1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu thuyết nguyễn xuân khánh từ hướng tiếp cận văn hóa học (qua mẫu thượng ngàn và đội gạo lên chùa)

102 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 896,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng viết về văn hoá Việt biểu hiện nét sinh hoạt qua hình thức cố kết cộng động làng với hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú; việc có mặt của thực dân Pháp với nghĩa là đại diện của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUỆ

TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH TỪ HƯỚNG

TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC

(QUA MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA)

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một mối quan tâm lớn của xã hội là việc gìn giữ những giá trị văn hoá, những nét độc đáo trong bản sắc dân tộc Mà văn học vừa là một bộ phận của văn hóa vừa là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc Dễ nhận thấy, có một con đường đến với văn hóa của mỗi dân tộc thông qua các tác phẩm văn chương Nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ đi suốt chiều dài lịch sử của đất nước

đã không ngừng khai thác những giá trị văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình Việc nghiên cứu bản văn hóa dân tộc trong tác phẩm văn học là hết sức cần thiết Bởi vì bản sắc văn hóa của tác phẩm văn học là một thuộc tính không thể tách rời của tác phẩm văn chương, là một yếu tố quan trọng làm nên giá trị muôn thuở của tác phẩm Tiếp cận tác phẩm văn chương không chỉ dừng lại ở các cấp độ hình ảnh, hình tượng, cấu trúc… mà còn có thể tiếp cận

từ góc nhìn văn hóa Có như vậy tác phẩm văn học mới hiện lên vẻ đẹp toàn diện của nó

Tiểu thuyết vốn là thể loại văn học có tính “phức hợp” nhất, với khả năng thâu nhận vào trong nó nhiều nhất những phương thức biểu hiện lẫn chất liệu nghệ thuật Văn hoá truyền thống của một cộng đồng vì thế trở thành một thứ chất liệu “ưa thích”, “mảnh đất giàu tiềm năng” để các nhà văn “cày, xới” Tuy nhiên, dù văn hoá là vấn đề muôn thuở của mọi thời đại, nhưng viết về

nó, nhất là viết hay thì cực kỳ khó Đó là bởi tính phức tạp và quá rộng lớn

Lẽ dĩ nhiên, nhà văn cần phải “khoanh vùng” một hoặc một số vấn đề nào đó

để đi sâu khai thác Hơn nữa, văn hoá bao giờ cũng được biểu hiện ra bằng các biểu tượng, hình tượng và rộng hơn là thế giới nghệ thuật Vì vậy, với một

cơ số biểu tượng nhất định, nhà văn đã có thể khái quát bộ mặt chung của cả nền văn hoá hoặc chí ít là những “lát cắt” trong cơ tầng văn hoá rộng lớn

Trang 3

Một thực tế văn học dễ nhận thấy trong những năm đầu thế kỷ XXI này, tuy số lượng tác phẩm khá hùng hậu, song để nó thực sự sống được trong đời sống văn chương thì rất ít Bởi có quá nhiều các loại hình giải trí, thưởng thức nghệ thuật với đủ phương thức chuyển tải Nếu tác phẩm không thực sự

đi vào lòng người đọc thì tất yếu xuất hiện rồi biến mất ngay sau đó Chính nhà văn với nhiệt huyết và nỗ lực tìm hướng đi phù hợp cho tác phẩm sẽ

“níu” người đọc về phía văn chương và rút ngắn khoảng cách với thành tựu nghệ thuật ngôn từ nhân loại Bằng ngòi bút có thể nói là điêu luyện, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã phác họa khá tinh tế và thú vị nhiều nét đặc trưng về nền văn hóa Việt trong truyền thống và cả hiện tại Đúng hơn là sự ứng hợp giữa chất liệu truyền thống với tư tưởng hiện đại Để rồi, khi đọc các tác phẩm này, người đọc có cảm giác như câu chuyện nhà văn kể đang diễn ra quanh mình, lúc sôi động khi trầm lắng Có lẽ bởi nhà văn đã “thổi” được vào tác phẩm cái không khí rất cuộc đời, vừa gần gũi vừa sâu sắc

Mỗi tác phẩm đạt đến giá trị văn học khi nó mang đến những thông

điệp nhân sinh và thẩm mĩ hữu ích cho độc giả Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo

lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh đã làm được điều đó Nhà văn bằng ngôn

ngữ nghệ thuật đã nỗ lực kiếm tìm và kiến giải về sức sống của dân tộc trong quá khứ - căn nguyên của mọi thắng lợi, trực diện là thực dân Pháp, đế quốc

Mỹ và xa hơn là lịch sử đấu tranh trải dài suốt mấy ngàn năm Nhưng ngược lại, lịch sử luôn chuyển dịch, không thể hiện tồn một hằng số văn hóa trong những biến đổi liên tục ấy của lịch sử-xã hội Bởi thế, đằng sau những mô tả

mê mải về sự yên ổn, vững chãi của cộng đồng, tác giả hé mở những rạn nứt, báo hiệu những đổi thay tất yếu xảy ra trước xu thế không thể đảo ngược của lịch sử Nếu vẫn “cố thủ” bằng hành trang là hằng số văn hóa làng với kiểu cố kết cộng đồng và tâm lí đám đông thì cái giá phải trả e rằng không tránh khỏi

sự trì trệ, tụt hậu

Trang 4

Luận văn chọn hai tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa

và sử dụng phương pháp tiếp cận từ hướng văn hóa học, bởi ở đó quy tụ nhiều vấn đề của đời sống văn hoá, ở đó bản sắc dân tộc được phản ánh dưới những bình diện khác nhau Cùng viết về văn hoá Việt biểu hiện nét sinh hoạt qua hình thức cố kết cộng động làng với hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú; việc có mặt của thực dân Pháp với nghĩa là đại diện của sự xâm lấn, sự đan xen của văn hoá ngoại lai ở đây là phương Tây; việc tiếp nhận, tiếp biến những luồng ý thức hệ và những tôn giáo một cách chủ ý hoặc ngẫu nhiên,…

Từ đây tác giả đặt những câu hỏi có tính thời cuộc, những mối trăn trở, cũng đồng thời là những vấn đề về văn hoá cần được xã hội giải quyết trong thời điểm hiện tại Nói đúng hơn, một câu hỏi đặt ra có phần gay gắt và khẩn thiết cho cả cộng đồng trong buổi giao lưu hội nhập Còn một lý do khác, chạm đến các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh một phần vì sự “tò mò” của chúng tôi trong việc muốn biết tại sao ngay khi xuất hiện, những tiểu thuyết này được dư luận, mà đặc biệt là giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao, liên tiếp đạt doanh thu lớn, những kỷ lục về số lần tái bản, nối bản

2 Lịch sử vấn đề

Tiểu thuyết Việt Nam có thể nói đã có những thành tựu đáng khích lệ Nhưng nếu nhìn xa ra bên ngoài, đặc biệt là văn chương phương Tây, thì tiểu thuyết của ta vẫn còn rất khiêm tốn Niềm tin và ước mơ cho một nền tiểu thuyết Việt Nam xứng đáng hơn là điều nên nhắc tới thường xuyên Nhưng vì

“nghệ thuật không phải là con đẻ của ý chí” và “thời của tiểu thuyết là thời của những tài năng lớn”, nên chuyện xuất hiện “tài năng” chắc chắn không thể nằm trong tầm kiểm soát của lí trí, cái mà chúng ta có thể làm hôm nay là kiểm duỵêt lại những gì tiểu thuyết hiện thời Việt Nam đã và đang làm Sự kiểm duyệt ở đây không đơn thuần chỉ “điểm mặt” mà còn “bóc tách” để duy trì cái cần làm, loại trừ cái không nên và đặc biệt, nhấn mạnh đến những cách

Trang 5

tân đổi mới tư duy tiểu thuyết như một sự động viên, khuyến khích Những mong tiểu thuyết Việt Nam càng ngày càng có những chuyển mình đáng kể

và “thay da đổi thịt” kịp thời

Từ trong lịch sử nghiên cứu văn học, xu hướng vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải văn học xuất hiện vào khoảng giữa thế

kỷ XX, người khởi xướng là giáo sư nghiên cứu học người Nga M.Bakhtin với quan niệm: “Trước hết, khoa nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn học Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một

thời đại trong đó nó tồn tại” [38, tr 29] Ở Việt Nam, Trong cuốn sách Nho

giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã

dùng cách khảo sát văn hóa - lịch sử, nhất là Nho giáo để giải quyết một số vấn đề của văn học Trung đại Việt Nam Đến nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn

trong chuyên luận Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa đã tiến

sâu hơn một bước trong vận dụng góc nhìn văn hóa để quan sát và giải thích các hiện tượng văn học Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều bài viết về vấn đề này của các tác giả như Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Lê Nguyên Cẩn, Huỳnh Như Phương… rải rác trong nhiều cuốn sách, chuyên luận, tạp chí chuyên ngành

Có thể thấy, thời gian gần đây trên văn đàn lẫn chuyên mục văn hóa nghệ thuật của các phương tiện thông tin rộ lên nhiều buổi toạ đàm, nhiều ý

kiến, nhiều cuộc trao đổi, giao lưu giới thiệu xoay quanh tiểu thuyết Đội gạo

lên chùa nói riêng và các tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói

chung Điều đó như một gợi ý cho trí “tò mò” của chúng tôi Và khi bắt tay tìm hiểu, “xâm nhập” vào những tiêu đề “chứa” các từ khóa “Nguyễn Xuân Khánh”, “Mẫu Thượng ngàn”, “Đội gạo lên chùa” lại gợi mở cho chúng tôi hàng loạt vấn đề liên quan, nhất là khi đối sánh với thực trạng đời sống văn

Trang 6

hóa xã hội Việt Nam đương thời Hy vọng với một công trình ít nhiều có tính khoa học, chúng tôi sẽ góp một tiếng nói, một cách nhìn của riêng mình về vấn đề này, về các tác phẩm này

Đầu tiên phải kể đến bài viết Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian

trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn trên Tạp chí nghiên cứu Văn học số 6 năm

2007 của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị An Bài nghiên cứu khá công phu và gần như khái quát được toàn bộ các vấn đề về nội dung lẫn nghệ thuật của

cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn Đặc biệt, vấn đề bản sắc văn hóa được

tác giả khảo cứu một cách chi tiết Và rồi đi đến khẳng định, văn hóa, lịch sử được tiểu thuyết hóa một cách uyển chuyển, vấn đề vốn được xem là hằng số văn hóa - vô thức tập thể cũng được “giải thiêng” nhưng với cách biểu hiện

hết sức tế nhị Cùng bàn về MẫuThượng ngàn còn có các bài viết “Nguyễn

Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc” (17/07/2006), tác giả Châu Diên

đăng trên VTC News, cùng trên trang này, tác giả Hòa Bình với “Mẫu

Thượng ngàn” - cơ duyên của Nguyễn Xuân Khánh” (13/09/2006); “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Về từ “Miền hoang tưởng””, tác giả Lê Thị Thanh

Bình đăng trên http://antgct.cand.com.vn (13/02/2007) và Nguyễn Thẩm Văn

viết “Nguyễn Xuân Khánh - Nhà văn không có tuổi đăng trên

http://phapluattp.vn, (19/03/2010)…

Đặc biệt hơn, sự “nổi lên” của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, tác phẩm

được “trình diện” bởi một “lão nhà văn” lập tức được phong danh hiệu “tác phẩm dài nhất của nhà văn nhiều tuổi nhất” Ở tuổi tám mươi chín cho ra đời tiểu thuyết gần chín trăm trang rõ là sự “xưa nay hiếm” ở xứ sở văn chương Việt Nam Lập tức giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2011

“nghiêng mình” trao cho ấn phẩm độc đáo này Tiếp đó là một Hội thảo do Viện Văn học tổ chức vào đầu quý III/ 2012 về Nguyễn Xuân Khánh và bộ ba

tiểu thuyết Hồ Qúy Ly, Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa với tiêu đề hội

Trang 7

thảo “Lịch sử và văn hóa - cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh” Trên Tạp chí Nhà văn (tháng 6/2011), tác giả Mai Anh Tuấn viết “Tiểu thuyết như

một tham khảo Phật giáo”, bài viết là một lời giới thiệu về vấn đề có thể xem

có tính cảm hứng chủ đạo của cuốn sách vừa “ra lò” này; cùng trong tháng

6/2011, Hoàng Việt Hằng viết “Thong thả kiếp người đội gạo lên chùa” đăng http://lethieunhon.com; “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh kiến giải về tâm thức

người Việt” là bài viết của Khánh Linh, Báo Công an nhân dân online và

“Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa - Mang đậm màu sắc Phật giáo” đăng trên

Quân đội nhân dân

Không “cưỡng” lại được sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này, các bài viết tiếp cận ở những góc độ khác nhau đã lần lượt xuất hiện trên các trang

thông tin như, Báo Lao động (10/7/2011),“Đội gạo lên chùa” - Tác phẩm và

dư luận; Sài Gòn Giải phóng online đăng bài “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Nhà văn phải là nhà tư tưởng”, tác Cao Minh (29/10/2011); nhà nghiên cứu

Hoài Nam viết “Đội gạo lên chùa - trong chùa và ngoài chùa,” đăng trên http://tuldvnhloc.wordpress.com (5/10/2011): “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh:

Viết cũng “tùy duyên”” của Hồng Minh trên www.tuanvietnam.net

(15/10/2011) Tác giả Toan Toan với bài viết “Khi U80 đội gạo lên chùa”,

Tiền phong online (08/2/2012)… Những bài viết trên đây bước đầu đã phân

tích, khẳng định những giá trị của Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa và

chỉ ra được một số đặc sắc văn hóa dân tộc được Nguyễn Xuân Khánh tái diễn dịch trong hai tác phẩm Đó là những thuận lợi, gợi mở cho chúng tôi khi thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này

Bên cạnh đó, tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh cũng trở thành đề tài nghiên cứu của học viên cao học, sinh viên tại các trường Đại học xã hội, Viện nghiên cứu chuyên ngành Trong số các luận văn, khoá luận liên quan tới tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh tại Trường Đại học KHXHNV Hà Nội,

Trang 8

chúng tôi thống kê có các đề tài như: “Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết

lịch sử qua Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác”; “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh dưới góc nhìn thể loại” (qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn); “Tiểu thuyết lịch

sử của Hoàng Quốc Hải và Nguyễn Xuân Khánh”; “Hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử” (qua khảo sát Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Giàn thiêu của Võ Thị Hảo); “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh”.vv… Một bản danh sách thống kê chưa đầy đủ về

những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh đối với đời sống văn học đương đại Việt Nam như trên, hoàn toàn đủ căn cứ để khẳng định, tác giả đã góp thêm một tiếng nói nghệ thuật có trọng lượng, có sức thuyết phục đối với tiến trình văn học Việt Nam nói chung, tiến trình cách tân tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn của mình chúng tôi sẽ đi từ khái niệm bản sắc văn hoá, đến mối liên hệ giữa văn hoá với văn học, khả năng dung chứa bức tranh sâu rộng về đời sống xã hội trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, thành quả lao động nghiêm túc và trường lực của một ngòi bút gạo cội Từ đó, làm nổi bật những vấn đề của văn hoá dân tộc vừa mang tính nền tảng vừa thể

hiện tính thời sự được nhà văn tái diễn dịch trong hai tiểu thuyết Mẫu Thượng

ngàn và Đội gạo lên chùa

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp đầu tiên và chính yếu của luận văn là phương pháp tiếp cận Văn hoá học

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học và lý thuyết tự sự học

Trang 9

5 Cấu trúc của Luận văn

Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Hướng tiếp cận văn hóa học và mối quan hệ giữa văn hóa - văn học

Chương 2: Văn hóa truyền thống trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh

Chương 3: Phương thức biểu hiện tác phẩm của tiểu thuyết Mẫu Thượng

ngàn và Đội gạo lên chùa

Trang 10

Chương 1 HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC VÀ MỐI QUAN HỆ

VĂN HÓA - VĂN HỌC

1.1 Mối quan hệ văn hóa - văn học

Tính văn hóa của tác phẩm văn học là tính chất đặc thù gắn liền với mỗi một tác phẩm văn học, cho thấy tác phẩm văn học không chỉ toát lên vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách ứng xử và cách tiếp nhận, xử lý cuộc sống của một dân tộc hay một cộng đồng người nhất định Nó không chỉ là quan niệm về con người được thể hiện tinh

tế của nghệ thuật ngôn từ mà đồng thời là chuẩn mực ứng xử của một cộng đồng, một dân tộc trong một thời kỳ lịch sử nhất định Mỗi một tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc trưng của dân tộc, của đất nước mà nơi đó tác phẩm được sinh ra Tính văn hóa trong tác phẩm văn chương cho phép hiểu rộng hơn giá trị của tác phẩm qua

hệ thống hình tượng, hình ảnh; tạo ra những suy tư liên hệ so sánh với các loại hình nghệ thuật khác cũng như với các nền văn hóa khác Tác phẩm văn học như là một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của các dân tộc, như là một trong những sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hóa một cộng đồng dân tộc, một đất nước Tác phẩm văn học xét

từ góc độ này trở thành thế giới của lý tưởng, thế giới của chân - thiện - mỹ, tạo ra niềm tin hướng thiện cho con người

Bản thân văn hóa còn là phương thức, hình thức hoạt động Từ góc độ này, tác phẩm văn học miêu tả và mang trong nó các biểu hiện văn hóa qua hành vi ứng xử với môi trường và xã hội Ứng xử với môi trường thể hiện qua quan niệm của con người đối với môi trường và môi trường trở thành thước

đo quan hệ ứng xử, thế nên, cây đa - bến nước - sân đình mới trở thành tình,

Trang 11

thành nghĩa, cây tre, cây dừa, chiếc gậy tầm vông mới mang trong đó sức mạnh dân tộc, vừa bất khuất vừa kiên cường Mặt khác, tác phẩm văn chương thường chứa đựng câu chuyện trong đó các nhân vật được đặt trong quan hệ giao tiếp, đối thoại với nhau, trong một phạm vị ứng xử văn hóa nào đó… Các ứng xử này đều mang đặc trưng văn hóa dân tộc, tạo ra màu sắc dân tộc, khiến mỗi tác phẩm không thể lẫn với các tác phẩm khác có thể cùng hình thức của các nền văn hóa khác Bởi vì có sự khác biệt trong cách ứng xử giữa người và người, hay ứng xử giữa các quan hệ xã hội

Cũng có thể khẳng định, nghiên cứu tính văn hóa trong tác phẩm văn học hết sức cần thiết Bởi vì, tính văn hóa của tác phẩm văn học là một thuộc tính không thể tách rời của tác phẩm văn chương, là yếu tố quan trọng làm nên giá trị muôn thuở của tác phẩm Nhà văn đích thực phải là một nhà hoạt động văn hoá, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hoá và người đọc là một người thụ hưởng văn hoá Tiếp cận tác phẩm văn chương không chỉ dừng lại ở các cấp độ hình ảnh, hình tượng, thi pháp, cấu trúc… mà còn tiếp cận từ góc nhìn văn hóa, chỉ có như vậy tác phẩm văn học mới thực sự hiện lên vẻ đẹp toàn diện của nó

Từ trong bản chất, văn hóa và văn học đã có mối quan hệ không tách rời Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ kết quả của những quan niệm, cách ứng

xử đó một cách sinh động nhất Để có được những kết quả quả này, văn hoá của một dân tộc cũng như của toàn nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội Văn học vừa thể hiện trong nó con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành Người ta cũng có thể nói văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật

Trang 12

1.2 Tiếp cận tác phẩm văn học từ văn hóa học

Trong chuyên luận Phương pháp luận nghiên cứu văn học của PGS.TS

Đoàn Đức Phương khẳng định, phương pháp tiếp cận văn hóa học vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm Đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức quan niệm về con người, về không - thời gian trong tác phẩm Khi nghiên cứu, xem xét, đánh giá một hiện tượng văn học, phương pháp tiếp cận văn hóa học có những tiêu chí tương ứng như: quan niệm về xã hội và các kiểu hình tượng xã hội trong văn học, đó là các kiểu không gian tồn tại của con người; quan hệ của con người với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên; quan niệm về con người gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể Có thể khái quát,

“phương pháp tiếp cận văn hóa học thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nét thời đại của tác phẩm” [38, tr 29]

Từ thành tựu của các nhà nghiên cứu, có thể thấy, việc tiếp cận tác phẩm văn học từ hướng văn hóa học có hai lối tiếp cận chính, một là, lấy một yếu tố nào đó của văn hóa như Nho giáo, Phật giáo, tín ngưỡng để lí giải

văn học Ví dụ ở Việt Nam có Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại

của tác giả Trần Đình Hượu Hai là, lấy những hoàn cảnh văn hóa-xã hội, hoặc văn hóa-lịch sử nào đó như một “ngọn nguồn” của sáng tạo văn học, xem như một cái “khung” để nghiên cứu tác phẩm, tác giả, trào lưu,… chẳng

hạn như công trình Văn học Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của tác giả Trần

Nho Thìn Ở cách tiếp cận này, văn hóa như một tổng thể, một hệ thống bao

gồm những yếu tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín

ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn trong đó có văn học Văn

hóa cũng như nhiều hệ thống khác là một hệ thống mở Trong đó, bao giờ

cũng có một yếu tố năng động hơn các yếu tố khác và đóng vai trò là yếu tố

Trang 13

chủ đạo Với hệ thống văn hóa Việt Nam, yếu tố chủ đạo ấy thường là văn học Biểu hiện ở việc, văn học thường xuyên thay đổi qua những thời đại văn hóa, luôn tiếp thu nhiều thứ khác ngoài hệ thống để phát triển và thiết lập cho mình một định mức riêng, không phụ thuộc hoàn toàn vào sự thăng biến của văn hóa, và đến một mức độ nào đó, văn học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa, thậm chí nó chống lại hệ thống, làm cho hệ thống phải thay đổi cùng với nó, ví dụ như bộ phận văn học của các nhà Nho tài tử trong thời kỳ văn học Trung đại…

Các nền văn hóa trên thế giới tồn tại và phát triển đều nhờ vào những hình thái văn hóa mang bản sắc như lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán… Những giá trị văn hóa đó được lưu giữ, truyền tụng bằng nhiều hình thức khác nhau, trong các hình thức đó có văn học Có thể ví văn hóa như “văn bản” chứa các ký tự là hệ thống các biểu tượng văn hóa Những “ký tự” này được truyền lưu bằng lối sống, tập tục của cộng đồng hoặc thông qua các hoại hình nghệ thuật Văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật, với phương tiện biểu hiện là ngôn từ có khả năng lưu giữ nhiều nhất những biểu tượng, hiện tượng văn hóa

Có thể thấy, tiếp cận tác phẩm văn học từ văn hóa gần đây được chú ý nhiều hơn, tiêu biểu như giới nghiên cứu của nền văn học “cường quốc” Trung Quốc (theo nhận định của các nhà nghiên cứu Việt Nam như Lê Nguyên Tiêu, Trần Lê Bảo…) Ở Việt Nam tuy chưa có nhiều công trình đồ

sộ về hướng nghiên cứu này, nhưng trên các diễn đàn chuyên ngành đã xuất hiện hàng loạt các bài viết, cũng như rải rác trong các chuyên luận, khảo cứu

Lý giải điều này dù có chút võ đoán, một phần là nhờ UNESCO thời gian gần đây phát động và chú trọng nhiều hơn đến phát triển văn hóa, nhất là thông qua các hình thức vinh danh; việc nhận thức văn hóa là động lực của sự phát triển cũng trở nên phổ biến Bên cạnh đó, thế giới càng xích lại gần nhau, sự

Trang 14

giao tiếp về văn hóa càng diễn ra mạnh mẽ Mà văn học là loại sản phẩm được tạo ra từ những “người thợ” thường nhạy cảm nhất trong một cộng đồng, họ sớm thức nhận và đưa vào tác phẩm của mình những biến động từ môi trường văn hóa xung quanh, thế nên, bỗng nhiên hàm lượng văn hóa trong các tác phẩm văn chương trở nên “đậm đặc” hơn…

Bỏ ra ngoài đặc trưng hư cấu, hơn nữa dù hư cấu vẫn phải dựa trên nền tảng của thực tiễn, văn học dưới mọi thời đại đều luôn đảm đương sứ mệnh là “đại sứ” kết nối hiểu biết của con người với tri thức, đặc biệt là tri thức văn hóa Không thể phủ nhận tri thức văn hóa trong tác phẩm văn học có khả năng “lưu hành” không biên giới Cùng với những yếu tố làm nên giá trị tác phẩm văn chương nói chung, tác phẩm văn xuôi nói riêng, các nhà văn đương đại Việt Nam đã khai thác và tái sử dụng triệt để các giá trị văn hóa dân tộc khi đưa vào tác phẩm của mình như một phần sức mạnh làm nên chiều sâu, cũng như sức sống dồi dào cho những văn phẩm ấy

Giá trị đích thực của văn học thể hiện ở chỗ nó phản ánh trong đó tất

cả các vấn đề văn hóa, xã hội, vận mệnh, tiền đồ của dân tộc, tinh thần của thời đại Văn hóa ở mặt biểu hiện, được thông qua các biểu tượng văn hóa, tức hình thức biểu đạt các giá trị, ý nghĩa mà con người đã tìm kiếm và chọn lựa theo một kiểu ứng xử nào đó, một quan hệ nào đó trong quá trình tiếp ứng với tự nhiên và xã hội Nhận thức các hệ thống biểu tượng và “giải mã” nó là

để hiểu về những giá trị, những tư tưởng được ẩn chìm bên trong thế giới của các biểu tượng ấy Đó cũng là một cách thức để chấp nhận, để khám phá tâm

lý, tính cách cũng như tinh thần của một dân tộc Và đó cũng là phương thức

để nhận biết về “bản sắc dân tộc”

Tái hiện không gian văn hóa với những biểu tượng “sống” trong lòng cộng đồng và mỗi thành viên của cộng đồng ấy là nhiệm vụ quan thiết của mỗi tác phẩm văn học Nhất là các thể loại tự sự Cũng vậy, không gian văn

Trang 15

hóa truyền thống trong các tác phẩm văn xuôi Việt Nam thường gắn với hình ảnh dòng sông, cánh đồng, cây đa, bến nước Đó là tình cảm gắn bó, là tâm lý

tự hào về ngôi đình làng, ngôi chùa làng của người làng Đông, làng Cổ Đình, làng Giếng Chùa, hay bất cứ ngôi làng nào khác trên đất nước Việt Nam Như

trong Bến không chồng của Dương Hướng, người dân nơi đây tự hào “Chẳng

to cũng gọi Đình Đông/Có cầu Đá Bạc bắc qua sông Đình/Chàng ơi có nhớ đến mình/Nhớ cầu Đá Bạc nhớ đình làng Đông”…

Không dừng lại ở phương diện miêu tả, bởi ruộng đồng, gò bãi, sông nước, mái đình… khi đó mới chỉ là không gian sống Các nhà văn sẽ làm nhiệm vụ “lần theo dấu vết” để lý giải sự có mặt của những hình ảnh, hiện tượng này Chính lúc đó, những giá trị văn hóa dân tộc được “sống lại” hoặc trở nên “động” hơn Lúc này mỗi khúc sông, mô đất, cánh đồng, gốc cây… đều chứa trong nó một lai lịch, huyền tích, và sâu hơn nữa là lịch sử văn hóa

dân tộc Ví như tín ngưỡng thờ Mẫu trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn, từ

trong lịch sử dân tộc, nó vốn dĩ là hình thức tín ngưỡng dân gian khá tiêu biểu, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, đến tiểu thuyết này, nhà văn cắt nghĩa về tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng ở những khía cạnh khác nữa, có sự nhào trộn trong những câu chuyện dân gian để biến một tín ngưỡng văn hóa giàu tính văn chương hơn Bởi vì, các giá trị văn hóa khi di nhập vào tác phẩm văn học chắc chắn sẽ sống động hơn, lúc này chúng có thêm bản chất của những

ký tự nghệ thuật, được cắt nghĩa theo những quan điểm mới lạ, hấp dẫn hơn

Tóm lại, văn học với tính cách là một yếu tố của hệ thống văn hóa bắt

buộc chịu sự “chi phối” hoặc “quy định” của văn hóa Ngược lại, văn học

cũng chính là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Do đó, tiếp cận một tác phẩm, tác giả hay một trào lưu đều phải tìm hiểu trước tiên là

hệ thống văn hóa mà tác phẩm, tác giả hay trào lưu ấy thuộc vào Đối với những tác phẩm văn học được sản sinh trong cùng một thời đại văn hóa, mang

Trang 16

những nét tương đồng về phương thức biểu hiện thì tiếp cận từ hướng văn hóa học chính là tìm ra được những cái riêng trong cái chung ấy Có thể hình dung cách tiếp cận này giống như việc tạo ra cái “neo” để lưu giữ con thuyền trên dòng nước Đối với Luận văn này, cả hai lối tiếp cận nêu trên sẽ được chúng tôi vận dụng trong giải quyết các vấn đề của tác phẩm để tương thích với từng luận điểm

1.3 Nguyễn Xuân Khánh, nhà văn tâm huyết với văn hóa dân tộc

Nhà văn sinh năm 1933, còn có bút danh Đào Nguyễn, sinh ra và lớn

lên tại một vùng quê ngoại thành Hà Nội Các tác phẩm chính: Rừng sâu (Tập truyện ngắn, 1963), Miền hoang tưởng (Tiểu thuyết, 1990), George Sand -

nhà văn của tình yêu (Chân dung văn học, 1993), Hồ Quý Ly (Tiểu thuyết,

2000 Tác phẩm được tặng Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, 1998 - 2000; Giải thưởng Thăng Long của Ủy ban Nhân dân

Thành phố Hà Nội, 2002; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội), Hai đứa trẻ

và con chó Mèo xóm núi (Truyện vừa thiếu nhi, 2002), Mưa quê (Tập truyện

ngắn thiếu nhi, 2003), Mẫu Thượng ngàn (Tiểu thuyết, 2006; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội), Đội gạo lên chùa (Tiểu thuyết 2010; Giải thưởng của

Hội Nhà văn Việt Nam 2011)…

Sau một thời gian lao đao về những chuyện “lệch lạc tư tưởng”,

Nguyễn Xuân Khánh nhập cuộc trở lại làng văn bằng tiểu thuyết Miền hoang

tưởng với bút danh Đào Nguyễn Tuy chịu không ít búa rìu dư luận song Miền hoang tưởng vẫn trụ vững trong không khí sáng tạo thời đổi mới, đưa đến cho

độc giả những cách nhìn, cảm nhận và đánh giá cuộc sống mới mẻ, đa chiều

Với tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh đã vươn tới một đỉnh

cao trong hành trình sáng tạo của mình Cuốn tiểu thuyết này được người đọc

nồng nhiệt đón nhận, đánh giá cao Tiếp đó, với tiểu thuyết Mẫu Thượng

ngàn, Nguyễn Xuân Khánh thực sự đưa đến cách hiểu mới về nền văn hóa

Trang 17

thôn quê Việt Nam trước cuộc đụng độ Đông - Tây, thể hiện mối trăn trở về những vấn đề quan thiết đặt ra đối với số phận một cộng đồng trong thời khắc

có tính giao thời của lịch sử dân tộc Rộng hơn là hành trình của một nền văn hóa truyền thống trong quá trình vừa gìn giữ các giá trị văn hóa bản địa, vừa thu nạp, tiếp biến và tích hợp vào trong nó những giá trị văn hóa ngoại lai

Xét về mặt bối cảnh lịch sử, có thể xem Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo

lên chùa là những lát cắt “đồng đại” Nhưng ở Mẫu Thượng ngàn, vấn đề tác

giả hướng đến là sự nỗ lực tìm kiếm một yếu tố mang tính nền tảng của văn hóa Việt, một hằng số có khả năng kiến tạo văn hóa Việt, có sức cố kết cộng đồng qua nhiều nổi nênh, thăng trầm của lịch sử dân tộc từ xa xưa đến hôm

nay, đến Đội gạo lên chùa, tác giả tập trung vào những vấn đề có phần cụ thể

hơn, đó là hình ảnh một Việt Nam chống chọi với sự lan tràn, xâm lấn của những thứ mà thực dân Pháp mang theo dưới gót giầy, sau đó là thời kỳ cải cách, rồi hợp tác hóa , lên đường vào Nam , rồi thống nhất đất nước… Làng xóm, họ tộc, gia đình tan rồi hợp, để cuối cùng quây tụ lại trong câu chuyện

về ngôi chùa làng Cũng có thể nói, tiểu thuyết như một lời cảnh tỉnh, một lối

tư duy ám thị của người viết dường như muốn “cổ xúy” cho lối sống hướng Phật đối với xã hội của thế kỷ hai mươi mốt có vẻ như đang “dạn nứt” phần nào những nếp văn hóa truyền thống trước sự lấn lướt của các luồng văn hóa ngoại nhập, hệ quả từ quá trình hội nhập quốc tế ồ ạt những năm gần đây

Không quá khi khẳng định, với Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên

chùa, tác giả hiện lên với bút lực của một nhà văn hóa, nhà tư tưởng trong tư

cách nhà văn Nếu Mẫu Thượng ngàn lựa chọn đạo Mẫu, các nhân vật được

bao bọc trong niềm tin có phần “hồn nhiên” về một thế giới đa thần, thường

xuyên tiếp xúc với sự phồn phụ, sinh sôi, thì ở Đội gạo lên chùa lại là những

kiếm tìm, những kiến giải về sức sống con người trong một cộng đồng dưới tác động và chịu chi phối bởi một tôn giáo không thuần dân tộc, ở đó khuyến

Trang 18

khích con người ta “diệt dục”, hay đúng hơn, những cá thể trong cộng đồng

ấy được tắm qua bể nước Phật đạo và sự có mặt của họ trở thành một khía cạnh nào đó có tính biểu tượng nhất định làm nên chỉnh thể chữ Tâm với giáo

lý “từ bi hỷ xả” Tuy nhiên, điểm gặp gỡ của cả hai lại chính là việc lấy bối cảnh khá nhạy cảm là điểm giao thời của sự tiếp xúc Đông-Tây xảy ra trên đất nước Việt Nam để làm “bệ đỡ” cho việc khám phá quá khứ dân tộc Sự tiếp xúc ấy biểu hiện ở nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội, đời sống sinh hoạt của con người, nhưng nổi lên và rõ ràng hơn cả là sự tiếp xúc, mối giao thoa văn hóa của những cộng đồng người trong những biên độ không gian khác nhau

Là nhà văn tự điều chỉnh, Nguyễn Xuân Khánh tiêu biểu, hay nói đúng hơn trở nên thích hợp với ngữ cảnh văn hóa, xã hội thời đổi mới Có thể tìm thấy ở tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh tiếng nói trực hiện, tinh tế và chân thành, bên cạnh những khao khát ẩn ngầm của thời đại Như phẩm tính thiện nguyện của người trí thức, ông đã đặt mình vào chuỗi ưu tư, tìm kiếm, đề đạt giá trị thực sự cho đời sống nhân sinh nhưng vẫn với tâm thái chung là niềm tin tưởng vào những giá trị truyền thống được truyền lưu và tái tạo tích cực

Trang 19

Chương 2 VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG TÁC PHẨM NGUYỄN XUÂN KHÁNH

2.1 Biểu tượng văn hóa và văn hóa truyền thống trong tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh

2.1.1 Biểu tượng văn hóa trong văn học

Biểu tượng văn hóa được hiểu là phương thức nhận thức của con người, biểu thị tâm lý cũng như tính cách của mỗi dân tộc Tính phong phú của biểu tượng chính là sự tương ứng với tính đa dạng của cuộc sống, và con người luôn muốn truy tìm, nắm bắt lấy nó, nhằm thoả mãn những nhu cầu trong đời sống xã hội Biểu tượng được xem là nhân tố gợi mở để con người phát hiện

và sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới Nó luôn ở vị trí trung tâm của đời sống văn hoá, hạt nhân tâm lý cho sự tưởng tượng, vừa làm bộc lộ những bí mật trong cõi vô thức, vừa trở thành động lực cho sự sáng tạo của thế giới hữu thức Biểu tượng cũng chính là dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài để nhận biết những gì thuộc sở hữu của một cộng đồng Nên nó tồn tại trong lòng cộng đồng và mỗi thành viên trong cộng đồng đó Do biểu tượng luôn chứa đựng những giá trị và điễn đạt được những điều mong muốn, cũng như những khát vọng của mọi thành viên trong cộng đồng, nên nó buộc người ta thừa nhận nó nếu muốn tồn tại Tất nhiên, với ý nghĩa của biểu tượng như vậy, chẳng có lý

gì mỗi thành viên lại không tự nguyện chấp nhận nó

Có thể thấy, mỗi cộng đồng người có hình thức biểu cảm khác nhau, cách thức đặt vấn đề và giải quyết vấn đề khác nhau Có khi nghiêng về triết

lý tư biện, cũng có khi trình bày suy nghĩ qua cảm nhận cảm tính Văn hóa với biểu hiện đa dạng của nó trong tác phẩm văn học là một yếu tố làm nên giá trị cho tác phẩm Tính văn hóa trong tác phẩm văn học tạo ra sự tương

Trang 20

đồng trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học ở những cộng đồng người không cùng một không gian nào đó Sự hình thành của những khái niệm văn hóa như văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây, văn hóa dân tộc, văn hóa vùng…

từ trong bản thân có khác nhau về mặt phạm vi, đó là do sự liên đới xa hay gần trong việc thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hóa nhất định Đương nhiên cũng đồng thời tạo nên hệ thống hình tượng, biểu tượng khác nhau trong đời sống nói chung, các loại hình văn học nghệ thuật nói riêng trong đó có văn học

Trong vấn đề này, cần thiết phải tìm hiểu một khái niệm khác, đó là bản sắc văn hóa Có nhiều cách trả lời khác nhau về bản sắc văn hóa dân tộc, người ta cũng mặc nhiên công nhận rằng bản sắc dân tộc là cái có thật, nên rất nhiều công trình gắng công tìm hiểu Nhưng truy tìm theo hướng nào và bằng cách nào là điều cần bàn đến Bởi một lẽ, ngay trong bản thân khái niệm văn hoá đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi do đứng ở những góc độ khoa học khác nhau để nghiên cứu Văn hoá xét về mặt biểu hiện là một hiện tượng xã hội

mà không phải hiện tượng tự nhiên, nó thuộc về giá trị tinh thần Theo nghĩa

chung nhất, văn hoá được xem là toàn bộ những hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại tạo thành những chuẩn mực hay giá trị, thị hiếu và truyền thống, gọi chung là hệ “giá trị - xã hội”, cũng đồng thời là một thành tố cơ bản làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc

Có thể nói bản sắc văn hóa dân tộc chính là sự thể hiện của tâm lý dân tộc, được biểu hiện ra ở lối sống, nếp sống, ở phong tục tập quán, ở sự ưa thích, cách suy nghĩ, ở thang bảng giá trị xã hội Tất cả cùng hiện ra những nét độc đáo, đặc sắc nhằm phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hóa dân tộc biểu hiện về bản lĩnh sáng tạo của mỗi dân tộc Được kết

tinh thành những “biểu tượng văn hóa” và thông qua hệ thống biểu tượng,

chúng ta có thể hiểu được tâm cách, cũng như tính cách của dân tộc đó

Trang 21

Nghiên cứu biểu tượng trong văn học là một biểu hiện của hướng nghiên cứu cứu văn hóa, văn học Qua thời gian và không gian, biểu tượng trong sự hiện tồn các hàm nghĩa vĩnh hằng và cả những hàm nghĩa mới mẻ được bồi cấp dần dần đã trở thành một sinh thể sống, một vũ trụ vi mô, một thế giới toàn vẹn Xem xét biểu tượng như những cổ mẫu trong văn hóa sẽ nhận thấy chiều sâu trong ý thức người nghệ sỹ, tìm về những giá trị truyền thống, cũng như sự tinh tế của

ý thức cộng đồng Nhưng tất nhiên, không phải hình tượng nghệ thuật nào cũng đều trở thành biểu tượng văn hóa Chỉ khi nào biểu tượng ngôn ngữ văn hóa xuất hiện trong những thao tác lựa chọn và kết hợp của một chủ thể sáng tạo nhất định thì nó mới trở thành một biểu tượng ngôn ngữ nghệ thuật Một hình ảnh trở thành biểu tượng khi nó ôm chứa được những cấp tầng ý nghĩa sâu xa hơn bản thân nó Biểu tượng, bởi thế vừa là một sự chưng cất của hình ảnh qua tâm hồn nghệ sỹ, vừa là một sự giãn nở biên độ của hình ảnh qua những mối liên kết với nhân vật, tình huống, môi trường văn hóa và các yếu

tố khác… Các hình ảnh hiện ra trong tác phẩm văn chương tự nó trở thành các ký hiệu, tín hiệu nghệ thuật mang nghĩa để tái hiện cuộc đời con người và/hoặc dân tộc Tuy vậy, việc sắp xếp, xử lý các chi tiết, các sự kiện được lấy từ cuộc sống sao cho trở thành chất liệu nghệ thuật đắc dụng, hợp lý còn phụ thuộc vào tài năng sáng tạo của mỗi cá nhân

Những ký hiệu trong hệ tác phẩm của một nền văn học nhất định dù dưới hình thức, hình ảnh hay hình tượng, biểu tượng hay biểu trưng đều mang một “mã văn hóa” đặc trưng của dân tộc, cho thấy tính chất dân tộc Do đó, việc khai thác tác phẩm văn chương không thể không đề cập tới tính văn hóa của hệ thống biểu tượng ấy Đồng thời, thông qua các hình tượng, hình ảnh, biểu tượng, ý nghĩa tượng trưng… được tổng kết lại trong kho tàng văn học dân gian, trong văn học viết chung cho cả dân tộc, hoặc có khi trở thành các

cổ mẫu của nhiều nền văn học lớn, mang tính phổ quát nhân loại nếu như các

Trang 22

hình ảnh, biểu tượng đó gắn với thần thoại, được chuyển tải vào văn hóa tôn giáo, vào Kinh Thánh…

Trong khi nghiên cứu tác phẩm văn học, nếu chú ý phân tích ý nghĩa văn hóa của một số biểu tượng, môtip, có thể tìm thấy những lớp nghĩa phong phú bên trong tác phẩm Thực tế, biểu tượng được các nhà nghiên cứu văn hóa, cũng như văn học rất coi trọng vì nó là “đơn vị cơ bản” của văn hóa, là

“hạt nhân di truyền xã hội” và bởi nó được sinh ra nhờ năng lực biểu tượng hóa của con người Con người tư duy bằng biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng, thể hiện tâm tư tình cảm sâu kín nhất cũng như thăng hoa những khát vọng đều bằng biểu tượng Chính vì vậy mới có nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng “văn hóa là dòng thác biểu tượng đi từ người này sang người khác”

2.1.2 Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa - nơi gặp gỡ của biểu tượng văn hóa làng

Với hai tiểu thuyết đang nhắc tới, có thể thấy nổi lên một số biểu hiện của bản sắc văn hoá như hiện tượng “vô thức tập thể” hay tâm lí đám đông Đây là hiện tượng văn hoá truyền thống từ ngàn xưa, ứng hợp với quan hệ ứng xử của một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước, với kiểu quan hệ cộng đồng làng xã Hiện tượng này thường có sự gắn kết chặt chẽ với hình tượng ngôi làng Nhà văn tìm thấy sự tương đồng ở tính bất biến tâm lý đám đông

và cộng đồng làng, rộng hơn là “liên làng” thông qua sự đồng chất của đám đông với làng ở “sự biến mất cá tính có ý thức và việc định hướng những tình cảm, tư tưởng theo một chiều nhất định; sự gặp gỡ của tính cộng đồng ở làng

và ở đám đông vì họ đã có một thứ tâm hồn tập thể để cảm nhận, suy nghĩ và hành động theo một cách hoàn toàn khác với cách mà một cá nhân riêng lẻ vẫn cảm nhận, suy nghĩ và hành động” [5, tr 79] Từ bối cảnh chật hẹp của những ngôi làng và những mối liên hệ liên làng, tác giả nhìn thấy sự đồng

Trang 23

thuận vững chãi cần được khai phóng, cũng như những mù quáng và thiển cận cần được dẫn lối chỉ đường

Mỗi dân tộc trong quá trình sáng tạo và phát triển văn hóa của mình, đã hình thành một số nội dung “vô thức tập thể” có nội hàm lịch sử phong phú, thẩm thấu vào các lớp của sáng tạo văn học trong các thời đại khác nhau Dù thời gian qua đi, các triều đại-chế độ xã hội thay đổi, nhưng những biểu tượng một khi đã trở thành biểu tượng văn hóa vẫn tồn tại bền bỉ, ngoan cường trong tâm thức con người của cộng đồng dân tộc ấy Và nếu như, trong quá trình tiếp nhận văn học, có thể phát hiện những bộ phận nhỏ của tác phẩm, sẽ mở rộng được tầm nhìn, khảo sát được cả chiều rộng và chiều sâu, cũng như sẽ phát hiện ra và nắm bắt được những nhân tố có tính cộng đồng từ trong cội

nguồn lịch sử văn hóa của nó có khi rất sâu kín Ở đây, hai tiểu thuyết Mẫu

Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa đều sử dụng biểu tượng là hình ảnh ngôi

làng làm trung tâm của sự cố kết cộng đồng, đồng thời là điểm tựa để các cá nhân trong đó bộc lộ tính cách Nói cách khác qua đó, làm nổi bật hình tượng người dân Việt Nam trong mối liên đới với hiện tượng “tâm lý đám đông” và những yếu tố cấu thành nên một chỉnh thể văn hóa mang tính thuần Việt - văn hóa làng

Khi nhắc đến biểu tượng văn hoá làng hẳn nhiên không thể thiếu hình tượng những ngôi đền, mái đình, mái chùa Đó không đơn thuần là những thiết chế văn hoá của tín ngưỡng, của tôn giáo, đạo phái, mà sự hiện hữu của chúng còn bám rễ, ăn sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt khi ý thức về văn hoá truyền thống, về cộng đồng làng xã của họ từ ngàn xưa Nếu ngôi

đình của làng Cổ Đình trong Mẫu Thượng ngàn là niềm kiêu hãnh của người dân nơi đây, thì ngôi chùa Sọ trong Đội gạo lên chùa là nơi gửi gắm sự bình

yên cho tâm hồn của những con người bé mọn khi họ xa cơ lỡ bước, khi họ cần một chốn an ủi cho những mất mát, đau thương mà số phận buộc phải

Trang 24

gánh chịu, thậm chí là nơi cất giấu sự tinh khiết, trong ngần khi người ta không thể tiếp tục tồn sinh ở cái thế giới của bụi bặm, xô bồ chốn trần gian

Nếu như trong Mẫu Thượng ngàn, tiếng kèn đưa tiễn trở thành biểu

tượng của tình yêu, của sự trọn nghĩa vẹn tình và niềm tri ân sâu nặng của ông trưởng Kiên với vợ là bà Ngát Cây mít trong vườn trở thành biểu tượng của

sự tiếp nối dòng họ, của sự lưu truyền đối với ông Đồ Tiết Cây đa đầu làng

hùng vĩ trở thành niềm kiêu hãnh của người dân Cổ Đình thì ở Đội gạo lên

chùa đó là tiếng chuông ngân từ ngôi chùa Sọ mang theo tâm tình của người

làng Sọ, tiếng chuông ấy vang lên những âm thanh trầm - bổng, vui - buồn khác nhau hòa vào nỗi niềm của con người nơi đây Đó là cái giếng chùa tỏa hương thơm mát, nơi cô bé Rêu tinh khôi, hồn nhiên đã trẫm mình để trốn khỏi cuộc đời của những toan tính, dối gian Giếng nước ấy như biểu tượng

về một loại “nước thánh” để gột rửa những bụi trần, để cất giữ những thứ hương thơm linh diệu hiếm hoi cho đời mà cậu bé An những lúc buồn lòng, những khi thất vọng, hoang mang thường tìm đến…

Nương theo cách hiểu này thì mẫu số chung của những tục thờ mà

Nguyễn Xuân Khánh miêu tả trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn từ tục thờ

thần cây đa, thần cẩu, đến lễ hội thờ ông Đùng, bà Đà, lễ hội đền Mẫu, tín ngưỡng vật linh… chính là sợi dây liên kết của hình thức văn hóa làng, cũng như mối tương đồng của nhiều ngôi làng trên khắp đất nước, đặc biệt là vùng Bắc bộ Việt Nam

Như vậy, cả trong Mẫu Thượng ngàn lẫn Đội gạo lên chùa, không gian

gần như rút về một cái làng Bắc bộ, một cái làng cổ truyền nhưng giống như một mảnh đất mà những hạt giống văn minh, văn hóa sẽ được gieo cấy, bị thử thách, đào thải hoặc thu nhận Bằng cái sức mạnh văn hóa nhân bản của mình chứ không phải sức mạnh vũ lực, làng đã chiến thắng cái ngoại lai Những đồn bốt, những đạo quân chinh phục đến rồi đi Cả những cái ấu trĩ, cái giản

Trang 25

đơn đến ngây thơ đôi khi đến tàn bạo của một vài chính sách như cải cách ruộng đất cũng bị văn hóa làng gạn lọc Làng đón nhận các tôn giáo: Từ Thiên chúa giáo thâm nhập vào xứ sở này qua ngôi nhà thờ làng được xây dựng nên bởi Cha Colembert, người nghệ sĩ Pierre và những giáo dân An Nam trong đó có cả những người như Trưởng Cam Đến Khổng giáo hiện ra qua những nhà Nho làng xã như cụ đồ Tiết, cụ Tú Cao cũng đã “chung sống hòa bình” với đạo Mẫu và những tín ngưỡng có tính cách ma thuật; là cuộc hành trình tôn giáo của người tu sĩ Vô Úy từ núi thiêng Yên Tử trở về ngôi chùa làng, và rồi được chọn như nơi sống và chịu “nghiệp”, để thực hành đúng cái triết lý “cư trần lạc đạo thả tùy duyên”

2.2 Tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh phản ánh sức sống của tín ngưỡng

trong đời sống người Việt (qua Mẫu Thượng ngàn)

2.2.1 Yếu tố tâm linh trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

Trong cấu trúc văn hoá, phong tục là yếu tố thường xuyên biến đổi Phong tục quy định ứng xử của con người nhưng chính con người lại làm ra phong tục Thời gian sẽ thử thách và bảo tồn những phong tục tốt đẹp như những giá trị văn hoá, đồng thời điều chỉnh, sửa sang những phong tục chỉ thích hợp với một không gian văn hóa và thời gian lịch sử nhất định Ở khía cạnh này, công chúng nhìn vào thái độ của văn học cũng có nghĩa là để tham khảo một cách ứng xử phù hợp

Tâm linh là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật Mối quan hệ giữa biểu tượng văn hóa và hình tượng văn học như một tất yếu được thức nhận chủ yếu qua ý thức tâm linh Tâm linh cũng gắn liền với cái “siêu thức” - cái mà có khi vượt quá cảm nhận của tư duy thông thường

và không dễ gì giải thích nổi với nhận thức của trí não Đặc biệt, tâm linh luôn gắn liền với niềm tin tâm thức - tức niềm tin vào bản thể mình và những giá trị thiêng liêng mà mình đã thức nhận Tâm linh hay niềm tin hiểu theo cách ấy rõ

Trang 26

ràng là một cái gì đó không thể thiếu trong mỗi con người Tuy nhiên, tâm linh không tự có mà nó đòi hỏi những điều kiện nhất định, đó là một quá trình tự rèn luyện khắc khổ, tự đấu tranh, đòi hỏi ý chí và sự thông tuệ Theo một số tài liệu nghiên cứu, tâm linh là một hình thái ý thức đặc thù của con người mà

ở đó có sự nhận thức về những giá trị thiêng liêng hiện tồn trong đời sống tinh thần, chứa đựng sự tôn thờ, lòng kính trọng

Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật được biểu hiện ở hai mặt: nội dung và hình thức nghệ thuật Về nội dung, đó là sự thức nhận những giá trị thiêng liêng trong hiện thực đời sống, trong mối quan hệ giữa con người với xã hội và với chính mình; là sự thăng hoa trong niềm tin thiêng liêng và

sự tôn kính đối với các đấng bậc Chúa, Trời, Phật, thần thánh như một biểu tượng về những giá trị tốt đẹp, vĩnh hằng Ở phương diện này, văn học chủ yếu đề cập đến con người tâm linh mà một nội dung chủ đạo là để khẳng định

sự tồn tại của bình diện vô thức với những tính năng đặc biệt Đó là niềm tin

và hành động vươn tới những giá trị vĩnh hằng, niềm tin vào hồn đất của

người dân Cổ Đình và hành động ngồi đồng trong Mẫu Thượng ngàn… Đó là

sự tin tưởng tuyệt đối vào triết lý “từ bi hỷ xả” của nhà Phật; niềm ngưỡng vọng trước khả năng “thanh tẩy” mà Phật đạo mang đến cho đời và ứng

nghiệm trong đời mà các nhân vật trong Đội gạo lên chùa đã thức nhận Về

nghệ thuật, đó là việc nhà văn xây dựng các hình ảnh biểu tượng thiêng liêng làm khơi dậy những xúc cảm cao quý ở con người Đây chính là phương diện tạo nên điểm nhấn quan trọng về nghệ thuật tâm linh trong văn học nói chung

và trong tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới nói riêng

Trong tác phẩm văn học, người ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Đó là những tín ngưỡng, phong tục trong

tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh như đạo Mẫu và tín

ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng,

Trang 27

cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi… Ở Đội gạo lên

chùa, Nguyễn Xuân Khánh lại tạo dựng nên từ một thế giới đa sắc của những

người có niềm tin vào tâm linh, vào thuyết lý giao hòa âm dương, luật nhân quả… Nhân vật bà vãi Thầm có thể coi như người có duyên đi về giữa hai cõi

âm dương, mách bảo cho người dương về sự hiện hữu của thế giới tâm linh

Vì có niềm tin tâm linh nên sư Vô Trần biết mình có duyên nhưng không có nghiệp với nhà chùa đã sớm lựa chọn theo một đường hướng khác Đó còn là

sự dâng hiến trọn vẹn trong tình yêu, hy sinh cao cả cho tình yêu như Nguyệt

trong Đội gạo lên chùa, bà Tổ Cô trong MẫuTthượng ngàn…

Khi nói đến tâm linh, người ta cũng thường gắn với sự xuất hiện những yếu tố huyễn hoặc, kỳ bí mà những thao tác của khoa học không bao giờ lý

giải nổi Trong Đội gạo lên chùa đó là hình tượng bà vãi Thầm có thể đi lại,

liên thông hai thế giới, vừa tâm tình được với con người lại vừa chuyện trò được với ma; hình ảnh những con đom đóm ma lập lòe, chờn vờn trong cái hư

ảo của đêm, chứa trong chúng là linh hồn nửa ma nửa người Cả cái chết của

cô bé Rêu nơi giếng thơm ngoài chùa làng cũng có phần huyền hoặc, cái chết của sự trong trắng, tinh khôi làm nước giếng tỏa mùi thơm ngào ngạt hơn, sau

đó là sự hiện hình trở lại cuộc đời của một con vàng anh hót trên giàn mướp,

cất lên bài ca cháy lòng về thế thái nhân tình… Còn trong Mẫu Thượng ngàn,

đó là sự có mặt của ông hộ Hiếu giữ chùa đổ có thể chữa bệnh bằng cách đuổi con ma trong người bệnh; là hành động trừng phạt dành cho cha con Lý Cỏn khi vứt thần cẩu xuống hồ làng; là sự xuất hiện của con rắn trắng mà người dân gọi là “ngựa ngài” khi một tên thực dân người Pháp dám phỉ báng đạo Mẫu là tà đạo…

Ở một mức độ nhất định, khi đề cập đến vấn đề tâm linh của tác phẩm cũng có thể hiểu là sự xâm nhập của các yếu tố kỳ ảo vào trong nó Giữa chúng có mối tương liên mật thiết, trong văn xuôi dân gian thường dung nạp

Trang 28

yếu tố huyễn hoặc, kỳ bí Nhưng tất nhiên chúng không hoàn toàn đồng nhất Bản chất của văn học chứa đựng yếu tố kỳ ảo “là sự “xé rách” thực tại bằng một yếu tố kỳ ảo nào đó mà có khả năng gây nên sự hoang mang, do dự, sợ hãi cho người đọc” và đó là “nơi người ta luôn bị dẫn dắt vào mê lộ thực -

ảo” Mẫu Thượng ngàn được xem là cuốn tiểu thuyết giàu giá trị ở việc thể

hiện một cách độc đáo những nét đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục tập quán của văn hóa Việt Tác giả đã tạo dựng trong đó một thế giới tâm linh đa dạng, đậm nét từ ngoại cảnh đến nội tâm thông qua hàng loạt những hình ảnh liên quan trực tiếp đến đời sống, tín ngưỡng và phong tục người Việt Có khi chỉ

là hình ảnh đơn sơ, bình dị nhưng cũng trở thành biểu tượng trong tâm thức người dân Cổ Đình Bởi những hình ảnh ấy khi đi vào tác phẩm đều được thổi hồn để mang chứa một ý nghĩa biểu trưng sâu sắc

Tác giả đã cấp cho nhân vật bà Tổ cô một cuộc đời được đan bện bằng những huyền thoại, để trở thành một biểu tượng về lòng thủy chung, đạo nghĩa vợ chồng, cũng như cách ứng xử không khéo trong từng hoàn cảnh, từng người xung quanh Từ chuyện bà có nuôi một con Hắc xà mà người dân quen gọi là “ngựa ngài” đã là một việc làm thu phục được lòng tin, sự sùng kính của mọi người trong truyện có một sự kiện xảy ra, khi nhân vật Julien tới thăm đền Mẫu, với thái độ xem thường cho rằng rắn không đáng được thờ,

đã tự giật hai con rắn bằng vải, lập tức Hắc xà xuất hiện và cứ vậy đuổi theo Julinen khiến hắn khiếp sợ chạy tháo thân khỏi đền Mẫu

Cô Mùi cũng là dạng nhân vật mang tính tâm linh khi cô có khả năng chữa bệnh chỉ bằng cách nắm bàn tay người bệnh, rồi đặt lên đó niềm tin của Mẫu: “Con hãy thật tin vào hai bàn tay con Mẹ cho con để làm dịu cái đau của người ta Khi hai bàn tay nắm lấy hai bàn tay tức là lòng đã nói với lòng Nếu con muốn xin cho người bệnh khỏi đau ốm, thì ý muốn của con truyền qua tay, sẽ đến với người bệnh” [7, tr 700-701] Chính cách chữa bệnh hiệu

Trang 29

nghiệm mà cô Mùi mang đến cho mọi người đã khiến củng cố lòng tin tuyệt đối trong họ, đến với cô họ cảm thấy được xoa dịu nỗi đau và thanh thản

Nhân vật ông hộ Hiếu cũng được khắc tả mang dáng dấp của màu sắc huyền thoại: “Có một lần đang chặt cây thì mưa ập tới Mưa to gió lớn, sấm sét đùng đùng Ông đội nón thu lu trú mưa dưới một gốc cây to; trước mặt là một vạt rừng bị chặt phá nên đất trống quang quẻ Một tiếng sét xé trời đánh vào khu rừng đằng trước Mấy tiếng sét nổ liên tiếp sau đó làm ông nhắm mắt lại… quả cầu sáng chói đâm vào mặt, không tài nào tránh được Thế là ông ngã vật xuống, hôn mê bất tỉnh Những người thợ bạn ông khiêng ông về nhà Ông nằm liền một tuần không biết gì nhưng vẫn còn thở… Lúc ông tỉnh dậy thì điều lạ lùng đã xảy ra Nhìn vào con người ông có thể trông thấy rõ các ngũ tạng, tim gan, não,… và có thể nhận ra bộ phận nào khỏe mạnh, bộ phận nào đau ốm” [7, tr 241] Cách chữa bệnh của hộ Hiếu cũng hết sức kỳ quái, nhưng lại được chứng thực qua việc ông chữa khỏi bệnh cho bọn trẻ con trong làng, cho bà ba Páo và cho Pierre…

Ngoài nhân vật huyền thoại ông Đùng bà Đà làm nên linh hồn cho tác phẩm nói chung, màu sắc tâm linh nói riêng, việc tác giả sử dụng yếu tố kỳ ảo trong xây dựng hình tượng các nhân vật nói trên, góp phần tạo ra một không khí linh thiêng cho truyện kể, đồng thời thể hiện được vẻ đẹp trong đời sống tâm linh của người dân Việt

2.2.2 Tín ngưỡng dân gian trong Mẫu Thượng ngàn - Những hình thức biểu hiện

2.2.2.1 Lễ hội và tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội

Như đã dẫn nhập vấn đề từ phần trước, bản sắc văn hoá bao giờ cũng được biểu hiện bằng những biểu tượng, những hiện tượng văn hóa nhất định

Có thể xem, biểu tượng chính là hình thức ngoại hiện của văn hoá, còn hệ thống ý nghĩa nằm bên trong mỗi biểu tượng ấy là nội dung cơ bản Nhận

Trang 30

diện biểu tượng văn hóa và “giải mã” nó để hiểu về những giá trị, những tư tưởng được chìm ẩn bên trong Đó là một cách thức để chấp nhận, để khám phá tâm lý, tính cách cũng như tinh thần của một dân tộc, là phương thức nhận biết về “bản sắc dân tộc”

Đối tượng hướng đến của lễ hội có khi là những hiện tượng tự nhiên, gắn với “tín ngưỡng thờ đa thần”, có khi là sự “phục chế” lại nhân vật trong một số tích truyện dân gian, có khi là nhân vật, sự kiện hay một hình tượng nào đó gắn với chiến tích lịch sử của cộng đồng, dân tộc… Nhưng tựu chung lại, đối tượng hay nhân vật trung tâm của lễ hội đa phần sẽ được khoác “tấm

áo thiêng” để trở thành thần linh Thần linh là biểu tượng phổ quát trong tín ngưỡng truyền thống dân tộc Việt từ xa xưa Dù có dù không, sự hiển linh của thần linh trong tâm thức người Việt Nam là có thật, thậm chí tác động của biểu tượng này hết sức mạnh mẽ Đồng thời, trong các hành vi bày tỏ sự tôn thờ, ngưỡng vọng tới thần linh, lễ hội là hình thức sinh hoạt tâm linh, là nơi thần linh hiện hữu phổ biến nhất

Theo một góc độ nào đó, ở phương diện lý giải sự có mặt của lễ hội

theo tác giả Mẫu Thượng ngàn thì, do phải đối diện với nhiều nỗi lo lắng từ

đau ốm, đói nghèo, những đe dọa, sợ hãi trước kẻ thù xâm lăng, khiến sự an toàn trở thành một nhu cầu thường trực trong “bao tâm hồn cay cực của nông dân”, nên khi đến lễ hội, họ mang theo “tâm thế của lòng sùng tín Họ sẵn sàng đến để nhập cuộc, mê đắm, sẵn sàng rũ bỏ tục lụy thường nhật để dấn thân vào những cõi trời siêu nghiệm xa lạ, ở đó ta trở về với ta tức ta trở về với mẹ, ở đó là sự yên bình, niềm an ủi, cái kì diệu thánh thiện ” [7, tr 705]

Như vậy, việc tìm đến với lễ hội, nương cậy tôn giáo, tín ngưỡng của người dân Việt còn vì một lí do thực tiễn, tìm kiếm sự an toàn cho đời sống thế tục Thế nên, trong cuộc đương đầu với thực dân Pháp, lẽ ra thần thánh địa phương phải tỏ uy lực hơn, thì một lời tiên tri của hộ Hiếu khi dặn con gái

Trang 31

“con hãy nhớ kĩ Đừng đi! Đừng đi xem hội” [7, tr 687] lại cho thấy gốc

rễ của sự sợ hãi, chính là sự hiện hữu của thế lực chinh phục, cụ thể hơn là sự xâm phạm thân thể của kẻ chinh phục Đúng như kết quả của lời dặn dò có tính tiên tri ấy, việc nhân vật Julien xâm phạm thân thể Nhụ - một cá nhân từng được bao bọc bởi tín ngưỡng bản địa từ thuở nhỏ, được thẩm thấu những lời hay ý đẹp và luôn tâm niệm về một thế giới thanh khiết, nhân từ đã xảy ra

nghi thức “linh tinh tình phộc” ở lễ hội Trò Trám (Phú Thọ) Vốn xuất hiện từ

xa xưa, ngày này đến vùng đất này vẫn được nghe người già trong vùng kể về

lễ hội này như sau, vào lúc 0 giờ ngày 12 tháng Giêng, đôi trai gái nam đóng khố cởi trần, nữ mặc váy ngắn yếm đào dùng hai linh vật tượng trưng là cái

mo nang và cái dùi gỗ vông “phộc” vào đủ 3 lần trong bóng tối, trước các linh

vị thần miếu Sau đó thì trai gái được tự do chơi trò “linh tinh tình phộc” với nhau ở ngoài rừng trám

Từ trong các phương thức truyền lưu văn hóa, nhất là qua kho tàng văn học nghệ thuật dân gian, có thể khẳng định, tín ngưỡng phồn thực là một loại hình tín ngưỡng mang tính nhân loại Tâm điểm của truyện kể dân gian cũng như lễ hội dân gian được miêu tả trong truyện nổi lên ở “sức ám thị” của

tín ngưỡng phồn thực Bởi thế, huyền thoại và các hành vi thế tục mới được

xác lập thông qua khát khao được trải nghiệm đời sống tính giao của trai gái trong làng Cổ Đình thể hiện ở tục “trải ổ” và tín ngưỡng phồn thực ở đây chìm dưới tảng băng nổi là huyền thoại về hai vị thần khổng lồ sáng tạo vũ trụ

Trang 32

- huyền thoại “Nữ Oa - Tứ Tượng”, về cuộc hôn nhân của hai anh em ruột sống sót sau trận đại hồng thủy Khi các cụ trong làng quyết định dựng vợ gả chồng cho hai anh em Đùng và Đà với điều kiện: “Hai anh em nhà đó phải đi đến trước cửa đền Mẫu ở chân núi, quay lưng lại nhau Sau đó, họ theo con đường vòng quanh chân núi Mẫu mà đi Đường ấy khá dài Nửa buổi mới đi hết Anh Đùng trên đường đi, hễ gặp người đàn bà đầu tiên nào thì lấy người

đó làm vợ Cô Đà cũng thế, hễ gặp người đàn ông đầu tiên nào thì phải lấy người đó làm chồng” [7, tr 654] Thế nhưng “bỗng nhiên trời nhòa lại Sương

mù đột nhiên từ trong núi xa tràn tới Sương mù dày đặc trùm kín núi mẫu và những vạt rừng xung quanh Một chuyện lạ đã xảy ra - đám trai đi đón đường đều bị lạc hết Họ là người địa phương mà lạc đường mới lạ Đến trưa hai anh

em đều đi được một vòng song không hề gặp người lạ” [7, tr 655] Đến cuộc

ái ân của họ cũng vô cùng lạ lùng: “Một buổi tối, vào lúc nửa đêm, dân làng đang ngủ yên, bỗng thấy cái giường đột nhiên chao đảo tựa như đưa võng Đất rung lên từng đợt, từng đợt Mới đầu nhẹ nhàng, sau rung mạnh, thỉnh thoảng xen một vài tiếng cười khúc khích Thì ra ông Đùng bà Đà ân ái với nhau làm cho núi cũng phải rung lên, rừng cũng phải rung lên khoan khoái” [7, tr 657]

Một lễ hội thông thường bao giờ cũng có phần lễ và phần hội, thế

nhưng lễ hội ông Đùng bà Đà trong Mẫu Thượng ngàn lại có vẻ như là sự kêt

hợp của hai phần: phần đạo và phần đời, trong đó, phần đời sau hội được chú trọng nhiều hơn Hội ông Đùng bà Đà là hội gắn với tục “trải ổ”, “tục lệ cho phép trai gái yêu nhau, dù chưa được cưới xin, được phép tạo một chiếc giường tình, được phép tạo một chiếc ổ thơm tho, êm ái cho cuộc yêu đương của mình trong một hang đá hoặc dưới một vòm cây nào đó ở trong rừng, cạnh núi Đùng Cô gái nào có mang lúc trải ổ trong thời kỳ ấy được coi là rất may mắn Cô ta sẽ sinh quý tử” [7, tr 725] Có lẽ vì thế, lớp trẻ làng Cổ Đình

Trang 33

ao ước, mong ngóng và sửa soạn kỹ lưỡng, hối hả đến với phần đời của hội

mà không bận tâm nhiều đến bi kịch của nhân vật huyền thoại thể hiện trên bề mặt trò diễn “Sự sống quan trọng hơn, họ còn bận sống Những đôi trai gái

đã rủ nhau từ trước” [7, tr 731] Không khí say mê cuốn cả làng Cổ Đình về quá khứ như một thứ “vô thức tập thể”, không còn thấy đâu dấu hiệu của sự cấm đoán nghiệt ngã, sự lên án gay gắt đã từng xảy ra với nhân vật huyền thoại Vậy là, chính cái không gian tinh thần của lễ hội kia đã gắn kết người dân làng Cổ Đình vào một mối quan tâm chung - nơi hứa hẹn giải tỏa ao ước lặng thầm nhưng mãnh liệt và bền bỉ của trai gái làng về một trải nghiệm vượt khuôn khổ, “một khoảng khắc tự do được vi phạm điều cấm kỵ” [7, tr 724], được tận hưởng ánh chớp của hạnh phúc, chỉ lóe lên vào ngày hội Không gian tinh thần của lễ hội tạo muôn lối rẽ cho những con người mang khát vọng yêu đương và muốn được thỏa sức đưa khát vọng ấy đến một không gian vật chất riêng của họ Về ý nghĩa của sự phồn thực, như người viết gián tiếp đặt vào nhận định của một nhân vật là người ngoại tộc Vừa như một ẩn ý cho cuộc đấu tranh văn hóa giữa người Việt và người Pháp, thậm chí ngay cả trên giường ngủ, lại vừa thể hiện sức sống, sự phồn phụ sinh sôi, làm nên sức mạnh cứu rỗi dân tộc và mang tính nhân bản của xứ sở phương Đông bé nhỏ Việt Nam

2.2.2.2 Tín ngưỡng thờ vật linh

Tín ngưỡng thờ vật linh xuất phát từ tín ngưỡng thờ đa thần vốn có từ

ngàn xưa trong văn hóa truyền thống Đến Mẫu Thượng ngàn, để khẳng định

sự tồn tại của tín ngưỡng thờ đa thần của người Việt một cách khách quan nhất, người kể chuyện đã để một nhà dân tộc học ngoại bang nhận xét: “Ở xứ

sở này, chỗ nào, nhà nào cũng thờ thần Đất Đất cũng có hồn, đó là hồn Đất

Nó là tổng hợp của những hồn người, hồn ma, hồn cây cỏ, ao hồ, cả hồn đá nữa Chúng ta thường chê dân bản xứ là vô đạo, thực ra họ là những kẻ phiếm

Trang 34

thần giáo Họ tôn sùng sự bí ẩn, thiêng liêng của tất cả thiên nhiên Mới đầu tôi cũng như anh cho họ là những kẻ tà giáo Nhưng điều cay đắng mà tôi nhận ra: đó là người dân ở xứ này biết hòa vào thiên nhiên” [7, tr 193] Một cách nhìn khác, “ở xứ nhiệt đới này, từ lá cây ngọn cỏ đến luồng không khí huyền ảo mà ta hít thở, từ con mắt đen nhánh ngơ ngác của con người đến thân hình mềm dẻo đầy nhục cảm của người đàn bà bản xứ, tất cả đối với người phương Tây đều xa lạ, đều như thù nghịch, đều như chẳng chịu hòa hợp, chúng đều mang những tố chất loại trừ” [7, tr 374] Đây là những dẫn chứng xác tín và hoàn toàn thuyết phục với bất cứ dân tộc nào muốn tìm biết

về văn hóa truyền thống Việt Nam

Mặt khác, khi đã tin vào sự có thật của linh hồn vạn vật, tức là tin cả sự tồn lưu của linh hồn ấy sau khi phần xác của những vật kia đã bị hủy diệt Người thờ vật linh cho rằng, bởi linh hồn có liên lạc với người sống và mọi hành vi của họ có thể đem lại niềm vui, cũng có thể đưa đến sự bất mãn cho linh hồn, cho nên niềm tin vào sự tồn tại ấy dẫn tới sự sùng kính linh hồn một cách tự nhiên

Niềm tin vào sự hiện hữu của linh hồn vạn vật được người kể chuyện

trong Mẫu Thượng ngàn dẫn dụ một cách khéo léo khi để những nhân vật

ngoại bang có cơ hội trải nghiệm phép màu ma thuật của làng Cổ Đình, từ đó thấm thía hơn cái nền văn hóa đa thần huyền bí này Đầu tiên là chàng họa sỹ ngoại bang Pierre, được cứu sống nhờ việc cúng ma, uống thuốc bùa, phải chịu đau đớn vì thầy cúng là ông Hộ Hiếu đánh roi dâu trừ tà lên người để đuổi con ma cụt đầu, từ đó Pierre thức tỉnh, anh ta bắt đầu suy nghĩ về sức kháng cự của văn hóa bản địa với tất cả sự thâm trầm, bí ẩn, và nhận ra đó chính là nguyên do một xứ sở bé nhỏ lại khiến một ngoại bang hùng mạnh không tài nào đè bẹp nổi Và rồi, chính những tên thực dân đã lên tiếng bênh vực và đánh giá cao tín ngưỡng dân gian bản địa, sánh nó ngang hàng với

Trang 35

những tôn giáo lớn: “Tôi nghĩ bất cứ tôn giáo nào cũng đều có trạng thái lên đồng Cơ Đốc giáo có sự thiên khải, Phật giáo có trạng thái ngộ đạo Khi đã lí thuyết hóa, ta mới coi đó là tôn giáo Còn những sự thiên khải vô ngôn thì sao? Còn những người bình thường bằng trực giác bỗng nhiên thấy được những điều đẹp đẽ bí ẩn thì sao?” [7, tr 715]

Nói đến tín ngưỡng thờ vật linh trong Mẫu Thượng ngàn, phải kể đến

tục “thờ thần cây” Tục này vốn có từ trong lịch sử văn hóa dân tộc bao đời, nhưng vào đầu thế kỷ XXI lại diễn ra một cách phổ biến hơn ở nhiều làng quê, vùng miền Có vẻ như con người của thời hiện đại luôn hoài nghi lý trí

và tin nhiều hơn vào sự tồn tại của thánh thần, hồn khói Sự xuất hiện dày đặc của những hình thức tế lễ cũng đồng nghĩa với việc con người của thời hiện đại đang nhiều hơn những bất tin vào những thứ họ đang có Bởi vậy, những

tình tiết, giai thoại Nguyễn Xuân Khánh viết trong Mẫu Thượng ngàn mang

tính trải nghiệm xuyên suốt, nó len lỏi trong lòng đời sống một bộ phận cư dân và được cộng đồng chấp nhận Một cây đa trở thành niềm kiêu hãnh của tất cả các thành viên trong làng Cổ Đình, không phải chỉ vì chiều cao, độ lớn của nó, mà còn vì “tính thiêng” Đó là “một cây đa cổ thụ nổi tiếng, gốc to chục người ôm không xuể Một cây đa vừa hùng vĩ, vừa đẹp, người trong vùng ai cũng biết Người ta dùng nó làm điểm xác định vị trí “Làng tôi là làng Già, cách làng Cổ Đình hai cây số về phía đông” [7, tr 220] Thực tế, tập tục thờ vật linh là đặc trưng của loài người từ thuở nguyên khai khi còn tồn tại dưới hình thức các bộ lạc, nhưng theo thời gian, vì vẫn đáp ứng những nhu cầu về mặt tâm linh của con người nên nó đã tự nâng lên, biến đổi và tiếp tục

có mặt trong những môi trường văn hóa mới, nói cách khác, dưới những hình thức ngưỡng vọng hiện đại hơn nhưng không thay đổi nhiều về bản chất

Trong niềm tin chung của người dân Cổ Đình, còn là hành vi thờ một ông thần cẩu Việc thờ chó đá, theo các nhà nghiên cứu là một tục thờ xuất

Trang 36

hiện muộn nhưng khá phổ biến ở các làng quê Bắc bộ Có nơi người ta chôn chó đá dưới đất, có nơi đặt lên ngai thờ, cũng có khi tạc trên hai cây cột dựng trước cổng Chó được thờ với mục đích canh cửa để trừ tà hoặc giữ của Ý nghĩa này phù hợp với quan niệm máu chó có thể trừ quỷ dữ vẫn truyền lưu trong dân gian Hiện nay ở một số bảo tàng còn lưu giữ những tượng thần cẩu với nhiều cách gọi như “Cẩu thần”, “Cẩu tử linh thần”… Nhà nghiên cứu văn hóa Kiều Thu Hoạch có kết luận: “Tiếp cận từ góc nhìn nghiên cứu liên ngành

- nhân loại học văn hóa, folklore, văn bản học Hán Nôm, kết hợp với điều tra thực địa nhiều lần tại nơi có di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: Bệ thờ chó

đá cùng các hành vi tín ngưỡng và thực hành tín ngưỡng thờ chó đá đã có trong lịch sử và hiện vẫn đang tồn tại một cách sống động tại nhiều địa phương/nơi thờ phụng, cho thấy tín ngưỡng chó đá, biểu hiện thực tiễn của tục thờ chó của người Việt là một tín ngưỡng dân gian vốn đã có từ xa xưa trong lịch sử dân tộc” [17] Như vậy, tục thờ chó đã có từ xa xưa ở các làng quê Việt Nam tới bối cảnh làng Cổ Đình đầu thế kỷ XX qua mô tả của Nguyễn Xuân Khánh và tục thờ chó trong dân gian ngày nay hiện ra như một mạch ngầm vẫn chảy cùng thời gian, tồn tại với nghĩa là một trải nghiệm khá thú vị của cộng đồng

Có thể khẳng định, tín ngưỡng thờ vật linh vốn nằm trong quan niệm

“vạn vật hữu linh” của người Việt Trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn, tác

giả đã dựng nên một không gian hư ảo, cái biên giới của không gian hư ảo ấy được mở rộng bởi sự lan truyền của tin đồn về những phép thiêng hiện hữu, cũng như sức thu hút của những tin đồn ấy Rõ ràng, những phép lạ ở tín ngưỡng vật linh trong không gian tinh thần cư dân làng quê Bắc bộ đầu thế kỷ

XX quả thực không mấy xa lạ với những ám ảnh trong tinh thần con người Việt ở không gian xã hội đầu thế kỷ XXI này

Trang 37

Để minh chứng cho hiện tượng này có thể nhắc đến một sự việc vừa xảy ra cách đây vài tháng, ở một vùng quê Bắc Giang xuất hiện một con rắn

lạ và người dân nơi đây gọi là “Rắn thần” Họ truyền nhau về những biểu hiện

kỳ lạ của con rắn ấy, họ lập am, trong am có bàn thờ, người dân khắp nơi tò

mò đổ về xem “thần rắn”, họ gọi nó là “ngài” và thi nhau khấn vái để xin lộc

từ ngài, họ chống đối mạnh mẽ việc chính quyền địa phương gọi đó là hiện tượng mê tín, lợi dụng niềm tin tín ngưỡng… Thự c ra, từ trong tiềm thức dân gian, hình tượng rắn thần cũng giữ một vai trò rất đặc biệt, xem đó là loài vật

có tính linh thiêng Nhất là hình tượng rắn thần gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Trong truyện có sự xuất hiện của ông Hắc xà mà người dân gọi là “ngựa ngài”

và cho rằng Hắc xà do bà Tổ cô nuôi để giữ đền Nếu chạm đến rắn thần là chạm đến thần linh tất sẽ bị trừng trị Và đúng như lời cảnh báo, nhân vật Julien mắt mèo vì báng bổ rắn thần là tà thần, lập tức bị ngài đuổi bán sống bán chết…

Một ví dụ khác, câu chuyện về “khu vườn kỳ lạ” ở Long An từng gây xôn xao dư luận cách đây năm, sáu năm với việc chữa bệnh chỉ bằng nước lã

và vài động tác hò hét của “thầy thuốc” mà mọi người quen gọi là “Cô”… Dù nhà quản lý khẳng định đó chỉ là thông tin đồn nhảm, là mê tín dị đoan, nhưng rồi người dân bằng niềm tin bất diệt vào thần linh, họ vẫn kéo đến mỗi ngày ngót nghìn người trong suốt hơn một năm trời… Một vài ví dụ nêu trên cho thấy một thực tế, vào đầu thế kỷ XXI này, việc thờ cúng các vị thần cũ và mới trỗi dậy ở khắp nơi, phổ biến ở nhiều tầng lớp người trong xã hội và đang

là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm [17]

2.2.2.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu

Cần khẳng định rằng, việc thờ phụng Nữ thần đã có từ rất lâu đời và phổ biến ở nhiều dân tộc, nhiều vùng miền từ đồng bằng đến miền núi, ở cả nông thôn lẫn đô thị trên khắp đất nước Việt Nam Theo thông tin từ một

Trang 38

cuốn sách cổ, trong 27 vị thần tiên có nguồn gốc thuần Việt có 17 trong số ấy

là Tiên nữ Sách Các Nữ thần Việt Nam tập hợp và giới thiệu bước đầu 75 vị

Nữ thần tiêu biểu của nước ta Sách Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam với

1000 di tích được giới thiệu thì đã có 250 di tích thờ cúng các nữ thần và danh nhân là nữ Chỉ riêng quần thể di tích Phủ Dầy ở Nam Định thờ Mẫu Liễu, cũng tìm thấy hơn 20 đền miếu thờ các nữ thần Trong kho tàng huyền thoại

và truyền thuyết của Việt Nam, các vị nữ thần gần với việc tạo lập bản thể của

vũ trụ như Nữ thần Mặt Trời, Nữ thần Mặt Trăng; Bà Nữ Oa và Tử Tượng đội

đá vá trời, đắp núi, khơi sông Đến các hiện tượng Mây, Mưa, Sấm, Chớp gọi

là Tứ Pháp cũng được thần thánh hóa và mang tính nữ Các yếu tố mang tính bản thể vũ trụ như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ lại được gắn với các Bà Kim,

Bà Mộc, Bà Thủy, Bà Hỏa… Đồng thời với đó, các biểu tượng đất nước - quê hương - dân tộc cũng gắn với các Mẹ, các Mẫu Đó là Mẹ Âu Cơ của đất Lạc Việt; Mẹ Quê hương - xứ sở Pô Inh Nưga của người Chăm Đặc biệt là các

Mẹ sản sinh ra các giá trị văn hóa: Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lửa Ngay cả tổ sư các nghề: dệt, tằm tang, làm muối, nghề mộc, làm bánh, ca công… cũng khởi nguồn từ các Mẹ Gần nhất với chúng ta ngày nay, là những người phụ nữ ra trận với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, thậm chí đứng ra chấp chính quốc gia và họ trở thành các Nữ tướng - Nữ thần: Hai Bà Trưng, Triệu

Ẩu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân, vợ ba Đề Thám… Trong những huyền thoại, truyền thuyết về các Nữ thần, có khi xuất phát từ thực tế lịch sử, cũng không ít trường hợp là kết quả của sự thêu dệt hoang đường, phi thực Điều này cho thấy một thực tế hiển nhiên đã ăn sâu trong tiềm thức người dân, đó là vai trò và vị trí hết sức to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch

sử dựng nước và giữ nước, cũng như đời sống thường nhật

Về mặt danh xưng “Mẫu” là từ gốc Hán - Việt, còn thuần Việt là “Mẹ”

Là danh xưng chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, tiếng

Trang 39

xưng hô thân thiết của con cái với người đã sinh hạ ra mình Tuy nhiên, Mẹ hay Mẫu còn bao hàm nghĩa rộng hơn mang tính tôn xưng, tôn vinh khi đặt trong tương quan cách gọi Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu, “Mẫu nghi thiên hạ”… Cách tôn xưng Mẫu “Tứ phủ” trong dân gian gồm: Mẫu Liễu Hạnh - Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu) Các Mẫu vừa có nguồn gốc thiên thần, vừa có nguồn gốc nhân thần Đây thực chất là hình thức tín ngưỡng “nâng cao” lên từ cái nền thờ Nữ thần

vốn rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc Mẫu Tam-Tứ phủ rõ ràng đã chứa đựng những nhân tố về vũ trụ tuy còn nguyên sơ, một vũ trụ thống nhất chia thành bốn miền do bốn vị Thánh Mẫu cai quản: Mẫu Thượng Thiên - Miền

trời, Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu) - Miền đất, Mẫu Thượng Ngàn - Miền đồi núi, Mẫu Thoải - Miền nước Chính Mẫu là lực lượng sáng tạo ra vũ trụ

và cai quản, đã hóa thân thành bốn để cai quản bốn miền của vũ trụ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ đã bước đầu hình thành một hệ thống thờ cúng trong các Đền,

Phủ, những nghi lễ thờ cúng đã được chuẩn hóa, trong đó nghi lễ Hầu bóng (lên đồng) và lễ hội “tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” là một điển hình

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Đạo Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc về nhiều phương diện Đó là các quan niệm về tự nhiên, đồng nhất con người với tự nhiên, về quan niệm Tứ phủ - Tam phủ Một số vị Thánh của Đạo giáo thâm nhập vào điện thần Tứ phủ, như Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu Thêm nữa, các truyện thần tiên huyền ảo, các phép thuật mang

tính phù thủy để trừ ma tà… Hay ngay lễ Hầu bóng của Đạo Mẫu Việt Nam

cũng có sự ảnh hưởng các hình thức lên đồng của Đạo giáo Trung Quốc Chính những ảnh hưởng này, một mặt giúp Đạo Mẫu hệ thống hóa được một cái “khuôn”, bước đầu mang tính phổ quát nguyên lý Mẫu-Mẹ, nhưng mặt khác cũng làm tăng thêm tính ma thuật, phù thủy vốn tiềm ẩn trong dân gian

Trang 40

Đến đây có thể khái quát về sự hình thành và định hình của Đạo Mẫu - một Đạo giáo dân gian đặc thù của Việt Nam, xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian, kết hợp với những ảnh hưởng Đạo giáo Trung Quốc Biểu hiện trong hệ thống thờ cúng của người Việt là sự xuất hiện của Tam tòa Thánh Mẫu tại các đền, phủ

Hầu bóng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt, cũng đồng thời là một đam mê của các ông bà tin tưởng vào tâm linh của mình đối với các vị thánh Hầu đồng thực chất là một hình thức diễn xướng dân gian có đủ yếu tố Lễ nhạc và Vũ Đạo Giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng phồn thực có mối dây liên hệ mật thiết ở khía cạnh chủ thể, dù đối với tín ngưỡng phồn thực chủ thể là cả nam và nữ Về sắc thái tâm linh đã có sự khác nhau bởi Mẫu là sự tôn thờ mang tính trọng vọng, nhân vật chủ chốt được nhìn ở tầm cao của sự sùng kính và một bên đã trộn hòa trong đời sống dân dã, có phần trần tục

Khi đề cập đến đạo Mẫu, luận văn đã đi sâu tìm hiểu kỹ hơn ở khía

cạnh nguồn gốc so với những mục đề khác là bởi, dường như với Mẫu

Thượng ngàn ấn tượng với bất cứ ai từng cầm cuốn sách này cũng đều hiểu,

tác giả đang đề cập đến một loại đạo thuần Việt - đạo Mẫu Và dẫu chưa biết việc tiếp xúc cuốn truyện xảy ra ở góc độ nào, nhưng rõ ràng, ngay từ cái tên sách đã gợi ấn tượng về một tín ngưỡng dân gian: “tín ngưỡng thờ Mẫu”

Quay trở lại với mệnh đề tín ngưỡng dân gian Việt Nam thường được

biểu hiện thông qua hệ thống biểu tượng, xét ở góc độ này, Mẫu Thượng ngàn

trước hết và tập trung nhiều nhất chính là biểu tượng Mẫu Mạch chuyện cũng bởi thế xuyên suốt là sự nương theo lời của một nhân vật chính có tính chất định đề “Anh ạ, ngày xưa có lần mẹ em bảo “Đã là người ta, con ơi, ai chẳng

là con của Mẫu” Cho đến hôm nay em mới hiểu rõ câu nói ấy” [7, tr 807]

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w