1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Study on the interaction between the buffer zone community and biodiversity conservation in xuan son national park, phutho province

109 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3.11: Hiểu biết của người dân về hoạt động đã triển khai trong khuôn khổ của dự án Đan Mạch Bảng 3.14: Tương quan hiểu biểu về các chính sách và chương trình đã được thực hiện tại đ

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-

ĐINH THỊ HÀ GIANG

NGHIÊN CỨU SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG ĐỆM VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN QUỐC GIA

XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Việt Nam học

Hà Nội-2011

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Mã số: 60 31 60

Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Trương Quang Học

Hà Nội - 2011

Trang 3

3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC BẢNG 7

DANH MỤC CÁC HÌNH 9

LỜI CẢM ƠN 10

LỜI CAM ĐOAN 11

A PHẦN MỞ ĐẦU 12

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12

2 Tổng quan tài liệu 13

2.1 Các khái niệm 13

2.1.1 Đa dạng sinh học 13

2.1.2 Bảo tồn Đa dạng sinh học 14

2.1.3 Vùng đệm 14

2.1.4 Khu Bảo tồn, Vườn Quốc gia 15

2.1.5 Cộng đồng 15

2.2 Khái quát về hệ thống KBT, tình hình bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam 17

2.2.1 Khái quát về hệ thống KBT 17

2.2.2 Tình hình bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam 19

2.3 Vùng đệm và vùng lõi trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia 20

2.3.1 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng tại các KBT và VQG 20

2.3.1.1 Tình hình trên thế giới 20

2.3.1.2 Tình hình tại Việt Nam 22

2.3.2 Các nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn 24

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 25

3.1 Mục tiêu tổng quát 25

3.2 Mục tiêu cụ thể 25

4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 25

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 26

5.1 Phương pháp luận 26

5.2 Phương pháp nghiên cứu 27

5.2.1 Hồi cứu số liệu 27

5.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học 27

5.2.3 Phương pháp chuyên gia 27

5.2.4 Phương pháp SWOT 27

Trang 4

4

6 Cấu trúc luận văn 28

CHƯƠNG 1: VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN VÀ VÙNG ĐỆM 29

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của VQG Xuân Sơn và vùng đệm 29

1.1.1 Vị trí địa lý 29

1.1.2 Địa hình, địa mạo 31

1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 31

1.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 32

1.1.5 Tài nguyên rừng 33

1.2 Tình hình quản lý VQG và vùng đệm 34

1.2.1 Quản lý tài nguyên rừng của các xã vùng đệm 34

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của VQG Xuân Sơn 35

1.3 Điều kiện KT - XH vùng đệm và vùng lõi VQG Xuân Sơn 38

1.3.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên ở VQG Xuân Sơn 38

1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc và nguồn lao động 40

1.3.3 Cơ sở hạ tầng 43

1.4 Định hướng phát triển của VQG Xuân Sơn và KT-XH của vùng đệm đến năm 2020 44

1.4.1 Định hướng phát triển KT – XH vùng đệm 44

1.4.2 Quy hoạch chung xây dựng Khu Du lịch VQG Xuân Sơn 46

CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN VÙNG ĐỆM TỚI ĐDSH VQG XUÂN SƠN 48

2.1 Đời sống người dân vùng đệm và sự phụ thuộc vào rừng 48

2.1.1 Đặc điểm về mẫu khảo sát 48

2.1.2 Đời sống người dân vùng đệm 50

2.1.3 Sự phụ thuộc vào rừng của người dân 52

2.1.3.1 Thu nhập từ rừng 52

2.1.3.2 Mức độ quan trọng của các sản phẩm từ rừng 53

2.1.3.3 Mức độ khai thác, sử dụng các sản phẩm từ rừng 55

2.1.3.4 Mục đích sử dụng các sản phẩm từ rừng 56

2.2 Những nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên ĐDSH 58

2.2.1 Nguyên nhân trực tiếp 58

2.2.1.1 Khai thác gỗ trái phép 58

2.2.1.2 Gỗ củi 59

2.2.1.3 Săn bắn và thu hái lâm sản ngoài gỗ 60

2.2.1.4 Canh tác nương rẫy, mở rộng diện tích đất nông nghiệp 62

Trang 5

5

2.2.1.5 Chăn thả gia súc 63

2.2.2 Nguyên nhân gián tiếp (nguyên nhân sâu xa) 63

2.2.2.1 Tăng dân số 64

2.2.2.2 Đói nghèo 65

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VQG TỚI CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN VÙNG ĐỆM 67

3.1 Tác động của VQG Xuân Sơn tới cộng đồng cư dân vùng đệm 67

3.1.1 Sự phối hợp giữa VQG Xuân Sơn và chính quyền địa phương 67

3.1.2 Hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn trong cộng đồng cư dân 68

3.1.3 Hoạt động trợ giúp phát triển KT – XH vùng đệm 70

3.2 Tác động của VQG tới nâng cao nhận thức của cộng đồng về VQG và bảo tồn ĐDSH 73

3.2.1 Nhận thức của người dân về ranh giới và về hoạt động của VQG Xuân Sơn 73

3.2.2 Nhận thức của người dân về các dự án, các chính sách và chương trình được thực hiện tại địa phương 79

3.2.2.1 Nhận thức của người dân về các dự án đã thực hiện 79

3.2.2.2 Nhận thức của người dân về các chính sách và chương trình đã thực hiện 81

3.2.3 Nhận thức của người dân về hoạt động của chính quyền địa phương trong công tác bảo tồn 85

CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN 87

4.1 Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 87

4.2 Một số vấn đề trong công tác quản lý vùng đệm và bảo tồn tài nguyên ĐDSH tại VQG Xuân Sơn 88

4.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững vùng đệm và tăng cường công tác bảo tồn ĐDSH tại VQG Xuân Sơn 93

4.3.1 Nhóm giải pháp về phát triển KT - XH 93

4.3.2 Nhóm giải pháp về phát triển văn hoá và con người 94

4.3.3 Nhóm giải pháp để hoàn thiện chính sách 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

KẾT LUẬN 97

KHUYẾN NGHỊ 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 108

PHỤ LỤC 109

Trang 6

6

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Các từ viết tắt Tiếng Việt

BĐKH Biến đổi khí hậu

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

TN & MT Tài nguyên và Môi trường

UBND Uỷ ban Nhân dân

VQG Vườn Quốc gia

XHH Xã hội học

Các từ viết tắt Tiếng Anh

CBD Công ước Đa dạng sinh học

IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên

Thiên nhiên Quốc tế

Trang 7

sống con người

71

Bảng 3.2: Nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của VQG Xuân Sơn 72 Bảng 3.3: Các hoạt động bị cấm trong VQG Xuân Sơn 73 Bảng 3.4: Nhận thức của người dân về lợi ích từ việc thành lập VQG

Xuân Sơn

73

Bảng 3.5: Đánh giá của người dân về mức độ cơ quan/người được

hưởng lợi từ Vườn Quốc gia Xuân Sơn

74

Bảng 3.6: Nhận thức của người dân về các hoạt động sử dụng tài

nguyên trong VQG Xuân Sơn và hiệu quả của nó đến phát triển KT – XH địa phương

75

Bảng 3.7: Đánh giá của người dân về mức độ nghiêm trọng của các mối 75

Trang 8

Bảng 3.11: Hiểu biết của người dân về hoạt động đã triển khai trong

khuôn khổ của dự án Đan Mạch

Bảng 3.14: Tương quan hiểu biểu về các chính sách và chương trình đã

được thực hiện tại địa phương của hai xã

82

Bảng 3.15: Người dân đánh giá về hiệu quả hoạt động của những chính

sách, chương trình này

83

Bảng 3.16: Hiểu biết về hoạt động của địa phương (huyện, xã, thôn/bản)

để ủng hộ công tác bảo tồn tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn

Trang 9

của hộ gia đình

50

Trang 10

10

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc nhất tới GS TSKH Trương Quang Học, người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản cũng như đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý, các thầy cô, các cán bộ Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi có thể tham gia học tập và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Tôi cảm ơn Cán bộ Văn phòng Hội đồng Nhân dân – UBND huyện Tân Sơn, Các cán bộ Phòng Thống kê, Các cán bộ phòng Tài nguyên huyện Tân Sơn đã cung cấp thông tin, số liệu và trả lời phỏng vấn trong quá trình thực tế tại địa phương

Tôi xin cảm ơn ông Phạm Văn Long - Giám đốc VQG Xuân Sơn, anh Đinh Tấn Quyền - cán bộ Vườn đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ khi tôi khảo sát tại địa phương; Cảm ơn UBND xã Xuân Đài và Xuân Sơn đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành chuyến nghiên cứu của mình Tôi xin đặc biệt cảm ơn bà Hà Thị Đoán (chủ tịch Hội Phụ nữ Xuân Đài) và bà Trần Thị Hiền (chủ tịch Hội Phụ nữ Xuân Sơn) đã bỏ công sức, thời gian đi cùng tôi tới từng hộ gia đình để hướng dẫn điền phiếu điều tra và mời bà con đến phỏng vấn, thảo luận nhóm Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới bà con dân bản hai xã Xuân Đài và Xuân Sơn đã nhiệt tình cung cấp thông tin trong suốt thời gian thực địa tại địa bàn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè tôi - những người luôn quan tâm, chia sẻ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Học viên

Đinh Thị Hà Giang

Trang 11

11

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong bản luận văn này hoàn toàn trung thực Các số liệu và kết quả công bố trong luận văn là công trình nghiên cứu nghiêm túc của tôi Nếu có gì sai phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đơn vị đào tạo và pháp luật

Hà Nội, ngày tháng năm 2011

Học viên

Đinh Thị Hà Giang

Trang 12

12

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đa dạng sinh học (ĐDSH) - nguồn tài nguyên quý giá nhất của con người đang bị suy thoái một cách báo động và đã trở thành một trong những vấn đề môi trường bức xúc nhất hiện nay trên phạm vi toàn cầu Trong giai đoạn hiện nay, dưới tác động của các cuộc khủng hoảng mới: khủng hoảng khí hậu (biến đổi khí hậu), khủng hoảng tài chính, khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực v.v, thì vấn đề càng trở nên trầm trọng hơn đến mức đe doạ tới sự tồn vong của con người trên Trái đất Một mặt, những cuộc khủng hoảng này, đặc biệt là biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động mạnh mẽ tới ĐDSH Mặt khác, những hoạt động về bảo tồn và phát triển ĐDSH lại góp phần quan trọng để giảm nhẹ tác động tiêu cực của những cuộc khủng hoảng này Như Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon (2010) đã

khẳng định: “ĐDSH phải là nền tảng để xây dựng các mục tiêu khác Chúng ta cần

một tầm nhìn mới về ĐDSH cho một hành tinh khoẻ mạnh và một tương lai bền vững cho nhân loại” [2, tr5]

Việt Nam được công nhận là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất thế giới và là một trong các quốc gia được ưu tiên của chương trình bảo tồn toàn cầu [9, tr.5] Mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong công tác bảo tồn, trong đó quan trọng nhất là đã xây dựng được một hệ thống 164 khu bảo tồn trên cạn bao gồm: 30 Vườn Quốc gia (VQG), 69 khu bảo tồn (KBT) thiên thiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan

và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm với diện tích gần 2,5 triệu hecta chiếm 7,6% diện tích lãnh thổ [10, tr.136] Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ĐDSH vẫn đang tiếp tục bị suy thoái, thậm chí ngay trong vùng lõi của các KBT này

VQG Xuân Sơn mới được chính thức chuyển hạng thành VQG từ KBT Thiên nhiên theo quyết định số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ VQG Xuân Sơn có giá trị cao về ĐDSH, trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm đang bị đe doạ ở mức quốc gia và toàn cầu Tuy nhiên cũng giống như nhiều VQG và KBT khác, hiện nay các mối đe doạ đối với khu hệ động vật hoang dã và hệ thực vật VQG Xuân Sơn do những hoạt động trực tiếp của con

Trang 13

Trong bối cảnh đó, chúng tôi nhận đề tài cho luận văn tốt nghiệp Chương trình Thạc sĩ ngành Việt Nam học là “Nghiên cứu sự tương tác giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và bảo tồn ĐDSH ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ để giải quyết những thách thức hiện nay trong bảo tồn ĐDSH của VQG

2 Tổng quan tài liệu

Như vậy, ĐDSH là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài và các HST, là tài nguyên tái tạo, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tiến hoá của sinh giới và đặc biệt là đối với đời sống của con người CBD đã nhấn mạnh giá trị kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, mỹ học, giải trí, sinh thái và môi trường của ĐDSH đối với sự sống của con người hiện tại và tương lai ĐDSH là cơ sở cho sự

ổn định kinh tế và các hệ thống chính trị xã hội ĐDSH cung cấp cho con người lương thực, thực phẩm, nước sạch, thuốc chữa bệnh và các sản phẩm khác, đưa con người ra khỏi đói nghèo

Trang 14

14

2.1.2 Bảo tồn Đa dạng sinh học

Ngày nay, sự suy thoái ĐDSH càng gia tăng, đặc biệt ở vùng nhiệt đới trong

đó có Việt Nam, một trong những điểm nóng về ĐDSH thế giới Do đó, bảo tồn ĐDSH đang trở thành một vấn đề của toàn xã hội, chứ không phải chỉ là công việc của những người làm công tác bảo tồn

“Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền” [39, tr.9]

Hiện nay có nhiều phương pháp bảo tồn khác nhau Có thể phân chia thành hai loại chính là bảo tồn tại chỗ (hay còn gọi là bảo tồn nguyên vị) và bảo tồn chuyển chỗ (hay còn gọi là bảo tồn chuyển vị)

Luật ĐDSH của Việt Nam định nghĩa như sau: Bảo tồn tại chỗ là bảo tồn loài hoang dã trong môi trường sống tự nhiên của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trường sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng [39, tr.8]

Bảo tồn chuyển chỗ là bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu,

có giá trị trong môi trường sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng, lưu giữ, bảo quản nguồn gen và các mẫu vật di truyền trong các cơ

sở khoa học và công nghệ hoặc cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền [39, tr.8]

2.1.3 Vùng đệm

Luật ĐDSH được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá

XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 quy định rõ: “Vùng đệm là vùng bao

quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với KBT” [39, tr.12]

Ngoài ra, có một định nghĩa về vùng đệm cụ thể hơn của D.A Gilmour và

Nguyễn Văn Sản (1999) như sau: “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh

Trang 15

15

giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý

để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế xã hội (KT – XH) của các cư dân sống trong vùng đệm”

[19, tr.5]

2.1.4 Khu Bảo tồn, Vườn Quốc gia

KBT hay KBT thiên nhiên là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn ĐDSH [39, tr.22]

Trong luật ĐDSH quy định: KBT bao gồm: a) Vườn Quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) KBT sinh cảnh – loài; d) Khu bảo vệ cảnh quan

VQG có các tiêu chí sau đây:

 Có HST tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại điện cho một vùng sinh thái tự nhiên;

 Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;

 Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục;

 Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái

Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng khái niệm

“cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng cư thôn Tại Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa: “Cộng đồng dân cư

Trang 16

16

thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” [40, tr.10]

 Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH

“Dựa vào cộng đồng” là một cách tiếp cận trong đó những người sử dụng tài nguyên cũng phải là người quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn TNTN khác hoặc là có tính tập trung hoá cao hoặc là không có sự tham gia của các cộng đồng phụ thuộc trực tiếp vào nguồn tài nguyên

Suy thoái TNTN và mất ĐDSH không chỉ đơn thuần là hiện tượng sinh học thuần tuý hay do nhu cầu phát triển kinh tế mà còn là vấn đề phức tạp liên quan đến lối sống của con người, phong tục, tập quán, thái độ, hành vi của từng cá nhân, của cộng đồng dân tộc hay nói cách khác là truyền thống văn hoá Trong mối quan hệ giữa văn hoá và TNTN nói chung, ĐDSH nói riêng, bản sắc văn hoá của mỗi cộng đồng dân tộc thể hiện ở thế ứng xử của dân tộc ấy Vì vậy, Tuyên ngôn của Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg (2002) đã ghi nhận: “người bản địa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính ĐDSH của Trái Đất”

Thật không may, kinh nghiệm của miền núi ở khắp mọi nơi trên thế giới cho thấy sự lệ thuộc là hậu quả phổ biến nhất khi quyền kiểm soát việc quản lý tài nguyên và các quy định về phương hướng phát triển vượt ra khỏi tầm tay của người dân địa phương [27, tr.13]

Năm 2009, nhà kinh tế học người Mỹ Elinor Ostrom đã nhận được giải Nobel Kinh tế vì công trình phân tích quản lý kinh tế của bà, các nghiên cứu này chỉ

ra rằng “các cộng đồng địa phương có thể tự mình quản lý tài sản công tốt hơn so với các quyền lực áp đặt từ bên ngoài”

Do đó, chúng ta cần phát huy vai trò và sự tham gia của cộng đồng cư dân vào việc bảo tồn ĐDSH tại các KBT, VQG; phải coi việc phát triển toàn diện của cộng đồng, nhất là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của cộng đồng bản địa như một bộ phận quan trọng của công tác bảo tồn ĐDSH

Trang 17

và 1 Khu ở Bạch Mã Tiếp đến, ngày 7/7/1962, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định

số 72/TTg thành lập Khu rừng cấm Cúc Phương

Sau đó, thuật ngữ “rừng cấm” được thay thế bằng “rừng đặc dụng” thể hiện

có những thay đổi trong nhận thức về bản chất của các khu rừng này Ngày 30/12/1986, Bộ Lâm nghiệp (cũ) đã ra Quyết định số 1171 ban hành “Quy chế Quản lý rừng đặc dụng” Đây là văn bản đầu tiên đưa ra dịnh nghĩa và xác định rõ chức năng, tiêu chuẩn lựa chọn của ba loại hình rừng đặc dụng ở nước ta là: VQG, KBT thiên thiên và Khu văn hoá - lịch sử - môi trường

Thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới (1986), công tác xây dựng rừng đặc dụng được đẩy mạnh, với sự quan tâm nhiều hơn của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, sự tham gia tích cực của các nhà khoa học trong nước và đặc biệt

là sự hỗ trợ tích cực của các tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên Vì vậy, nhiều KBT được xây dựng và củng cố Đến tháng 11/1997 hệ thống rừng đặc dụng của nước ta đã bao gồm 92 khu với tổng diện tích là 1 928 979 ha, trong đó, có 10 VQG, 56 KBT thiên nhiênvà 26 khu văn hoá - lịch sử - môi trường

Ở nước ta, hệ thống KBT được gọi chung là rừng đặc dụng và chia ra làm 3 loại chính: VQG, KBT thiên nhiên và Khu bảo vệ cảnh quan Đến tháng 2/2003, cả nước có 126 khu rừng đặc dụng với diện tích 2.541.675ha được quy định và xác lập (theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ có liên quan và UBND các tỉnh) (chi tiết tại Bảng 0.1)

Hiện nay, hệ thống phân hạng đã có những thay đổi nhất định phù hợp với quốc tế và bao gồm các hạng sau:

Trang 18

18

- Vườn quốc gia: khu bảo tồn được quản lý chủ yếu cho bảo vệ HST, nghiên cứu, giáo dục môi trường và giải trú; tương đương với Hạng II: VQG của bảng phân hạng của IUCN, 1994;

- Khu bảo tồn Thiên nhiên: khu bảo tồn được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ các HST và các loài, phục vụ nghiên cứu, giám sát, giải trí và giáo dục môi trường; Không có hạng tương đương với bảng phân hạng IUCN, nhưng gần với hạng III; Thắng cảnh tự nhiên;

- Khu bảo tồn Loài và Nơi cư trú: là KBT được quản lý chủ yếu để bảo vệ môi trường và bảo tồn ĐDSH thông qua các biện pháp quản lý; tương đương với hạng IV: Khu bảo tồn Sinh cảnh/Quản lý các loài của bảng phân hạng IUCN;

- Khu bảo tồn Cảnh quan: là KBT được quản lý chủ yếu cho mục đích bảo vệ các cảnh quan và vui chơi giải trú; tương đương với hạng VQG Xuân Sơn: KBT Cảnh quan của bảng phân hạng IUCN (Chiến lược Quản lý Hệ thống KBT Thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010)

- Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm: Dùng cho mục đích nghiên cứu và thực nghiệm khoa học

Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2010 của Bộ TN & MT đến nay, với tích gần 2,5 triệu ha, chiếm 7,6% diện tích lãnh thổ, hệ thống KBT trên cạn được điều chỉnh là 164 khu với tổng diện tích là 2.198.744 ha, bao gồm 30 VQG,

69 KBT thiên nhiên (khu dự trữ thiên nhiên và KBT loài, sinh cảnh) và 45 khu bảo

vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm

Bảng 0.1: Hệ thống các khu bảo tồn trên cạn được điều chỉnh

Loại hình rừng đặc dụng Số lượng Diện tích (ha)

Vườn Quốc gia 30 1.077.236

Khu dự trữ thiên nhiên 58 1.060.959

Khu bảo tồn loài/nơi cư trú 11 38.777

Khu bảo vệ cảnh quan 45 78.129

Khu rừng nghiên cứu khoa học 20 10.653

Tổng 164 2.198.744

Nguồn: Báo cáo Dự án Rà soát hệ thống rừng đặc dụng (Viện DTQHR, 2007), Trần Thế Liên, 2010

Trang 19

19

Bên cạnh hệ thống KBT thiên nhiên trên cạn, 45 KBT vùng nước nội địa đã được Chính phủ phê duyệt vào năm 2008 và hệ thống 16 KBT biển đã được Chính phủ phê duyệt vào năm 2010 Ngoài ra, Việt Nam cũng có một số hình thức KBT khác đã được quốc tế công nhận, bao gồm 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới, 4 khu

di sản thiên nhiên ASEAN, 2 khu Ramsar, 9 khu dự trữ sinh quyển [10, tr.136 - 137]

Cùng với sự phát triển của hệ thống các KBT, chúng ta cũng đã từng bước xây dựng và bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến việc quản lý, bảo tổn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng và ĐDSH như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật Đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật Thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, Luật ĐDSH được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn tháng 11 năm 2008 Có thể nói việc ra đời của Luật ĐDSH đánh dấu một bước tiến căn bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Lần đầu tiên có một Luật đề cập tổng thể, bao quát hết các khía cạnh bảo tồn, từ vấn đề quy hoạch bảo tồn ĐDSH, đến bảo tồn các HST tự nhiên, loài, nguồn gen Luật cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập các cơ chế tài chính, hoàn thiện tổ chức, tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH

Công tác quản lý các KBT thiên nhiên cũng trải qua một quá trình biến đổi

từ chỗ xem các KBT là những “kho” dự trữ bất khả xâm phạm của Nhà nước, đối lập với các cộng đồng cư dân địa phương do việc ngăn cấm các hoạt động khai thác

sử dụng tài nguyên của họ, đến chỗ coi trọng sự kết hợp hài hoà giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển KT - XH, chú ý đến quyền lợi của người dân địa phương sống trong và xung quanh các KBT, lôi kéo họ tham gia tích cực vào các hoạt động quản

lý và bảo tồn ĐDSH của KBT thiên nhiên

2.2.2 Tình hình bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước có ĐDSH cao với sự phong phú của các loài động – thực vật, vi sinh vật, và sự đa dạng của các HST Cũng như tình hình chung trên toàn thế giới, Việt Nam không phải là ngoại lệ khi có xu hướng suy giảm ĐDSH, và tốc độ suy giảm tăng lên cùng với sự tăng tốc của nền kinh tế Bên cạnh

Trang 20

20

những thành tựu đã đạt được, mặc dù nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhưng ĐDSH

ở Việt Nam vẫn đang bị suy thoái nhanh cùng với tốc độ phát triển của KT – XH: Diện tích các khu vực có HST tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần; Số loài và số lượng cá thể các loài hoang dã đã bị suy giảm mạnh Nhiều loài hoang dã có giá trị

bị suy giảm hoàn toàn về số lượng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng ở mức cao; Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát

Việt Nam cũng được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu thế giới về mức độ suy thoái số loài thú, nhóm 20 nước hàng đầu về mức độ suy thoái số loài chim, nhóm 30 nước hàng đầu về mức độ suy thoái số loài thực vật và lưỡng cư Trong số

248 loài ưu tiên bảo tồn trong chương trình đầu tư cho bảo tồn ĐDSH của Quỹ đối tác về các HST (CEPF) cho khu vực Đông Dương, Việt Nam có số loài được ưu tiên cao nhất với 131 loài Theo IUCN, ở Việt Nam, số loài bị đe dọa không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về mức độ đe dọa Trong Danh sách đỏ của IUCN năm 1996 liệt kê 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp thì đến năm 2004, con số này đã lên đến 46 loài, và đến 2010 là 47 loài Quần thể của hầu hết các loài

bị đe dọa toàn cầu tại Việt Nam đều bị đánh giá là đang có chiều hướng suy giảm [10, tr.131 - 133]

Suy thoái ĐDSH dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe doạ sự phát triển bền vững của đất nước Mặc

dù, việc tăng nhanh độ che phủ rừng là một tín hiệu tốt, theo báo cáo của Bộ NN & PTNT, độ che phủ của rừng tăng, đạt 39,1% (tăng thêm 2,4% so với năm 2005 (36,7%)) Tuy nhiên trong số đó đa phần là rừng trồng và rừng phục hồi nên giá trị ĐDSH không cao Trong khi đó rừng nguyên sinh không còn nhiều (với 0,57 hecta chiếm 0,8% tổng diện tích rừng) và vẫn tiếp tục bị suy giảm [9, tr.2]

2.3 Vùng đệm và vùng lõi trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia

2.3.1 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng tại các KBT và VQG

2.3.1.1 Tình hình trên thế giới

Lịch sử hình thành các KBT và VQG đầu tiên trên thế giới gắn liền với phương thức quản lý ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBT và tiếp cận với các loại tài nguyên trong đó Tiêu biểu nhất cho tình trạng này chính là

Trang 21

21

VQG Yellowstone (1872) ở Mỹ đã dùng bạo lực ép buộc hai cộng đồng người Crow và Shoshone phải rời bỏ mảnh đất của họ Điều này dẫn đến việc nảy sinh những mâu thuẫn, các cộng đồng địa phương bị lâm vào hoàn cảnh cùng cực và ĐDSH của các KBT cũng vẫn bị đe doạ

Từ đầu thập kỷ 80, trong Hội nghị lần thứ 4 của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) được tổ chức tại Caracas, Venezuela đã đưa ra kiến nghị: các cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng dân cư sinh sống trong và xung quanh các KBT thường có mối quan hệ gắn bó lâu đời với các khu vực này… Những mối tương quan này bao hàm những vấn đề liên quan đến văn hoá, tôn giáo, sinh kế … tất cả những hiểu biết đó thường có thể góp phần tích cực vào việc bảo vệ ĐDSH Cần thiết phải có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá bản địa trong quá trình xây dựng các quyết định

Công ước Đa dạng sinh học (CBD) (1992) đã yêu cầu các nước thành viên

tham gia công ước:“Công nhận sự phụ thuộc truyền thống và chặt chẽ, hiện thân

của kiểu sống cổ truyền của các cộng đồng bản địa và địa phương vào tài nguyên sinh học và công nhận mong ước chia sẻ công bằng lợi ích có được nhờ sử dụng kiến thức cổ truyền, các sáng kiến và thực tiễn phù hợp với bảo đảm ĐDSH và sử dụng lâu bền các bộ phận hợp thành của nó.” Kế hoạch hành động ĐDSH của các

nước thành viên Công ước như Indonesia, Philippin… đều đặt mục tiêu tạo điều kiện để người dân địa phương tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn ĐDSH

Một số nghiên cứu của Chambers (1998), Donald (1993), Kosten (1998), Uphoff (1998)…đã chỉ ra rằng, cùng với quá trình phát triển, các cộng đồng bản địa

đã trải qua những thăng trầm và nhờ đó mà họ tích luỹ được những vốn tri thức quý báu có khả năng giúp họ thích ứng với những điều kiện đặc thù có tính địa phương Chính trong điều kiện đó, vốn tri thức bản địa chẳng những tạo điều kiện đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng mà chính nó là nhân tố đảm bảo sự bền vững của TNTN trong đó bao gồm ĐDSH

Kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG được quản lý thành công là dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn ĐDSH với bảo tồn đa dạng văn hoá Ở Indonesia,

Trang 22

22

trong VQG Wasur vẫn tồn tại 13 làng bản mà cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền; hay ở Australia, VQG Kakadu những người dân được sinh sống trong VQG được thừa nhận là chủ đất hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua đại điện của họ trong BQL [17, tr 88-89]

Như vậy, con người chỉ tồn tại lâu dài thông qua mối quan hệ gắn bó và bền vững giữa tự nhiên và văn hoá, tính đa dạng văn hoá sẽ góp phần mở rộng khả năng con người thích ứng với những thay đổi và tồn tại Và cũng vì thế, kiến thức bản địa của cộng đồng cư dân sinh sống trong các KBT và VQG phải được coi là cơ sở của việc quản lý và sử dụng tài nguyên

Những quan điểm và nghiên cứu về bảo tồn ĐDSH theo hướng tiếp cận với cộng đồng bản địa đã hình thành, hoàn thiện và đã khẳng định được tính khoa học, tính thực tiễn của nó thông qua sự áp dụng của các quốc gia trên thế giới

2.3.1.2 Tình hình tại Việt Nam

Mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và và bảo tồn văn hoá bản địa các cộng đồng sinh sống trong và xung quanh VQG hay nói rộng hơn chính là sự tương tác giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và VQG đã được Việt Nam chú ý và ngày càng được luận bàn rộng rãi trên những diễn đàn khoa học trong và ngoài nước Kể từ khi Việt Nam phê duyệt CBD thì công tác bảo tồn ĐDSH cũng

có nhiều chuyển biến Nhưng nhìn chung quy chế hoạt động cho các cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan liên quan đến bảo tồn ĐDSH nói chung và quản lý các KBT, VQG nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế

Công tác bảo tồn ĐDSH và bảo tồn đa dạng văn hoá vẫn còn bị tách bạch

Sự phối hợp liên ngành giữa Bộ TN & MT với Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch vẫn còn lỏng lẻo Ngay lúc này, Việt Nam cần phải chú trọng hơn nữa trong việc tổ chức, quản lý KBT, đưa ra các giải pháp hiệu quả để giúp người dân, đặc biệt là cộng đồng người DTTS đang sinh sống ở các KBT, thực hiện có hiệu quả lâm nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo tồn văn hoá bản địa, bảo tồn các HST, TNTN và tính ĐDSH mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào nó

Để giải quyết những vấn đề liên quan đến vùng đệm, một số hội thảo về vùng đệm các KBT thiên nhiên Việt Nam đã được tổ chức như: 1) Hội thảo về vùng

Trang 23

23

đệm được tổ chức tại Huế năm 1997 chủ yếu thảo luận về vấn đề quản lý vùng đệm VQG Bạch Mã Các đại biểu cũng đã thảo luận về các vấn đề chung của vùng đệm như thế nào là vùng đệm, chức năng của vùng đệm, khuôn khổ pháp luật và các chính sách liên quan đến các hoạt động phù hợp với vùng đệm và cơ cấu quản lý vùng đệm Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất ý kiến và một kết luận rõ ràng cho các vấn đề trên; 2) Hội thảo thứ hai về vùng đệm được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh cũng vào năm 1997, dưới sự chủ trì của Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Tại hội thảo này các đại biểu đã thảo luận và đưa ra một vài khuyến nghị về quản lý KBT trong đó có tập trung giải quyết một số vấn đề liên quan đến phát triển đời sống của người dân trong KBT và vùng đệm; 3) Hội thảo thứ ba được tổ chức tại

Hà Nội năm 1999 dưới sự chủ trì của Cục Kiểm lâm và IUCN Từ những gợi ý tại hai hội thảo trước và ý kiến thảo luận của các đại biểu tham gia hội thảo này đã dự kiến định nghĩa vùng đệm trong đó nêu rõ chức năng và cách thức để đạt được chức năng đó; 4) Hội thảo lần thứ tư được tổ chức tại Vinh năm 2002 đã đề cập tới những vấn đề nổi cộm hiện tại của vùng đệm các KBT thiên nhiên Việt Nam Các ý kiến tham luận đều nhấn mạnh đến việc cần phải thay đổi quan điểm về công tác bảo vệ

và bảo tồn thiên nhiên Công tác bảo tồn phải kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu bảo tồn và lợi ích của nhân dân địa phương

Ngoài ra, tập tài liệu “Quản lý vùng đệm ở Việt Nam” của tổ chức IUCN – Chương trình Việt Nam của tác giả D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) đã nêu khái quát tình hình vùng đệm và đưa ra một số khuyến nghị về việc thành lập

và quản lý vùng đệm

Năm 2003, Hội thảo ĐDSH và xóa đói giảm nghèo vùng núi Việt Nam do Trung tâm Nghiên cứu TN & MT, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội và Đại học Dược Hà Nội tổ chức tại Sapa cũng đặc biệt nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa ĐDSH và xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng bản địa sinh sống trong và xung quanh các KBT

Mặc dù, còn có rất nhiều những nghiên cứu về vấn đề này mà tôi đã được tiếp cận hoặc chưa được tiếp cận nhưng có thể nói các tài liệu kể trên là vô cùng quan trọng cho thấy sự chuyển biến tích cực trước hết về mặt nhận thức về vấn đề

Trang 24

24

bảo tồn ĐDSH gắn với cộng đồng bản địa Hơn nữa, chúng cũng mang lại cái nhìn tổng quát nhất về tình hình nghiên cứu bảo tồn ĐDSH gắn với cộng đồng bản địa tại Việt Nam Đây chính là cơ sở quan trọng định hướng để triển khai nghiên cứu điền

dã tại địa phương

2.3.2 Các nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn

VQG Xuân Sơn có giá trị cao về ĐDSH với nhiều loài động, thực vật quý hiếm Do đó, các nghiên cứu được tiến hành tại VQG Xuân Sơn chủ yếu tập trung khảo sát tính ĐDSH và bảo tồn các nguồn gen quý

Ngay từ những năm 1927, 1934, 1941, 1944 đã có một số người nước ngoài đến nghiên cứu và sưu tầm mẫu chim ở khu vực VQG Xuân Sơn như Bourret, Raimbault, Winter… [43, tr.9]

Các nhà nghiên cứu trong nước trước tiên phải kể đến cuộc điều tra nghiên cứu khả thi thành lập KBT thiên nhiên Xuân Sơn năm 1990, do Chi cục Kiểm lâm Vĩnh Phúc phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật và Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện Tiếp đó, giai đoạn 2000 – 2001, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh vật tại KBT thiên nhiên Xuân Sơn Tháng 10 năm 2002, Trung tâm Tài nguyên Môi trường thuộc Viện Điều tra Quy hoạch rừng phối hợp với BQL VQG Xuân Sơn và Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ tiếp tục tổ chức một đợt khảo sát đa dạng sinh vật ở khu vực này

Từ đó tới nay, VQG Xuân Sơn luôn là địa điểm hấp dẫn thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu về tính ĐDSH, và các loài động thực vật đặc hữu của Vườn Tiêu biểu trong số này phải kể đến đề tài khoa học đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội do Giáo sư Hà Đình Đức chủ trì “Nghiên cứu khu hệ chim và một

số đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài thuộc họ Khướu Timaliidae ở VQG

Xuân Sơn” năm 2005 – 2006; hay công trình “Nghiên cứu khu hệ và một số đặc điểm sinh thái, sinh học của các loài chim đặc trưng ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Lân Hùng Sơn; mới gần đây nhất là đề tài luận án Tiến sĩ sinh học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu về “Thành phần và cấu trúc quần xã ve giáp ở VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”.v.v

Trang 25

25

Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu về VQG Xuân Sơn chủ yếu tập trung trong các công trình chuyên khảo về tính ĐDSH của khu hệ động thực vật Vấn đề bảo tồn và các nghiên cứu mảng xã hội – nhân văn còn chưa được nhiều học giả quan tâm Đề tài nghiên cứu sự tương tác giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và bảo tồn ĐDSH tại VQG Xuân Sơn được thực hiện lần đầu tiên tại địa phương hy vọng sẽ góp phần vào công tác bảo tồn tài nguyên ĐDSH vốn đang gặp nhiều khó khăn ở VQG Xuân Sơn

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá sự tương tác giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và bảo tồn ĐDSH, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sinh kế của người dân và hiệu quả bảo tồn ĐDSH tại VQG Xuân Sơn

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu hiện trạng về điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế - xã hội (KT – XH) của cộng đồng dân cư vùng đệm và trong vùng lõi VQG Xuân Sơn; công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH của VQG Xuân Sơn

- Nghiên cứu tác động của cộng đồng cư dân vùng đệm tới ĐDSH ở VQG Xuân Sơn

- Nghiên cứu tác động của VQG Xuân Sơn tới cộng đồng cư dân vùng đệm

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐDSH ở VQG Xuân Sơn

4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

- Cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm và vùng lõi VQG Xuân Sơn

- Các hoạt động quản lý và bảo tồn ĐDSH của VQG Xuân Sơn

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu ở vùng đệm VQG

Xuân Sơn, song do hạn chế về nguồn lực và thời gian nên đề tài này chỉ nghiên cứu

ở hai xã: một xã thuộc vùng lõi (xã Xuân Sơn) và một xã thuộc vùng đệm (xã Xuân Đài) thuộc phần quản lý hành chính của huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ (Hình)

Trang 26

26

Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện liên tục từ tháng 01/2010

đến hết tháng 10/2011 Trong đó, thời gian thực địa tại địa phương chia thành 3 đợt với mục tiêu cụ thể như sau:

Bảng 0.2: Thời gian, địa điểm và nội dung các đợt nghiên cứu

Thời gian Địa điểm Nội dung nghiên cứu

Đợt 1: Từ

26/06/2010 đến

30/06/2010

- Ban Quản lý (BQL) VQG Xuân Sơn

- Bản Cỏi, xã Xuân Sơn

- Đánh giá tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đợt 2: Từ 10/01/2011

đến 13/01/2011

- Phòng Thống kê Huyện Tân Sơn

- Chi cục Kiểm lâm huyện Tân Sơn

- Thu thập tài liệu thứ cấp có liên quan

- Thu thập các tài liệu thứ cấp còn thiếu

- Điều tra xã hội học (XHH) bằng phiếu, phỏng vấn, thảo luận

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận cho đề tài nghiên cứu này là tổng hợp và liên ngành

vì mục tiêu cuối cùng của đề tài nhằm khuyến nghị, đề xuất được những giải pháp bảo tồn ĐDSH và nâng cao đời sống cộng đồng dân cư vùng đệm VQG theo hướng phát triển bền vững Do đó, quản lý dựa trên HST là cách tiếp cận chủ đạo trong đề tài này

Nghiên cứu mối tương tác giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và bảo tồn ĐDSH tại VQG Xuân Sơn là một vấn đề phức tạp Đây là một vấn đề tổng hợp của nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hoá, chính sách Mặt khác chúng lại có quan

hệ tương tác với nhau theo một thang bậc phức tạp về không gian, thời gian và thể chế Vì vậy, để đánh giá được tổng thể và khách quan về mối tương tác này phương

Trang 27

27

pháp luận tổng hợp và liên ngành đã được áp dụng theo các phương pháp nghiên cứu cụ thể dưới đây

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Hồi cứu số liệu

Thu thập, phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu thứ cấp gồm:

- Số liệu thống kê các cấp có liên quan,

- Các kết quả điều tra, nghiên cứu đã được công bố

5.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA):

nhằm thu thập những thông tin sơ cấp về đời sống của cư dân vùng đệm, hiện trạng quản lý và sử dụng tài nguyên cũng như nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan Việc tập hợp người dân là rất khó nên chỉ thực hiện được một cuộc thảo luận nhóm với số lượng người tham gia không đông như dự tính Vì thế, kết quả của buổi thảo luận này chỉ dừng lại ở mức tham khảo và kiểm chứng những thông tin đã thu thập được

- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: nhằm thu thập các thông tin trực tiếp từ các

cá nhân bằng việc áp dụng các câu hỏi rộng để định hướng cuộc trao đổi, trong đó cho phép đưa ra các câu hỏi nhằm nâng cao kết quả thảo luận bao gồm việc xác định mục tiêu thông tin cần hỏi và thiết lập Thống nhất về đối tượng phỏng vấn Phỏng vấn một số cán bộ địa phương (huyện, xã) nhằm đánh giá các vấn đề liên quan trong việc quản lý và thực hiện chính sách

- Phương pháp điều tra XHH định lượng bằng bảng hỏi: nhằm thu thập các thông

tin theo một phương pháp được xây dựng dựa trên các câu hỏi cụ thể theo cách thức

có thể thực hiện để phân tích thống kê, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0

5.2.3 Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi với một số chuyên gia trong các lĩnh vực có

liên quan

5.2.4 Phương pháp SWOT

Để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và đánh giá các chỉ tiêu sẽ thay đổi như thế nào theo thời gian Thực hiện ghi chép càng nhiều các yếu tố càng tốt Tập trung vào các điểm mạnh, điểm yếu để chỉ ra các yếu tố nội tại

Trang 28

28

- Ưu điểm: Những hoạt động tốt, kết quả đạt được

- Nhược điểm: Những bất cập khi thực hiện

- Cơ hội: Các ý tưởng để khắc phục nhược điểm và phát huy ưu điểm

- Nguy cơ: Những vấn đề gây đe doạ, gây sức ép tác động đến phạm vi, quy

mô và cơ hội

6 Cấu trúc luận văn

Luận văn có cấu trúc theo quy định và bao gồm các phần sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Vườn Quốc gia Xuân Sơn và vùng đệm

Chương 2: Hoạt động kinh tế - xã hội và tác động của cộng đồng cư dân vùng đệm tới ĐDSH VQG Xuân Sơn

Chương 3: Tác động của VQG tới cộng đồng cư dân vùng đệm

Chương 4: Thảo luận

Kết luận và Khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Các công trình của tác giả

Phụ lục

Trang 29

29

CHƯƠNG 1: VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN VÀ VÙNG ĐỆM

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của VQG Xuân Sơn và vùng đệm

1.1.1 Vị trí địa lý

VQG Xuân Sơn nằm hoàn toàn trên địa bàn hành chính xã Xuân Sơn và một phần nằm trên địa bàn các xã: Xuân Đài, Kim Thượng, Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái và Sơn La Đây là nơi bảo tồn ĐDSH của

vùng chuyển tiếp giữa giải

núi đá vôi phía Đông Bắc

với vùng Trung du Bắc

Bộ

Phía Đông VQG

Xuân Sơn giáp với các xã

Tân Phú, Mỹ Thuận, Long

Cốc và Vinh Tiền (huyện

Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ);

Phía Tây giáp với huyện

Phù Yên (tỉnh Sơn La);

phía Nam giáp huyện Đà

Bắc (tỉnh Hoà Bình); phía

Bắc giáp xã Thu Cúc

(huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ)

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Xuân Sơn là 33.687 ha1 trong đó diện tích vùng lõi là 15.048 ha (chiếm 45%), diện tích vùng đệm được xác định là 18.639 ha (chiếm 55%), thuộc diện tích đất của 7 xã Đồng Sơn, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Lai Đồng, Xuân Đài, Kim Thượng, Minh Đài thuộc địa bàn hành chính huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ [18, tr.4]

1 Số liệu do phòng tài nguyên huyện thống kê tháng 02/2011, diện tích VQG Xuân Sơn là 33.763,35 ha

Hình 1.1: Bản đồ VQG Xuân Sơn trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ

Trang 30

30

Hình 1.2: Bản đồ qui hoạch VQG Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ

Bảng 1.1: Diện tích phân khu chức năng của khu vực nghiên cứu (đơn vị: ha)

Vùng lõi Vùng đệm

Tổng Vùng bảo vệ

nghiêm ngặt

Vùng phục hồi sinh thái

Khu hành chính, dịch vụ

Vùng đệm

15.048 9.099 5.737 212 18.639

Nguồn: VQG Xuân Sơn, 2011

Trang 31

31

1.1.2 Địa hình, địa mạo

VQG Xuân Sơn nằm trong một vùng đồi núi thấp trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng Liên Sơn Vùng đồi núi thấp này toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang tả ngạn sông Đà Nhìn toàn cảnh các dãy đồi chỉ cao chừng 600 – 700 m, cao nhất là đỉnh Voi (1.386 m), tiếp đến là núi Ten (1.244 m),

và núi Cẩn (1.144 m) Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Nhìn chung, địa hình trong khu vực có những kiểu chính sau:

- Kiểu núi trung bình: Hình thành trên đá phiến biến chất, có độ cao từ 700 m –

1.368 m Kiểu này được phân bố chủ yếu ở phía Nam và Tây Nam VQG, bao gồm phần lớn hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ

- Kiểu địa hình núi thấp: Thuộc địa hình này là các núi có độ cao từ 300 – 700 m

phân bố chủ yếu từ Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực

- Kiểu đồi: Có độ cao dưới 300 m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu vực Có hình

dạng đồi lượn sóng mềm mại được cấu tạo từ các loại đá trầm tích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng chè xanh, chè san

- Thung lũng và bồn địa: Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi phân bố chủ yếu

ở các xã Đồng Sơn, Xuân Đài và Kim Thượng Đây là các thung lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng, độ dốc rất thoải, trong đó có trầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp [26, tr.20]

1.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng

Theo các nhà địa chất, toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp Trong các dãy núi đá vôi thường gặp các thung tròn có nước chảy trên mặt như thung xóm Lạng, xóm Dù, xóm Lấp… Các thung được lấp đầy các tàn tích đá vôi và có suối nước chảy quanh năm

Thổ nhưỡng được hình thành trong một nền địa chất phức tạo (có nhiều kiểu địa hình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hoá khí hậu, thuỷ

Trang 32

32

văn đa dạng và phong phú… nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này Một số loại đất chính là:

+ Đất feralit có mùn trên núi trung bình: phân bố ở độ cao 700 – 1.386 m,

+ Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp: phân bố ở độ cao dưới 700 m, + Đất rangin (hay đất hình thành trong núi đá vôi),

+ Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng [26, tr.22]

1.1.4 Khí hậu, thuỷ văn

Khí hậu: VQG Xuân Sơn tuy nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới, nhưng xa

đường xích đạo, nên có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 22 – 230C Mùa lạnh từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ các tháng này xuống dưới 200C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là tháng 1 Mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, nên thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt

- Một số hiện tượng thời tiết đáng chú ý:

+ Gió Tây khô nóng: Vùng này chỉ chịu gió Tây (khô và nóng) vào các tháng 4,5,6,7 Trong các tháng này nhiệt độ không khí có ngày lên tới 39 – 400C, bốc hơi cũng cao nhất >70 -80 mm, độ ẩm không khí hạ xuống thấp tuyệt đối

Trang 33

33

+ Mưa bão: Vùng này tuy ở sâu trong nội địa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng nhiều của mưa bão Hai tháng nhiều mưa bão nhất là tháng 8 và tháng 9 Bão thường kèm theo mưa lớn, gây lũ và lụt lội làm thiệt hại khá nghiêm trọng cho nền kinh tế địa phương và nhân dân sinh sống trong vùng

+ Sương muối: Thường xuất hiện vào mùa Đông, những ngày nhiệt độ xuống thấp dưới 50C, sương muối thường xuất hiện trong các thung lũng núi đá vôi, mỗi đợt kéo dài vài ba ngày, ảnh hưởng rất lớn đến cây con, cây ăn quả và cây lấy giống ra hoa kết quả vào thời điểm này

+ Ngoài ra vào tháng 4, 5 có lốc xoáy, mưa đá; tháng 7, 9 có lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống dân cư

Thủy văn: Hệ thống sông Bứa và các chi lưu của nó toả rộng ra khắp các

vùng Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1.500 – 2.000 mm, lượng mưa cực đại có thể lên tới 2.453 mm/năm Lưu vực sông Bứa khá rộng Địa hình lưu vực lại thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thủy lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp Tổng chiều dài của sông 120 km, chiều rộng trung bình 200 m có khả năng vận chuyển lâm thổ sản từ thượng nguồn về sông Hồng khá thuận lợi VQG Xuân Sơn chỉ nằm trong lưu vực đầu nguồn sông Bứa với nhiều nhánh suối bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong Vườn [26, tr.21]

1.1.5 Tài nguyên rừng

Các kiểu HST và thảm thực vật: VQG Xuân Sơn tuy diện tích không lớn,

nhưng có mức độ đa dạng cao cả về kiểu thảm thực vật cũng như hệ thực vật Có thể coi đây là sự thu hẹp của tất cả các vùng thiên nhiên vừa là phổ biến đặc trưng, vừa độc đáo, đặc sắc

Theo Trần Minh Hợi (2008), kết quả điều tra hệ thực vật đã xác định được

180 họ, 680 chi và 1.217 loài thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 40 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và được chia làm 7 nhóm chính:

 Nhóm cây lấy Gỗ: có 202 loài với một số loài có giá trị kinh tế cao như: Trai

lý, Sến mật, Nghiến, Chò chỉ, Chò vẩy, Chò nâu, Đinh…

Trang 34

 Nhóm cây cho tinh dầu và nhựa: đã thống kê được 50 loài cung cấp tinh dầu

và nhựa như các loài cây: Trám trắng, Trám đen, Đại hái, Cánh kiến lá trắng, Hồi núi…

 Nhóm cây cho Tanin và Thuốc nhuộm: Gồm có các loài như: Râu hùm hoa tía, Ngải rợm, Cậm kệch…

 Nhóm cây làm cảnh và bóng mát: các loài này phải kể đến Lộc vừng nếp, Đỗ quyên, Ngải tiên, Ngải tiên đỏ, Lan hài, Lan bướm, Trúc lan, Thuỷ tiên vàng,

Nỉ lan bạn …

Hệ động vật: VQG Xuân Sơn có một hệ động vật tương đối phong phú và đa

dạng, thường gặp ở hầu hết đại diện của các lớp động vật, bao gồm từ động vật không xương sống đến các động vật có xương sống

Cho đến nay đã thống kê được 365 loài bao gồm: 69 loài thú với nhiều loài quý hiếm như: Vượn đen tuyền, Voọc xám, Cu ly lớn, Nai, Hươu, Sơn dương, Báo hoa mai, Cầy hương, Gấu ngựa…; 240 loài chim như Yến núi , Gà so ngực gụ, Yểng, Gà chín cựa…; và 71 loài bò sát, ếch nhái

1.2 Tình hình quản lý VQG và vùng đệm

1.2.1 Quản lý tài nguyên rừng của các xã vùng đệm

 Giao đất giao rừng: Diện tích đất lâm nghiệp của xã đều được giao cho các hộ quản lý sử dụng Một số diện tích đất lâm nghiệp đã được giao đất giao rừng có sổ (theo Nghị định 02/CP), số còn lại chưa được giao, cũng như chưa được cấp sổ chính thức quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài (Xem chi tiết tại Bảng 1.2)

Trang 35

35

 Khoán quản lý bảo vệ rừng: VQG sau khi thành lập đã thực hiện việc giao khoán quản lý bảo vệ cho các hộ gia đình theo hình thức quản lý bảo vệ của cộng đồng Những diện tích nhận khoán được quản lý dưới hình thức thực hiện quản lý gộp cho cả xóm, nhưng mỗi xóm lại có phương thức phân chia quyền lợi khác nhau: 1) quyền lợi chia đều cho các hộ không phân biệt hộ đông lao động hay

ít lao động (xóm Dù), 2) quyền lợi chia đều cho các khẩu, nên hộ nào có đông khẩu thì được chia nhiều Nếu gia đình nào có người vi phạm quy định thì gia đình đó cuối năm sẽ không được chia tiền khoán bảo vệ rừng

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của VQG Xuân Sơn

Chức năng: Là đơn vị trực thuộc Sở NN & PTNT tỉnh Phú Thọ, có chức năng bảo

tồn TNTN và các giá trị văn hoá, lịch sử, cảnh quan; duy trì tác dụng phòng hộ của rừng; tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ môi trường sinh thái, giáo dục môi trường theo quy định của pháp luật

- Thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục phổ cập cho nhân dân về ý thức bảo vệ rừng; phòng cháy chữa cháy rừng; phòng trừ sâu bệnh hại; thực hiện các qui trình trồng rừng, chăm sóc rừng

Trang 36

36

Bảng 1.2: Hiện trạng giao đất giao rừng các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn

(tính đến tháng 02/2011)

Đơn vị: ha STT Đất lâm nghiệp Tổng số Giao với mục đích sử dụng Giao với mục đích quản

Cộng đồng dân cƣ

Trang 37

37

Về cơ cấu tổ chức bộ máy VQG Xuân Sơn:

Hình 1.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy VQG Xuân Sơn

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

Cán bộ công nhân viên 40 1 18 3 13 5 Tham gia tập huấn trong nước +++ +++ ++

Nguồn: VQG Xuân Sơn: +++ tham gia nhiều đợt tập huấn trong nước, 2011

TRẠM BẢO VỆ RỪNG ĐỒNG SƠN

TRẠM BẢO VỆ RỪNG KIM THƯỢNG

TRẠM BẢO VỆ RỪNG TÂN SƠN

Trang 38

38

1.3 Điều kiện KT - XH vùng đệm và vùng lõi VQG Xuân Sơn

1.3.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên ở VQG Xuân Sơn

Phân loại và hiện trạng sử dụng đất các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn được trình bày cụ thể trong bảng dưới đây:

Bảng 1.4: Hiện trạng sử dụng đất các xã vùng đệm

(Đơn vị tính: ha) STT Loại hình sử dụng Tổng diện tích

các loại đất trong địa giới hành chính

Cơ cấu diện tích loại đất so với tổng diện tích tự nhiên

1.2 Đất lâm nghiệp 27.362,56 81,04

Đất rừng sản xuất 15.612,58 46,24 Đất rừng phòng hộ 2.240,51 6,64 Đất rừng đặc dụng 9.509,47 28,16

2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 69,34 0,21 2.4 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 312,54 0,93 2.5 Đất phi nông nghiệp khác 0,3 0,00

III Đất chưa sử dụng 3.296,70 9,76

3.1 Đất bằng chưa sử dụng 0,39 0,01 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 3.109,00 9,20 3.3 Núi đá không có rừng cây 187,31 0,55

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Phòng Tài nguyên Huyện, 2011

(Chi tiết đơn vị hành chính xã xem thêm phụ biểu 2.3)

Trang 39

Đất trồng cây lâu năm là 946,56 ha chủ yếu phân bố ở các gò đồi thấp Diện tích này phần lớn là trồng chè và một số ít diện tích trồng các loại cây ăn quả có giá trị kinh

tế như vải, bưởi, xoài…

Nhóm đất nuôi trồng thuỷ sản rất ít, chỉ chiếm 0,14% trong tổng số diện tích đất địa phương, chủ yếu là các ao và hồ nhỏ để nuôi cá nước ngọt

Đất lâm nghiệp: Kết quả điều tra cho thấy, trong VQG Xuân Sơn đất rừng sản xuất là 15.612,58 ha chiếm 46,24%, đất rừng phòng hộ là 2.240,51 ha chiếm 6,64% và đất rừng đặc dụng là 9.509,47 ha chiếm 28,16%

 Nhóm đất phi nông nghiệp

Nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích 1.039,68 ha chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 3,08% so với tổng diện tích vùng đệm, thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông thôn theo hướng hiện đại hoá Trong đó:

- Đất khu dân cư bao gồm đất xây dựng nhà, sân, vườn nhà chiếm 0,65 % tổng diện tích và chiếm 21,0% diện tích nhóm đất phi nông nghiệp Bình quân đất khuôn viên (đất ở + đất vườn) không cao 297,2m2

/hộ, vì thế vấn đề tăng dân số sẽ trở thành mối lo ngại lớn khi phải điều chỉnh xen ghép các hộ mới phát sinh có nhu cầu đất ở trong tương lai

- Đất chuyên dùng chiếm 42,2% nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm đất trụ cở cơ quan, công trình sự nghiệp (6,43ha), đất để sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (18,44ha) và đất có mục đích công cộng (413,69ha)

- Diện tích đất còn lại của nhóm đất phi nông nghiệp được sử dụng làm nghĩa trang là 69,34ha, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 312,54ha và đất phi nông nghiệp khác 0,3ha

 Nhóm đất chưa sử dụng

Trang 40

40

Nhóm đất chưa sử dụng có diện tích 3.296,70 ha chiếm 9,76% diện tích đất toàn vùng đệm Đây là con số không lớn, hơn nữa chủ yếu là đất đồi núi (3.109 ha) nên việc cải tạo để mở rộng diện tích đất canh tác, tạo cơ sở ổn định cuộc sống người dân cần có

sự đầu tư lớn

1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc và nguồn lao động

Cư dân vùng lõi cư trú thuộc địa phận xã Xuân Sơn và một phần nằm trên địa bàn các xã Kim Thượng (xóm Tân Long, xóm Xoan, xóm Hạ Bằng), Xuân Đài (xóm Đồng Tào, xóm Nước Thang), Đồng Sơn (xóm Bến Thân) Cư dân vùng đệm thuộc 7

xã Đồng Sơn, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Lai Đồng, Xuân Đài, Kim Thượng, Minh Đài

Theo số liệu thống kê của Uỷ ban Nhân dân huyện Tân Sơn (Bảng 1.5) thì dân

số trong các xã vùng đệm và vùng lõi VQG Xuân Sơn là 7.353 hộ, gồm 19.779 nhân khẩu, tập trung trong 74 thôn, bản Các dân tộc chủ yếu sống trong các xã này là: Mường (81,86%), Kinh (9,93%), Dao (8,14%) và các dân tộc khác (0,07%) Như vậy, riêng những người thuộc nhóm DTTS đã chiếm tới 90,03% tổng số dân

Bảng 1.5: Tổng số hộ trên địa bàn chia theo thành phần dân tộc

Xã Tổng số

hộ (hộ)

Hộ dân tộc (hộ)

Chia ra Tỷ lệ hộ

dân tộc (%)

Mường Dao Thái Nùng

Kiệt Sơn 751 597 596 1 - - 79,5 Đồng Sơn 685 659 503 156 - - 96,2 Lai Đồng 713 693 691 - 2 - 97,2 Tân Sơn 835 834 834 - - - 99,9 Xuân Đài 1.299 1.153 1.102 51 - - 88,8 Minh Đài 1.470 834 832 2 - - 56,7 Xuân Sơn 249 245 116 127 - 2 98,4 Kim Thượng 1.351 1.311 1.092 219 - - 97,0

Tổng 7.353 6.326 5.766 556 2 2 86,0

Nguồn: Phòng thống kê huyện Tân Sơn, năm 2010

Dù hiện nay nhiều nét sinh hoạt cổ truyền đã phôi pha, nhưng người DTTS nơi đây vẫn giữ được nhiều bản sắc đậm đà, nhất là ở tiếng nói và đời sống văn nghệ của

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:12

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w