Nghiên cứu về bản đồ Thăng Long - Hà Nội, trừ một số bài viết có tính chất giới thiệu thì luận văn Bản đồ Hồng Đức của Lê Thước Nghiên cứu lịch sử, số 9.1963 đã mở đầu cho các nghiên cứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
- - -
TỐNG VĂN LỢI
HỆ THỐNG BẢN ĐỒ THĂNG LONG - HÀ NỘI THẾ KỶ XV - XIX
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 60 31 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
- - -
TỐNG VĂN LỢI
HỆ THỐNG BẢN ĐỒ THĂNG LONG - HÀ NỘI THẾ KỶ XV - XIX
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 60 31 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TS PHAN PHƯƠNG THẢO
HÀ NỘI - 2009
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và một số khái niệm 6
Đối tượng nghiên cứu 6
Phạm vi nghiên cứu
Một số khái niệm
6 7 5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Nguồn tư liệu 8
7 Đóng góp của luận văn 9
8 Cấu trúc của luận văn 10
CHƯƠNG 1: SƯU TẬP BẢN ĐỒ THĂNG LONG - HÀ NỘI THẾ KỶ XV - XIX
11 1.1 1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên và bối cảnh lịch sử đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX
11 1.1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên 11
Điều kiện tự nhiên 11
Tác động của các yếu tố sông hồ đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội 15
1.1.2 Tác động của bối cảnh lịch sử 22
1.2 Sưu tập bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX 28
1.2.1 Bản đồ Hồng Đức 28
Sưu tập bản đồ Hồng Đức 28
Thông tin từ chú thích trên bản đồ Hồng Đức 32
1.2.2 Bản đồ Hà Nội thế kỷ XIX 35
Bản đồ Hà Nội do người Việt Nam vẽ 35
Bản đồ Hà Nội cuối thế kỷ XIX do người Pháp lập 38
Trang 41.3 Tiểu kết 42
CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO THÀNH THỊ THĂNG LONG THẾ KỶ XV - XVIII QUA “HỒNG ĐỨC BẢN ĐỒ”
44 2.1 Diện mạo thành - lũy qua “Hồng Đức bản đồ” 44
2.1.1 Thành Đại La 44
2.1.2 Hoàng thành 49
Hoàng thành qua hai đợt xây dựng lớn năm 1490 và 1516 50
Khu vực phía tây Cấm thành 54
Khu vực phía nam Cấm thành: Đông Trường An - Tây Trường An 63
Khu vực phía đông Cấm thành: Đông cung và Thái miếu 63
Các cửa Hoàng thành 64
Phủ chúa Trịnh 67
Về hai bức tường phía bắc của Hoàng thành 71
2.1.3 Cấm thành 74
2.2 Diện mạo “thị” qua “Hồng Đức bản đồ” 79
2.3 Tiểu kết 85
CHƯƠNG 3: DIỆN MẠO THÀNH THỊ THĂNG LONG - HÀ NỘI QUA HỆ THỐNG BẢN ĐỒ THẾ KỶ XIX 88
3.1 Thành Hà Nội thời Nguyễn 88
3.2 Diện mạo đô thị Thăng Long - Hà Nội cuối thế kỷ XIX 99
3.2.1 Những yếu tố châu Âu ở Hà Nội cuối thế kỷ XIX 99
3.2.2 Quy hoạch Hà Nội cuối XIX qua bản đồ Pháp 103
Bản đồ Hà Nội 1873 của Phạm Đình Bách 103
Bản đồ Thành phố Hà Nội 1885 105
Bản đồ Hà Nội 1890 107
Bản đồ Hà Nội 1894 111
Bản đồ Hà Nội 1898 112
Bản đồ Hà Nội 1899 114
Trang 53.2.3 Sự thay đổi cảnh quan đô thị 20 năm cuối thế kỷ XIX 120
Sự thay đổi cảnh quan tự nhiên 120
Khu vực phố cổ và làng xã ven đô 122
3.3 Tiểu kết 127
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC 1: SƯU TẬP BẢN ĐỒ THẾ KỶ XV - XIX
PHỤ LỤC 2: SO SÁNH THÔNG TIN TRÊN BẢN ĐỒ HỒNG ĐỨC
145 194 PHỤ LỤC 3: BIÊN NIÊN SỰ KIỆN 199
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC BIỂU, BẢNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
1 Biểu đồ 1 Tổng quan các lĩnh vực nghiên cứu về Hà Nội 2
2 Biểu đồ 2 Tần số xuất hiện các chú thích trên 11 bản đồ 33
Trang 8
Gần 1000 năm giữ vị trí trung tâm đất nước, Thăng Long - Hà Nội trở thành một trong những thủ đô có lịch sử lâu đời nhất ở khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế
giới Với vị thế “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam
bắc đông tây”, vùng đất “rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh”, Thăng Long - Hà Nội đã và đang là nơi hội tụ và tỏa sáng tinh
hoa đất nước, khí thiêng sông núi Qua bao thăng trầm biến thiên của lịch sử, thành phố
rồng bay không ngừng phát triển nhằm khẳng định vị thế “thắng địa”, “tụ hội quan yếu
của bốn phương” để trở thành “nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” [63, 241]
Tìm hiểu về lịch sử Thăng Long - Hà Nội, có nhiều nguồn tư liệu được sử dụng, trong đó bản đồ cổ có ý nghĩa quan trọng Đây là nguồn tư liệu có giá trị nghiên cứu về nhiều phương diện, một cơ sở xây dựng hệ thống bản đồ Hà Nội qua các thời kỳ Thông tin từ bản đồ cổ cho phép xác định cấu trúc của hệ thống thành luỹ, các công trình kiến trúc Tuy nhiên, bản đồ cổ nói chung, bản đồ Thăng Long - Hà Nội nói riêng đến trước thế kỷ XIX được vẽ rất ước lệ nên chỉ có thể đem đến một hình dung tương đối về khu vực được mô tả
Bản đồ Thăng Long trước thế kỷ XV hiện nay không còn Chúng ta chỉ có những bản đồ “Hồng Đức” được biên tập, sao chép trong các thế kỷ XVII, XVIII, đầu XIX trên cơ sở các bản đồ được thiết lập dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497) Đó là những bản đồ xưa nhất về Thăng Long
Thế kỷ XIX, chúng ta có nhiều bản đồ Thăng Long - Hà Nội hơn Bản đồ thời
Nguyễn do người Việt Nam vẽ có hai loại: một theo họa pháp hiện đại (như Bản đồ Hà
Nội 1873 của Phạm Đình Bách); một còn ước lệ (như bản đồ Hà Nội đầu thế kỷ XIX, Hoài Đức phủ toàn đồ năm 1831 do Lê Đức Lộc, Nguyễn Công Tiến1, bản đồ Đồng Khánh… Bản đồ cuối thế kỷ XIX do người Pháp vẽ có theo phương pháp hiện đại có
số lượng khá phong phú
1 Hoài Đức phủ toàn đồ hiện nay chưa tìm thấy nguyên bản Bản đồ chúng ta vẫn sử dụng, thậm chí lưu tại Viện
Thông tin Khoa học xã hội là bản đồ được Trần Huy Bá vẽ lại theo tỷ lệ hiện đại vào năm 1956
Trang 9Sưu tập bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX có thể góp phần nhận diện hình ảnh kinh đô thời phong kiến trước khi có những biến chuyển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX Vì thế, tôi lựa chọn vấn đề HỆ THỐNG BẢN ĐỒ THĂNG LONG -
HÀ NỘI THẾ KỶ XV - XIX làm đề tài luận văn Thông qua hệ thống bản đồ, luận văn
đi sâu tìm hiểu Thăng Long - Hà Nội trước khi được quy hoạch để trở thành đô thị hiện đại kiểu phương Tây
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dưới thời phong kiến, các triều đại Lý, Trần, Lê đã xây dựng hàng trăm cung điện lớn nhỏ, nhiều lần mở rộng, thu hẹp, gia cố để thành Thăng Long - Hà Nội thêm kiên cố và vững bền Thế nhưng, những thăng trầm của lịch sử cùng sự đổi thay vương triều, chiến tranh đã làm cho những cung điện, đền đài, lầu gác, thành lũy bị san bằng gần như không còn lại dấu vết gì trên mặt đất Đó là một thực tế khó khăn cho các nhà nghiên cứu Song, dường như vì thế mà Thăng Long - Hà Nội càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Hàng nghìn công trình, bài viết được công bố đã thể hiện sự lôi cuốn mạnh mẽ của chủ đề này
Năm 2008, Đề tài “Điều tra, sưu tầm tư liệu” thuộc Dự án “Điều tra, sưu tầm, biên soạn và xuất bản tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến”1 đã tập hợp được 5.426 công trình nghiên cứu, bài viết về Thăng Long - Hà Nội, về mọi lĩnh vực, từ lịch sử (21%), di tích lịch sử (15%), văn hóa (14%)…
Biểu đồ 1: Tổng quan các lĩnh vực nghiên cứu về Hà Nội
Y tế Giáo dục Văn học, ngôn ngữ Nghệ thuật
Tôn giáo tín ngưỡng Nhân vật
Di tích lịch sử Văn hóa
Trang 10Vấn đề vị trí, quy mô, kích thước, phạm vi của các tòa thành trên đất Thăng Long - Hà Nội được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều ý kiến tranh luận, thậm chí trái ngược nhau Có quan điểm cho rằng Hoàng thành Thăng Long nằm dịch
về khu vực phía tây của vườn Bách Thảo (Trần Huy Bá, Hoàng Đạo Thúy) Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng Hoàng thành Thăng Long nằm ở phía đông, trong phạm vi thành Hà Nội thời Nguyễn (Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán, Phan Huy Lê) Nếu như vòng thành Đại La ngoài cùng của kinh thành Thăng Long đã đạt được sự thống nhất tương đối của các nhà Hà Nội học thì phạm vi, giới hạn của Cấm thành, đặc biệt là Hoàng thành Thăng Long vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ
Người đầu tiên sử dụng bản đồ Hồng Đức để kiến giải vị trí Hoàng thành Thăng Long là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) Dựa vào “đồ bản thành Thăng Long đời Hồng Đức” (tức bản đồ Hồng Đức), tác giả cho biết “thành này (tức Hoàng thành - TVL) hình như thước thợ mộc” Những kiến giải của Nguyễn Văn Siêu về vị trí Hoàng thành Thăng Long, Cung thành vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay [76, 177]
Nghiên cứu về bản đồ Thăng Long - Hà Nội, trừ một số bài viết có tính chất giới
thiệu thì luận văn Bản đồ Hồng Đức của Lê Thước (Nghiên cứu lịch sử, số 9.1963) đã
mở đầu cho các nghiên cứu về bản đồ cổ Năm 1962, tập sách Hồng Đức bản đồ được
Bửu Cầm, Đỗ Văn Anh, Phạm Văn Thúy, Tạ Quang Phát, Trương Bửu Lâm dịch và xuất bản dựa trên văn bản lưu giữ tại Đông Dương văn khố (Tokyo Bunko, Nhật Bản)1 Điểm mạnh của công trình là dịch, chú thích nguyên bản nhưng công tác giám định văn bản chưa được quan tâm thỏa đáng
Thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tác giả Bùi Thiết đã lần lượt cho công bố các luận
văn: Về các tấm bản đồ thành Thăng Long đời Lê (thế kỷ XV) (Tạp chí KCH, số 3.1981); Thêm một số bản đồ Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV - XVIII) (Tạp chí KCH,
số 1.1982); Sắp xếp các thế hệ bản đồ hiện biết thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV -
XVIII) (Tạp chí KCH, số 4.1984); Phát hiện hàng loạt bản đồ Thăng Long thời Lê (Tạp
chí Thông tin Khoa học xã hội, số 10.1984) Bằng những phân tích của mình, tác giả
“bước đầu thử chỉ định vị trí của tòa thành Thăng Long (tức Hoàng thành, vòng thành thứ hai) như sau, so với địa danh hiện nay:
- Phía đông, tường thành nằm vào khoảng từ giữa phố Lý Nam Đế và đường Hoàng Diệu (tức là phạm vi thành Hà Nội thời Nguyễn)
Trang 11- Phía tây, lấy Hồ Khẩu làm điểm mốc, từ đó vạch đường thẳng theo trục bắc nam, thì đó là phía tây Hoàng thành; tức là nó bao gồm cả đất các làng Ngọc Hà, Đại Yên, Hữu Tiệp cũ
- Phía bắc không quá sông Tô Lịch
- Phía nam, nếu lấy bến ô tô Kim Mã làm mốc, vạch đường thẳng theo hai phía đông tây thì có thể đó là tường thành phía nam Hoàng thành” [195, 70] Bản đồ A.2531 được tác giả cho là gần nhất với bản đồ biên soạn năm 1490 [197]
Năm 1986, tác giả Phạm Hân có bài Suy nghĩ sơ bộ về bộ Bản đồ Hồng Đức qua
tấm bản đồ kinh thành Thăng Long đã giới thiệu các văn bản: Hồng Đức bản đồ
(A.2499, VHt.41), An Nam quốc Trung đô tính thập tam tuyên hình thế đồ họa (A.2531), An Nam hình thắng đồ (A.3034), Thiên Nam lộ đồ (A.1081), Nam Việt bản
đồ (A.1063), Giao châu dư địa chí (VHt.30), Thiên tải nhàn đàm (A.584), Thiên hạ bản
đồ tổng mục lục đại toàn (A.1362) Tác giả nhận thấy “bản đồ kinh thành Thăng Long được thể hiện trong 10 cuốn sách nói trên giống nhau về địa hình, địa vật… Song những chi tiết thể hiện sự cấu trúc của Hoàng thành có khác nhau” Tác giả đi đến nhận định bản A.2499 “chính xác hơn cả… thể hiện rõ nét quần thể kiến trúc cung điện trong Cấm thành mà ngày nay trên thực địa vết tích những công trình chủ yếu vẫn còn Chỉ có bản đồ đó mới cung cấp cho ta nguồn thông tin tương đối đầy đủ để tìm hiểu vị
trí thành Thăng Long” [140, 60, 64]
Những kết quả khai quật khảo cổ học ở Hà Nội từ năm 2002 đã thúc đẩy mạnh
mẽ hoạt động nghiên cứu về Hà Nội Nhiều nguồn tư liệu mới, khám phá mới, quan điểm mới được chia sẻ, thảo luận Tại Hội thảo về Hoàng thành Thăng Long năm 2004,
tác giả Ngô Đức Thọ trình bày tham luận Thăng Long qua tư liệu các bản đồ cổ phân
tích về bản đồ Hồng Đức Theo đó, tác giả phân chia 11 tấm bản đồ Hồng Đức thành hai nhóm: Nhóm 1 (có vẽ bức tường ốp) gồm các bản đồ A 2499; VHt.41; A.3034; A.2531; A.2006; A.1081 và A.1603; Nhóm 2 (không vẽ tường ốp) gồm có các bản đồ A.2716; A.73; VHt.30 và A.1362 Tác giả cũng khẳng định các bản đồ Thăng Long dù biên vẽ trong nhiều thời kỳ khác nhau song tất cả đều là những truyền bản từ một bản
đồ thời Hồng Đức [201]
Những bài viết về bản đồ Hồng Đức đã đặt lại vấn đề là sử dụng nguồn tư liệu bản đồ trong nghiên cứu lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đặc biệt là quy mô, cấu trúc, giới hạn của các vòng thành lũy trên đất Hà Nội như thế nào cho đúng Qua đó, bản đồ Hồng Đức nói riêng, các bản đồ Thăng Long - Hà Nội nói chung đã được chú ý nghiên cứu, tìm hiểu Tuy nhiên, những luận văn đó vẫn chưa tìm được câu trả lời thống nhất cho câu hỏi: đâu là bản gần nhất với nguyên bản được ban hành năm 1490?
Trang 12Cuộc triển lãm “Chu trình phát triển 100 năm” tổ chức tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám tháng 11.2002 đã giới thiệu bộ sưu tập 78 bản đồ Hà Nội qua các thời kỳ do các
nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu kiến trúc, đô thị và xã hội Paris (IPRAUS) tuyển
chọn trong số các tài liệu lưu trữ của Pháp Ngoài một số bản đồ có niên đại từ giữa thế
kỷ XIX thì phần lớn bản đồ (72 văn bản) là bản đồ do người Pháp lập từ năm 1882 đến
1954 Lần đầu tiên, một hệ thống bản đồ Hà Nội thời thuộc địa được giới thiệu gần như đầy đủ đã cho thấy vai trò của bản đồ trong nghiên cứu Hà Nội Thành công của cuộc
triển lãm được giới thiệu trong cuốn sách: Hà Nội - chu kỳ của những đổi thay, hình
thái kiến trúc và đô thị1 Gần đây nhất, cuốn sách Bản đồ cổ Hà Nội và vùng phụ cận
được xuất bản là sản phẩm của cuộc triển lãm cùng tên do Trung tâm văn hóa Pháp tại
Hà Nội (l’Espace) và Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp tổ chức2 Đáng chú ý
trong sưu tập này là bản đồ Thọ Xương Vĩnh Thuận nhị huyện đồ mô tả vùng nội thành
Hà Nội hiện nay 34 bản đồ khác được vẽ theo tỷ lệ bản đồ học hiện đại, bắt đầu từ bản
đồ Hà Nội 1873 của Phạm Đình Bách và kết thúc bằng bản đồ Nội thành Hà Nội (bản
đồ chỉ dẫn tên phố) do Viện Quy hoạch đô thị Hà Nội vẽ, Ban Địa chính trực thuộc
Văn phòng Thủ tướng xuất bản năm 1965 Điểm mới của công trình đã giới thiệu thêm
17 bản đồ mới so với 78 bản đồ giới thiệu trước đó Do vậy, gần 100 bản đồ Hà Nội, phần lớn là bản đồ thời thuộc địa, được giới thiệu và công bố
Tựu trung lại, nhìn một cách tổng thể thì Hà Nội học đã đạt được những thành tựu lớn Tuy nhiên, nhìn ở hướng nghiên cứu bản đồ thì vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là chưa đánh giá đúng mức những thông tin mà bản đồ mang lại Những hạn chế đó, một phần do khó khăn trong công tác giám định văn bản, đặc biệt đối với các bản đồ Hồng Đức, mặt khác, những bản đồ hiện đại do người Pháp lập thì mới chỉ được giới thiệu, triển lãm mà chưa được khai thác nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ những thông tin lịch sử trên hệ thống bản đồ Thăng Long -
Trang 13- Trên cơ sở tham chiếu giữa các bản đồ với thông tin từ các nguồn tư liệu khác, khôi phục diện mạo của kinh thành Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và một số khái niệm
Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn lấy tư liệu bản đồ cổ về Thăng Long - Hà Nội làm đối tượng nghiên cứu chính Bản đồ được đối chiếu, so sánh để tìm ra những nét tương đồng, dị biệt trong cách thể hiện hình ảnh Thăng Long - Hà Nội Những nguồn tư liệu đương thời,
đặc biệt là chính sử, tư liệu ghi chép của người phương Tây được dẫn dụng nhằm làm
rõ hơn những chi tiết mà bản đồ thể hiện Ở đây cần làm rõ hai đối tượng nghiên cứu là
bản đồ và nội dung mà bản đồ thể hiện Đối tượng nghiên cứu là bản đồ nhưng nội dung bản đồ thể hiện là không gian địa lý, lịch sử, chính trị, văn hóa Thăng Long - Hà
Nội nên đối tượng nghiên cứu của đề tài có chức năng kép, tức là bản thân bản đồ và
nội dung mà bản đồ thể hiện Đối tượng nghiên cứu thông qua bản đồ là Thăng Long -
Hà Nội Là một đô thị, Thăng Long - Hà Nội, từ trong lịch sử đến ngày nay, mang những đặc trưng chung của đô thị Việt Nam: cùng tính chất của đô thị phương Đông thời trung đại, cùng tính chất của đô thị chuyển đổi sang mô hình phương Tây thời cận đại Nhưng Thăng Long - Hà Nội khác với nhiều đô thị Việt Nam, mà điểm khác biệt lớn nhất, trở thành xuất phát điểm cho những khác biệt khác, là vai trò trung tâm chính trị, hành chính quốc gia của đô thị này Đây chính là nét riêng biệt làm nên đặc tính của Thăng Long - Hà Nội với tư cách một không gian địa lý - lịch sử - trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, xã hội và văn hóa
Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn thời gian nghiên cứu
- Giới hạn đầu: Thế kỷ XV Đây là mốc thời gian xuất hiện và còn lưu giữ được những hình ảnh của bản đồ Hồng Đức
- Giới hạn cuối: thế kỷ XIX Đây là khoảng thời gian hình ảnh Thăng Long - Hà Nội được thể hiện là đô thị cổ truyền mang phong cách phương Đông (ở một chừng mực nào đó, phong cách phương Đông thể hiện bởi sự gắn kết giữa thành quan liêu và thị kinh tế, dân gian, sự khác biệt về cơ sở hạ tầng, dịch vụ giữa đô thị hiện đại và đô thị truyền thống ) Các bản đồ từ cuối thế kỷ XIX trở đi đã thể hiện những dấu ấn đô thị mới do người Pháp quy hoạch, tái thiết và xây dựng Giới hạn thế kỷ XV - XIX sẽ
đặc tả đô thị Thăng Long - Hà Nội với những nét đặc trưng riêng biệt của nó, kiểu
truyền thống phương Đông, tái thiết theo phong cách của đô thị phương Tây mà những
bản đồ trong khung thời gian này thể hiện
Trang 14Giới hạn không gian nghiên cứu
Đặc thù của Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX thể hiện hình ảnh đô thị mà phạm vi của nó tương ứng với các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ ngày nay, với trung tâm là các quận Hoàn Kiếm (khu kinh tế thương nghiệp),
Ba Đình (trung tâm chính trị, hành chính, quân sự)
Một số khái niệm
Về tên gọi Thăng Long, Trung Đô, Phụng Thiên, Kẻ Chợ:
Thăng Long là tên gọi được ra đời vào năm 1010 khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa
Lư về vùng đất Hà Nội ngày nay Mang ý nghĩa biểu tượng là Rồng Bay, Thăng Long
là tên gọi xuyên suốt trong lịch sử hình thành và phát triển của kinh đô nước Đại Việt thời phong kiến Trung Đô là tên gọi xuất hiện năm 1462, Phụng Thiên là tên gọi xuất hiện năm 1469 Hai tên gọi Trung Đô, Phụng Thiên tồn tại trong suốt thế kỷ XV đến XVIII Thăng Long, Trung Đô, Phụng Thiên là những tên gọi chính thức của nhà nước dùng để gọi kinh đô của quốc gia Đại Việt
Tên gọi Kẻ Chợ là tên gọi dân gian được Alexandre De Rhodes giải thích là
“Kinh đô xứ Đông Kinh”, “Những người ở trong chợ, nghĩa là những người ở kinh đô Đông Kinh” nhằm phân biệt với người ở Kẻ quê, Kẻ mùa [100a, 60, 123] Tên gọi Kẻ Chợ rất phổ biến trong các ghi chép, du ký của người phương Tây
Tên gọi Hà Nội chính thức xuất hiện vào năm 1831 do cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mệnh, và tiếp tục được giữ nguyên cho đến ngày nay
Các tên gọi Thăng Long, Trung Đô, Phụng Thiên, Kẻ Chợ, Hà Nội được sử dụng trong luận văn đều dùng dể chỉ vị trí kinh đô của quốc gia Đại Việt, thủ phủ của liên bang Đông Dương thời cận đại
Về thuật ngữ Kinh đô, thành thị, đô thị
Theo giải thích của Alexandre De Rhodes thì Kinh đô, kinh kỳ là “thủ đô xứ Đông Kinh” [100a, 130] Thành thị là khái niệm xuất hiện sớm, phổ biến ở phương Tây dùng để chỉ một trung tâm chính trị - hành chính, một trung tâm kinh tế hoặc cả hai Trong luận văn, khái niệm thành thị được sử dụng tương đương với khái niệm đô thị, kinh đô Tuy nhiên, khi nghiên cứu bản đồ, chúng tôi sử dụng khái niệm thành thị với hai ý nghĩa: Thành là “thành phố có xây tường” [100a, 217] với ý nghĩa các lớp thành - lũy vật chất được xây bằng gạch đá hoặc đắp bằng đất dùng để bảo vệ cho bộ máy trung ương phong kiến; Thị là “chợ” theo cách giải thích của Alexandre De Rhodes với ý nghĩa là khu vực buôn bán, kinh tế công thương nghiệp của Thăng Long -
Trang 15Hà Nội Đô thị là là khái niệm chỉ không gian cư trú và hoạt động của cộng đồng cư dân phi nông nghiệp, là trung tâm của một vùng lãnh thổ, của một đơn vị hành chính - lãnh thổ hoặc của đất nước Ngày nay, khái niệm đô thị được dùng ở nhiều cấp độ khác
nhau, có thể là vùng đô thị, đơn vị hành chính - lãnh thổ đô thị hoặc chức năng đô thị
Thuật ngữ đô thị được dùng phổ biến trong chương 3 của luận văn dùng để chỉ một trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội mới được quy hoạch và xây dựng dưới ảnh hưởng của người Pháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Bản đồ Thăng Long - Hà Nội là nguồn tài liệu hình ảnh quan trọng trong việc nghiên cứu đô thị Khi sử dụng chúng nhằm mục đích khôi phục lại diện mạo Thăng Long - Hà Nội, tức là chúng ta đã trực tiếp sử dụng bản đồ với vai trò là nguồn sử liệu Chính vì thế việc phân tích bản đồ là một trong những cách tiếp cận mang tính phương pháp luận để tìm hiểu hình ảnh đô thị trong quá khứ
Phương pháp khu vực học được sử dụng trong luận văn nhằm nghiên cứu những đặc trưng mang tính tổng thể của khu vực Khu vực nghiên cứu là sự tổng hợp của các yếu tố: địa lý, con người, không gian chính trị - văn hóa - lịch sử, nhận thức rõ ràng những đặc thù có tính chất khác biệt/đặc biệt của Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử cũng như hiện nay
Tìm hiểu Thăng Long - Hà Nội, một thành thị/đô thị tiêu biểu nhất thời phong kiến và cận đại nên phương pháp nghiên cứu đô thị được ứng dụng một cách triệt để
Đó là phương pháp phân tích cấu trúc đô thị, tổ chức không gian đô thị, thiết lập các trung tâm phát triển của Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử
Phương pháp phân tích, đối chiếu tư liệu, so sánh bản đồ
Phương pháp mô tả lịch sử để phục dựng hình ảnh Thăng Long - Hà Nội
Phương pháp chồng xếp bản đồ nhằm xác định ranh giới không gian nghiên cứu Phương pháp liên ngành trong luận văn sẽ được thể hiện trong từng lĩnh vực cụ thể Lấy Thăng Long - Hà Nội là khu vực nghiên cứu, kỹ năng nghiên cứu trên thực địa hay nghiên cứu điền dã (field research, field work) phải được tiến hành như một yêu cầu bắt buộc trong nghiên cứu khu vực Đây không chỉ là kỹ năng/phương pháp
mà còn là sự đối chiếu, kiểm chứng giữa văn bản và thực địa
6 Nguồn tư liệu
Đề tài sử dụng bốn nguồn tư liệu chính là bản đồ, tư liệu chữ Hán, tư liệu chữ phương Tây, tư liệu thực địa
Trang 16Nguồn tư liệu quan trọng nhất, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là bản đồ Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử
Bổ sung, đối chiếu với nguồn tư liệu bản đồ là tư liệu từ chính sử, quan trọng
nhất là Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên, Đại Nam thực lục… Đây là các
nguồn tư liệu có tính chất chính thống, gần gũi về niên đại với tư liệu bản đồ sử dụng trong luận văn Ngoài ra, các bộ chính sử được ghi chép muộn hơn cũng được sử dụng, phục vụ cho nghiên cứu sau khi đã đối chiếu, so sánh
Những ghi chép bằng chữ Hán của cá nhân, du ký, địa phương chí về Thăng Long - Hà Nội, văn bia bổ sung thông tin cho các bộ chính sử do không bị hạn chế bởi tính chính thống của “quốc sử”
Nguồn tư liệu thứ ba là tư liệu chữ phương Tây hết sức phong phú Đó là những
du ký của giáo sĩ, thương nhân phương Tây từng đến Thăng Long - Kẻ Chợ trong các thế kỷ XVII, XVIII Thế kỷ XIX, Hà Nội được phản ánh đa chiều bởi thư từ, ghi chép của những người lính viễn chinh có trình độ trong đội quân xâm lược Pháp, của những nhà báo, phóng viên, những quan chức cai trị cao cấp người Pháp ở Hà Nội
Nguồn tư liệu thứ tư là các tài liệu thu thập trong quá trình khảo sát, điền dã thực địa Đó là địa danh, truyền thuyết, ký ức dân gian Khi sử dụng nguồn tư liệu này, chúng tôi phải tiến hành so sánh, đối chiếu cẩn thận để kiểm tra các dẫn chứng
Ngoài ra, luận văn còn tham khảo, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội
7 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống, nghiên cứu những bản đồ Thăng Long - Hà Nội
- Phân tích hình ảnh thành thị/đô thị Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử qua nguồn tư liệu bản đồ
- Làm rõ những thông tin bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX thể hiện
- Phân tích, làm rõ cấu trúc, tổ chức không gian thành thị/đô thị Thăng Long -
Hà Nội trong lịch sử Đây là khái niệm chưa xuất hiện trong ý thức của những nhà hoạch định thành thị thời phong kiến, nó chỉ xuất hiện khi các khái niệm “đô thị học”,
“đô thị hóa” ra đời từ cuối thế kỷ XIX Thế nhưng, tổ chức không gian của thành thị
Thăng Long - Hà Nội thời phong kiến trước hết phải được nhìn nhận nó là một trung
tâm quyền lực tuyệt đối, là khu vực “bất khả xâm phạm” đối với mọi tầng lớp dân cư
Cái nhân lõi đầu tiên, quan trọng nhất, ấn tượng nhất chính là sự hiện diện của các tòa thành lũy chuyên chế đặc biệt, duy nhất chỉ có ở Thăng Long - Hà Nội mà không có ở
Trang 17bất cứ địa phương nào khác Do đó, nghiên cứu bản đồ Hà Nội cổ phải thấy được cấu trúc đặc thù này Dựa trên ý nghĩa đó, đề tài tập trung làm rõ cấu trúc không gian, tức
là các hình thức không gian quyền lực, thể hiện ý chí của một cá nhân, một nhóm người trong hoạch định xu hướng phát triển của thành phố
- Đề tài phân tích chức năng của các công trình kiến trúc đối với sự phát triển
của thành thị, góp phần tạo nên tính biểu tượng của khu vực nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn tập trung vào
ba chương:
Chương 1: Sưu tập bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX
Chương 2: Diện mạo thành thị Thăng Long thế kỷ XV - XVIII qua “Hồng Đức bản đồ”
Chương 3: Diện mạo thành thị Thăng Long - Hà Nội qua hệ thống bản đồ thế kỷ XIX
*
* * Trong quá trình thực hiện luận văn, với trách nhiệm và tình cảm, PGS.TS Vũ Văn Quân, TS Phan Phương Thảo đã dành cho tôi những ưu ái đặc biệt PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ đã dành thời gian góp ý cho những luận điểm trong luận văn Tôi xin cảm ơn
sự quan tâm của thầy cô dành cho tôi, trong công việc cũng như trong cuộc sống
Luận văn được hoàn thành dưới sự động viên, khích lệ của người thân trong gia đình, bạn bè Ở đây, tôi bày tỏ sự biết ơn chân thành với những tình cảm mọi người dành cho tôi
Tôi cũng muốn nói lời cám ơn chân thành đến Ban Lãnh đạo Viện Việt Nam học
và Khoa học phát triển, các phòng ban, anh chị em trong Viện, vừa là cơ sở đào tạo, vừa
là nơi tôi công tác đã tạo điều kiện, động viên, nhắc nhở tôi hoàn thành công việc
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng những vấn đề trình bày trong luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến phản hồi để luận văn có thể hoàn thiện tốt hơn
Chân thành cám ơn!
Trang 18CHƯƠNG 1
SƯU TẬP BẢN ĐỒ THĂNG LONG - HÀ NỘI THẾ KỶ XV - XIX
Bản đồ là hình thức thể hiện không gian có tính chất địa lý thuần túy nhưng khi
sử dụng làm sử liệu thì bản thân nó và những thông tin, hình ảnh thể hiện cũng được nghiên cứu Nhìn nhận không gian địa lý mà bản đồ thể hiện trên các yếu tố điều kiện
tự nhiên, tác động của các hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử là điều cần thiết Với chức năng kép, khu vực nghiên cứu là Thăng Long - Hà Nội được thể hiện trên bản đồ phải được xem xét trên nhiều góc độ để thấy được mối quan hệ khăng khít giữa tự
nhiên và con người
1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên và bối cảnh lịch sử đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX
1.1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội trước khi được mở rộng nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, có giới hạn tọa độ địa lý1:
20053’23” - 21023’00” độ vĩ Bắc
105043’40” - 106003’30” độ kinh Đông
Khu vực nội thành gồm các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống
Đa, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Tây Hồ, Hoàng Mai, Long Biên với 128 phường, diện tích 89,7km2
Nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, đặc trưng của khí hậu Hà Nội là nhiệt đới
ẩm gió mùa Lượng mưa trung bình năm đạt 1.676,2 mm Các tháng có lượng mưa trung bình cao là tháng VII và VIII Mùa khô lượng mưa thấp và không ổn định qua các năm Nhiệt độ trung bình năm của Hà Nội là 23oC, nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng VII) là 29,3oC, tháng lạnh nhất (tháng I) là 16,0oC Như vậy, biên độ dao động nhiệt
1 Theo bản đồ địa hình và hành chính, tỉ lệ xích 1/100.000, tờ Hà Nội kí hiệu 48.104 và tờ Hà Đông kí hiệu 48.116, in năm 1991 của Cục Bản đồ - Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trang 19F-trong năm là 12,5oC Cũng như nhiều nơi khác thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, Hà Nội chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa
Trong phạm vi lãnh thổ Hà Nội, mạng lưới dòng chảy tự nhiên khá dày đặc, mật
độ khoảng 0,5-1,0km/km2 Lớn nhất là sông Hồng với 93km chảy qua địa bàn Trong phạm vi nội thành Hà Nội còn có các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét Ngoài ra, ở
Hà Nội còn có rất nhiều hồ, đầm vừa tự nhiên vừa nhân tạo Đó là các hồ Hoàn Kiếm, Bảy Mẫu, Thiền Quang, hồ Tây, Trúc Bạch, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Đống Đa, Xã Đàn, Ba Mẫu với tổng diện tích mặt nước khoảng 3.600 ha
Chế độ thủy văn của hệ thống sông ở Hà Nội - điển hình là sông Hồng - hoàn toàn phụ thuộc theo mùa: mùa lũ và mùa cạn Sông Hồng có lưu lượng nước lớn nhất ở Việt Nam đã gây cho Hà Nội nhiều thách thức vào mùa mưa (lũ lụt) và mùa khô (hạn hán, thiếu nước) Nằm ở hạ nguồn, nơi dòng sông bắt đầu phân nhánh để chia nước ra biển, đoạn sông Hồng chảy qua địa phận Hà Nội đặc biệt hung dữ vào mùa mưa khi phải đón nhận một lượng nước rất lớn từ thượng nguồn đổ về Lưu lượng nước bình quân hàng năm đạt mức 2.640 m3/s với tổng lượng dòng chảy qua tới 83,5 triệu m3 Lũ sông Hồng chủ yếu do các phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô gây nên Hàng năm mùa lũ kéo dài 5 tháng (tháng VI - X dương lịch) Tháng có lưu lượng bình quân lớn nhất, đỉnh lũ là tháng VIII, bằng 15% tổng lượng nước cả năm, tương đương với lưu lượng 7 tháng mùa cạn (tháng XI đến tháng V năm sau) Tháng có lưu lượng nhỏ nhất
là tháng III Mức nước báo động ở sông Hồng tại Hà Nội chia thành 3 cấp báo động số 1: 9,5 m; báo động số 2: 10,5m và báo động số 3: 11,5m Lượng phù sa sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu tấn/năm, trong mùa lũ chiếm 90% tổng lượng phù sa cả năm [187, 49, 70] Để bảo vệ an toàn cho người và tài sản, ngay từ thời xa xưa, hệ thống đê
đã được xây dựng và ngày càng kiên cố hơn Hiện nay, hệ thống đê sông ở Hà Nội (chủ yếu là đê sông Hồng và sông Đuống) có chiều dài trên 300km Đồng thời, đê sông cũng là tuyến đường giao thông quan trọng trên địa bàn Hà Nội
Lưu vực sông Hồng và sông Đuống chảy qua địa phận Hà Nội có nhiều đoạn theo quy luật hoạt động của dòng sông nhưng lại chịu thêm tác động của hoạt động nhân sinh làm cho nhiều đoạn hai bên bờ bị xói lở, gây ảnh hưởng tới các công trình xây dựng và sinh hoạt của người dân Theo các kết quả nghiên cứu, xu hướng biến đổi của sông Hồng hiện nay là quá trình xâm thực ngang, xói lở các bãi bồi cao và bồi tụ các bãi bồi thấp Dọc sông Hồng trong khu vực Hà Nội có thể chia thành ba đoạn chính sau:
Đoạn Thượng Cát - Nhật Tân dài khoảng 10km có dòng chảy khá thẳng từ tây sang đông, bãi bồi bên bờ nam hẹp và có nơi đang diễn ra quá trình xói lở Các bãi bồi
Trang 20khu Đại Mạch, Tầm Xá rộng khoảng 1.800m, dài từ 4 - 5km bị chia cắt bởi các dòng chảy nhỏ
Đoạn Nhật Tân - bến Phà Đen dài khoảng 10km Dòng chảy theo hướng tây bắc
- đông nam mở rộng hơn so với đoạn trên, nhiều bãi bồi ven lòng, bãi giữa bị chia cắt bởi những dòng chảy nhỏ Bãi giữa từ cầu Long Biên đến cầu Chương Dương đang có hiện tượng xói lở mạnh
Đoạn Phà Đen - Vạn Phúc dài 14km, dòng chảy gần theo hướng bắc - nam, lòng uốn khúc gây xói lở ở Đông Dư, Bát Tràng, Duyên Hà
Hà Nội nằm trong một cấu trúc địa chất khá phức tạp Giai đoạn trước Kainozoi (khoảng trước 65 triệu năm trước) là thời kỳ hình thành nên phần nền móng vững chắc của lãnh thổ Việt Nam, vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có vùng đất Thăng Long -
Hà Nội Giai đoạn Đệ tam kéo dài trong khoảng 50 triệu năm là khoảng thời gian xảy
ra các hiện tượng và quá trình địa chất để tạo ra bộ mặt tự nhiên của vùng đất Hà Nội hiện nay Đây là giai đoạn hình thành lớp phủ trầm tích trên bề mặt bóc mòn của các thành tạo trong giai đoạn trước và là giai đoạn vùng trũng Hà Nội liên tục bị hạ lún Trong thời kỳ này, Thăng Long - Hà Nội liên tục xảy ra sụt lún và mở rộng về hai phía đông bắc và tây nam từ trục trung tâm có hướng tây bắc - đông nam, có sự biến đổi dần
từ điều kiện lục địa sang điều kiện của hồ đầm lầy lớn Giai đoạn Đệ tứ (từ khoảng 1,6 triệu năm trước đến nay) là khoảng thời gian Hà Nội được hình thành với đặc điểm: có
thời kỳ quá trình biển chiếm ưu thế, khi thì quá trình lục địa có vai trò chủ đạo
Bề mặt địa hình hiện nay của Hà Nội hầu hết là đồng bằng được cấu tạo bởi các trầm tích châu thổ nằm ở các mực độ cao khác nhau (từ 5 đến trên 20m) Trong phạm
vi thành phố Hà Nội, địa hình đồng bằng chiếm diện tích rất lớn, phân bố ở các quận nội thành, huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, một phần nhỏ ở huyện Đông Anh Độ cao của bề mặt địa hình đạt từ 4 - 5 đến 8 - 10m so với mực nước biển
Quá trình hình thành, phát triển địa chất đã tạo nên một diện mạo tương đối bằng phẳng về mặt địa hình trên vùng nội thành Hà Nội hiện nay Diện mạo tự nhiên
của Hà Nội vào thế kỷ XI được Lý Thái Tổ - vị vua sáng nghiệp triều Lý khái quát “ở
vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam - bắc - tây - đông, lại tiện hướng nhìn sông tựa núi Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà
thoáng Thật là chốn tụ hội của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất
của đế vương muôn đời”
Là thủ đô tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ, trên nền bồi tụ của sông Hồng, vùng nội thành Hà Nội nhanh chóng trở thành điểm cư trú đông đúc ở khu vực đồng bằng
Trang 21Bắc Bộ Đó là cơ sở tự nhiên, xã hội để Hà Nội trở thành trung tâm của đất nước vào thế kỷ X, được duy trì và giữ vững đến ngày nay
Hình 1: Không ảnh Hà Nội - khu vực nghiên cứu
Trang 22Tác động của các yếu tố sông hồ đến quy hoạch Thăng Long - Hà Nội
Khi nghiên cứu những bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX, tất cả đều thể hiện dòng chảy của đoạn sông Hồng qua Hà Nội1 Đây là dòng chảy chính, án ngữ
Hà Nội ở phía đông Một hệ thống sông hồ khác được thể hiện khá chi tiết và nổi bật trên bản đồ là đoạn sông Tô Lịch và hồ Tây ở phía bắc, sông Kim Ngưu và dải hồ lớn ở phía nam Hệ thống sông hồ này nối kết với nhau và liên hệ mật thiết với sông Hồng, tạo thành thế liên hoàn bao bọc Thăng Long - Hà Nội Người xưa đã khái quát như sau:
Nhị Hà quanh bắc sang đông,
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Khen ai khéo họa dư đồ,
Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm
Sông Hồng án ngữ ở phía đông Hà Nội, đóng vai trò chủ đạo đối với sự hình thành của đồng bằng Bắc Bộ Là một con sông lớn, sông Hồng vừa là nguồn sống vừa chứa đựng nguy cơ hủy diệt, là nhân tố định hình cho không gian vùng châu thổ Bắc
Bộ nói chung, Thăng Long - Hà Nội nói riêng
Sự biến đổi dòng chảy của sông Hồng trong lịch sử có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đô thị Thăng Long - Hà Nội Các nghiên cứu cổ địa chất cho biết:
Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XV (trong khoảng 600 năm) sông Hồng phát triển có dạng gần trùng tâm với lòng sông hiện nay nhưng với biên độ uốn khúc của chúng khá mạnh Có nơi biên độ uốn khúc đạt tới 8km, điển hình là đoạn trên đất Đan Phượng nơi tiếp giáp với cửa sông Cà Lồ Trong giai đoạn này lòng sông bị con người chinh phục
và bước đầu hình thành các tuyến đê bao quanh sông
500 năm trở lại đây dưới tác động mạnh mẽ của con người, sông Hồng trong địa phận Hà Nội ít bị biến động và chịu chi phối sâu sắc của hệ thống đê Trong quá trình vận động biến đổi lòng sông, sự dịch chuyển trục lòng dẫn vẫn không ngừng xảy ra làm xáo trộn, di chuyển các bãi bồi ven và giữa sông, gây xói lở, bồi lấp lòng sông [187, 118]
1 Tên sông Hồng xuất hiện muộn vào thời Pháp thuộc Trước khi có tên gọi sông Hồng hay Hồng Hà, sông Hồng
có tên là sông Cái Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội có tên là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà Trên các bản đồ của Pháp, sông Hồng được chú là Fleuve Rouge - sông Đỏ vì sông có nhiều phù sa, đọc âm Hán Việt là Hồng Hà
Trang 23Hình 2: Vận tốc trung bình của sông Hồng - đoạn chảy qua Hà Nội - vào thời điểm đỉnh lũ năm 2000 (ngày 26/7/2000) ở điều kiện tự nhiên (vận tốc Min là 0.25m/s; Max
là 2.235m/s) [187, 148]
Phương thức chủ yếu chinh phục sông Hồng thời xưa là đắp đê Thực vậy, độ cao của Hà Nội so với mực nước biển là 6m, tức là còn ở bên dưới mực nước sông Hồng vào thời điểm cao nhất Trong khi đó đỉnh lũ có thể đạt tới 12m trong suốt thời
kỳ có gió mùa “Thường thường, cứ một năm hai lần, con sông lại tràn dòng chảy vào đầu tháng sáu và tháng mười một, làm ngập đến nửa thành phố” [86, 14] Do vậy, đê sông Hồng có vai trò sống còn với Hà Nội Mặt nền của Hà Nội có được trước hết là do
hệ thống đê ngăn lũ được xây dựng từ rất sớm Năm 1688, William Dampier mô tả đoạn kè đê ở phía đông khu phố buôn bán: “Đây là một vách gỗ vô cùng lớn, được ghép vào nhau một cách khéo léo, tinh vi và được đặt trên những cọc lớn đóng xuống lòng sông khá gần bờ Những chiếc cọc này cắm xuống đất, cái nọ tiếp theo cái kia và
ở mặt bên trên có những thân cây to bắt chéo nhau, hai đầu đóng đinh vào cọc, khoảng cách giữa cọc và bờ sông được lèn đầy đá tảng làm cho ngay cả khi nước chảy xiết
Duyên Hải
Bát Tràng
Thanh Trì
Kim Lan Yên Sở
Ngọc Thụy Tầm Xá
Long Biên
Nhật Tân
Võng La
Liên Mạc Thượng Cát
Đại Mạch
Vạn Phúc
Văn Điển
Trang 24cũng không thể xé hàng rào được Công trình này nhô cao độ 16 hay 17 bộ (4,8-5,1m) trên mặt nước vào mùa khô, nhưng khi mùa mưa đến, nước lụt dâng lên chỉ cách đỉnh
từ 2 đến 3 bộ (0,6-0,9m) Nó đã được dựng lên để đủ sức chống đỡ lại sức mạnh của dòng nước vào mùa mưa bởi khi ấy dòng nước đập vào chỗ này mãnh liệt đến nỗi trước ngày người ta cho đóng những cọc ấy con đê đã bị phá vỡ và đe dọa quét sạch tất cả những gì nằm trên luồng nước chảy qua, ngay cả bản thân thành phố” [92, 68] Dưới thời Nguyễn, đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội được tu sửa kiên cố Tháng 11.1811, vì “sông Nhị Hà lở, nhà cửa dân huyện Hoài Đức hư hại nhiều”, dân cư các phố ở thành “tự đem gạch đá và cây gỗ làm kè đá khác để ngăn giữ ” Nhà nước “xuất tiền kho 47.000 quan thuê dân đắp đê mới (từ phường Đông Hà đến cửa Ông Tượng 108 trượng) để bảo vệ” [70, 827] Tháng 9.1835, Tổng đốc Hà - Ninh Đặng Văn Thiêm tâu báo với Minh Mệnh
về việc: “Bờ sông ngoài thành đất của tỉnh [Hà Nội] trước bị nước lụt làm lở đã đắp đường quai và mỏ kè để chống đỡ, nhưng ngày một sụt lở thêm Sau khi nước lụt rút rồi, thần đã thân đến xem xét tình hình: từ kè đá phường Thạch Khối đến bãi Tam Bảo dài hơn 470 trượng, thế rất sung yếu, mà nước ở bên bờ sông sâu từ 1 đến 3, 4 trượng không chừng, liệu khó thi thố làm được Hỏi người sở tại, họ đều nói rằng: xưa kia, sông giáp thành đất, các triều đại thấy rằng địa thế chỗ đó, trong thì Tây Hồ, ngoài thì sông Cái, giữa thì thành đất, một dải đường đê liền nhau, e có cái nạn nước xói đánh lở, cho nên, từ phường Nhật Chiêu đến phường Thạch Khối, đổ đá đắp kè dài hơn 600 trượng Sau đó sức nước không phá hại được nữa, bèn bồi thành bãi” [71, 778]
Dưới thời Pháp thuộc, hệ thống đê sông Hồng vẫn tiếp tục được gia cố Kể từ năm 1926, đoạn đê sông Hồng chạy qua Hà Nội được gia cố và nâng cao lên 14m để có thể ngăn được mức nước lũ cao hơn Chiều cao và bề rộng của đê được nắn lại, nâng lên đáng kể Hai sườn đê được đắp không đối xứng, đảm bảo chống chịu nước lũ tốt hơn [116, 37]
Như vậy, vấn đề trị thủy luôn chiếm vị trí hàng đầu trong quá trình hoạch định không gian đô thị Chế ngự và chung sống với sông Hồng là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất đối với đô thị Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử cũng như hiện nay Đoạn
đê chạy qua địa phận Hà Nội là sản phẩm của lịch sử, là công sức của người dân Thăng Long - Hà Nội dựng đắp để đảm bảo cuộc sống Trong địa phận hành chính Hà Nội, đê Hữu Hồng bắt đầu từ km48 thuộc địa phận xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm và kết thúc
ở km85+685 thuộc xã Vạn Phúc - huyện Thanh Trì, đê Tả Hồng bắt đầu từ km 48+200 thuộc địa phận xã Đại Mạch - huyện Đông Anh và kết thúc ở km 76+ thuộc xã Bát Tràng - huyện Gia Lâm Mặt đê Hà Nội cao trung bình +14m (chưa kể con trạch ngăn nước cao trên mặt đê từ 1 - 1,5m) Mặt đê rộng trung bình từ 7 - 10m, chân đê rộng trung bình 50 - 70m (bao gồm cả cơ đê) Sự tồn tại của hệ thống đê đã làm biến đổi
Trang 25nghiêm trọng và mất cân bằng về địa hình vùng ven sông Đáy sông và bãi bồi giữa hai con đê nâng cao lên theo thời gian, lòng sông được “treo” dần lên, vì vậy động lực lòng dẫn biến đổi một cách cơ bản theo thời gian [187, 134] Do đó, có “nhiều phần của thành phố hoàn toàn nằm thấp ở dưới mực nước sông, nên nước có thể chảy tràn vào”
Cứ định kỳ, con sông Hồng đe dọa thành phố Hà Nội bằng những trận ngập lụt Paul Doumer ví von tính khí thất thường của dòng sông như “một người nằm ngủ xấu tính luôn luôn cựa quậy trên chiếc giường của mình” [93, 5]
Tuy luôn đe dọa cuộc sống kinh thành bằng những trận lụt dữ dội nhưng sông Hồng cũng là nguồn sống dưỡng nuôi hoạt động thương nghiệp, buôn bán liên vùng, trong nước và quốc tế của Thăng Long - Hà Nội “Con sông này cực kỳ thuận lợi cho thành phố vì đó là nơi mọi thứ hàng hóa đều được mang đến đây, thâu tóm mọi hoạt động của vương quốc với vô vàn những tàu thuyền đi lại buôn bán ngược xuôi trong nước” [88, 8] Richard mô tả: “việc buôn bán vô cùng sầm uất, mọi thứ diễn ra trên con sông lớn chảy qua thành phố và nuôi dưỡng cảnh phồn vinh nơi đây Vô số thuyền lớn nhỏ và những con tàu cập bến vào thành phố, chuyên chở tất cả các loại hàng hóa và các đồ dự phòng, đã điều khiển cư dân các trấn tới đây và công việc chính của họ là buôn bán với kinh thành” Sự nhộn nhịp của dòng sông Hồng còn vượt xa “cả thành Venise với tất cả những chiếc thuyền mũi cong và tàu đi lại trên sông [Venise] cũng không thể nào làm cho người ta hình dung ra được cảnh tấp nập thuyền bè đi lại và sự đông đúc dân cư trên con sông của Kécho [Kẻ Chợ]” Lượng thuế thu được từ các tàu đến thả neo ở bến sông Hồng ở Hà Nội rất lớn vì “số lượng tàu thuyền qua lại rất đông” [101, 10] Saint Phalles cũng ghi chép như Richard về “số tàu bè đông đúc không thể tưởng tượng nổi, làm cho việc cập bến trở nên khó khăn” trên sông Hồng ở Thăng Long vào năm 1753 [102, 1]
Cũng gắn bó mật thiết với cuộc sống Thăng Long - Hà Nội còn có sông Tô Lịch Đây là dòng sông nội hạt, thông với sông Hồng ở quãng Chợ Gạo, chảy theo phố Nguyễn Siêu, men theo đường Thụy Khuê, nối với hồ Tây ở giữa số nhà 284-286 đường Thụy Khuê, chạy đến ngã ba Bưởi, hợp lưu với sông Thiên Phù, men theo
đường Bưởi, đường Láng, Ngã Tư Sở, Đại Kim, Thanh Liệt (chỗ này có đoạn sông đào
nối thông với sông Nhuệ ở Cầu Bươu), qua các xã của huyện Thanh Trì tới xã Hoà Bình (Thường Tín), đổ vào sông Nhuệ Năm 1889, thực dân Pháp lấp nhánh sông Tô từ chỗ cửa thông với sông Hồng (cửa Hà Khẩu) qua Hàng Cá, Hàng Lược, Phan Đình Phùng lập ra các phố Nguyễn Siêu, Ngõ Gạch, Hàng Cá, Hàng Lược, Phan Đình Phùng Đóng vai trò giao thông đường thủy, từ sông Tô có thể theo sông Hồng qua cửa
Hà Khẩu đi các vùng và ngược lại Từ phía nam có thể qua sông Đáy, sông Nhuệ theo sông Tô Lịch vào Thăng Long Vì nối thông với sông Hồng nên về mùa lũ, nước từ
Trang 26sông Hồng theo sông Tô Lịch tràn vào nội thành Để đảm bảo an toàn, dọc theo sông
Tô Lịch đều có đê Sự kiện tháng 7.1475, nước lũ, vỡ đê sông Tô Lịch ở phường Kim
Cổ [64, 466], sự kiện tháng 4.1503, Lễ bộ Tả thị lang Dương Trực Nguyên tâu xin đắp
đê bên sông Tô Lịch [65, 33]đã minh chứng cho việc đắp đê trong nội thành Thăng Long, dọc theo các dòng sông nhỏ
Sông Kim Ngưu vốn là một nhánh của sông Tô Lịch từ phường Yên Lãng chảy theo đường La Thành qua cống Nam Đồng, Phương Liệt tới phường Thịnh Liệt thông với sông Sét, qua các xã Yên Sở, Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp, Đông Mỹ (Thanh Trì) rồi chảy vào huyện Thường Tín, nhập vào sông Nhuệ
Ở phía nam, Thăng Long bị án ngữ bởi một hệ thống hồ đầm liên tiếp, bắt đầu
từ khu vực Văn Miếu Quốc Tử Giám, chạy men theo đường Tôn Đức Thắng về phía tây nam, hòa với hệ thống hồ ở khu vực Trung Tự, Hào Nam, Kim Liên, Bạch Mai Những hồ nước có vai trò chứa nước vào mùa nước Hệ thống hồ này nối thông với sông Kim Ngưu Và cũng để ngăn nước từ sông Kim Ngưu tràn vào đầm hồ ở bên trong thành Đại La vào mùa nước lớn, một cống ngầm được xây dựng, gọi là Lâm Khang cống khẩu (5/11 bản đồ Hồng Đức thể hiện địa danh này) Cống Lâm Khang có
vị trí tại khu vực trường Đại học Bách khoa Hà Nội hiện nay1 Để ứng phó với tình trạng liên thông giữa các sông nội địa và ao hồ trong kinh thành, hệ thống cống điều tiết nước được quan tâm đặc biệt Tuy bản đồ Hồng Đức chỉ chú thích cống Lâm Khang nhưng ở đoạn nối giữa sông Tô Lịch và hồ Tây (số nhà 284-286 Thụy Khuê), một cống ngầm cũng được xây dựng Dấu vết hiện còn là những viên gạch vồ được sử dụng đến ngày nay
Hồ nước là nhân tố hiện hữu trong đời sống đô thị Thăng Long - Hà Nội Trước hết, nó cung cấp nước sinh hoạt hàng ngày cho cư dân thành phố Khi thành phố bị hỏa hoạn, “có nhiều hồ ao cho phép dập tắt lửa nhanh chóng” [88, 10] Hà Nội nằm giữa những hồ nước giống như trước những mảnh nhỏ của một tấm gương lớn nên là nơi lưu giữ ký ức và những huyền thoại Không ít lời ngợi ca được dành cho những hồ nước trong thành phố, đặc biệt là hồ Hoàn Kiếm Paul Doumer nhấn mạnh đến hồ Hoàn Kiếm, nhân tố “tạo nên tất cả sự duyên dáng của thành phố” [93, 16], “thực sự là viên ngọc quý của thủ đô xứ Bắc Kỳ” [96, 22] Quan trọng hơn, “chính hồ nước đã định vị và định hướng cho không gian xây dựng: kinh đô, thành nội, đình chùa, nhà ở nông thôn, làng trong lòng đô thị” [116, 46]2
Trang 27Hệ thống sông hồ dày đặc tác động tới đời sống đô thị Thăng Long - Hà Nội ở
cả hai mặt tiêu cực và tích cực
Ở mặt tiêu cực, sự biến đổi của lòng sông, nhất là sông Hồng cùng với chế độ dòng chảy phức tạp vào mùa mưa là nguyên nhân thường xuyên và trực tiếp đe dọa đến Thăng Long - Hà Nội Nhiều lần vỡ đê ở Thăng Long mà sử sách ghi chép
Tháng 6.1513, nước lũ, vỡ đê phường Yên Hoa thông vào hồ Tây [65, 71]
Trang 28Tháng 6.1630, nước to đổ về, sông Nhị đầy tràn, ngập vào đường phố Cửa Nam nước chảy như thác, phố phường nhiều người bị chết đuối Lại đê điều ở các xã Yên Duyên, Khuyến Lương huyện Thanh Trì bị vỡ, thóc lúa hao tổn, nhân dân đói kém [65, 229]
Tháng 6.1632, mưa to 3, 4 ngày không ngớt Sân trong cung và các điện nước ngập vài tấc Ngày mùng 5, mưa như trút, nước sông Nhị dâng cao Vương [Trịnh Tráng] nhân đó thân đem Thái uý Sùng quốc công Trịnh Kiều và các dinh cơ đi thuyền thuận dòng xuống đoạn đê các xã Thám Đương, Yên Duyên, Khuyến Lương huyện Thanh Trì để coi hộ đê” [65, 233]
Hệ thống sông hồ còn là trở ngại, hạn chế sự phát triển của đô thị Để phát triển, đắp đê cố định dòng chảy là cách thức được lựa chọn Tuy nhiên, với chiều rộng từ 1.000 đến 1.500m, sông Hồng thực sự là một trở ngại khiến thành phố trước đây không thể mở rộng sang bên kia sông
Ở mặt tích cực, sông hồ trở thành nhân tố bảo vệ sự an toàn về quốc phòng cho Thăng Long - Hà Nội Người Việt là những nhà thi công, quy hoạch đặc biệt xuất sắc khi biết nương tựa vào tự nhiên, biến những nhược điểm của tự nhiên thành ưu điểm cho các công trình kiến trúc, đặc biệt là các công trình thành lũy Kinh thành Thăng Long được quy hoạch trên cơ sở lợi dụng sông Hồng, Tô Lịch - Kim Ngưu trở thành những chướng ngại vật tự nhiên: phía đông, sông Hồng án ngữ, phía bắc, sông Tô Lịch và hồ Tây trở thành chiến lũy tự nhiên lợi hại, phía tây và phía nam, sông Tô Lịch - Kim Ngưu đảm bảo ngăn chặn, làm cản bước tiến của quân xâm lược Ở khía cạnh khác, sự liên thông giữa các sông - hồ là nhân tố tích cực kích thích sự phát triển giao thông, là điểm kết nối giữa các vùng với Thăng Long, biến các vùng cửa sông trở thành trung tâm buôn bán lớn, là hạt nhân phát triển của một khu vực nhất định Phường Giang Khẩu (sau đổi là Hà Khẩu, quãng khu vực Hàng Đường, Chợ Gạo ngày nay) - nơi ngã ba hợp lưu của sông Hồng và Tô Lịch sớm trở thành trung tâm thương mại phát triển
Tận dụng và phát huy ưu thế tự nhiên là nét nổi bật trong công tác quy hoạch Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử Ở đây, Thăng Long - Hà Nội đã khéo léo kết hợp giữa cái nhân vi và cái tự nhiên vốn có của vùng đất sông - hồ Điều kiện tự nhiên chi phối sự phát triển không gian của đô thị, nhưng ngược lại, đô thị đã tận dụng tự nhiên, biến tự nhiên thành sự điểm tô cho thành phố, đặc biệt là thành lũy và giao thông Do
đó, có thể khẳng định, Thăng Long - Hà Nội chính là khu vực đặc tả được mối quan hệ biện chứng, không tách rời giữa tự nhiên và con người Tự nhiên định hình không gian nhưng chính con người đã cải tạo không gian đó cho phù hợp với nhu cầu phát triển của đô thị Sự kết hợp hài hòa này chính là nhân tố quan trọng để biến khu vực này thành nơi “thượng đô kinh sư mãi muôn đời” như mong muốn của Lý Công Uẩn Là
Trang 29thủ đô tự nhiên của Việt Nam với lịch sử hàng nghìn năm, Thăng Long - Hà Nội cũng
là thủ đô văn hiến - văn hóa của đất nước - con người Việt Nam, tạo nên một không gian văn hóa đặc biệt nhất của vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ
1.1.2 Tác động của bối cảnh lịch sử
Năm 1427, cuộc kháng chiến chống Minh kết thúc thắng lợi bằng hội thề Đông Quan Ngày 14.4.1428, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi, đại xá, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đóng đô ở Đông Kinh [64, 294] Trong 100 năm tồn tại (1427 - 1527) vương triều Lê sơ đã đạt đến đỉnh cao của sự phát triển, trở thành mẫu mực cho các vương triều phong kiến sau đó học tập, mô phỏng Thời điểm huy hoàng của giai đoạn thịnh trị là dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Vua Lê Thánh Tông, trong 37 năm cầm quyền trị nước đã nhiều lần cho định bản đồ toàn quốc, cơ sở cho các bản sao
“Hồng Đức bản đồ” sau này
Sau một thời gian thịnh trị, những năm đầu thế kỷ XVI ghi nhận nhiều biến động lớn lao ở kinh thành Thăng Long Bắt nguồn từ sự tranh giành quyền lực giữa các hoàng thân, sự hung bạo, ăn chơi của Lê Uy Mục, Lê Tương Dực cùng với việc giới võ quan cao cấp tranh chiếm quyền lợi đã khiến cho kinh thành rối loạn Sử chép:
- Canh 3 ngày 25.4.1510, hoạn quan Nguyễn Khắc Hài làm loạn, ép vua đến cung Trùng Hoa, lại đến các điện Vạn Thọ, Cẩn Đức, Kính Thiên… Bọn phản nghịch lẻn ra ngoài, đem kiệu ngự đi đón Hoa Khuê Vương Tòng làm ngụy chúa Vua sai Thọ quận công Trịnh Hựu đi đánh, đuổi đến phường Đông Hà (nay là Ô Quan Chưởng) [65, 53]
- Năm 1511, Trần Tuân nổi loạn ở vùng Sơn Tây, “bức sát kinh thành” “Bấy giờ, nhân dân các phố xã ở kinh thành náo động, đều đem vợ con về quê quán, đường phố không còn một ai đi lại” “Phố xá bị thiêu trụi” [65, 62]
- Tháng 4.1516, Trịnh Duy Sản cùng với Lê Quảng Độ, Trình Chí Sâm sửa soạn thuyền bè, khí giới ở bến Thái Cực1 để “mưu việc phế lập” Canh 2 đêm mùng 6, Trịnh Duy Sản đem hơn 3.000 người ở các vệ Kim Ngô và Hộ Vệ vào cửa Bắc Thần Vua Tương Dực chạy ra ngoài cửa Bảo Khánh Sáng ngày mùng 7, Tương Dực cùng với Thừa chỉ Nguyễn Vũ đi tắt qua cửa nhà Thái học, đến hồ Chu Tước, phường Bích Câu thì bị Trịnh Duy Sản bắt được, đem giết ở cửa nhà Thái học An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở Bồ Đề, “nghe tin Duy Sản giết vua liền đem quân vượt sông,
đốt phá phố xá ở kinh thành” Nhân cơ hội trong thành loạn lạc, ngày 11, nghĩa quân
Trần Cảo tấn công và chiếm được kinh thành Quang cảnh Thăng Long trong cơn biến loạn cung đình và chiến tranh như sau: “Lúc ấy, thành đã thất thủ, xã tắc bỏ phế, dân
1 Bến Thái Cực: thuộc phường Thái Cực, huyện Thọ Xương, tương đương với khu phố Hàng Đào ngày nay
Trang 30chúng vào thành tranh nhau lấy vàng bạc, của báu bạch đàn, xạ hương, lụa là tơ gai đầy trong dân gian, sách vở, hồ tiêu, hương liệu các thứ vứt bỏ trên đường phố cao đến một, hai tấc không thể kể xiết Người khỏe mạnh tranh cướp vàng bạc, có người lấy được đến ba, bốn trăm lạng, người yếu cũng được đến hơn hai trăm lạng Cung khuyết, kho tàng do vậy mà hết sạch” [65, 76, 77]
- Quân đội nhà Lê phản công, áp sát kinh thành: Trần Chân “tập hợp các cựu dũng sĩ và hương binh con em được 5, 6 nghìn người, dấy binh ở chợ Hoàng Hoa (tức chợ Ngọc Hà)”, “đánh nhau dữ dội” với quân Trần Cảo ở Cồn bắn (Giảng Võ) Trịnh
Hy, Lê Sạn, Lê Dực, Trương Huyền Linh kế tiếp tiến vây ngoài của Đại Hưng Trịnh Duy Sản chỉ huy các quân thủy bộ vây bốn mặt thành Trận chiến kéo dài từ bến Thái Cực (Hàng Đào) đến bến Đông Hà (Hàng Chiếu, Ô Quan Chưởng) [65, 77, 78]
Trần Cảo chạy khỏi kinh thành thì giới tướng lĩnh nhà Lê lại mâu thuẫn với nhau
An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở phường Đông Hà, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy đóng quân ở ngoài thành Đại La, đánh lẫn nhau Ngày 1.7.1517, Nguyễn Hoằng Dụ cất quân đánh Trịnh Tuy ở các phường Vĩnh Xương, Khúc Phố, Phục Cổ tại kinh thành [65,
82, 83] Quân lính “thả sức cướp phá, trong thành sạch không” Chiến tranh đã biến kinh thành Thăng Long phồn thịnh trở “thành bãi săn bắn, đánh cá” [65, 88]
Trong bối cảnh kinh thành loạn lạc, Mạc Đăng Dung từng bước củng cố quyền lực Ngày 15.6.1527, “Mặc Đăng Dung từ Cổ Trai vào kinh bắt vua phải nhường ngôi, giáng phong vua làm Cung vương rồi giam cùng với Hoàng Thái Hậu ở cung Tây Nội Vài tháng sau, bắt phải tự tử” [65, 108], hoàn tất công cuộc đảo chính cung đình Những cựu thần của nhà Lê sơ, do chịu nhiều ân điển đã không thần phục nhà Mạc mà trái lại, 6 năm sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1533), Nguyễn Kim đón Lê Duy Ninh lập làm vua, tập trung binh lực ở Thanh Hóa nhằm khôi phục lại quyền thống trị của họ Lê, hình thành cục diện Nam triều (Lê Trung Hưng) và Bắc triều (nhà Mạc) 65 năm chiếm đóng kinh thành Thăng Long (1527 - 1592) là từng ấy năm Nam triều luôn luôn tấn công, đe dọa sự tồn tại của nhà Mạc Trước các cuộc tấn công liên tục của nhà
Lê Trung Hưng, Thăng Long trở thành chiến trường lớn giữa quân đội Nam - Bắc triều Tháng 12.1592, quân Lê - Trịnh đẩy bật nhà Mạc khỏi kinh thành Thăng Long
Giành lại Thăng Long từ tay nhà Mạc, hai họ Trịnh - Nguyễn vốn đang là thông gia tốt đẹp lại trở mặt, trở thành thù địch tạo nên cục diện chúa Nguyễn ở Đàng Trong, vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn từ năm 1627 đến
1672 hết sức khốc liệt Thăng Long, trong một chừng mực nào đó cũng chịu những tác động của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn
Trang 31Giữa thế kỷ XVIII, diễn ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân: Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương, Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung ở Sơn Nam (1739 - 1740), Nguyễn Danh Phương ở Sơn Tây (1740 - 1751), Nguyễn Hữu Cầu ở Hải Phòng (1741 - 1751), Lê Duy Mật (1738 - 1770)… Các cuộc khởi nghĩa luôn uy hiếp kinh thành, khiến Thăng Long nhiều khi “chấn động” , dẫn đến cảnh
“Người ở kinh đô dắt díu nhau ra khỏi thành , các nơi đào hầm chôn của , làm sẵn lương khô Không ai có chí cố thủ cả” [55, 153] Chúa Trịnh Doanh phải sai đại thần “chia nhau giữ nơi xung yếu ở kinh thành”, “chọn đinh tráng đặt đồn lũy, phòng bị giặc cướp bao vây” [72, 594, 595] để bảo vệ Thăng Long
Đỉnh cao của phong trào nông dân thế kỷ XVIII là khởi nghĩa Tây Sơn Năm
1786, Nguyễn Huệ đem quân tiến sát kinh thành Thăng Long, đánh tan lực lượng quân Trịnh ở Thanh Trì và lầu Ngũ Long (khu vực Bưu điện Hà Nội hiện nay), lật đổ vai trò thực quyền của chúa Trịnh Tháng 7.1786, Nguyễn Huệ “dâng sổ sách quân và dân” ở điện Kính Thiên, chính thức bàn giao quyền quản lý Đàng Ngoài cho Lê Hiển Tông, sau đó là Lê Chiêu Thống Tuy nhiên, tình hình chính trị Đàng Ngoài sau khi Nguyễn Huệ rút quân vào Phú Xuân (Huế) cũng không ổn định hơn Trong ba năm (1786 - 1788), Thăng Long không một phút yên bình Con cháu chúa Trịnh làm loạn, đánh nhau liên miên ở phía nam kinh thành Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm chuyên quyền ở Thăng Long, hiếp đáp vua Lê Không đủ tài đức trị nước, Lê Chiêu Thống trốn chạy ở Bắc Giang, Thái hậu và Lê Quýnh chạy sang Quảng Châu dâng biểu cầu cứu lên vua Thanh Càn Long Chớp thời cơ, 29 vạn quân Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy ồ ạt xâm lược Đại Việt, chiếm đóng Thăng Long
Trước sức mạnh ban đầu của quân Thanh, Ngô Thì Nhậm chủ trương “cho quân địch ngủ trọ mấy đêm ở Thăng Long”, rút lui về Tam Điệp - Biện Sơn lập phòng tuyến phòng thủ Cùng thời gian đó, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Quang Trung, ngày đêm tiến quân ra Bắc Đêm 30 Tết, quân Tây Sơn vượt sông Gián Khẩu, thần tốc tiến quân ra Thăng Long Mùng 3 Tết, Quang Trung tấn công Ngọc Hồi Đô đốc Đặng Tiến Đông theo đường Nhân Mục bất ngờ tấn công Đống Đa, tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân Thanh do Sầm Nghi Đống chỉ huy… Tin thất bại từ các mặt trận dồn dập báo về khiến Tôn Sĩ Nghị vội vàng vứt bỏ ấn tín, sắc phong, cuống cuồng tháo chạy khỏi Thăng Long Chiều mùng 5 Tết, nhân dân Thăng Long “mặt tươi như hoa” chào đón đoàn quân thắng trận do Quang Trung dẫn đầu
Thăng Long được giải phóng nhưng Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân Thăng Long cùng 11 trấn ngoài Bắc thành được giao cho Ngô Thì Nhậm toàn quyền kinh lý Nhà Tây Sơn có sửa chữa chút ít đoạn tường thành phía đông, từ cửa Đông Hoa đến
Trang 32cửa Đại Hưng nhằm gia cố những đoạn hư hỏng Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại lực lượng Quang Toản ở Bắc thành Chiếm được Thăng Long, Nguyễn Ánh cho đổi tên Long là Rồng thành Long với ý nghĩa Thịnh vượng, đặt Thăng Long là thủ phủ của trấn Bắc Thành Một tòa thành mới làm trị sở của trấn Bắc Thành theo kiểu Vauban được xây dựng năm 1805 Năm 1831, một lần nữa vai trò chính trị của Thăng Long giảm sút khi Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính, thành lập tỉnh Hà Nội Tỉnh Hà Nội gồm 15 huyện thuộc 4 phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa và Lý Nhân với giới hạn: phía đông giáp tỉnh Hưng Yên, phía tây giáp Sơn Tây, phía nam giáp Nam Định
và Ninh Bình, phía bắc giáp Bắc Ninh Ngoài hạt nhân là hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức, Hà Nội mở rộng đến Phủ Lý (Hà Nam) và Sơn Tây
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, Hà Nội từng bước giảm sút về vai trò trung tâm chính trị Trước hết, Gia Long cho xây dựng một tòa hành cung ở sau điện Kính Thiên gồm 5 gian 2 chái để vua nghỉ ngơi khi Bắc tuần Năm 1818, vì gỗ ở điện Kính Thiên mục nát không thể tu bổ được, Gia Long cho dỡ xuống, dựng một nhà Phan vọng để triều hội trong những ngày sóc vọng [73, 50, 51] Vẫn ở trung tâm tòa thành, năm
1836, Minh Mệnh ra lệnh dỡ bỏ gần hết các công trình cung điện, chỉ để lại chính điện, tiền điện, hai tòa tả hữu [71, 971] Năm 1840, lấy lý do các tòa Tiền điện, Chính điện
“rộng rãi chồng chập, quá là xa phí” nên Thiệu Trị cho phá dỡ một phần, chỉ để lại một tòa nhà 3 gian 2 chái [73, 59] …
Theo thời gian, các vua Nguyễn thực thi chính sách cải tạo từng bước để hạn chế tới mức thấp nhất sự xa hoa lộng lẫy mà thành Hà Nội thời Nguyễn còn giữ được trên cơ sở một số cung điện của nhà Lê, biến khu vực Cấm thành - trung tâm dưới thời
Lê - trở thành một thành lũy quân sự với đúng nghĩa của nó
Vào đầu thời Gia Long, Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu não của trấn Bắc Thành như Tổng trấn, Phó Tổng trấn, Hiệp trấn, Tham hiệp Sau cải cách hành chính, bộ máy hsành chính Hà Nội được cơ cấu lại Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (kiêm
lý tỉnh Ninh Bình) - Tuần phủ, giúp việc quân sự là Lãnh binh, phụ trách giáo dục là Đốc học Dưới có các cơ quan chuyên môn gồm hai ty là Bố chính và Án sát Bộ máy quan lại và cơ quan hành chính đều đóng trong thành Tại hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận (cấp huyện) đều có một Tri huyện (về sau, để giảm bớt số lượng quan lại, Tri huyện Thọ Xương kiêm lý công việc huyện Vĩnh Thuận), 2 Đề lại, 8 Thông lại Trụ sở huyện Thọ Xương ở gần Cửa Nam Dưới cấp huyện là Tổng, do Cai tổng quản lý Về
cơ bản, bộ máy hành chính trên được duy trì cho đến những năm 1886 - 1888
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, trong đó có Bắc Kỳ và Hà Nội Ngày 30.4.1873, Jean Dupuis từ
Trang 33Vân Nam tới Hà Nội chiếm cửa sông Nhị Hà, cho quân lính lên bờ bao vây chợ, cướp hàng hoá và hành hung người Theo yêu cầu của triều Nguyễn, ngày 11.10.1873, Francis Garnier ra Bắc Kỳ để “giải quyết vụ Dupuis” Tới Hà Nội nhưng mục đích chính là xâm lược nên Garnier gửi tối hậu thư buộc Nguyễn Tri Phương phải hạ khí giới, giao nộp thành Ngày 20.11.1873, với quân số khoảng 300 người, Pháp nổ súng tấn công thành
Hà Nội Lục quân Pháp có đại bác yểm hộ tiến đến hai cửa Đông và Nam, trong khi đó Dupuis cho quân tấn công khu phố buôn bán nhưng bị chặn lại ở ô Quan Chưởng Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân dân kiên quyết chống trả Mặc dù quân dân Hà Nội anh dũng bảo vệ thành nhưng với ưu thế về hỏa lực, Pháp chiếm được thành
Những tin tức từ Hà Nội được cấp báo về Huế Vua Tự Đức cử Khâm sai đại thần Trần Đình Túc đến Hà Nội để hội kiến với Francis Garnier Một mặt hội đàm, mặt khác quân Pháp liên tục đánh phá để tăng sức ép với triều Nguyễn Ngày 21.12.1873, Garnier tấn công quân triều đình ở Cầu Giấy nhưng bị rơi vào trận địa phục kích của quân Cờ Đen và bị giết tại trận Quân Pháp hoang mang cực độ mà Dupuis gọi là “sự khủng khiếp lớn lan tràn lan trong thành” Tuy nhiên, triều Nguyễn đã không tận dụng
cơ hội, tiếp tục ký Hiệp ước 1874 với những điều khoản có lợi cho Pháp, nhượng cho Pháp một khu nhượng địa rộng 2,5ha ở Hà Nội, đổi lại Pháp sẽ trả Hà Nội
Một năm sau, tình hình Hà Nội tạm yên, ngày 26.8.1875, lãnh sự Pháp tại Hà Nội là Le Jumeau de Kargaradec tới nhiệm sở Trong thời gian này, Pháp tiếp tục gây sức ép, buộc triều đình Huế phải nhượng một khoảng đất ở phía đông nam Hà Nội, giáp bờ sông Hồng, rộng 185.085 thước vuông làm nơi trú quân1 Cụ thể hơn, ngày 31.8.1875, Tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc và Tuần phủ Trần Hy Tăng ký với lãnh sự Kargaradec bản Hiệp định “nhường hẳn toàn bộ khu vực Đồn Thủy cũ” rộng 15ha để Pháp xây dựng lãnh sự Tuy nhiên, tham vọng của Pháp không dừng lại ở đó Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, hai chiến hạm cùng 300 quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội ngày 3.4.1882
Nhận thấy ưu thế của quân đội Pháp cũng như rút kinh nghiệm của lần thất bại trước, Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu cho xây dựng, củng cố lực lượng bố phòng, gia cố thành lũy, tăng cường đại bác
Ngày 20.4.1882, Henri Rivière gửi thư cho Hoàng Diệu buộc phải nộp thành
đầu hàng 8h, ba pháo hạm Fanfare, Massue và Carabine và bộ binh Pháp bắt đầu tấn công Hoàng Diệu cùng tuần phủ Hoàng Hữu Xứng đốc thúc quân lính chống đánh Nhân dân Hà Nội tự tay châm lửa đốt nhà tạo thành một bức tường lửa ngăn chặn quân
1 Hiện nay là khu vực từ Bảo tàng Lịch sử xuống tới các bệnh viện 108, bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô
Trang 34Pháp Đến 10h 45 phút, Rivière chiếm được luỹ bán nguyệt bảo vệ cửa Bắc 11h, kho
thuốc súng trong thành bốc cháy khiến tinh thần quân sĩ hoang mang dao động Chớp thời cơ, quân Pháp dồn lực lượng tấn công cửa Tây Lần thứ hai, Hà Nội thất thủ, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết Chiếm được thành, Rivière đóng quân ở Hành cung (vốn là điện Kính Thiên dưới triều Lê, hành điện Long Thiên đầu triều Nguyễn)
Ngày 19.5.1882, Pháp để lại 200 quân giữ Đồn Thuỷ, 550 quân xuất trận với 3 đại bác dã chiến tiến đến Cầu Giấy để tấn công quân triều đình Một lần nữa, quân Pháp lại rơi vào trận địa phục kích và chịu thất bại nặng nề Tổng chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ Rivière, đại tá Berthe de Villers… chết tại trận
Sau thất bại Cầu Giấy, Bonnal được chỉ định giữ chức công sứ Hà Nội (mặc dầu tới Hiệp ước Harmand (ngày 25.8.1883) triều đình Huế mới công nhận Pháp có quyền đặt công sứ) tới Hà Nội vào quãng tháng 6.1883 và đặt cơ quan “Pháp quốc trú sứ” tại nhà một Hoa kiều ở phố Hàng Gai Hà Nội tồn tại song song hai chính quyền quản lý của triều Nguyễn và Pháp nhưng quân Pháp hầu như giữ thế chủ động Để kiểm soát an ninh, ngày 9.6.1883 Trung tướng Bouet ra lệnh thiết quân luật; lập Tiểu đoàn “Cờ vàng” bao gồm bọn Việt gian, Hán gian; củng cố và xây thêm lô cốt, pháo đài ở thành
Hà Nội; phân bố lại lực lượng chiếm đóng Với những kế hoạch cụ thể, thực dân Pháp từng bước gạt bỏ ảnh hưởng của triều đình Huế tại Hà Nội
*
* * Trong 5 thế kỷ (XV - XIX), cuộc sống của Thăng Long - Hà Nội có nhiều biến động Đầu thế kỷ XV, 20 năm Minh thuộc đã tàn phá Thăng Long, để rồi sau đó, các vua Lê sơ phải ra sức tái thiết, xây dựng lại kinh thành Thế kỷ XVI, Thăng Long trở thành chiến trường khốc liệt của các tập đoàn phong kiến Thế kỷ XVIII, phủ Chúa được tập trung xây dựng trong khi Hoàng thành gần như bị bỏ mặc cho nắng mưa Thái
độ vô trách nhiệm của Lê Chiêu Thống khi hèn hạ cho đốt cháy phủ Chúa, “lửa cháy trong ba tháng mới tắt”, cộng với sức tàn phá của quân Thanh khiến Thăng Long càng tiêu điều hơn Thành ra, “Thăng Long phi chiến địa” chỉ là khát vọng của người Thăng Long - Hà Nội, của người Việt Nam yêu chuộng hoà bình Và, qua cơn binh lửa, trải nắng mưa thời gian, diện mạo cung đài lầu gác, thành nọ lũy kia của Thăng Long ngày càng bị tàn hủy, đã đưa đến một thực tế là, bảy tám trăm năm lịch sử Thăng Long - Hà Nội kiến thiết và dựng xây nay chẳng còn lại bao nhiêu trên mặt đất, để rồi chìm sâu vào lòng đất, trong sự lãng quên của thời gian
Trang 35Những biến cố trên mảnh đất Thăng Long đã có những tác động lớn đến diện mạo
hệ thống thành lũy Nhiều đoạn lũy, bức tường thành được xây dựng rồi lại phá bỏ đã góp phần tạo sự phức tạp khi nghiên cứu, bóc tách các lớp thành lũy trên đất Hà Nội
1.2 Sưu tập bản đồ Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XV - XIX
1.2.1 Bản đồ Hồng Đức
Sưu tập bản đồ Hồng Đức
Dưới thời Lê, lần đầu tiên nhà nước cho lập bản đồ là vào năm tháng 6.1467 “12 thừa tuyên điều tra hình thế núi sông, sự tích xưa nay của các nơi trong hạt mình, vẽ thành bản đồ ghi chú rõ ràng rồi gửi về Hộ bộ để làm bản đồ địa lý” [64, 422]
Tháng 4.1469, vua Lê Thánh Tông cho “Quy định bản đồ của phủ châu huyện
xã trang sách thuộc 12 thừa tuyên… phủ Phụng Thiên 2 huyện (trước là phủ Trung Đô)” [64, 437]
Tháng 4.1490, vua Lê Thánh Tông tiếp tục cho “xác định bản đồ toàn quốc: 13
xứ thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn,
637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường” [64, 507]
Chúng ta hiện thời chưa tìm thấy bản đồ được lập vào các năm 1467, 1469,
1490 Các nhà nghiên cứu trên cơ sở những ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư về
việc lập bản đồ vào thời Hồng Đức khi sử dụng những bản đồ cổ Thăng Long trước thế
kỷ XIX đều gọi chung là bản đồ Hồng Đức hay Hồng Đức bản đồ Lần đầu tiên tập bản
đồ Hồng Đức được Trần Huy Bá giới thiệu trong bài viết Thành Thăng Long với cuộc
đổi thay trên tạp chí Tri Tân số 10 (tr.133-135), số 11 (tr.138-151) năm 1941 Năm
1954, P Huard và M Durand công bố trong Connaissance du Vietnam (Hiểu biết về Việt Nam) Năm 1960, Trần Huy Bá một lần nữa công bố trong Lịch sử thủ đô Hà Nội Năm 1962, Hồng Đức bản đồ được xuất bản ở miền Nam… Kể từ đó, tên gọi Hồng
Đức bản đồ được sử dụng phổ biến, mặc nhiên dùng để chỉ các bản đồ cổ về Thăng Long trước thế kỷ XIX được biên vẽ trong các thế kỷ XV - XIX
Tuy nhiên, trong khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các bản đồ này đều có tên gọi riêng, đó là:
Trung đô Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện đồ, trong sách Thiên Nam tứ
chí lộ đồ thư, kí hiệu A.73;
Trung đô sơn xuyên hình thắng chi đồ, trong sách Thiên Nam lộ đồ, ký hiệu
A.1081;
Trang 36Trung đô Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện đồ, trong sách Nam Việt bản
đồ, ký hiệu A.1601;
Trung đô nhất phủ nhị huyện chi hình, trong sách Thiên tải nhàn đàm, ký hiệu
A.2006;
Trung đô, trong sách Hồng Đức bản đồ, ký hiệu A.2499;
Trung đô đồ, trong sách An Nam quốc, Trung đô tịnh thập tam tuyên hình thắng
đồ hoạ, ký hiệu A.2531;
Thăng Long thành Phụng Thiên phủ nhất phủ nhị huyện trong sách Thiên tải
- hình thước thợ Ở phía bắc và phía tây, tường thành men theo dòng chảy của sông Tô Lịch Phía nam, tường thành chạy phía sau Văn Miếu, gần như song song với cạnh bắc, trừ một đoạn tường gấp khúc Tường phía đông song song với bờ sông Hồng Bên trong tòa thành hình thước thợ là những chú thích vị trí các cung điện, địa danh quan trọng Nhiều lớp địa danh này xuất hiện tương đối muộn chứng tỏ các bản đồ đều được sao chép, bổ sung thêm thông tin bởi người đời sau Về nội dung, bộ bản đồ Thăng Long trong 11 cuốn sách trên giống nhau về đại thể trên phạm vi cương giới, hệ thống hành chính, địa hình, địa vật thể hiện
Trung đô Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện đồ, trong sách Thiên Nam
tứ chí lộ đồ thư, ký hiệu A.73 Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư thể hiện bản đồ hệ thống
đường sá Việt Nam, đường bộ từ Thăng Long đến Bố Chính, La Hà; đường thuỷ đến Nghệ An Văn bản có 122 trang, khổ 31 x 19cm
Trang 37Trung đô sơn xuyên hình thắng chi đồ trong sách Thiên Nam lộ đồ, ký hiệu
A.1081 Thiên Nam lộ đồ do Nhữ Ngọc Hoàn biên soạn năm Cảnh Hưng 31 (1770) bao
gồm bản đồ Trung đô và 13 thừa tuyên, vẽ chi tiết đến các phủ huyện xã, bản đồ 4 trục đường lớn từ Trung đô đi Chiêm Thành, Châu Khâm, Quảng Tây và Nam Quan Sách gồm 202 trang, khổ 22 x 11cm
Trung đô Thăng Long thành nhất phủ nhị huyện đồ trong sách Nam Việt
bản đồ, ký hiệu A.1601, 186 trang, khổ 29,5 x 17,5cm Bản A.1601 còn có Toản tập
Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (từ tr 63-186)
Trung đô nhất phủ nhị huyện hình thắng chi đồ trong Hồng Đức bản đồ, 52
trang, kí hiệu VHt.41 Bản đồ Thăng Long được vẽ ở tờ 4b - 5a, khổ 35 x 46cm1
Trung đô, trong sách Hồng Đức bản đồ kí hiệu A.2499, có 174 trang, bản đồ
Thăng Long được vẽ ở trang 4b-5a khổ 30 x 40cm Sách ghi rõ được vẽ vào năm Hồng Đức 21 (1490) gồm 1 bản đồ toàn quốc, gồm 1 bản đồ toàn quốc, 1 bản đồ Trung Đô (Thăng Long) và 13 bản đồ thuộc 13 thừa tuyên (Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, An Bang, Thuận Hóa, Quảng Nam), trong đó có ghi rõ 49 châu, 181 huyện, 53 phủ, các núi, sông, thành trì, đường sông, đường bộ, đường biển A.2499 còn có thêm một số văn bản
Hán Nôm khác, cụ thể: bài Giao Châu chí do Trương Phụ và Mộc Thạnh soạn năm Vĩnh Lạc nhà Minh, sau khi đánh Hồ Quý Li, nói về vị trí, bờ cõi đất Giao châu; Toản tập
Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (trong A 2499 từ tr 59-158), do Đỗ Bá, hiệu Đạo Phủ soạn
và viết lời dẫn: bản đồ đường bộ, đường sông, đường biển từ Thăng Long đi Chiêm Thành, Châu Khâm, Châu Niệm, Quảng Tây, Vân Nam, Bắc Quang; từ Đồng Hới đi Cao Miên, bản đồ phủ Cao Bằng, bản đồ trấn doanh Mục Mã vẽ năm Cảnh Thịnh
Trung đô nhất phủ nhị huyện chi hình trong sách Thiên tải nhàn đàm, ký hiệu
A.2006 được Đàm Nghĩa An biên soạn đầu thời Gia Long
Trung đô đồ trong An Nam quốc, Trung đô tịnh thập tam tuyên hình thắng đồ
hoạ, kí hiệu A.2531, 26 trang, khổ 15 x 12,4cm gồm bản đồ Thăng Long, 13 thừa
tuyên và 1 bản đồ sông núi cả nước Trung đô đồ được vẽ ở tờ 2b - 3a2
1 VHt 41 do một gia đình ở Tiên Điền, h Nghi Xuân tặng ông Lê Thước năm 1960 Ông Lê Thước tặng lại Thư viện Khoa học trung ương năm 1965 (nay chuyển về Thư viện VNCHN Theo lời ông Lê Thước (ghi trong VHt.41 và A.2499) thì tập bản đồ này không phải vẽ vào thời Hồng Đức (1470-1497) Vì "Trung Đô" thời Hồng Đức mang tên là Vương Phủ (tờ 5a); chữ "Yên Bang" viết thành "Yên Quảng" (kiêng húy Lê Duy Bang, tờ 23a)
"Tân Bình" viết thành "Tiên Bình" (Kiêng húy Lê Duy Tân, tờ 23b)
2
Trên sách ghi là vẽ năm Lê Hồng Đức 21 (1490), nhưng theo vị trí và địa danh của bản đồ, có thể biết tập này được sao chép từ 1 tập bản đồ muộn hơn thời Hồng Đức Sách cũ nát
Trang 38Thăng Long thành Phụng Thiên phủ nhất phủ nhị huyện, trong sách Thiên
tải nhàn đàm, kí hiệu A.2716
Trung đô nhất phủ nhị huyện hình thắng chi đồ từ sách An Nam hình thắng
đồ 1 , kí hiệu A.3034, 280 trang, khổ 29 x 18cm là tập bản đồ thời Lê gồm: bản đồ toàn
quốc, bản đồ Trung đô (Kinh đô Thăng Long) và bản đồ 13 thừa tuyên (gồm 53 phủ,
181 huyện, 49 châu), bản đồ đường thủy, đường bộ từ Kinh đô Thăng Long đến Chiêm Thành, bản đồ đi sứ từ Thăng Long đến Yên Kinh (Bắc Kinh, Trung Quốc) Có nhiều
thơ vịnh cảnh, nhiều địa danh ghi bằng chữ Nôm Trung đô nhất phủ nhị huyện hình
thắng chi đồ được vẽ ở tờ, 4b-5a, khổ 30 x 40cm
Thăng Long thành Phụng Thiên phủ, nhất phủ nhị huyện trong sách Thiên
Nam tứ chí lộ đồ thư, kí hiệu VHt.30
Trung đô xứ nhất phủ nhị huyện tam thập lục phường nhất danh Phụng
Thiên phủ trong sách Thiên hạ bản đồ, VHt.30/VHc.01282
Các văn bản này xuất hiện rải rác trong quãng thời gian dài và muộn, thậm chí đầu thế kỷ XIX2 Ngoại trừ những điểm khác biệt nhỏ, phải so sánh mới có thể nhận thấy thì 11 bản đồ rất giống nhau về hình dáng các tòa thành, các yếu tố tự nhiên Đại
1
Còn có các tên gọi khác là An Nam hình thắng đồ, phụ Nam Bắc sứ đồ Sách nát, mất một số tờ Ngay bản đồ Thăng
Long cũng bị rách một đoạn, mới được bồi lại
2
Ngay trong một văn bản đã chứa đựng những phức tạp Đơn cử bản A.2499 là bản được sử dụng, trích dẫn nhiều nhất cũng có nhiều vấn đề về văn bản Bản A.2499 bao gồm: Hồng Đức bản đồ, Giao châu chí, Chí lược Giao chỉ đạo tam, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Giáp Ngọ bình Nam đồ, Cảnh Thịnh tân đồ Đại Man quốc, Cao Bằng phủ toàn đồ, Mục
Mã trấn doanh đồ Mặc dù văn bản ghi là hoàn thành vào năm Hồng Đức 21 (1490) nhưng nhiều trong số đó có niên đại muộn So sánh tương đối giữa các thừa tuyên, phủ, huyện, châu, hương, phường, xã giữa A.2499 với ghi chép từ
Đại Việt sử ký toàn thư cũng khác nhau
Trang 39thể, các bản đều đặt Trung Đô đúng vị trí giới hạn bởi sông Nhĩ Hà ở phía đông, sông
Tô Lịch ở phía bắc và phía tây, phía nam là sông Kim Ngưu Hình dáng Hoàng thành, Cấm thành đều có sự trùng khớp Sự giống nhau này cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa các bản đồ, đồng thời phản ánh chung nhất hình ảnh kinh thành Thăng Long trong một thời gian dài
Khi nghiên cứu bản đồ này, chúng ta gặp khó khăn bởi niên đại văn bản, tỷ lệ họa pháp nhưng cũng có điểm tương đồng rất lớn về hình dáng, lượng thông tin Vì vậy, khi sử dụng bản đồ Hồng Đức với vai trò là nguồn tư liệu hình ảnh quan trọng, chúng tôi đồng ý “không cần quan tâm nhiều đến tỷ lệ, tấm bản đồ nhằm giới thiệu một không gian cũng như để diễn giải không gian đó, nó dành một vị trí lớn cho những địa điểm được đánh giá là quan trọng và giảm thiểu hoặc loại bỏ những địa điểm khác Hồ Tây - ở đây vừa bị thu hẹp, vừa bị dịch chuyển về phía đông - nối liền với sông Tô Lịch nằm ngay giữa bản đồ Tương tự như vậy, các dãy tường thành được mở rộng ra Quốc Tử Giám, biểu tượng của con đường hoạn lộ nằm ngay chính giữa kinh thành” [184, 124] Những hình ảnh bản đồ thể hiện sẽ cung cấp thông tin mới, bổ sung cho nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội
Thông tin từ chú thích trên bản đồ Hồng Đức
Chú thích trên bản đồ là những yếu tố cấu thành nên bản đồ, là nguồn thông tin được người vẽ thể hiện nhằm cung cấp cho người xem Lượng chú thích từ các bản đồ không đều nhau, cụ thể:
Bảng 1: Số lƣợng chú thích trên bản đồ A.73 A.1081 A.1601 A.2006 A.2499 A.2531 A.2716 A.3034 VHt.30 VHc.01282 VHt.41
Lượng thông tin trên bản đồ là không giống nhau Có những bản đồ thể hiện nhiều thông tin như bản A.2499, VHt.30, A.2716 (50-53 chú thích), A.1081, A.3034 (40, 42 chú thích) phổ biến ở mức 34 đến 38 thông tin (A.2006, A.2531, VHt.41) Bản VHc.01282 đơn giản nhất với 20 chú thích
Để tiện theo dõi lượng thông tin có được từ các chú thích, chúng tôi tiến hành phân loại thành 6 nhóm là Phương hướng; Sông-hồ-núi-đầm; Đơn vị hành chính; Thành lũy, dinh thự, cung điện; Di tích lịch sử, công trình tôn giáo tín ngưỡng1:
1 Sự phân chia có tính tương đối, căn cứ trên nội dung mà chú thích biểu đạt thông tin Ví dụ, mục
Sông-hồ-núi-đầm là những chú thích liên quan đến điều kiện tự nhiên, đó là sông, hồ Mục Thành lũy, dinh thự, cung điện tập
hợp các lớp địa danh liên quan đến thành lũy, cung điện…
Trang 40Biểu đồ 2: Tần số xuất hiện các chú thích trên 11 bản đồ
15.5
24.3 8.1
7.9 44.2
Phương hướng
Sông-hồ-núi-đầm
Đơn vị hành chính
Di tích lịch sử, công trình tông giáo, tín ngưỡng
Thành lũy, dinh thự, cung điện
Phương hướng: Các chú thích liên quan đến phương hướng, giáp giới của kinh
thành Thăng Long đều được chỉ định khá rõ ràng Ngoài việc phân chia các hướng nam, bắc, tây, đông thì các bản đồ đều thể hiện giới hạn hành chính của Thăng Long như: phía đông giáp với Kinh Bắc, phía tây giáp với Sơn Tây, phía nam giáp Sơn Nam, phía bắc giáp Sơn Tây (hoặc Kinh Bắc) Tuy chú thích không rõ ràng là phía đông giáp với Kinh Bắc ở địa phận huyện nào những thông tin về phương hướng, giúp người xem
có những hình dung, dù rằng rất tương đối về giới hạn
Sông-hồ-núi-đầm là yếu tố chỉ định rất quan trọng với Thăng Long Tần số
xuất hiện của lượng thông tin này rất lớn (24,3%) Về sông, 11 bản đồ đều thể hiện sông Nhĩ Hà và Tô Lịch, sông Thiên Đức (8/11), Thiên Phù (6/11) Có 5 bản đồ (A.1601, A.2499, A.2531, A.2716, VHt.30) có chú thích kèm theo hình vẽ về 4 sông này, khẳng định sự ảnh hưởng quan trọng của nó đối với giao thông và xây dựng của Thăng Long
Dòng chảy sông Hồng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sinh hoạt của Thăng Long Trong quá trình vận động, sông Hồng đã bồi lắng ở giữa sông những bãi bồi lớn,
đó là bãi Vạn Bảo (10/11 bản đồ thể hiện) và Cơ Xá (5/11 bản đồ thể hiện) Ngoài sông, Hồ Tây cũng có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống Thăng Long Bản đồ thể hiện Tây Hồ là một hồ nước lớn nhất trong tất cả các hồ được vẽ, nối thông với sông
Tô Lịch Bên cạnh hình ảnh còn kèm theo chú thích (11/11 bản đồ) Một hồ nước lớn cũng rất quan trọng là Đại Hồ Đại Hồ là một tập hợp tất cả các hồ nước ở phía nam Văn Miếu liên thông với nhau Phạm vi của Đại Hồ, nhiều bản đồ không vẽ thống nhất nhưng đó là khu vực Nam Đồng, Thịnh Quang, Kim Liên ngày nay Đến đầu thế kỷ