1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Development opportunities of chang son carpentry village (thach that district, hanoi) in the current socio economic and cultural context (approached from the perspective of cultural studies)

143 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Đề tài Luận văn tôi thực hiện có tên: Cơ hội phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn – huyện Thạch Thất – thành phố Hà Nội trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện na

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-

PHÍ THỊ BÌNH

CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG MỘC CHÀNG SƠN (HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI) TRONG BỐI CẢNH

KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI HIỆN NAY

(Tiếp cận từ góc độ nghiên cứu văn hóa)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số : 60 31 60

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Phạm Hồng Tung

Hà Nội – 2011

Trang 2

L ỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian cố gắng tiếp cận, khảo sát thực địa, nghiên cứu tại địa phương, hôm nay, Luận văn của tôi đã được hoàn thành như mong đợi Đó là thành quả của quá trình học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển - trường Đại học Quốc gia Hà Nội và nơi tôi công tác là phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thạch Thất

Để có được kết quả đó là nhờ có sự dạy dỗ tận tâm của các thầy, cô và sự giúp

đỡ, chỉ bảo tận tình của tập thể các anh, chị trong Viện Việt Nam học và KHPT; nhờ sự khuyến khích, tạo điều kiện về mọi mặt của lãnh đạo phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thạch Thất Trong quá trình nghiên cứu đề tài, để có thể tham khảo được nhiều nguồn tài liệu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và phục vụ nhiệt tình của cán bộ Trung tâm Thông tin - Thư viện (Đại học Quốc gia Hà Nội), Thư viện Quốc gia Việt Nam, UBND huyện Thạch Thất, UBND xã Chàng Sơn và có được nguồn tư liệu dân gian quý báu do cụ Nguyễn Kiến (xã Chàng Sơn) cung cấp Đồng thời, sự đón tiếp nồng ấm, thân thiện của người dân Nủa Chàng đã cho tôi thêm niềm tin về con người nơi đây, và những dự định mà tôi sẽ làm về làng Chàng Sơn trong thời gian tới

Đặc biệt hơn, trong thời gian thực hiện Luận văn, tôi đã rất may mắn khi được tiếp xúc và gần gũi với một người thầy đáng kính – PGS.TSKH Phạm Hồng Tung Người thầy với tính cách cương trực, tận tâm, đã chỉ cho tôi những thiếu sót và những điều thiết thực cần làm để có được một kết quả nghiên cứu tốt và mang tính ứng dụng vào trong cuộc sống, đặc biệt là đối với phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống Thay cho lời tri ân, tôi xin kính chúc thầy luôn luôn mạnh khỏe! Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Phí Thị Bình

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài Luận văn tôi thực hiện có tên: Cơ hội phát triển của làng nghề mộc

Chàng Sơn – huyện Thạch Thất – thành phố Hà Nội trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay (dưới góc độ nghiên cứu văn hóa), là công trình

nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn, từ

đó chỉ ra cơ hội phát triển cũng như những thách thức đối với phát triển nghề mộc truyền thống của làng trong quá trình CNH – HĐH hiện nay Trước đó, cũng có số ít công trình nghiên cứu về Chàng Sơn, nhưng chưa giúp người đọc hiểu hết về làng Chàng, đặc biệt là sự phát triển của nghề mộc gắn với lịch sử hình thành và phát triển làng Luận văn này trong quá trình thực hiện

đã kế thừa những luận điểm khoa học của nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề và nghiên cứu gần đây về làng mộc Chàng Sơn Nguồn tư liệu được trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính khách quan, được chú thích rõ ràng và tôn trọng bản quyền của tác giả Luận văn này hoàn toàn không trùng lặp với các nghiên cứu về làng Chàng Sơn trước đó, cũng như các công trình nghiên cứu về làng nghề truyền thống Những luận điểm đưa ra và nguồn tư liệu sưu tầm được đều do sự cố gắng của bản thân với mong muốn phản ánh một cách trung thực về làng nghề mộc Chàng Sơn trên một phương diện mới, đây cũng sẽ là đề tài bổ trợ cho những nghiên cứu sau này

Học viên

Phí Thị Bình

Trang 4

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Mục đích, ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……… 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 4

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 5

6 Đóng góp của luận văn ……… 5

7 Cấu trúc của luận văn ……… 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ 8

1.1 Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề, LNTT……… 8

1.1.1 Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề, LNTT……… 8

1.1.2 Phân loại làng nghề ……… 12

1.2 Đặc điểm của các LNTT ……… 13

1.2.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội ……… 13

1.2.2 Đặc điểm về công nghệ sản xuất và sản phẩm ……… 17

1.3 Điều kiện hình thành các LNTT ……… 19

1.3.1 Những yếu tố hình thành của các LNTT ……… 19

1.3.2 Các điều kiện hình thành LNTT ……… 20

1.4 Vai trò của LNTT đối với việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ……… 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……… 27

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG MỘC CHÀNG SƠN

TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI HIỆN NAY 29

2.1 Tổng quan về làng mộc Chàng Sơn ……… 29

2.1.1 Lịch sử hình thành và tên gọi của làng ……… 29

2.1.2 Vị trí địa lý ……… 33

2.1.3 Điều kiện tự nhiên ……… 33

2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội ……… 38

2.1.5 Dân cư và những thay đổi địa giới hành chính ……… 40

2.2.Thực trạng phát triển của làng mộc Chàng Sơn trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay ………

46 2.2.1 Đời sống văn hóa sản xuất ……… 46

2.2.2 Đời sống văn hóa cộng đồng ……… 72

2.2.3 Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề mộc Chàng Sơn trong quá trình CNH – HĐH nông thôn hiện nay ………

85 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ……… 93

CHƯƠNG 3 CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ,

NÂNG CAO GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ MỘC CHÀNG SƠN 100 3.1 Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay … 94 3.1.1 Cơ hội phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn trong giai đoạn hiện nay ………

94 3.1.2 Những khó khăn, thách thức đối với việc phát triển làng nghề mộc Chàng Sơn ………

96 3.2 Giải pháp phát triển làng nghề mộc Chàng Sơn trong quá trình CNH – HĐH hiện nay ……… 100

Trang 6

3.2.1 Giải pháp phát triển kinh tế làng mộc Chàng Sơn ………… 100 3.2.2 Giải pháp nâng cao giá trị văn hóa làng nghề mộc Chàng Sơn… 108 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ……… 108 KẾT LUẬN ……… 110 DANH MỤC THAM KHẢO……… 116 PHỤ LỤC

Trang 7

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

TTCN – XDCB Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng cơ bản TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban nhân dân

WTO World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ MINH HỌA

1 Bảng 2.1 Số giờ nắng trung bình của từng tháng trong năm

ở khu vực Thạch Thất – Sơn Tây 35

2 Bảng 2.2 Lượng mưa trung bình hàng tháng tại huyện

5 Bảng 2.5 Các nghề thủ công của xã Chàng Sơn 47

6 Sơ đồ 2.1 Quy trình sản xuất đồ gỗ truyền thống tại Chàng

7 Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất đồ gỗ thị trường tại Chàng Sơn 54

8 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu lao động của làng mộc Chàng Sơn năm

9 Bảng 2.7 Cơ cấu kinh tế của Chàng Sơn qua một số năm 56

10 Bảng 2.8 Quy hoạch sử dụng đất điểm công nghiệp xã

Chàng Sơn giai đoạn 2006 - 2010 63

Trang 9

Bản đồ 1 Huyện Thạch Thất trước ngày 1/8/2008

Trang 10

Sơ đồ 2 Địa giới xã Chàng Sơn [32]

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, việc định hướng phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thực sự có được những kết quả khả quan, dần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam Cùng với việc ban hành và thực hiện các chính sách nhằm xây dựng nông thôn mới đối với từng vùng, từng địa phương thì phải kể đến các chính sách khuyến khích phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống LNTT phát triển và gắn liền cùng với lịch

sử phát triển của làng xã Việt Nam, qua thời gian, đến nay, LNTT đã thực sự trở thành một trong những yếu tố cấu thành của nền kinh tế và của bản sắc văn hóa Việt Nam Nó có đóng góp không nhỏ trong việc tạo ra của cải vật chất và giải quyết vấn

đề lao động dư thừa ở nông thôn

Năm 2007, sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO là một lợi thế lớn giúp Việt Nam có chỗ đứng và từng bước hòa nhập với quốc tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, thương mại Quan trọng hơn

cả, đó là việc đưa nông thôn Việt Nam, nơi vốn được coi là mang tính tự trị, “khép kín sau pháo đài xanh” phát triển và hội nhập cùng sự phát triển của cả nước cũng như thế giới Bộ mặt nông thôn Việt Nam dần có sự thay đổi khả quan, trong đó phải nói tới sự phát triển của các ngành nghề thủ công Sự mở rộng thị trường và những yếu tố thuận lợi trong thời kỳ mới đã giúp các LNTT phát triển theo hướng tích cực, và đặc biệt, việc khôi phục và phát triển các LNTT theo hướng phát triển bền vững ngày càng được quan tâm Bởi khi LNTT phát triển thì đồng hành cùng với đó là những lợi ích mà nó đem lại như tạo công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống cho người dân và góp phần bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của địa phương… Tuy nhiên, nó cũng có những mặt trái: tình trạng ô nhiễm môi trường, sự biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống tại các LNTT Chính vì vậy, trong bối cảnh kinh tế - xã hội như hiện nay, để các LNTT phát triển theo đúng định hướng và mang tính bền vững thì đó thực sự là một bài toán nan

Trang 12

giải, bởi chính sách quy hoạch, phát triển làng nghề; chính sách hỗ trợ về vốn, thị trường đầu ra cho sản phẩm,… cộng theo là sự du nhập của lối sống mới, lối sống thị trường vào trong xóm làng đã tạo ra những biến đổi về các giá trị văn hóa truyền thống và chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất là những địa phương có các nghề truyền thống Làng nghề mộc Chàng Sơn1

, huyện Thạch Thất2 là một trong số những LNTT tiêu biểu của thành phố Hà Nội và của cả nước Bằng đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo, những người thợ làng Chàng đã biến những khối gỗ vô tri thành những sản phẩm mộc có hồn Và trong nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường, người thợ Chàng Sơn đã biết ứng dụng những tiến

bộ khoa học – công nghệ mới vào trong sản xuất, tạo ra năng suất sản phẩm cao hơn Vấn đề đặt ra là làm sao để nghề truyền thống của làng Chàng có được chỗ đứng thực sự vững chắc trên thị trường mà vẫn bảo đảm giữ gìn những yếu tố văn hóa vốn có của nó

Xuất phát từ nhận định và mong muốn đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Cơ

hội phát triển của làng mộc Chàng Sơn ( huyện Thạch Thất, Hà Nội) trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay (tiếp cận từ góc độ nghiên cứu văn hóa)” làm đề

tài luận văn Thạc sĩ ngành Việt Nam học của mình

2 Mục đích, ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng phát triển của làng mộc Chàng Sơn, luận văn sẽ góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về đời sống sản xuất và đời sống văn hóa cộng đồng của LNTT; chỉ ra những cơ hội phát triển và những thách thức gặp phải trong quá trình biến đổi của nền kinh tế - xã hội Từ đó, luận văn đã

cố gắng đề ra các giải pháp nhằm phát triển để nghề mộc làng Chàng theo kịp với nền kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ được nghề truyền thống đã tồn tại hàng nghìn

1 Chàng Sơn trong nghiên cứu của chúng tôi là một đơn vị hành chính nhất xã, nhất thôn trong suốt chiều dài lịch sử, vì vậy trong luận văn, có lúc chúng tôi gọi là xã, nhưng cũng có lúc chúng tôi viết là làng, cả hai cách gọi trên đều có chung một ý nghĩa

2

Thạch Thất là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ, đến ngày 01/8/2008, huyện Thạch Thất sáp nhập về Hà Nội theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Quốc hội khóa XII

Trang 13

năm, qua đó, giữ gìn và nâng cao giá trị văn hóa làng nghề trước những tác động mang tính đa chiều của quá trình hiện đại hóa tăng tốc hiện nay

2.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu về LNTT trong giai đoạn hiện nay là vấn đề đang được giới nghiên cứu quan tâm mạnh mẽ, bởi những lợi ích và hiệu quả đa dạng mà LNTT mang lại trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới

Nghiên cứu về làng nghề mộc Chàng Sơn như một nghiên cứu mẫu3

hay nghiên cứu trường hợp, điều nàycó ý nghĩa thiết thực trong việc xác định, đánh giá đúng thực trạng phát triển của làng trên các bình diện kinh tế, văn hóa, văn hóa làng nghề, qua đó thấy được mối liên kết chặt chẽ giữa đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa xóm làng của một làng nghề truyền thống Đây sẽ là cơ sở để phân tích, đánh giá và chỉ ra cơ hội phát triển của làng Chàng Sơn trong giai đoạn hiện nay

xã hội và nhân văn quốc gia hoàn thành thành vào tháng 12 năm 1999 Đề tài đã đưa ra những nhận định khái quát về tình hình, thực trạng, xu hướng vận động phát triển của các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng, trong đó bao gồm cả những LNTT, tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong tiến trình CNH – HĐH và đề xuất các phương hướng, giải pháp phát triển trong những năm tới; tiếp đó là đề tài nghiên cứu “Xây dựng tiêu chí làng nghề và phát triển làng nghề Hà Tây”

3

Theo Nguyễn Sinh Huy: “Mẫu có thể được hiểu là một tập hợp được lựa chọn, có đủ các yếu tố có tính chất tiêu biểu và rút ra từ một tập hợp lớn mà nó là đại diện cho nhóm đối tượng mà chúng ta nghiên cứu […] Có thể chọn mẫu ở 03 mức độ khác nhau: - Nghiên cứu toàn thể đối tượng; - Nghiên cứu một mẫu tiêu biểu; - Hoặc một số mẫu với một số nét đặc trưng” [31,tr.91-92]

Trang 14

của Sở Công nghiệp Hà Tâythực hiện năm 1999; Luận án tiến sĩ “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH – HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của Mai Thế Hởn Luận án đã nghiên cứu và làm rõ phạm trù LNTT, đặc điểm hình thành và vị trí, vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng ven thủ đô Hà Nội; phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển và đề xuất những phương hướng, giải pháp thúc đẩy sự phát triển của LNTT theo hướng CNH – HĐH…

Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có những công trình tiêu biểu mang tính nền tảng của Phan Gia Bền “Sơ khảo phát triển thủ công nghiệp Việt Nam”, P.Gourou “Người nông dân ở Bắc Kỳ”, GS.TS Dương Bá Phượng “Bảo tồn

và phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH - HĐH”,… và nhiều bài nghiên cứu về làng nghề, LNTT đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác nhau

Từ một số công trình nghiên cứu mà chúng tôi nêu tên ở trên, mặc dù chỉ là số

ít, để thấy được lịch sử nghiên cứu của làng nghề truyền thống, qua đó giúp những người quan tâm đến vấn đề này có cái nhìn sơ lược và tổng quát về ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của việc nghiên cứu LNTT ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là làng nghề mộc truyền thống Chàng Sơn Đây là một trong những xã nghề4 điển hình của huyện Thạch Thất nói riêng và của

cả nước nói chung, với nhiều nghề tồn tại song song cùng với nhau, trong đó nghề sản xuất đồ mộc là nghề có số lượng người tham gia làm nghề đông đảo nhất, chiếm trên 80% dân số và có đóng góp chủ yếu trong tổng thu nhập của toàn xã

Về giới hạn nghiên cứu, luận văn tập trung vào đánh giá thực trạng tình hình sản xuất nghề mộc của làng Chàng từ năm 2001 cho đến nay, đồng thời chỉ ra sự tác động mang tính tương hỗ của nó đến đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của người dân trong xã và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển nghề, phát triển làng nghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay

4 Thuật ngữ “xã nghề” trong trường hợp này tương ứng với “làng nghề”, vì Chàng Sơn là nơi mang đặc tính

“nhất xã, nhất làng” Do đó, trong luận văn có chỗ gọi là xã, có chỗ gọi là làng.

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khu vực và nghiên cứu phát triển làm cơ sở để đánh giá một cách tổng quát xu hướng vận động và phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn trên nhiều bình diện khác nhau

Phương pháp phân tích SWOT theo 4 chiều cạnh (demension): Điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weakness), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) cũng được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu như phương pháp căn bản để đánh giá tình hình sản xuất thực tế của làng Chàng, tiềm năng phát triển cũng như những nhân tố tác động đến sự phát triển nghề của làng qua từng giai đoạn, từ đó để chỉ ra bản chất thực trạng và xu hướng vận động, phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn trong bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp điền dã, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp tin học…

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu về sự phát triển cũng như ảnh hưởng của LNTT đến đời sống kinh

tế - văn hóa - xã hội có ý nghĩa to lớn trong việc đánh giá thực trạng hoạt động, hướng phát triển của LNTT, để từ đó có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ phù hợp nhằm đảm bảo các LNTT được khôi phục, đẩy mạnh hoạt động sản xuất và phát triển theo hướng bền vững

Đề tài nghiên cứu “Cơ hội phát triển của làng mộc Chàng Sơn (huyện Thạch

Thất, Hà Nội) trong bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay (tiếp cận từ góc độ nghiên cứu văn hóa)” trong một giới hạn nhất định mong muốn góp phần vào việc

nghiên cứu, tìm hiểu về một làng nghề truyền thống với tư cách là không gian văn hóa – không gian phát triển xác định Qua nghiên cứu, thu thập số liệu cũng như những khảo sát, đánh giá mang tính tổng hợp, khách quan của tác giả, luận văn cố gắng chỉ rõ sự phát triển của làng nghề Chàng Sơn trên các phương diện kinh tế - văn hóa – xã hội để thấy được lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề, sự ảnh hưởng của nghề đối với đời sống của người dân địa phương; sự thay đổi xu hướng

Trang 16

sản xuất của nghề; những vấn đề còn tồn tại gây hạn chế trong sản xuất, những thế mạnh cần phát huy để nghề mộc truyền thống phát triển mạnh và những chính sách

ưu tiên của địa phương đối với việc phát triển nghề Qua đó, luận văn cũng là cái nhìn tổng quát nhất về đời sống văn hóa của một làng nghề cụ thể ở vùng châu thổ Sông Hồng Chỉ ra mối liên hệ có tính tương tác, hỗ trợ giữa một nghề nổi trội (nghề mộc) với các nghề khác cùng tồn tại song song trong làng; sự liên hệ gắn bó chặt chẽ với những giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể của làng nghề Trong

đó, nổi trội lên đó là hệ thống đình, chùa, miếu mạo, văn chỉ… với những đường nét

do chính những nghệ nhân trong làng tạo dựng nên; đó là lễ hội dân gian của làng,

là nghệ thuật múa rối nước có từ hàng ngàn đời nay… Từ đó thấy được tâm thức nghề của một làng quê với những nghệ nhân, những người có tâm huyết trong việc bảo tồn, khôi phục và phát triển nghề truyền thống

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục bảng, biểu, bản đồ, ảnh

minh họa, luận văn gồm ba phần, được kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về làng nghề

Ở chương này, tác giả khảo cứu và đề xuất những khái niệm và các tiêu chí phân loại làng nghề bằng việc đưa ra quan điểm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, trên cơ sở đó đúc rút khái niệm chung nhất, tổng quát nhất về làng nghề, LNTT Đồng thời, trong chương này, tác giả cũng phân tích về đặc điểm, điều kiện hình thành LNTT; vai trò của LNTT đối với phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội

Chương 2: Thực trạng phát triển của làng nghề mộc Chàng Sơn trong bối

cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay

Chàng Sơn là một làng nhiều nghề, trong đó nổi trội là nghề mộc với những nghệ nhân tài hoa Tác giả đã chỉ ra thực trạng phát triển nghề mộc hiện nay, những ảnh hưởng của nghề mộc làng Chàng đến đời sống văn hóa sản xuất, đời sống văn hóa cộng đồng, trong đó chú trọng đến thực trạng phát triển cũng như tổ chức quản

lý của địa phương; chỉ ra mối quan hệ tương tác giữa nghề mộc với các nghề khác

và mối liên hệ giữa nghề mộc với văn hóa, tín ngưỡng của làng Đặc biệt, trong chương

Trang 17

này, tác giả đã áp dụng có hệ thống phương pháp phân tích SWOT để đánh giá những thuận lợi, khó khăn và chỉ ra cơ hội phát triển của làng nghề Chàng Sơn

Chương 3: Giải pháp phát triển nghề và nâng cao giá trị văn hóa làng nghề tại

làng mộc Chàng Sơn

Trong phần này, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị và các giải pháp cơ bản

để phát triển nghề truyền thống của làng, đưa nghề mộc truyền thống hồi sinh, phát triển trong cơ chế thị trường hiện nay theo hướng bền vững, gắn với việc giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa làng nghề trong giai đoạn phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ

1.1 Một số khái niệm và cách phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống

1.1.1 Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống

1.1.1.1 Nghề truyền thống

Nghề truyền thống là những nghề thủ công5

được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài, tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, được sản xuất tập trung, thu hút được nhiều lao động tham gia sản xuất và dần hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề Đặc trưng cơ bản gắn với kỹ thuật và công nghệ truyền thống, sản phẩm có tính đơn chiếc, tính thẩm mỹ cao và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Điều đặc biệt là linh hồn của nghề, của làng nghề nằm trong yếu tố con người, đó là những nghệ nhân và đội ngũ lao động lành nghề

Khi nền đại công nghiệp phát triển thì việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào trong sản xuất đã dần thay thế sức lao động trong một số công đoạn nhất định, điều đó phá vỡ tính truyền thống cố hữu trong sản xuất nghề truyền thống, do đó quan điểm ban đầu cũng có những thay đổi nhất định

Nghề truyền thống có thể được hiểu theo nghĩa mở rộng hơn như sau: Nghề

truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch

sử, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc đang sử dụng những loại máy móc hiện đại hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc

hệ với nông nghiệp đến hình thức quá độ sang công nghiệp Chúng tôi thấy ở Việt Nam có hai bộ phận chính trong ngành thủ công nghiệp: Bộ phận thủ công nghiệp phụ thuộc vào nền kinh tế tự nhiên nông nghiệp, cụ thể là nghề phụ gia đình của số đông nông dân… Bộ phận thứ hai là bộ phận thủ công nghiệp cá thể tiểu sản xuất hàng hóa, cụ thể là nghề thủ công độc lập với quy trình sản xuất nông nghiệp” [5, tr.17-20]

Trang 19

1.1.1.2 Làng nghề

Làng nghề là một phương diện mà rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu và đã

có nhiều quan điểm về làng nghề được xây dựng trên những tiêu chí khác nhau, tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thức, làm quy chuẩn về làng nghề

Theo TS Phạm Côn Sơn thì: “Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà

cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỷ cương, tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không có nghĩa là một làng sống chuyên nghề mà còn hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của làng nghề là sự làm ăn vừa tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cá biệt của địa phương” [56, tr.9]

Theo GS Trần Quốc Vượng thì: “làng nghề (như gốm Bát Tràng, Phù Lãng,…

làng thêu ren Quất Động) là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối tiểu thủ nông và chăn nuôi (lợn, gà ) một số nghề phụ khác (đan lát, thêu…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô (kẻ chợ, Huế,

Sài Gòn ) và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” [83, tr.372]

Theo định nghĩa của nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề là làng cổ

truyền làm nghề thủ công Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công trong nhiều trường hợp cũng đồng thời là những người làm nghề nông (nông dân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công ngay tại làng quê của mình” [84, tr.13]

Từ một số định nghĩa nêu trên của các học giả, các nhà nghiên cứu, chúng tôi đưa ra quan điểm về làng nghề mang tính tổng hợp như sau:

Trang 20

Làng nghề là thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, gồm hai yếu tố cấu thành

là làng và nghề Xã hội nông thôn Việt Nam từ xưa tới nay, làng là một tế bào của

xã hội người Việt Nó là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một địa vực, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất hay nói cách khác, nó tồn tại trong không gian địa lý nhất định [50, tr.10]

Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do nhu cầu phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc

Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng Tiêu chí phân định cụ thể như sau:

Số hộ chuyên làm một hoặc nhiều nghề thủ công từ 40 – 50%6; Thu nhập từ nghề thủ công chiếm 50% tổng thu nhập của các hộ; giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương [50, tr.13-14]

Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ là một thước đo định lượng, bởi vì đối với mỗi làng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên là cũng khác nhau Điều đó thể hiện rõ ở quy

mô sản xuất, tính chất của sản phẩm và số lượng người tham gia giữa làng nghề phát triển và làng nghề chậm phát triển

Trong thời kỳ CNH – HĐH hiện nay, việc phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ vào trong sản xuất đã phá vỡ tính thủ công truyền thống nhất thể trong sản xuất, thay vào đó là hình thức sản xuất bán cơ khí phổ biến Chính vì vậy khái niệm về làng nghề được mở rộng hơn, không còn bó hẹp ở những làng chỉ có những người chuyên làm các nghề thủ công nghiệp Nó được nhìn nhận dưới hai giác độ:

6

Tại khoản a, điểm 2, mục I, phần II của Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì 01 trong 03 tiêu chí để công nhận làng nghề là “có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn” [9 ]

Trang 21

Những làng nghề đã áp dụng công nghệ cơ khí, bán cơ khí vào trong sản xuất và những làng nghề phát triển sản xuất ở mức độ cao đã kéo theo nhiều nghề dịch vụ

ăn theo nhằm phục vụ nó như nghề cung ứng vật tư…

Như vậy, khái niệm làng nghề có thể hiểu là những làng ở nông thôn có các

ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông

1.1.1.3 Làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống được hiểu là sự kết hợp giữa nghề truyền thống và làng nghề Bên cạnh những tiêu chí như làng nghề, làng nghề truyền thống còn là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại cho đến ngày nay,

là làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm

Theo PGS.TS Phạm Trung Lương thì “làng nghề truyền thống được xem là

một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong nó cả nội dung giá trị vật thể và phi vật thể” [44, tr.20-26]

Làng nghề truyền thống, không chỉ là nơi chứa đựng những giá trị phi vật thể

là kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu,

kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống mà nó còn chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể khác như đình, chùa, miếu mạo,…, các di tích liên quan trực tiếp đến làng nghề, các sản phẩm thủ công của làng nghề truyền thống Và khi nói đến LNTT thì ngoài việc chú ý đến tính đơn

lẻ thì phải chú trọng đến nhiều mặt trong không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, tính toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, thủ pháp, kỹ thuật và nghệ thuật chế tác

LNTT thông thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời theo kiểu cha truyền con nối Sản phẩm làm ra không những thiết thực cho cuộc sống mà hơn thế nữa còn là những mặt hàng tinh xảo, độc đáo, nổi tiếng, mang đậm bản sắc riêng của từng địa phương, từng vùng

Trang 22

công duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối

- Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông ra còn có một số nghề thủ

công nghiệp

Phân loại theo thời gian, gồm có:

- Làng nghề truyền thống: là những làng xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và

còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm

- Làng nghề mới: là những làng nghề phát triển do sự lan tỏa của các làng

nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường

1.1.2.2 Đối với làng nghề truyền thống

Hiện nay, có nhiều ý kiến đã thống nhất phân chia làng nghề truyền thống dựa trên cơ sở phân loại các nhóm nghề truyền thống thành 04 loại như sau:

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, sơn mài, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, mạ tơ tằm, dệt lụa…

- Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống như nghề rèn sắt, làm bừa, đóng thuyền, đúc đồng, mộc, nề, sản xuất vật liệu xây dựng…

- Làng nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng như nghề dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, dệt vải…

- Làng nghề chuyên chế biến lương thực, thực phẩm như nghề xay xát, làm bún, bánh, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại…

Trang 23

Các làng nghề truyền thống thường gắn liền với nghề truyền thống nhưng không hoàn toàn đồng nhất Bởi tính lan tỏa của các làng nghề truyền thống sang các làng nghề mới cũng khiến cho làng nghề mới chứa đựng trong nó những ngành nghề truyền thống, và ngược lại, cũng có một số nghề mới xuất hiện hoặc du nhập từ nước ngoài vào trong làng nghề truyền thống [50, tr.14-15]

Như vậy, các cách phân loại về làng nghề ở trên không mang tính tuyệt đối và chỉ áp dụng trong những trường hợp cụ thể

1.2 Đặc điểm của các làng nghề truyền thống

1.2.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

- Làng nghề truyền thống tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp:

Việt Nam là một nước có xuất phát điểm thuần nông nghiệp Do đó, các LNTT xuất hiện và tồn tại trong từng làng xã ở nông thôn Sự ra đời của các làng nghề đầu tiên là do nhu cầu giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa nhàn rỗi giữa các vụ mùa và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người nông dân trong quá trình sản xuất tự cấp, tự túc Lúc này, nghề thủ công tồn tại với tư cách là nghề phụ trong các

hộ gia đình nông dân và dần phát triển ở các địa phương, được chuyên môn hóa theo sự phân công lao động nhất định nên năng suất, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, số lượng sản phẩm tạo ra không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng mà còn dư thừa để trao đổi trên thị trường Hoạt động của nghề thủ công ngày càng phát triển và càng gắn với quan hệ hàng hóa, tiền tệ, quan hệ thị trường, tuy nhiên vẫn không rời khỏi nông nghiệp Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân Họ vừa làm nghề thủ công nghiệp, vừa tham gia sản xuất nông nghiệp trên chính mảnh đất của mình dù với hình thức nào (có thể tự làm hoặc thuê mướn người làm) Đây là đặc điểm cơ bản, phổ biến trong hầu hết các làng nghề truyền thống ở nước ta Trên cơ sở đó, hoạt động thương nghiệp nhỏ ở nông thôn cũng phát triển và nó trở thành cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp

Sự phát triển này được thể hiện dưới hai góc độ: - một là, quan hệ trao đổi tư liệu sản xuất; - hai là, quan hệ trao đổi tiêu dùng gắn với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cũng như quá trình đô thị hóa nông thôn

Trang 24

- Đặc điểm nổi bật trong LNTT là sử dụng lao động thủ công 7

thuật cao, khéo léo, óc thẩm mỹ và có tính sáng tạo cao Đặc trưng cơ bản của lao

động thủ công là:

- Tự định đoạt lấy mọi công việc, kể cả cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm;

- Cá nhân trực tiếp làm một nghề chuyên và tạo thu nhập chính từ nghề đó;

- Thể hiện tay nghề nhất định, tài khéo léo riêng biệt kết hợp với óc sáng tạo

và tính thẩm mỹ cao thông qua lao động bằng tay hoặc sử dụng máy móc vào một

số công đoạn sản xuất

Ngày nay, cùng với sự phát triển khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất làng nghề đã giảm bớt lực lượng lao động giản đơn Tuy nhiên trong một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công, tinh xảo,

và linh hồn của các làng nghề là những nghệ nhân tài ba Họ chính là những người

dạy nghề, truyền nghề trực tiếp cho các thành viên trong gia đình, dòng họ Việc dạy

nghề được thực hiện theo phương thức truyền nghề từ đời này sang đời khác Đó là

các bí quyết nghề nghiệp mà mỗi một thành viên trong gia đình phải có trách nhiệm gìn giữ, thông thường nghề chỉ được lưu truyền trong gia đình, ít được phổ biến ra

7

Ở nước ta thợ thủ công (thủ công nghiệp cá thể) là những người có tiêu chuẩn căn bản sau đây: 1- Lao động của họ là chính, có thể có những người vừa sản xuất hàng hóa để bán, vừa bán sức lao động đi làm thuê cho người khác, có thể dùng công nhân trong gia đình dùng sản xuất, có thể mướn thêm nhân công (thợ bạn hoặc thợ học nghề) nhưng chỉ để giúp họ sản xuất đại bộ phận thì giờ của thợ thủ công là để làm những công việc sản xuất đó; 2- Sản phẩm của họ chủ yếu dùng để bán ra thị trường (không phải làm cho bản thân hay cho gia đình, cũng không phải để làm giúp cho người khác trong làng xóm trực tiếp tiêu dùng) và đó là nguồn sống chính của họ…” [5, tr.24 – 25]

Trang 25

bên ngoài, thậm chí ở một số nơi không truyền nghề cho con gái [50, tr.20], khiến cho sức lan tỏa của nghề bị bó hẹp trong nội bộ gia đình, dòng họ, dễ dẫn đến tình trạng nghề truyền thống bị mai một khi không có đội ngũ kế cận

Hiện nay, việc đổi mới trong hình thức truyền và dạy nghề, kết hợp giữa việc

mở các lớp đào tạo nghề nhưng đồng thời dạy nghề theo lối kèm cặp vừa học vừa làm, vừa có sự truyền nghề của các nghệ nhân vừa có sự chỉ dẫn của thợ cả đã tạo được làn sóng làm nghề thủ công, giúp nghề truyền thống được mở rộng và có sự lan tỏa lớn, không còn bó hẹp trong nội bộ gia đình, dòng họ, làng và thu hút phần đông số lao động nhàn rỗi trong nông thôn Đây được coi là một trong những phương thức hiệu quả để giữ và phát triển nghề truyền thống

phương, tại chỗ, nhỏ hẹp:

Thị trường tiêu thụ của LNTT đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự sống còn của một nghề, một làng nghề Chúng ta biết rằng, LNTT ra đời xuất phát từ sự đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các LNTT được hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất và nhu cầu trao đổi hàng hóa Tuy nhiên, do dân cư tập trung ở nông thôn chiếm tỷ lệ lớn, tiền công lao động thấp nên giá thành sản phẩm thấp, sản phẩm phù hợp với khả năng kinh tế, tâm lý và thói quen của người dân nên về cơ bản đó vẫn là thị trường nhỏ hẹp, chủ yếu tiêu thụ ở nông thôn

Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển sang hướng thị trường, cùng với chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế8

phát triển và việc chuyển từ kinh tế tập thể sang kinh tế hộ gia đình đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của LNTT, đặc biệt là tạo sự chủ động trong mua bán nguyên vật liệu,

Trang 26

thay đổi mặt hàng và tiêu thụ sản phẩm Nhiều loại sản phẩm thủ công truyền thống được thị trường trong nước tin dùng và có sức lan tỏa, dần vươn ra thị trường bên ngoài

- Hình thức tổ chức sản xuất trong các LNTT chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân:

Trong lịch sử cũng như hiện nay, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến trong các làng nghề là hộ gia đình Với hình thức này, hầu hết các thành viên trong hộ gia đình đều được huy động vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất – kinh doanh Người chủ gia đình thường đồng thời là người thợ cả Tùy theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn lao động thường xuyên hoặc lao động thời vụ Tổ chức sản xuất – kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia sản xuất – kinh doanh, tận dụng được thời gian và nhu cầu đầu tư thấp (sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất) Tuy nhiên, mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh Mỗi gia đình không đủ sức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm, không đủ tầm nhìn để định hướng nghề nghiệp hoặc vạch ra chiến lược kinh doanh

Bên cạnh hình thức tổ chức sản xuất mang tính chủ đạo này, hiện nay trong LNTT đang tồn tại và phát triển các tổ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tư nhân

- Tổ sản xuất: Là hình thức hợp tác, liên kết tự nguyện của một số hộ gia đình

với nhau để cùng sản xuất, kinh doanh một mặt hàng nào đó Sự hợp tác này tạo ra tính tương hỗ lẫn nhau trong các khâu sản xuất, nó vừa đảm bảo được tính độc lập của các hộ gia đình trong sản xuất kinh doanh, vừa làm tăng thêm sức mạnh của các

hộ gia đình trong việc tiếp cận thị trường và nâng cao hiệu quả sản xuất, tuy nhiên

mô hình này có những hạn chế là quan hệ sản xuất mang tính lỏng lẻo, chủ yếu dựa trên quan hệ quen biết lẫn nhau

- Hợp tác xã (HTX): Là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế tự

chủ, liên kết được lợi ích giữa cá nhân và tập thể Và trong mối quan hệ này, sở hữu

tư nhân không bị xóa bỏ, họ vẫn là những chủ thể độc lập, có kinh tế riêng Trong

cơ chế đổi mới hiện nay, HTX là một trong những loại hình kinh doanh chủ yếu ở

Trang 27

của làng nghề, có tư cách pháp nhân để đứng ra nhận và ký kết những hợp đồng buôn bán lớn, tạo công ăn việc làm cho gia đình xã viên

- Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần: Đây là những loại

hình có thể phát triển ở những làng nghề có trình độ tập trung hóa cao, có quan hệ rộng với thị trường, có khả năng và đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ để mở rộng sản xuất Hình thức này được phát triển từ một số hình thức sản xuất hoặc một số hộ gia đình có tiềm lực kinh tế khá, có trình độ quản lý và khả năng tiếp cận thị trường

Ở một số LNTT, hình thức này không chiếm tỷ trọng lớn về số lượng lao động nhưng đóng vai trò là trung tâm liên kết mà các hộ gia đình là vệ tinh, thực hiện các hợp đồng, giải quyết đầu vào, đầu ra cho các hộ gia đình

Trên đây là một số hình thức sản xuất kinh doanh tồn tại trong LNTT Những hình thức này cùng tồn tại đan xen nhau, hỗ trợ nhau phát triển Sự đan xen này đã đảm bảo sự thích ứng của từng loại hình với nhu cầu của người sản xuất và đặc trưng của ngành nghề Nhờ đó đã thúc đẩy sản xuất và nâng cao hiệu suất kinh tế các LNTT trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay

1.2.2 Đặc điểm về công nghệ sản xuất và sản phẩm

- Về công nghệ sản xuất:

Trong các LNTT, đặc điểm đặc trưng về công nghệ, kỹ thuật sản xuất thủ công

là mang tính truyền thống, kế thừa và bí quyết dòng họ – nghĩa là có bước tiếp nối,

truyền tải, kết tinh giá trị từ thế hệ này sang thế hệ khác Công cụ sản xuất chủ yếu

là công cụ thủ công thô sơ, công nghệ của nghề thủ công hầu như phụ thuộc vào tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo, và những kinh nghiệm – bí quyết nghề nghiệp được tích lũy qua thời gian của người thợ Đây là yếu tố tạo nên sắc thái riêng và chất lượng của sản phẩm, khiến sản phẩm bền đẹp và có những nét riêng biệt so với sản phẩm của các nơi khác Đặc điểm này đã quy định tính chất lao động và tính chất sản phẩm của nghề truyền thống Nó khác hẳn với lao động của người nông dân, của người công nhân và sản phẩm được quyết định bởi tay nghề và tài nghệ khéo léo của người thợ thủ công

Trang 28

Công nghệ sản xuất trong LNTT hầu hết còn thô sơ, lạc hậu Xuất phát từ

nhiều nguyên do như vốn ít, mặt bằng hẹp, thói quen sản xuất của người tiểu nông nên công nghệ chậm được cải tiến và đổi mới Đặc điểm này ảnh hướng lớn tới lao động sản xuất, làm cho năng suất lao động thấp, hao phí thời gian lao động lớn, chất lượng sản phẩm thấp, không đồng đều và đặc biệt ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người lao động

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sản xuất trong LNTT đã tạo thêm một

đặc điểm nữa, đó là sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại

trong quá trình sản xuất, tạo ra năng suất lao động cao hơn gấp nhiều lần so với lao

động thủ công thông thường, sản phẩm làm ra có chất lượng cao, đồng đều hơn và giảm thiểu được những độc hại cho người lao động… do đó, nhiều LNTT đã đầu tư đưa thiết bị mới vào thay thế thiết bị cũ, lạc hậu Sự đổi mới thiết bị và công nghệ

đã tạo bước phát triển mới trong các LNTT, thể hiện rõ ở sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao hơn, tốc độ tăng trưởng nhanh hơn Tuy nhiên, việc thay thế công nghệ hiện đại vào trong sản xuất chỉ diễn ra ở một số khâu sản xuất nhất định, không thể thay thế hoàn toàn cho công nghệ thủ công truyền thống, song đây được coi là điều kiện, là cơ sở để thực hiện chủ trương “hiện đại hóa công nghệ truyền thống” trong các LNTT ở nước ta

- Về sản phẩm:

Đặc điểm nổi bật của sản phẩm truyền thống là mang tính độc đáo, có tính

mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Mỗi sản phẩm truyền thống gắn

với một LNTT cụ thể do nó mang đậm những nét độc đáo của địa phương, được quy định bởi công nghệ kỹ thuật sản xuất truyền thống có từ hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm Người thợ thủ công thông qua sự sáng tạo và đôi bàn tay vàng

để truyền vào mỗi sản phẩm linh hồn của cuộc sống, ở đó thể hiện những góc cạnh của cuộc sống sinh hoạt đời thường của người lao động, là những phong tục, tập quán, tôn giáo, là ước muốn chinh phục tự nhiên… đó là sự phản ánh những nét truyền thống và bản sắc văn hóa của dân tộc Chính vì vậy, sản phẩm truyền thống được coi là kết quả hoạt động kinh tế vừa có tính giản đơn, vừa có tính phức tạp của

Trang 29

người lao động, đồng thời là sản phẩm của hoạt động kinh tế mang tính văn hóa nghệ thuật cao Hơn thế, sản phẩm của LNTT còn là sự hội tụ, kết tinh thống nhất những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể

Sản phẩm truyền thống mang tính đơn lẻ, riêng nhất Trong LNTT, người thợ

thủ công đảm nhận việc chế tác sản phẩm, chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công nên sản phẩm làm ra mang tính đơn lẻ, đôi khi cùng một mẫu mã sản phẩm nhưng cái hoàn thành trước không giống hoàn toàn với cái hoàn thành ngay sau đó Với đặc tính này nên sản phẩm truyền thống thường có sức hấp dẫn lớn đối với khách hàng.Tuy nhiên, hệ lụy của nó là tiêu tốn sức lao động nhiều dẫn đến giá thành trên một sản phẩm cao, mẫu mã không phong phú và chậm đổi mới, do đó làm hạn chế về sức cạnh tranh và mở rộng thị trường

Hiện nay, Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế, phát triển và bảo tồn LNTT được Đảng và Nhà nước quan tâm Đây là điều kiện cho LNTT dần bật ra khỏi nếp cũ vốn có, sản phẩm truyền thống đã được thay đổi nhiều về mẫu mã và có sức cạnh tranh ở thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài

1.3 Điều kiện hình thành của các làng nghề truyền thống

1.3.1 Những yếu tố hình thành của các làng nghề truyền thống

Nghề thủ công dù du nhập vào làng bằng con đường nào thì sự phát triển cũng dưới hình thức có tồn tại những hạt nhân là các nghệ nhân, gia đình, dòng họ… làm nòng cốt, từ đó mở ra phạm vi cả làng Lúc mới hình thành, sản xuất của làng nghề chưa hoàn chỉnh, chỉ tập trung vào một vài loại sản phẩm cuối cùng hoặc một số giai đoạn công nghệ có tính chất độc đáo, sau đó hiện dần các loại hoạt động dịch

vụ cung cấp đầu vào, đầu ra hoặc sản xuất các loại bán thành phẩm Sau một thời gian tồn tại và phát triển khá lâu dài, các làng nghề trở nên có tính khép kín hơn Nhìn chung, các làng nghề thường hình thành trên cơ sở truyền nghề, nhưng sự truyền nghề này không có tính chất sao chép nguyên si mà có sự sáng tạo tinh tế Mỗi một làng nghề, thậm chí đối với những thợ thủ công độc lập riêng rẽ cũng vậy, khi tiếp thu nghề luôn có sự đổi mới và sáng tạo làm cho bản thân mình, làng mình

có những nét độc đáo riêng so với người khác, làng khác, địa phương khác

Trang 30

1.3.2.Các điều kiện hình thành làng nghề truyền thống

Nghiên cứu sự phân bố của các LNTT cho thấy sự tồn tại và phát triển của các làng nghề cần có những điều kiện cơ bản nhất định:

- Gần đường giao thông: Hầu hết các LNTT đều nằm trên những đầu mối giao

thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông thủy, bộ Nằm ở vị trí này cho phép các làng nghề có thể kết hợp sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhau để chuyên chở nguyên vật liệu về và chở sản phẩm đi tiêu thụ hoặc có điều kiện thuận lợi để thu hút các thương nhân đến buôn bán sản phẩm thủ công của

làng nghề

- Gần nơi tiêu thụ sản phẩm hoặc thị trường chính: Các LNTT nói chung đều

được đặt gần nơi tiêu thụ mà thường là các nơi tập trung dân cư với mật độ khá cao, gần chợ, bến sông bãi, và đặc biệt là rất gần hoặc không quá xa các trung tâm

thương mại

- Gần nguồn nguyên liệu: Các LNTT hầu như có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ

với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất Phần lớn các làng nghề truyền thống hình thành nghề chính của mình xuất phát từ nguồn nguyên

liệu sẵn có tại địa phương

- Sức ép về kinh tế: Sức ép về kinh tế nhiều khi lại là nguyên nhân trực tiếp

thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các LNTT Biểu hiện rõ nhất là sự hình và phát triển của các LNTT ở những nơi diện tích đất chật, mật độ dân số cao, điều kiện canh tác nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, người nông dân phải tìm những ngành nghề phụ làm thêm để kiếm thêm thu nhập Đây là một trong

những đặc điểm quan trọng dẫn đến việc hình thành và phát triển các LNTT

- Lao động và tập quán sản xuất của từng vùng: Đây là điều kiện có ảnh

hưởng nhất định tới sự hình thành và phát triển LNTT Sự tồn tại và phát triển của làng nghề gắn với đội ngũ những nghệ nhân, những người có tâm huyết với nghề,

có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có những khả năng ứng phó với những tình huống xấu bất lợi đến sự phát triển của LNTT Ngoài ra, những kỹ năng, kỹ xảo của người thợ, những luật lệ, quy chế của làng, của các dòng họ, phường hội… là nhân

Trang 31

tố không kém phần quan trọng trong sự tồn tại, phát triển và giữ những nét độc đáo, riêng biệt của LNTT Chúng tạo thành chất keo cho sự tồn tại và phát triển bền

vững của LNTT

1.4 Vai trò của LNTT đối với việc phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội

Sự tồn tại và phát triển của các LNTT có một vai trò rất to lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển về mọi mặt kinh tế - văn hóa – xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội của làng, xã, của vùng và rộng hơn là của cả nước, nhất là trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn như hiện nay

1.4.1 LNTT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH –

nông nghiệp, nông thôn

Mục tiêu cơ bản của CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là tạo ra cơ cấu kinh tế mới hợp lý và hiện đại ở nông thôn, chuyển nền kinh tế nông thôn với cơ cấu thuần nông, sản xuất tự túc, tự cấp là chủ yếu sang nền kinh tế nông thôn CNH với cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lợi từ các lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp Với mục tiêu này, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và cả các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển, các LNTT đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn

Sự phát triển của LNTT có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch kinh

tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH; sự phát triển lan tỏa của LNTT đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động Cho đến

9

Khái niệm CNH – HĐH được đưa ra tại Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ VII (khóa VII) như sau:

“CNH – HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản

lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến

bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động cao

Trang 32

nay, cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đã nghiêng về hướng công nghiệp và dịch vụ, chiếm 60 - 80%, nông nghiệp chiếm 20 – 40% [24]

1.4.2 Tăng giá trị tổng sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân

Sự phục hồi và phát triển các LNTT có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Với quy mô nhỏ bé, được phân bố rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng Năng lực sản xuất, kinh doanh của các làng nghề là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn Tuy không có số liệu tổng quát nhưng số liệu của một số làng nghề, một số địa phương đã nói lên sự đóng góp của làng nghề trong việc làm tăng tổng giá trị sản phẩm hàng hóa

Chẳng hạn, tổng giá trị sản phẩm hàng hóa của các làng nghề tỉnh Nam Định đạt khoảng 224 tỷ đồng/năm, riêng 03 làng nghề Văn Chàng, Đồng Côi, Thôn Tư của xã Nam Giang đạt giá trị hàng hóa 50 tỷ đồng/năm, làng Xuân Tiến đạt 22,2 tỷ đồng/năm Năm 2000, doanh thu từ ngành nghề phi nông nghiệp (trừ dịch vụ, thương mại) là 92,8 tỷ đồng [16, tr.44] Tỉnh Bắc Ninh, năm 1997 giá trị sản phẩm hàng hóa của các làng nghề đạt 193,3 tỷ đồng Năm 1998, đạt 210 tỷ đồng, chiếm ¾ tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh Riêng làng Đồng Kỵ đạt trên 25

tỷ đồng/năm, làng sắt Đa Hội đạt giá trị hàng hóa 30 tỷ đồng/năm Chỉ tính riêng ở Bắc Ninh đã nộp ngân sách Nhà nước là 2,35 tỷ đồng, trong khi các xã ngoài quốc doanh chỉ thu được 3,4 tỷ đồng Tỉnh Hà Tây, năm 2001 tổng giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn là 1700 tỷ đồng, riêng 120 làng nghề đạt 1045 tỷ đồng [16, tr.44]

1.4.3 LNTT góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nông thôn

Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay Với 80% dân

số và 73% lao động của cả nước, đất đai canh tác lại bị hạn chế bởi giới hạn của tự nhiên - đây là thách đố lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Vấn đề đặt ra là làm sao giải quyết việc làm cho lực lượng lao động phần đông ở

Trang 33

nông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động Theo tính toán của các chuyên gia thì hiện nay thời gian lao động dư thừa trong nông thôn còn khoảng 1/3 chưa sử dụng Nghĩa là có khoảng trên 10 triệu lao động dư thừa, không

có việc làm Vấn đề giải quyết việc làm lao động nông thôn đang trở thành một bài toán khó giải, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ của các ngành nghề, và các lĩnh vực

Trong những năm gần đây, sự phát triển của các ngành nghề phi nông nghiệp, trong đó có nghề thủ công đã thu hút 10 triệu lao động, chiếm 29,5% lực lượng lao động nông thôn, góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động Bên cạnh việc giải quyết nhu cầu lao động tại chỗ cho người dân địa phương, thì LNTT còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác Cụ thể, làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của xã còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 500 – 600 lao động của các khu vực lân cận đến làm thuê Làng nghề sắt Vân Chàng giải quyết việc làm cho 2992 lao động trực tiếp của làng, đồng thời thường xuyên tạo việc làm cho gần 1000 lao động phụ cho các làng, xã xung quanh [16] LNTT phát triển cũng đã kéo theo sự hình thành và phát triển của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút lao động

Như vậy, có thể nói vai trò của LNTT rất quan trọng, nó là bộ phận hợp thành của công nghiệp nông thôn, được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động nông thôn Bình quân thu nhập của một lao động trong hộ chuyên ngành nghề phi nông nghiệp là 430.000 – 450.000 đồng/người/tháng, ở hộ kiêm nghề là 190.000 – 240.000 đồng/người/tháng, trong khi ở hộ thuần nông chỉ khoảng 70.000 – 100.000 đồng/người/tháng [16] Như vậy, ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì ở nơi đó có mức thu nhập và mức sống cao hơn so với những vùng thuần nông nghiệp

1.4.4 Thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, nâng cao mức sống của người dân và hạn chế dòng di dân từ nông thôn tới thành thị

Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, đa số các LNTT không đòi hỏi số vốn đầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ

Trang 34

mà những người thợ trong làng nghề đều có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được Hơn nữa, đặc điểm của sản xuất trong các LNTT là quy mô nhỏ, phần lớn công cụ sản xuất là thủ công, thô sơ, cơ cấu vốn và cơ cấu lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia đình Với mức vốn đầu

tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để các làng nghề có thể huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh

Bên cạnh đó, sự phát triển của LNTT đã có vai trò hạn chế di dân tự do ở nông thôn Một kết quả điều tra cho thấy, trên phạm vi toàn quốc, thời kỳ 1990 – 1997, bình quân mỗi năm có khoảng 150 – 200 nghìn người di chuyển từ nông thôn ra thành thị và tổng số người từ nông thôn đến thành thị có thể lên đến 1, 2 – 1,5 triệu người [53, tr.157] Bên cạnh những tác động tích cực, làm giảm sức ép việc làm ở khu vực nông thôn, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống xã hội cho người lao động thì nó gây ra những khó khăn nhất định trong vấn đề quản lý xã hội, làm ảnh hưởng tới kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nơi di chuyển đến

Việc khôi phục và phát triển LNTT đã góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm

ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân Người dân nông thôn luôn có tâm lý gắn bó với làng nghề, do vậy khi đã có việc làm và thu nhập ổn định, mà nguồn thu nhập lại cao hơn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì họ sẽ không muốn đi tìm việc nơi khác Việc phát triển LNTT theo phương châm “ly nông bất ly hương” không chỉ có khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ở nông thôn hiện nay

1.4.5 Cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới

Trong các LNTT, cùng với sự đổi mới trong đời sống kinh tế - văn hóa là quá trình xây dựng và đổi mới nông thôn theo hướng hiện đại hóa Phát triển LNTT cùng với việc tăng thu nhập của người dân đã tạo ra một nguồn tích lũy khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương cũng như cho các hộ gia đình Do đó, nguồn vốn để xây dựng

cơ sở hạ tầng ở nông thôn và đặc biệt là ở các làng nghề rất được chú ý phát triển

Hệ thống đường giao thông, hệ thống điện được quan tâm cải tạo và xây dựng mới, nhất là ở các LNTT; các hoạt động về dịch vụ, y tế, văn hóa, giáo dục được phát

Trang 35

triển Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, sức mua tăng lên, tạo thị trường cho công nghiệp và dịch vụ phát triển

Sự phát triển mạnh mẽ của LNTT hiện nay tự bản thân nó đòi hỏi phải có kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội đảm bảo Vì vậy, phát triển LNTT không chỉ tạo điều kiện mà còn là nhân tố kích thích sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao dân trí ở nông thôn, thúc đẩy xã hội nông thôn tiến lên văn minh hiện đại, thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

1.4.6 LNTT góp phần bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, của dân tộc

Lịch sử phát triển của LNTT gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân tộc Nó là nhân tố tạo nên nền văn hóa ấy, đồng thời là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc

Sản phẩm của LNTT là sự kết tinh của lao động vật chất và tinh thần Chính vì vậy, sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề Với những đặc điểm riêng biệt ấy chúng không còn là hàng hóa đơn thuần mà đã trở thành sản phẩm văn hóa có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản quý giá mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau

Trong giai đoạn hiện nay, nền sản xuất công nghiệp hiện đại phát triển mạnh

mẽ, các sản phẩm công nghiệp được sử dụng và tiêu thụ ở khắp nơi Tuy nhiên, các sản phẩm thủ công truyền thống với tính độc đáo và độ tinh xảo của nó vẫn rất cần thiết và có ý nghĩa đối với nhu cầu đời sống của con người Những sản phẩm này là

sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, là sự bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, tạo nên những thế

hệ nghệ nhân tài hoa với những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng Vì vậy, các LNTT với những bàn tay vàng của người thợ thủ công cần được tôn trọng, bảo tồn, bảo lưu và phát triển theo hướng hiện đại hóa Do đó, việc khôi phục và phát triển

Trang 36

các LNTT có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn các giá trị văn hóa của dân tộc

Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa

1.4.7 Đối với việc phát triển du lịch

Trong bối cảnh hiện nay, để theo kịp với guồng quay của nền kinh tế, các LNTT không chỉ thông qua chức năng vốn có để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng dân cư, mà hơn thế còn thông qua các giá trị văn hóa - khoa học - lịch sử được chứa đựng trong các sản phẩm của LNTT để thu hút khách tham quan trong

và ngoài nước đến với LNTT Khách tham quan bị hấp dẫn bởi những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo, mang đậm nét bản sắc tinh hoa của vùng, miền Họ muốn hiểu về các giá trị của làng nghề, xem lễ hội làng và trực tiếp mua sản phẩm của làng nghề…do đó nguồn thu nhập từ các làng nghề được nâng cao hơn, các giá trị của làng nghề được khách biết đến và quảng cáo truyền miệng, từ đó, sản phẩm của LNTT có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ của mình

Làng nghề truyền thống cũng góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, bởi

nó mang đầy đủ đặc điểm của một đối tượng tài nguyên nổi bật của ngành du lịch Xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch LNTT góp phần tăng cường khả năng lựa chọn của khách du lịch đối với các sản phẩm du lịch của Việt Nam nói chung và sản phẩm văn hóa của Hà Nội nói riêng; đồng thời tăng cường khả năng xây dựng các sản phẩm du lịch có tính khác biệt lớn giữa các điểm đến trong tour, tăng mức độ hấp dẫn và ấn tượng đối với du khách, đặc biệt là đối tượng khách du lịch quốc tế Tuy nhiên, cùng những lợi ích thiết thực mà LNTT đem lại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chúng ta cũng cần nhìn nhận những hạn chế cố hữu mà nó đem lại như vấn đề ô nhiễm môi trường, sức ỳ trong sản xuất và tư duy của người dân làng nghề Khi xem xét dưới góc độ ảnh hưởng đến môi trường, chúng ta nhận thấy hầu hết các hoạt động của LNTT diễn ra còn thiếu tính quy hoạch và không được quản lý chặt chẽ đã gây ra những tác hại không nhỏ tới môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người trực tiếp sản xuất và người dân xung quanh khu vực sản xuất Tùy theo tính chất của từng loại làng nghề mà các loại chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng khác nhau Ví dụ, ở làng nghề sản

Trang 37

xuất mặt hàng mây, tre đan Bình Minh, khi sấy nguyên liệu cần phải sử dụng hoá chất là bột lưu huỳnh Ước tính, mỗi tấn mây tre phải qua tất cả 5 lần sấy, tổng cộng

là hết 10kg lưu huỳnh, và ở Bình Minh hàng năm phải tiêu tốn 3,5 tấn lưu huỳnh [18] Tại một số làng nghề mộc nồng độ bụi đo được như sau: làng mộc Bích Chu (Vĩnh Phúc) trong khoảng 4,8 - 24,5 mg/m3, tại làng mộc Minh Tân (Vĩnh Phúc) trong khoảng 2,5 - 18,3 mg/m3, tại làng mộc khắc gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) trong khoảng 1,2 - 9,8 mg/m3, tại làng mộc Chàng Sơn (Hà Tây) là 4,7 - 8,3 mg/m3

[29]… Điều này gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người dân Tỷ lệ bệnh tật chung ở các làng nghề là 13 – 54%, trong khi các xã thuần nông, tỷ lệ này là 11% [79] Đồng thời, sự thích ứng của các LNTT trong cơ chế thị trường hiện nay còn nhiều hạn chế, yếu tố truyền thống và những kinh nghiệm chủ nghĩa vô hình chung

đã cản trở đến sự phát triển của LNTT, hơn nữa những quy định ngặt nghèo, hạn chế trong luật nghề, lệ làng lại làm cản trở không nhỏ tới việc mở rộng sản xuất,

kinh doanh của làng nghề Do đó, để LNTT phát triển theo hướng bền vững, phù

hợp với quá trình CNH – HĐH hiện nay thì các LNTT hoạt động cần tuân theo quy trình hợp lý và đảm bảo phát triển theo hướng bền vững sẽ góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường bởi một khi đã được đầu tư khai thác và phát triển thì người dân tại các làng nghề truyền thống sẽ có ý thức hơn trong vấn đề môi trường, đồng thời nâng cao trình độ cũng như năng lực kinh doanh cho các hộ sản xuất trong LNTT,

từ đó họ được trang bị những kiến thức công nghệ, kinh doanh cần thiết để hội nhập

với nền kinh tế thị trường hiện nay

Trang 38

điều này đã tạo nên sự khác biệt và độc đáo cho từng sản phẩm của các LNTT Có thể nói rằng, đầu tư cho phát triển làng nghề là hướng đi đúng của Đảng và Nhà nước, bởi LNTT vốn được coi là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại và là nấc thang quan trọng trong tiến trình CNH nông thôn nước ta Khi LNTT phát triển, kéo theo đó là những giá trị về kinh tế - văn hóa và xã hội mà nó đem lại: Cải thiện đời sống cho người dân và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hóa thành phần kinh tế, hạn chế di dân tự do, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Phát triển theo hướng bền vững là điểm mấu chốt để LNTT tồn tại và phát triển mạnh trong nền kinh tế hội nhập quốc

tế như hiện nay

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA LÀNG MỘC CHÀNG SƠN

TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI HIỆN NAY

2.1 Tổng quan về làng mộc Chàng Sơn

2.1.1 Lịch sử hình thành và tên gọi của làng Chàng Sơn

Chàng Sơn là một trong những xã có truyền thống văn vật từ rất lâu đời của

huyện Thạch Thất Thời điểm xuất hiện của làng Chàng từ bao giờ? Cho đến nay chưa có bất kỳ một tư liệu nghiên cứu thành văn nào nói về điều này, tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng tiếp cận và thu thập thông tin qua nguồn tư liệu dân gian, truyền miệng của các cụ cao tuổi trong làng Qua tìm hiểu ban đầu, chúng tôi được biết làng được hình thành vào khoảng những

năm đầu công nguyên Tên gọi “Chàng”10

ra đời cùng với quá trình lập làng, và được đặt tên gắn với vật dụng làm nghề mộc - cái Đục, cái Chàng - trong cuộc sống sản xuất, sinh hoạt hàng ngày Tên gọi dân gian này cho đến nay vẫn được sử dụng Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, tên làng ban đầu thường là những từ ngữ thuần Việt – đặc biệt với những làng hình thành từ sớm Qua quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ Hán sau này, tên làng đã được Hán hóa để thuận tiện cho việc quản lý của nhà nước trung ương cũng như phù hợp với tâm lý của người dân trong làng về một mỹ tự để gọi tên

Làng Chàng từ khi thành lập cho đến nay có nhiều tên gọi khác nhau Ban đầu

làng có tên là Chàng Đến thời Trần, làng lệ vào vùng đất có tên chung là Kẻ Nủa (hay còn gọi là tổng Nủa) Vùng Kẻ Nủa thời xưa rất rộng, bao gồm 05 xã đều có tên Nủa đứng đầu, đó là: Chàng Sơn (Nủa Chàng), Thạch Xá (Nủa Quạt), Hữu

10 Chàng ở đây viết là “CH” chứ không phải “TR” Đây là tên nôm Để giải thích thêm cho cách đặt tên này, các cụ phó mộc xưa có giải thích rằng: tên Chàng được đặt gắn với sự xuất hiện của nghề mộc của làng, dẫn chứng liên quan đến giả thiết về cụ Phó Sần đưa đoàn thợ mộc của làng lên núi Ba Vì làm đền, đài cho thánh Tản Viên, xem thêm [40, tr 34 –

tr 37], [44, tr 31 – tr 33]

Trang 40

Bằng (Nủa Chợ, Nủa Dệt), Bình Phú, Phùng Xá (Nủa Bừa, Nủa Lượt), dân gian có

Nủa Chàng, thợ mộc nổi tiếng xây Đền đệ nhất Tứ bất tử Việt Nam trên đỉnh Non

Tản […] và cũng là xứ sở của quạt Chàng, quạt lượt lừng danh…” [86, tr.91]

Tìm hiểu về cấu trúc tên làng Việt cổ ở vùng châu thổ Bắc Bộ, có rất nhiều

làng có từ tố kẻ, và Kẻ Nủa cũng không nằm ngoài cấu trúc đó Để tìm hiểu rõ hơn

về vấn đề này, chúng tôi đã liên hệ tới một số nghiên cứu trước đây tìm hiểu về tên

làng có từ tố kẻ đứng trước và tên làng có một âm tiết trước khi bị Hán hóa thành đa

(hai) âm tiết Theo nghiên cứu của Nguyễn Kiên Trường: “Có thể nói, ở khắp vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nếu bóc tách các địa danh chồng xếp lên nhau qua các thời kỳ, tìm hiểu những tên dân gian, tên Nôm của làng xã cổ

truyền, chúng ta sẽ gặp những làng có từ Kẻ đứng đầu tên riêng theo mô hình kẻ

+X, trong đó X mới thực sự là tên riêng chỉ đặc điểm cơ bản nào đó của làng xã

(như địa danh, cảnh quan, nghề cổ truyền, nhất là chỉ nơi trao đổi hàng hóa như chợ, quán…)” [75, tr.102] Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng, sự có mặt của từ tố kẻ

và tên làng một âm tiết cho biết làng đó được hình thành từ rất sớm Vì trước khi có tên ghi âm Hán – Việt, làng của người Việt thường là những từ thuần Việt (tên Nôm hoặc tên tục): “Tên Nôm làng xã nói chung thường ra đời trước tên Hán – Việt, vì thế đến thế kỷ thứ X và cả sau này, chữ viết thông dụng trong văn bản nhà nước phong kiến là chữ Hán, tên làng xã được ghi bằng ký hiệu Hán để quản lý, mà làng Việt không phải đến lúc đó mới hình thành, trên con đường chiếm lĩnh và làm chủ đồng bằng, người Việt cổ đã lập ra đơn vị cư trú của mình và tất yếu phải đặt tên để gọi” [78, tr 51]

Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tá Nhí cũng chỉ ra rằng: “Các làng của người Việt xuất hiện từ rất sớm, dĩ nhiên là mỗi làng phải có tên gọi riêng để phân

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm