Có thể nói, từ khi có đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, tình hình sinh hoạt tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được khôi phục và phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
HÀ NỘI - 2011
Trang 2đã và đang trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu các nhà khoa học, các nhà xã hội học, cũng như các nhà hoạt động thực tiễn tại nhiều quốc gia trên thế giới
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo Bên cạnh những tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, còn có những tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo Trong đó, Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông (chỉ sau Phật giáo), có mối quan hệ chính trị, xã hội vào loại đặc biệt nhất, ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ở lĩnh vực văn hóa, Công giáo cũng in đậm dấu ấn trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam và bản thân nó cũng rất tự nhiên được dân tộc hóa đến mọi yếu tố cấu thành Hiện nay, người Công giáo vẫn tiếp tục tinh thần Thư chung của Hội đồng
Giám mục Việt Nam năm 1980:“Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc, vì hạnh phúc
đồng bào” Sự thay đổi đường hướng đạo của Công giáo nhằm hội nhập văn hóa
để tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa Trong quá trình hội nhập của
Trang 3người Công giáo nói chung có hai bình diện quan trọng Họ vừa thực hiện nếp sống đạo của họ, đồng thời hòa mình vào cuộc sống của dân tộc Hay nói cách
khác, họ phải sống tốt với vai trò của một giáo dân và của một công dân Do đó,
nghiên cứu về đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo có một ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
Giáo hội Công giáo (GHCG) không phân chia việc quản lý các giáo dân theo địa giới hành chính mà theo các giáo phận Các giáo phận không phụ thuộc vào địa giới hành chính mà thông thường được chia theo các con sông hoặc tùy theo nhu cầu mục vụ Giáo phận Bắc Ninh trải rộng trên 05 tỉnh trọn vẹn gồm các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Kạn và 07 tỉnh liên hệ đó là: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Tuyên Quang, Phú Thọ,
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Tỉnh này nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh Ngoài ra, nơi đây còn là cái nôi của Phật giáo Việt Nam và là nơi có đồng bào tôn giáo sinh sống, trong đó có bộ phận không nhỏ đồng bào theo Công giáo Từ khi du nhập vào Bắc Ninh đến nay, Công giáo đã có nhiều đóng góp to lớn cho quá trình xây dựng và phát triển địa phương Trong những năm qua, đã xuất hiện rất nhiều hộ đồng bào Công giáo đạt nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào xoá đói, giảm nghèo, thi đua làm kinh tế giỏi, thực hiện tốt chính sách phát triển văn hoá – xã hội, xây dựng địa phương cơ
sở vững mạnh Đồng bào Công giáo đoàn kết, giúp đỡ nhau thực hiện các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, Uống nước nhớ nguồn”, cứu trợ xã hội, v.v phù hợp với truyền thống đạo lý của người Việt Nam
Có thể nói, từ khi có đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước
ta, tình hình sinh hoạt tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được khôi phục và phát triển khá sôi động, đã phần nào đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh của đồng bào có đạo, khuyến khích họ tích cực tham
Trang 4gia xây dựng cuộc sống “tốt đời đẹp đạo” Nhưng bên cạnh đó, cũng có một số vấn
đề đặt ra cần quan tâm giải quyết
Đời sống văn hoá của người Công giáo có những nét tương đồng, nhưng cũng có nét khác biệt, đặc thù so với nhân dân trên địa bàn nói chung, nó góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam Để thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu đời sống văn hoá của người Công giáo trên cơ sở những luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn là việc làm có ý nghĩa quan trọng và
cấp bách Chính vì lẽ đó, tôi chọn đề tài: “Đời sống văn hóa của người Công giáo
tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Việt Nam học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xung quanh vấn đề về tôn giáo, trong đó có Công giáo đã có khá nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến ở những góc độ, những hướng tiếp cận khác nhau
- Nghiên cứu về tôn giáo, văn hóa tôn giáo và ảnh hưởng của nó trong đời
sống xã hội như: Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam do GS Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
và Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn của GS, TS
Đỗ Quang Hưng (2005), Nxb Chính trị Quốc, Hà Nội hay Tôn giáo và chính sách
tôn giáo ở Việt Nam do Nguyễn Thanh Xuân chủ biên (2006), Nxb Tôn giáo, Hà
Nội Các cuốn sách nêu trên đã giới thiệu cơ bản, tổng quát về một số tôn giáo ở Việt Nam và trình bày quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
- Cùng với những công trình nghiên cứu về tôn giáo và văn hóa tôn giáo nói chung, Công giáo và văn hóa Công giáo cũng được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu nhiều hơn Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu như: Một số vấn
đề về lịch sử Thiện Chúa giáo ở Việt Nam (Đỗ Quang Hưng, Đại học Tổng hợp Hà
Trang 5Nội, 1991); Thập giá và lưỡi gươm (Trần Tam Tỉnh, Ủy ban đoàn kết, Công giáo
Tp Hồ Chí Minh, 1988); Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam (từ
thế kỷ XII đến thế kỷ XIX) (Nguyễn Văn Kiệm, Hội khoa học lịch sử Việt Nam,
Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 2001) Các công trình đó đã phân tích tương đối rõ về quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm của đạo Công giáo ở Việt Nam
- Nghiên cứu sâu về văn hoá Công giáo đã có một số công trình như: Nghi lễ
và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2001); Nhà thờ Công giáo Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, Nxb Khoa học xã hội, TP Hồ Chí Minh, 2003; Tôn giáo trong mối quan hệ văn
hóa và phát triển ở Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,
2004); Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (Võ Long Tê, Nxb Tư Duy, Sài Gòn, 1965); Tìm hiểu nét đẹp văn hóa Thiên Chúa giáo (Hà Huy Tú, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 2001) Các tác phẩm này đã đi sâu phân tích những biểu hiện
và đặc trưng của văn hóa Công giáo và những ảnh hưởng của nó đối với văn hóa Việt Nam
- Một số luận án như: Góp phần tìm hiểu đạo đức Kinh Thánh – Luận án Tiến sĩ Triết học của Trương Như Vương; Vận dụng quan điểm khoa học về tôn
giáo trong công tác đối với Thiên Chúa giáo hiện nay ở Việt Nam - Luận án Tiến sĩ
Triết học của Nguyễn Văn Long; Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn
hóa Việt Nam - Luận án Tiến sĩ Triết học của Phạm Huy Thông Những luận án
trên đã quan tâm đến việc chỉ ra vai trò của Công giáo và văn hóa Công giáo đối với nền văn hóa dân tộc, từ đó tìm ra các giải pháp pháp huy nhân tố tích cực, hạn chế những nhân tố tiêu cực của nó trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới
- Nhiều công trình đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo về vai trò của
văn hóa Công giáo như: Kỷ yếu hội thảo Một số vấn đề đạo Thiên Chúa giáo trong
lịch sử dân tộc Việt Nam - Viện khoa học xã hội và Ban Tôn giáo thành phố Hồ
Chí Minh năm 1988; Kỷ yếu tọa đàm khoa học Từ Công đồng Vatican II đến thư
chung 1980- Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam năm 2005; Kỷ yếu hội thảo
Trang 6khoa học quốc tế Văn hóa tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa - Trung tâm
nghiên cứu Tôn giáo Đương đại, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009
Một số bài viết trên tạp chí như: Hội nhập văn hóa Kitô giáo với văn hóa
truyền thống Việt Nam trong lịch sử (Nghiên cứu Đông Nam Á số 1/1993); Thiên chúa giáo với việc giáo dục gia đình (Văn học nghệ thuật số 2/1996); Một số vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng đồng bào Thiên chúa giáo (văn học nghệ thuật
số 4/1996); Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam (Nghiên cứu Tôn giáo số 1, số 2/1999); Bản sắc văn hóa Việt Nam trong nghi lễ, phụng tự của
giáo hội Công giáo ở Việt Nam (Công tác tôn giáo số 4 -5/2006); Vấn đề thờ cúng tổ tiên của người Công giáo hiện nay (Công tác tôn giáo số 8/2006); Những điểm tương đồng giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam (Tạp chí Công tác tôn giáo số
3/2007)
Nhìn một cách tổng thể, những nghiên cứu trên đều thống nhất quan điểm thừa nhận văn hóa Công giáo có ảnh hưởng tích cực đến văn hóa Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, song cũng có những yếu tố tiêu cực cần phải khắc phục bằng những giải pháp trên cả bình diện nhận thức cũng như thực tiễn Tuy nhiên, do yêu cầu của xã hội hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu văn hóa Công giáo vẫn rất thiết thực Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập một vài khía cạnh đời sống văn hoá của người Công giáo, dưới góc độ “văn hoá Công giáo” và “văn hoá thế tục” ở một số nơi của Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về đời sống văn hoá của người Công giáo ở Bắc Ninh Đây là một mảng trống cả về mặt lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ Theo hướng nghiên cứu này, tác giả luận văn kế thừa những giá trị của các công trình đi trước trong việc thực hiện đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn đời sống
văn hoá của người Công giáo tỉnh Bắc Ninh và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã
Trang 7hội; luận văn rút ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Làm rõ nguồn gốc và đặc điểm cộng đồng người Công giáo ở Bắc Ninh
+ Làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan tới đời sống văn hóa của người Công giáo tỉnh Bắc Ninh
+ Tìm hiểu đời sống văn hóa của người Công giáo tỉnh Bắc Ninh và ảnh hưởng của nó với đời sống xã hội
+ Nêu những vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu đời sống văn hoá của người công giáo ở Bắc ninh hiện nay, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đời sống văn hóa của người Công giáo
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu đời sống văn
hóa của người Công giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp các phương pháp cụ thể như phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic, phương pháp sưu tầm, so sánh, điều tra xã hội học và phương pháp khảo sát điền dã
Trang 86 Những đóng góp của luận văn
- Công trình đầu tiên có cái nhìn tổng quan về đời sống văn hóa của cộng đồng Công giáo ở Bắc Ninh
- Rút ra được những mặt mạnh và mặt hạn chế của tình hình đời sống văn hóa của người Công giáo ở Bắc Ninh Từ đó góp phần hoàn thiện các chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 06 tiết:
Chương 1: Cộng đồng Công giáo tỉnh Bắc Ninh
Chương 2: Đời sống văn hóa của người Công giáo tỉnh Bắc Ninh và ảnh
hưởng của nó đến đời sống xã hội
Chương 3: Xu hướng biến đổi đời sống văn hóa của người Công giáo tỉnh
Bắc Ninh và những vấn đề đặt ra
Trang 9Chương 1
CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO TỈNH BẮC NINH 1.1 Vài nét về tỉnh Bắc Ninh
1.1.1 Đặc điểm địa lý - kinh tế
- Về đặc điểm địa lý, Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm
gọn trong vùng châu thổ sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Bắc Ninh có vị trí địa lý nằm giữa 21o và 2105 vĩ độ Bắc, 105o45 và 106o15 Kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương và phía Tây giáp thủ đô Hà Nội Theo số liệu thống kê năm 2007, tỉnh Bắc Ninh có diện tích
tự nhiên là 823 km2 với tổng số dân là 1,029 triệu người [44]
Bắc Ninh ở vào vị trí khí hậu có tính đa dạng của chế độ hoàn lưu gió mùa nhiệt đới phức tạp Nhiệt độ bình quân hàng năm là 23,50oc Lượng mưa tập trung
từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm Gió Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng
9 Toàn bộ vùng đất Bắc Ninh nhận được nhiều bức xạ mặt trời, do đó cây lúa, hoa
màu, cây công nghiệp, cây ăn quả phát triển tốt
Bắc Ninh là tỉnh nghèo khoáng sản, chủ yếu là nguồn nguyên liệu phục vụ trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng: đất sét làm gạch ngói, đất sét làm gạch chịu lửa, đá sa thạch và than bùn Tài nguyên rừng chủ yếu là rừng trồng với tổng diện tích là 661,26
ha phân bổ tập trung ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du
Nhìn từ vệ tinh, tỉnh Bắc Ninh nằm ở phía Bắc của đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, được ngăn cách với vùng trung du miền núi phía bắc bởi hệ thống sông Cầu Ngoài ra Bắc Ninh còn có hai hệ thống sông lớn là sông Thái Bình và sông Đuống Hệ thống sông ngòi đã tạo nên một mạng lưới vận tải đường thủy quan trọng, kết nối các địa phương trong tỉnh và nối liền Bắc Ninh với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng Ngoài ra, chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư trong tỉnh
Ngoài các trục đường giao thông tỉnh lộ, Bắc Ninh có hơn 100 km đường quốc lộ 1A, 1B, 18, 36, tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn, đó là những thuận lợi
Trang 10rất cơ bản của Bắc Ninh cho sự gặp gỡ giao lưu kinh tế văn hóa với các tỉnh bạn, nhất là phải kể đến vùng tam giác năng động Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh
- Về đặc điểm kinh tế, Bắc Ninh là tỉnh nằm trong tam giác kinh tế năng động
dọc Hà Nội – Quảng Ninh với nhiều thế mạnh về giao thông, đội ngũ lao động có trình
độ khá, rất đa ngành với nhiều làng nghề truyền thống Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 23.000 tỷ đồng, tăng bình quân 27,9%/năm đưa công nghiệp Bắc Ninh từ
vị trí thứ 19 (năm 2004) lên vị trí thứ 9 (năm 2010) trong toàn quốc Sản phẩm công nghệ cao tăng lên, thị trường xuất khẩu được mở rộng, sản phẩm công nghiệp chiếm 98% tổng kim ngạch xuất khẩu Hình thành sản phẩm chủ lực có khả năng cạnh tranh như: thức ăn gia súc, gỗ, kính, thiết bị điện, điện tử, thiết bị thông tin liên lạc Khu vực
có vốn đầu từ nước ngoài tăng cao, toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp tập trung, tổng diện tích 7.525 ha, trong đó 10 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động Hình thành khu công nghiệp – đô thị hiện đại, thu hút đầu tư từ các tập đoàn kinh tế đa quốc gia như: Canon, Samsung, ABB, Nhiều doanh nghiệp công nghệ cao đi vào hoạt động, tạo ra những sản phẩm công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh và góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tích cực Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên của cả nước triển khai khu công nghiệp hỗ trợ Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng, cảnh quan, môi trường, kiến trúc đô thị được thay đổi đáng kể
Mặc dù công nghiệp của tỉnh có nhiều phát triển, song về cơ bản, Bắc Ninh vẫn là một tỉnh nông nghiệp, địa hình gồm 2 vùng (đồng bằng, trung du)
đã tạo cho sản xuất nông nghiệp mang tính đa dạng và rất phong phú Ngoài lúa, Bắc Ninh có thế mạnh và tiềm năng phát triển về cây ăn quả và rau màu Hơn nữa, ngoài những cây trồng nhiệt đới, lại có thể trồng nhiều cây ôn đới Nhiều nông phẩm đã thành thương hiệu như: gạo Tám Từ Sơn, cam sành Bố Hạ, gà Đông Hồ
Bắc Ninh có làng nghề thủ công phát triển rộng khắp, trong toàn tỉnh, hầu như huyện nào cũng có, nổi tiếng với những nghề cổ truyền như: Gốm Thổ Hà, gốm Phôi Lãng, đúc Đồng Đại Bái, nghề chạm trổ, nghề mộc Từ Sơn… Nghề thêu
đã trở thành một nghệ thuật, một nghề tinh xảo Các nghề dệt thêu, dệt đay, làm đồ
Trang 11mỹ nghệ, gò đồng, rèn sắt, làm khung xe ngày càng được trang bị thêm máy móc hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, và có thêm nhiều mặt hàng mới phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu
Qua 25 năm đổi mới, đời sống kinh tế nhân dân Bắc Ninh ngày nay đã được nâng lên rõ rệt, hộ giàu, khá, chiếm hơn 50%, hộ đói, nghèo được giảm đáng kể
Bộ mặt nông thôn được đổi mới, hầu hết các đường làng, xã đều được bê tông hóa,
đi lại rất thuận tiện Nhìn chung, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh không ngừng được cải thiện và phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện
1.1.2 Đặc điểm lịch sử - văn hóa
Người ta biết đến Bắc Ninh không chỉ là nơi có điều kiện tự nhiên và nền kinh tế trù phú mà còn bởi bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc, gắn liền với tiến trình lịch sử của dân tộc ngay từ thuở ban đầu dựng nước Thành
Cổ Loa (thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh trước đây) chính là kinh đô, thành quách đầu tiên nổi tiếng trong lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với tên tuổi của An Dương Vương Từ nền móng đó, trải qua các chặng đường lịch sử đã bồi đắp cho Bắc Ninh một bề dày truyền thống văn hóa lâu đời là thành tích lớn nhất của con người nơi đây
Bắc Ninh thời Việt cổ gọi là Bộ Vũ Ninh trải qua nghìn năm nô thuộc nhà Tần, Hán, Tấn, Đường đến thời Tiền Lê, Lý, Trần cho đến thời Hậu Lê, sắp xếp hành chính qua các triều đại có thay đổi phát triển: đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc đất Long Biên, Luy Lâu quận Giao Chỉ; đời Ngô là Lỵ Sở nơi quan lại đóng của quận Giao Châu; đời Nam Tấn là châu Vũ Ninh; đầu đời Đường là đất 3 huyện Vũ Ninh, Bình Lạc cũng bỏ Long Biên, Xương Quá quy thuộc vào An Nam
đô hộ Phủ Đời Tiền Lê là Bắc Giang còn gọi là Lộ Kinh Bắc Thời thuộc Minh là
2 phủ Bắc Giang, Lạng Giang… Từ năm Gia Long thứ nhất đời Nguyễn (1820) gọi
là Trấn Kinh Bắc, năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi là Trấn Bắc Ninh, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đổi thành tỉnh Bắc Ninh quản lý 4 phủ, 2 phân phủ và 20 huyện [54, tr.7- 8]
Trang 12- Về lịch sử, qua các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là khảo cổ học ở Bắc Ninh
cho thấy đây là địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt cổ, đồng thời là bộ phận cốt lõi của quốc gia Văn Lang – Âu Lạc: “Từ mấy nghìn năm trước, người Việt cổ đã
cư trú lập làng ở ven Sông Cầu, Sông Dâu, Sông Đuống, Sông Ngũ Huyện Khê, Sông Tiên Vong chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm các nghề thủ công” [43, tr.26]
Cũng trên mảnh đất này những giá trị tinh thần được phản ánh qua các huyền thoại về “ông Đùng, bà Đà”; Ông Khổng lồ cán nát núi, húi sạch rừng, bưng ngang lũ; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương cùng với các huyền thoại, truyền tích là đậm đặc các di tích tiêu biểu như Lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền Thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, thủ phủ Luy Lâu (tức Long Biên) - nơi ghi dấu những chiến tích hào hùng chống quân xâm lược phương Bắc Luy Lâu là một huyện thuộc quận Giao chỉ, trụ sở của quận đóng ở đó
là của Thái thú Sĩ Nhiếp còn di tích thành và đền thờ, mộ của ông thánh ở làng Lũng Khê, huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành)… Luy Lâu là Trung tâm Phật giáo lớn
và cổ xưa của nước ta, nơi tập trung nhiều chùa Tháp với trung tâm là Chùa Pháp Vân (tức chùa Dâu) nổi tiếng, gắn liền với truyền thuyết Man Nương Xung quanh Luy Lâu là các làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn bán phát triển mạnh mẽ Luy Lâu cũng là một đô thị mang tính quốc tế Các hoạt động buôn bán, trao đổi ở Luy Lâu thời Bắc thuộc rất nhộn nhịp và sầm uất
Bước vào kỷ nguyên Đại Việt, Bắc Ninh trở thành phên dậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long – Đông Đô, nơi đây tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc bảo vệ đất nước và phát triển văn hóa Việt Nam Miền quê (địa linh) này là đất phật tích nhà Lý – triều đại khai mở nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi những danh nhân lịch sử - văn hóa kiệt xuất: Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh Đây là nơi vang vọng bài thơ Nam Quốc Sơn Hà – Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc, tỉnh Bắc Ninh luôn luôn giữ một vị trí chiến lược quan trọng là phên dậu, lá chắn phía
Trang 13Bắc của Kinh đô Thăng Long – Hà Nội Trang sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, những chiến tích và truyền thống bảo vệ quê hương đất nước của nhân dân Bắc Ninh đã có từ thời Hùng Vương thứ 6 và trải qua các thời kỳ lịch sử đất nước chống giặc phương Bắc, chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Từ đó hun đúc truyền thống yêu nước của các thế hệ nhân dân Bắc Ninh và đã sản sinh ra những chiến sĩ cách mạng, những chiến sĩ cộng sản tiền bối như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt… cùng với biết bao tấm gương tiêu biểu khác
mà tên tuổi của họ không chỉ là niềm tự hào của nhân dân Bắc Ninh mà còn là niềm tự hào của nhân dân cả nước
- Về văn hóa – xã hội, Bắc Ninh là miền quê của chùa tháp, đền miếu, quê
hương của lễ hội và sinh hoạt văn hóa dân gian nổi tiếng Nét đẹp chung của văn hóa vùng Bắc Ninh còn là nét đẹp về con người
Nói tới con người Kinh Bắc là nói tới những con người có đức tính cần kiệm, tháo vát, năng động sáng tạo và tài khéo léo trong làm ăn kinh tế, giao lưu buôn bán, sản xuất hàng thủ công gia dụng và mĩ nghệ, làm các món ăn đặc sản có giá trị kinh tế văn hóa cao Người dân nơi đây tự hào với cái lịch lãm, khéo léo của mình Ít nơi nào lại đậm đặc hệ thống chợ quê, phong phú các làng thợ, các làng buôn truyền thống như Kinh Bắc, trong đó có các làng quê độc đáo như: Làng tranh Đông Hồ, giấy gió Đống Cao, làng làm bút mực Tư Thế, làng chạm khắc Phù Khê…
Người dân Kinh Bắc còn nổi tiếng là hiếu học, thông minh Nơi đây là đất học, miền quê của trí thức với số lượng các danh nhân, khoa bảng đứng đầu các địa phương thời phong kiến (Tam Sơn – địa phương duy nhất cả nước, có đủ “tam khôi” với 22 vị đại khoa) Đồng thời cũng là nơi sản sinh và nuôi dưỡng một số lượng lớn các nhân tài cho đất nước suốt chiều dài lịch sử Ở mọi lĩnh vực, xứ này đều có các đại biểu tiêu biểu Những nhà chính trị như Nguyễn Công Hãng, Nguyễn Thực, Phạm Khiêm Ích Những văn tài như Nguyễn Giản Thanh, Nguyễn Gia thiều, Cao Bá Quát… Đặc biệt, chưa có vùng nào lại xuất hiện nhiều nhân vật nữ nổi tiếng như đất Kinh Bắc: Thời nhà Lý có Ỷ Lan nguyên Phi, thời nhà Lê có Ngô Chí Lan,
Trang 14thời Tây Sơn có Lê Ngọc Hân Ngày nay, mỗi khi nhắc đến những làng tiến sĩ xứ Bắc như Kim Đôi, Vĩnh Kiều, Tam Sơn, Lương Xá… và những danh nhân xứ Bắc như Cao Lỗ, Lý Công Uẩn, Lê Văn Thịnh, Huyền Quang… những nhà cách mạng nổi tiếng như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ thì không chỉ là niềm tự hào của riêng người Kinh Bắc mà là của mỗi người Việt Nam
Nơi đây còn nổi tiếng với Trung tâm Phật giáo và những ngôi chùa có quy mô lớn, cổ kính, kiến trúc tạo tác rất công phu, tài nghệ như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùa Bách Môn, chùa Bút Tháp, Tiên Sơn, Cổ Pháp… Đây là những danh lam cổ tự nổi tiếng, ngày nay trở thành những di sản kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật tiêu biểu của dân tộc Bắc Ninh còn được mệnh danh là vương quốc của lễ hội Trong
đó có những lễ hội lớn nổi tiếng cả vùng, cả nước như Hội Dâu (8/4 - âm lịch), hội Đền
Đô, hội Lim, hội Phật Tích, Bút Tháp…
Xưa dân Kinh Bắc ưa sang trọng nhưng nền nã, nam khăn xếp áo the, ô lục soạn, nữ áo mớ ba, mớ bảy, nón thúng quai thao Xứ Bắc có nhiều làng nghệ thuật như làng Tranh Đông Hồ, làng hát Ca Trù Thạch Tương, làng rối nước Bùi Xá, làng Đa Hội, Đồng Kỵ, Tam Lư, Tấn Bao… nổi tiếng với những đội tuồng tài danh Và đặc biệt hơn cả là hệ thống 49 làng chơi quan họ Một lối chơi, một sinh hoạt văn hóa tinh tường, độc đáo riêng, đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc mà chỉ người Bắc Ninh mới có
Di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc trên vùng đất này rất phong phú, trong
đó có mảng lớn nhất là văn nghệ dân gian Nhiều mẫu mực ưu tú của văn học, của hội họa, âm nhạc, kiến trúc điêu khắc, sân khấu, đều vươn tới đỉnh cao của nghệ thuật dân tộc, là niềm tự hào của cả dân tộc
Bắc Ninh còn là nơi có các tôn giáo lớn xâm nhập khá sớm và khá sâu sắc: Nho học được truyền vào Bắc ninh từ đầu Công nguyên để từ đó lan toả đi các nơi (Đền và Lăng Sĩ Nhiếp học tổ Sĩ Vương hiện còn ở làng Tám Á, xã Gia Đông, huyện Thuận thành, Bắc Ninh) Bắc Ninh còn là quê hương, nơi phát xuất của các dòng Phật giáo nước ta Phật giáo Luy Lâu là trung tâm sớm nhất của Phật Giáo Việt Nam, theo nhiều ngả khác nhau Phật Giáo đã vào Bắc Ninh từ rất sớm, kể từ thế kỷ
Trang 15thứ III cho đến thế kỷ thứ XIV, hơn một nghìn năm ấy và cả suốt mấy trăm năm sau, Phật giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chính trị, văn hóa, kinh tế… đến đời sống tình cảm ở Bắc Ninh
Công giáo xuất hiện ở Bắc Ninh vào đầu thế kỷ XVII Thôn Tử Nê xã Phá Lãng huyện Lương Tài là nơi đón nhận đạo này sớm nhất sau đó phát triển đến một
số làng trong vùng
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhất là sau 14 năm kể
từ ngày tái lập tỉnh (1997), Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn giành được nhiều thành tựu quan trọng: Tình hình chính trị ngày càng
ổn định, kinh tế phát triển với nhịp độ cao, kết cấu hạ tầng và năng lực sản xuất được tăng cường, văn hóa – xã hội phát triển khá Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, bộ mặt đô thị và nông thôn từng bước được đổi mới Năm
2010, GDP bình quân người/ năm đạt 1.800 USD Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 21 triệu đồng, tăng 13,5% / năm, trong đó nông thôn 16,4 triệu đồng [57, tr.3]
Thành tựu đạt được của Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh trong những năm qua là kết quả của quá trình đổi mới và sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo các nghị quyết của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương Những kết quả đó là bước khởi đầu tốt đẹp có ý nghĩa rất quan trọng làm tiền đề đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, xây dựng tỉnh Bắc Ninh ngày càng phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhìn chung nền kinh tế của Bắc Ninh vẫn còn ở mức thấp, phát triển chưa toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa đồng bộ, công tác quản
lý còn bộc lộ nhiều yếu kém Hoạt động khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Giải quyết một số vấn đề bức xúc
về xã hội chưa có nhiều chuyển biến tích cực, trật tự, an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp Công tác xây dựng Đảng chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Hoạt động của Hội đồng nhân dân ở một số nơi còn hình thức, hiệu lực điều hành, quản lý của Ủy ban nhân dân chưa cao, cải cách hành chính tiến hành chậm Hiệu
Trang 16quả hoạt động của các đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội chưa theo kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ
Thời gian và biến cải tuy đã làm cho diện mạo của Bắc Ninh có những thay đổi, nhưng mảnh đất ngàn năm văn hiến, địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng vẫn trường tồn với thời gian Có thể thấy, với những đặc điểm của vùng đất và con người Bắc Ninh ngày nay, đã hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội Phát huy truyền thống lịch sử với những tiềm năng hiện tại và coi trọng nhân tố con người, phát huy sức mạnh tổng hợp, sức mạnh cửa sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tỉnh trong đó có đồng bào các tôn giáo nói chung và đồng bào Công giáo nói riêng, chắc chắn Bắc Ninh
sẽ tiến những bước vững chắc trên con đường xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh
1.2 Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng Công giáo tỉnh Bắc Ninh
1.2.1 Vài nét về quá trình truyền bá và phát triển đạo Công giáo ở Bắc Ninh
Lịch sử giáo phận Bắc Ninh có thể nói được thành lập từ rất sớm, nhưng tên địa phận Bắc Ninh chính thức phải đến năm 1924 và năm 1960 Bắc Ninh mới trở thành giáo phận Chính tòa Mặc dù là một tỉnh nhỏ, số lượng giáo dân không nhiều so với tổng dân số của tỉnh (chiếm 1,5%), nhưng Bắc Ninh có một vị trí chiến lược và nhiều điều kiện thuận lợi cho việc truyền giáo, củng cố tổ chức của GHCG Với việc thiết lập hệ thống phẩm trật của giáo hội Công giáo Việt Nam
và việc Bắc Ninh trở thành trung tâm giáo phận có tòa giám mục, có nhà thờ Chính tòa… điều kiện làm cho GHCG ở Bắc Ninh trở nên quan trọng và ảnh hưởng của giáo hội tới đông đảo quần chúng tín đồ một cách sâu sắc
Theo “Lược sử giáo phận Bắc Ninh” của Giám mục Cosma Hoàng Văn Đạt
SJ thì chúng ta có thể thấy được quá trình phát triển của giáo phận:
Con đường các thừa sai Dòng Tên đến Việt Nam đi từ Macao, thường là đi qua đảo Hải Nam đến Bắc Việt, qua cửa Văn Úc hoặc cửa Thái Bình để vào sông Thái Bình, qua cửa Ba Lạt để vào sông
Trang 17Hồng Nếu vào cửa Thái Bình, các thừa sai sẽ đến tỉnh Đông (Hải Dương), sau đó vào sông Đuống để đến Hà Nội (Đông Kinh), hoặc lên sông Cầu để đến Bắc Ninh, sông Thương đến Bắc Giang Trên sông Thái Bình, trước khi đến Hải Dương, có một sông nhánh, phía hữu ngạn sông Thái Bình là sông Bắc Hưng Hải, sông này dẫn đến làng Kẻ Sặt Vượt qua Hải Dương chừng 3 km đường sông là đến làng
Kẻ Mốt nằm sát bờ sông Thái Bình Qua Kẻ Mốt chừng 2 km nữa đến Kênh Than Rẽ tay trái là vào sông nhánh Bá Giang, đi theo sông này chừng 5 km đường sông là đến làng Kẻ Nê Nếu cứ thẳng sông Thái Bình ngược lên tới Phả Lại (Lục Đầu, chỗ tiếp giáp của 6 con sông), gặp ngã ba sông Cầu và sông Thái Bình, đi theo sông Cầu tới gần Đáp Cầu thì đến làng Kẻ Roi, tức Xuân Hoà
Điều đó cho thấy con đường truyền giáo vào Bắc Ninh hay với giáo phận
Bắc Ninh thường là theo đường sông
Theo đó, vào khoảng từ năm 1637 – 1650, các thừa sai dòng Tên như Phê- li-
xe (Felice Mocli), Pa- co- la- day (Fraco la day)… người Tây Ban Nha đã cùng với một số thầy giảng trà trộn trong thương nhân men theo sông Thái Bình, sông Đuống, sông Cầu và các dòng sông nhánh đến các thôn Kẻ - Mốt (Đức Trai), Kẻ Nê (Tân Lãng), Kẻ Roi (Xuân Hòa), Kẻ Cốc (Phong Cốc – Đức Long)… (thuộc huyện Lương Tài và huyện Quế Võ ngày nay) để truyền đạo, và từ đó các địa bàn này dần dần theo “vết dầu loang” đến một số thôn xóm khác Đến năm 1657, Xứ Kẻ Bắc (Giáo phận Bắc Ninh sau này) đã có 25 nhà thờ làm bằng tre, gỗ lợp tranh với số lượng hàng ngàn giáo dân [13, tr.110]
Do những biến cố lịch sử, nhất là Các cuộc bách hại của ba đời vua Minh
Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức đã ảnh hưởng trực tiếp đến Bắc Ninh Tuy ở Bắc Ninh
không có “hùm xám tỉnh Nam” như Trịnh Quang Khanh ở Nam Định, lệnh của
triều đình Huế đã quyết liệt hơn thời Lê Trịnh nhiều Do đó, đạo Công giáo trong thời kỳ này hầu như không phát triển ở đây
Trang 18Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, được sự che chở và giúp đỡ của thực dân Pháp, nhiều giáo sĩ như linh mục Nghĩa (Gaspar Fermander Nghĩa), linh mục Bình (Almato Bình)… đã đến Kẻ Bắc tiếp tục khôi phục và phát triển truyền đạo Đây là giai đoạn đạo Công giáo phát triển mạnh tại Bắc Ninh và các tỉnh thuộc xứ
Kẻ Bắc, như: Kẻ Mốt, Kẻ Nê, Kẻ Cốc, Kẻ Bùi (Lai Tê - Trung Chính Lương Tài)… các thôn Công giáo toàn tòng này đã trở thành trung tâm của xứ đạo Số lương dân theo đạo có xu hướng phát triển vào khoảng 10 năm cuối thế kỷ XIX, có thể dẫn trong một bức thư đề năm 1889, đức cha Colomer viết: “Nhờ ơn Chúa, địa phận trở nên thịnh vượng, người xin theo đạo rất đông có nhiều làng xin theo đạo hết Trước năm 1884, tại thị xã Bắc Ninh chỉ có một nhà có đạo, mà bây giờ đã có 300 giáo dân…” [13, tr.549]
GHCG Bắc Ninh thời kỳ này thuộc địa phận Đông (còn gọi là Đông Đàng ngoài) do dòng Đa Minh lo việc truyền giáo Năm 1841, trung tâm giáo phận Đông được đặt tại Xứ kẻ Mốt (Đức Trai, Cẩm Giàng – Hải Dương ngày nay, trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh) do giám mục Liêm (Helmosi lla Liêm OP) trông coi Do số lượng giáo dân phát triển ngày càng tăng và để tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở mang giáo hội, ngày 29/5/1883 Tòa Thánh ra sắc lệnh thành lập giáo phận Bắc (còn gọi là giáo phận Đàng ngoài tức giáo phận Bắc Ninh) được tách ra từ giáo phận Đông Đàng Ngoài (bao gồm địa phận Bắc Ninh và địa phận Phủ Doãn Lạng Sơn) do Giám mục Lễ (Antonius Colomer Lễ) trông coi Tòa giám mục được chuyển từ Kẻ Mốt về Kẻ Nê Năm 1884, tòa giám mục được rời về Xuân Hòa (Đại Xuân - Quế Võ) sau đó chuyển về Thị xã Bắc Ninh Năm 1889 giám mục Lễ khởi công xây dựng nhà thờ Chính tòa, nhà chung Tại thị xã Bắc Ninh và hoàn thành vào năm
1892 [13, tr 554]
Năm 1913, giáo phận Bắc được tách ra thành giáo phận Bắc Ninh và giáo phận Phủ Doãn Lạng Sơn (vẫn là các giáo phận Hiệu tòa), đến ngày 24/11/1960 Bắc Ninh trở thành giáo phận Chính tòa, ranh giới của địa phận bao gồm toàn bộ các xứ họ thuộc tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Vĩnh Phúc và
Trang 19một phần thuộc các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Tuyên Quang, Phú Thọ và thành phố Hà Nội [13, tr.111]
Nếu lấy năm 1637 làm thời điểm đầu tiên các thừa sai đến truyền giáo tại Bắc Ninh thì phải 246 năm (1883) giáo phận mới được thành lập Nhưng trước đó (1841) trung tâm giáo phận Đông đã được đặt tại Kẻ Mốt (Bắc Ninh) khi mới thành lập (1883) giáo phận Bắc Ninh có 01 giám mục và 04 linh mục là người Tây Ban Nha, 27 linh mục là người Việt Nam, 50 thầy giảng và 36.000 giáo dân [13,tr 67] Theo thống kê cuối năm 1938 tức là 55 năm sau ngày thành lập, chỉ riêng địa phận Bắc Ninh có 01 giám mục và 15 linh mục dòng Đa Minh người Tây Ban Nha,
66 linh mục Việt Nam, 14 nữ tu dòng Thánh Phaolô (trong đó có 5 người Pháp),
118 nữ tu dòng Đa Minh và 54.007 giáo dân [13, tr 68]
Cuộc di cư 1954-1955 do GHCG dụ dỗ, cưỡng ép đã có 60 linh mục và 38.000 giáo dân đi vào Nam (riêng tỉnh Bắc Ninh có 8.157 người) (Theo Việt Nam Công giáo niên giám 1964 giáo phận Bắc Ninh còn 35.423 giáo dân và 7 linh mục) Nhiều xứ họ đạo như: Cẩm Đường (Cẩm Giàng), Đạo Ngạn, Xuân Hòa, Phượng Mao, Ngâm Giáo, Thiết Nham, Bỉ Nội, Bâm, Thanh Dã, Từ Đình… giáo dân kéo đi hầu hết, chỉ còn số rất ít ở lại Toàn giáo phận còn 35.423 giáo dân và
14 linh mục (đa số già yếu bệnh tật) [13, tr.69], cuộc di cư ồ ạt năm 1954 - 1955, nhiều xứ đạo ở Bắc Ninh cho tới nay chưa tái tạo được, nói chung thì hầu hết các
xứ, họ đạo vẫn còn, nhưng có những giáo xứ trở thành giáo họ hay ngược lại giáo
họ trở thành giáo xứ Các giáo sĩ, giáo dân ra đi hầu hết bổ xung cho các giáo phận phía Nam, tập trung đông nhất là giáo phận Sài Gòn, Xuân Lộc, Phú Cường, Đà Lạt, Long Xuyên Sau giải phóng miền Nam 1975, một số tiếp tục di cư sang Mỹ,
Úc, Canada, Đức, Pháp… cư trú và hình thành các cộng đoàn giáo hữu Bắc Ninh tại hải ngoại [13, tr.450]
Giáo phận Bắc Ninh nói chung và Công giáo ở Bắc Ninh nói riêng từ sau những năm 1954 - 1955 vấn đề nổi lên của giáo hội là thiếu linh mục, hàng ngũ linh mục không được bổ xung kịp thời, trong số các linh mục hiện nay đa số đều mới được thụ phong trong những năm sau này Bắc Ninh là địa phương có số lượng giáo
Trang 20sĩ ít, song có những phức tạp riêng: hầu hết giáo sĩ, có tuổi đời và thời gian tu hành bằng hoặc hơn giám mục Số linh mục, tu sĩ cũ thể hiện sự yên phận với vị trí được phân công phụ trách, số linh mục mới phong và số đang chờ phong tìm mọi cách tranh thủ cảm tình tin cậy của giám mục chuẩn bị cho vị trí sau này Tuy nhiên, cần phải nắm rõ đặc điểm là: hàng ngũ giáo sĩ hoạt động theo sự chỉ đạo của Vatican, của Hội đồng giám mục Với phương châm: “Tránh đối đầu với Nhà nước, tạo quan
hệ với chính quyền, triệt để lợi dụng chính sách đổi mới dân chủ để củng cố phát triển lực lượng, với mục tiêu nắm cho được giáo dân, phát triển tín đồ, tạo thế và lực của giáo hội với xã hội” [56, tr.7] Khuynh hướng hoạt động của hàng ngũ giáo sĩ tỏ
ra tuân thủ và tranh thủ chính quyền, nhưng trong quan hệ luôn tìm cách lợi dụng sự dân chủ, cởi mở của chính sách, kẽ hở của luật pháp, sự lơi lỏng trong quản lý để lấn lướt và vượt khỏi những quy định, tiến hành các hoạt động có lợi cho giáo hội
Do tình trạng thiếu linh mục trầm trọng, vì vậy, trong suốt hơn 40 năm qua
hệ thống ban hành giáo (BHG) của các xứ, họ ở giáo phận Bắc Ninh đã được chăm sóc một cách đặc biệt Tổ chức GHCG ở Bắc Ninh rất quan tâm và chỉ đạo sâu sắc việc kiện toàn bổ sung nhân sự tham gia BHG các xứ họ đạo Nhân sự tham gia các BHG xứ, họ mới và BHG xứ, họ đạo trọng điểm do Giám mục trực tiếp xét duyệt Hiện có xu hướng chọn người vào BHG thuộc diện trẻ khỏe, năng động, kinh tế khá, biết ứng phó mềm dẻo với chính quyền, kể cả đảng viên gốc giáo và người thuộc diện đối tượng chính sách xã hội (hiện có 02 đảng viên đang là trùm họ, 02 tham gia BHG) Giáo hội rất chú trọng đến việc phục hồi các xứ, họ đạo bị mai một, chuẩn bị thành lập các xứ họ đạo mới khi có đủ điều kiện
GHCG ở Bắc Ninh đã chỉ đạo chặt chẽ đến các BHG xứ, họ đạo nghiên cứu vận dụng những nội dung Thư chung, thông báo của giám mục để xây dựng các quy ước, hương ước họ đạo kết hợp với sinh hoạt tôn giáo, vừa để quản lý giáo dân, sống đạo, mở mang ảnh hưởng vừa gây thanh thế của giáo hội với xã hội, vừa tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền với mục tiêu “gần giáo dân, sát họ đạo”, giám mục và các linh mục, tu sĩ thường xuyên kinh lý, hoạt động mục vụ ở các họ đạo, chú trọng các họ lẻ, khô nhạt đạo, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn Chỉ
Trang 21đạo BHG vận động người khô đạo “xám hối”, lôi kéo những người ngoài đạo đã lấy vợ chồng bên đạo, tòng đạo
Giáo hội tích cực chỉ đạo các xứ, họ đạo xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự Ngoài ra còn vừa chỉ đạo các cơ sở khảo sát thực tế cơ sở vật chất của giáo hội, vừa hướng dẫn các BHG và giáo dân xin lại đất đai cũ đã được Nhà nước quản lý Tình trạng sửa sang nhà thờ, nhà nguyện… hoặc không xin phép hoặc lạm dụng quá mức cho phép, đã có cả trường hợp giáo dân tập hợp nhiều chữ ký vào đơn kiến nghị, tập trung kéo đến các cơ quan nhà nước, nhằm tạo sức ép với chính quyền đòi giải quyết những tồn tại còn tranh chấp, giáo hội còn chỉ đạo và hỗ trợ kinh phí để giáo dân một số nơi đấu thầu hồ, ao mua lại đất của nhà thờ cũ, mua nhà giáo dân để sửa chữa làm nhà nguyện, nhà thờ sau này, như ở Trại Găng (Đào viên), Xuân Hòa (Đại Xuân) huyện Quế Võ, Hộ Vệ (Lạc Vệ) huyện Tiên Du…, cùng với việc tổ chức cấp bằng “Tri âm”, “Tạ ơn”… cho những ai có công đóng góp sức người, sức của nhằm tạo ra sự thi đua trong công việc của giáo hội Tư tưởng chỉ đạo của giáo hội là: “đất của giáo hội một tấc cũng không để mất, vì đó
là đất thánh…” Với thái độ và cách nhìn mang nặng thành kiến, do vậy đã làm cho một số giáo dân (họ giáo Cẩm Giàng – Đồng Nguyên – Từ Sơn) từ vấn đề đòi giải quyết đất đai đã dẫn đến các hiện tượng quá khích vi phạm pháp luật, gây phức tạp
về an ninh trật tự an toàn xã hội [56, tr.10]
Bên cạnh đó, GHCG cũng coi trọng việc đào tạo các chức việc đạo, củng cố
giáo hội cơ sở, mở rộng và đẩy mạnh các hoạt động của các tổ chức hội đoàn Công giáo cả bề rộng lẫn chiều sâu Tòa Giám mục tiếp tục hình thức kèm cặp tu sinh, khuyến khích tu sinh theo học các hệ chính quy, hệ mở rộng của các trường cao đẳng, đại học, chủ trương đào tạo linh mục với những đối tượng có trình độ cao đẳng, đại học nhằm xây dựng đội ngũ chức việc đạo sau này vừa có trình độ cao về giáo lý, vừa có trình độ văn hóa kiến thức chuyên môn để thích ứng với tình hình mới
Hoạt động của giáo hội là vừa dùng giáo quyền, vừa dùng nhiều biện pháp hấp dẫn, tâm lý phù hợp với mọi lứa tuổi nhằm mục đích thu hút đông đảo các tầng
Trang 22lớp quần chúng để phát triển tín đồ, gây thanh thế giáo hội Nhằm xây dựng lượng chức việc đạo kế tiếp vừa trẻ, vừa có trình độ, giáo hội khuyến khích thanh niên học văn hóa, khoa học, ngoại ngữ… đặc biệt số nữ tu cũng rất được giáo hội quan tâm bằng việc cho đi học văn hóa, gửi đi đào tạo chuyên môn về nuôi dạy trẻ, y tá, học nghề… kể cả các trường của nhà nước, tư thục, học ở miền Bắc, học ở miền Nam Giáo hội thường xuyên thăm hỏi động viên, gửi quà tặng và có chính sách hỗ trợ kinh phí cho người đi học Chủ trương của giáo hội là nam tu sinh học xong đại học, cao đẳng sau đó được lựa chọn đưa đi đào tạo Đại chủng viện để trở thành linh mục, nếu do điều kiện nào đó không thành thì cũng sẽ là thầy giảng Số nữ tu
đi học về có trình độ sẽ tham gia việc truyền dạy kinh bổn, giáo lý cho giáo dân, tham gia các công việc hoạt động từ thiện xã hội, văn hóa, giáo dục
Giáo hội chỉ đạo cơ sở cần phải tăng cường giáo lý; củng cố đức tin thông qua vai trò gia đình trong các sinh hoạt tôn giáo; chú trọng quan tâm vận động giới trẻ nhất là đối với tầng lớp thanh, thiếu niên; duy trì, củng cố, phát triển nhiều loại hội đoàn với nội dung, hình thức sinh hoạt đa dạng, phong phú, hấp dẫn Vừa bằng thần quyền giáo lý, vừa thông qua các tổ chức hội đoàn, giáo hội đã thu hút đông đảo quần chúng tín đồ tham gia Có những hội đoàn phục vụ lễ nghi tôn giáo, hoặc mang tính chất từ thiện xã hội, nhưng cũng không ít hội đoàn mang tính chất tập hợp quần chúng Bắc Ninh, năm 1997 có gần 5.000 hội viên tham gia các loại hội đoàn (bằng 34% số giáo dân), 46% số giáo dân từ 8 tuổi đến 15 tuổi (trong đó 30%
là học sinh phổ thông) [56, tr.5] Thế hệ trẻ được tập hợp trong các hội “Thiếu nhi thánh thể”, hội “con Đức mẹ”… các tổ chức hội đoàn chính là lực lượng nòng cốt trong việc củng cố đức tin, làm sầm uất đời sống đạo; thông qua hoạt động của các
tổ chức hội đoàn, GHCG không chỉ tập hợp mà còn là nhằm quản lý quần chúng giáo dân Điều đáng nói ở đây là phần lớn các hội đoàn đều không đăng ký xin phép chính quyền địa phương GHCG tích cực tăng cường các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, các ngày thánh lễ với quy mô trọng thể Tòa Giám mục những năm gần đây đã tiếp xúc tiến việc thực hiện tông thư của Giáo hoàng “Tiến tới thiên niên
kỷ thứ III” và triển khai chương trình theo tài liệu Mục vụ của Hội đồng giám mục
Trang 23(HĐGM) Việt Nam với các chủ đề sinh hoạt tôn giáo theo mục tiêu từng năm và từng giai đoạn Các ngày lễ lớn được tổ chức trọng thể, nhằm khuyếch trương thanh thế, mở rộng ảnh hưởng, giáo hội đã cho khôi phục lại các hình thức như rước kiệu, dâng hoa… Mở các thánh lễ riêng cho các giới như: Thánh lễ thanh niên, lễ Dòng ba
Đa Minh, lễ Quan thầy địa phận, lễ Khánh nhật truyền giáo… Chỉ riêng lễ kỷ niệm
100 năm nhà thờ Chính tòa, Tòa giám mục mở hoạt động “năm Toàn Xá” đã có hàng trăm đoàn khách trong và ngoài nước hành hương thăm viếng nhà thờ Có hơn
100 lượt Giám mục, Linh mục trong đó có 8 người đang sinh sống ở nước ngoài về
dự lễ [56, tr.13]
GHCG ở Bắc Ninh đã không ngừng tăng cường mở rộng mối quan hệ giao lưu tôn giáo trong và ngoài nước, mục đích vừa tranh thủ kinh phí, vừa củng cố tăng cường hoạt động tôn giáo, nhằm gây khuyếch trương thanh thế của giáo hội GHCG, Tòa giám mục Bắc Ninh đã tranh thủ mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và cá nhân là người Công giáo ở nước ngoài để giao lưu mở mang tôn giáo và thu hút sự đầu tư, tài trợ về kinh tế Dưới danh nghĩa đi
du lịch, tham quan, đã có một số người là Việt Kiều về nước hoạt động, nhằm tạo môi giới trong việc tài trợ, nhận làm cha mẹ đỡ đầu trẻ em nghèo khó khăn, hoạt động mang tính từ thiện như: ủng hộ kinh phí xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo, lớp học, đường xá, sửa sang xây dựng các cơ sở thừa tự…
Cần phải khẳng định trong những năm gần đây, hoạt động của GHCG ở Bắc Ninh nổi lên nhiều vấn đề rất đáng quan tâm Sự chuyển biến mạnh mẽ của GHCG
ở Bắc Ninh nhằm đẩy mạnh các hoạt động với mục tiêu: “chấn hưng giáo hội” theo các hướng: “Thánh hóa gia đình, Phúc âm hóa sinh hoạt, Trí thức hóa giáo sỹ, hội đoàn hóa giáo dân” Những hoạt động của giáo hội là nhằm để tăng cường giáo lý, củng cố đức tin, phát triển tín đồ, kiện toàn các cơ sở vùng Công giáo, củng cố đào tạo lực lượng chức việc đạo, phát triển mở rộng hoạt động của các hội đoàn, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất của Giáo hội
Nhìn chung, có thể nói sau hòa bình năm 1954 và thống nhất đất nước năm
1975, dưới chế độ XHCN với đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
Trang 24nước ta về công tác tôn giáo, đa số các chức sắc và đồng bào giáo dân đã hòa mình, góp sức cùng với nhân dân, với dân tộc trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới Trong lễ tạ ơn kết thúc năm Toàn Xá 1992 và kỷ niệm 100 năm nhà thờ Bắc Ninh Đức giám mục Giuse Phạm Đình Tụng (Hồng y - Tổng giám mục Hà Nội) đã nói lời cảm ơn đối với các cấp lãnh đạo và chính quyền của tỉnh Bắc Ninh về mối quan
hệ Đạo – Đời được cải thiện Hoạt động của GHCG Bắc Ninh bước sang thời kỳ đổi mới đã có những sự chuyển biến, đông đảo đồng bào Công giáo tích cực tham
gia các phong trào xây dựng cuộc sống mới thực hiện lối sống “Tốt đạo đẹp đời”
Sự chuyển biến của GHCG Bắc Ninh đã cho thấy, giáo hội đã từng bước
“thích nghi” để tồn tại, để phù hợp với tình hình mới theo chủ trương của Tòa thánh Vatican Mục tiêu của giáo hội Bắc Ninh là “chấn hưng gia đình”, “chấn hưng giáo hội”, đưa việc “Thánh hóa gia đình” vào chiều sâu Trong Thư chung năm 1995, ngoài việc phê phán các tệ nạn xã hội đã, đang xảy ra trong các thôn, xóm Công giáo, Giám mục Nguyễn Quang Tuyến còn khuyên mọi tín đồ hãy “xám hối”, “xưng tội”, “chịu lễ” và “rửa tội”, hãy cho con em đi học giáo lý, học văn hóa càng cao càng tốt Ngày 13/10/1995, giám mục Nguyễn Quang Tuyến lại có thông báo kêu gọi: “Hãy tích cực đóng góp vào công cuộc truyền giáo của giáo phận, cụ thể bằng lời cầu nguyện, bằng sự hy sinh thân mình, bằng cả tinh thần và vật chất,
để công việc rao giảng tin mừng của giáo hội được phát triển, hòa nhập vào việc truyền giáo của giáo hội toàn cầu…” [56, tr 5]
Từ chủ trương trên, hoạt động của GHCG Bắc Ninh đã có những nội dung, hình thức phương pháp rất đáng quan tâm, như: đẩy mạnh việc rao giảng giáo lý nhằm củng cố đức tin, phát triển tín đồ, duy trì các hình thức đọc kinh liên gia, các gia đình lập bàn thờ thánh tâm, cho in và phổ biến kinh sách, mở các cuộc thi cấp bằng chứng nhận thuộc giáo lý và kinh bổn cho lớp trẻ, mở thánh lễ riêng cho các giới, nội dung truyền giáo được chuyển sang các thể loại ca dao, dân ca quan họ để làm cho giáo dân dễ học, dễ nhớ Những việc làm đó của GHCG Bắc Ninh đã có tác động mạnh mẽ về tư tưởng tới đông đảo bà con giáo dân
Trang 25Tỉnh Bắc Ninh ngày nay là trung tâm của giáo phận Bắc Ninh (giáo phận Bắc Ninh gồm hơn 10 tỉnh ở phía Bắc với số lượng trên 10 vạn giáo dân), có nhà thờ chính tòa đặt tại thị xã Bắc Ninh Toàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay có khoảng 1,3 vạn giáo dân, 9 giáo xứ, 42 giáo họ trong đó có 9 họ đạo toàn tòng (ở 9 thôn) của
10 giáo xứ (xứ đạo) ở trên địa bàn của 55 thôn, 42 xã, phường của 8 huyện, thị xã Bắc Ninh có tòa giám mục và 40 cơ sở thờ tự (nhà thờ, nhà nguyện, dòng tu…) Số linh mục có 19 linh mục (Linh mục Đa Minh Nguyễn Văn Kinh là linh mục quản
hạt), và một giám mục (Đức giám mục đương nhiệm Cosma Hoàng Văn Đạt)
Bắc Ninh không có xã Công giáo toàn tòng, chỉ có 12 họ đạo toàn tòng, song tập trung tới 68,89% giáo dân của cả tỉnh Xã Tân Lãng – huyện Lương Tài là xã
có đông giáo dân nhất tỉnh, song mới chiếm 60% dân số của xã, vẫn chỉ có 4/7 thôn (3 thôn toàn tòng) có đạo Công giáo
1.2.2 Đặc điểm của cộng đồng Công giáo ở Bắc Ninh
1.2.2.1 Tình hình giáo dân ở Bắc Ninh
Quá trình du nhập và phát triển đạo Công giáo ở Bắc Ninh cùng với sự chuyển hướng hoạt động của GHCG với những nội dung đa dạng, nhiều hình thức mới phong phú đã có sức hấp dẫn lôi cuốn giáo dân Tất cả những điều đó đã tác động mạnh mẽ tới tư tưởng, tâm lý, tình cảm của đông đảo quần chúng tín đồ và thực sự nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt và sự phát triển chung của cộng đồng và xã hội của địa bàn tỉnh Bắc Ninh Trên cơ sở nghiên cứu và và tìm hiểu từ tình hình giáo dân ở tỉnh Bắc Ninh, bước đầu có thể rút ra một số đặc điểm sau:
- Một là, đại đa số giáo dân là người lao động, phần đông là nông dân sống ở
nông thôn, họ tích cực tham gia sản xuất, ổn định làm ăn, chăm lo cải thiện đời sống (làm nông nghiệp sống ở nông thôn (11.688 người), một số sống ở thị xã làm thợ thủ công, buôn bán nhỏ (thị xã Bắc Ninh có 939 giáo dân, sinh sống chủ yếu ở
03 phường) [56, tr.5]
Trong số 40 xứ họ đạo Công giáo của tỉnh chỉ có 02 họ đạo là họ nhà xứ Bắc Ninh và họ Thị - Đáp Cầu với 4,84 % số giáo dân của tỉnh thuộc vùng phi nông
Trang 26nghiệp, còn lại đều thuộc vùng sản xuất nông nghiệp Thêm vào đó, trước đây, các nhà truyền giáo đi cùng các thương nhân phương Tây vào Bắc Ninh bằng đường sông, hầu hết các họ giáo cổ, như: Tử Nê, Lai Tê, Nghĩa La, Phong Cốc, Tháp Dương, Xuân Hòa, Đồng Nhân… đều nằm ven các triền sông: Sông Thái Bình, Sông Đuống, Sông Cầu, Sông Ngũ Huyện Khê,… Những vùng này thuộc vùng chiêm trũng, rất khó khăn trong sản xuất, lưu thông, lại xa trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của địa phương Trước thời kỳ đổi mới, ở những nơi này đi lại rất khó khăn, mùa mưa bão có thôn phải đi lại bằng thuyền Việc đón nhận thông tin, thời sự, chính sách, pháp luật chậm, trẻ em khó học lên cao khi học xong tiểu học; thiếu điều kiện giao lưu về sản xuất, văn hóa, chính trị Giáo dân hình thành nếp sống, nếp tư duy an phận, tự cung, tự cấp, khép kín, co cụm trong khu vực Công giáo Chỉ có một vài họ giáo có nghề phụ như làm đậu, làm bánh đa, mỳ gạo… để trao đổi ở địa phương, không có làng nghề truyền thống theo mô hình sản xuất hàng hóa (Tử Nê, Xuân Hòa, Cẩm Giàng…)
Những năm qua, thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, đồng bào giáo dân rất yên tâm phấn khởi, ổn định làm ăn, chăm lo và đầu tư nguồn lực sản xuất Những mô hình làm ăn mới bằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng hóa ngành nghề, đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội ở các vùng dân cư sinh sống ngày càng phát triển Nhiều giáo dân ở những nơi trước đây gặp nhiều khó khăn, mà người dân Bắc Ninh thường nói là “vùng sâu, vùng xa” như các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài và một số xã của huyện Yên Phong, Tiên Du, Quế Võ… đã vươn lên hòa nhập với phong trào chung
Nhiều địa phương vùng Công giáo đã phát huy nguồn lực của cộng đồng bà con giáo dân, mạnh dạn đầu tư chiều sâu cho sản xuất, mở rộng các ngành nghề thủ công truyền thống, mạnh dạn ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, trồng trọt… theo hướng sản xuất hàng hóa Sự chuyển biến và thay đổi nhiều mặt đời sống xã hội của quần chúng tín đồ Công giáo ở Bắc Ninh được diễn ra nhiều nơi trong tỉnh Có thể kể đến nhiều thôn, xã của huyện Lương Tài, với nhiều
mô hình chuyển đổi sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học kỹ
Trang 27thuật trong chăn nuôi và trồng trọt… như Phượng Giáo (thị trấn Thứa), Thọ Ninh (Phú Lương), Tử Nê (Tân Lãng); Lai Tê (Trung Chính), Hương La (Tân Lãng); Nghĩa La (Trung Chính) Ngoài ra, các mô hình làm ăn đạt hiệu quả kinh tế cao bằng việc mở rộng sản xuất thâm canh, phát triển nghề phụ, khôi phục nghề truyền thống như thôn Xuân Hòa (Đại Xuân- Quế Võ); thôn Dũng Vi (Tri Phương – Tiên Du); Nam viêm (Lạc Vệ - Tiên Du)… Nhìn chung, đời sống của giáo dân ở những nơi nói trên đang có nhiều đổi mới, khởi sắc theo đà phát triển, nghèo đói ngày một giảm Trên 80% nhà dân đã được ngói hóa, 100% hộ có điện sinh hoạt Nhiều gia đình mua sắm được xe máy, ô tô, xe công nông, máy xay sát, máy cưa xẻ gỗ để phục vụ cho cuộc sống, cho dịch vụ và sản xuất Các cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, trạm điện, trạm bơm… nhiều nơi được Nhà nước đầu tư và nhân dân đóng góp vốn xây dựng cơ bản tạo ra sự chuyển biến đáng kể ở các vùng giáo dân
- Hai là, Tín đồ Công giáo ở các thôn Công giáo toàn tòng và vùng có đồng bào
Công giáo sinh sống thường hưởng ứng và tham gia tích cực vào các phong trào thi đua
và các hoạt động từ thiện xã hội
Việc bà con giáo dân tích cực tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” bởi vì cuộc vận động có những nội dung thiết thực phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của họ như: Đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao phúc lợi xã hội, phát huy truyền thống tương thân, tương ái, đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nếp sống văn hóa… Những nội dung của cuộc vận động vừa phù hợp với tâm lý, với mong muốn và phần nào đáp ứng lợi ích chính đáng của đông đảo quần chúng tín đồ, do vậy được mọi người nhiệt tình hưởng ửng tham gia
Điển hình như huyện Lương Tài, là nơi có đông đồng bào Công giáo sinh sống nhất của tỉnh Bắc Ninh, nhưng cũng là nơi đi đầu trong việc thực hiện và tham gia xây dựng phong trào nông thôn mới Làng Công giáo Dũng Vi (Tri Phương – Tiên Du) do phát triển kinh tế, các phong trào văn hóa xã hội được đẩy mạnh; xây dựng quy ước làng văn hóa và quỹ khuyến học được mọi người tự giác
Trang 28thực hiện tham gia Làng Công giáo Xuân Hòa là một trong những địa phương đã biết động viên bà con giáo dân tích cực tham gia hưởng ứng tất cả phong trào đề ra: từ phong trào thi đua sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng xóm làng, các phong trào văn hóa xã hội, đền ơn đáp nghĩa…
Nguyên nhân chủ yếu là do có sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự quản lý và tổ chức thực hiện kịp thời, sự đoàn kết thống nhất giữa tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể; phát huy tinh thần trách nhiệm ý thức cộng đồng của bà con giáo dân tham gia hưởng ứng các phong trào Điều dễ nhận thấy là ở những vùng có đồng bào Công giáo sinh sống rất ít có những tệ nạn xã hội xảy ra, phong trào trật tự trị an được giữ vững; các quy ước, hương ước của thôn xóm đề ra được bà con giáo dân tự giác chấp hành và thực hiện nghiêm túc Nhiều nơi đã rất chú trọng đến việc đầu tư cho con em học tập và thực hiện tốt cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, thực hành tiết kiệm trong các đám hiếu, đám hỷ, mừng thọ, việc làng…
Ba là, tín đồ Công giáo ở Bắc Ninh sống hòa đồng với cộng đồng dân cư ở
địa phương
Khi du nhập vào Việt Nam, đạo Công giáo mang theo nhiều chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức khác biệt đối với những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Quá trình truyền giáo của đạo Công giáo trong quá khứ song hành với quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân đối với Việt Nam tạo nên
sự day dứt, băn khoăn trong lương tâm của không ít giáo dân Một bộ phận linh mục, Giám mục chưa hiểu biết nhiều về những người cộng sản, rất e ngại về sự vô thần của Chủ nghĩa Cộng sản, vẫn bị chi phối nặng nề của Thư chung 9/11/1951 của HĐGM Việt Nam, nhận thức chưa đầy đủ về đường hướng hành đạo của GHCG Việt Nam được chỉ rõ trong Thư chung năm 1980 của HĐGM Việt Nam:
“sống phúc âm giữa lòng dân tộc, để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”
Nhưng ở Bắc Ninh, tư tưởng, đạo đức của Phật giáo, của văn hóa Kinh Bắc đã thấm đượm vào đời sống văn hóa tinh thần của người dân nên một bộ phận nhân dân đến với đạo Công giáo, sống gắn bó với cộng đồng dân cư, không những trong các sinh hoạt đời thường, mà còn trong cả các sinh hoạt tín ngưỡng Nhiều phong tục
Trang 29truyền thống như: thờ cúng tổ tiên, lễ hội… đã được khôi phục trong đạo Công giáo, vừa đảm bảo tính thích nghi, bản địa hóa của đạo Công giáo, vừa đáp ứng nhu cầu gắn
bó cộng đồng của giáo dân Các hoạt động mang tính cộng đồng, đồng bào không phân biệt các tôn giáo đều đoàn kết, cùng nhau tham gia với tinh thần “tối lửa- tắt đèn có nhau”, “lá lành đùm lá rách”, “chia ngọt xẻ bùi” với nhau theo đạo lý tương thân, tương
ái của dân tộc
Sự hoà đồng với dân cư ở địa phương chủ yếu là do nguồn gốc dân cư của đồng bào Công giáo ở Bắc Ninh không đa dạng phức tạp như các nơi khác, vì vậy quan hệ dân cư trong các làng xã rất ít sự phân biệt, đố kỵ giữa những người theo các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau Các cộng đồng dân cư sống hòa đồng, thông cảm với nhau phải chăng còn do họ đều là “dân anh, dân em” và dường như họ cũng phải hiểu nhau hơn để cùng chung sống trên cơ sở tình làng nghĩa xóm
Bốn là, tín đồ Công giáo ở Bắc Ninh có quan hệ tôn giáo rộng khắp đối với
các xứ, họ đạo ở miền Nam
Theo tư liệu của GHCG, trước khi ký hiệp định Giơnevơ năm 1954, giáo phận Bắc Ninh có gần 70 ngàn giáo dân, 68 linh mục triều, 12 linh mục dòng, 28 đại chủng sinh, 62 giáo xứ, 413 nhà thờ Sau hiệp định Giơnevơ 1954, 45 linh mục, tất cả chủng sinh, hơn 30 ngàn giáo dân (58,82%) di cư vào Nam Nhiều xứ, họ đạo của tỉnh Bắc Ninh, hầu hết giáo dân di cư vào Nam (Xuân Hòa trên 80%, Ngăm Giáo 95%, Thọ Ninh 78%,…)[32, tr.168] Số giáo dân di cư vào Nam sinh hoạt tại hầu khắp các xứ, họ đạo thuộc các giáo phận miền Nam Sau ngày 30 - 4 -
1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, việc đi lại, tìm kiếm người thân được người Công giáo Bắc Ninh rất quan tâm, tạo ra sự giao lưu tôn giáo giữa giáo phận Bắc Ninh với các giáo phận khác Tuy chưa có điều kiện tổng hợp đầy đủ, nhưng qua tiếp cận với các linh mục, nhiều vị chức việc, giáo dân ở các xứ, họ đạo cho thấy
đã có nguồn tài chính không nhỏ của các giáo dân Bắc Ninh ở miền Nam (và ở nước ngoài) hỗ trợ cho xứ họ bản quán để xây dựng, trung tu nhà thờ, phát triển kinh tế, tạo nguồn đi xuất khẩu lao động
Trang 30- Năm là, trình độ dân trí, nhận thức xã hội của quần chúng tín đồ còn nhiều
hạn chế, ý thức giác ngộ chính trị, hiểu biết pháp luật chưa cao; sự “vâng phục”,
“lệ thuộc” vào giáo hội, giáo lý, giáo luật còn rất nặng nề, họ coi trọng các hoạt động của cộng đồng Công giáo
Đa số những nơi có đồng bào Công giáo sinh sống đều nằm ở gần kề các con sông lớn và sông nhánh Điều này dễ cắt nghĩa bởi nó gắn liền với sự hoạt động của giáo sỹ thừa sai trà trộn cùng các thương nhân men theo các dòng sông để buôn bán
từ đó lợi dụng truyền đạo Có thể kể ra những địa danh nhận đạo ở Bắc Ninh vào những năm 1637- 1650, đó là các xứ Kẻ Mốt, Kẻ Nê…(Lương Tài), Kẻ Roi (Xuân Hòa – Quế Võ)… gần sông Cầu Đa số dân ở những vùng này là “vùng sâu, vùng xa”, hàng năm họ phải lo chống chọi với lũ lụt, ngập úng, đời sống sinh hoạt và sản xuất gặp nhiều khó khăn thiếu thốn Bản thân họ là những người lao động, nghèo khổ, trình độ nhận thức thấp nên dễ tin và đi theo “Chúa” và họ trở thành tín đồ [32, tr.168]
Kết quả khảo sát năm 2008 về trình độ lao động từ 15 tuổi trở lên cho thấy: 4,413 giáo dân (46,67%) từ 15 tuổi trở lên có trình độ học vấn từ lớp 5 trở xuống, (tỷ
lệ chung của tỉnh là 37,96%), số giáo dân có trình độ văn hóa trung học phổ thông mới đạt 12,7% (tỷ lệ chung của tỉnh là 19,74%), trong đó, huyện Lương Tài thấp nhất (mới đạt 10,52%) Toàn tỉnh mới chỉ có 260 giáo dân có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, chiếm 2,63% số lao động, trong đó có 102 người có trình độ Cao đẳng trở lên (1,03%) (tỷ lệ chung của tỉnh: Trung cấp 5,11%, Đại học, Cao đẳng 3,17%); chỉ có 185 giáo dân hiện là công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, đạt 1,41% số giáo dân (tỷ lệ chung của tỉnh là 2,93%), 17 giáo dân là cán bộ
công chức xã [32, tr.168]
Lương Tài là huyện có đông bào Công giáo, cũng là nơi có nhiều phong trào thi đua được đông đảo bà con giáo dân tham gia hưởng ứng trong đó lĩnh vực giáo dục có nhiều tiến bộ, song con số con em của họ (tính theo độ tuổi đi học) học phổ thông cơ sở cao nhất mới đạt 67 % phổ thông trung học đạt 8% [12, tr.8]
Trang 31Qua thăm dò ý kiến một số thôn xã có đồng bào Công giáo ở Ngô Khê (Phong Khê – Yên Phong), Cẩm Giàng (Đồng Nguyên – Từ Sơn), Tháp Dương (Trung Kênh – Lương Tài), Cứu Sơn (Đông Cứu – Gia Bình) cho thấy: có 45 % muốn con em học hết tiểu học (cấp I), 35% học hết phổ thông cơ sở (cấp II); 17% học hết phổ thông trung học (cấp III) và 3% số giáo dân có ý kiến cho con em theo học các trường trung học chuyên nghiệp, đại học, cao đẳng (Số này thường là các gia đình kinh tế khá, có thế lực và số ít là gia đình cán bộ kể cả cán bộ ở cơ sở)
Về mặt nhận thức xã hội, hiểu biết và chính sách pháp luật… đa số đồng bào Công giáo không hiểu, mặc dù nhiều gia đình có đài, tivi và cũng tham dự một số cuộc sinh hoạt do địa phương tổ chức (có thể do những lý do tế nhị, nên đa số giáo dân, không ít cặp vợ chồng con trẻ đã có tới 4- 5 con Cá biệt có một số trường hợp
vợ chồng có tới 7 con, ở khu vực nông thôn tỷ lệ phát triển dân số cao hơn khu vực thị trấn, thị xã và ở mức gần 2% (trong khi đó tỷ lệ chung của tỉnh năm 2000 là 1,22%)[12, tr.15]
Trình độ văn hóa thấp là nguyên nhân của sự nhận thức, hiểu biết về vấn đề chính trị xã hội hạn chế Có thể thấy ngay cả trong niềm tin tôn giáo của đồng bào Công giáo cũng còn có sự khác nhau Đa số giáo dân là những người lao động cần
cù, làm ăn lương thiện có niềm tin tôn giáo chân thực bền vững, một số ít tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt, khô đạo Bên cạnh đó vẫn còn một số người mặc cảm, cực đoan, có phần cuồng đạo quá khích Số này thường chiếm ít trong số giáo dân và thường là ở độ tuổi cao (hơn 50 tuổi trở nên)
Những năm qua, do sự phục hồi và phát triển đạo Công giáo, không ít giáo dân khô đạo, nhạt đạo đã trở lại nhà thờ và điều dễ nhận thấy số người thường xuyên cầu nguyện và đi lễ ở nhà thờ ngày một nhiều Lý giải điều này cũng có khá nhiều khía cạnh khác nhau: có thể do nhiều vấn đề của cuộc sống đặt ra, có thể do bản thân tự nguyện hoặc do bạn bè, người thân, sự ràng buộc của giáo lý, giáo luật
và cũng không loại trừ cả sự vận động, o ép, khống chế của cộng đồng và tổ chức giáo hội
Trang 32Vấn đề nổi lên đáng quan tâm đối với tín đồ Công giáo ở Bắc Ninh trong những năm gần đây là tín đố tích cực tham gia các hội đoàn Công giáo, giáo hội ở Bắc Ninh rất quan tâm đến việc củng cố và khôi phục, phát triển hội đoàn Ngoài những hội đoàn phục vụ lễ nghi tôn giáo, đã có khá nhiều các hội đoàn khác được khôi phục và có xu hướng phát triển như: Hội Thánh GiuSe, hội nghĩa binh thánh thể, hội gia thứ, hội gia đình tương trợ… Bắc Ninh hiện có không dưới 14 loại hội đoàn với tổng số 160 hội thuộc các xứ, họ đạo bao gồm 7445 người Nhiều xứ, họ đạo tập trung nhiều hội đoàn: các họ giáo thuộc 2 xứ Tử Nê, Lai Tê của huyện Lương Tài có 12 loại hội đoàn, ở 8 thôn vùng giáo với 3.818 người tham gia (trong
đó có 01 đảng viên)
Quần chúng tín đồ Công giáo Bắc Ninh còn đang đứng trước những khó khăn thử thách nhất là vấn đề việc làm và thu nhập, niềm tin tôn giáo và sự nhận thức giác ngộ chính trị, sự hòa nhập cộng đồng và việc tham gia các tổ chức hội đoàn Công giáo Đây là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để tăng cường công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo của các tổ chức đoàn thể xã hội, nhằm phát huy hơn nữa sự tham gia đóng góp cả về nghĩa vụ quyền lợi và trách nhiệm của họ trong công cuộc đổi mới quê hương, đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
1.2.2.2 Tình hình giáo sĩ
Sau hiệp định Giơnevơ năm 1945, do số giáo dân, giáo sĩ di cư vào Nam nhiều nên đã gây lên sự xáo trộn lớn, đặc biệt là sự thiếu linh mục làm mục vụ Hiện tượng này đã kéo dài hàng chục năm, cho đến khi có đường lối đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Theo thống kê, thời kỳ này, số giám mục, linh mục chỉ có 14 người nhưng chủ yếu là già yếu Theo thời gian, số lượng linh mục ngày một giảm do không có nguồn bổ sung, số linh mục già yếu thì qua đời Thời kỳ trước năm 1974, giáo phận Bắc Ninh chỉ
có một vị giám mục và một vài linh mục già yếu
Trong tình trạng thiếu hụt linh mục, các giáo phận phải khắc phục bằng giải pháp tình thế là đào tạo linh mục theo lối kèm cặp tại tòa giám mục giáo phận Ở
Trang 33đó, mỗi một linh mục được giao kèm cặp, đào tạo một hoặc vài người Những người này thường là những đại chủng sinh vốn đã học ở Đại chủng viện, khi Đại chủng viện đóng cửa, họ về quê làm ăn nhưng vẫn kiên trì tu học Sau một quá trình kèm cặp, đào tạo, giám mục giáo phận xem xét và phong chức linh mục cho
họ, đó gọi là cách đào tạo ngoại mạch Khi phong chức, đa số những người này đều
đã không được giáo hội xin phép cơ quan có thẩm quyền, hoặc có xin phép nhưng không được chính quyền cho phép, vì một số lý do của bản thân họ và một số quy định của Nhà nước lúc đó Những linh mục được phong chức theo cách này được các cơ quan quản lý nhà nước gọi là linh mục phong chui hay “linh mục áo ngắn” Với tình trạng chung đó, giáo phận Bắc Ninh lúc đó cũng không nằm ngoài xu hướng này Nhưng trên tinh thần đổi mới, năm 2007, trên cơ sở đề nghị của GHCG, UBND tỉnh đã chấp thuận phong chức linh mục cho số tu sĩ này
Các ứng sinh của giáo phận Bắc Ninh được nhận đào tạo để trở thành linh mục tại Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội cùng với 7 giáo phận: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Hóa, Phát Diệm, Bùi Chu, Thái Bình, Lạng Sơn Khóa đầu tên được
mở vào năm 1971 Từ năm 1971, Nhà nước cho phép Đại chủng viện Hà Nội cứ 3 năm được tuyển sinh một lần Đến năm 2002, là 2 năm một lần tuyển sinh Từ năm
2005, được Chính Phủ cho phép, Đại chủng viện Hà Nội được chiêu sinh một năm một lần Từ năm 2000 đến nay, khóa chiêu sinh nào, tỉnh Bắc Ninh nào cũng đều có ứng sinh theo học: năm 2000 có 2 ứng sinh, năm 2002 có 4 ứng sinh, năm 2006 có 3 ứng sinh Trình độ học vấn của các ứng sinh là tương đối cao, hầu hết đều đã tốt nghiệp một trường Đại học, Cao đẳng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân [32, tr.129-130]
Trường hợp một số chủng sinh đã lớn tuổi, trước đây đã đào tạo một thời gian, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh nào đó, đến nay chưa tốt nghiệp thì được tổ chức đào tạo ngắn hạn 2 năm Tỉnh Bắc Ninh có một số tu sĩ thuộc đối tượng trên nhưng chỉ có 3 tu sĩ là: Vũ Quang Mỹ, Chu Quang Tòng và Nguyễn Đức Hiểu theo học và đã được chính quyền chấp thuận cho tòa giám mục truyền chức linh mục cho 3 tu sĩ trên vào cuối năm 2006
Trang 34Đến năm 2007, toàn giáo phận đã có 33 vị linh mục, trong có 25 vị mới được thụ phong từ năm 1998 đến năm 2006 Cụ thể năm 1998 có 6 vị, năm 2003
có 8 vị, năm 2005 có 8 vị, năm 2006 có 3 vị (trong đó có hai vị được giáo hội phong linh mục từ năm 1974 nhưng chưa được Nhà nước công nhận là linh mục Chu Quang Tòng và linh mục Nguyễn Văn Hiểu; một vị trước đây đã học đại chủng viện nhưng chưa hoàn thành, trong năm 2006 đã đi học lớp bổ túc thần học
và được Nhà nước cho phép giáo hội truyền chức linh mục [32, tr 128]
Ngày 24 tháng 9 năm 2006, giám mục giáo phận Bắc Ninh Nguyễn Quang Tuyến qua đời Tháng 11 năm 2006, giám mục giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt được cử làm giám mục giám quản giáo phận Bắc Ninh
Ngày 01 tháng 01 năm 2008, Nhà nước thuận cho Tòa giám mục Bắc Ninh truyền chức linh mục cho 8 vị tu sỹ, nâng tổng số linh mục toàn giáo phận Bắc Ninh lên thành 40 vị Những tân linh mục này đã được bổ đi trụ xứ ở các tỉnh trong giáo phận, trong đó: Bắc Ninh là 12, Bắc Giang là 10 Vĩnh Phúc là 7, Thái Nguyên là 4, Xứ Đồng Chương (Tuyên Quang) là 3, Xứ Tư Đình (Hà Nội) là 2, xứ Vân Cương (Phú Thọ) là 1, Bắc Kạn là 1 [32, tr 128]
Đến nay số linh mục của giáo phận Bắc Ninh đã được giáo hội bổ nhiệm đi trụ xứ Các xứ ở tỉnh Bắc Ninh đến nay đều đã có linh mục Số linh mục ở tỉnh Bắc Ninh đến tháng 01 năm 2008 là 12 vị, trong đó: huyện Lương Tài có 3 vị (xứ Tử
Nê có 1 vị, xứ Lai Tê có 1 vị, họ Thọ Ninh có 1 vị); huyện Quế Võ có 3 vị (xứ Xuân Hòa có 1 vị, xứ Phong Cốc có 1 vị, họ Từ Phong có 1 vị); Thành phố Bắc Ninh có 5 vị (Tòa giám mục có 3 vị, họ Thị - Đáp Cầu: 1 vị, họ Ngô Khê có 1 vị);
xứ Cẩm Giàng (huyện Từ Sơn) có 1 vị Đến 2010 thì số linh mục đã tăng lên 19 vị
1.2.2.3 Tình hình các tu sĩ
Từ khi thành lập giáo phận 1883, các tu sĩ đã góp một phần không nhỏ vào
sự hình thành và phát triển địa phận, về nam tu có nhà Đức Chúa trời, về nữ tu có các nhà Mụ (Phước) Đaminh, và nhà Mụ của chị em dòng Mến Thánh giá (Crucis), ngoài ra còn có các nữ tu dòng Thánh Phaolo de Charte do các sơ người Pháp coi sóc, đến mở trường và lập nhiều nhà ở Bắc Ninh Nhìn chung, công việc của nữ tu
là trông coi nhà Mồ côi, nhà Thiên Thần, dạy giáo lý, cho của Ăn Đàng, mở nhà
Trang 35thuốc, phát thuốc, mở trường dạy học và các công việc truyền giáo ở vùng sâu, vùng xa
Biến cố lịch sử năm 1954, cuộc di cư ồ ạt làm ảnh hưởng đến đời sống thánh hiến trong giáo phận, chỉ còn 24 nữ tu ở lại bản quán Các cơ sở nhà dòng xuống cấp, đời sống tu hành đơn điệu, một số nữ tu bỏ về gia đình Các sơ nhà Mụ, và các
sơ Phaolô lục đục di chuyển vào niềm nam Chỉ còn một số ít tu sĩ già và những tu sĩ bệnh tật ở lại trông coi nhà cửa và giữ đất đai cho Giáo Hội Mảnh đất giáo phận Bắc Ninh trở nên vắng bóng các nữ tu và các thành phần khác của đời sống thánh hiến Năm 1963, khi Giám mục Phạm Đình Tụng về phụ trách giáo phận, bên cạnh việc duy trì sự tu hành tại các nhà dòng, ông còn chỉ đạo thực hiện hình thức “Tu tại gia” Với hình thức tu này, đến 1996, toàn tỉnh Hà Bắc (cũ) đã có 140 nữ tu, trong
đó 102 nữ tu tại gia [32, tr159 -160]
Đa phần những người nữ tận hiến sống trong các nhà Mụ (phước) di cư vào niềm nam Trong đó, một số ít chị em theo linh đạo của đức cha Lambert de la Mốt lập nên dòng Mến thánh giá Thủ Đức ngày nay Còn đa số các chị em sống theo linh đạo của cha thánh Đaminh, vì thế hình thành nên các dòng nữ Đaminh ở trong các giáo phận niềm nam
Chỉ còn “số sót” là một số ít cách chị em sống trong nhà Mụ (Phước Đaminh) ở lại địa phận bám trụ, giữ đất, giữ nhà Chính nhờ sự trung đạo, sùng tín của họ mà các nhà Mụ vẫn phát triển Phải đến những năm 1990 thì những chị em nhà Mụ mới được gửi vô dòng Đaminh nữ Rosa Lima để đào tạo và khấn dòng Tính đến hiện nay, con
số khấn dòng đã lên tới 60 nữ tu, không kể tiền tập và tập sinh Đây là con số nữ tu Đaminh cần thiết để Đức Cha giáo phận thiết lập một hội dòng nữ đầu tiên của giáo phận trong tương lai gần
Hiện nay, giáo phận Bắc Ninh tiếp quản các chị em tu hội Thánh Tâm, chị
em là người của giáo phận và phục vụ theo tinh thần sống tận hiến giữa đời do Đức Hồng y Phanxico Nguyễn Văn Thuận khởi lập Ngoài ra, hiện tại, giáo phận được sự phục vụ rất đông đảo của các hội dòng nam và nữ không thuộc giáo phận, các dòng nam như Đaminh, dòng Tên, Chúa Cứu Thế, Dons Bosco, dòng Đồng Công và sự trở lại của các nữ tu Mến Thánh Giá và Sainte Paul de Chartres
Trang 36Vị thế hiện nay của những con người thánh hiến trong giáo phận rất đa dạng
Họ chủ yếu tận hiến cho các công việc mục vụ giúp xứ và các giáo họ Đồng thời,
họ dành nhiều thời gian có các hoạt động tông đồ xã hội Tuy nhiên, họ đang phải đương đầu với nhiều thách đố mới nảy sinh, vì thế cần một nền đào tạo tương xứng, đội ngũ nhà đào tạo và điều hành có khả năng, và những phương tiện làm việc thích hợp Tất cả những nhu cầu cần thiết cấp bách để những người tận hiến
có thể trả lời những đòi hỏi của giáo hội địa phương và xã hội ngày hôm nay ở giáo phận Bắc Ninh
Về hoạt động của các nữ tu, chưa thấy các hành vi vi phạm pháp luật Họ là những người sùng đạo, gắn bó chặt chẽ với giáo hội, với bề trên Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, hiện có 3 dòng tu đang hoạt động, trong đó dòng Đa Minh đã đăng ký hoạt động với UBND tỉnh Trong những năm gần đây các nữ tu đã được giáo hội
cử đi học thêm các nghề như nuôi dạy trẻ, y tá, nghề thủ công Các nữ tu đang là lực lượng tích cực đi đến các họ đạo lẻ để truyền đạo, giảng giáo lý, hướng dẫn hoạt động của các hội đoàn Dòng tu của đạo Công giáo ở Bắc Ninh là lực lượng nòng cốt trong hoạt động kinh tế, từ thiện nhân đạo, có xu hướng mở rộng quan hệ với dòng Mến Thánh giá, dòng Truyền giáo ở Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh)
vì đây là các dòng có gốc thuộc dòng Đa Minh Bắc Ninh
Trang 37Chương 2 ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO TỈNH BẮC NINH VÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 2.1 Đời sống văn hóa của người Công giáo tỉnh Bắc Ninh
2.1.1 Quan niệm về đời sống văn hóa của người Công giáo
2.1.1.1 Văn hoá và đời sống văn hoá
* Về văn hoá
Văn hóa là một hiện tượng xã hội gắn với hoạt động của con người Từ khi con người khẳng định mình thực sự là người thì cũng là lúc bắt đầu của lịch sử văn hóa Khái niệm “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển ở cả phương Đông và phương Tây với những ý nghĩa khác nhau, từ cụ thể đến trừu tượng Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, số lượng định nghĩa văn hóa không ngừng gia tăng Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhiều nhà khoa học đã đưa ra con số hơn 400 định nghĩa về văn hóa Dựa vào những hướng tiếp cận, sự gần gũi giữa các định nghĩa, người ta tập hợp chúng thành các nhóm định nghĩa khác nhau với khoảng gần 20 nhóm Song mỗi nhóm định nghĩa này chỉ chú ý nêu bật một phương diện nào đó của văn hóa Do đó, việc tập hợp chúng để có cái nhìn toàn diện về văn hóa là một điều có ý nghĩa Dưới đây, có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu như:
“Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình
độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người
ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục…) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội” [60, tr 656]
“Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã
Trang 38hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [69, tr.10]
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa”[40, tr 431]
Như vậy, với các định nghĩa trên, văn hóa được nhìn nhận trên ba nội dung
cơ bản đó là:
- Hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, được lưu truyền, tích lũy trong lịch sử của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc cũng như toàn nhân loại, chúng hợp thành cái văn hóa khác với tự nhiên
- Hoạt động lao động của con người, yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của văn hóa
- Văn hóa là thước đo trình độ phát triển và thể hiện những đặc tính riêng của mỗi dân tộc
Còn trong mối quan hệ giữa con người với văn hóa thì con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, vừa là sản phẩm của văn hóa, đồng thời cũng là đại biểu, mang giá trị văn hóa
* Về đời sống văn hóa
Ở nước ta, khái niệm “đời sống văn hóa” thường gắn với khái niệm “đời sống văn hóa cơ sở”, khái niệm này được xuất hiện và sử dụng trong văn hóa từ năm 1982
Theo tác giả Hoàng Vinh, đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội mà đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh thần thì giúp con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa Khi xã hội phát triển
Trang 39lên cao, từ hai nhu cầu cơ bản trên hình thành nhu cầu văn hóa, thể hiện khía cạnh chất lượng của trình độ đáp ứng nhu cầu Xã hội càng tiến hóa, nhu cầu văn hóa và
sự đáp ứng nhu cầu đó càng cao, thể hiện trình độ phát triển Người Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người, đó chính là hoạt động văn hóa Hoạt động văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hóa do quá khứ để lại
và đương thời tạo ra [70, tr 263-264]
Theo đó, các sản phẩm văn hóa thường mang tính độc đáo, nó được sáng tạo
và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn – lịch sử của nhân loại Do nhu cầu
xã hội cần có sự điều tiết cho phù hợp với từng loại đối tượng, nên sản phẩm của văn hóa phải thông qua các thiết chế văn hóa – xã hội Như vậy, muốn cho các sản phẩm văn hóa nảy sinh và được vận hành trong đời sống xã hội thì phải có ba yếu tố: sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con người văn hóa Ba yếu tố đó tạo thành cấu trúc của đời sống văn hóa
Như vậy, nếu tiếp cận từ góc độ diện mạo của các hoạt động văn hóa thì đời sống văn hóa bao gồm: con người văn hóa, các sản phẩm văn hóa của cá nhân và cộng đồng, các thiết chế văn hóa, các hoạt động văn hóa, các giá trị văn hóa Có thể thấy đời sống văn hóa không phải là cấp số cộng của các sản phẩm văn hóa, các năng lực văn hóa của con người cũng như số cộng của các yếu tố văn hóa trong
những nhóm người riêng lẻ Đời sống văn hóa phải là tổng thể những hoạt động
sống của con người cùng với các giá trị văn hóa vận động trong sự tương tác giữa quá khứ và hiện đại, giữa cá nhân và cộng đồng
Có thể thấy, đời sống văn hóa là tích hợp của nhiều yếu tố xã hội, kinh tế, văn hóa, tác động qua lại với nhau thông qua hoạt động của từng cá nhân và gia đình trong môi trường sống, làm việc và nơi công cộng Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa, có thể xem xét đời sống văn hóa như một môi trường văn hóa, là không gian thuận lợi để diễn ra quá trình tương tác giữa cá nhân và cộng đồng Trong thực tế, đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể
và phi vật thể tác động vào từng cá nhân khác nhau, hình thành nên nếp sống và
Trang 40lối sống có cá tính của từng con người, đồng thời cũng hình thành những đặc trưng giao tiếp của từng cộng đồng người riêng biệt
Tóm lại, đời sống văn hóa tồn tại trong hoạt động sống của con người Nếu như đời sống vật chất hay đời sống tinh thần là các khái niệm chỉ những hoạt động sống của con người thì đời sống văn hóa như một khái niệm có tính bao trùm để chỉ mặt giá trị của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Thiếu đi
ý nghĩa văn hóa, đời sống của con người chỉ là một chuỗi các hoạt động hướng tới những nhu cầu bản năng Khái niệm đời sống vật chất hay đời sống tinh thần chỉ hàm chứa phương tiện, nội dung sinh hoạt; đó là những phương diện tồn tại cho mình, cho cá nhân Trong khi đó, khái niệm đời sống văn hóa phản ánh trình độ đáp ứng và xử lý hai loại nhu cầu nói trên, hàm chứa những mối quan hệ xã hội nhiều chiều Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức sinh hoạt văn hóa hiện thực và các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh
Trong thực tiễn của đời sống văn hóa nước ta hiện nay, khái niệm “đời sống văn hóa” gắn liền với khái niệm “xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” Mặc dù mỗi giai đoạn lịch sử luôn có những thay đổi về cơ chế và biện pháp quản lý, song đó vẫn là những nội dung chủ yếu để làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, xây dựng phát triển con người toàn diện – chủ thể của mọi sáng tạo văn hóa Chính
vì vậy, xây dựng đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hoá vùng đồng bào Công giáo tỉnh Bắc Ninh nói riêng là một nhiệm vụ quan trọng có tầm chiến lược Bởi vì nó không chỉ tạo ra những bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới và con người mới mà còn là tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
2.1.1.2 Văn hoá Công giáo và đời sống văn hoá của người Công giáo
* Về văn hoá Công giáo
Công giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới Vào những thế kỷ XVI, XVII, Công giáo là một hiện tượng xã hội, là một hình thức sinh hoạt về đức tin, về tâm linh, đồng thời, nó cũng là một hình thái tư tưởng Vì vậy, nó là bệ đỡ
về mặt tư tưởng của văn minh phương Tây Có thể nói, Công giáo có ảnh hưởng