1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu truyền thuyết các dân tộc ít người ở việt nam

125 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc đầu tư, phát triển bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội giữa các các vùng miền nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng đã tạo điều kiện cho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Ch-ơng 1 Giá trị văn hoá của ng-ời Cao Lan 6

1.1 Văn hoá và giá trị văn hoá 6

1.2 Văn hoá ng-ời Cao Lan 14

1.3 Hệ giá trị văn hoá của ng-ời Cao Lan 40

Ch-ơng 2 Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá ng-ời Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra 57

2.1 Thực trạng giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá của ng-ời Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay 57

2.2 Các yếu tố ảnh h-ởng đến việc việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của ng-ời Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay 80

2.2.1 Những yếu tố khách quan 80

2.2.2 Các yếu tố chủ quan 86

Ch-ơng 3 Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy hơn nữa các giá trị văn hoá ng-ời Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay 91

3.1 Một số ph-ơng h-ớng nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của ng-ời Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay 91

3.1.1 Kết hợp tốt hơn nữa trong thực hiện các ch-ơng trình kinh tế và văn hoá - xã hội, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế gắn liền với giữ gìn văn hoá truyền thống dân tộc, nâng cao mức h-ởng thụ văn hoá cho đồng bào dân tộc Cao Lan 91

3.1.2 Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá ng-ời Cao Lan ở Tuyên Quang h-ớng tới bình đẳng dân tộc; kết hợp hài hoà giữa yếu tố truyền thống và hiện đại trong xây dựng đời sống văn hoá 92

Trang 4

3.2 Mét sè gi¶i ph¸p cô thÓ nh»m gi÷ g×n vµ ph¸t huy tèt h¬n n÷a c¸c gi¸

trÞ v¨n ho¸ ng-êi Cao Lan ë Tuyªn Quang hiÖn nay 93

3.2.1 Gi¶i ph¸p vÒ kinh tÕ - x· héi 93

3.2.2 Gi¶i ph¸p vÒ v¨n ho¸ - x· héi 96

3.2.3 Gi¶i ph¸p vÒ chÝnh trÞ - x· héi 101

3.2.4 Gi¶i ph¸p vÒ tæ chøc thùc hiÖn 104

KÕt luËn 108

Danh môc tµi liÖu tham kh¶o 111

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Mỗi dân tộc đều có những nét văn hoá đặc thù Sự đan xen giá trị văn hóa của các dân tộc tạo nên tính đa dạng của văn hoá Việt Nam Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và bảo vệ nền độc lập, các dân tộc đã hình thành nên nhưng giá trị văn hoá đặc trưng, đồng thời cũng chính các giá trị văn hoá đó trở thành “nguồn sống”, động lực cho các dân tộc tồn tại và phát triển

Khẳng định vai trò, giá trị của văn hoá, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần

thứ X, Đảng ta xác định: Văn hoá là nền tảng tinh thần, là động lực cho sự phát triển của xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các giá trị văn hoá, một

mặt, có điều kiện được bổ sung, làm giàu lên và được khẳng định Nhưng mặt khác, các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc lại cũng có thể bị phai nhạt, lãng quên, mai một, thậm chí bị chối bỏ Để các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc thực sự trở thành sức mạnh nội sinh cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc, việc nghiên cứu, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của các dân tộc là việc làm cần thiết, thường xuyên và lâu dài

Cao Lan là 1 ngành của dân tộc Sán Chay có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc di cư vào Việt Nam từ đời nhà Minh Người Cao Lan định

cư ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang Trong thời gian sinh sống lâu dài, người Cao Lan đã tạo ra những nét văn hoá đặc trưng, phong phú về lễ hội, tín ngưỡng, âm nhạc Với những giá trị văn hoá tốt đẹp mang đậm yếu tố bản địa Người Cao Lan ở Tuyên Quang có số lượng đông nhất trong cả nước Tại Tuyên Quang, dân số Cao Lan đứng thứ 4 trong tổng dân số của các dân tộc

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc đầu tư, phát triển bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội giữa các các vùng miền nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng đã tạo điều kiện cho các dân tộc ít người phát triển

Trang 6

Tuy nhiên, cũng còn tồn tại một số vấn đề trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội đã ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc Nhiều giá trị văn hoá truyền thống của người Cao Lan đang dần bị mai một Một dân tộc không thể tồn tại và phát triển nếu dân tộc

ấy đánh mất nền văn hoá của mình Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá người Cao Lan là việc làm mang tính thời sự, cấp bách hiện nay Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá tộc người cũng là làm rõ thêm sự phong phú, đa dạng của văn hoá Việt Nam Việc nghiên cứu các giá trị văn hoá của người Cao Lan để góp phần vào nghiên cứu xác định thành phần dân tộc và nghiên cứu hệ giá trị văn hoá của người Việt cũng là việc làm cần thiết

Bởi vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của người Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay" làm đề tài luận văn thạc

sỹ, chuyên ngành Triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề xác định bảng giá trị văn hoá và gìn giữ, phát huy các giá trị văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Các cuộc hội thảo được tổ chức và nhiều học giả đã có những

bài viết sâu sắc như: Trần Văn Đoàn, Cái gì có thể được gọi là truyền thống,

(Báo cáo tại hội thảo quốc tế “giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu

hoá”, Hà Nội, 2000); Nguyễn Văn Huyên, Giá trị truyền thống- nhân lõi và

sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc, (Báo cáo tại hội thảo:

Truyền thống, giá trị và phát triển, Hà Nội, 1998); Nguyễn Trọng Chuẩn,

Giao lưu văn hoá và sự phát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hoá

(Báo cáo tại hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Hà Nội, 2002)… Các bài viết đã nhấn mạnh nhiều đến quá trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng Hội nhập và giao thoa văn hoá là xu thế tất yếu, phổ biến và vận động

đa chiều Việc gìn giữ bản sắc văn hoá và phát huy các giá trị văn hoá của các dân tộc ở Việt Nam là tất yếu

Trang 7

Nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc và quá trình xây dựng nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, các nhà nghiên cứu đã công bố

những công trình nghiên cứu như: Huy Cận, Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân

tộc (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994); Đỗ Thị Minh Thuý (chủ biên), Xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thành tựu và kinh nghiệm" (Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 2004) " Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam" của PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm,… Các công trình đã chỉ ra

những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc, tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hoá Việt Nam Tuy nhiên, nói chung các công trình nghiên cứu chủ yếu vẫn triển khai dưới góc độ văn hoá học

Nghiên cứu văn hoá dưới góc độ triết học có các công trình: Vũ Đức

Khiển, "Văn hoá với tư cách là một khái niệm triết học và vấn đề xác định

bản sắc văn hoá dân tộc" (Tạp chí Triết học, số 4/2000); Lương Việt Hải, Văn hoá, triết lý và triết học, (Tạp chí Triết học, số 10, 2008); Nguyễn Huy Hoàng, Triết học - Văn hoá giá trị và con người (Viện Văn hoá & Nxb Văn hoá - Thông

tin, Hà Nội, 2003) Trong đó, các tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ giữa văn hoá với triết lý, triết học Nghiên cứu văn hoá với tư cách là trình độ phát triển bản chất người, khẳng định vai trò của văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội

Nghiên cứu về nhóm người Cao Lan, các nhà nghiên cứu đã có nhiều

công trình: Nguyễn Nam Tiến, "Về mối quan hệ giữa hai nhóm người Cao

Lan và Sán Chí” (Tạp chí Dân tộc học, số 4/1972); Khổng Diễn (chủ biên), Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam (Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2003); Phù

Ninh - Nguyễn Thịnh, Văn hoá truyền thống Cao Lan (Nxb Văn hoá dân tộc,

Hà Nội, 1999), các công trình này đã có những nghiên cứu khá công phu về dân tộc Cao Lan tuy nhiên chủ yếu dựng lại dưới góc độ văn hoá học, dân tộc học để mô tả các tập quán, các sinh hoạt văn hoá vật chất, tinh thần…

Trang 8

Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào dưới góc độ triết học nghiên cứu văn hoá của Cao Lan một cách có hệ thống để chỉ ra các giá trị văn hoá nhằm giữ gìn và phát huy trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Ba là, đề xuất các giải pháp nhằn gìn giữ và phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hoá của người Cao Lan ở Tuyên Quang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu từ góc độ triết học văn hoá dân tộc Cao Lan ở Đông Bắc, chủ yếu qua khảo sát thực tế ở tỉnh Tuyên Quang

* Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những nét văn hoá đặc trưng cơ bản tạo nên giá trị văn hoá người Cao Lan nói chung và ở tỉnh Tuyên Quang nói riêng nhằm gìn giữ và phát huy nó trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc; đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; đồng thời, luận văn cũng tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp; trừu tượng hoá, khái quát hoá; kết hợp lịch sử và lôgíc

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn phân tích từ góc độ triết học các giá trị văn hoá của người Cao Lan; đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy các giá trị ấy và đưa ra các giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc Cao Lan ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn góp phần khẳng định các giá trị văn hoá của người Cao Lan trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; xác định các giải pháp giữ gìn và phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hoá, giữ bản sắc văn hoá dân tộc

Do vậy, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy các môn văn hoá, dân tộc học, văn học địa phương, triết học văn hoá…

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1 Giá trị văn hoá của người Cao Lan

Chương 2 Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá người Cao Lan ở

Tuyên Quang hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra

Trang 10

Chương 3 Một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy hơn nữa các giá

trị văn hoá người Cao Lan ở Tuyên Quang hiện nay

Trang 11

Chương 1 GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI CAO LAN

1.1 Văn hoá và giá trị văn hoá

Văn hoá là sản phẩm của người thông minh (Homosapiens) Cùng với quá trình tiến hoá sinh học và sự sáng tạo không ngừng của con người trong hoạt động thực tiễn, văn hoá ra đời Thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện sớm trong

ngôn ngữ nhân loại Từ “văn hoá” bắt nguồn từ chữ La tinh cultus Culture

trong tiếng Anh hoặc kultur trong tiếng Đức có 2 nghĩa: 1 trồng trọt, giữ gìn,

chăm sóc; 2 cầu cúng Từ cultus (trồng trọt) được phát triển ra mang nghĩa là

tạo dựng (trong trồng trọt), chăm sóc (cây cối) Sau đó, từ nghĩa chăm sóc (cây cối) được mở rộng nghĩa thành chăm sóc, tạo dựng con người “Tạo dựng con người” ở đây có nghĩa hoạt động giáo dục để hình thành và phát

triển bản chất người Trong tiếng Hán, “văn hoá” có nghĩa khởi đầu từ chữ

“văn” Theo nghĩa hẹp ban đầu “văn” là nét hoa văn trên đá (vân đá), hoa văn trên da con hổ (vằn con hổ) qua đó người khác nhìn vào vào để nhận biết và

phân biệt mình Sau này từ “văn hoá” được mở rộng ra với nghĩa là “cái dấu

vết do đạo đức lễ nhạc do giáo hoá mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt” [6, tr.429] Như

vậy, cả quan niệm của phương Đông và phương Tây đều đề cập đến văn hoá như là sản phẩm hoạt động của con người Văn hoá hướng đến “chăm sóc”,

“giáo hoá” nhằm hoàn thiện con người, là cái để phân biệt giữa người với người

Khái niệm “văn hoá” được hình thành trong tư tưởng loài người từ rất sớm nhưng đến thế kỷ XVIII thuật ngữ “văn hoá” mới được đưa vào các tài liệu khoa học Cùng với những hoạt động và sản phẩm hoạt động phong phú,

đa dạng của con người mà nội hàm của văn hoá được mở rộng ngày càng Cho đến nay có khoảng 400 định nghĩa khác nhau về văn hoá Nhiều khoa học đã lấy văn hoá làm đối tượng nghiên cứu Do mục tiêu và góc độ nghiên

Trang 12

cứu của các khoa học khác nhau mà thuật ngữ “văn hoá” đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Khoa học lịch sử nhấn mạnh quá trình kế thừa truyền thống văn hoá của các thế hệ người Nhân loại học coi văn hoá là chính bản thân con người Tâm lí học lại xem văn hoá như là quá trình hình thành thói quen, cách ứng xử của con người để thích ứng với môi trường sống

Để đưa hình thành khái niệm “văn hoá”, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng cần xuất phát từ những điểm quan trọng:

“a) văn hoá phải là các giá trị; b) những giá trị phải do con người sáng tạo (phân biệt với cái tự nhiên); c) sự sáng tạo là cả một quá trình lịch sử liên tục; và d) những giá trị đó phải làm thành một hệ thống chặt chẽ” [43, tr.19]

Từ cơ sở xuất phát như trên, Ông đưa ra định nghĩa văn hoá:

“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [43, tr.25]

Với góc tiếp cận văn hoá từ cái nhìn giá trị, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm đã xem văn hoá là cái có giá trị, là thước đo của bản chất người trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người

Mỗi cách tiếp cận của các khoa học về văn hoá đều phản ánh những cách đánh giá khác nhau của mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Triết học tiếp cận văn hoá ở góc độ bao trùm gắn với hoạt động của con người

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không đưa ra định nghĩa văn hoá hay một tác phẩm kinh điển nào bàn riêng về văn hoá Mác đã nhiều lần so sánh sự khác biệt giữa con người với con vật từ việc ăn thoả mãn cái đói đến hoạt động sản xuất “nhào nặn vật chất” để chỉ ra văn hoá chỉ có ở con người Trên lập trường duy vật biện chứng, triết học Mác đã xem văn hoá như

là sản phẩm hoạt động của con người, là cái mang đặc trưng cho tính người

Mác thừa nhận: con người là một bộ phận của giới tự nhiên Nhờ lao động,

Trang 13

con người thoát thai khỏi thế giới động vật để trở thành “thực thể song trùng” thống nhất giữa “thực thể tự nhiên” và “thực thể xã hội” Trong lao động, con người đã xác lập mối quan hệ bền chặt giữa con người với tự nhiên, con người với con người Đây là hoạt động có tính cộng đồng của các cá thể, thông qua đó bản chất người được hình thành và hoàn thiện

Từ luận điểm xuất phát này, tác giả nêu lên một vài kết luận về văn hoá như sau:

1 Văn hoá là sự phát huy năng lực bản chất người

Văn hoá là một hiện tượng xã hội chỉ có ở con người được hình thành trong hoạt động thực tiễn Nguồn gốc của văn hoá gắn liền với sự sáng tạo của con người trong lao động Bằng hoạt động thực tiễn, con người đã cải biến tự nhiên để tạo ra “tác phẩm” của mình và hiện thực:

“Con người nhân đôi mình không về mặt trí tuệ như đã xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực và con người ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra” [33, tr.137]

“Tác phẩm” con người tạo ra là giới tự nhiên đã được cải tạo mà thông qua đó, năng lực bản chất người được thể hiện Văn hoá là tấm gương phản chiếu trình độ khai thác và cải biến tự nhiên Với mỗi bước tiến của sản xuất, trình độ văn hoá được nâng lên Vượt lên sự chi phối của nhu cầu tồn tại bản năng như động vật, con người tạo ra văn hoá - sản phẩm đặc biệt của sản xuất Con người đã tạo ra thiên nhiên thứ hai và “ngắm nhìn”, nhận biết được năng lực của chính mình

Khi nói về bản chất người, Mác nhấn mạnh đến tính xã hội của con

người Tính xã hội được xem như là cái vốn có gắn với toàn bộ hoạt động sống của con người và xã hội loài người Văn hoá không phải được tạo ra bằng hoạt động đơn lẻ của các cá nhân mà được tạo ra có tính xã hội, tính cộng đồng Văn hoá có tính xã hội được tạo nên từ quan hệ giữa người với

Trang 14

người trong hoạt động sống Trong những hoạt động đó, con người xây dựng nên những quy tắc ứng xử, tôn giáo, nghệ thuật, các thiết chế xã hội mang

đậm dấu ấn của cộng đồng Vì vậy, khi nói, văn hoá thể hiện năng lực bản

chất người không phải là cái tồn tại trừu tượng mà có thể nhận thấy năng lực,

sức mạnh cải tạo tự nhiên của một cộng đồng dân tộc, giai cấp Mỗi dân tộc

có những nét văn hoá riêng Văn hoá trở thành biểu tượng để so sánh, phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác

Con người sáng tạo ra văn hoá trong hoạt động thực tiễn nên văn hoá cũng có tính lịch sử được hun đúc, tích luỹ và chuyển tiếp qua nhiều thế hệ Thực tế đời sống xã hội cho thấy, có những giai đoạn lịch sử luôn có 2 hiện tượng vận động ngược chiều nhau Một mặt, trình độ sản xuất đi lên, nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất tạo năng suất lao động cao hơn kéo theo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Mặt khác, hiện tượng đánh mất đánh mất văn hoá truyền thống hay đối xử giữa người với người có biểu hiện thiếu văn hoá lại xảy ra phổ biến Vì thế, cần phải xem xét văn hoá không chỉ

là sản phẩm của hoạt động sản xuất vật chất mà còn gắn với bản chất người Văn hoá được xem như thước đo bản chất người của con người và xã hội

2 Văn hoá là kết quả được kết tinh từ hoạt động sản xuất ra vật chất và tinh thần của con người hướng tới Chân - Thiện - Mĩ

Bắt đầu đi từ hoạt động thực tiễn sản xuất vật chất để kiến giải nguồn gốc, bản chất của văn hoá, Mác phân biệt hoạt động sản xuất giữa con người với súc vật để chỉ ra văn hoá do con người sáng tạo ra và chỉ có ở con người:

“Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng tự

phân biệt mình với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư

liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [31, tr.29]

Trang 15

Con người không chỉ tạo ra các sản phẩm thoả mãn nhu cầu ăn, mặc, ở mà còn sáng tạo ra các sản phẩm bằng toàn bộ sự “thăng hoa” của tinh thần “theo quy luật của cái đẹp”

Khi quan niệm văn hoá là sản phẩm của hoạt động con người có thể chia văn hoá thành văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Các giá trị văn hoá tinh thần có thể được thể hiện dưới một hình thức vật chất nào đó Ngược lại, văn hoá vật chất luôn mang trong nó những giá trị tinh thần Trong các hoạt động sáng tạo và các sản phẩm của hoạt động sống của con người đã chứa đựng những yếu tố tinh thần, thể hiện khát vọng của con người vươn tới sự hoàn thiện

Văn hoá là kết quả của lao động mang giá trị thẩm mỹ được sáng tạo không ngừng Sự phát triển không ngừng của hoạt động sống sẽ làm nảy sinh yêu cầu ngày càng cao về cái đẹp Bản chất người thể hiện tham vọng thoát khỏi bản năng hoang dã của động vật để hướng đến chuẩn mực của cái đẹp,

đó là Chân - Thiện - Mỹ, hay nói cách khác, văn hoá là kết quả kết tinh từ hoạt động sống mang bản chất người thực sự đó là lý tưởng mang đầy tính nhân văn cao cả, vươn đến sự tiến tiến bộ, sự hoàn thiện

3 Văn hoá được tạo ra phục vụ cho các nhu cầu tinh thần của con người để vươn tới Chân - Thiện - Mỹ

Lênin khi bàn về văn hoá đã chỉ ra tính tất yếu của cách mạng văn hoá

để nâng cao trình độ dân trí, đời sống tinh thần cho nhân dân Tuy văn hoá được sinh ra phục tùng các quy luật của sản xuất vật chất nhưng văn hoá cũng

có tính độc lập tương đối và là yếu tố rất quan trọng trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Cách mạng văn hoá để hoàn thiện con người về tinh thần

Hồ Chí Minh - danh nhân văn hoá thế giới - trong bài viết “Mục đọc sách” đã nói về giá trị, ý nghĩa ra đời của văn hoá:

Trang 16

“Ý nghĩa của văn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [34, tr.431]

Theo Hồ Chí Minh, văn hoá là toàn bộ những giá trị tinh thần, vật chất

mà loài người tạo ra để đáp ứng nhu cầu tồn tại Văn hoá vừa là sản phẩm vừa

là mục đích sống của loài người Ý nghĩa tồn tại của văn hoá gắn liền với sự phát triển của con người và xã hội loài người

Văn hoá được hình thành như là đòi hỏi tất yếu cho sự tồn tại của con người với tư cách là thực thể có nhân bản, có lý tưởng vươn tới Chân – Thiện -Mĩ Văn hoá được chứa đựng những chuẩn mực theo khuynh hướng tiến bộ, nhân văn lại quay trở lại “giáo hoá” con người Văn hoá định hướng lý tưởng, đạo đức, tri thức… cho con người

Mác bàn về giá trị của văn hoá truyền thống, của tập quán canh tác được truyền lại qua các thế hệ đã viết:

“Nếu canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng

dẫn một cách có ý thức thì sẽ để lại sau nó đất hoang” [32, tr.80]

Quá trình “văn hoá hoá” được diễn ra có tính lịch sử, tính kế thừa giữa các thế hệ Kế thừa là một quy luật phổ biến của phát triển văn hoá Bằng việc

kế thừa các giá trị văn hoá của thế hệ trước truyền lại, các thế hệ sau phát

triển năng lực bản chất người nhanh chóng Văn hoá thực hiện chức năng cao

cả là bồi dưỡng nhân tính, định hướng và thúc bách lý tưởng vươn tới cái đẹp cho con người Với ý nghĩa như vậy, văn hoá trở thành động lực cho sự phát triển của con người và xã hội

Trang 17

Vì nhu cầu sinh tồn của con người mà bản thân sự ra đời, tồn tại của văn hoá đã là một giá trị

Văn hoá ra đời có “ích lợi”, có “ý nghĩa” với sự sinh tồn của con

người Từ điều kiện tự nhiên, hoạt động kinh tế của mỗi cộng đồng mà các nét văn hoá được hình thành thể hiện nhu cầu, sở thích, phẩm chất, năng lực sáng tạo rất khác nhau Chẳng hạn: người Mông thích mặc màu sắc sặc sỡ, người Cao Lan thích màu giản dị; người Mông làm nương rẫy, ăn mèn mén, coi cây ngô là cây lương thực chính Người Cao Lan làm lúa nước, ăn cơm là chính Tổng thể những sắc thái dân tộc đó giúp cho phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, đó là bản sắc văn hoá “Bản sắc văn hoá thể hiện trong hệ giá trị của dân tộc, nó là cốt lõi của một văn hoá” [19, tr.131]

Giá trị văn hoá là một góc độ biểu hiện giá trị sản phẩm hoạt động của con người Chủ nghĩa Mác khi bàn về giá trị đã coi giá trị là một thuộc tính của hàng hoá hay vật phẩm, sản phẩm Giá trị là hao phí lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá (vật phẩm, sản phẩm) Xuất phát từ nhu cầu của mình, con người luôn tạo ra những sản phẩm có tác dụng để thoả mãn nhu cầu nào

đó (giá trị sử dụng) Giá trị của hàng hoá (vật phẩm, sản phẩm) được bộc lộ thông qua sự trao đổi, “so sánh” với vật phẩm khác Văn hoá có nguồn gốc từ lao động, là sản phẩm của lao động cũng mang những giá trị hữu dụng với con người để hướng đến cái đẹp và là cái dựa vào đó có thể phân biệt, so sánh giữa dân tộc này với dân tộc khác

Giá trị văn hoá là hạt nhân, cái tinh tuý nhất chứa trong các hiện tượng văn hoá dân tộc, là cái đại diện cho dân tộc Giá trị văn hoá biểu hiện

năng lực sáng tạo, năng lực “lựa chọn”, phương thức biểu hiện đặc trưng dân tộc, lý tưởng vươn tới sự hoàn thiện của dân tộc

“Giá trị là thành phần quan trọng nhất của văn hoá con người bên cạnh các chuẩn mực và các lí tưởng Sự tồn tại của giá trị bắt rễ sâu trong tính tích

Trang 18

cực của chủ thể sáng tạo văn hoá, trong sự đối thoại của chủ thể sáng tạo với người khác” [41, tr.45]

Trong hàng loạt các nét văn hoá như đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, nhà ở những mong muốn, nhu cầu của con người được bộc lộ Tuy vậy, không phải tất cả những phong tục, tập quán đều mang giá trị

“Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói tới cái có khả năng thôi thúc con người nỗ lực hành động

đó Giá trị văn hoá là hạt nhân ẩn chứa trong văn hoá nên nó là một thuộc tính

khách quan Từ nhu cầu phát triển, con người khai thác nhân tố tích cực của văn hoá mà có sự đánh giá về giá trị của văn hoá:

“Giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” [41, tr.49]

Việc phát hiện ra các giá trị văn hoá không phải là sự quy chụp, áp đặt những nhu cầu của con người với các giá trị văn hoá mà chính là xuất phát từ nhu cầu, “điều mong muốn” của con người mà đi tìm những hạt nhân tích cực

nhất, bản sắc nhất, phù hợp nhất của văn hoá Giá trị văn hoá không phải là

cái bất biến mà là cái có tính lịch sử Dựa vào nhu cầu phát triển của con

người, trong mỗi giai đoạn lịch sử các hiện tượng văn hoá có giá trị hay không có giá trị, giá trị truyền thống hay giá trị hiện đại, giá trị văn hoá vĩnh cửu hay giá trị văn hoá nhất thời… Sự phát hiện ra các giá trị văn hoá bị chi phối bởi các yếu tố khách quan của chủ thể đánh giá như: trình độ nhận thức,

Trang 19

khả năng so sánh đối thoại với các nền văn hoá khác, nhu cầu của chủ thể… Chủ thể đánh giá giá trị văn hoá có thể đồng nhất với chủ thể sáng tạo ra chính nền văn hoá ấy, cũng có thể đứng ngoài cộng đồng tạo ra nền văn hoá

ấy Một điều tưởng như vô lí nhưng lại tồn tại trong đời sống văn hoá hàng ngày đó là: có những người, cộng đồng vốn là chủ thể sáng tạo ra các sản phẩm văn hoá của mình nhưng lại không nhận thức được một cách đầy đủ, hệ thống các giá trị văn hoá của mình Trong khi đó, những người khác, cộng đồng khác lại thấy và trân trọng những giá trị văn hoá ấy

Thực tế cho thấy, một trong những lí do mà văn hoá các dân tộc bị mai một dần là do nhận thức hạn chế của cộng đồng đó về giá trị văn hoá của mình, thực chất là không nhận thức được đầy đủ những giá trị văn hoá của mình để duy trì, phát huy Vì vậy, để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá cần tìm ra những giá trị cốt lõi nhất - đó chính là những “mạch ngầm” giúp cho văn hoá của mỗi dân tộc được bảo tồn và phát triển phong phú

1.2 Văn hoá người Cao Lan

Cao Lan và Sán Chí là 2 ngành thuộc dân tộc Sán Chay được quy định trong bảng Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam Quá trình hình thành dân tộc Sán Chay khá lâu dài và phức tạp Sự di cư của người Choang Bắc (Quảng Đông, Trung Quốc) xuống phương Nam tách thành 2 nhánh: ngành thứ nhất bỏ tiếng mẹ đẻ nói một thứ tiếng thổ ngữ Quảng Đông là bộ phận Sán Chí Ngành thứ 2 khi vào Việt Nam vẫn giữ tiếng mẹ đẻ, vay mượn thêm ngôn ngữ của các dân tộc khác là bộ phận Cao Lan Các tài liệu dân tộc học, gia phả các dòng họ người Cao Lan xác định nguồn gốc người Cao Lan thuộc người Choang Bắc ở Quảng Đông, Trung Quốc Vào cuối đời nhà Minh đầu đời nhà Thanh (khoảng những năm 1640-1660), do sự thống trị hà khắc của các triều đại phong kiến và giặc giã liên miên làm cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực Phong trào khởi nghĩa của nông dân chống lại triều đình nhà Thanh của một bộ phần người Choang Bắc do tộc trưởng Nịnh Văn Bính lãnh

Trang 20

đạo bị đàn áp Để tránh sự truy sát, một nhóm đã di cư vào Việt Nam lập nghiệp tại vùng Hoành Bồ, Quảng Ninh Trong chương hát xình ca Cao Lan

“Bơi thuyền vượt biển” có tả lại cuộc di cư bằng đường biển:

“Sờu sờn dàu dàu hậy Cúng tông Đoàn thuyền du du giữa biển Đông

Lộc hic mù pún thụi quay hông” Sáu thuyền lạc hướng phải về không

[40, tr.87]

Chương hát này miêu tả cuộc chạy trốn bằng thuyền từ Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc vượt biển Đông sang Việt Nam Một nhóm khác đi bằng đường bộ vào Lạng Sơn rồi vào sâu lãnh thổ Việt Nam Chương “du dương ca” của xình ca Cao Lan có đoạn:

Trang 21

cai quản vùng Tây Bắc huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ (giáp với Tuyên Quang) đã lập đội dân binh chống Pháp Từ khi có Đảng Cộng sản, người Cao Lan đã giác ngộ tinh thần cách mạng một lòng theo Đảng, tham gia vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Người Cao Lan phát triển nhanh về số lượng Theo kết quả điều tra dân

số năm 1960, số người Cao Lan là 22.543 người Dân số Sán Chỉ là 14.382 người Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 đã xác định được dân tộc Sán Chay (gồm Cao Lan và Sán Chỉ) có số dân là 147.315 người Trong

đó, người Cao Lan chiếm số lượng đông gấp 1,6 lần so với người Sán Chí Cho đến tổng điều tra dân số 1/4/2009, số người dân tộc Sán Chay là 176.778 người Phân bố dân cư của 2 ngành thuộc dân tộc Sán Chay: người Sán Chí sống chủ yếu ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Quảng Ninh; người Cao Lan sống chủ yếu ở Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái nguyên, Lạng Sơn Toàn quốc có 10 tỉnh có trên 100 người dân dân tộc Sán Chay cư trú, sống tập trung đông nhất

ở Tuyên Quang (chiếm gần 2/3 tổng số người trên cả nước) Thứ tự các tỉnh

có số người Sán Chay sống giảm dần là: Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn

Trong suốt quá trình di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam, định cư gần với các dân tộc khác, vẫn giữ gìn được văn hoá tổ tiên để lại Mặt khác, họ tiếp biến các giá trị văn hoá của các dân tộc khác mà hình thành cho mình những nét văn hoá riêng đặc sắc, có giá trị, góp phần vào sự đa dạng văn hoá trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Người Cao Lan đã tạo ra những nét văn hoá thuộc về thiết chế xã hội,

đó là cơ sở ban đầu cho người Cao Lan có cuộc sống ổn định và và bồi đắp thêm những giá trị văn hoá khác phong phú

Thứ nhất, thiết chế làng của người Cao Lan

Trang 22

Làng trong tiếng Cao Lan gọi là bán, gồm những người Cao Lan quần

tụ thành từng làng Họ sống định cư thành những khu vực riêng và phát triển cộng đồng làng trên cơ sở kết nối các dòng họ

Trong các bài hát ví xình ca, tranh thờ, câu truyện cổ có miêu tả về tổ tiên người Cao Lan đã sống ở nơi vùng núi thấp, biết sản xuất lúa nước, làm nương rẫy Khi di cư vào Việt Nam và định cư tại Tuyên Quang, người Cao Lan đã chọn nơi lập bản có có địa hình gần giống như địa hình ở Nam Ninh, Trung Quốc Nơi người Cao Lan chọn lập bản thuộc vùng núi thấp, gần đường giao thông, đất đai màu mỡ, gần nguồn nước Phía trước bản có đồng lúa nước bằng phẳng, phía sau làng có núi đồi để làm nương Đặc điểm địa hình này phù hợp với tâm lí cư trú, thói quen canh nông vừa lúa nước vừa lúa cạn của tổ tiên người Cao Lan

Làng truyền thống của người Cao Lan được phân định thành 3 khu vực

cơ bản, đó là: khu vực cư trú, khu vực sản xuất, khu vực thờ cúng và sinh hoạt cộng đồng Mỗi khu vực có vai trò riêng với đời sống người Cao Lan

Cơ cấu của ban này gồm có Mo làng, Trùm làng, các quản làng Mo làng được không cần phải là người già nhất làng mà phải thuộc dòng dõi cao quí, có tấm lòng với dân làng, có uy tín và hiểu rõ văn hoá tâm linh Mo làng đại diện cho làng thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng của làng, chịu trách nhiệm thờ thổ công, thờ thành hoàng làng Trùm làng được bầu lên phải là người may mắn, gia đình êm ấm, biết làm ăn, hiểu biết văn hoá dân tộc Trùm làng trực tiếp hướng dẫn dân làng các hoạt động cộng đồng, phân chia đất đai giải quyết tranh chấp trong làng Một số làng chỉ có Trùm làng mà không có Mo làng do làng đó không thờ thổ công của Làng Trong mỗi làng có 2 đến 4

người quản làng còn gọi là Lang cai Lang cai theo sự chỉ đạo của Trùm làng

có trách nhiệm chuẩn bị cơ sở vật chất cho làng khi có việc lớn, chăm lo lễ vật cúng tế, thu gạo tiền khi làng có việc… Ngoài ban bệ chính đứng ra lo việc

Trang 23

lớn của làng thì còn có người già thuộc các dòng họ lớn trong làng hiểu biết văn hoá dân tộc, có uy tín để cùng họp bàn các việc lớn của làng

Ngoài ra, các làng còn có các phường, hội Các phường, hội thường được tổ chức dựa theo lứa tuổi, giới tính như: hội đồng niên, phường góp vốn làm ăn, phường tổ chức lao động đổi công, giúp đỡ về vật chất và công sức cho các gia đình trong làng khi có việc lớn… Ban bệ làng và các phường, hội

đã tạo dựng cho làng người Cao Lan những sinh hoạt khá thống nhất, quan hệ dân làng bền chặt

Với cách thức tổ chức như vậy, bộ máy tổ chức làng xã cổ truyền của người Cao Lan còn mang nhiều dấu ấn của công xã nông thôn Mặc dù ở trình

độ thấp nhưng tổ chức làng xã của người Cao Lan đã thể hiện yếu tố dân chủ

sơ khai và tính cộng đồng cao

Về các quy định của làng, để duy trì trật tự và các sinh hoạt cộng đồng,

người Cao Lan sớm đã đưa ra những quy định của làng Có các quy định thành văn và không thành văn Chẳng hạn, theo quy định cũ: trộm vặt phạt 6 roi, phạt 50 miếng trầu để tạ các cụ già; gặt lúa trộm phạt 10 roi, đền bù thiệt hại,… Những quy định chủ yếu xử phạt người mắc lỗi bằng phạt vào kinh tế, chịu sự nhắc nhở, răn dạy của người già trong làng Người Cao Lan ít dùng những quy định xử phạt có tính bạo lực Những hương ước làng là công cụ hữu hiệu để quản lý cộng đồng thể hiện ý thức pháp chế và nét văn hoá cư xử nhân văn của người Cao Lan

Thứ hai, thiết chế dòng họ, gia đình người Cao Lan

Người Cao Lan có nhiều dòng họ và quan hệ dòng họ khá phức tạp Các họ chính của người Cao Lan là họ Tiêu, Nịnh, Lâm, Âu, Hoàng, Trần… Mỗi họ lại chia thành nhiều chi thứ (ví dụ họ Hoàng có 10 chi, họ Trần có 7

chi, họ Lâm lại chia thành 2 dòng Lâm thịt (Lâm nỏ) và Lâm rau (Lâm

pặc)…) Sở dĩ có sự khác biệt giữa các chi trong dòng họ là do mỗi họ quan

niệm tín ngưỡng khác nhau Sự khác biệt có thể thấy rõ trong cúng ma, kiêng

Trang 24

kỵ, nghi lễ thờ cúng… Người Cao Lan có quan niệm những người cúng cùng một ma, quan niệm tín ngưỡng như nhau có quan hệ gần gũi và có bổn phận giúp đỡ nhau mà không căn cứ vào tên họ

Trong mỗi dòng họ, người đứng đầu thường là con trai trưởng Tuy nhiên, quan niệm của người Cao Lan không cứng nhắc chọn trưởng họ mà rất mềm dẻo Người trưởng họ là nam được mọi người tôn trọng, có uy tín, trí tuệ hơn người và hiểu về thờ cúng ma của dòng họ Trưởng họ có trách nhiệm giải quyết các việc lớn của các gia đình trong dòng họ như đám ma, đám cưới, hoà giải mâu thuẫn giữa các gia đình trong họ, phân chia tài sản… Quan hệ anh em họ của người Cao Lan không giống như người Kinh, người Tày xưng

hô theo thứ bậc Với người Cao Lan, ai ra đời trước là anh, chị ai ra đời sau là

em Người lớn tuổi hơn được kính trọng không kể là con em hay con anh

Đặc trưng cơ bản trong sở hữu của người Cao Lan là sở hữu tập thể Người Cao Lan quan niệm đất đai là của ông trời không của riêng ai Mỗi dòng họ có tài sản chung Đất đai được chia cho các gia đình sử dụng làm ăn nhưng quyết định bán, cho lại thuộc quyền của cả họ

“Tài sản - tất cả các ruộng đất đều là công điền (còn gọi là ruộng chung) chúng được chia theo nguyên tắc giữa các gia đình Nhưng số ruộng chung của các gia đình đó vài năm phải chia lại một lần cho con cháu (nếu có

sự khiếu nại)… Trong mọi trường hợp người làm ruộng không được coi mình

là chủ đất mà chỉ có quyền quản lý những tài sản làm ra trên mảnh đất đó…” [39, tr.163]

Sự thống nhất trong thờ cúng ma và sở hữu đất đai khiến cho người Cao Lan có sự liên kết rất bền chặt, tính cộng đồng cao

Thứ ba, thiết chế gia đình

Cá gia đình là đơn vị nhỏ của dòng họ có chức năng tổ chức đời sống

và duy trì sinh hoạt văn hoá thường ngày

Trang 25

Trước kia, các thế hệ, anh em dâu rể sống chung dưới một nếp nhà sàn Đến nay, quy mô gia đình nhỏ lại thường từ 2-3 thế hệ Con cái xây dựng gia đình ở riêng nhà nhưng các sinh hoạt tín ngưỡng chung vẫn được thực hiện ở ngôi nhà bố mẹ ở hoặc ở nhà thờ bố mẹ

Người Cao Lan tôn trọng tự do hôn nhân, duy trì chế độ 1 vợ 1 chồng

và không quá khắt khe về trinh tiết của phụ nữ Gia đình được tổ chức theo chế độ phụ hệ Người đàn ông trong gia đình làm trụ cột, có quyền quyết định mọi việc Người phụ nữ Cao Lan có truyền thống chịu thương chịu khó, nhẫn nhịn, chiều chuộng chồng con Người phụ nữ được đối xử bình đẳng trong hưởng thụ thành quả lao động, tham gia quản lý kinh tế Trách nhiệm vun đắp gia đình, nuôi dạy con cái được chia sẻ cho cả vợ chồng tạo ra sự gắn kết hài hoà, bền chặt của gia đình Tuy vậy, do quan niệm tín ngưỡng nặng nề nên phụ nữ bị coi nhẹ trong các sinh hoạt tín ngưỡng Phụ nữ không được thắp hương trước bàn thờ, không nấu đồ lễ cúng Các cô gái Cao Lan bị các lệ tục ràng buộc khá chặt chẽ, không có tiếng nói trong gia đình Khi lấy chồng là đánh dấu sự trưởng thành, phụ nữ Cao Lan được tôn trọng hơn

Tuy tôn trọng tự do hôn nhân nhưng hôn nhân của người Cao Lan cũng

bị chi phối mạnh mẽ bởi quan niệm tín ngưỡng Những người cùng cúng chung 1 ma, chung hương hoả không được lấy nhau Các đôi trai gái kết hôn

thường tìm cho mình 1 người làm ông mối (ông mòi) Ông mối được chọn

phải là người đức độ, gia đình êm ấm, biết làm ăn Ông mối làm chứng hôn nhân và có trách nhiệm dạy bảo đôi vợ chồng trẻ như con cái mình, hoà giải khi có mâu thuẫn Ngược lại, đôi vợ chồng trẻ cũng phải có trách nhiệm chăm sóc, quan tâm đến ông bà mối như cha mẹ đẻ của mình Quan hệ ông mối và con mối là quan hệ lâu dài, cả đời gắn kết được coi là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình

Trên nền tảng các hoạt động sống, người Cao Lan đã sáng tạo ra các

nét văn hoá tinh thần của người Cao Lan đậm đà bản sắc

Trang 26

Thứ nhất, tín ngưỡng

Tín ngưỡng phản ánh thế giới tâm linh, quan niệm thế giới quan và nhân sinh quan của các dân tộc nói chung và người Cao Lan nói riêng Người Cao Lan rất coi trọng hoạt động tín ngưỡng Vì thế, những quan niệm tín ngưỡng tôn giáo chi phối hầu hết những nét văn hoá trong sinh hoạt hàng ngày và sinh hoạt cộng đồng của họ

Người Cao Lan không theo một tôn giáo lớn nào mà theo tín ngưỡng đa thần và vật linh giáo Quan niệm tín ngưỡng chịu ảnh hưởng đậm nét của tam giáo gồm Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo Tiếp thu có chọn lọc các triết lý nhân sinh phù hợp với tâm lý, đời sống tâm linh, người Cao Lan đã đưa ra quan niệm tín ngưỡng khá đồ sộ và được ghi chép lại trong các bộ sách

Trong tâm thức người Cao Lan, Khổng Tử và Lão Tử có vị trí đặc biệt

được coi là Sềnh say (Thánh sư) Đạo Phật cũng được người Cao Lan tiếp

nhận để đưa vào các sinh hoạt tín ngưỡng nhưng họ chỉ chọn lọc một số chư

vị Phật tổ như Quan âm bồ tát, Phật tổ như lai Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động tín ngưỡng không có sự phân biệt rạch ròi giữa Đạo giáo, Phật giáo

Người Cao Lan quan niệm thế giới có 3 tầng (3 nước): tầng trời (nước trời) có các vị thần tối thượng quyền uy; tầng giữa (nước của người) có con người và các loại chúng sinh; tầng âm phủ (nước âm phủ) là nơi trú ngụ của các linh hồn rời xa trần thế

Người Cao Lan quan niệm có nhiều vị thần và phân chia các thần để thờ cúng có thứ bậc thể hiện tư duy trừu tượng cao Hệ thống Thần gồm có 3 cấp: thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ đẳng thần

Trong quan niệm của người Cao Lan, con người và các loài sinh vật, thậm chí cả vật gắn bó với đời sống hàng ngày đều có linh hồn và quan hệ chặt chẽ với nhau, chuyển hoá nhau trong vòng luân hồi Họ tin rằng các vị thần linh, ma hương hoả… đều nằm trong giới tự nhiên huyền bí, có sức mạnh chi phối cuộc sống con người Quan niệm này làm cho người Cao Lan

Trang 27

đặc điểm có tâm lí rất tôn trọng, gắn bó với thiên nhiên, e sợ không dám xâm phạm tự nhiên bừa bãi

Tiếp biến giá trị đạo Hiếu của Nho giáo, người Cao Lan theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Bàn thờ gia tiên được đặt ở gian giữa nhà, trang trọng Ngoài tín ngưỡng chung của cả dân tộc, mỗi dòng họ người Cao Lan lại

có hệ thống thờ thần khá phức tạp Từ quan niệm kiêng kỵ của tổ tiên mà lễ vật, nghi lễ thờ cúng cũng khác nhau Chẳng hạn, cùng là họ Lâm nhưng chia

làm 2 nhánh: Lâm nỏ là họ lâm thờ Ngọc Hoàng đại đế dùng thịt để cúng tế,

Lâm pặc là họ Lâm thờ Phật bà quan âm dùng rau để cúng tế

Nét đặc trưng trong tín ngưỡng của người Cao Lan là tục thờ ma ham

hay ma hương hoả (màng dinh hú) Ma ham được thờ là các con vật hoặc đồ

vật từ xa xưa được coi là thuỷ tổ của dòng họ có ảnh hưởng lớn đến đời sống Tục thờ vật tổ đã có từ lâu Tổ tiên người Cao Lan trước khi vào Việt Nam đã

có tín ngưỡng này Khi di cư sang Việt Nam, đi đến đâu họ đều mang theo tín ngưỡng thờ ma ham Ma ham bảo vệ tổ tiên, bảo vệ con cháu và được coi cao hơn cả tổ tiên Bàn thờ ma ham là nơi linh thiêng nhất Nếu gia đình không có biến cố gì thì cúng ma ham vào đêm 30 tết Ngày thường, chỉ khi gia đình có công việc lớn, người ốm đau, chăn nuôi không thuận lợi, cây cối không tốt… người đàn ông làm chủ gia đình mới thắp hương Trước khi thắp hương, người làm lễ phải tắm lá mận, lá bưởi sạch thơm rồi mới thực hành nghi lễ

Tháng giêng, người Cao Lan thường lập đàn cúng mát nhà (hoi săn), cầu ma

ham phù hộ cho con cháu may mắn, mạnh khoẻ, làm ăn thuận lợi, mùa màng tươi tốt

Trong gia đình người Cao Lan còn thờ các loại ma như: ma bếp lửa

(màng lò pời), ma xó (màng coọc lằm), ma núi (màng láu đoi), ma nước (màng táy num), ma lợn nái (màng mẻ mâu)…

Có thể nói, quan niệm tín ngưỡng cúng ma của người Cao Lan nói chung và mỗi dòng họ nói riêng rất phức tạp và khó hiểu gắn với những lời

Trang 28

nguyền, những biến cố của dòng họ đã gặp phải Tín ngưỡng người Cao Lan thể hiện trình độ nhận thức về giới tự nhiên còn thấp, Hình thức tín ngưỡng chủ yếu là bái vật giáo

Thứ hai, một số phong tục, kiêng kỵ

Về phong tục đám cưới

Người Cao Lan không có quan niệm tảo hôn như người Mông Con cái trên 18 tuổi mới được cha mẹ dựng vợ gả chồng Tuy tôn trọng quyền tự do trong hôn nhân nhưng người Cao Lan rất tin vào lá số tử vi Căn cứ vào thuyết ngũ hành để xem tử vi hôn nhân Những người cùng chi họ, cùng thờ một ma không được lấy nhau Chuẩn bị lễ cưới, nhà trai nhờ một người làm

ông mối (ông mòi) Đám cưới có nhiều nghi thức gồm: dạm lễ trầu cau (hoi

mạc), lễ gá bạc (phạn ngằn), lễ nạp treo, lễ cưới Đoàn đón dâu có 8 người

Trước khi xuất hành, thầy cúng (săn súi) làm phép thuật thu vía của từng

người trong đoàn đón dâu vào chiếc ô Thầy cúng sẽ cắp chiếc ô vào nách, giữ gìn cẩn thận trong suốt thời gian đi đón dâu

Trong ngày cưới có hát xình ca Đây cũng là nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc làm cho ngày cưới được vui vẻ, hạnh phúc hơn Họ hát chúc tụng, đối đáp nhau suốt đêm Đến sáng, cô dâu được người phụ nữ có gia cảnh đuề huề cõng từ trong nhà ra đến mái gianh dừng lại Ông thầy cúng lại thu vía của từng người để đón dâu về nhà trai

Về đến nhà trai, thày cúng làm lễ nhập tổ cho cô dâu Ông mối làm lễ kết duyên Một chén rượu được rót ra, ông mối thả đôi nhẫn bạc và cắt một ít gan lợn sống thả vào để cô dâu chú rể uống Nước đó được làm phép coi như

là bùa yêu, 2 vợ chồng uống vào sẽ thương yêu nhau mãi mãi

Các thủ tục trong đám cưới của người Cao Lan tuy phức tạp và mang màu sắc duy tâm nhưng nó phản ánh ước mơ cuộc sống đôi lứa bền chặt, về tương lai tốt đẹp mọi người đều hướng đến, gắn kết các mối quan hệ gia đình

Phong tục sinh đẻ

Trang 29

Người phụ nữ Cao Lan khi mang thai phải kiêng nhiều thứ: kiêng sờ vào quan tài (sợ trẻ sinh ra xương mềm không đi được), kiêng ăn đu đủ chín (sợ con cam sài)… Trước kia, phụ nữ Cao Lan sinh con tại nhà Giống như người Dao, phụ nữ Cao Lan cũng đẻ ngồi Khi đẻ cần tránh hướng “tam sát” (Đẻ tháng Giêng kiêng quay về hướng Đông, đẻ tháng Hai kiêng quay về hướng Bắc, đẻ tháng Ba kiêng quay về hướng Tây, đẻ tháng Tư kiêng quay về hướng Nam Các tháng sau kiêng kỵ lại trở về chu kỳ cũ Nhà có trẻ mới sinh, người dân tộc Cao Lan thường cắm một cây nêu ngoài cửa gần cầu thang để cho khách biết giữ ý

Sau 3 ngày đứa trẻ sinh ra khoẻ mạnh, gia đình làm lễ ăn ba sáng (Kên

slam hêt) để cúng thần Bà mụ (màng nàm tàng), báo cáo tổ tiên, đặt tên cho

trẻ Thông tin của trẻ mới sinh được ghi vào sổ niên sinh (nìn senh) để lưu lại

qua các đời Nếu trẻ hay ốm đau phải xin gạo nhà khác về cho ăn ngụ ý gửi nuôi nhờ Nhà nào hiếm con còn mang gửi ma nhà khác cho dễ nuôi

Phong tục tang tế

Chịu ảnh hưởng quan niệm luân hồi của Phật giáo, người Cao Lan coi cái chết là tạm thời kết thúc kiếp này chuyển sang kiếp khác nên việc tang tế rất được tôn trọng Các thủ tục trong đám ma rất phức tạp, có thứ tự chặt chẽ Mỗi nghi lễ đều xuất phát đều mang một ngụ ý nào đó

Người chết được lau rửa, thay quần áo mới Nếu người chết là bố mẹ hoặc anh cả thì đặt ở gian giữa nhà theo chiều dọc của nóc nhà Nếu người chết là con thứ thì đặt ngang giữa nhà Trước khi nhập quan, người nhà cho vào miệng người chết 1 chiếc nhẫn bạc và 1 nhúm gạo hoặc muối Tục tang tế này rất giống tục tang tễ của người Trung Quốc Khi đậy nắp áo quan, 4 ngọn nến 4 góc và 1 ngọn ở giữa được thắp tượng trưng cho ngũ hành: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ và tượng trưng cho 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc và trung tâm Trong đám tang, các con của người quá cố bắt buộc phải đeo bao dao ngang hông, tóc xoã, ngụ ý trước đây cha mẹ đeo dao đi làm nương dù bận

Trang 30

vẫn tranh thủ về chăm con không kịp bỏ bao dao ra Khi cha mẹ chết đi, con cái phải đeo bao dao để nhớ công ơn cha mẹ

Người Cao Lan không có tục cải táng và làm giỗ nên tục làm nhà xe được coi là nghi lễ quan trọng nhất Tuỳ vào tuổi tác, uy tín, hiểu biết văn hoá của người chết mà làm nhà xe to hay nhỏ Khung nhà xe làm bằng nứa non Nhà xe được dán giấy màu đẹp Cấu trúc nhà xe là 2 tầng như toà lâu đài cổ Quan tài nằm gọn trong toà lâu đài Thời gian làm nhà xe từ 5 đến 7 ngày Người chết được đặt trong nhà xe đến lúc đốt nhà xe Gần đây do sợ mất vệ sinh nên người chết được chôn cất trước, các thủ tục cúng nhà xe vẫn diễn ra bình thường Tục làm nhà xe dân tộc Tày, Dao… cũng có nhưng nhà xe của người Cao Lan trang trí cầu kỳ nhất Nếu người chết còn cha mẹ hoặc gia

đình nào chưa có điều kiện làm nhà xe thì mai táng ngay gọi là gửi đất (cơi

tôm) Về sau, khi nào gia đình có điều kiện thì làm nhà xe

Trước khi đưa quan tài ra khỏi nhà thầy cúng hát một bài xình ca để căn dặn linh hồn về với tổ tiên không được về quấy nhiễu người sống Khi khiêng quan tài ra khỏi cửa, con cháu quỳ sấp nối nhau, đầu hướng vào trong nhà để khiêng qua đầu con cháu Nghi lễ này ngụ ý con cháu làm cây cầu tống tiễn cha mẹ lên đường

Trong đám ma người Cao Lan còn rất nhiều nghi lễ khác nhưng nhìn chung đều hướng về giáo dục con người phải nhớ về cội nguồn, giáo dục đạo hiếu, trách nhiệm, lòng thành kính với người đã khuất

Một số kiêng kỵ khác

Người Cao Lan đưa ra rất nhiều kiêng kỵ Chẳng hạn: người con dâu không được ngồi lên giường, lên gối của bố chồng; con dâu không ăn cơm cùng mâm với bố chồng và anh chồng; không được trao, nhận đồ vật trực tiếp

mà gián tiếp trao nhận; phụ nữ không được thắp hương, không đến gần bàn thờ ma ham; để giữ sự sạch sẽ thanh tịnh, đàn ông làm bếp nấu đồ cúng;

Trang 31

khách đến nhà chơi không lên phản uống nước ngay mà ngồi gần bếp lửa, khi nào chủ nhà mời mới được lên uống nước…

Các kiêng kỵ của người Cao Lan cho thấy chịu ảnh hưởng của quan niệm tín ngưỡng và khá coi nhẹ phụ nữ Tuy nhiên, nếu lược bỏ những yếu tố duy tâm thì những kiêng kỵ này cũng thể hiện những nét văn hoá độc đáo, cách cư xử tế nhị, lịch sự và có tính giáo dục cao

Thứ ba, ngôn ngữ

Hiện nay, người Cao Lan sử dụng đồng thời 3 ngôn ngữ nói khác nhau: tiếng nói hàng ngày theo ngữ hệ Tày - Thái dùng giao tiếp trong cộng đồng người Cao Lan; tiếng phổ thông (hay còn gọi tiếng Kinh) dùng giao tiếp với người Kinh, các dân tộc khác và học văn hoá; tiếng Cao Lan cổ thuộc ngữ hệ Hán - Tạng là 1 dạng thổ ngữ Quảng Đông, Trung Quốc dùng trong cúng bái

và hát xình ca Trong 3 thứ ngôn ngữ này tiếng Cao Lan hàng ngày được sử dụng phổ biến nhất Thực tế, ngay trong cộng đồng người Cao Lan ở các vùng khác nhau cũng có cách phát âm khác biệt Chẳng hạn, người Cao Lan ở Bắc

Giang có cách phát âm khác người Cao Lan ở Tuyên Quang (pơi/pây/đi;

nờn/nần/ngủ…) Tiếng Cao Lan cổ được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, hát

xình ca nên chủ yếu thầy cúng, người già hát xình ca mới biết Phần đa lớp trẻ hiện nay không biết sử dụng ngôn ngữ này

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ đặc biệt về ngôn ngữ của người Cao Lan với một số dân tộc khác Tổ tiên người Cao Lan là người Choang Bắc, thuộc dòng ngôn ngữ Tai Bắc Người Cao Lan có quá trình di đến nhiều vùng dân tộc khác nhau từ Trung Quốc sang Việt Nam vẫn giữ gốc tiếng mẹ đẻ Khi di cư vào Việt Nam, người Cao Lan sống gần với các dân tộc khác như: Việt, Tày, Dao nên ngôn ngữ có sự pha trộn Đây cũng là một hiện tượng bình thường trong quá trình hình thành tính dân tộc của 1 tộc người

Trang 32

Bảng so sánh một số từ được dùng thường xuyên dưới đây sẽ cho thấy

sự giao thoa và khác biệt ngôn ngữ các dân tộc có liên hệ đặc biệt với người Cao Lan:

Sán Chí là 2 ngành dân tộc đều là người Choang (Hờn Chùng) di cư từ Quảng

Đông, Trung Quốc sang Việt Nam Trong cúng bái và hát dân ca, ngôn ngữ của 2 ngành có nét tương đồng, cùng dùng tiếng thổ ngữ vùng Quảng Đông Trung Quốc, nhưng ngôn ngữ hàng ngày rất khác biệt Tiếng Cao Lan về phát

âm nhiều từ giống tiếng Tày nhất (chẳng hạn: ma/chó, nà/ruộng, sthoong/số

2, slam/số 3, phằng/phằng/vui…) Tiếng Cao Lan có hơn 60% vốn từ vựng

giống tiếng Tày nhưng ngữ điệu nặng hơn Người Cao Lan không có ngôn ngữ riêng để biểu đạt tư duy về một số sự vật - hiện tượng mà vay mượn tiếng Việt để diễn tả (Ví dụ như: Đảng, Bác Hồ, Chính phủ, Xe đạp, xe máy,…)

Do nhu cầu giao lưu, học tập mà tiếng Việt được sử dụng ngày càng nhiều Tiếng nói dân tộc đang dần bị pha trộn, mai một dần tính đặc trưng

Trang 33

Bên cạnh ngôn ngữ nói có sự giao thoa thì ngôn ngữ viết của người Cao Lan cũng thể hiện sự tiếp thu và sáng tạo theo cách riêng của họ

Ngay từ buổi đầu hình thành những nét văn hoá riêng của mình, người Cao Lan đã mượn chữ Hán chế biến lại để ghi chép gia phả, sách cúng, truyện, các bài xình ca Chữ viết của người Cao Lan là chữ nôm Cao Lan Người Cao Lan đã dùng phương pháp vay mượn, lấy chữ âm này để biểu

nghĩa cho âm kia (Ví dụ: chữ “kiến” trong Hán tự nghĩa là “nhìn” và chữ

“thiên” trong Hán tự nghĩa là “trời” thành chữ “thên”, tiếng Cao Lan nghĩa là

“nhìn thấy”) Nguyên tắc ghép chữ này giống với chữ Nôm của người kinh Chữ Nôm Cao Lan ghi chép văn bản cổ lại được đọc theo âm Cao Lan cổ Chữ Hán vốn là chữ tượng hình nhưng các thế hệ người Cao Lan đã vay mượn chữ Hán để ghi chép Họ không chỉ chú ý đến ý nghĩa của chữ mà còn chú ý đến nhiều việc lấy âm để biểu ý Chữ viết này khó đọc, khó hiểu nghĩa

và không được phổ biến rộng rãi Chủ yếu những người làm thầy cúng (say

phù - sư phụ) mới hiểu

Từ những đặc điểm ngôn ngữ nói và viết như vậy cho thấy, đối với người Cao Lan việc sử dụng chữ Hán ngôn ngữ viết không nhằm mục đích để phát triển cao hơn tư duy mà chủ yếu mượn chữ để ghi chép, lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống

Thứ tư, văn nghệ dân gian Cao Lan

Kho tàng văn hoá văn nghệ dân gian Cao Lan mang nhiều màu sắc với những câu chuyện cổ tích đầy khát vọng về cuộc sống bình yên, mùa màng tươi tốt Những điệu dân vũ mộc mạc mà uyển chuyển theo tiếng trống tang sành, những lời hát mượt mà đằm thắm đầy chất thơ trong làn điệu xình ca,…

đó là những nét văn hoá nghệ thuật dân gian của người Cao Lan vừa mang âm hưởng của văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc vừa mang những nét văn hoá đặc sắc làm cho đời sống tinh thần của người Cao Lan mộc mạc dung dị nhưng lạc quan mang đậm triết lí nhân sinh, nhân bản, hoà đồng

Trang 34

Là một dân tộc yêu thích ca hát, âm nhạc là nét văn hoá tiêu biểu cho

đời sống tinh thần của người Cao Lan Người Cao Lan luôn tự hào về hát xình

ca của mình “Xình ca” hay “xịnh ca” có nghĩa là xướng ca Xình ca có từ bao

giờ không ai rõ Tương truyền rằng, xình ca do bà chúa thơ ca tên là Lau Slam (Lưu Tam) sáng tạo ra Trong chương hát “Thỉng mời thần ca” có đoạn:

tr.44]

Kho tàng truyện cổ của người Cao Lan có nhiều dị bản lưu truyền về nàng Lau Slam, nói chung đều cho rằng Lau Slam khi còn nhỏ đã là “thần đồng” ca hát Cô bé Lau Slam lên 7 tuổi đã hát lên những bài hát, lời thơ đồng dao cho đám trẻ trong làng Lớn lên nàng Lau Slam trở nên xinh đẹp hát hay, đối đáp giỏi Mối tình đẹp nhưng nhiều bi ai đã đem lại cho nàng nguồn cảm xúc ca lên những bài về tình yêu da diết Nàng đã hát lên những lời khao khát yêu đương, những lời thương tiếc cho đến khi trút hơi thở cuối cùng Người Cao Lan đã chép những lời hát đối đáp, những bài hát tình yêu của Nàng thành 36 tập, mỗi tập hát trong một đêm Cùng mang những nét đặc trưng của văn nghệ vùng Đông Bắc nhưng khi nghe xình ca Cao Lan có thể phân biệt được với hát Sli - Lượn của dân tộc Tày Nếu như hát Sli - Lượn chủ yếu là

âm đồng độ thì hát xình ca kết hợp âm đồng độ và dị độ tạo nên sưh uyển chuyển, thiết tha cho lời hát

Kế thừa văn hoá Hán, những khúc hát xình ca được kết cấu theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Ngoài kết cấu chủ yếu theo thể thất ngôn tứ tuyệt, xình ca Cao Lan có khúc lại được hát rất linh hoạt theo từng hoàn cảnh và trí thông minh đối đáp của người hát Xình ca Cao Lan được sáng tác theo 2 kết cấu đặc trưng là kết cấu 1 chiều và kết cấu đối đáp Kết cấu 1 chiều của xình ca

Trang 35

Cao Lan liên kết những câu hát không có lời đối đáp do một người lĩnh xướng Dạng kết cấu 1 chiều được sử dụng chủ yếu trong xình ca đám cưới ( bài “Mời trầu”, bài “Dâng tổ”, bài “lời khuyên”…), xình ca đám tang và một

số bài trong đêm hát giao duyên có tính chất tự sự Phần đa, xình ca Cao Lan được sáng tác theo kết cấu đối đáp

Hát xình ca là hát giao duyên và hát sử ca Không giống như người Tày hát Sli - Lượn có các lứa tuổi hát, xình ca Cao Lan chỉ có thanh niên chưa lập gia đình mới được hát đối đáp Do tính chất hát đối đáp cần phản ứng thông minh, có khi trai gái khác làng hát đối đáp nhau nên thường những người có gia đình, người già hay đứng sau cố vấn và dạy hát cho thanh niên Vì vậy, mỗi đêm hát xình ca không chỉ có nam nữ thanh niên tham gia mà còn hấp dẫn những người khác và làm tăng tính tương trợ của cộng đồng dân tộc yêu thích văn nghệ

Xình ca Cao Lan rất phong phú song tựu chung lại có 3 phần:

Phần đặc trưng nhất, hấp dẫn nhất của hát xình ca là xình ca giao

duyên, gồm những khúc hát để trai gái đối đáp thách đố nhau, trao đổi tâm

tình, buộc bạch nỗi lòng với nhau Những câu đối đáp thường sử dụng phương pháp ẩn dụ dùng các hình ảnh của thiên nhiên như hoa, trăng, sao, thuyền… để chuyển tải những cung bậc tình cảm rất mộc mạc hồn nhiên mà chứa đựng ẩn ý sâu sa Trong đoạn hát mở đầu làm quen của các chàng trai cô gái có đoạn:

Nam:

“Mờu tan va hai tú tú slăn Trên trời có đám mây vờn trắng

Thin slan vằn mình nhịt chệch thăn Dưới thung có đoá mẫu đơn xinh Căm di slình phồng vắn sác lợc Trăng lên hoa lại càng xinh xắn

Nữ đối:

Trang 36

“Mừy sàng toọc sư mờn hống chí Tên em là một loài hoa

tr.63]

Người Cao Lan rất ưa sự thông minh, đối đáp nhanh nhẹn Họ hát thách nhau, trêu nhau, thử tài ứng khẩu của nhau Trai gái Cao Lan bày tỏ tình yêu một cách tình tứ, ý nhị song cũng rất táo bạo Để bày tỏ các cung bậc của tình yêu, người Cao Lan còn mượn ý trong hát sử ca về cuộc di thiên gian khó để

ví von cho ý chí vượt thử thách đến với người yêu Người Cao Lan rất tôn trọng quyền tự do hôn nhân Hát xình ca giao duyên thể hiện khát vọng tìm bạn tâm giao, sự bình đẳng và tự do yêu đương

Đám cưới là kết quả tình yêu của các chàng trai cô gái tìm hiểu nhau

trong các đêm hát xình ca Xình ca đám cưới là sự nối dài niềm hạnh phúc của

đôi uyên ương và gắn với những nghi lễ của đám cưới Xình ca đám cưới

được bắt đầu hát từ lễ “giữ cửa” (làn mùn) Vẫn là những câu hát đối đáp

nhưng thường chỉ có 2 câu Nhà gái-nhà trai hát đối đáp hỏi thăm nhau

Nhà gái hát hỏi:

“Mơn tưu héc nhằn sợi ná chau Xin hỏi đoàn khách ở phương nào

Nhà trai đáp:

“Tưi si héc nhằn sợi cống châu Anh là khách từ Quảng Châu

Rồi 2 bên hát đối đáp hỏi lễ vật, mang các vật trong nhà ra hát đố nhà trai Sau khi nhà trai hát đối đáp và được nhà gái chấp nhận cho qua cửa, nhà trai tiếp tục hát trong lễ dâng tổ, lễ mời trầu Lễ kết duyên thành công, Ông

Trang 37

mối hát bài giảng về đạo lí, khuyên răn cô dâu làm tròn bổn phận của mình với gia đình nhà chồng

Phần thứ ba của hát xình ca là xình ca đám tang So với xình ca giao

duyên và xình ca đám cưới, xình ca đám tang rất ít Xình ca đám tang được thầy cúng hát khi tống tiễn linh hồn người chết về với tổ tiên Trong xình ca đám tang có đoạn:

“Ngời shồng mào nhằn mền dình nam Nhị tống hình nhân theo hướng nam

Người Cao Lan quan niệm người chết là chấm dứt kiếp này và chuyển sang thế giới khác Thầy cúng hát nhắc nhở linh hồn người chết yên lòng về với tổ tiên, còn nhiều công việc gác lại dù nhớ bố mẹ cũng không được quay

trở lại

Hát xình ca là nét văn hoá đặc sắc của người Cao Lan mang tính giáo dục cao, ca ngợi tình cảm tốt đẹp của con người, phản ánh khát vọng của một tộc người vươn tới cái đẹp Những khúc hát xình ca đối đáp thể hiện sự thông minh sắc sảo, ý nghĩa thâm thuý và là niềm tự hào của trí tuệ người Cao Lan

Ngoài hát xình ca, trong vốn âm nhạc của mình, người Cao Lan còn có hát ru

Hát ru của người Cao Lan cũng giống như những khúc hát ru của các

dân tộc khác, người phụ nữ Cao Lan cũng ru con bằng những lời có hình ảnh của đồi nương, của con cá nhỏ, con muồm muỗm trên đồng…

“Ú…ú…ú nung nờn nờn Ru em ngủ cho say

Trang 38

Lúm lì làu làu…”

Với tiết tấu chậm, nhịp đồng độ du dương, khúc hát ru con đã được các

bà mẹ hát thường xuyên đưa con thơ vào giấc ngủ ngon lành

Không giống như các dân tộc hát ru con chỉ dựa vào tiết tấu, nhịp điệu chỉ cần ru cho con ngủ được mà có thể biến tấu nội dung, người Cao Lan chỉ

có một bài hát ru như lời tâm sự mộc mạc của người mẹ nhưng không kém phần dạt dào, sâu lắng So với các bài hát xình ca phong phú thì hát ru quả là

ít Đối với người Cao Lan, hát xình ca là hát đối đáp giao lưu, là thử thách trí thông minh của trai gái nên càng hát càng phong phú, sáng tạo Người phụ nữ Cao Lan khi có gia đình và sinh con không đi hát giao duyên nữa mà sống an phận tần, tảo làm ăn, chăm sóc con cái Họ dồn hết tình cảm sâu lắng, bền bỉ cho con trong một bài hát ru

Ngoài hát xình ca và hát ru, nhạc cụ, dân vũ của người Cao Lan là

những bộ phận trong tổ hợp văn hoá văn nghệ dân gian có liên hệ mật thiết với sinh hoạt tín ngưỡng

Nhạc cụ người Cao Lan gồm trống lớn, trống con, chuông nhỏ, chiêng,

chập xeng, thanh la, kèn tổ sâu, nhị, sáo, trống tang sành Nhạc cụ được đệm trong các đêm hát xình ca rất ít, chủ yếu phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng như: làm hiệu lệnh cho dân làng trong các sinh hoạt tín ngưỡng, đám ma và các hội đình đám Nhạc cụ của người Cao Lan có nhiều loại giống các dân tộc

ít người ở vùng núi phía Bắc như trống, chiêng, thanh la… Nhưng loại nhạc

cụ đặc biệt nhất của người Cao Lan là trống tang sành (tiếng Cao Lan gọi là

ăn nhợc) rất độc đáo Trống tang sành ngày nay được cải tiến từ trống đất có

từ thời tổ tiên người Cao Lan khởi nghĩa chống triều đình phong kiến Trung Quốc Trống đất cổ xưa được dùng các đám lễ hội, lễ cầu mùa, cầu thần ban cho con người khoẻ mạnh, bình yên, mùa màng tươi tốt Trống tang sành được cải tiến có thân trống làm bằng đất nung thành sành Trống dài từ 40-50cm, ở giữa thắt 2 đầu loe hình phễu Trống có 2 mặt: một mặt bịt bằng da

Trang 39

bò hoặc da dê, một mặt bịt bằng da kỳ đà hoặc da trăn Trống tang sành được

gõ đệm cho các điệu múa phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo và các sinh hoạt cộng đồng

Dân vũ của người Cao Lan khá phong phú và đặc sắc Các điệu múa

trong các nghi lễ tôn giáo gắn với sản xuất cầu cho mùa màng tươi tốt như:

Hai tao xá lù (phát lối mở đường), nùm lừy (múa trỉa lúa), pơng loóng (múa

giã cốm) Người Cao Lan còn có các điệu múa giải trí như: soọc cộng (múa xúc tép), lồng nộc lau (múa đôi chim cu xuống ruộng)… Các điệu múa mô

phỏng các sinh hoạt cộng đồng và khao khát tình yêu đôi lứa, mang đậm triết

lý phồn thực Người Cao Lan múa trong các ngày lễ, hoạt động vui chơi, hoạt động tín ngưỡng Sự khác biệt trong dân vũ của người Cao Lan so với các dân tộc khác là người múa chỉ là nam giới (kể cả những điệu múa mô phỏng đôi trai gái thì nam đóng giả nữ Điều này xuất phát từ khởi nguồn múa ban đầu chỉ phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo, phụ nữ không được tham gia Người múa ở giữa, người xem đứng xung quanh tán thưởng Nét đặc trưng trong múa dân gian của người Cao Lan là không có múa đơn mà múa tập thể, mang tính cộng đồng cao

Để phục vụ cho các hoạt động tín ngưỡng, không chỉ có nhạc cụ và dân

vũ mà còn có hội hoạ Người Cao Lan không vẽ tranh để giải trí mà phục vụ

cho các hoạt động tín ngưỡng Sự kết hợp của tam giáo: Nho - Phật - Lạo thể hiện rõ trong các tranh thờ phụ vụ cho đời sống tâm linh người Cao Lan Các bức tranh vẽ thờ thần, tranh thờ phật, tranh thờ gia tiên Nghệ thuật trong tranh có đường nét, bố cục, màu sắc mang đậm phong cách dân gian cổ Tranh thờ có những hình ảnh gần gũi với cuộc sống, gần với thiên nhiên Ý nghĩa các bức tranh thờ thể hiện rõ sự tôn kính với các vị thần, với tổ tiên, răn dạy con người hướng đến cái thiện

Người Cao Lan trong quá trình sống còn hình thành cho mình vốn văn

học khá phong phú như: truyện cổ, ca dao, tục ngữ, câu đố

Trang 40

Truyện cổ của người Cao Lan thường gắn với ý thức tâm linh và quan niệm thế giới quan, nhân sinh quan Các truyện kể về nguồn gốc dân tộc, về khai bản lập làng, ca ngợi sức mạnh con người chế ngự thiên nhiên… (các truyện như: Sự tích núi lịch, Truyện của bầu, Bắt thiên lôi ăn thịt, Chú rể rắn…) Gần đây, một số truyện đã được in thành sách như: Kó Lau Slam (Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, năm 1996), Sằm sừ (Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, năm 1996), Chuyện chàng út của ông trời (Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, năm 1999)

Ngoài truyện, người Cao Lan còn có nhiều câu ca dao, tục ngữ đúc kết những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, răn dạy con người Kế thừa đậm nét văn hoá Trung Hoa, ca dao người Cao Lan không theo thể thơ lục bát

mà thường cấu tạo theo thể song thất (2 hoặc 4 câu, mỗi câu 7 chữ) Ngoài ra

ca dao Cao Lan còn theo thể thơ 5 chữ

Ví dụ: kiêng không kết hôn ở tuổi 17, người Cao Lan có câu ca:

“Nhịt tàu sết cháo mò tò háo Mặt trời mọc sớm cũng chẳng hay

Để răn dạy về lòng thuỷ chung, vợ chồng yêu thương nhau trong mọi hoàn cảnh, người Cao Lan có câu:

“Phu say háo nháu pài tàu sùi Vợ chồng xấu gì cùng nhau ngủ

Văn sềnh hàn háo di phan lời” Người tình dù đẹp mấy cũng phải rời bỏ

Người Cao Lan cũng rất coi trọng sự hoà thuận khi nhắc nhở:

“Pắt nhầu lanh pún săm Một người mà hai lòng

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm