1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ hán việt để làm bài tập trong phân môn luyện từ và câu lớp 5

21 453 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 30,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩađúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.. - Giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán -

Trang 1

1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa

đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu

lớp 5, dạng bài Mở rộng vốn từ theo chủ đề có liên quan đến từ Hán - Việt

3 Tác giả:

Họ và tên: Đặng Trần Hải Giới tính: Nam.

Ngày/tháng/năm sinh: 23 / 7 / 1977.

Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học.

Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Minh Đức B.

Điện thoại: 0962 147 184.

4 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Lớp 5B, trường Tiểu học Minh Đức

B

5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Thực hiện đề tài với học sinh lớp 5

- Trong thời gian thực hiện đề tài, cần có sự ủng hộ của Ban giám hiệu nhàtrường, các bậc cha mẹ học sinh và bản thân các em học sinh do mình phụ trách

- Muốn thực hiện thành công đề tài, người giáo viên cần có lòng say mênghề nghiệp, ham học hỏi (nhất là từ Hán - Việt), cần có nhiều tài liệu để nghiêncứu, vận dụng

6 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: từ ngày 10 tháng 9 năm 2013 đến

ngày 15 tháng 02 năm 2014

HỌ TÊN TÁC GIẢ

Đặng Trần Hải

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

Trang 2

- Giúp giáo viên tìm hiểu thêm Một số biện pháp giảng dạy giúp học sinh

hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt.

- Giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt để làm bài tập trong

phân môn Luyện từ và câu lớp 5

* Về ý nghĩa:

- Sáng kiến sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đồng chí giáo viên trực

tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 5, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu Cácđồng chí giáo viên lớp 5 sẽ có thêm những biện pháp mới nhằm giúp học sinh hiểu

và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt

- Khi áp dụng sáng kiến này, học sinh sẽ được nâng cao kiến thức nhiều hơntrong việc hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt

PHẦN 2: NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

Như chúng ta đã biết, đất nước Việt Nam đã từng có một thời gian rất dài bị

giặc phong kiến phương Bắc đô hộ Mặc dù như vậy, người dân Việt Nam vẫn giữđược tiếng nói và nhiều phong tục tập quán riêng của mình Tuy vậy, vẫn có sự ảnhhưởng nhất định về văn hoá, thể chế chính trị, của Trung Quốc đối với ngườiViệt kể cả trong tư tưởng triết học và ngôn ngữ Theo truyền thuyết cũng như cácnguồn sử liệu của cả Trung Quốc và Việt Nam ta thì ngày từ thời Hùng Vương,

Trang 3

người Việt cổ đã có chữ viết riêng "chữ Khoa Đẩu", nhưng đã bị người Hán huỷ

bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn Do vậy nên trước khi chữ Quốc ngữ ra đời, ngườiViệt ta phải dùng chữ Hán để viết, nhưng lại đọc theo âm Việt và đã ghi được phầnlớn và cơ bản các từ Hán - Việt, sau người Việt ta lại mượn thứ chữ Hán ấy đểsáng tạo thêm ra chữ Nôm để mong muốn có thể ghi hết được các âm thuần Việt

mà chữ Hán không có: sông, núi, nước, lửa, Nhờ vậy mà sau này các nhà truyềnđạo phương Tây ngay từ thế kỷ 18 đã dựa vào đó mà ghi lại tiếng nói của dân tộc

ta thông qua các âm đọc Hán - Nôm của người Việt Đây là cơ sở cho việc sáng tạo

ra chữ Quốc ngữ ngày nay mà chúng ta đang dùng Vì vậy, ngay từ khi nó đượcsáng tạo ra, chính quyền phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ đã bắt người dân dùngchữ viết này và coi đó như là chữ viết phổ cập Khi Cách mạng tháng Tám thànhcông, vì thấy đây là loại chữ viết dễ dùng nên chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyếnkhích nhân dân dùng chữ Quốc ngữ để viết Vậy là từ đó chữ Quốc ngữ được phổbiến sâu rộng và phổ cập như ngày nay

Mặc dù vậy, khi sử dụng từ ngữ, người Việt Nam vẫn thường có thói quen

sử dụng từ gốc Hán, đọc theo âm Việt (gọi là từ Hán - Việt) Từ Hán - Việt đã gópphần làm phong phú kho tàng từ điển Việt Nam Từ Hán - Việt có nghĩa cổ kính,trang nghiêm, lịch sự và trang trọng Ta thường thấy, nhiều khi trong một văn bảnnhất định, người ta không thể dùng được những từ thuần Việt tương đương để thaythế Ví dụ: "phụ nữ" là từ đồng nghĩa với "đàn bà", nhưng không thể dùng từ "đànbà" thay cho từ "phụ nữ" trong cụm từ "Quốc tế Phụ nữ 8/3", vì từ "phụ nữ" đượcdùng với nghĩa trang trọng hơn

Ngay từ khi sinh ra, trẻ em Việt Nam đã được tiếp xúc với ngôn ngữ tiếngViệt Đó là những câu hát ầu ơ của mẹ, đó là những lời gọi và nói chuyện âu yếmcủa cha, của ông bà, của những người họ hàng làng xóm khi họ gần gũi với chúng.Khi tập nói, tập đi, những người thân của trẻ thơ lại hướng dẫn chúng nói bằngtiếng Việt và nhận thức mọi vật xung quanh bằng tiếng Việt Thế rồi, càng ngày trẻ

Trang 4

càng được tiếp xúc với tiếng Việt nhiều hơn, đặc biệt là khi trẻ bắt đầu vào lớpMột, trẻ bắt đầu được học ghép chữ để dần hoàn thiện bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc,viết.

Để học sinh tiểu học có thể nắm bắt thuận lợi tất cả các môn học khác, trẻphải học tốt môn Tiếng Việt Môn Tiếng Việt có một vị trí quan trọng trongchương trình Tiểu học - đây là môn học có số lượng tiết học cao nhất trong tuần.Môn Tiếng Việt ban đầu với trẻ đến cuối lớp 1 chỉ là bốn phân môn Tập đọc,Chính tả, Kể chuyện, Tập viết; thì đến lớp 5, các em phải học đủ cả các phân mônTập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn Vậy là ngay từ khibắt đầu cuộc sống của mình, theo lời dạy của ông bà, cha mẹ và thầy cô giáo, trẻ

em cũng đã được làm quen và dùng từ Hán - Việt trong học tập, trong cuộc sống.Muốn trẻ có thể dùng từ Hán - Việt trong giao tiếp và viết văn hay đọc hiểu đượcyêu cầu, nội dung các môn học khác, các em phải hiểu đúng nghĩa của các từ ngữHán - Việt đó Đây là một vấn đề không hề đơn giản Đối với các em học sinh lớp

1, những từ Hán - Việt được thầy cô cung cấp cho các em thường là những từ cótrong bài tập đọc được giải nghĩa ở phần chú thích cuối bài Đến lớp 2, lớp 3, các

em đã được làm quen với phân môn Luyện từ và câu nhưng đa số vốn từ của các

em được cung cấp thêm thường là những từ thuần Việt, còn từ Hán - Việt ở haikhối lớp này thường vẫn là những từ xuất hiện thêm ở những bài tập đọc hoặc ởnhững đoạn văn mẫu trong phân môn Chính tả, Tập làm văn Đến lớp 4, lớp 5, vốn

từ của các em đã phong phú hơn Ngoài việc cung cấp thêm vốn từ ngữ cho họcsinh, phân môn Luyện từ và câu có thêm dạng bài tập yêu cầu các em phải xếp từ

theo nhóm, những nhóm này phần lớn đều là từ Hán - Việt Vậy làm thế nào để có thể xếp từ theo nhóm thích hợp? Đó chính là câu hỏi cần phải đặt ra khi giáo viên

giảng dạy phân môn này Ngoài việc xếp từ theo nhóm, các em học sinh còn phảigiải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có rất nhiều từ Hán - Việt Các bài tập cuối cùngcủa bài thường là viết một đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học Tất cả các giáo viên

Trang 5

đều hiểu nếu học sinh nắm được nghĩa của từ thì sẽ làm tốt các dạng bài tập nêu

trên, nhưng làm thế nào để giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của từ Hán - Việt mà không bị nhầm lẫn? Đây chính là vấn đề mà tôi cũng như nhiều đồng nghiệp của

tôi đang trăn trở khi giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4+5

2 Thực trạng của việc nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây, tôi thường được phân công giảng dạy lớp 4 hoặc lớp 5,

mỗi lần dạy đến phần bài "Mở rộng vốn từ" trong phân môn Luyện từ và câu là tôi lại

gặp phải không ít khó khăn Khó khăn ấy không gì khác đều do học sinh hiểu chưađúng nghĩa của từ (nhất là từ Hán - Việt) nên dẫn đến khi tìm từ đồng nghĩa, tráinghĩa, xếp từ theo nhóm bị sai Khi giáo viên yêu cầu học sinh giải nghĩa từ, họcsinh lúng túng không biết giải nghĩa ra sao, những học sinh hiểu thì cũng diễn đạtcòn chưa chính xác

Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ "Hữu nghị - Hợp tác" có dạng bài tập xếp từ

theo hai nhóm:

- Nhóm 1: Hữu (có nghĩa là bạn bè), - Nhóm 2: Hữu (có nghĩa là có).

Trong bài này có từ "hữu tình" nghĩa là có sức hấp dẫn, gợi cảm, có tình cảm, nhưng học sinh lại hiểu "hữu tình" nghĩa là "bạn tình" Vậy là các em xếp từ này vào

nhóm 1

Cũng trong một số tiết ôn tập thêm có mở rộng vốn từ, học sinh đa số hiểu

sai nhiều từ ngữ Hán - Việt: "đại diện" hiểu là "mặt to", "đại lý" hiểu là "cửa hàng to",

"nhân hậu" hiểu là "người đứng phía sau","phía sau người",

Khi giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có trong các bài tập, học sinh cũng

lúng túng không biết giải nghĩa ra sao mặc dù trong sách giáo khoa cũng có giảinghĩa một số từ khó liên quan đến thành ngữ, tục ngữ đó

Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ chủ đề "Nam hay nữ", tuần 30, bài 3 có yêu

cầu sau:

Trang 6

Em hiểu mỗi thành ngữ, tục ngữ dưới đây thế nào? Em tán thành câu a hay câu b? Vì sao?

a "Trai mà chi, gái mà chi,

Sinh con có nghĩa có nghì vẫn hơn."

b Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

(Một trai đã là có, mười gái cũng bằng không.)

c Trai tài gái đảm.

d Trai thanh gái lịch.

Theo yêu cầu của bài tập này, học sinh phải giải nghĩa đượcý nghĩa của câu

tục ngữ nêu trên (phần chú thích đã giải nghĩa giúp các em từ "nghì": nghĩa, tình nghĩa; "đảm": biết gánh vác, lo toan mọi việc) Vậy là học sinh phải vận dụng vốn từ

ngữ mà mình đã được học để giải nghĩa đúng ý nghĩa của câu tục ngữ nêu trên vàbày tỏ ý kiến của mình, giải thích vì sao mình chọn thành ngữ, tục ngữ đó Với vốn

từ ngữ đã được học từ lớp 1 đến lớp 5, học sinh rất khó giải thích được nhữngthành ngữ, tục ngữ này, rất nhiều em phải cần đến sự hỗ trợ của giáo viên

Ở dạng bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học, thường thì học sinh

đã nắm được cách trình bày một đoạn văn theo chủ đề nhưng do chưa nắm rõ nghĩacủa từ nên một số em dùng từ không chính xác, câu văn bị hiểu sai nghĩa và nhưvậy bài viết thường bị điểm thấp

Một vấn đề thực tế khó khăn nữa là học sinh còn không hiểu thêm đượcnghĩa các từ ngữ Hán - Việt có trong các môn học khác mà các em đang học hằng

ngày: nhiệt đới, ôn đới, hàn đới, (địa lý); tiền Lê, hậu Lê, (lịch sử); bảo quản,

Trang 7

Khi giảng dạy, tôi và đồng nghiệp trong trường thường cũng đã khai thác hết

những kiến thức cơ bản ở sách giáo khoa, đã có sự quan tâm tới tất cả các đốitượng học sinh, đã phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờhọc, rồi không quên củng cố, nhận xét, chốt ý, khắc sâu kiến thức để học sinh ghinhớ, Song để học sinh luôn ghi nhớ, hiểu được đúng và nhớ được nghĩa của từHán - Việt không phải là việc dễ dàng, phần lớn học sinh coi đây như là việc họcthêm một ngoại ngữ khác Hơn nữa, sự nhận thức của các em lại không đồng đều,nên dẫn đến kết quả tiếp thu của các em khác nhau Chính vì điều đó, khi làm bàitập, tỉ lệ học sinh làm bài tập đúng không cao, một số em đã nhận thức chậmthường bị điểm yếu kém

Thời gian giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo quy định chỉ có 2tiết/tuần; trong khi đó, việc giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức chohọc sinh biết đó là "cái gì" trước khi có thể làm được các dạng bài tập có liên quanđến những từ ngữ đó Thực tế cho thấy do không có đủ thời gian nên bản thân giáoviên không thể giúp tất cả học sinh trong lớp hiểu và giải nghĩa đúng thêm các từHán - Việt khác có liên quan dẫn đến tình trạng học sinh làm bài kết quả khôngcao

* Về phía học sinh:

Thứ nhất:Do học sinh không nắm được nghĩa của từ nên khi xếp từ theo

nhóm thường bị sai, không hiểu được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, khi viếtđoạn văn ngắn theo chủ đề thường dùng từ không chính xác

Thứ hai:Do nhận thức của các em học sinh không đồng đều nên dẫn đến tình

trạng một số học sinh yếu cho dù cùng được tham gia các hoạt động lĩnh hội kiếnthức giống như các bạn nhưng vẫn làm bài sai

Thứ ba:Do vốn hiểu biết về cuộc sống của các em còn hạn chế, sự giao lưu

không nhiều, gần như không có học sinh nào có Từ điển tiếng Việt, Từ điển Hán Việt hay sách tham khảo riêng, bởi vậy ngoài việc tiếp thu bài trong sách giáo

Trang 8

-khoa, vốn từ của các em rất hạn hẹp Hơn nữa, bản thân cha mẹ học sinh cũng íthiểu biết về vốn từ Hán - Việt để có thể quan tâm, giúp đỡ các em, thậm chí cònhiểu sai trầm trọng Vì vậy, việc giúp học sinh hiểu đúng và giải nghĩa đúng từ Hán

- Việt là một vấn đề vô cùng cần thiết

Thứ tư:Từ Hán - Việt là từ gốc Hán, được đọc theo âm tiếng Việt, nghĩa của

từ được giải nghĩa đôi khi chỉ là nghĩa "thấp thoáng", không theo một công thứcnào cả, người giáo viên không thể dùng chữ Hán mà giải thích cho học sinh đó lànhững chữ có cách viết khác nhau, vì thế nên các em rất dễ nhầm lẫn Ví dụ:

từ "hữu tình" đã nêu ở trên, cùng được người Việt đọc là "hữu" nên viết là "hữu", còn

chữ Hán là hai chữ hoàn toàn được viết khác nhau

* Kết luận:

Như vậy, sự xuất hiện của từ Hán - Việt trong kho tàng từ điển Việt Namgóp phần làm cho văn hoá Việt thêm giàu đẹp, nhưng đối với học sinh tiểu học,việc hiểu và có thể giải nghĩa đúng từ Hán - Việt đối với các em không phải là vấn

đề đơn giản Ngay cả về khái niệm: "Thế nào là từ Hán - Việt?" đối với các emcũng còn rất xa lạ Với riêng tôi, việc giúp các em hiểu và có thể vận dùng từ Hán -Việt để nói và viết đúng trong học tập cũng như trong cuộc sống là một vấn đề cầnphải trăn trở, cần phải suy nghĩ

2.1: Những thuận lợi và khó khăn

Trong quá trình triển khai và nghiên cứu đề tài này, tôi cũng gặp không ít

khó khăn, tuy nhiên cũng có nhiều thuận lợi

2.1.1: Thuận lợi

- Hằng năm, nhà trường đã rất quan tâm đến công tác giảng dạy, nghiên cứu

khoa học của anh chị em giáo viên Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã chỉ đạocác tổ khuyến khích tổ viên đăng ký thi đua, đăng ký tên SKKN để tìm tỏi, nghiêncứu

Trang 9

- Bản thân cá nhân tôi là người rất yêu thích học Hán ngữ, luôn luôn muốntìm tòi, nghiên cứu cách dạy, cách học để giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từHán - Việt.

- Bản thân đã tự mua cho mình những cuốn từ điển Hán ngữ, từ điển từ Hán

- Việt, từ điển tiếng Việt, sách tham khảo các loại, nối mạng internet để tiện tìmtòi, tra cứu, nghiên cứu khi cần thiết

2.1.2: Khó khăn

Những khó khăn mà tôi gặp phải không phải là những vấn đề: thiếu tài liệu,

thiếu thời gian hay thiếu kiến thức, thiếu sự hiểu biết về từ Hán - Việt mà khó khăn

ở đây chính là phương pháp dạy học của giáo viên và cách học của học sinh khiếncác em không hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt khi làm bài tập

Vì vậy, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về phương pháp dạy của bản thân và của

đồng nghiệp hiện đang làm là: Làm thế nào để học sinh có thể hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán - Việt? Liệu cứ dạy như mình và các đồng nghiệp hiện nay có được không? Nêu được thì tạo sao học sinh vẫn không hiểu và không giải nghĩa đúng? Hơn nữa các em lại không nhớ lâu? Phương pháp mà mình và đồng nghiệp đang thực hiện có hiệu quả không?

Tôi quyết định lập kế hoạch khảo sát thử để thấy khả năng ghi nhớ, nắm kiếnthức của các em để từ đó suy nghĩ tìm biện pháp khắc phục

Để có được kết quả đánh giá ban đầu của học sinh trong phân môn Luyện từ

và câu, tôi đã khảo sát ba lần với ba dạng bài tập khác nhau Tôi phát hiện các emthường mắc những lỗi sau:

- Xếp từ theo nhóm chưa đúng, một số em còn không biết giải nghĩa từ, một

số em khác hiểu nghĩa của từ nhưng diễn đạt cũng không đầy đủ

- Với các thành ngữ, tục ngữ các em còn hiểu rất mơ hồ, một số em khôngtìm được các thành ngữ, tục ngữ theo chủ đề; đa số các em giải nghĩa về thành ngữ,tục ngữ đều lúng túng, không biết diễn đạt ra sao

Trang 10

Ví dụ: Trong bài tập 2 của bài kiểm tra, đa số các em chỉ tìm được một thành ngữ "gan vàng dạ sắt", thành ngữ còn lại "vào sinh ra tử" rất ít em tìm được Khi giáo

viên hỏi về ý nghĩa của các thành ngữ, các em hiểu còn chưa chính xác

- Khi tìm các từ đồng nghĩa, trái nghĩa với những từ đã cho, các em thườngtìm những từ thuần Việt vì đó là những từ dễ hiểu ngay, còn những từ Hán - Việtthì chỉ những học sinh khá - giỏi mới tìm ra

Ví dụ: Khi tìm từ cùng nghĩa với từ "dũng cảm", học sinh thường tìm được các

từ thuần Việt: không sợ, dám làm, gan dạ nhưng ít thấy học sinh tìm được các từHán - Việt: can đảm, can trường, quả cảm,

- Những đoạn văn mà các em viết theo chủ đề thường không phong phú vềnội dung, các em thường không biết dùng các từ đồng nghĩa để thay thế nhằm làmcho đoạn văn sinh động, hay hơn Vậy là đoạn văn của các em thường sơ sài về nộidung, thậm chí có em còn dùng từ chưa chính xác, ngôn ngữ trong đoạn văn "thô",gây cười cho người đọc

Ví dụ: Một học sinh viết một đoạn văn ngắn về chủ đề Du lịch đã viết như

sau:

"Anh ấy là một nhà thám hiểm rất không sợ trước khó khăn".

- Ngoài những vướng mắc về nội dung kiến thức, tôi còn nhận thấy vì các

em là những học sinh còn nhỏ tuổi, đôi khi trước những bài tập khó, các em thườngnản lòng, bỏ dở, không chịu suy nghĩ Bởi vậy, người giáo viên cần có biện phápđộng viên, khích lệ sự tiến bộ của các em kịp thời

Sau khi đã tìm ra những nguyên nhân, những vướng mắc mà các em mắcphải trong từng dạng bài tập cũng như những điểm vướng mắc về tâm lý, tôi đã lên

kế hoạch khắc phục từng điểm khuyết cho các em trong từng giờ dạy, cũng khôngquên việc chú ý tích hợp mở rộng vốn từ Hán - Việt trong các môn học khác (nếucần thiết)

2.2: Những giải pháp cũ thường thực hiện

Ngày đăng: 25/03/2020, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w