1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

84 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 593,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh(Luận văn thạc sĩ) Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ NGỌC HUỆ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN

CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI

CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ NGỌC HUỆ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG VỤ ÁN

CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI

CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn có được là do quá trình lao động

trung thực của tôi

Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2019

NGƯỜI CAM ĐOAN

TRƯƠNG THỊ NGỌC HUỆ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 : MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 9

1.1 Khái niệm - Phạm vi - Đặc điểm của thực hành quyền công tố 9

1.1.1 Khái niệm - Phạm vi 9

1.1.2 Đặc điểm và nội dung hực hành quyền công tố 14

1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp 16

1.2 Khái niệm- Đặc điểm tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 19

1.2.1 Khái niệm 19

1.2.2 Đặc điểm 19

1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thực hành quyền công tố trong các giai đoạn tố tụng 22

1.3.1 Giai đoạn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 22

1.3.2 Giai đoạn điều tra vụ án 26

1.3.3 Giai đoạn truy tố 28

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32

Trang 5

2.1 Tình hình tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 thời gian từ năm 2014 đến năm

2018 32

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Quận 9 32

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh……….34

2.1.3 Tình hình của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 35

2.2 Kết quả thực hành quyền công tố đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh 38

2.3 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 47

2.3.1 Những hạn chế, tồn tại 47

2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 56

Chương 3:YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 60

3.1 Yêu cầu và phương hướng 60

3.1.1 Yêu cầu 60

3.1.2 Phương hướng 62

3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh 62

3.2.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác thực hành quyền công tố đối với

Trang 6

các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 62 3.2.2 Nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo, điều hành trong công tác thực hành quyền công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 63 3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố 64 3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân 66

3.3 Kiến nghị 67

3.3.1 Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn giải đáp một số vấn đề vướng mắc trên thực tế và sửa đổi nội dung quy định không phù hợp 67 3.3.2 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và các cơ quan hữu quan 69

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số vụ, số bị can về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

sức khỏe của người khác bị khởi tố từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn Quận 9 35

Bảng 2.2 Số vụ án và bị can bị đình chỉ, tạm đình chỉ về tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong các năm từ 2014 -

2018 trên địa bàn Quận 9 40

Bảng 2.3 Số vụ án và bị can về tội tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác kết thúc điều tra được VKS truy tố trong các năm từ 2014-2018 trên địa bàn Quận 9 45

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình kinh tế - xã hội đất nước ngày càng phát triển kéo theo hệ lụy

là tội phạm ngày càng gia tăng và phức tạp hơn Điều này đặt ra yêu cầu nặng

nề hơn cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Quốc hội về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm đã nhấn mạnh yêu cầu cụ thể về các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay Để

cụ thể hóa các chủ trương, biện pháp đó, các văn bản pháp luật hình sự, đặc biệt là quy định của Bộ luật hình sự, BLTTHS ngày càng được hoàn thiện hơn Trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm thuộc về nhân dân và cả

hệ thống chính trị, trong đó, trách nhiệm của các cơ quan tư pháp, trong đó có VKS Trách nhiệm đó được VKS thực hiện thông qua công tác thực hiện chức năng của mình, nhất là công tác THQCT Trước yêu cầu cải cách tư pháp, trách nhiệm của VKS càng được đặt ra nặng nề hơn Nghị quyết số 08/NQ-

TN ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị đã khẳng định

“VKSND tiếp tục thực hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp … tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra…” Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định VKSND có chức

năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm thực hiện “nhiệm vụ bảo

vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội

chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ

chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”[15, tr.27] Điều này đòi hỏi hoạt động của VKSND nói chung, hoạt động THQCT nói riêng cần được nhận thức đầy đủ, đúng đắn, thực hiện

Trang 10

một cách triệt để, có hiệu quả Trên cơ sở đó, Ngành kiểm sát cũng đã xác định rõ nhiệm vụ và đặt ra yêu cầu cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ đó thông qua nhiều văn bản như Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10 tháng 7 năm 2015 về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị nằm ở vị trí cửa ngõ Đông Bắc của thành phố, nối liền địa bàn kinh tế trọng điểm của khu vực Quận 9

có diện tích 113,896.200 km2, có 13 phường với dân số 235.268 người [5] Với địa bàn rộng, dân cư tương đối đông và hàng năm đều gia tăng, kinh tế ngày càng phát triển đưa đến hệ lụy là tình hình tội phạm cũng ngày càng gia tăng Vì vậy, bên cạnh giữ vững ổn định, phát triển kinh tế, Quận 9 còn đối mặt với không ít những khó khăn về vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khỏe của người khác So với các địa phương khác, Quận 9 là khu vực luôn chiếm tỷ lệ tương đối lớn về loại tội phạm này và hiện nay đang có chiều hướng gia tăng về số lượng cũng như mức độ nguy hiểm Công tác THQCT đối với các tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực, vai trò của Viện kiểm sát ngày càng được khẳng định Hầu hết các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra trên địa bàn quận được phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo sự nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác của Viện kiểm sát cho thấy, công tác thực hành quyền công

Trang 11

tố đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 cũng có những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau cần được khắc phục kịp thời

Trước thực trạng nêu trên, việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thực hành công tố đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: Thực hành quyền công tố trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườì khác từ thực tiễn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh” làm Luận văn

“THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của TS Lê

Hữu Thể, TS Đỗ Văn Đương và CN Nông Xuân Trường Cuốn sách này tác giả chủ yếu đưa ra và phân tích các vấn đề lý luận chung về thực hành quyền công tố và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Bên cạnh đó còn

có cuốn “Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp”

của TS Nguyễn Hải Phong (chủ biên) Cuốn sách này tác giả chủ yếu đưa ra và phân tích các vấn đề lý luận chung về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, chủ trương định hướng của Đảng và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra mà không gắn công tác

Trang 12

này với tội phạm cụ thể Bên cạnh đó, những cuốn bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự của các trường như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh hoặc các cuốn bình luận của các tác giả như GS.TS Nguyễn Ngọc Anh – LS.TS Phan Trung Hoài, TS Phạm Mạnh Hùng và các đồng tác giả, TS Trần Văn Biên – TS Đinh Thế Hưng, … cũng nghiên cứu về công tác thực hành quyền công tố nhưng chỉ đề cập với thời lượng ít và mang tính chất chung đối với quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự mà không đi sâu nghiên cứu công tác này cũng như không gắn công tác này với tội phạm cụ thể

Nghiên cứu dưới góc độ luận văn có tác giả Trịnh Duy Tám với luận

văn thạc sỹ luật học "Áp dụng pháp luật trong THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSND ở Việt Nam hiện nay”; tác giả Nguyễn Mạnh Tùng với luận văn thạc sỹ luật học “THQCT và kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án về ma túy ở Thành phố Hà Nội”; tác giả Phạm Anh Đức với luận văn thạc sỹ

“Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố”; tác giả Nguyễn Ngọc Ánh với luận văn thạc sỹ luật học

“THQCT và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn thành phố Hà Nội”; tác giả Phan Thị Sa với luận văn thạc sỹ luật học “THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, tác giả Lê Thị Tuyết Hoa với luận án tiến sỹ luật học

“Quyền công tố ở Việt Nam”, Các công trình này nghiên cứu về công tác

thực hành quyền công tố nói chung, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra hoặc giai đoạn xét xử gắn với một loại tội phạm cụ thể như tội phạm về ma túy, tội xâm phạm sở hữu

Ngoài ra, có nhiều tác giả thể hiện quan điểm nghiên cứu về vấn đề này dưới dạng các bài viết khoa học được đăng trên các báo, tạp chí như: bài viết

Trang 13

“Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp” của tác giả Lê Hữu Thể đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 14 – 16/2008; “Bàn về mô hình viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Lại Hợp Việt, tạp chí kiểm sát số 14-16/ 2008; bài viết “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong giai đoạn điều tra trong BLTTHS” của tác giả Nguyễn Tiến Sơn đăng tạp chí kiểm sát số 09/2015; bài viết “Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS theo yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả Nguyễn Duy Giảng đăng trên Trang thông tin điện tử của VKS ND tối cao; bài viết “Một số vấn

đề về quyền công tố” của tác giả Trần Văn Độ đăng trên Tạp chí Luật học số 3/2001, bài viết “thực trạng công tác THQCT ,kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự tại Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Bình Dương và giải pháp,

kiến nghị” của tác giả Nguyễn Phước Trung đăng trên Trang thông tin điện tử

của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, …

Các công trình nghiên cứu, các bài viết nêu trên đã đề cập các góc độ khác nhau khi bàn về hoạt động THQCT dưới góc độ lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tác giả nào đưa ra công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về công tác THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhất là gắn với địa bàn cụ thể là Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận

về THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật để trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số đề xuất, kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng công tác THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng và các vụ án hình sự nói chung

Trang 14

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn

đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ:

+ Làm rõ lý luận về THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

+ Làm rõ quy định của BLTTHS năm 2015 và các văn bản pháp luật có

liên quan về THQCT trong các giai đoạn tố tụng

+ Phân tích, đánh giá thực trạng công tác THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác này

+ Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu:

Công tác THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về thời gian: luận văn tập trung khảo sát công tác THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến năm 2018;

+ Phạm vi về không gian: luận văn khảo sát tình hình thực hiện công tác THQCT đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 15

+ Phạm vi về nội dung: Công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được Viện kiểm sát thực hiện trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Tuy nhiên, với thời gian ngắn và khả năng nghiên cứu có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, khảo sát thực trạng công tác này ở hai giai đoạn là điều tra và truy tố

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể là các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống

kê, so sánh, nghiên cứu án điển hình nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài

6 Đóng góp mới và ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu đi sâu vào phân tích một cách tương đối đầy đủ, toàn diện, có hệ thống quy định về hoạt động của Viện kiểm sát khi THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và việc áp dụng những quy định đó trên thực tế Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn có thể góp phần bổ sung và làm phong phú thêm lý luận về hoạt động THQCT đối với các vụ án

về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới góc độ pháp lý hình sự, tố tụng hình sự và đưa ra cơ sở khoa học của hoạt động hoàn thiện pháp luật về hoạt động này

Trang 16

Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với những người làm công tác thực tiễn để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và những người học tập, giảng dạy, nghiên cứu lập pháp về công tác THQCT đối với các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 : Một số vấn đề lí luận và pháp luật về THQCT đối với các

vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Chương 2: Thực trạng THQCT các vụ án cố ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Yêu cầu và một số giải pháp nâng cao hiệu quả THQCT

đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC

HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY

THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA

NGƯỜI KHÁC 1.1 Khái niệm - Phạm vi - Đặc điểm của thực hành quyền công tố

1.1.1 Khái niệm - Phạm vi

Khái niệm về quyền công tố:

Chế định VKS được quy định trong pháp luật Việt Nam đã từ rất lâu

nhưng cho đến Hiến pháp năm 1980 thì thuật ngữ “thực hành quyền công tố”

với tư cách là chức năng của Viện kiểm sát mới được chính thức ghi nhận Từ

thời điểm đó, khái niệm quyền công tố và THQCT đã được nghiên cứu, đề

cập khá nhiều trong khoa học pháp lí nước ta dưới các góc độ khác nhau

Song, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận

thức đối với vấn đề này, chưa có một quan điểm thống nhất khi bàn về quyền

công tố Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, công tố có

nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án" [34, tr.204]

Theo đó, công tố bao gồm cả hoạt động điều tra và truy tố, buộc tội kẻ phạm

tội trước Tòa án Theo Từ điển Luật học, công tố “là quyền của Nhà nước

truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”[26, tr.188] Ở Việt Nam

hiện nay, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKS thực hiện Trên cơ sở

đó có thể hiểu, “quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với

người phạm tội”[26, tr.188] Trong giới nghiên cứu khoa học, khái niệm

quyền công tố được đưa ra tương đối nhiều nhưng có thể kể đến một số quan

điểm chính sau:

Quan điểm thứ nhất: “Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho

VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực

hiện quyền công tố)” [21, tr.24] Như vậy, theo quan điểm này, quyền công tố

Trang 18

chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự, đó là quyền của Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa hình sự (duy trì quyền công tố) Và ở Việt Nam, quyền này được giao cho chủ thể duy nhất là VKSND Điều này đồng nghĩa với việc công tác thực hiện quyền công

tố chỉ diễn ra ở một lĩnh vực duy nhất là TTHS và công tác này cũng chỉ tồn tại ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm Quan điểm này chưa phản ánh đầy đủ bản chất của quyền công tố Bởi lẽ, truy tố và buộc tội chỉ là một trong số các quyền năng, hoạt động của VKS ở giai đoạn xét xử sơ thẩm trong TTHS Ngoài hai quyền năng đó, VKS còn có nhiều quyền năng khác khi THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự và ở các giai đoạn khác trong TTHS

Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho

các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội”[21, tr.26] Theo quan điểm này, chủ thể THQCT không chỉ có VKS mà còn có các cơ quan tiến hành tố tụng khác như CQĐT, Tòa án, Thi hành án Như vậy, quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án đối với các vụ án hình sự Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công

tố với nguyên tắc TTHS, dẫn đến nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội, gỡ tội, xét xử …)

Quan điểm thứ ba: “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực

hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKS ) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [21, tr.40] Cụ thể, cơ quan có chức năng THQCT có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để có thể xác định một cách chính xác tội phạm, người phạm tội và trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can

Trang 19

ra trước Tòa án cũng như bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa Bên cạnh đó, theo quan điểm này thì cơ quan có quyền công tố được phép nhân danh Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và quyền này chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS Ở Việt Nam, VKS ND là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao quyền công tố mà không có bất kỳ cơ quan nào có thể thay thế được

Có thể nói rằng, cho đến nay, khi đưa ra khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan điểm khác nhau Mỗi quan điểm đều có những yếu tố hợp lý nhưng cũng đều thể hiện những bất cập nhất định Với nhận thức của mình khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả ủng hộ khái niệm quyền công tố được đưa ra tại quan điểm thứ năm nêu trên, bởi một số lý do sau:

Một là, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống ở Việt

Nam khi nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố Theo đó, quyền công tố là quyền của Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự

Hai là, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định pháp luật của

Nhà nước ta qua các thời kỳ về quyền công tố Cụ thể, Hiến pháp, Luật tổ chức VKS ND và pháp luật tố tụng hình sự của nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định VKSND có chức năng THQCT Bên cạnh đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị cũng đã nêu rõ: "VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp [1, tr 8] Bên cạnh đó, quan điểm của ngành Kiểm sát cũng

đã thể hiện một cách thống nhất từ trước đến nay: "Việc THQCT chỉ có trong lĩnh vực hình sự và chỉ trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử" [23, tr 2]

Phạm vi quyền công tố

Về phạm vi không gian: dựa trên quan điểm chính thống về khái niệm

quyền công tố được đưa ra ở trên có thể khẳng định rằng quyền công tố chỉ có

Trang 20

trong lĩnh vực TTHS mà không thể có trong lĩnh vực tố tụng khác Theo đó, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội Việc buộc tội thì chỉ có trong lĩnh vực TTHS, cho nên quyền công tố không thể tồn tại trong các lĩnh vực khác không liên quan đến sự buộc tội như trong tố tụng hành chính, dân sự, kinh tế, Vì lẽ đó, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực duy nhất có liên quan đến tội phạm và sự buộc tội là lĩnh vực TTHS

Về phạm vi thời gian: theo quan điểm khoa học được thừa nhận phổ

biến hiện nay, “phạm vi quyền công tố bắt đầu có từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị” [21, tr.50-51] Tác giả cho rằng quan điểm này rất đúng đắn Bởi lẽ, từ khi tội phạm được thực hiện, trách nhiệm của cơ quan được giao quyền công tố là tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội cũng như xác định căn cứ để buộc tội họ Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp THQCT đều kéo dài đến khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà có thể chấm dứt ở giai đoạn

tố tụng sớm hơn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Bởi vì, không phải tất cả các vụ án hình sự đều được đưa ra xét xử trước Tòa án mà ở giai đoạn tố tụng nào đó khi quyền công tố chấm dứt thì quyền THQCT cũng không còn Như vậy, phạm vi quyền công tố kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt, nó sẽ kết thúc khi có quyết định đình chỉ vụ án

Khái niệm về thực hành quyền công tố

Trên cơ sở khái niệm quyền công tố, khái niệm thực hành quyền công tố cũng được đưa ra tương đối nhiều Theo Từ điển tiếng Việt, “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế, thực hành đồng nghĩa với

“thực hiện”” [33, tr.1245] Như vậy, THQCT có thể được hiểu là áp dụng

Trang 21

quyền công tố vào thực tế THQCT cũng được hiểu là “hoạt động của VKS trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án” [8, tr.12] Từ điển Luật học đưa ra khái niệm, “THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” [26, tr.188] Như vậy, để đảm bảo thực hiện quyền công tố trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm thì Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định cụ thể các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng này được giao cho cơ quan có trách nhiệm THQCT thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội Từ năm 1960 đến nay, VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng THQCT Để thực hiện chức năng này, VKSND phải sử dụng tất cả quyền năng pháp lý về TTHS nhằm phát hiện kịp thời, xử

lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội cũng như không làm oan người vô tội Luật Tổ chức VKSND năm 2014 cũng đã có quy định về bản chất của chức năng này, theo đó, THQCT “là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [18, tr 8]

Phạm vi THQCT là vấn đề hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, phạm vi THQCT chỉ có trong lĩnh vực TTHS Công tác này được “bắt đầu từ khi vụ việc phạm tội xảy ra và trong suốt quá trình điều tra đến khi kết thúc việc buộc tội” [8, tr 13] Việc buộc tội kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc khi vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS Như vậy, phạm vi của công tác THQCT bắt đầu từ khi vụ việc

Trang 22

phạm tội xảy ra và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc khi vụ án bị đình chỉ Cụ thể, VKSND THQCT ở các giai đoạn và lĩnh vực sau: THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; THQCT trong giai đoạn điều tra; THQCT trong giai đoạn truy tố; THQCT trong giai đoạn xét xử

1.1.2 Đặc điểm và nội dung THQCT

Đặc điểm của THQCT

Khác với hoạt động của VKSND trong các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, hoạt động THQCT chỉ tồn tại duy nhất trong lĩnh vực TTHS

Về chủ thể THQCT: dưới góc độ chức năng của chủ thể được giao quyền tiến hành tố tụng, THQCT là chức năng mà Nhà nước chỉ giao cho cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất đó là VKS Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác không có chức năng này

Hoạt động THQCT mang tính công khai và được thực hiện theo trình

tự, thủ tục tố tụng do pháp luật quy định Vì vậy, hoạt động của VKS mang tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và được giám sát bởi nhiều chủ thể khác nhau

Dưới góc độ chức năng của cơ quan tiến hành tố tụng, THQCT là thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội, …

Mục đích của THQCT là nhằm bảo đảm mọi hành vi và người phạm tội được phát hiện, xử lý một cách kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân một cách trái luật Mục đích của hoạt động THQCT tuy vẫn phải bao hàm cả việc xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội nhưng thực hiện quyền

Trang 23

buộc tội đối với người phạm tội vẫn là chủ yếu

Nội dung của THQCT

Luật tổ chức VKSND năm 2014 và BLTTHS đã quy định rõ, nội dung của công tác THQCT bao gồm:

Quyết định phát động quyền công tố để mở cuộc điều tra hình sự đối với sự kiện phạm tội, người phạm tội: Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong một số trường hợp

Quyết định việc có hạn chế hay không quyền tự do, dân chủ của cá nhân người phạm tội: Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố

Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

Quyết định việc thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng (đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, quyết định truy tố bị can ra tòa)

Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra

Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp

Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

Trang 24

1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp

THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp tuy là hai chức năng độc lập của VKS, có đối tượng và nội dung khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Như đã phân tích ở trên, THQCT là hoạt động của VKSND trong TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội Công tác này được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

vụ án hình sự Chức năng của THQCT là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, truy tố người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó Như vậy, đối tượng hướng tới của THQCT là vạch tội người phạm tội ra trước Tòa án, nó chỉ tồn tại duy nhất trong lĩnh vực TTHS VKSND THQCT nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội nhưng cũng không để xảy ra oan, sai

Còn “kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKS ND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật” [18, tr.10-11] Kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm mục đích kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp: phát hiện vi phạm pháp luật, kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm, đảm bảo quá trình tiến hành tố tụng tuân

Trang 25

thủ các nguyên tắc, trình tự thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật Kiểm sát hoạt động tư pháp được thực hiện trong lĩnh vực TTHS và trong quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động

Như vậy, mối quan hệ giữa hai chức năng này chỉ tồn tại trong lĩnh vực TTHS Trong đó, tuy là hai chức năng độc lập nhưng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, chỉ có một

số hoạt động mang tính độc lập tương đối, còn lại đa số các hoạt động của chúng đan xen và hỗ trợ, tác động qua lại lẫn nhau Nếu xét ở từng giai đoạn

tố tụng thì các chức năng này thể hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau với các nội dung cụ thể khác nhau Nhưng xét một cách tổng thể thì dù ở giai đoạn tố tụng nào chúng cũng thể hiện mối quan hệ gắn bó hữu cơ, đan xen, tác động qua lại và bổ sung một cách tích cực cho nhau, điều này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Kết quả của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ sở cho việc THQCT có hiệu quả và ngược lại việc THQCT đảm bảo sự tuân thủ pháp luật Khi có cơ sở xác định tội phạm từ tố giác của người dân, tin báo của cơ quan, tổ chức hoặc thông qua hoạt động điều tra phát hiện dấu hiệu của tội phạm thì CQĐT sẽ phải thực hiện một số hoạt động điều tra ban đầu để xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không? Nếu đủ căn cứ xác định có dấu hiệu của tội phạm thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra đồng thời phải thông báo cho VKS cùng cấp biết Lúc này VKS với chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ tiến hành kiểm sát việc tuân theo các quy định của pháp luật về khởi tố vụ án của CQĐT Trong quá trình kiểm sát điều tra nếu phát hiện thấy quyết định khởi tố của CQĐT là không có căn cứ hoặc có dấu hiệu trái pháp luật thì VKS sẽ THQCT của mình bằng cách ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQĐT Nếu trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu

Trang 26

của tội phạm nhưng CQĐT đã ra quyết định không khởi tố thì VKS sẽ hủy bỏ quyết định đó của CQĐT và ra quyết định khởi tố Khi vụ án đã được khởi tố cũng đồng nghĩa với quyền kiểm sát hoạt động điều tra của VKS được phát động, VKS sẽ thực hiện quyền kiểm sát của mình trong suốt quá trình điều tra của CQĐT để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Như vậy, có thể thấy, nếu VKS làm tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của mình thì chức năng THQCT của VKS cũng sẽ được bảo đảm đúng pháp luật Ngược lại, nếu làm không tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp thì việc THQCT của VKS có thể sẽ vi phạm pháp luật (và có thể dẫn đên hậu quả là: quyết định của VKS cấp dưới vi phạm pháp luật sẽ bị VKS cấp trên hủy bỏ) và đối với những trường hợp đó thì vụ án sẽ bị đình chỉ, VKS có thể sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bị can, bị cáo nếu có thiệt hại xảy ra, đồng thời sẽ làm giảm sự tin tưởng của nhân dân vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành tư pháp

Trong quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự, VKS không tách rời các hoạt động thực hiện chức năng THQCT với các hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật để thực hiện độc lập mà luôn gắn kết một cách chặt chẽ Có như thế, VKS mới có thể thực hiện chủ trương của Ngành là “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra” đem lại kết quả tốt, bảo đảm mọi hành vi và người phạm tội được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án kịp thời, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không gây ra oan, sai

Mối quan hệ chặt chẽ này được thể hiện trong suốt quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố vụ án hình sự cho đến giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án

Như vậy, có thể thấy THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là

Trang 27

hai chức năng cơ bản và quan trọng nhất của VKS mà giữa chúng có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau, không thể tách rời nhau trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nếu vi phạm chức năng này sẽ ảnh hưởng chức năng khác và ngược lại

1.2 Khái niệm- Đặc điểm tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.2.1 Khái niệm

Theo Từ điển Luật học, “Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích cụ thể” [26, tr.172] “Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi mà người phạm tội dùng sức mạnh vật chất hoặc các thủ đoạn khác tác động lên thân thể người khác làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi, không còn nguyên vẹn như trước mặc dù không để lại dấu vết trên thân thể họ” [6, tr.11] Như vậy có thể hiểu, “Tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe trong các trường hợp luật định [25, tr.96-97] Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều

134, nằm trong nhóm các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của BLHS hiện hành Cũng như các tội phạm khác thuộc chương này, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người Tội này lần đầu tiên được quy định tại Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam

1.2.2 Đặc điểm

Giống như tất cả các tội phạm khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây

Trang 28

tổn hại cho sức khỏe của người khác có đầy đủ 04 yếu tố cấu thành tội phạm:

Thứ nhất, khách thể của tội phạm cố ý gây thương tích là một trong những khách thể quan trọng nhất được Luật hình sự bảo vệ Khách thể của tội phạm này là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của công dân, khách thể trực tiếp của tội phạm này là sức khỏe của người khác, là người đang sống, đang tồn tại độc lập trong thế giới khách quan với tư cách là một thực thể tự nhiên và xã hội Một người đang sống, đang tồn tại được xác lập bắt đầu kể từ khi sinh ra cho đến khi ngừng thở, tim ngừng hoạt động (cái chết về mặt sinh học) chứ không phải cái chết về mặt pháp lý Một người nào đó nếu

đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết nhưng thực tế họ vẫn còn sống thì hành vi nào xâm phạm đến sức khỏe của người này vẫn coi là tội phạm, vì nó đã xâm phạm đến quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ thuộc khách thể của tội này Đối tượng tác động của tội phạm này là một con người cụ thể, có quyền được pháp luật tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe khỏi sự xâm hại của tội phạm

Thứ hai, hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội này là những hành vi có khả năng gây ra thương tích nhất định làm tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng cách tác động vào cơ thể họ Hành vi phạm tội có thể được thực hiện dưới dạng hành động phạm tội, nghĩa là người phạm tội làm một việc bị pháp luật nghiêm cấm không được làm nhằm làm biến đổi tình trạng bình thường cho sức khỏe của người khác như đấm, đá bằng tay, chân hoặc dùng các loại hung khí như dao, gậy, … để gây ra thương tích

Hậu quả của tội phạm này đòi hỏi là thương tích do hành vi phạm tội gây ra, bởi vì hành vi của con người là có ý thức và có ý chí cho nên nó luôn luôn là phương tiện để đạt tới một kết quả nhất định Hậu quả chính là sự thiệt hại gây ra cho khách thể và chỉ những thiệt hại quan trọng nhất do tội phạm trực tiếp gây ra đặc trưng của tội phạm ấy mới là hậu quả thuộc mặt khách quan của tội phạm, ví dụ như gây tổn thương cho một số bộ phận hoặc toàn

Trang 29

bộ cơ thể, hoặc gây tổn hại hay làm mất chức năng của một bộ phận nào đó trong cơ thể con người như: Gây mù mắt, điếc tai, mất một phần chân tay, … Dấu hiệu bắt buộc về mặt hậu quả của tội phạm này là hành vi phạm tội đã để lại thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ % thương tật theo luật định Cơ sở để xác định nạn nhân bị thương tích cũng như tỷ lệ thương tích cụ thể là kết luận của Hội đồng giám định pháp y do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu Hành

vi gây thương tích cho người khác bao giờ cũng được thực hiện trong một khoảng thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nhất định và bằng những thủ đoạn, phương tiện, công cụ nhất định

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi đó: Hậu quả nguy hiểm cho xã hội chỉ xảy ra khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội, do chính hành vi đó gây ra Hậu quả nguy hiểm phải là sự tất yếu của hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra Hành vi nguy hiểm cho xã hội buộc phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả

Thứ ba, về mặt chủ quan Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Người thực hiện hành vi phạm tội ý thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, biết được hậu quả do hành vi của mình thực hiện có thể gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác Người phạm tội mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra (người bị tác động bị thương tích hoặc tổn hại sức khỏe) Động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, việc chứng minh động cơ, mục đích của người phạm tội có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt như vì lý do công vụ của nạn nhân,

Trang 30

Thứ tư, chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là con người cụ thể Người này phải thỏa mãn đầy đủ 02 điều kiện là có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định Tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là từ đủ 14 tuổi trở lên

1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thực hành quyền công tố trong các giai đoạn tố tụng

1.3.1 Giai đoạn thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

THQCT trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động của VKS ND nhằm mục đích xác định dấu hiệu tội phạm để xem xét việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Điều 12 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:

“Phê chuẩn, không phê chuẩn việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” [18, tr.18-19]

CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp cưỡng chế khác như khám người, khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; thu giữ thư tín, điện tín, nhằm giúp cho việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT được thực hiện hiệu quả khi phát hiện các dấu hiệu tội phạm và người phạm tội Khi THQCT trong giai đoạn này, VKS có các nhiệm vụ quyền hạn sau:

Trang 31

Một là, phê chuẩn, không phê chuẩn việc giữ người trong trường hợp

khẩn cấp Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh của thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp hoặc người có thẩm quyền của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trong mọi trường hợp, việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan để VKS xét phê chuẩn “Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” [14, 104] Thời hạn để VKS ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn là

12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp “Trường hợp VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người

bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ” [14, tr.105]

Hai là, VKS phê chuẩn hoặc không phê chuẩn gia hạn tạm giữ và các

biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong việc gia hạn tạm giữ được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 118 BLTTHS Theo đó, “trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền phê chuẩn Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn” [14, tr.111]

Trang 32

Việc áp dụng các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân như việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà

có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án; việc khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã; khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì có thể khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm phải có Lệnh khám xét, thu giữ của thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp và phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTHS thì trong trường hợp khẩn cấp, những người được quy định tại Khoản 2 Điều

110 BLTTHS có quyền ra lệnh khám xét Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền THQCT và kiểm sát điều tra

“Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố” [18, tr.19]

Những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp quy định tại Khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015 có quyền ra quyết định tạm giữ “Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền

và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của BLTTHS” [14, tr 110] Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền VKS có trách nhiệm nghiên cứu quyết định và hồ sơ, nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ Trên cơ sở quyết định đó, người đã ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trang 33

Theo quy định tại Thông tư liên tịch của VKSND tối cao, Bộ công an

và Bộ quốc phòng số 05/2005/TTLT - VKS TC -BCA - BQP ngày 07/9/2005

về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 thì đối với các quyết định của Phó Thủ trưởng CQĐT, BLTTHS quy định phải có sự phê chuẩn của VKS nhưng chưa gửi sang VKS mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ Nếu các quyết định này đã gửi sang VKS , nhưng VKS chưa quyết định việc phê chuẩn thì thủ trưởng CQĐT

có văn bản đề nghị VKS để rút các quyết định này và ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ; nếu không đồng ý thì VKS quyết định việc thay đổi hoặc huỷ bỏ theo quy định tại khoản 4 Điều 165 BLTTHS Đối với các quyết định của Phó Thủ trưởng CQĐT sau khi được VKS phê chuẩn mới phát hiện là không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng CQĐT kiến nghị Viện trưởng VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ Ngay sau khi ra quyết định thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định của Phó thủ trưởng CQĐT thì VKS phải gửi cho CQĐT để thực hiện

Trong quá trình THQCT trong giai đoạn này, khi cần thiết, VKS có quyền “đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện” [18, tr.19]

Trong hoạt động thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khi THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, khi thấy cần thiết, VKS có thể đề ra những yêu cầu xác minh để làm sáng tỏ vụ việc và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kiểm tra, xác minh kịp thời, đúng quy định của pháp luật Thông

tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKS NDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp

Trang 34

nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã quy định

cụ thể về trách nhiệm và chế độ thông tin, báo cáo việc tiếp nhận, giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS các cấp

VKS có quyền “trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKSND đã yêu cầu nhưng không được khắc phục” [18, tr.19]

VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc

có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu, kiến nghị nhưng không được khắc phục nhằm hạn chế tình trạng vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền điều tra như bức cung, mớm cung, nhục hình dẫn đến có dấu hiệu oan sai, dễ

bị bỏ lọt tội phạm Trong những trường hợp này, VKS thực hiện việc trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhằm xem xét việc khởi tố vụ án có đúng với quy định của pháp luật hay không Qua kiếm sát việc khởi tố vụ án hình sự, nếu phát hiện việc khởi tố vụ án không có căn cứ thì VKS ra các quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặc yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án nếu thấy có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; nếu CQĐT không khởi tố, VKS có thể chủ động khởi tố vụ án hình sự đó

Ngoài ra, VKS có quyền “thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để THQCT theo quy định của BLTTHS nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội” [18, tr.19]

1.3.2 Giai đoạn điều tra vụ án

Hoạt động của VKS trong vụ án hình sự có mục đích đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội phải có căn cứ và đúng pháp luật Nhiệm

Trang 35

vụ, quyền hạn của VKS ND khi THQCT trong giai đoạn điều tra đối với vụ

án hình sự được quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKS ND và cụ thể hóa tại Điều 165 BLTTHS Bao gồm:

-“Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật; Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật TTHS quy định; Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật TTHS Hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy

bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này; Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội Yêu cầu CQĐT truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không

Trang 36

được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố; Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người

có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam Quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, ban hành quyết định hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án Ngoài ra, VKS còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc THQCT theo quy định của BLTTHS” [14, tr.156-158]

1.3.3 Giai đoạn truy tố

BLTTHS năm 2015 không có điều luật riêng biệt quy định về công tác THQCT trong giai đoạn truy tố Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 16 Luật Tổ chức VKS ND năm 2014 thì nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn truy tố bao gồm:

“Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật; yêu cầu CQĐT truy nã bị can” [18, tr.24-25] Điều này được hiểu là, khi có căn cứ và xét thấy cần thiết, VKS có quyền quyết định áp dụng một trong số các biện pháp ngăn chặn như bắt bị can để tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền để bảo đảm… VKS có nhiệm vụ, quyền hạn phê chuẩn các quyết định của CQĐT trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, bắt bị can để tạm giam, tạm giam, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo Đối với những biện pháp ngăn chặn do VKS quyết định áp dụng hoặc phê chuẩn thì VKS có quyền hủy bỏ hoặc thay

Trang 37

đổi khi xét thấy không cần thiết hoặc có khả năng thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn khác

“Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ

án trong trường hợp cần thiết” [18, tr 25]

Trong trường hợp cần thiết, VKS có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm mụ đích kiểm tra tính xác thực, bổ sung tài liệu, chứng cứ để cân nhắc, quyết định việc truy tố VKS cũng trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà VKS xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho CQĐT

VKS có quyền “quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi

tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp phát hiện vụ án còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác chưa được khởi tố, điều tra và trả hồ sơ cho CQĐT

để điều tra bổ sung” [18, tr.25].Việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm VKS chỉ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố

bị can trong một số trường hợp cần thiết theo luật định Ví dụ như trường hợp sau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác

đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nhưng chưa bị khởi tố thì VKS có thể ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung Bên cạnh quyền tự thực hiện, VKS cũng có quyền yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, nếu có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn một số tội phạm khác chưa bị khởi tố Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS sẽ có quyền trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án

và trả hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra VKS có quyền yêu cầu CQĐT

ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn có hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố trường hợp đã yêu cầu mà

Trang 38

CQĐT không thực hiện thì VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho CQĐT để tiếp tục tiến hành điều tra

“Quyết định việc tách, nhập vụ án, chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Quyết định truy tố, không truy tố bị can.” [18, tr.25] Khi việc điều tra

vụ án kết thúc, CQĐT chuyển bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ

vụ án cho VKS Sau khi nghiên cứu, nếu xác định có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự người đã thực hiện hành vi phạm tội thì VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố nếu

vụ án được tiến hành theo thủ tục rút gọn), đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vụ

án cùng bản cáo trạng sang Tòa án để thực hiện việc xét xử

VKS có quyền ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can và quyết định phục hồi vụ án, bị can Trường hợp xác định được có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 247 BLTTHS thì VKS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án; trường hợp xác định được có một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 155

và Điều 157 BLTTHS thì VKS ra quyết định đình chỉ vụ án; Khi có căn cứ quy định tại Điều 249 BLTTHS thì VKS ra quyết định phục hồi vụ án

VKS còn có quyền thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của BLTTHS

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, luận văn đã nghiên cứu và phân tích về khái niệm, phạm vi, đặc điểm của THQCT, làm rõ mối quan hệ giữa THQCT với kiểm sát hoạt động tư pháp Qua đó có thể hiểu THQCT là hoạt động của VKS ND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người

Trang 39

phạm tội Hoạt động này được thực hiện ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Bên cạnh đó, luận văn cũng đã làm rõ khái niệm và các đặc điểm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên cơ sở quy định của BLHS hiện hành Trong phạm vi chương này, luận văn cũng đã nêu và phân tích quy định của BLTTHS 2015 về THQCT trong các giai đoạn tố tụng bao gồm: Giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; giai đoạn điều tra; giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử sơ thẩm

Các khái niệm cũng như quy định của pháp luật được phân tích ở chương 1 là cơ sở để đánh giá thực trạng công tác THQCT đối với các vụ án

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận 9 thành phố Hồ Chí Minh được nêu ở chương 2

Trang 40

Chương 2:

THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC VỤ

ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC

KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tình hình tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn Quận 9 thời gian từ năm 2014 đến năm 2018

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Quận 9

Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị nằm ở vị trí cửa ngõ Đông Bắc của thành phố, có diện tích 113,896.200 km2, với dân số 235.268 nhân khẩu Quận 9 được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1997, với địa giới hành chính được chia thành 13 phường, bao gồm: Phước Long A, Phước Long B, Phước Bình, Phú Hữu, Long Trường, Long Thạnh Mỹ, Trường Thạnh, Long Bình, Tân Phú, Long Phước, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B, Hiệp Phú [5] Vị trí địa lý của Quận tương đối phức tạp, giáp nhiều địa phương khác nhau: Phía Đông giáp huyện Long Thành và thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, ranh giới tự nhiên là sông Đồng Nai; phía Tây giáp quận Thủ Đức; phía Tây Nam giáp quận 2; phía Nam giáp huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; phía Bắc giáp thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Tuy là một quận mới được thành lập nhưng dân số của Quận 9 tương đối đông và tăng nhanh hơn so với 23 quận còn lại của thành phố Hồ Chí Minh Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân tốc

độ đô thị hóa và việc di dân hàng năm Các tiện ích xã hội hoàn hảo của khu Đông, các khu chức năng quan trọng tại Quận 9 đều đã và đang hình thành một cách bài bản là nhân tố tích cực hỗ trợ quận 9 trở thành điểm đến của

Ngày đăng: 25/03/2020, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2002) Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ban hành ngày 2/1/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về "“Một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”
2. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 2/6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
4. Bộ Y tế (2014) Thông tư số 20/2014/TT-BYT quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, ban hành ngày 12/6/2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2014/TT-BYT quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần
5. Đảng bộ Quận 9 (2018) “Giới thiệu Quận 9”, Trang điện tử Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, <https://www.hcmcpv.org.vn/cap-uy-chi-tiet/quan-9/gioi-thieu-quan-9-1491378715>, (23/12/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu Quận 9”
6. Hoàng Đình Đắc (2017) Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
7. Trần Văn Độ (1999) Một số vấn về quyền công tố, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: “"Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”
8. Nguyễn Hải Phong (chủ biên) (2014) Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10. Quốc hội (2009) Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung) 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung) 2009
12. Quốc hội (2017) Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung)2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung)2017
17. Quốc hội (2018) Luật Giám định tư pháp (sửa đổi, bổ sung)2018 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giám định tư pháp (sửa đổi, bổ sung)2018
18. Quốc hội (2014) Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014
19. Quốc hội (2013) Nghị quyết số 63/2013/QH13 về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm, ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 63/2013/QH13 về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
20. Nguyễn Tiến Sơn (2015) “Tăng cường trách nhiệm của công tố trong giai đoạn điều tra trong BLTTHS”, Tạp chí Kiểm sát, số 09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường trách nhiệm của công tố trong giai đoạn điều tra trong BLTTHS”, "Tạp chí Kiểm sát
21. Lê Hữu Thể (2008) Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Nhà XB: Nxb Tư pháp
22. Tòa án nhân dân Quận 9 (2017) Bản án số 28/2017/HSST ngày 16/3/2017, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 28/2017/HSST ngày 16/3/2017
24. Trường Cao đẳng Kiểm sát (1998) Giáo trình công tác kiểm sát, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác kiểm sát
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
25. Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2015) Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm – quyển 1), Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm – quyển 1)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
26. Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006) Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
27. Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 (2016) Hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
28. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015) Chỉ thị số 04/CT-VKSTC về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự, ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 04/CT-VKSTC về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w