Từ việc nghiên cứu tiểu thuyết của một bộ phận tác giả trong một giai đoạn văn học cụ thể, chúng ta có thể nhận diện được sự đóng góp của các tác phẩm đó trong sự phát triển của đời sống
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HOÀNG ANH
TIỂU THUYẾT CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN NỮ HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HOÀNG ANH
TIỂU THUYẾT CỦA MỘT SỐ NHÀ VĂN NỮ HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI
Trang 3Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại từ góc nhìn thể loại
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 8
Chương 1: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI 9
1.1 Nhân vật di cư 11
1.1.1 Di cư trong không – thời gian 12
1.1.2 Di cư trong tâm thức 16
1.1.3 Di cư liên văn bản 21
1.2 Nhân vật biến mất 22
1.2.1 Biến mất về mặt hiện tồn 24
1.2.2 Biến mất về mặt ý nghĩa biểu trưng 27
1.3 Nhân vật phân thân 28
Chương 2: THỜI GIAN – KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 32
2.1 Thời gian nghệ thuật 32
2.1.1 Sự phá vỡ trật tự thời gian 34
2.1.2 Thời gian đồng hiện 39
2.1.3 Thời gian mở 42
2.2 Không gian nghệ thuật 43
2.2.1 Không gian tâm lí 43
2.2.2 Sự chuyển dịch và chồng xếp của không gian 46
Trang 4Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại từ góc nhìn thể loại
Chương 3: NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN 50
3.1 Người kể chuyện và điểm nhìn 50
3.1.1 Sự đa dạng hóa ngôi kể 54
3.1.2 Sự gia tăng, dịch biến điểm nhìn tự sự 58
3.2 Giọng điệu người kể chuyện 64
3.2.1 Giọng điệu trung tính, lạnh lùng, khách quan 64
3.2.2 Đa giọng điệu: châm biếm, triết lí, trữ tình, hài hước, 67
3.3 Ngôn ngữ 72
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 72
3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 74
Chương 4: NGHỆ THUẬT KẾT CẤU 77
4.1 Kết cấu tâm lí 78
4.2 Kết cấu lắp ghép phân mảnh 82
4.3 Kết cấu song hành xoắn vặn 89
4.4 Kết cấu lồng ghép 91
4.5 Kết cấu phản tiểu thuyết 93
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Trong nền văn học của nhân loại từ cổ chí kim, tiểu thuyết như một dòng cảm xúc chủ đạo, mãnh liệt nhất và liên tục nhất, nối dài hành trình tái hiện lịch sử tâm hồn của con người Bởi vậy mà, đánh giá sự hưng thịnh của mỗi nền văn học hay mỗi thời đại văn học, người ta thường đánh giá qua tiểu thuyết Từ việc nghiên cứu tiểu thuyết của một
bộ phận tác giả trong một giai đoạn văn học cụ thể, chúng ta có thể nhận diện được sự đóng góp của các tác phẩm đó trong sự phát triển của đời sống tiểu thuyết nói riêng và đời sống văn học nói chung; đồng thời, nhận diện được hiện thực lớn của đời sống tinh thần, tình cảm con người
mà thông qua những phương thức của thể loại, các nhà văn đã tái hiện chúng
1.2 Văn học hải ngoại là một bộ phận của văn học Việt Nam nói chung Cùng với bộ phận văn học trong nước, văn học hải ngoại đương đại ghi dấu ấn của mình vào chặng đường hiện đại hóa văn học nước nhà Nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đương đại sẽ giúp chúng ta thấy được vị trí, những đóng góp tiêu biểu của bộ phận tiểu thuyết này trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên những phương diện cốt yếu của thể loại Qua đó, hiện lên một cách rõ nét là hiện trạng đời sống, tâm tư, tình cảm của thế hệ những con người hiện đại sống và viết trong tâm thế, tâm thức ly hương Nó cung cấp một lăng kính để tìm hiểu những vấn đề của văn học Việt Nam hiện nay một cách rõ nét và đa dạng hơn
1.3 Nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn hải ngoại đương đại, chúng tôi quyết định lựa chọn sáng tác của các nhà văn nữ, bởi lẽ: Như một điều tất yếu, có thể thấy trong văn học hải ngoại đương đại sự thắng thế của các nhà văn nữ, đặc biệt là ở khu vực tiểu thuyết Họ vốn là
Trang 6những đối tượng dễ cảm biến Hơn ai hết, những người phụ nữ có thể nhận thức sâu sắc về thân phận lưu vong, nỗi bơ vơ, lạc lõng về gốc cội nên thao thiết hướng về truyền thống dân tộc; mặt khác, tâm hồn nhạy cảm, dễ thích nghi với đời sống khiến cho họ trở nên đa mang với những yếu tố văn hóa phương Tây hiện đại
Vì những lí do đó, chúng tôi chọn “Tiểu thuyết của một số nhà văn
nữ hải ngoại đương đại” làm đề tài nghiên cứu của mình Một mặt là để
nhìn nhận những đóng góp của các tác giả nữ hải ngoại đương đại trong việc làm mới thể loại tiểu thuyết, mặt khác là để nhận diện đời sống, thân phận của con người tha hương trong bối cảnh nền văn minh kỹ trị đang dần “thôn tính” vị trị của con người trong xã hội
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu bộ phận tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại như một đối tượng tự thân là việc chưa xuất hiện trong truyền thống nghiên cứu văn học trong nước Việc nhận định, đánh giá chỉ được kết hợp trong các công trình khoa học về văn học, tiểu thuyết Việt Nam sau
1975 hay đương đại, trong đó sát nhập sáng tác của các tác giả như Thuận hay Lê Ngọc Mai, Đoàn Minh Phượng trong bối cảnh đời sống sáng tác chung của văn học Việt Nam đương đại Có thể kể đến các
công trình như: Luận án tiến sĩ Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 – khảo sát trên nét lớn do Nguyễn Thị Bình thực hiện năm 1975; Tiểu luận Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 của nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu; Bài viết Sự vận động của các thể văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới của PGS TS Lý
Hoài Thu Cùng với đó là những công trình luận văn, luận án hay các các bài viết, phê bình trên mạng… Tất cả những công trình, bài viết trên đây là xuất phát điểm cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Trang 7Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề tiêu biểu, cốt lõi nhất trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đương đại mà qua
đó có thể nhận diện bộ phận tiểu thuyết này một cách rõ ràng, bao gồm: nhân vật, không – thời gian, nghệ thuật kể chuyện và kết cấu của tiểu thuyết
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu tập trung vào những tiểu thuyết tiêu biểu của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại Đó là những tác phẩm được viết bằng tiếng Việt, mang nhiều yếu tố cách tân
về mặt thể loại Bao gồm:
1 Chinatown (Phố Tàu) - Thuận
2 Paris 11/8 - Thuận
3 T mất tích - Thuận
4 Và khi tro bụi - Đoàn Minh Phượng
5 Mưa ở kiếp sau - Đoàn Minh Phượng
6 Tìm trong nỗi nhớ - Lê Ngọc Mai
7 Trên đỉnh dốc - Lê Ngọc Mai
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp loại hình, phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê văn bản, phương pháp tiếp cận thi pháp học… Lý thuyết mà chúng tôi áp dụng chủ yếu trong luận văn này đó là lý thuyết về tự sự học, văn hóa học,…
5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài các phần Mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, phần nội dung chính trong luận văn của chúng tôi gồm 4 chương:
Trang 8Chương 1: Nhân vật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại
đương đại
Chương 2: Thời gian - không gian nghệ thuật
Chương 3: Nghệ thuật kể chuyện
Chương 4: Nghệ thuật kết cấu
Chương 1 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI
Chúng ta thường thấy, nhân vật trữ tình trong các tác phẩm thơ ca chỉ hiện lên ở những khoảnh khắc của cảm xúc, nhân vật trong các vở kịch lại thường xuất hiện ở những thời điểm sóng gió nhất của tác phẩm, khi xung đột xảy ra Trong truyện ngắn, nhân vật cũng chỉ hiện lên vào thời điểm có ý nghĩa quyết định tới số phận và thường chỉ gắn bó với một hoặc hai sự kiện tiêu biểu Tất cả những điều đó đều được quyết định bởi những đặc trưng của từng thể loại
Trong tiểu thuyết, nhân vật hiện diện suốt từ đầu chí cuối tác phẩm và tham gia vào phần lớn các sự kiện diễn ra trong tác phẩm Và một trong những năng lực đặc biệt của tiểu thuyết đó là đi sâu khám phá số phận cá nhân, với những nếm trải, thăng trầm, biến thiên trong đời sống Hơn hẳn các thể loại khác, nhân vật tiểu thuyết sống một quãng đời dài với sự miêu tả cụ thể tỉ mỉ đến mức chi tiết từng bước đi của số phận
Trong công trình luận văn của mình, chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách phân loại mà mình cho là phù hợp nhất, dựa trên sự cụ thể hóa thế giới nhân vật đặc thù trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại mà chúng tôi nghiên cứu
Trang 91.1 Nhân vật di cƣ
Thứ nhất, “di cư” là trạng thái của nhân vật không bao giờ tồn tại
cố định trong một vị trí mà luôn tìm đến những thể nghiệm mới trong cuộc sống bằng sự chuyển dịch, có thể là chuyển dịch trong hệ trục không – thời gian, cũng có thể là dịch chuyển trong chính tâm thức của nhân vật Thứ hai, “di cư” là một đặc điểm thể hiện tâm thế bất ổn định của những kẻ mang thân phận lưu vong Hơn nữa, nó còn gợi lên được trạng thái của con người trong thế giới hiện đại – trạng thái bấp bênh, không có một sự vững định về cả vị trí lẫn tâm hồn
1.1.1 Di cư trong không - thời gian
Thời gian và không gian vốn là hai chiều quan trọng của cuộc sống con người Thời gian thường được ví như nước Nước chảy thuyền trôi Trên con thuyền cuộc sống đó, giống như một quy luật tất yếu, dù có
“chạy ngược trên chiếc thuyền xuôi/ Thì ta vẫn cứ phải trôi theo dòng” Trước hết là sự di cư của nhân vật trong không gian Trong sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại mà chúng tôi khảo cứu, có thể nhận thấy một
xu hướng chung của các nhân vật đó là lên đường cho mục đích kiếm
tìm Mai trong Mưa ở kiếp sau vào Sài Gòn tìm cha, đó là sự di cư trên những vùng không gian có thực Tôi trong Và khi tro bụi để có một “sự
chứng thực” mình, xác nhận sự tồn tại của mình cũng đã lựa chọn cách thức di cư đến những không gian mới trên một con tàu Lên đường trong
ý thức, hoặc những cuộc lên đường có thật đều phải bắt đầu từ những cuộc di cư trong các không gian khác nhau
Về thời gian, đi tìm mình, “tìm trong nỗi nhớ”, tìm khi “tro bụi rơi về”… đều dẫn các nhân vật vào quá khứ Hầu hết các nhân vật đều mang tâm trạng lưu vong, sống giữa hiện tại trong những ám ảnh, những ẩn ức
về quá khứ Vì thế, sự di cư thời gian diễn ra liên tục giữa hai mảng quá
khứ – hiện tại Nhân vật chính trong Tìm trong nỗi nhớ là Lan Chi, một
cô gái Hà Nội đang sống ở Pháp cùng chồng và con Thế nhưng cô liên
Trang 10tục đánh mất mình ở hiện tại, mà leo lên một chuyến tàu của tâm tưởng
để ngược về quá khứ Trong Chinatown của Thuận, nhân vật cũng không
ngừng di cư giữa hai chiều thời gian quá khứ – hiện tại để sống trong
những không gian khác nhau Trong tiểu thuyết Trên đỉnh dốc của Lê
Ngọc Mai, một hệ thống các nhân vật xuất hiện với tư cách các nhà khoa học, đều quy tụ dưới ngôi nhà số 4 phố Đồi Gió Hú Thế nhưng, mỗi một nhân vật đều có hơn một không gian để sống, là Việt Nam, là Nga, là Pháp và rất nhiều quỹ thời gian khác nhau: quá khứ gần, quá khứ xa, hiện tại…
Nhờ có đặc trưng của thể loại tiểu thuyết, nhân vật được nới rộng đến vô biên quỹ đạo không gian – thời gian của riêng mình
1.1.2 Di cư trong tâm thức
Thực chất của nó là sự chìm sâu của nhân vật trong những luồng suy tư bất định mà bản thân nhân vật cũng khó có thể kiểm soát được
mình Trong tiểu thuyết Chinatown của Thuận, tác giả đã để cho nhân
vật “tôi” độc diễn trong những cuộc di cư vào thế giới của tưởng tượng
và hồi tưởng Nhân vật “tôi” bùng nhùng trong một thế giới suy tưởng
mà ở đó không có ranh giới giữa quá khứ, hiện tại, giấc mơ, hiện thực, giữa Thụy, hắn, Nga, Pháp, Hà Nội, Chợ Lớn,…
Trong Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh Phượng, ta cũng bắt gặp
nhân vật Mai trong trạng thái vô thức Mai lên đường đi tìm cha của
mình cũng giống như “tôi” trong Chinatown, kiếm tìm thứ hạnh phúc
chính đáng của đời người Trên chặng đường ấy, liên tiếp có sự đan xen giữa hiện thực với giấc mơ – một thế lực vô hình từ trong bản năng chi phối, điều khiển hành động của Mai
Có thể nói, trong văn học thế giới đương đại, xu hướng con người ngày càng rời xa cái vỏ bên ngoài của mình để di cư vào trong một thế giới đầy bí mật, đầy phức tạp, những góc ẩn khuất của tâm linh là một xu hướng mới và ngày càng phổ biến Các nhà văn Việt Nam ở trong nước
Trang 11từ sau 1975 đến nay như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Tạ Duy Anh (Thiên thần sám hối), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Nguyễn Bình Phương (Thoạt kỳ thủy, Trí nhớ suy tàn),… cũng thường viết về kiểu
nhân vật này Tuy nhiên, tiểu thuyết của các tác giả trong nước ít đề cập tới vấn đề hữu danh và vô danh phận của con người mà chủ yếu là cật vấn lại quá khứ Trong khi đó, cảm thức lạc loài lại liên tục chi phối đến thế giới nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoải đương đại, khiến nhân vật liên tục phải tìm đến những cuộc “di cư” trong không gian – thời gian sống hay trong chính thế giới tinh thần của mình
1.1.3 Di cư liên văn bản
Khái niệm liên văn bản phá vỡ những quan niệm truyền thống về tính cố kết và độc lập của văn bản văn học, nhấn mạnh về những khả năng giao thoa giữa các văn bản với nhau, tạo nên tính đối thoại về ngữ nghĩa, về nội dung và cấu trúc giữa các văn bản
Kiểu nhân vật di cư liên văn bản có thể bắt gặp trong các tiểu
thuyết của Thuận mà Chinatown là một trường hợp điển hình Nhân vật Phượng trong Made in Việt Nam (tiểu thuyết đầu tiên của Thuận) dường
như “cuồng chân” ở một tác phẩm nên quay trở lại “ăn vạ” trong
Chinatown “Tôi” của Chinatown có thể di cư vào I’m yellow để cùng đi với “anh ta” – nhân vật chính của I’m yellow Nhân vật ở đây đã phá vỡ
cái tính chất cố kết bền vững của một cá thể văn bản, làm mất đi tính bền vững về cấu trúc của nó như trong các tiểu thuyết truyền thống Tiểu thuyết vì thế bắt buộc phải tạo ra những ô trống, những khoảng không để nhân vật thâm nhập vào bất cứ lúc nào
Trang 12và tính cách Thậm chí, nhân vật trong các tác phẩm còn bị triệt tiêu tới mức không nhân vật, hay phản nhân vật, tức chỉ là những ký hiệu, những biểu tượng, thậm chí mất dấu hoàn toàn trên văn bản
tò thóc mách; viên sếp tên Brunel với hành tung bí ẩn và cuộc tình éo
le giữa bà vợ Brunel với thằng trai trẻ có danh nghĩa là con nuôi trong nhà; chuyện tình tay ba giữa bố của “tôi” với người mẹ kế và người tình nóng bỏng… Có thể nói, ở đây việc nhân vật mất tích không còn là khả năng mà đã là sự tất yếu, vấn đề là con người ta chấp nhận nó như thế nào
Hay người chồng của nhân vật “tôi” trong Và khi tro bụi cũng đã
biến mất mà không có nhiều lời giải thích
1.2.2 Biến mất về mặt ý nghĩa biểu trưng
Có những nhân vật ban đầu được xây dựng như một biểu tượng, xuất hiện trong một thời lượng văn bản nhất định đủ để gây dựng một ý
nghĩa biểu trưng nào đó, sau đó thì biến mất Thụy trong Chinatown
chính là một nhân vật mang tính biểu trưng này Thụy chưa bao giờ xuất hiện bằng hình dáng cụ thể, bằng tiếng nói cụ thể Thụy đặc biệt chỉ xuất hiện trong quá khứ, trong tưởng tượng của nhân vật “tôi” và không bao giờ xuất hiện ở hiện tại, mặc dù luôn là đối tượng được tìm kiếm Thụy
Trang 13là quá khứ, là hạnh phúc mà “tôi” cất công kiếm tìm nhưng không một lần Thụy xuất hiện
Nhân vật Chi – hồn ma trong Mưa ở kiếp sau, không có thực nhưng
Chi đã theo Mai – nhân vật chính trong suốt hành trình đi tìm cha, đưa chân Mai tới động quỉ, dẫn dắt Mai làm những chuyện chỉ với một mục đích là trả thù người cha bội bạc Chi cũng là một thứ biểu tượng – là phần con người khác ẩn sâu trong Mai, là Mai nhưng cũng là đối kháng của Mai, là những mâu thuẫn của Mai Mai cần có hồn ma của Chi như cần một tiếng nói từ sâu thẳm trái tim mình, nhưng có lúc Mai cũng sợ vì Mai không thắng nổi, Mai bị chi phối bởi nó
Biến mất thực chất là một sự “siêu tồn tại” (tồn tại ở cấp độ không) của nhân vật trong văn bản Như vậy, không phải tác phẩm trở nên không có nhân vật mà nhân vật bị tước quyền lộ diện trên văn bản
để phục vụ cho những ý đồ nghệ thuật của nhà văn
1.3 Nhân vật phân thân
“Tôi” trong tiểu thuyết Chinatown làm một cuộc phân thân để
sống với những cương vực thời gian khác nhau: một tôi trơ trọi với hiện tại trong lúc ngồi đợi tàu ở ga và một tôi khác triền miên với quá khứ, kỷ niệm Nhân vật “tôi” chìm trong quá khứ kia lại tiếp tục các cấp độ phân thân: một “tôi” chiếm lĩnh cái “thì hiện tại lớn” với Vĩnh, hắn, Paris; một “tôi” khác ôm mảng quá khứ trong đó có Việt Nam, bố
mẹ, Thụy, Yên Khê, Chợ Lớn,… Đôi khi, hai nửa phân thân lại nhập làm một trong sự nhập nhằng giữa quá khứ và hiện tại rồi lại tự động tách ra bởi những hồi tưởng, liên tưởng bất tận của chính “tôi”
Các nhân vật thường xuyên phải sống lưu đày trong trạng thái đi về giữa một bên là quê hương một bên là xứ người cũng liên tục phân thân trong tâm tưởng để được sống với quá khứ của mình như Liên trong
Paris 11-8, Lan Chi trong Tìm trong nỗi nhớ,…
Trang 14Di cư, biến mất hay phân thân đều là những cách để nhân vật có thể tách mình khỏi bối cảnh đời sống mà đi sâu vào đời sống tâm linh, xác lập một sự vững định, một sự cân bằng cho tồn tại của mình Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đương đại cũng
là sự cụ thể hóa đời sống của những thân phận tha hương – luôn cảm thấy rõ nhất sự bấp bênh trong hiện tại và những cảm thức lạc loài giữa đời sống văn minh phương Tây, từ đó không ngừng khao khát đi tìm lại những giá trị cũ, những gì thuộc về quá khứ, về gốc cội của tâm hồn
Chương 2 THỜI GIAN - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
2.1 Thời gian nghệ thuật
Nghiên cứu thời gian nghệ thuật chính là việc nghiên cứu những dạng thức vận động của nhân tố thời gian trên văn bản, qua đó cho ta thấy thời gian nghệ thuật đã tham gia như thế nào vào việc cấu trúc một tiểu thuyết hiện đại
2.1.1 Sự phá vỡ trật tự thời gian
Sự biến đổi một cách toàn diện cuộc sống theo xu hướng số hóa khiến cho nhịp độ sống của con người trở nên căng, gấp và giãn nở những trạng thái khác nhau khó lòng nắm bắt, ảnh hưởng đến quan niệm
về thời gian trong tác phẩm
Biểu hiện trước hết của sự phá vỡ trật tự thời gian qua thực tiễn văn bản đó là sự vênh lệch quá lớn giữa các cấp độ thời gian trong tác phẩm Chúng tôi tiến hành khảo sát mối quan hệ giữa thời gian trần thuật
và thời gian được trần thuật để làm rõ sự vênh ở hai cấp độ thời gian này Câu chuyện chỉ kể trong khoảng thời gian rất ngắn (2 tiếng -
Chinatown, 1 năm – Tìm trong nỗi nhớ, 2 năm – Và khi tro bụi,…) ở
hiện tại nhưng lại mở rộng phạm vi của sự kiện được kể lên tới 20 năm,