto trở nên mạnh mẽ vào đầu những năm 1990 Đối thủ lớn nhất của chính quyền Suharto là những lãnh tụ Hồi giáo, thủ lĩnh đối lập ở những vùng ngoại vi và những chính khách, tầng lớp sinh viên bất bình bởi sự tham nhũng và vi phạm nhân quyền của bộ máy chính phủ, quân đội Chính quyền Suharto đã hạn chế, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của sinh viên, báo chí và phe đối lập Thế nhưng cuộc

(1) Đảng Golka là một trong 3 đảng lớn nhất ở Inđônêsia Hai đảng khác là Đảng Hợp nhất phát triển và Đảng Dân chủ Inđônêsia Đảng Golka là tổ chức của các nhóm chức nghiệp, tổ chức xã hội liên kết với quân đội

Trang 34

khủng hoảng kinh tế – tài chính ở Inđônêsia đã giáng đòn quyết định vào sự tồn tại của chính quyền Suharto.Tầng lớp trung lưu thành thị, những người nghèo trên khắp đất nước và sinh viên là những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Giá hàng hóa, lương thực, thực phẩm tăng vọt từng ngày Họ đã đứng lên đấu tranh mạnh mẽ Bạo lực leo thang ở gần như tất cả các thành phố Quân đội chính phủ giết hại hàng trăm người nhưng vẫn không ngăn cản được làn sóng bất ổn ngày một gia tăng Ngày 21 tháng 5 năm 1998 Tổng thống Suharto buộc phải từ chức Tổng thống B Habibie lên thay thế tiến hành cải cách, bãi bỏ những chính sách hà khắc của chính quyền tiền nhiệm Các tỉnh được trao quyền lớn hơn về mặt tài chính Những đặc quyền đặc lợi của gia đình Tổng thống Suharto bị hủy bỏ… Cuộc bầu cử vào cuối năm 1999 đưa Abduraman Wahit lên nắm quyền Vào giữa năm 2000, Wahit liên quan đến một vụ tham nhũng Ngày 23 tháng 4, Hội đồng tư vấn nhân dân bỏ phiếu phế truất Tổng thống Wahit Phó tổng thống Megawati Sukarnoputri được lựa chọn lên thay thế cho đến năm 2004

Xung đột dân tộc ở Inđônêsia xảy ra ở nhiều nơi như Aceh, Papua, Moluca, Kalimantan Nhưng xung đột dân tộc mang tính chất li khai dân tộc rõ ràng nhất là ở Tây Papua và Aceh

2.1.2 Li khai dân tộc ở Tây Papua

Tây Papua là tỉnh nằm ở cực Đông của Inđônêsia, bao gồm nửa phía Tây của đảo New Guinea Tỉnh này có diện tích 421.981 km2, chiếm khoảng 1/15 toàn bộ lãnh thổ đất nước Nơi đây là thiên đường của tự nhiên, có hệ thực động vật vào loại phong phú nhất thế giới Dân số Papua khoảng gần 3.000.000 người Người dân chủ yếu sống ở vùng nông thôn, rừng núi dọc theo nguồn nước của các con sông, suối Khoảng 1/4 dân số sống tập trung ở các đô thị nhỏ ở vùng đất thấp, bằng phẳng và thung lũng của các con sông Thủ phủ của Tõy Papua là Jaya pura

Dân cư bản địa Tây Papua có khoảng 1,3 triệu người nói ngôn ngữ thuộc nhóm đảo Nam Thái Bình Dương Mêlanêdi Mặc dù ngôn ngữ Bahasa Inđônêsia là ngôn ngữ chính thức nhưng người dân bản địa nói khoảng 250 thổ ngữ khác nhau Nghề nghiệp chính của người Tõy Papua là làm nông nghiệp khô Cây trồng chính là các loại khoai, sắn Ngoài ra họ còn trồng mía, chuối Ở phía Tây và vùng ven biển người Papua sử

Trang 35

dụng rìu sắt làm công cụ lao động Còn ở vùng núi, rìu đá vẫn còn thịnh hành Cư dân gần biển trồng dừa, đánh bắt cá, tôm Vật nuôi làm thực phẩm chủ yếu là lợn, chó và gà

Theo các nhà nghiên cứu, cách đây khoảng 50.000 năm, ở Papua đã có người định cư Đầu tiên là những cư dân di cư đến từ các đảo phía Đông của Inđônêsia Sau này, một số nhà buôn nước ngoài cũng đặt chân lên mảnh đất này làm ăn sinh sống Người Bồ Đào Nha đã tìm đến Papua vào những năm 1500 Năm 1828, Hà Lan tuyên bố Tõy Papua, nửa phía Tây hòn đảo New Guinea là lãnh thổ Đông Ấn thuộc Hà Lan Khi Cộng hòa Inđônêsia thành lập năm 1949, Hà Lan vẫn duy trì chủ quyền thực dân của mình ở Tõy Papua Năm 1962, Tướng Suharto đem quân đội tiến vào khu vực này nhằm giành quyền kiểm soát từ người Hà Lan Sau một thời gian, Mỹ làm trung gian hòa giải, Tõy Papua được đặt dưới sự quản lý của Liên Hợp Quốc Năm 1963, Tây Papua được chuyển giao cho Inđônêsia với điều kiện người dân ở đây sẽ tiến hành cuộc trưng cầu dân ý để quyết định vận mệnh tương lai của mình Năm 1969, Tõy Papua tiến hành bỏ phiếu, đa số cư dân chấp nhận Tõy Papua trở thành tỉnh thứ 26 của Inđônêsia Năm

1973, Tổng thống Suharto đặt tên tỉnh là Irian Jaya Từ năm 1970 đến đầu những năm

1990, Chính phủ Inđônêsia được sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới và các tổ chức kinh

tế tài chính khác đẩy mạnh chương trình nhập cư và khai thác nguồn tài nguyên ở tỉnh này Trên 200.000 người từ Java đã tới Irian Jaya Hơn 50.000 người tự nguyện từ các vùng khác cũng chuyển về đây làm việc Khoảng 10.000km2

rừng ở vùng đất thấp đã được thu hồi để lập nên những khu định cư và giao cho những người dân mới đến khai hoang Những người nhập cư mới chủ yếu là những người theo đạo Hồi, trong khi đó những người dân bản địa phần lớn theo tín ngưỡng cổ truyền và đạo Thiên Chúa Sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo cùng với những vấn đề phát sinh về quyền sở hữu đất đai, tài nguyên đã tạo ra nhiều vấn đề xã hội và gây ra sự bất ổn trong vùng

Papua là tỉnh kém phát triển nhất của Inđônêsia Nhưng nơi đây nguồn tài nguyên thiên nhiên lại rất phong phú Mỏ đồng ở Puncak là mỏ đồng lớn nhất thế giới Trữ lượng vàng khai thác ở mức trung bình Ngoài ra tỉnh này còn nguồn gỗ rừng, khí đốt và dầu mỏ trữ lượng khá lớn Nhưng việc khai thác các nguồn lợi không trực tiếp đem lại lợi ích cho người dân bản địa Điều này dẫn tới sự bất mãn và hình thành tổ chức li khai

Trang 36

Papua Phong trào Papua tự do xuất hiện từ những năm 1960 nhưng phải đến những năm

1980 mới phát động cuộc chiến đấu vì nền độc lập của họ Đỉnh cao của phong trào diễn

ra vào sau chiến tranh lạnh

Người ta thường đề cập đến chín nhân vật chính trị lãnh đạo phong trào li khai ở Papua Nhưng người được nhắc đến nhiều nhất và có ảnh hưởng nhất ở trong và ngoài nước là Moses Werror, Chủ tịch Hội đồng cách mạng Phong trào Papua tự do Moses Werror sinh năm 1936 ở đảo Moor thuộc Tây Papua Dưới thời thực dân Hà Lan Moses Werror đã được đào tạo để trở thành giáo viên Nhưng Moses Werror không theo nghề này Năm 1956, Moses Werror tiếp tục học tại Trường Cao đẳng dạy nghề Kautical, thủ phủ của Papua (nay là Jayapura) Năm 1958, Moses Werror quyết định tới Inđônêsia theo đuổi sự nghiệp học hành Năm 1961, trong kỳ thi gồm khoảng 3000 thí sinh, Moses Werror có tên trong danh sách 93 người đỗ đầu tiên Sau đó Moses Werror ghi tên theo học khoa chính trị tại một trường đại học ở Giacácta

Năm 1962 Moses Werror được biệt phái làm việc tại Đại sứ quán Inđônêsia ở Australia Sau một thời gian, năm 1964 Moses Werror trở về Giacácta Năm 1969 Moses Werror bị bắt giữ vì đã tham gia biểu tình đòi độc lập cho Papua ở Jayapura Tháng 8 năm 1971 Moses Werror cùng với gia đình trốn tới Papua New Guinea Từ đó Moses Werror trở thành nhà tổ chức, nhà lãnh đạo hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao của Phong trào Papua tự do

Phong trào Papua tự do (Organisesi Papua Merdeka - OPM) là một tổ chức chính trị, chính thức thành lập và bắt đầu cuộc đấu tranh đòi độc lập vào năm 1964, một năm sau khi Tây Papua được tạm giao cho Inđônêsia cai quản Phong trào này đặt dưới sự lãnh đạo của Hội đồng cách mạng Papua tự do, có trụ sở ở thành phố Madang thuộc Papua New Guinea Tổ chức này chống đối lại nhà nước và các lực lượng an ninh Inđônêsia nhằm giành độc lập cho người dân Tây Papua 26

Về chính trị, những nhà lãnh đạo Phong trào Papua tự do đã đề ra đường lối chính trị

cụ thể qua bảy giai đoạn Mỗi giai đoạn kéo dài năm năm với những mục tiêu khác nhau:

Trang 37

- Giai đoạn 1 (1964-1969): chuẩn bị thi hành Luật lựa chọn tự do năm 1969

- Giai đoạn 2 (1970-1975): xây dựng Phong trào Papua tự do vững mạnh

- Giai đoạn 3 (1976-1981): sắp xếp lại các nguồn lực, tập hợp các lực lượng đấu tranh giành độc lập

- Giai đoạn 4 (1982-1987): thành lập ban lãnh đạo lâm thời

- Giai đoạn 5 (1988-1993): tiến hành các chiến dịch ngoại giao trên trường quốc

tế để công nhận nhà nước Tây Papua

- Giai đoạn 6 (1994-1999): khôi phục chủ quyền quốc gia Tây Papua

- Giai đoạn 7 (2000-2005): xây dựng nhà nước Tây Papua

Trong quá trình đấu tranh, một số mục tiêu của ban lãnh đạo đề ra OPM phần nào

đã thực hiện được Tuy nhiên vào những năm 1970, nội bộ phong trào có sự bất đồng và chia thành các phe phái Một phái tách ra do Prai đứng đầu Phái còn lại do Roemkorem chỉ huy Mỗi phái đều cho mình là đại diện chân chính cho Phong trào Papua tự do Họ tranh giành ảnh hưởng, địa bàn hoạt động, thậm chí nảy sinh xung đột làm cho người dân bản địa hoang mang dao động Chính sự chia rẽ trong nội bộ tổ chức đã làm suy yếu sức mạnh của OPM

Về quân sự, lực lượng quân sự của Phong trào Papua tự do nhỏ bé, vũ khí thô sơ Ngoài súng trường các chiến binh còn có cung nỏ Họ tập hợp nhau lại thành các nhóm nhỏ, dựa vào rừng núi để hoạt động du kích Họ thường xuyên tấn công vào các cá nhân, các nhóm người không phải là người bản địa Thỉnh thoảng, họ tập kích vào các công sở,

vị trí đóng quân của các lực lượng an ninh Inđônêsia Khi bị tấn công, họ rút vào rừng sâu hoặc trốn sang bên kia biên giới Papua New Guinea Năm 1984, lực lượng vũ trang OPM đã tổ chức tấn công vào thủ phủ tỉnh Tây Papua, một thành phố mà những người dân bản địa không chiếm ưu thế Cuộc tấn công nhanh chóng bị các lực lượng an ninh Inđônêsia dập tắt Sau thất bại này, hàng nghìn người lo sợ trả thù đã di tản sang bên kia biên giới của nước láng giềng

Giao tranh giữa hai bên kéo dài hàng thập niên, lúc rộ lên, lúc lắng xuống, làm hàng trăm nghìn người bị chết Những chiến dịch truy quét, lùng sục kéo dài khiến dòng người tị nạn tăng lên và trở thành vấn đề nhân đạo mà dư luận ngày một quan tâm Theo

Trang 38

thống kê của các tổ chức phi chính phủ, số người nhập cư và sống ở các trại tị nạn Papua New Guinea lên tới 14.000 người vào đầu những năm 1990

Phong trào đấu tranh của tổ chức li khai dân tộc Papua tự do lên tới đỉnh cao sau khi chiến tranh lạnh kết thúc và sau khi một số lãnh thổ ở Nam Thái Bình Dương giành được độc lập Đặc biệt, sau khi lực lượng li khai Đông Timo giành được thắng lợi trong cuộc trưng cầu dân ý, thành lập nhà nước Đông Timo

Các lực lượng vũ trang OPM mở nhiều cuộc tập kích vào các cơ quan, vị trí quân

sự, kho tàng Quân đội Inđônêsia được điều động tới nhằm tăng cường kiểm soát, giữ vững sự ổn định Các chiến dịch vây ráp, bắt bớ, giết chóc của các lực lượng an ninh như

đổ thêm dầu vào lửa khiến cho sự bất bình của người dân bản địa ngày một lên cao Cuối năm 1996 các lực lượng vũ trang OPM đã bắt giữ nhiều con tin người nước ngoài Nhiều quốc gia và các tổ chức đã lên án hành động "khủng bố" của OPM Sau một thời gian thu hút sự chú ý của dư luận và đưa ra những yêu cầu về độc lập, OPM trao trả gần hết số người bị bắt làm con tin Tháng 7 năm 1998, OPM tiến hành treo lá

cờ trên một tháp nước, biểu tượng cho nước Cộng hòa Tây Papua độc lập được các nhà lãnh đạo tổ chức OPM chấp nhận từ những năm 1970 Lá cờ được treo trên tháp nước Kota Biak trên đảo Biak Quân đội Inđônêsia đã phá hủy tháp nước và tiến hành một cuộc tàn sát trên khắp đảo

Điểm nổi bật và đáng chú ý nhất là hình thức đấu tranh tuyên truyền, ngoại giao của Phong trào Papua tự do Những nhà lãnh đạo chính trị, tiêu biểu là Moses Werror, người đã tìm mọi cách tuyên truyền để tranh thủ sự chú ý của cộng đồng quốc tế Ông đã kiên trì gửi đơn thỉnh cầu tới nguyên thủ các nước ở Nam Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp tác Nam Thái Bình Dương Ông cũng gửi đơn tới Phong trào không liên kết, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Liên Hợp Quốc phản đối "chính sách thực dân" của Inđônêsia và đề nghị công nhận nền độc lập của dân tộc Tây Papua

Những vấn đề các nhà lãnh đạo Phong trào Papua tự do đã lưu ý dư luận, thứ nhất

đó là các tộc người ở Tây Papua cũng giống như các tộc người ở Papua New Guinea thuộc nhóm ngôn ngữ Mêlanêdi, nhóm dân tộc ở quần đảo Nam Thái Bình Dương; họ

có lịch sử, có nền văn hóa, chủng tộc và địa lý không liên quan tới các dân tộc ở

Trang 39

Inđônêsia Người Java khinh miệt họ, gọi họ là những tộc người dã man Họ thuộc về thế giới châu Đại Dương như Sôlômôn, Phigi, Kiribati, Vanuatu… Thứ hai, cuộc đấu tranh của người dân Tây Papua nhằm để thực hiện quyền dân tộc tự quyết, quyền thiêng liêng của các dân tộc được Hiến chương Liên Hợp Quốc công nhận Thứ ba, người dân Tây Papua đang bị chủ nghĩa thực dân mới thống trị Phong trào Papua tự do cho rằng Liên Hợp Quốc đã chuyển giao quyền thống trị từ tay thực dân Hà Lan sang tay thực dân Inđônêsia Hình thức hợp pháp hóa sự chuyển giao sai trái là Hiệp định New York(1) và Luật lựa chọn tự do năm 1969 OPM chỉ ra nội dung các điều khoản của Hiệp định New York và Luật lựa chọn tự do là những màn kịch giả dối, chỉ tạo điều kiện để hợp pháp hóa việc sáp nhập Tây Papua thành tỉnh thứ 26 của Inđônêsia Theo OPM, cuộc trưng cầu dân ý theo Luật tự do lựa chọn năm 1969 thực chất là gian dối, lừa bịp, một cuộc trưng cầu mà ngay cả các quan sát viên Liên Hợp Quốc cũng không được chứng kiến và

ai cũng biết trước kết quả hết sức đẹp đẽ cho Inđônêsia Thứ tư, OPM tố cáo Chính phủ Inđônêsia không quan tâm tới quyền lợi của người dân Tây Papua Những nguồn tài nguyên bị khai thác quá mức, trên phạm vi rộng lớn bởi nhà nước Inđônêsia và các công

ty đa quốc gia chỉ đem lại lợi nhuận cho Giacácta và các tập đoàn tư bản độc quyền, trong đó có gia đình Tổng thống Suharto Ở Tây Papua không có sự phát triển đáng kể nào ngoài sự đói nghèo, bệnh tật, ô nhiễm, tham nhũng Hàng nghìn người bản địa bị chết vì các chất thải công nghiệp độc hại gây ra Thứ năm, OPM lên án Chính phủ Inđônêsia đã tước bỏ quyền sở hữu đất đai truyền thống, vi phạm quyền con người, xâm hại nền văn hóa của các tộc người, cấm họ không được treo cờ, hát quốc ca của dân tộc, cấm họ không được hội họp, không được thành lập các đảng phái Họ bị phân biệt đối xử tàn tệ Họ bị coi là một vườn thú người (Human Zoo) Họ đang bị Java hóa Thứ sáu, Chính phủ Inđônêsia được sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới đã thực hiện chính sách nhập cư đầy tham vọng, đưa hàng triệu người từ các đảo Java, Madura, Combok và Bali tới Tây Papua xây dựng các khu kinh tế, các khu định cư Người dân Tây Papua đã trở thành dân tộc thiểu số trên mảnh đất của chính cha ông họ để lại Kết quả của chính sách nhập cư không giống như những mục tiêu cao đẹp mà Chính phủ Inđônêsia đã tuyên

(1) Dưới sức ép và sự trung gian hòa giải của Mỹ, một hiệp định giữa Hà Lan và Inđônêsia được ký năm 1962 tại New York

Trang 40

truyền, nó đẩy hầu hết người dân bản địa ra bên lề cuộc sống mà nạn nhân đầu tiên là phụ nữ và trẻ em Thứ bảy, Phong trào Papua tự do phản đối chính sách đàn áp dã man của quân đội Inđônêsia Hàng chục ngàn người dân vô tội bị bắt bớ, giam cầm, tra tấn, sát hại Quân đội Inđônêsia đã dùng máy bay ném bom nhiều vùng, đã sử dụng cả tàu chiến để bao vây, đã mở nhiều cuộc càn quét, lùng sục tới từng làng, từng nhà Trong các cuộc truy quét rất nhiều người dân bị giết chết và mất tích Hàng chục ngàn người đã phải rời bỏ nhà cửa chạy sang tị nạn ở nước láng giềng Papua New Guinea

Với những lý do trên, nhân danh các tộc người ở Tây Papua, phong trào Papua

tự do đã thỉnh cầu các tổ chức nhân đạo, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức ân xá quốc tế, các quốc gia hãy vận động và ủng hộ người dân Tây Papua để Liên Hợp Quốc trước hết huỷ bỏ Nghị quyết 2504 ngày 25 tháng 11 năm 1969, xem Tây Papua như là một phần lãnh thổ của Cộng hòa Inđônêsia Tiếp theo, Liên Hợp Quốc sẽ đưa trường hợp Tây Papua vào danh sách nước được trao trả độc lập, giao cho Uỷ ban

24(1) của Liên Hợp Quốc thực thi Cuối cùng Phong trào Papua tự do yêu cầu quốc tế hóa lãnh thổ Tây Papua, chuẩn bị những điều kiện tiến tới nền độc lập hoàn toàn, có khả năng hoàn thành vào cuối năm 2000

Những hoạt động ngoại giao, tuyên truyền của OPM, đặc biệt là của Moses Werror đã có những ảnh hưởng nhất định tới các tổ chức, các đảng phái chính trị trong nước và ngoài nước, nhất là đối với các nước vùng Nam Thái Bình Dương Trong những cuộc họp và hội thảo về trao trả độc lập cho các vùng lãnh thổ ủy trị do New Papua Guinea và một số nước khác đăng cai, một số tổ chức, các sinh viên sở tại, nhiều đại diện của các tộc người ở Tây Papua tham gia biểu tình, đưa kiến nghị yêu cầu xem xét giải quyết vấn đề Tây Papua Tuy nhiên những hoạt động ngoại giao, tuyên truyền của OPM không thu được nhiều kết quả Vì nhiều lý do, Inđônêsia được sự ủng hộ của Mỹ và phương Tây, được Phong trào không liên kết, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Diễn đàn hợp tác Nam Thái Bình Dương ủng hộ Nhìn chung các tổ chức và các quốc gia đều công nhận chủ quyền thống nhất của Inđônêsia Nếu vấn đề li khai ở Tây Papua xảy ra nó sẽ tác động xấu không chỉ tới tình hình chính trị Inđônêsia mà còn tác động tới

(1) Uỷ ban 24 người đại diện cho 24 quốc gia được LHQ ủy quyền xem xét và quyết định trao trả độc lập cho những lãnh thổ ủy trị của LHQ sau chiến tranh thế giới thứ hai

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Paseal Boniface (2002), Những cuộc chiến tranh trong tương lai, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
2. Clive J. Chistie (2000), Lịch sử Đông Nam Á hiện đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
3. Đỗ Lộc Diệp (chủ biên) (2003), Chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
4. D.G.E. Hall (1977), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
5. Samuel Hungtingtơn (2003), Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao động, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Quốc Hùng (2000), Quan hệ quốc tế thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Phan Ngọc Liên (chủ biên( (1999), Lược sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
8. Trình Mưu (chủ biên) (2005), Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
9. Vũ Dương Ninh (chủ biên) (2001), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
10. Nghiêm Văn Thái (chủ biên) (1995), Tộc người và xung đột tộc người trên thế giới hiện nay, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Anh Thái (chủ biên) (1998), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Duy Thiện (chủ biên) (1997), Các dân tộc ở Đông Nam Á, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Khác
13. Maridôn Tuarenơ (1996), Sự đảo lộn của thế giới địa chính trị thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
14. Trung tâm khoa học xã hội và thông tin quốc gia (2003), Khủng bố và chống khủng bố với vấn đề an ninh quốc gia. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
15. Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông - Tây (2001), Cuộc chiến tranh mới, Nxb Lao động, Hà Nội Khác
16. Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông - Tây (2003), Cuộc chiến không giới hạn, Nxb Lao động, Hà Nội Khác
17. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2001), Một số vấn đề lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác
18. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2004), Đông Á, Đông Nam Á những vấn đề lịch sử và hiện đại, Nxb Thế giới, Hà Nội Khác
19. Viện Thông tin khoa học, Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, Tổ chức ASEAN và các nước thành viên, tháng 7/1995 Khác
20. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2004), Chủ nghĩa khủng bố toàn cầu vấn đề và cách tiếp cận, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w