Ngoài những chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bàmẹ Việt Nam anh hùng theo quy định của Trung ương, tỉnh đã huy động từtỉnh đến xã và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào việ
Trang 11.4 Nội dung thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Quảng Nam
31 2.2 Khái quát chung về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
34
Trang 22.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
3.2 Một số giải pháp thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
56
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách
về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 63
KẾT LUẬN .
72
TÀI LIỆU THAM KHẢO .
74 DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá kết quả người dân biết về chính sách về danh hiệu vinh dự
Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng (Khảo sát 50 người) 38 Bảng 2.2 Đánh giá ý kiến phản hồi của người dân về các hình thức tuyên
truyền về chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước
39
Bảng 2.3 Kết quả đánh giá của người dân về việc thực hiện chính sách danh
hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” của cán bộ thực hiện chính sách (Khảo sát 50 người) 42
Trang 3Bảng 3.1: Thống kê một số trường hợp tồn đọng, đề nghị thu hồi danh hiệu
vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng theo công văn của Ủy bannhân dân một số tỉnh trong đó có tỉnh Quảng Nam 61
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã banhành rất nhiều chính sách khen thưởng trong đó có các chính sách khenthưởng người có công với cách mạng như Bằng Có công với nước, Huânchương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến chống pháp và chống Mỹ…đặc biệt là chính sách khen thưởng đối với những phụ nữ Việt Nam có nhiềucống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làmnghĩa vụ quốc tế Chính sách khen thưởng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹViệt Nam anh hùng đã được thực hiện từ năm 1994 thế kỷ XX cho đến nay và
sẽ còn tiếp tục thực hiện ở những năm tiếp theo, thể hiện đạo lý “Uống nướcnhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc, của Nhà nước và cộng đồng xã hội, nhằm ghinhận, tôn vinh những bà mẹ bản thân là liệt sỹ, có chồng, con là liệt sỹ đã hysinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế
Năm 1993, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng và Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 176-CP ngày 20 tháng 10 năm 1994, trên cơ sở đề nghị của Thủ tướngChính phủ, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặngdanh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng đợt đầu tiên cho 19.879 bà mẹ trong cảnước, trong đó có các Bà mẹ tiêu biểu: Mẹ Nguyễn Thị Thứ ở Điện Thắng,Điện Bàn, Quảng Nam có 9 con, 1 rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ; mẹ Phạm ThịNgư ở Hàm Hiệp, Hàm Thuận, Bình Thuận có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ làAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Trần Thị Mít ở Hải Phú, HảiLăng, Quảng Trị có 9 con là liệt sĩ; Mẹ Nguyễn Thị Rành, ở Phước Hiệp, CủChi, TP Hồ Chí Minh có 8 con là liệt sĩ, bản thân mẹ là Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân; mẹ Nguyễn Thị Dương ở Triệu Thành, Triệu Phong,
Trang 5Khuê, Trung tướng Đoàn Chương và Đại tá Đoàn Thúy Qua các phương tiệnthông tin đại chúng và qua dư luận, nhân dân và cộng đồng xã hội rất hoannghênh chính sách này của Nhà nước, từ đó đã dấy lên phong trào thi đua xâydựng “Nhà tình nghĩa”, nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối vớivới các bà mẹ còn sống, neo đơn [2]
Tiếp tục thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng, năm 2013, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục ban hànhPháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm
2013 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh; Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, và Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số03/2014/TTLT-BNV-BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa BộNội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 10 tháng
10 năm 2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
56/2013/NĐ-CP của Chính phủ Trên cơ sở tổng hợp các báo cáo của các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương về tình hình thực hiện Pháp lệnh danh hiệu vinh dựNhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tính đến ngày 22 tháng 02 năm 2018,sau hơn 04 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 2013, cả nước đã có 81.687 Bà mẹ đượcphong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng (trong đó phong tặng 11.895 Bà mẹ, truy tặng 69.792 Bà mẹ) [2] Nhìnchung, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cơ bản hoàn thành chínhsách này
Tuy nhiên, qua văn bản của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương báo cáo tình hình, kết quả thực hiện chính sách về nhữngtrường hợp tồn đọng cuối năm 2018, cả nước hiện còn khoảng 4.500 trườnghợp chưa được làm thủ tục đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự
Trang 6Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Các trường hợp này hầu hết là vướngmắc trong quy định về đối tượng, thủ tục hồ sơ, các địa phương gặp nhiều khókhăn trong thực hiện Nhiều thân dân của các bà mẹ đang làm thủ tục đề nghịphong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùnghoặc đã hoàn thất thủ tục đã lâu nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả, tỏ ra rấtbức xúc Họ đã viết đơn thư hoặc trực tiếp đến các cơ quan có trách nhiệmthực hiện chính sách này để yêu câu cầ trả lời, làm rõ hoặc đề nghị đề nghịĐoàn Đại biểu Quốc hội địa phương mình gửi câu hỏi chất vấn Chính phủ,thành viên của Chính phủ trong các phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặclàm đơn thư gửi trực thiếp Thủ tướng Chính phủ yêu cầu trả lời [3, 31] Trong những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã thực hiện chính sách trên hếtsức nghiêm túc Ngoài những chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng theo quy định của Trung ương, tỉnh đã huy động từtỉnh đến xã và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào việc thực hiện chínhsách người có công bằng những việc làm cụ thể như: Tham gia huy động,đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa; xây nhà tình nghĩa, nhà Đại đoàn kết, cáchoạt động tri ân, công tác phối hợp giữa Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanhniên dâng hương tại các nghĩa trang; thường xuyên chăm sóc, phụng dưỡngcác Bà mẹ Việt Nam anh hùng…Đây là những việc làm rất thiết thực, cụ thể,
đã tác động một cách tích cực đến các đối tượng chính sách, đến các bà mẹViệt Nam anh hùng, nhằm giúp cho các đối tượng này ổn định cuộc sống vàtạo niềm tin của các đối tượng chính sách đối với Đảng và Nhà nước, gópphần giáo dục lịch sử, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách người
có công nói chung và chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, vẫn còn một số mặthạn chế như đội ngũ cán bộ công chức được đảm nhiệm công tác lao động
Trang 7thương binh xã hội, công tác thi đua khen thưởng ở cơ sở không ổn định, còntrẻ chưa hiểu biết nhiều về chính sách, kiến thức về văn hóa lịch sử còn hạnchế nên việc tham mưu tổ chức thực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu côngtác Thêm vào đó, điều kiện đường sá, hạ tầng thông tin còn hạn chế nên việcphổ biến, tuyên truyền, triển khai đến từng đối tượng chính sách còn mức độ.Bên cạnh đó, một số văn bản hướng dẫn còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa rõràng Thủ tục hành chính trong việc xét đề nghị phong tặng, truy tặng danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn nhiều bước và gây khókhăn cho các đối tượng khi kê khai, lập hồ sơ từ khâu xác nhận con nuôi, đốitượng là thân nhân của liệt sỹ, người được ủy quyền làm thủ tục cho các bàmẹ… Công tác giám sát thiếu chặt chẽ trong quá trình xét duyệt, thẩm địnhnên việc xác định đối tượng được hưởng chính sách còn chưa đúng đối tượng,chưa đúng tiêu chuẩn theo quy định, việc chi trả chế độ chưa được giám sátchặt chẽ….Những tồn tại, bất cập trên đây đã làm cho chính sách danh hiệuvinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” tác động đến các đối tượngđược hưởng thụ không được như định hướng chỉ đạo ban đầu của Đảng vàNhà nước, chưa đáp ứng được nguyện vọng, mong muốn của nhân dân
Từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam hiện nay,
làm đề tài luận văn Hy vọng rằng, đề tài sẽ góp phần tuyên tuyền về thựchiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ởtỉnh Quảng Nam nói riêng và trong toàn quốc noi chung trong giai đoạn hiệnnay đến được mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội nhằm chung tay cùngNhà nước thực hiện tốt việc chăm sóc, phụng dưỡng những Bà mẹ Việt Namanh hùng còn sống, quan tâm đến thân nhân của các bà mẹ đã từ trần, các chế
độ đãi ngộ đối với thân nhân của bà mẹ, giáo dục truyền thống yêu nước, tựtôn dân tộc, thể hiện đạo lý “Uống nước Nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồngcây” của dân tộc Việt Nam
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng làmột chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu, tài liệu, bài viết viết về vấn đề chính sách khen thưởng,chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trong
đó có ít nhiều đã đề cập đến công tác này ở góc độ lý luận, chính sách,thực tiễn
Trong thời gian qua, với góc độ người làm công tác quản lý Nhà nước vềcông tác thi đua khen thưởng, học viên đã được tiếp cận những các chính sáchcủa Nhà nước về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được tiếp cận nghiên cứu của các Giáo sư, Phó Giáo sư, luận án của các tiến
sỹ, luận văn của các thạc sỹ về lĩnh vực thi đua khen thưởng, về chính sáchcông và thực thi chính sách công Trong các nghiên cứu về công tác khenthưởng đó, cũng đã ít nhiều đã đề cập đến công tác khen thưởng danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Cụ thể:
PGS.TS Trương Quốc Bảo (2010), Sách Vận dụng tư tưởng Hồ Chí minh về thi đua yêu nước trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi đua, khen thưởng Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [14]
Trong nghiên cứu tác giả đã đề cập đến vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh đề xây dựng các chính sách khen thưởng nói chung và các chính sáchđãi ngộ khen thưởng người có công với cách mạng nói riêng trong đó cóchính sách đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Ths Nguyễn Hữu Đoạt (2010) Luận văn thạc sĩ“Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật đối với công tác thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay”.
[17] Tác giả đã đề cập đến những bất cập trong các văn bản pháp luật về thi
Trang 9chính sách thông qua các văn bản pháp luật cần nghiên cứu nhiều hơn về thựctiễn; nhất là những chính sách đãi ngộ người có công với cách mạng để thật
sự chế độ đãi ngộ đó đem đến cho người có công với cách mạng những ấmáp; làm vơi đi những mất mát của họ đã cống hiến cho đất nước trong sựnghiệp đấu tranh thống nhất và bảo vệ Tổ quốc
Ths Trần Thị Hà (2010), Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Cơ sở lý luận
và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay" [18].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã trình bày những thành tựu trong việc xâydựng và tổ chức thực hiện các chính sách về thi đua khen thưởng trong đó cóliên quan đến chính sách khen tưởng người cố công với cách mạng, chính
sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tác giả cũng
đã nêu lên những bất cập còn tồn tại trong một số chính sách thi đua khenthưởng trong đó có chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở nước tahiện nay Nghiên cứu cũng đánh giá những hạn chế trong việc thực hiện chínhsách thi đua khen thưởng; đặc biệt là tổ chức thực hiện chính sách ưu đãingười có công với cách mạng còn nhiều thủ tục hành chính rườm rà, chưa cụthể, rõ ràng; biện pháp tổ chức, tuyên truyền pháp luật về thi đua khen thưởng
Tác giả Nguyễn Văn Hồi (2013) trong báo cáo tham luận tại Hội nghịtriển khai Đề án 32 của Chính phủ đã nêu rõ sự quan tâm của Đảng và Nhànước ta đến vấn đề an sinh xã hội trong đó có chính sách đối với người cócông với cách mạng: “Ðảng và Nhà nước ta luôn chú trọng, quan tâm đến việcxây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa làmục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội,thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta Hệ thống pháp luật và chính sách
an sinh xã hội ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Đối tượng thụ hưởngchính sách ngày càng mở rộng, mức trợ giúp xã hội được nâng lên theo điềukiện kinh tế - xã hội của đất nước Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã
Trang 10hội ngày càng được tăng cường Ðời sống vật chất và tinh thần của người cócông, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng cần trợ giúp xãhội được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và ổn định chínhtrị - xã hội Bên cạnh đó cần quan tâm đến các đối tượng đặc biệt như người
có công với cách mạng…” [21]
Ths Dương Thị Thanh (2007): “Đổi mới quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng ở địa phương”; [26] Trong luận văn thạc sĩ, tác giả đãnêu những nguyên nhân của những bất cập trong việc thực hiện chính sách thiđua khen thưởng; trong đó có chính sách khen thưởng người có công cáchmạng, người tham gia kháng chiến, chính sach khen thưởng và đãi ngộ đối với
Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Ninh Bình Tác giả cho rằng cần phải đổimới trong việc xây dựng chính sách khen thưởng, chính sách ưu đãi người cócông với cách mạng trong đó có danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng Trong tổ chức thực hiện chính sách này phải hết công tâm;phải có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước, của Mặt trận và các đoànthể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và người dân để đảm bảo chính sáchđược thực hiện minh
bạch, đúng đối tượng được thụ hưởng và đúng chế độ mà Nhà nước đã quyđịnh
Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều chưa nghiên cứu đisâu vào nội dung thực thi chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng ở một địa phương, tìm ra những vướng mắc, bất cập trong tổchức thực hiện, đề ra những giải pháp khắc phục để giải quyết những trườngtồn đọng Đây là một khoảng trống cần thiết phải được nghiên cứu, phân tích,
đề ra giải pháp giải quyết triệt để những vướng mắc, tồn tại nhằm nâng caohiệu quả trong thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng
Trang 113.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về
danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách về danh hiệu vinh
dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam trong nhữngnăm tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự
Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam hiện nay;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách về danh hiệu vinh
dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giải pháp thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt
Nam anh hùng
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Namhiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Trong giai đoạn 2015 - 2019
- Về không gian: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 122014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xãhội quy định, hướng dẫn tổ chức thực hiện Các nghị định hướng quy định vềchế độ ưu đãi người có công trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng như Nghịđịnh số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013, Nghị định số20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ, Nghị định số99/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoahọc như sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá chính sách
Trên cơ sở tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tác giả tiến hànhphân tích các bước trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, từ đó tiếnhành tổng hợp và đánh giá việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh Quảng Nam
Trang 13- Phương pháp thu thập thông tin
Tiến hành thu thập và kế thừa thông tin từ các nguồn có sẵn liên quanđến đề tài nghiên cứu của cá nhân bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết,
đề án, kế hoạch của Đảng, chính sách của Nhà nước ở Trung ương và địaphương đặc biệt là của tỉnh Quảng Nam, các công trình nghiên cứu của cácgiáo sư, tiến sỹ, luận văn của các thạc sỹ, các báo cáo tổng kết, số liệu thốngkê…của các cơ quan liên quan trực tiếp đến việc thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đơn thư của công dân
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Nhằm đánh giá khách quan, trung thực việc thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh QuảngNam Luận văn có sử dụng phương pháp khảo sát điều tra: xây dựng bảng hỏiphỏng vấn thu thập thông tin lấy ý kiến của một số cán bộ, công chức cấphuyện, cấp xã, người dân ở tỉnh Quảng Nam về thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở các xã, phường, thị trấn,huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; các văn bản triển khai danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh Quảng Nam, côngvăn thống kê tồn đọng các trường hợp đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng của một số tỉnh, đơn thư đề nghịcủa công dân
Trang 14quy nạp trong quá trình phân tích, đánh giá thực thi chính sách danh hiệu vinh
dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ chủ trương của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước trong thời gian qua
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phản ánh được thực trạng và đề xuất được một số giải phápthực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng tại tỉnh Quảng Nam nhằm giải quyết dứt điểm 240 trường hợp còn tồnđọng và những trường hợp tiếp theo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
Trang 151.1 Cơ sở lý luận chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Hội nghịTrung ương lần thứ 5) đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6năm 2012 một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020; BộChính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) ban hành Chỉ thị số35CT/TW, ngày 21/5/2004 “Về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong tràothi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”;
Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21 tháng 5 năm 2004 “Vềviệc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồidưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”, khen thưởng người có công cáchmạng
Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dựNhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày 29 tháng 8 năm 1994 và Pháp lệnh
số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10 năm 2012, Về sửa đổi, bổ sungmột số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng
Thực hiện Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Namanh hùng” năm1993 và năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 176-NĐ/CP ngày 23 tháng 10 năm 1994 và số Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày
22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09tháng 4 năm 2013, Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có côngcách mạng trong đó có Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Thông tư liên tịch số03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa BộNội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định,
Trang 16hướng dẫn thực hiện Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm
2013 của Chính phủ Điều đó đã chứng tỏ Đảng, Nhà nước ta rất quan tâmđến chính sách ngưới có công, chính sách đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng,những người đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc,thống nhất đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế Chính sách này không chỉthực hiện trong một giai đoạn mà còn tiếp tục thực hiện lâu dài nhằm tônvinh, giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ con cháu mai sau, làm giàu
giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm chính sách công
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các học giả trong vàngoài nước về chính sách công Theo tác giả Thomas Dye (1972): Chính sáchcông là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hay không làm Tác giảWilliam Jenkins (1978) lại cho rằng: Chính sách công là tập hợp các quyếtđịnh liên quan với nhau do một hoặc một nhóm nhà hoạt động chính trị banhành, liên quan tới lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêutrong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền
Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Chính sách công là hoạt động màChính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hòa các xung độttrong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [15]
- PGS.TS Đỗ Phú Hải định nghĩa về chính sách công ở Việt Namnhư sau:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mụctiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chínhsách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [19]
- PGS.TS Nguyễn Hữu Hải khái niệm: “Chính sách công là kết
Trang 17định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cáchthức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [20]
- PGS.TS Lê Chi Mai khái niệm chính sách công theo một số nộidung sau đây:
+ Chủ thể ban hành chính sách công mang phạm vi rộng (ngành, lĩnhvực, toàn quốc) là nhà nước do các cơ quan trong bộ máy nhà nước ban hành
và cơ quan Nhà nước và cũng có có thể trở thành chủ thể ban hành các “chínhsách tư” khi ban hành các chính sách điều tiết hoạt động trong phạm vi tổchức mình, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó (phạm vi hẹp, nội bộ) Do đó,các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách côngcũng vừa là chủ thể ban hành chính sách tư Sự khác biệt là ở chỗ các chínhsách tư do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách nhằm giảiquyết những vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hànhbên ngoài cơ quan cả về mặt vị trí địa lý cũng như chức năng, nội quy, quychế hoạt động của cơ quan đó Chính sách do nhà nước ban hành gọi là chínhsách công và có thể coi là chính sách nhà nước
+ Các quyết định này là những quyết định hành động bao gồm cả nhữnghoạt động thực tiễn Nó không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chínhsách mà còn bao gồm những hành động thực hiện các dự định theo ý chí củachủ thể ban hành
+ Chính sách công trước hết thể hiện dự định của đảng chính trị, cácnhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào
đó Nó phải bao gồm các hành động thực hiện dự định mục tiêu và mang lạikết quả trong thực tế Nếu có ban hành mà không thực thi thì những địnhhướng đó không được coi là chính sách hoặc thất bại chính sách [22]
Trang 18Trong nghiên cứu này, học viên sử dụng khái niệm của tác giả NguyễnKhắc Bình
1.2.2 Khái niệm thực hiện chính sách công
Như chúng ta đã biết, thực hiện chính sách công là một giai đoạn củachu trình chính sách công Thực hiện chính sách có vai trò quan trọng vàquyết định cho chính sách công trở thành hiện thực trong đời sống sau khiđược Nhà nước ban hành Có nhiều định nghĩa về thực hiện chính sách công Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng:
“Thực hiện chính sách công là qua ́triǹh vận động, thực hiện ý chi ́cuả nhà nước trong chińh saćh thaǹh hiêṇ thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp vơí các đôí tượng nhằm đaṭ mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng” [16]
Trong nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng khái niệm của tác giả
Nguyễn Khắc Bình để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài
1.2.3 Khái niệm danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Tại Điều 1 Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng năm 1993 và Điều 1 Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng năm 2012 quy định: “Danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng để tặng hoặc truy tặng những bà mẹ có nhiều cốnghiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụquốc tế” [27, 30]
Khái niệm này đã được sử dụng, áp dụng trong chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện đối với những cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn
1.2.4 Khái niệm chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ
Trang 19Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
là hệ thống những văn bản chỉ đạo, quy định của Đảng và Nhà nước để tặng,truy tặng những bà mẹ đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóngdân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế
1.2.5 Khái niệm thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Từ định nghĩa về thực hiện chính sách công của tác giả Nguyễn KhắcBình nêu trên, học viên có thể định nghĩa thực hiện chính sách về danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng như sau:
Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng là quá trình vận động, thực hiện ý chí của Nhà nước trong chińhsách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thaǹh hiêṇthực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp đối với các đối tượng nhằmđạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, đảm
bảo công bằng và hài hòa lợi ích giữa các đối tượng trong xã hội”
1.3 Nội dung chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Tại Khoản 1, Điều 59, Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội tônvinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công vớinước”, khẳng định quan điểm chỉ đạo của nhà nước quan tâm đến nhữngngười có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến 03 thời kỳ, Bà mẹ
Việt Nam anh hùng, thương binh, liệt sỹ, bệnh binh [23]
Chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
là một chính sách thể hiện bản chất ưu việt của chế độ, xã hội ở nước ta Từđường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống chính sách ưu đãingười có công với cách mạng nói chung và Chính sách về danh hiệu vinh dự
Trang 20Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng như Pháp lệnh ưu đãi người cócông với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005;
Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổsung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; Pháplệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày
29 tháng 8 năm 1994; Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 10năm
2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dựNhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Các chính sách đó được tổ chức thựchiện rất tốt trong nhiểu năm qua và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận
Nội dung của chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được thể hiện trong các Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1993; Nghị định số 176-CP ngày
20 tháng 10 năm 1994 quy định thi hành Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm1994; Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhànước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” sửa đổi và bổ sung năm 2012, Nghị định
số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùngnăm 2012; Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH ngày
10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Nghị định số 31/2013 NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm
2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãingười có công với cách mạng; Nghị định số 20/2015 NĐ-CP ngày 14 tháng
02 năm 2015 quy định về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có côngvới cách mạng Cụ thể là:
Trang 21Những trường hợp được Chủ tịch nước tặng hoặc truy tặng danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng chế độ ưu đãi theoquy định của Nhà nước, như sau:
Đối với Bà mẹ được phong tặng (còn sống).
Thứ nhất, Khoản 1, Điều 3, Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy địnhnhư sau:
1 Bà mẹ được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng được tặng Bằng, Huy hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được hưởngchế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và phápluật về ưu đãi người có công với cách mạng
2 Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu Bà
mẹ Việt Nam anh hùng, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật
về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng[9] Thứ hai, ngoài Khoản 1, Điều 23 Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy địnhchi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có côngvới cách mạng và Nghị định số 20/2015/NĐ-CP về mức trợ cấp, phụ cấp ưuđãi đối với người có công với cách mạng thì Bà mẹ được phong tặng danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp mộtlần bằng 20 lần mức chuẩn [10, 11]
Tại Khoản 1, Điều 1, Nghị định số 20/2015/NĐ-CP về mức trợ cấp, phụ
cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng quy định: “Mức chuẩn để xác định các mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị định này là 1.318.000 đồng.” [11]
Như vậy, số tiền mà bà mẹ được phong tặng danh hiệu bà mẹ Việt Namanh hùng được hưởng một lần là: 1.318.000 x 20 = 26.360.000 đ
Trang 22Thứ ba, được hưởng phụ cấp hàng tháng từ ngày Chủ tịch nước ký quyếtđịnh phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng.
* Trường hợp Mẹ có 1 Liệt sĩ được hưởng tổng số tiền 3.741.000 đồng, gồm:
Đối với Bà mẹ được truy tặng (đã từ trần).
Trang 23Thứ nhất, căn cứ khoản 2, điều 3 Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy định
như sau: “Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.”.
[9]
Thứ hai, khoản 4, điều 23 Nghị định 31/2013 NĐ-CP quy định: “Khi
Bà mẹ Việt Nam anh hùng chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi.” [10].
Như vậy, tổng cộng thân nhân thờ cúng Bà mẹ được hưởng là: 3 x
1.318.000 = 3.954.000 đồng
Khoản 5, Điều 4 Thông tư 03/2014/TTLT-BNV-BQP-BLĐTBXH hướngdẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnhquy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng có quy định:
“Đối với bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì khoản tiền một lần và hiện vật khen thưởng được trao cho người chồng; nếu người chồng đã từ trần thì trao cho con hoặc vợ liệt sĩ thường xuyên giữ trách nhiệm thờ cúng bà mẹ; trường hợp bà mẹ không còn chồng, con thì trao cho người thân gần nhất chịu trách nhiệm thờ cúng, chăm sóc phần mộ của bà mẹ, theo đề nghị bằng văn bản của chính quyền cấp xã nơi bà mẹ cư trú khi còn sống.” [7]
Tuy nhiên, chế độ về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng và người có công cách mạng lại được điều chỉnh lại mới nhất tại Nghịđịnh số 99/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ về trợ cấp
là hàng tháng 1.270.000 đồng cũng gây dư luận trong quần chúng nhân dân do
Trang 24chi trả chậm đối với những trường hợp đang hướng theo Nghị định số20/2015/NĐ-CP [9]
1.4 Nội dung thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
1.4.1 Ý nghĩa của việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh
dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹViệt Nam anh hùng là công tác rất quan trọng Thực hiện chính sách nàykhông chỉ giúp ổn định đời sống của đối tượng đặc biệt này mà còn góp phầnvào sự ổn định đời sống của các đối tượng người có công với cách mạng, giáodục truyền thống lịch sử, lòng yêu nước cho các thế hệ mai sau
1.4.2 Nội dung quy trình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách về danh hiệu
vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Trong quy trình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng, trước hết phải tiến hành xây dựng kế hoạch triển khaithực hiện một cách chi tiết Kế hoạch phải rõ ràng với các nội dung cụ thểnhư sau:
- Kế hoạch tổ chức điều hành:
Đề xuất cơ quan chủ trì thực hiện; phân công cụ thể về nhiệm vụ, tráchnhiệm cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Ở cấp cơ sở phải phân công cụ thểnhiệm vụ của từng cán bộ, công chức trong thực hiện chính sách danh hiệuvinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trong phân công tổ chức điều
Trang 25hành chú ý không để việc chồng chéo nhiệm vụ giữa cơ quan này với cơ quankhác hoặc các cá nhân với nhau
- Kế hoạch cung cấp các nguồn lực:
Dự kiến về cơ sở vật chất, các công cụ, phương tiện kỹ thuật phục vụ tổchức thực hiện, đảm bảo cung cấp đủ nguồn lực tài chính, con người nhằmđảm bảo việc triển khai thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng diễn ra được thuận lợi; đạt hiệu quả cao nhất
- Kế hoạch thời gian thực hiện:
Dự trù thời gian thực hiện từng nhiệm vụ để đạt được từng mục tiêu trên
cơ sở của từng giải pháp chính sách như thời gian của các bước thực hiệnchính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ phổbiến, tuyên truyền chính sách, quá trình thực hiện đến tổng kết đánh giá và rútkinh nghiệm thực hiện chính sách
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách:
Dự kiến về tiến độ hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chứcthực hiện chính sách về quy định nội dung, quy chế về tổ chức điều hành, vềtrách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước; sự phối hợp với
tổ chức Đảng ở cơ sở, phân công công chức tham gia kiểm tra thực hiện chínhsách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
1.4.2.2 Phổ biển, tuyên truyền chính sách về danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Tuyên truyền, phổ biến chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiệnchính sách của các cơ quan Nhà nước Phổ biến, tuyên truyền làm cho các cơquan Nhà nước, tổ chức xã hội và các đối tượng chính sách và mọi người dânnhận biết về mục đích, yêu cầu, đầy đủ, chính xác của chính sách để các bên
Trang 26có liên quan tự giác tham gia thực hiện Đồng thời giúp cho cán bộ, công chức
có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách; tăng cường sự giám sát của cơquan, tổ chức và người dân thực hiện đúng các quy định của chính sách danhhiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Bên cạnh đó, công táctuyên truyền, phổ biến chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng cũng làm cho mọi đối tượng trong xã hội tích cực tham gia,tìm kiếm, đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc thực hiện chính sách đãingộ trên
Công tác phổ biến, tuyên truyền danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng được thể hiện nhiều hình thức như thông qua báo chí, phátthanh, truyền hình, tổ chức hội nghị của các đoàn thể Phổ biến, tuyên truyền
là một khâu rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách Phổ biến,tuyên truyền chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anhhùng” phải kịp thời và hiệu quả làm đối tượng chính sách có điều kiện tiếpcận, kê khai, thụ hưởng chính sách theo đúng các quy định trong chính sáchdanh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
1.4.2.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà
nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Để thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng đúng các quy định đã được ban hành và hiệu quả tốt, phải phâncông, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước các cấp, các tổ chức chính trị
xã hội, tổ chức xã hội ở các cấp và các cá nhân tham gia
Sự phân công phải đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, khoa học và hợp lý, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia Nếu làm tốt việc phân công phối hợp thực hiện thì quá trình
Trang 27Do đó để việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng có hiệu quả, cần phải có thống nhất cao vềnhận thức, về quan điểm để thực hiện từng bước mục tiêu và các giải pháp củachính sách
Sự phân công phối hợp tốt từ tuyên truyền, vận động, đến việc cung ứngnguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện tốt nhất trong việcthực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng tại tỉnh Quảng Nam
1.4.2.4 Duy trì chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng
Duy trì chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng là bước bảo đảm cho chính sách tồn tại, thực hiện liên tục và phát huytác dụng tốt trong đời sống xã hội Các cơ quan Nhà nước chủ trì thực hiệnchính sách phải thường xuyên chỉ đạo, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhânđược giao nhiệm vụ thực hiện các quy định trong chính sách; nhất là nhữngchế độ đãi ngộ được thụ hưởng của đối tượng trong chính sách đã được quyđịnh Cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, Sở Laođộng, Thương binh và Xã hội tỉnh và Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh phảiluôn đảm bảo các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất để cho việc thực hiệnchính sách được diễn ra liên tục Trong quá trình thực hiện chính sách danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng có thể có những thay đổitrong đời sống xã hội nhưng phải đảm bảo các quy định đãi ngộ cho các đốitượng chính sách được thụ hưởng đúng quy định của Nhà nước trong chínhsách đã ban hành, tuyệt đối tránh sự bất công bằng giữa các đối tượng đượcthụ hưởng
Trang 281.4.2.5 Điều chỉnh, bổ sung giải pháp thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Trong quá trỉnh thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng có thể gặp phải những khó khăn do môi trường thực tếbiến động (đặc điểm vùng miền địa phương, tổ chức bộ máy, đội ngũ côngchức thay đổi) Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hộitỉnh, Ban Thi đua – Khen thưởng tỉnh chủ trì thực hiện phải sử dụng các công
cụ quản lý nhà nước khác để làm cho các giải pháp thực hiện chính sách nàyphù hợp với thực tiễn của từng địa phương và từng giai đoạn và góp phần tạomôi trường thuận lợi cho công tác thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dựNhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng đạt hiệu quả Để đảm bảo thực hiệnđúng các quy định trong chính sách, nhất là đối tượng thụ hưởng và những vậtchất và tinh thần đối tượng được thụ hưởng được hưởng trong chính sách, cơquan chủ trì thực hiện chính sách có thể phải phối hợp với các cơ quan nhànước khác (Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh), chínhquyền địa phương các cấp để tìm các biện pháp thích hợp kể cả biện pháphành chính để thực hiện chính sách này
1.4.2.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Thông qua việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cơ quan nhà nước chủ trìthực hiện chính sách có thể kịp thời bổ sung, hoàn thiện các giải pháp chínhsách; vừa chấn chin̉h công tác tổ chức thực hiện chính sách giúp cho việcnâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách về danh hiệu vinh
dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Cơ quan nhà nước chủ trì thực hiệnchính sách cần phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội và người dân thường
Trang 29dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Thông qua công tác kiểm tra, theodõi, có thể phát hiện những vi phạm, sai sót và kịp thời xử lý nghiêm khắc vàchấn chin̉h kịp thời những lệch lạc trong quá trình thực hiện chính sách này(có nhiều trường hợp phải thu hồi do man khai hồ sơ đề nghị phong tặng, truytặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc do cố tìnhchi trả chậm để gây khó khăn, sách nhiễu của công chức thực thi công vụ) Do
đó, công tác kiểm tra thực hiện chính sách trên cần được tiến hành đúng kếhoạch, bảo đảm các yêu cầu, các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá kết luận các viphạm sai sót phải chính xác và khách quan, xem xét xử lý nghiêm khắc, chấnchin̉h ngay Kiểm tra thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng nhằm đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu trongviệc tổ chức thực hiện chính sách, để phát hiện những hạn chế, sai sót trongviệc lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách để kịp thời điều chin̉h, phốihợp một cách nhịp nhàng, độc lập giữa các cơ quan, giữa các đối tượng thựcthi chính sách, được tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu, giảipháp chính sách, kịp thời khuyến khích những tích cực trong tổ chức thựchiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng 1.4.2.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách
về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Tùy theo từng thời điểm và tình hình địa phương, công tác tổng kết, đánhgiá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹViệt Nam anh hùng được tổ chức hàng năm hay 06 tháng một lần Tổng kết,đánh giá thực hiện chính sách cần đi sâu vào công tác chỉ đạo điều hành vềthực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước
Bà mẹ Việt Nam anh hùng cần được thực hiện đánh giá về nhiều nội dungnhư: Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách; công tác chỉ đạo điều
Trang 30hành; công tác tuyên truyền, phổ biến; công tác phối hợp tổ chức thực hiện;biểu dương khen thưởng những đơn vị, cá nhân làm tốt Bên cạnh đó cần nêu
ra tồn tại, hạn chế; những phát sinh mới trong thực tiễn cần được bổ sung đảmbảo chính sách phù hợp với thực tiễn, kiến nghị với cấp có thẩm quyền nhằm
bổ sung, điều chỉnh chính sách trên nhằm nâng cao hiệu quả của chính sáchđem lại sự hài lòng của các đối tượng thụ hưởng, của cả cộng đồng xã hội vàcác tầng lớp nhân dân
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Nhận thức của
xã hội và người dân:
Cần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của người dân, doanh nghiệp vì đây
là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách
về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đây là vấn đề lớn,cần sự đóng góp của người dân, người dân vừa là đối tượng trực tiếp tham giathực hiện chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính sách.Nếu chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùngđáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó
sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân và xã hội ủng hộ trong việcthực hiện Nếu các giải pháp chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng không thiết thực với đời sống nhân dân, không phùhợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân, của xã hội thì trong quátrình thực hiện sẽ gặp nhiều vướng mắc, khó thực hiện hoặc xảy ra nhữngkiếu kiện, khiếu nại, khiếu nại vượt cấp….hoặc bị kẻ xấu lợi dụng khai man
hồ sơ để hưởng thụ chính sách của Nhà nước gây bất bình trong xã hội,nghiêm trọng hơn có thể là chúng kích động nói xấu chế độ, gây mất ổn định
an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trang 31- Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng:
Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, thể hiện trong việc Nhànước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ
và tổ chức thực hiện (pháp lệnh, nghị định, thông tư) Trong quá trình thựchiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng,đội ngũ cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ thực hiện phải có đạo đức, tưcách tốt để thực hiện công minh, đúng những quy định của nhà nước đối vớicác đối tượng được ưu đãi này Bên cạnh đó, họ phải có lòng nhân ái, tuyệtđối không được gây phiền hà trong quá trình thực hiện chính sách này để thểhiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tỏ lòng biết ơn những người đã hy hinhxương máu của bản thân, của gia đình, người thân vì sự nghiệp giải phóngdân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc vàthực hiện nghĩa vụ quốc tế, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa độc lập, tự do
- Thực hiện đầy đủ các bước trong chu trình thực hiện chính sách công: Chính sách này nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người
có công, cho những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thể hiện sự quan tâm, biết ơncủa Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đấtnước Việc tổ chức thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà
mẹ Việt Nam anh hùng phải nghiêm túc; các giải pháp phải thích hợp vớiQuảng Nam, với từng địa phương và trong các giai đoạn khác nhau và phảiđảm bảo chắc chắn và ổn định Trong quá trình thực hiện, đội ngũ cán bộđược giao thừa hành công vụ đặc biệt là công chức ngành Lao động – Thươngbinh và Xã hội, ngành Thi đua - Khen thưởng tỉnh Quảng Nam phải thực hiệnđúng và đầy đủ các bước trong chu trình thực hiện chính sách Quá trình thựchiện chính sách, sớm phát hiện những bất cập để kiến nghị với cơ quan có
Trang 32thẩm quyền để bổ sung, sửa đổi kịp thời những điểm bất hợp lý, góp phầntừng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của những người có côngvới cách mạng, đặc biệt là đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng và thân nhâncủa họ
- Sự phối hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp
và cá nhân tại tỉnh Quảng Nam và các tỉnh trong ncar nước trong quátrình thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ ViệtNam anh hùng:
Các cơ quan chức năng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, ngànhThi đua - Khen thưởng từ trung ương đến địa phương cần phối hợp chặt chẽ
và phối kết hợp với các tổ chức, ngành có liên quan như tài chính, tư pháp,thanh tra, công an, với tổ chức như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, HộiCựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh các cấp, về việc chỉ đạo điều hành triển khai thực hiện đặcbiệt là đối với những địa phương có khó khăn, kinh tế kém phát triển, đường
sá, hạ tầng thông tin yếu kém (huyện Bắc Trà My, Nam Trà My, Tây Giang, Tiên Phước …tỉnh Quảng Nam) Nhà nước luôn đảm bảo nguồn tài chính và
cơ sở vật chất để thực hiện tốt chính sách trên Bên cạnh đó cần sự phối hợp của nhiều ngành, tổ chức, cá nhân tham gia cùng thực hiện Sự đóng góp của các nhà hảo tâm, của doanh nghiệp cũng góp phần thực hiện thành công chínhsách không chỉ về vật chất mà còn cả tinh thần đối với những bà mẹ được phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, người thân của họ và chính quyền địa phương nơi bà mẹ sinh sống trong việc tri ân, giáo dục lịch sử văn hóa cách mạng, truyền thống yêu nước
- Môi trường thực hiện chính sách:
Trang 33Yếu tố liên quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng địaphương cũng ảnh hưởng đến thực hiện chính sách Những địa phương có vị tríthuận lợi, điều kiện kinh tế xã hội phát triển và có điều kiện tự nhiên thuậnlợi, người dân nhận thức, hiểu biết tốt về chính sách về danh hiệu vinh dự Nhànước Bà mẹ Việt Nam anh hùng sẽ tác động, thúc đẩy việc thực hiện chínhsách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng thuận lợi,thành công Ngược lại, những địa phương có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiênkhông thuận lợi, điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, người dân nhận thức,hiểu biết kém về chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến thực hiện chínhsách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng kém hiệuquả Qua báo cáo, trong số 240 trường hợp của tỉnh Quảng Nam còn tồn đọngchưa giải quyết được có 56 trường hợp thuộc các huyện vùng núi đi lại khókhăn như Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Tiên Phước…Do đó,
địa phương ổn định, kinh tế phát triển, giao thông đảm bảo thì sẽ có điều kiệnthực hiện tốt và có hiệu quả chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹViệt Nam anh hùng hơn (huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ, Hội An )
Tiểu kết chương
Thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Namanh hùng là một quá trình phức tạp để thực hiện đường lối, chủ trương củaĐảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện được tốt chính sách nàychúng ta cần phải nắm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách vềdanh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trong luận văn này,chương 1 đã đề cập đến một số cơ sở lý luận về thực hiện chính sách chính
Trang 34sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Luận văncũng phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách về danhhiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng Đây là những luận chứngkhoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách
về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở tỉnh
Quảng Nam ở chương 2
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG
TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Quảng Nam
Theo báo cáo giới thiệu về địa phương thì Quảng Nam là một tỉnhthuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, là vùng đất giàu truyền thống văn hóavới hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn QuảngNam còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu túcho đất nước, là cái nôi căn cứ địa cách mạng, làm bàn đạp tiến quân vào giảiphóng Sài Gòn khi qua Đèo Hải Vân Với diện tích 10,438 km2 và dân sốtrung bình hơn 1.480 triệu người (2015), Quảng Nam đứng thứ 6 về diện tích,thứ 19 về dân số trong số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam Mật độ dân số là
142 người/km2 (đứng thứ 45/63) so với 277 người/km2 của cả nước Năm
Trang 352008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyên hải Nam Trung Bộ có 2 thànhphố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An)
Quảng Nam cách thủ đô Hà Nội 820 km về phía Nam, cách thành phố
Đà Nẵng 60 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 900 km vềphía Bắc theo đường Quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế vàthành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phíaTây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giápBiển Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thànhphố, 1 thị xã và 15 huyện với 244 xã/xã/thị trấn: 2 thành phố: Tam Kỳ và Hội
An, huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Núi Thành, HiệpĐức, Nông Sơn, Đại Lộc, Nam Giang, Tây Giang, Phú Ninh, Phước
Trang 36Sơn, Tiên Phước, Đông Sơn, Nam Sơn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thànhphố Tam Kỳ
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 Địa hình thấp dần từTây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, trung du ở giữa vàđồng bằng ven biển phía Đông Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đớigió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 25oC, lượng mưa trung bình hàng nămđạt 2.000-2.500mm với hơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10,
11 và 12) Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ là hai lưu vực sông chính
Diện tích lưu vực Vu Gia và Thu Bồn (bao gồm một phần lưu vựcthuộc tỉnh Kon Tum, Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng là 10,350 km², là 1trong 10 hệ thống sông có diện tích lưu vực lớn nhất Việt Nam và lưu vựcsông Tam Kỳ là 735 km² Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy TrườngSơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại cửa Hàn (ĐàNẵng), cửa Đại (Hội An) và An Hòa (Núi Thành) Ngoài hai hệ thống sôngtrên, sông Trường Giang có chiều dài 47 km chảy dọc ven biển theo hướngBắc - Nam kết nối hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và Tam Kỳ Do địa hìnhđồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khádày đặc Mật độ sông ngòi trung bình là 0.47 km/km² cho hệ thống Vu Gia -Thu Bồn và 0.6 km/km² cho các hệ thống sông khác
Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm Lưu lượngdòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến thị trấn Thạnh Mỹ vớidiện tích lưu vực 1,850 km²) là 127 m3/s, của sông Thu Bồn (tính đến NôngSơn với diện tích lưu vực 3,130 km²) là 281 m3/s Chế độ dòng chảy của sôngngòi có sự phân mùa rõ rệt Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 10, 11, 12)chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từtháng 2 đến tháng 8) rất thấp Hai tháng 1 và 9 là các tháng chuyển tiếp với
Trang 37dòng chảy thất thường Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là10,600 m3/s và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m3/s trong khi đó lưulượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh Mỹ là 4,540 m3/s và cực tiểu là 10.5 m3/s.Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gâynên lũ lụt và hạn hán trong vùng
Tài nguyên nước phong phú là tiền đề để phát triển thủy điện trên địabàn Tính đến 2015, trên địa bàn Quảng Nam có 8 dự án thủy điện có côngsuất lớn (trên 100 MW) và 35 thủy điện có công suất nhỏ Nhiều nhà máythủy điện công suất lớn như Sông Tranh 2, Đăk Mi 4, A Vương, Sông Bung 2,Sông Bung 4, Sông Kôn 2 đã và đang được xây dựng góp phần cung cấpđiện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước
Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh là kiểu sinh thái chủ đạo củaQuảng Nam Quảng Nam là tỉnh giàu tiềm năng rừng, rừng trước đây là nơithuận lợi cho thực hiện chiến tranh du kích và lập căn cứ cách mạng Hiệnnay, do bị khai thác quá mức trong một thời gian dài nên diện tích rừngnguyên sinh còn ít Việc đẩy mạnh trồng rừng trong những năm gần đây đãtăng diện tích đất có rừng của Quảng Nam lên hơn 55% vào năm 2014 Đây làmột trong những địa phương có diện tích đất có rừng cao nhất cả nước Rừngđặc dụng Sông Thanh là khu bảo tồn lớn nhất tỉnh, nơi mà các động vật hoang
dã khu vực Trung Trường Sơn đang được bảo tồn Nhân sâm Ngọc Linh làcây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1,000 m của núi Ngọc Linh
Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắmđẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (ThăngBình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành) Cù Lao Chàm là cụmđảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinhquyển của thế giới Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629
Trang 38người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km² Thành phần các dântộc ở Quảng Nam theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01.04.2009, có 34 tộcngười cùng sinh sống trên địa bàn Quảng Nam trong đó đông nhất là ngườiKinh (91,1%), người Cơ Tu (3,2%), người Xơ Đăng (2,7%), và người GiéTriêng (1,3%) 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0,9% dân số
Việc triển khai chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ ViệtNam anh hùng” tại tỉnh Quảng Nam trong những năm qua cơ bản đạt đượcchỉ tiêu kế hoạch đề ra Nhiều bà mẹ đủ điều kiện, tiêu chuẩn được Nhà nướcphong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anhhùng” và được nhân dân, xã hội thừa nhận, tôn vinh Tuy nhiên, hiện ở QuảngNam còn gần 240 trường hợp tồn đọng chưa được giải quyết chủ yếu tậptrung và các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Tiên Phước và CùLao Chàm Do điều kiện đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt ở các huyện nàynên việc tuyên truyền, phổ biến chính sách trở nên khó khăn, người dân khó
có thể tiếp cận chính sách nên khi triển khai thì chưa đảm bảo đúng thời gianquy định Đội ngũ công chức gồm cả ngành thi đua khen thưởng, ngành laođộng, thương binh và xã hội còn trẻ, luôn thay đổi hoặc thuyên chuyển côngtác, ít kinh nghiệm, hiểu biết lịch sử kháng chiến, kiến thức chung về địa lý,văn hóa, kinh tế xã hội vùng miền đủ để đánh giá, hướng dẫn người dân kêkhai hồ sơ đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹViệt Nam anh hùng”
2.2 Khái quát chung về thực hiện chính sách về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại tỉnh Quảng Nam
Tỉnh Quảng Nam là một trong số các tỉnh có số lượng bà mẹ đượcphong tặng, truy tặng nhiều nhất cả nước Theo số liệu báo cáo thống kê vềviệc thực hiện chế độ Bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh và của Sở Lao động
Trang 39- Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam trong việc thực hiện Pháp lệnhdanh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tính đến ngày26/3/2018 Quảng Nam hiện có 15.039 bà mẹ trong đó còn sống 812 bà mẹ(tổng số bà mẹ thực hiện Pháp lệnh danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng năm 1994 và Nghị định 176-CP ngày 20 tháng 10 năm 1994 là7.609) [3]
Riêng việc thực hiện Pháp lệnh về danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹViệt Nam anh hùng năm 2013, Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 5năm 2013 của Chính phủ, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BNV-
BLĐTBXH-BQP ngày 10 tháng 10 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ, Bộ Quốcphòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì tỉnh Quảng Nam có 7.430
bà mẹ Qua theo dõi quá trình thực hiện chính sách ưu đãi danh hiệu vinh dựNhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng của các tỉnh, thành phố, trực thuộcTrung ương như thành phố Hà Nội, tỉnh Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định,Lào Cai, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Quảng Trị… thì tỉnh Quảng Nam là mộttrong những tỉnh làm tốt chính sách này, góp phần giáo dục truyền thống, tạodựng được niềm tin, sự ủng hộ của quần chúng nhân dân và toàn xã hội
Các bà mẹ còn sống được sự quan tâm chu đáo của Đảng, Nhà nước,Chính phủ, của chính quyền các cấp của tỉnh Quảng Nam, an ủi phần nào sựmất mát, hy sinh lớn lao của những người thân trong gia đình vì sự nghiệpgiải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và nghĩa vụ quốc tế Những gia đình,thân nhân của các bà mẹ được truy tặng cũng được sự quan tâm của toàn xãhội, được thăm hỏi đầy đủ chu đáo vào dịp lễ, dịp Tết, được tạo điều kiện giảiquyết việc làm, đi học, hỗ trợ phát triển kinh tế…
Trang 40Tuy nhiên, do còn vướng mắc trong quy định về đối tượng, tiêu chuẩn,thủ tục hồ sơ dẫn đến cả nước vẫn còn trên 4500 trường hợp chưa được Nhànước phong tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anhhùng, trong đó tỉnh Quảng Nam còn hơn 240 bà mẹ, đó là một bất cập cầnphải được giải quyết, điều chỉnh [3]