Vấn đề môi trường nông thôn gần như bị bỏ ngỏ với nhiều bức xúc về môi trường làng nghề, môi trường trong sản xuất nông nghiệp, rác thải, nước thải nông thôn ô nhiễm… quy hoạch môi trườn
Trang 1TRẦN XUÂN DƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRẦN XUÂN DƯƠNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
Ngành : Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 8.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Xuân Dương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn PGS.TS Đinh Ngọc Lan đã tận tình hướng
dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND huyện Vị Xuyên, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và PTNThuyện đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Xuân Dương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU vi
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới 4
1.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 4
1.1.3 Nguyên tắc, mục tiêu xây dựng nông thôn mới 5
1.1.4 Đặc điểm, nội dung tiêu chí môi trường 6
1.1.5 Nội dung đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 7
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường 14
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 19
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang về thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 22
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 26
2.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 27
2.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 28
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 28
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về tuyên truyền, phổ biến tiêu chí môi trường 28
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về huy động nguồn lực 28
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về kết quả thực hiện tiêu chí môi trường 28
2.4.4 Nhóm chỉ tiêu về giám sát, đánh giá 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUVÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 31
3.2 Khái quát Chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 33
3.2.1 Tình hình triển khai 33
3.2.2 Kết quả thực hiện 35
3.2.3 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường 37
3.3 Thực trạng thực hiện tiêu chí môi trường tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 37
3.3.1 Hiện trạng thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn 37
3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn 50
3.3.3 Tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ tiêu trong tiêu chí môi trường tại huyện Vị Xuyên 61
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 62
3.4.1 Nhận thức của người dân 62
3.4.2 Cơ chế chính sách 64
3.4.4 Kinh phí 65
Trang 73.4.5 Sự tham gia của người dân và các tổ chức đoàn thể xã hội 68
3.5 Đánh giá chung thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 70
3.5.1 Kết quả đạt được 70
3.5.2 Hạn chế 72
3.5.3 Nguyên nhân hạn chế 73
3.6 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 74
3.6.1 Quan điểm và định hướng 74
3.6.2 Một số giải phápnâng cao hiệu quả thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả chi tiết thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới của
huyện Vị Xuyên đến năm 2017 36 Bảng 3.2 Tổng hợp các công trình nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Vị
Xuyênnăm 2017 38 Bảng 3.3 Thực trạng nguồn nước sinh hoạt và công tác cung cấp nước sạch của
huyện Vị Xuyên năm 2017 40 Bảng 3.4 Tổng hợp các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên
địa bàn huyện Vị Xuyên năm 2017 42 Bảng 3.5 Thải lượng CTR từ các cơ sở sản xuất nằm ngoài KCNnăm 2017 48 Bảng 3.6 Tổng hợp phương tiện, nhân lực thực hiện thu gom rác thải đô thị của
Đội dịch vụ công cộng môi trường huyện 49 Bảng 3.7 Nội dung và các hình thức tuyên truyền xây dựng NTMgiai đoạn
2015- 2017 52 Bảng 3.8 Đánh giá của người dân về hoạt động tuyên truyền môi trường
trongxây dựng nông thôn mới 54 Bảng 3.9 Kết quả huy động và thực hiện nguồn lực đầu tư thực hiện tiêu chí
môi trường xây dựng NTM 2011-2017 56 Bảng 3.10 Sự tham gia của người dân về thực hiện tiêu chí môi trường trong
xây dựng nông thôn mới 58 Bảng 3.11 Kết quả thực hiện chỉ tiêu về môi trường trong tiêu chí vềmôi
trường tại huyện Vị Xuyên 61 Bảng 3.12 Nhận thức của người dân về tiêu chí môi trường trongxây dựng
nông thôn mới 63 Bảng 3.13 Nguồn vốn thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2012 - 2017 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới có vị trí chiến lược trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Hội nghị lần thứ 7 của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 Ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành bộ tiêu chí quốc gia (bao gồm 19 tiêu chí) về nông thôn mới Ngày 17/10/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1980/QĐ-TTg
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016-2020 Đây là cơ sở để chỉ đạo xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện các mục tiêu quốc gia về nông thôn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân sinh sống rất quan trọng Trong bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới thì tiêu chí số 17 nói về vấn đề môi trường nông thôn Tuy nhiên, trong xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương đã “gặp khó khăn” về tiêu chí môi trường Môi trường nông thôn đã và đang trở thành vấn đề nan giải, các địa phương cần nhìn nhận việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới là quan trọng và lâu dài, cần được quan tâm đúng mức Bởi vì, khi môi trường nông thôn bị suy giảm, sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy xấu mà rất khó khắc phục như bệnh tật gia tăng, nguồn nước, đất sản xuất… bị ô nhiễm, suy giảm
Từ năm 2011, Hà Giang đã tổ chức triển khai chương trình xây dựng Nông thôn mới (XDNTM) tại 177/195 xã, phường, thị trấn Tính đến cuối năm 2016, toàn tỉnh Hà Giang đã có 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 02 xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí,
24 xã đạt từ 10 – 14 tiêu chí, 132 xã đạt từ 5 – 9 tiêu chí và 03 xã đạt dưới 5 tiêu chí Các tiêu chí chưa đạt của các xã biên giới chủ yếu là đường giao thông nông thôn, phổ cập giáo dục, cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn và thiếu đồng bộ, mức thu nhập của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao và môi trường ô nhiễm
Trang 10Vị Xuyên là huyện miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, nằm bao quanh thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang Sau 7 năm (từ 2012) triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, diện mạo các vùng nông thôn trên địa bàn huyện đã có nhiều đổi thay tích cực Tuy nhiên, trong quá trình triển khai xây dựng NTM, cấp ủy đảng, chính quyền địa phương đang gặp khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện tiêu chí môi trường Vấn đề môi trường nông thôn gần như bị
bỏ ngỏ với nhiều bức xúc về môi trường làng nghề, môi trường trong sản xuất nông nghiệp, rác thải, nước thải nông thôn ô nhiễm… quy hoạch môi trường nông thôn luôn là vấn đề của các cấp, các ngành của huyện nguyên nhân do địa hình bị chia cắt và thói quen sinh hoạt cùng quan niệm lạc hậu trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn là những yếu tố khiến nhiều địa phương không thể thực hiện hiệu quả tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM Đây là những khó khăn, thách thức lớn đòi hỏi sự nỗ lực và quyêt tâm cao hơn nữa của cả
hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường Để giải bài toán về môi trường trong xây dựng nông thôn mới, huyện đã xác định rõ nhiệm vụ và đề ra các giải pháp, trong đó huy động sự tham gia của các cấp, các ngành, các đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện công tác bảo vệ môi trường Phân công nhiệm vụ cho các ngành, các cấp, các tổ chức, doanh nghiệp, chủ động xây dựng và phối hợp tổ chức thực hiện, gắn mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội Chính vì những lý do đó, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả trong việc triển khai thực hiện tiêu chí môi trường trong trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
Trang 113 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài bám sát mục tiêu, nhận diện được những thành công, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình nông thôn tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang trong thời gian qua; đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần nâng cao hiệu quả trong việc triển khai thực hiện tiêu chí môi trường trên địa bàn huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Vì vậy, đây là luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của huyện trong việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình nông thôn tại địa phương
Đề tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề xuất các giải pháp
có cơ sở khoa học để triển khai thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình nông thôn trên địa bàn huyện Vị Xuyên một cách hiệu quả và bền vững
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm về nông thôn, nông thôn mới
- Nông thôn: Có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn do mỗi nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội không giống nhau, nhưng theo quan niệm phổ biến thì nông thôn là một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp còn chủ yếu và chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc; nơi đó mật độ dân cư thấp, kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn so với thành thị; đó là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND
xã [6]
- Nông thôn mới (NTM): Hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức về NTM Tuy nhiên, theo nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các tiêu chí đánh giá NTM của Chính phủ thì NTM được hiểu là: nông thôn có kinh tế phát triển toàn diện, có nếp sống văn hóa, văn minh, đời sống vật chất tinh thần và trình độ dân trí của cư dân nông thôn được nâng cao; cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội hiện đại, đồng bộ; môi trường sinh thái được bảo vệ, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy, an ninh được bảo đảm, chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao theo 19 tiêu chí đánh giá quy định tại quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
1.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Việc xây dựng NTM nhằm phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao KHCN và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế
Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn yếu kém, môi trường ngày
Trang 13càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn [6]
1.1.3 Nguyên tắc, mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí xây dựng NTM Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn ở ấp, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ các mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch,
đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
Trang 14Mục tiêu xây dựng nông thôn mới bao gồm:
- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng KT-XH ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến;
- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao
1.1.4 Đặc điểm, nội dung tiêu chí môi trường
Ngày 17/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã bàn hành Quyết định 1980/QĐ- TTG về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM gồm 19 tiêu chí
Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM Tiêu chí môi trường là một trong 19 tiêu chí NTM theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM
Mục tiêu chung của tiêu chí môi trường là: Bảo vệ môi trường, sinh thái, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường khu vực nông thôn thông qua các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức và đi đến hành động cụ thể của các cấp, các ngành và cả cộng đồng nhân dân
Mục tiêu cụ thể tiêu chí môi trường: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã
Nhiệm vụ của tiêu chí môi trường
Nhiệm vụ chung:Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu
Trang 15thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân
cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
- Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý thực hiện tiêu chí môi trường
- Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền và vận động người dân tham gia bảo
vệ môi trường trong nông thôn mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiệu tiêu chí)
- Bước 3: Huy động các nguồn lực để thực hiện tiêu chí môi trường
- Bước 4: Lập, phê duyệt các đề án môi trường
- Bước 5: Tổ chức thực hiện các đề án môi trường
- Bước 6: Kiểm tra, giám sát và xử lý
Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM có thể đánh giá trên các nội dung sau:
1.1.5.1 Đánh giá về việc thành lập hệ thống quản lý và thực hiện tiêu chí môi trường
Tiêu chí môi trường là 1 trong 19 tiêu chí trong xây dựng NTM.Việc thực hiện tiêu chí môi trường gắn liền với việc thực hiện các tiêu chí khác nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng NTM
Quá trình thành lập hệ thống quản lý và thực hiện tiêu chí môi trường đó là việc thành lập Ban Chỉ đạo, Ban quản lý các cấp nhằm lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hiện tiêu chí môi trường trên cơ sở ban hành các văn bản, chủ trương chínhsách hướng tới mục tiêu, đối tượng cụ thể, đề ra nhiệm vụ cần thực hiện, các
Trang 16giải pháp để hoàn thành tiêu chí, dự trù về nguồn lực cần thiết và công tác tổ chức, thành lập bộ máy chỉ đạo thế nào để nhằm hoàn thành tiêu chí môi trường
1.1.5.2 Đánh giá công tác tuyên truyền về tiêu chí môi trường
Công tác tuyên truyền chính sách là truyền bá, giáo dục, giải thích nhằm chuyển biến và nâng cao về nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng niềm tin, thúc đẩy mọi người hành động một cách tự giác nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra
Công tác tuyên truyền chính sách là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm phổ biến, giải thích về chính sách, làm cho người dân hiểu rõ nội dung của chính sách.Công tác tuyên truyền có vị trí rất quan trọng.Muốn đạt được sự nhất trí, đồng thuận cao trong nhận thức và hành động, thực hiện được các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra thì phải có sự hiểu rõ và ủng hộ của người dân.Tuy nhiên,
để có điều đó thì việc đầu tiên là phải tuyên truyền giải thích, phổ biến cho người dân về nội dung, vai trò và ý nghĩa của chính sách.Chỉ như vậy, họ mới có thể nhận thức đúng, hành động đúng và đạt hiệu quả cao [7]
Công tác tuyên truyền tiêu chí môi trường
Xây dựng NTM của Tỉnh Hà Giang nói chung và Huyện Vị Xuyên nói riêng được tiếp cận từ nhiều mặt nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực cho xây dựng NTM Chính vì vậy đối tượng để tuyên truyền về tiêu chí NTM nói chung và tiêu chí môi trường nói riêng được triển khai đến toàn bộ cán bộ, Đảng viên và nhân dân trên địa bàn Tỉnh, các cá nhân, đoàn thể, doanh nghiệp… Công tác tuyên truyền tạo được sự đồng thuận trong nhân dân, tạo ra một nhận thức mới cho người dân tự nguyện tham gia xây dựng nông thôn mới, trước hết là vì cuộc sống của chính bản thân họ và gia đình họ; tất cả mọi người dân đều được hưởng và toàn xã hội được hưởng thành quả đó Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, nên ở nhiều huyện, xã, với nhiều cách làm khác nhau đã thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôn mới
Có địa phương thực hiện sự đóng góp theo nhân khẩu, có địa phương thực hiện sự đóng góp theo hộ, có địa phương thì thực hiện sự đóng góp theo diện tích đất canh tác được hưởng Thực tiễn cho thấy, dù thực hiện bằng cách này hay cách khác, nếu người dân được bàn bạc, được đóng góp ý kiến của mình thì sẽ tạo ra được sự đồng thuận trong việc triển khai thực hiện
Trang 171.1.5.3 Đánh giá tình hình huy động các nguồn lực để thực hiện tiêu chí môi trường
a Tình hình huy động nguồn vốn
Ngoài nguồn tài chính được nhà nước đầu tư thì cần phải có nguồn tài chính huy động từ các nguồn khác nhau để đảm bảo cho xây dựng các công trình nước sạch, nghĩa trang, điểm thu gom xử lý rác thải…
Theo quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020, vốn và nguồn vốn để thực hiện Chương trình xây dựng NTM gồm 4 nguồn chính:
- Vốn ngân sách (Trung ương và địa phương) gồm:
+ Vốn trực tiếp để thực hiện các nội dung của Chương trình: khoảng 24% + Vốn lồng ghép từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; các chương trình hỗ trợ có mục tiêu; các dự án vốn ODA thực hiện trên địa bàn: khoảng 6%
- Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng ưu đãi và tín dụng thương mại): khoảng 45%
- Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác: khoảng 15%
- Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: khoảng 10%
Việc xác định rõ các nguồn lực tài chính là cơ sở để có kế hoạch huy động, khai thác các nguồn tài chính đầu tư cho xây dựng NTM Lãnh đạo Huyện Vị Xuyên đã xác định và phân rõ các nguồn lực tài chính trong xây dựng NTM của Huyện nói chung cũng như thực hiện tiêu chí môi trường nói riêng gồm các nguồn vốn từ Ngân sách của tỉnh, huyện, xã, vốn xã hội hóa, vốn doanh nghiệp, vốn đóng góp từ nhân dân, vốn lồng ghép, các nguồn vốn khác…
b Huy động sự tham gia của người dân
Để thực hiện thành công tiêu chí môi trường ngoài nguồn vốn huy động từ các nguồn khác nhau thì cần phải có sự tham gia của chính những người dân địa phương đó Sự tham gia của người dân cả về đóng góp tiền, ngày công lao động, tham gia vào các công việc chung của cộng đồng địa phương, cải tạo, chỉnh trang nhà cửa sân vườn sạch, đẹp, hợp vệ sinh môi trường
Trang 18c Huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội
Sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội thông qua công tác tập huấn, tuyên truyền cho người dân hiểu, tổ chức thực hiện tiêu chí môi trường bằng nhiều hình thức như tổ chức căng treo băng zôn khẩu hiệu, tọa đàm, hội thi…
1.1.5.4 Đánh giá kết quả thực hiện
Để thực hiện thành công tiêu chí môi trường thì cần phải thực hiện các chỉ tiêu
vì vậy khi đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí môi trường cần phải đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu của tiêu chí như tình hình sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh; tình hình thu gom và xử lý rái thải; tình hình thực hiện các hoạt động phát các chỉ tiêu của tiêu chí môi trườngtriển, hoạt động suy giảm môi trường, tình hình quy hoạch nghĩa trang…
a Tình hình sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh
Nước sạch, nước hợp vệ sinh được định nghĩa như sau:Nước sạch theo quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo quyđịnh của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt – QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tại Thông tư số 05/2009/TT - BYT ngày 17/6/2009
Nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần gây ảnh hưởng đến đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi
Theo Thông tư 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013, tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy chuẩn Quốc gia theo vùng đối với vùng trung du miền núi phía Bắc: 70% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn Quốc gia
b Tình hình thu gom và xử lý rác thải
Trong hướng dẫn 456/HD-SNN ngày 11/12/2013 của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Giang hướng dẫn phương pháp đánh giá chấm điểm các tiêu chí công nhận xã đạt chuẩn NTM, tình hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trong dân được xác định như sau:
- Hộ gia đình sử dụng nhà vệ sinh có bể tự hoại
Trang 19- Chất thải chăn nuôi của các hộ gia đình được thu gom và xử lý hợp vệ sinh
- Thôn, xã có tổ thu gom rác thải và xử lý tại bãi rác tập trung
c Các hoạt động phát triển môi trường, suy giảm môi trường
Các hoạt động phát triển môi trường như trồng cây xanh, vệ sinh môi trường như khơi thông cống rãnh, thu gom rác…tại địa phương, thường xuyên có hoạt động tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho chính quyền địa phương và cộng đồng
Ngoài những hoạt động phát triển môi trường thì trong hướng dẫn 456/HD- SNN ngày 11/12/2013 của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Giang hướng dẫn phương pháp đánh giá chấm điểm các tiêu chí công nhận xã đạt chuẩn NTM cũng đưa ra các hoạt động suy giảm môi trường không được phép thực hiện để đạt chỉ tiêu này như: Không có hoạt động suy giảm môi trường nước; không khí, đất, không xả rác thải; chất thải rắn nguy hại bừa bãi; không có hoạt động phá rừng hoạt động khai thác nước ngầm trái phép; không có hoạt động nuôi, kinh doanh động vật hoang dã trái phép…
d Tình hình quy hoạch và quản lý nghĩa trang
Theo hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM, nội dung chỉ tiêu về nghĩa trang đạt chuẩn quy định NTM cần phải có là mỗi thôn hoặc liên thôn,
xã hoặc liên xã:
- Có quy hoạch đất làm nghĩa trang lâu dài phù hợp với tập quán của địa phương
- Có quy chế quản lý nghĩa trang
- Việc táng người chết phải được thực hiện phù hợp với tín ngưỡng, phong tục tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
1.1.5.5 Đánh giá về công tác kiểm tra, giám sát thực hiện tiêu chí môi trường
Mục tiêu của Chương trình xây dựng NTM là phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân nông thôn vậy nên việc giám sát, đánh giá tình hình thực hiện của chương trình là vô cùng quan trọng, nó cho thấy hiệu quả của chương trình Tiêu chí môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân nông thôn nên trong quá trình thực hiện nhất thiết phải có sự giám sát, đánh giá của chính những người dân địa phương đó Quá trình giám sát, đánh giá cần phải được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện tiêu chí Việc giám sát đánh giá cần phải được thực hiện đa chiều:
Trang 20- Người dân thực hiện giám sát, đánh giá việc xây dựng các nhà máy nước sạch, cung cấp nước sạch, nước hợp vệ sinh cho người dân, việc thực hiện quy hoạch nghĩa trang, xây dựng các điểm thu gom và xử lý rác thải…
- Chính quyền địa phương và cả cộng đồng giám sát ý thức của người dân thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây xanh, vệ sinh khu vực công cộng và không tham gia các hoạt động làm suy giảm môi trường, thu gom và xử lý rác đúng quy định…
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
1.1.6.1 Nhận thức của người dân
Ban chỉ đạo rất coi trọng công tác tuyên truyền vận động, đã triển khai quyết liệt, bài bản, tuyên truyền mạnh mẽ qua các kênh Tuy nhiên, nhận thức hạn chế của một bộ phận nhỏ người dân đã kéo theo những khó khăn trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời chỉ chú trọng đến xây dựng cơ sở hạ tầng mà ý thức của người dân về giữ gìn vệ sinh môi trường trong xây dựng nông thôn mới chưa cao gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng đến cuộc sống của chính người dân nơi đây
1.1.6.2 Sự tham gia của người dân, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội
Quần chúng là đối tượng hưởng lợi chính và trực tiếp trong quá trình thực hiện tiêu chí môi trường để xây dựng mô hình NTM.Sự tham gia của quần chúng là yếu
tố chủ yếu, là một trong những thành tố chính của sự phát triểncộng đồng Sự tham gia của người dân là phương tiện hữu hiệu để huy động nguồn lực địa phương, tận dụng năng lực và tính sáng tạo của quần chúng để tổ chức các hoạt động hoàn thành tiêu chí môi trường Nó giúp xác định nhu cầu của người dân được sát đáng (dân cần), sự nhận thức của người dân đầy đủ và rộng rãi (dân biết, dân chủ động tham gia góp ý xây dựng (dân bàn, dân tự đứng ra góp công, góp của xây dựng dưới sự hướng dẫn của các tổ chức (dân làm), vì là công trình của dân, do dân tự bỏ công xây dựng nên người dân sẽ là người trực tiếp và tự kiển tra bảo vệ công trình của mình (dân kiểm tra), vì lợi ích trực tiếp của chính mình (dân hưởng lợi)
Trang 211.1.6.3 Tài chính
Đây là yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của tiêu chí Môi Trường Nguồn vốn này được đầu tư từ nhiều nguồn ngân sách nhà nước, vốn dân góp, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp đầu tư Tuy nhiên để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới trong đó có tiêu chí môi trường thì điều quan trọng nhất là biết phát huy nội lực từ dân trong việc tham gia đóng góp nguồn lực xây dựng công trình công cộng, người dân tự bỏ nguồn lực xây dựng công trình vì môi trường của hộ để quá trình xây dựng tiêu chí môi trường được ổn định, lâu dài, bền vững Bên cạnh đó cần biết thúc đẩy sự đầu tư của các doanh nghiệp trong xây dựng tiêu chí môi trường vì đây là nguồn lực rất lớn và hiệu quả cho quá trình xây dựng.Khi có sự quan tâm đầu tư trung ương thực hiện tiêu chí môi trường cần có kế hoạch giải ngân
và phân bổ hợp lý
1.1.6.4 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương
Trong quá trình CNH – HĐH đất nước nói chung và quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới nói riêng và đặc biệt là quá trình thực hiện tiêu chí môi trường thì cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến kết quả thực hiện, nó thúc đẩy quá trình được thực hiện nhanh và hiệu quả hơn rất nhiều so với sức người
và hạ tầng, công nghệ cũ
1.1.6.5 Cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách đóng vai trò định hướng, xây dựng kế hoạch thực hiện cũng như huy động nguồn lực tham gia của các tổ chức.Cơ chế chính sách nếu phù hợp với điều kiện của từng vùng cụ thể thì sẽ là động lực thúc đẩy nhanh sự phát triển của vùng, ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ làm cản trở sự phát triển của vùng đó
- Triển khai thực hiện tốt phân loại chất thải rắn tại nguồn kết hợp với việc cải tiến toàn bộ hệ thống thu gom - vận chuyển - xử lý chất thải rắn
- Phát triển các hệ thống cung cấp nước sạch và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn
- Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang
- Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng
Trang 221.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông thôn và bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Phong trào phát triển nông thôn mới, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở Ðức
Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức có diện tích 357.021 km2, với dân số gần 82 triệu người, gồm 16 bang, trong đó khu vực nông thôn chiếm 80% diện tích toàn quốc, với 25% dân số và đóng góp 0,9% vào GDP của toàn quốc (GDP đầu người của Đức năm 2016 là 45.085 USD/người) CHLB Đức là nước có nhiều kinh nghiệm trong phát triển nông thôn mới và đã xây dựng những chiến lược vùng thích ứng nhằm đảm bảo cung cấp lương thực phẩm an toàn và bền vững, đặc biệt còn biến nông thôn thành động lực mới trong phát triển nền kinh tế Phát triển nông thôn ở CHLB Đức đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong toàn nền kinh tế quốc dân vì đảm đương các nhiệm vụ truyền thống như: Cung cấp lương thực và thực phẩm; Cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho các ngành kinh tế; Địa điểm hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp và tụ điểm dân cư (chủ yếu dân cư làm nông nghiệp); Quỹ đất cho phát triển hệ thống giao thông và xây dựng đô thị; Chôn lấp chất thải rắn; Cân bằng hệ sinh thái vàphát triển du lịch sinh thái
Trước đây, các vùng nông thôn mới của CHLB Đức đứng trước những vấn đề lớn như: Dịch chuyển nhân khẩu nông thôn ra thành phố, chất lượng lao động nông thôn (trình độ thấp; tỷ lệ người lớn tuổi cao và năng suất lao động thấp); ô nhiễm môi trường do chăn nuôi theo quy mô lớn; sử dụng diện tích đất và mâu thuẫn trong
sử dụng không gian; thiếu cơ sở hạ tầng, tổ chức cung ứng và xây dựng mạng lưới liên kết ở nông thôn; biến đổi khí hậu; bảo tồn cảnh quan truyền thống của địa phương và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Để khắc phục những vấn đề trên, ngay từ những năm 1960-1980, CHLB Đức
đã áp dụng quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng nông thôn mới Mục tiêu được thống nhất thực hiện là: Phát triển các phong trào xây dựng nông thôn mới, bằng cách xây dựng một
mô hình nông thôn chuẩn, áp dụng cách tiếp cận từ trên xuống với tầm nhìn tập trung, không xem xét các nhu cầu cụ thể của vùng miền với đặc thù về nhân khẩu hay cộng đồng cư dân mà tập trung chính vào phát triển nông nghiệp, gồm nhiều
Trang 23yếu tố như cơ sở hạ tầng hay tăng cường kỹ năng; Đẩy mạnh xây dựng điện gió, sản xuất năng lượng sinh học, xây dựng khu sinh thái và dự trữ sinh quyển…
Để thực hiện mục tiêu trên, năm 1961, nước Đức đã tổ chức cuộc thi cải tạo và làm mới làng quê sau chiến tranh thế giới thứ hai Nếu ở Đông Đức có phong trào
“Hãy cùng nhau xây dựng đô thị và nông thôn đẹp hơn”, thì Tây Đức có cuộc thi
“Làng quê ta phải đẹp hơn” Cuộc thi này nhằm chỉnh trang làng xóm bằng việc trồng thêm cây xanh, thảm cỏ và trồng hoa trước cửa các ngôi nhà với mục đích chính là ngăn chặn dòng người rời bỏ nông thôn ra thành phố đang gia tăng Ban đầu chỉ được coi là “cuộc thi hoa” nhưng đến giữa những năm 1990, cuộc thi được
bổ sung các chỉ tiêu đánh giá với nội hàm mới và định hướng phát triển trong tương lai Chính vì vậy, năm 1998, cuộc thi được đổi thành “Làng quê ta có tương lai” trong bối cảnh sau khi Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro (1992) được tổ chức Như vậy, các tiêu chí đánh giá mới đã chuyển hướng trọng tâm từ việc chỉnh trang làm đẹp làng quê sang các biện pháp cơ bản và toàn diện nhằm nâng cao chất lượng sống của cư dân nông thôn
Bên cạnh việc tổ chức cuộc thi khuyến khích các địa phương tham gia phòng trào xây dựng nông thôn mới, Đức còn xây dựng một chương trình tổng thể nhằm phát triển nông thôn tổng hợp (gọi tắt là ILE), có nghĩa là khai thác đồng thời bốn chức năng: cư trú, làm việc, nghỉ dưỡng và bảo tồn thiên nhiên Do vậy cần phải xem xét đầy đủ các lĩnh vực hành động khác nhau và áp dụng năm cách tiếp cận: đặc tính vùng, xuyên lĩnh vực, dựa vào sự liên kết và hợp tác, tính năng độngvà dài hạn Ngoài ra, các bang của nước Đức còn được nhận nguồn hỗ trợ tài chính cho phát triển nông nghiệp và không gian nông thôn từ Quỹ Nông nghiệp châu Âu Quỹ được thành lập theo Quyết định số1968/2005 ngày 20/9/2005, về việc điều chỉnh trong chính sách nông nghiệp chung (CAP), trong đó quy định: Chính sách nông nghiệp nhằm giúp người nông dân thích ứng với các điều kiện của thị trường tự do toàn cầu và trợ cấp khi các tiêu chuẩn của châu Âu cao hơn; Đền bù/hỗ trợ/trợ cấp cho các sản phẩm nông nghiệp mang tính đặc thù như bảo vệ tài nguyên, bảo vệ cảnh quan…; hỗ trợ các mô hình nông thôn phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn cảnh quan thiên nhiên Từ năm 2007, Quỹ này đã hỗ trợ cho các biện pháp phát triển
Trang 24nông thôn ở Đức, với số tiền 9 tỷ Euro trong thời gian 2007-2013 Từ nguồn hỗ trợ của Quỹ, nhiều xã nhỏ của Đức đã thay đổi diện mạo hoàn toàn và trở thành điển hình trong phát triển nông thôn mới Ví dụ như xã Bröbberow là một xã nhỏ (diện tích 14,35 km2, dân số 511 người), nằm ở phía Bắc nước Đức, thuộc trung tâm Schwann, huyện Bad Doberan, bang Mecklenburg-Vorpommern Xã có cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu của một vùng ven chịu ảnh hưởng mạnh trong Kỷ nguyên băng
hà, đó là địa mạo nhấp nhô lượn sóng, có nhiều sỏi đá và điểm trũng ngập nước; nằm ở thung lũng bên dòng sông nhỏ Beke và sau đó đổ ra sông Warnow Với 2,1 triệu Euro hỗ trợ của Quỹ nông nghiệp châu Âu (tương đương 6 tỷ đồng Việt Nam) trong giai đoạn 2006 - 2010, xã đã sửa chữa và mở rộng toàn bộ 10 km đường thôn xóm cùng với hệ thống tiêu thoát nước mưa và nước thải Đặc biệt sửa lại và lát đá thiên nhiên cho toàn bộ đường thôn xung quanh khu vực nhà thờ, trải nhựa đường
và cứng hóa tuyến đường liên thôn Ngoài ra, người dân còn đóng góp công sức và kinh phí trong xây tuyến đường đi dạo, đạp xe, cưỡi ngựa ở trong khu rừng và khu sinh thái thiên nhiên mới được cải tạo Ngay trong năm 2006, xã đã tiến hành trồng cây và xanh hóa lại vùng đất trũng mà trong những năm 1980 đã cải tạo thành đồng ruộng Sau gần 10 năm thì toàn bộ sinh thái vùng đầm lầy được hồi sinh và khơi thông dòng chảy Beke Ngoài ra, xã còn bảo tồn và gần như giữ nguyên hiện trạng các công trình kiến trúc Đặc biệt ở các đầu hồi nhà, xã khuyến khích người dân bố trí chỗ để chim, cú và dơi có thể làm tổ Từ những kết quả của quá trình đổi mới làng quê, xã đạt giải cải tạo làng quê châu Âu trong cuộc thi “Thay đổi là cơ hội” năm 2006 [8]
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển nông thôn ở Thái Lan
Công nghiệp hoá nông nghiệp với nghĩa là làm cho nông nghiệp trở thành một khâu gắn chặt với công nghiệp làm hàng xuất khẩu và do đó phải phát triển các doanh nghiệp trong công nghiệp đảm nhận liên hiệp với nông dân tạo ra sản phẩm
để chế biến có hiệu quả xuất khẩu cao, an toàn với người tiêu dùng, bảo vệ môi trường Trong những năm gần đây, Chính phủ Thái Lan cũng phát động phương pháp canh tác “trong một môi trường thân thiện”, cung cấp tiền và trợ giúp kỹ thuật cho các khu vực trọng điểm Biện pháp này nhằm tăng xuất khẩu rau quả và giảm thiểu
Trang 25dùng thuốc trừ sâu Chính phủ đề ra tiêu chuẩn quốc gia về trồng rau sạch và thực phẩm an toàn, cấp giấy chứng nhận và logo cho sản phẩm Theo Ban Cấp phép rau sạch Thái Lan (ACT), kể từ năm 2002, số nông trại trồng rau sạch tăng lên gấp đôi, hiện có hơn 700 nông trại
Lĩnh vực nông nghiệp đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP của Thái Lan, trồng trọt đóng góp khoảng 68% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Năm 2009, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Thái Lan đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu nông sản; trong khi nhập khẩu nông sản chỉ ở mức khiêm tốn Sản xuất rau giữ một vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp Thái Lan, đồng thời có đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu và thu nhập của người nông dân rộng [16]
Thập kỷ mới (2011-2020), sản xuất rau của Thái Lan sẽ tập trung vào các loại rau có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Các loại rau này sẽ được giám sát và chứng nhận về thực trạng dùng thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật; trong những trường hợp được qui định, việc cấp chứng nhận sẽ được miễn phí
để khuyến khích sản xuất rau an toàn gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trên diện
1.2.1.3 Kinh nghiệm đảm bảo môi trường cân bằng trong phát triển nông thôn ở Nhật Bản và Hàn Quốc
Ở Nhật Bản: Ô nhiễm nước là một trong những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở Nhật Bản, do 4 nguyên nhân chính là công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng, sự tụt hậu trong việc xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội như hệ thống thoát nước cũng như chính sách một thời coi trọng phát triển kinh tế hơn là sức khỏe nhân dân và môi trường trong sạch Bên cạnh đó một loại vấn đề khác cũng gây ô nhiễm nước như nhiều nhà máy điện được xây dựng với quy mô ngày càng lớn và nhiệt thải ra là mối đe dọa đối với sinh vật biển và sống gần đó, dầu loang từ các con tàu chở dầu bị tai nạn cũng là một nguyên nhân lớn gây ô nhiễm nước
Để cải thiện chất lượng nước, Nhật Bản đã tiến hành nhiều biện pháp, trong đó
có việc đề ra các tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại, các tiêu chuẩn về môi trường sống, các biện pháp kiểm tra và kiểm soát nghiêm ngặt môi trường sản xuất công nghiệp Các luật quy định trách nhiệm gây ô nhiễm được thông qua, nhiều dự án được tiến hành để cải thiện hệ thống BVMT vùng tập trung nhiều cơ sở công
Trang 26nghiệp, cũng như các khu công nghiệp mới Chính phủ Nhật Bản đã có những biện pháp đối phó với nhiều hình thức ô nhiễm hoặc có hại đến môi trường, trong đó có
ô nhiễm tiếng ồn, độ rung, rác thải, lún đất, các mùi khó chịu, ô nhiễm đất và ô nhiễm khu công nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp tập trung gây ra Năm
1967, Luật Cơ bản phòng chống ONMT ở Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực, đề ra những chính sách và nguyên tắc chung về kiểm soát ô nhiễm, đồng thời khuyến khích nỗ lực làm sạch môi trường Luật Bảo tồn thiên nhiên được thông qua năm
1972, tạo cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động BVMT Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, cũng như bản thân người dân Nhật Bản rất nỗ lực để làm sạch môi trường, nổi bật nhất là việc Nhật Bản đăng cai tổ chức hội nghị thế giới về khí hậu thay đổi ở Kyoto [16]
Ở Hàn Quốc: Chính sách phát triển khu công nghiệp của Hàn Quốc lại tập trung vào năng suất quốc gia, cân bằng với phát triển các ngành kinh tế và công nghiệp địa phương quản lý theo địa phận hiệu quả và phát triển bền vững
Một đặc điểm nổi bật là nỗ lực của chính quyền địa phương từ những năm1990 đã tái cấu trúc các chính sách và cơ quan vận hành khu công nghiệp theo bối cảnh tình hình kinh tế và nhu cầu nội tại Để quản lý việc khoanh vùng hoạt động của các khu công nghiệp, chính quyền Hàn Quốc đã thiết lập một cơ cấu đặc biệt Trong đó, các công ty thuộc thuộc khu công nghiệp quy tụ, tập trung tại một khu vực như khu công nghiệp xăng – hóa chất, khu công nghiệp do nước ngoài đầu
tư và khu công nghiệp dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Điển hình Hàn Quốc đưa
ra chính sách thành phố xanh Các chính quyền địa phương có thể thấy rõ bức tranh thiết kế về thành phố xanh cũng như hỗ trợ về tài chính và hành chính từ chính quyền trung ương Đối với chính sách quản lý môi trường thwo cùng tự nguyện khác, có thể cấp “chứng chỉ về xây dựng thân thiện với môitrường” Trong đó chính quyền địa phương đánh giá 44 tiêu chí, kể cả việc sử dụng đất, giao thông và tiêu dùng năng lượng Những việc này mang tới sự hỗ trợ về tài chính, làm giảm chi phí nhiều hơn cho chính quyền trung ương Hiện tại Hàn Quốc có hệ thống điểm các các bon để thưởng cho các công ty sử dụng ít năng lượng Số điểm này có thể được đổi thành tiền mặt hoặc phiếu quà tặng, ngoài ra còn có các hệ thống thưởng khác
Trang 27cho việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng, mua sản phẩm xanh và thực hiện các biện pháp thân thiện với môi trường khác [16]
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
1.2.2.1 Kinh nghiệm hoàn thành tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
tổ chức đoàn thể vận động người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường, giữ gìn đường làng ngõ xóm xanh - sạch - đẹp; làm hầm biogas trong chăn nuôi; không nhốt gia súc dưới gầm sàn
Xã chỉ đạo Hội Phụ nữ xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả 10 CLB
"Phụ nữ tự quản về vệ sinh môi trường”, với gần 900 hội viên phụ nữ tham gia Các câu lạc bộ này sinh hoạt 2 buổi/ 1 tháng, theo hình thức tự nguyện Tại các buổi sinh hoạt các thành viên tổ chức tổng vệ sinh môi trường tại thôn bản, tuyên truyền, vận động các gia đình trong thôn nâng cao ý thức tự giác về công tác vệ sinh môi trường; thu gom rác thải vào đúng nơi quy định
Đặc biệt, năm 2017, hưởng ứng Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và để thực hiện tốt công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải theo mô hình thu gom rác tại xã Nghĩa Lợi, Phòng Tài nguyên - Môi trường
đã phối hợp với Công ty Môi trường Nghĩa Lộ tổ chức bàn giao 10 xe thu gom rác cho 10 thôn bản của xã Nghĩa Lợi, với tổng kinh phí hơn 32 triệu đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước
Trang 28Kết quả, môi trường sống của xã ngày càng được cải thiện, hết năm 2017 toàn
xã có 92% hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh; 78% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; hơn 99% hộ được sử dụng điện thắp sáng…
Cũng là một trong những xã hoàn thành tiêu chí môi trường trong năm 2017,
xã Nghĩa An - thị xã Nghĩa Lộ đã có những cách làm riêng để hoàn thành tiêu chí này Trong đó, giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường như: phát động ngày chủ nhật hướng về nông thôn mới, huy động sức dân quét dọn vệ sinh từ đường làng ngõ xóm đến nhà văn hóa ở các thôn, từ khu dân đến trụ sở xã
Đến nay, toàn xã Nghĩa An có hơn 3.000 hộ có chuồng trại hợp vệ sinh; số hộ
có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt hơn 80%; 100% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh
và điện thắp sáng; hơn 2.000 hộ có nhà ở đáp ứng tiêu chí 3 sạch trong xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới
Có thể khẳng định nhờ những cách làm hay và sáng tạo, đến hết năm 2017, 3
xã trong kế hoạch xây dựng nông thôn mới của thị xã Nghĩa Lộ đều hoàn thành tiêu chí số 17 về môi trường Trong đó, xã Nghĩa Lợi đã được công nhận và ra mắt xã đạt chuẩn nông thôn mới; xã Nghĩa An đã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới
sẽ tổ chức ra mắt tới đây và xã Nghĩa Phúc hoàn thành 16/19 tiêu chí
Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện tiêu chí số 17 về môi trường ở các địa phương thời gian qua khá khó khăn bởi nhiều nguyên nhân như: tiêu chí môi trường gồm 5 nội dung nhỏ liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp; các nội dung về tiêu chí này cần đầu tư về cơ sở vật chất, hạ tầng lớn; tập quán sinh sống của đồng bào đã tồn tại từ lâu đời khó thay đổi, một bộ phận người dân nhận thức bảo vệ môi trường chưa cao Trước thực trạng này, đòi hỏi các xã cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong việc giữ vững và nâng cao tiêu chí
Với những cách làm hay sáng tạo trong thực hiện tiêu chí số 17 về môi trường
đã góp phần thực hiện thành công xã nông thôn mới ở Nghĩa An, Nghĩa Lợi và sẽ còn nhiều địa phương đang triển khai để về đích Qua đó, chất lượng cuộc sống nói chung và môi trường sống nói riêng của người dân ngày càng được cải thiện, từng bước đưa Nghĩa Lộ đạt thị xã văn hóa du lịch trong tương lai gần [17]
Trang 291.2.2.2 Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc gắn xây dựng nông thôn mới với công tác vệ sinh môi trường
Nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện, các tổ chức xã hội đã không ngừng tìm kiếm những biện pháp tích cực để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và làm cho môi trường trong sạch hơn UBND huyện Lập Thạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lập Thạch đã xây đã dựng kế hoạch phát động phong trào thi đua bảo vệ môi trường Đến nay trên địa bàn huyện đã thành lập được 43 tổ vệ sinh môi trường, 19/20 xã, thị trấn xây dựng được bãi tập kết, xử
lý rác thải, toàn huyện có trên 2.000 hầm biogas…
UBND huyện, phòng TN&MT huyện cũng đẩy mạnh công tác phối hợp với các ban ngành có liên quan như Hội Phụ nữ, Ban Tuyên giáo, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Đài truyền thanh huyện tuyên truyền về công tác bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, UBND huyện Lập Thạch cũng đã phối hợp cùng các ngành chức năng của tỉnh huy động các nguồn lực đầu tư các công trình bảo vệ môi trường và xây dựng NTM với
19 tiêu chí như các công trình đường bê tông hóa, chương trình nước sạch, xây dựng nghĩa trang nhân dân, bãi xử lý rác thải, xe đựng rác thải, nhà vệ sinh, di chuyển chuồng nuôi gia súc ra xa khu nhà ở, hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi, hạn chế việc phá rừng, cháy rừng, tổ vệ sinh môi trường, các xã, thị trấn cũng được trang bị các phương tiện thu gom như: xe đẩy tay, dụng cụ thu gom, bảo hộ lao động nhăm giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn [16]
Nhằm đảm bảo phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ môi trường hoàn thành chương trình xây dựng NTM, UBND huyện Lập Thạch, Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện cũng đã tuyên truyền giáo dục cho người dân nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, khuyến khích sử dụng công nghệ sản xuất sạch thân thiện với môi trường, hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật, xây dựng hầm Biogas, dùng đệm lót sinh học, xử lý rác thải tại gia đình, nguồn nước cần phải lọc trước khi sử dụng… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công tác tuyên truyền và bảo
vệ môi trường còn nhiều tồn tại, bất cập Huyện Lập Thạch cũng đang gặp rất nhiều khó khăn vướng mắc trong xử lý Hầu hết rác thải chưa được phân loại trước khi
Trang 30đưa đi xử lý Phương pháp xử lý cũng chỉ được đốt hoặc chôn lấp Số rác thải trực tiếp đổ ra các khu vực sườn đồi, mương rãnh thoát nước, hoặc những khu đông xa dân cư vẫn còn tồn tại… Huyện cũng đã đầu tư xây dựng mương cứng thoát nước thải nhưng cũng chưa được xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường, phần lớn nước thải sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề hiện vẫn đổ trực tiếp ra môi trường
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang về thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã trở thành một phong trào rộng lớn, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Song tiềm năng và cơ hội của phát triển của nông thôn chưa được khai thác hiệu quả, vẫn còn nhiều bất cập từ thực tế vận dụng, trong đó có tiêu chí môi trường là tiêu chí thứ 17 (trong 19 tiêu chí đề ra trong chương trình) là khó hoàn thành nhất Từ kinh nghiệm của các nước và một số địa phương, nên rút ra bài học kinh nghiệm cho huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang như sau:
Thứ nhất, phát triển nông thôn theo quy hoạch, liên kết sản xuất nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và các khu vực đô thị; Tránh áp dụng các phương pháp quy hoạch mang tính “từ trên dội xuống”, tốn thời gian và chi phí trong thực hiện các dự án của xã và cơ quan quản lý môi trường & tài nguyên Thứ hai, tăng tính nhạy cảm của người dân, nghĩa là tránh sự vô cảm đối với những diễn biến ở nông thôn; Tìm mọi cách thỏa thuận và đồng thuận với mọi người tham gia;Tăng cường đầu tư chuyển giao công nghệ, đào tạo và dạy nghề cho nông dân nhằm phát huy khả năng của con người và áp dụng khoa học - công nghệ
có hiệu quả Đây là động lực chính cho tăng trưởng nông nghiệp tương lai, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng của nông sản; tăng khả năng cạnh tranh ở trong nước và ngoài nước
Thứ ba, xác định các nhu cầu và yêu cầu của tất cả mọi đối tượng sử dụng đất nông thôn (người dân, hộ gia đình, doanh nghiệp, chính quyền xã và các đơn vị ở địa phương); Trong dồn điền đổi thửa và ghép mảnh cần có sự hỗ trợ của Chính phủ trong tiến trình này và gắn với phân công lại lao động trong nông thôn trên cơ sở
Trang 31phát triển kinh tế hộ gia đình, tìm các biện pháp tích cực trong điều chỉnh sở hữu cá nhân về đất đai…
Thứ tư, sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm và minh bạch các nguồn vốn hỗ trợ trong xây dựng nông thôn… Hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng kinh tế nông thôn, bảo tồn những giá trị văn hóa, nâng cao trình độ dân trí của người dân; Đảm bảo môi trường sinh thái Xanh- Sạch - Đẹp
Thứ năm, thành lập các tổ vệ sinh môi trường của từng thôn và đội thu gom rác, tăng cường công tác khuyến nông, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản xuất
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
PGS.TSKH Nguyễn Trung Dũng (2015), Phong trào phát triển nông thôn mới, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên ở Ðức - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nghiên cứu cho thấy để thực hiện thành công tiêu chí môi trường cần thay đổi cách tiếp cận và xây dựng chương trình tổng thể trong phát triển nông thôn mới Cụ thể xác định mục tiêu của chương trình là cạnh tranh của khu vực nông thôn, khai thác những nguồn lực/tài nguyên chưa được sử dụng không phải là công bằng, thu nhập nông nghiệp, cạnh tranh của nông nghiệp Lĩnh vực mục tiêu chính là nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nông thôn (du lịch làng quê, tiểu thủ công nghiệp, lắp ráp, công nghiệp ICT,…) không chỉ đơn thuần là nông nghiệp như trước đây Công cụ chính là đầu tư từ nhiều nguồn lực khác nhau không phải là trông chờ trợ cấp, hỗ trợ Các tác nhân chính tham gia là chính quyền các cấp (khu vực, quốc gia, vùng miền và địa phương), sự tham gia của các bên ở địa phương (công, tư nhân, tổ chức phi chính phủ) không chỉ là Chính phủ, người nông dân như trước đây
Nguyễn Đình Ninh, Nguyễn Bích Ngọc (2016)
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được xác định là mục tiêu thiên niên kỷ, được Chính phủ quan tâm và dành ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội Sau 17 năm thực hiện, Chương trình mục tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đạt được những kết quả to lớn
Tuy nhiên, hoạt động cấp nước nông thôn còn những hạn chế, hiệu quả chưa tương xứng với nguồn lực đã đầu tư và mong mỏi của nhân dân Số lượng công
Trang 32trình hoạt động kém hiệu quả vẫn còn cao, chất lượng nước ở nhiều công trình chưa
ổn định, công tác vận hành nhiều nơi còn buông lỏng, trách nhiệm không rõ ràng, nhiều công trình thậm chí không hoạt động
Việc tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả công trình, điều chỉnh mô hình quản lý phù hợp, duy trì bền vững các công trình cấp nước nông thôn hết sức cần thiết nhằm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ, Chiến lược Quốc gia Cấp nước và Vệ sinh nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới
Vũ Thị Thanh Hương; Nguyễn Quang Vinh; Vũ Quốc Chính (2017), Đề xuất một số giải pháp thực hiện tiêu chí số 17 trong xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2016-2020
Cơ sở đề xuất các giải pháp thực hiện Tiêu chí số 17 dựa trên các nội dung và chỉ tiêu đánh giá Tiêu chí số 17 đã được qui định trong quyết định 1980/QĐ-TTg và
đã kết quả khảo sát, tham vấn tại 10 tỉnh đại diện cho các vùng sinh thái trong cả nước về những khó khăn, tồn tại, các vấn đề cần được giải quyết trong thực hiện Tiêu chí số 17
Các giải pháp đề xuất trong bài viết bao gồm các giải pháp chung để thực hiện Tiêu chí 17 và các giải pháp cụ thể đối với các nội dung 17.1; 17.2; 17.3; 17.4; 17.5
và 17.6 Trong đó, nhấn mạnh cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp từ tổ chức quản lý, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, giải pháp kỹ thuật phù hợp và sự tham gia của cộng đồng Với điều kiện nông thôn hiện nay cần ưu tiên các giải pháp đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với chính sách xã hội hóa trong xây dựng NTM Bài viết tập trung vào các giải pháp chưa được chú ý trong giai đoạn 2011-2015 như cải thiện môi trường khu dân cư, phát triển các khu vườn mẫu, khu dân cư kiểu mẫu, cải tạo cảnh quan bằng hàng rào cây xanh
Các giải pháp đề xuất là tài liệu tham khảo cho các địa phương trong triển khai thực hiện Tiêu chí số 17, đồng thời cũng là những kiến nghị đối với các cơ quản lý
về chính sách hỗ trợ để thực hiện thành công Tiêu chí số 17 trong xây dựng Nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2016-2020
Trang 33Phạm Hồng Cường (2017), Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá công tác xây dựng năng lực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai tại cộng đồng dân cư cấp làng xóm thôn
Việc đề xuất một bộ tiêu chí đánh giá năng lực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai tại cộng đồng dân cư cấp làng, xóm thôntrong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu giúp cho các địa phương tự đánh giá được năng lực ứng phó, chống chịu với các tác động bất lợi của thiên tai và biến đổi khí hậu, cũng như giúp các nhà quản lý nắm được thực trạng năng lực của các địa phương Kết quả nghiên cứu trình bày nguyên tắc xây dựng, phân tích đưa ra nhóm các chỉ tiêu
và đề xuất bộ tiêu chí đánh giá năng lực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai tại cộng đồng dân cư cấp làng, xóm thôn
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu, tổng kết cơ sở lý luận và thực tiễn về tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, những nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc triển khai thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM
- Về không gian: Nghiên cứu tại 3 xã Minh Tân, Tùng Bá và Đạo Đức thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp của Đề tài được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2017; Số liệu sơ cấp được điều tra năm 2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Định hướng và xây dựng một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
- Thu thập thông tin từ những số liệu đã công bố chính thức của cơ quan Nhà nước, trung ương, tỉnh, huyện về tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn huyện Vị Xuyên, các báo chí chuyên ngành, các tài liệu thống kê do các cơ quan của tỉnh Hà Giang, của huyện và các xã
Trang 35thuộc huyện Vị Xuyên cung cấp; những số liệu này thu thập chủ yếu ở các phòng: Thống kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài chính - kế hoạch, Phòng Y tế, Trung tâm Y tế, Phòng Văn hoá - thông tin - thể thao của huyện, UBND các xã nghiên cứu
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
- Chọn điểm nghiên cứu: Huyện Vị Xuyên là một địa bàn rộng và có nhiều đơn vị hành chính cấp xã nhất tỉnh Hà Giang, gồm 24 xã, thị trấn, do hạn chế về thời gian và các điều kiện nghiên cứu nên không thể thực hiện nghiên cứu sâu ở tất
cả các xã trên địa bàn huyện Sau khi trao đổi với Ban chỉ đạo xây dựng NTM của huyện và lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, tác giả lựa chọn 3 xã để điều tra Tiêu chí lựa chọn là những xã có đặc điểm đại diện cho những địa phương thực hiện tốt, trung bình và yếu, kém về vấn đề thực hiện tiêu chí môi trường trong phát triển nông thôn trên địa bàn huyện Vị Xuyên làm điểm nghiên cứu, điều tra, đánh giá Cụ thể là các xã: Minh Tân (đạt 7/19 tiêu chí), Tùng
Bá (đạt 14/19 tiêu chí) và Đạo Đức (đạt 19/19 tiêu chí và được công nhận là xã đạt chuẩn NTM)
- Sử dụng phương pháp điều tra theo bảng hỏi: Do điều kiện về thời gian, kinh phí và cán bộ hỗ trợ, tác giả chọn hộ điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống dựa trên danh sách các hộ gia đình trong thôn, phỏng vấn 20 hộ nông dân/thôn, mỗi
xã điều tra 2 thôn, tổng số mẫu điều tra /xã là 40 hộ nông dân, tổng số mẫu điều tra/3 xã là 120 hộ; điều tra thêm các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp,các ban quản lý
* Phương pháp chuyên gia:
Sử dụng phương pháp này nhằm thăm dò ý kiến của các chuyên gia, các lãnh đạo có kinh nghiệm trong công tác thực hiện nay trong thực hiện tiêu chí môi trường trong phát triển nông thôn trong những năm qua và có những dự báo về tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới
2.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập được các thông tin, tiến hành xử lý và phân tích thông tin tại phần mềm Excel và SPSS
Trang 362.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp phân tổ thống kê: Những thông tin sau khi thu thập được sẽ được phân tổ theo các nhóm tiêu chí Phương pháp phân tổ sẽ giúp ta nhìn nhận rõ ràng các sự kiện để có được những đánh giá chính xác nhất đối với tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu Thông qua phương pháp này mà ta rút ra được các kết luận về hiệu quả trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Vị Xuyên
- Phương pháp SWOT: Phương pháp này được áp dụng trong đề tài để thấy được các thuận lợi, khó khăn, những cơ hội và thách thực hiện nay trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới đang gặp phải, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp với những tiềm năng và lợi thế của huyện
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về tuyên truyền, phổ biến tiêu chí môi trường
- Tỷ lệ người dân được tiếp cận các hình thức tuyên truyền về tiêu chí MT
- Tần xuất việc tuyên truyền về tiêu chí môi trường
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về huy động nguồn lực
- Tỷ lệ các nguồn vốn được huy động: vốn nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn dân đóng góp…
- Tỷ lệ tham gia xủa người dân và các tổ chức đoàn thể xã hội
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về kết quả thực hiện tiêu chí môi trường
a Chỉ tiêu đánh giá việc cung cấp nước sạch, nước hợp vệ sinh
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo quy chuẩn của Bộ Y tế
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh
b Chỉ tiêu đánh giá tình hình thu gom, xử lý rác thải
- Tỷ lệ hộ có chuồng trại chăn nuôi xa khu dân cư
- Tỷ lệ rác thải trong chăn nuôi, SXNN được thu gom, xử lý
- Số hộ có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn
- Tỷ lệ hộ thu gom, phân loại rác thải
Trang 37c Chỉ tiêu phát triển môi trường, suy giảm môi trường
- Tỷ lệ hộ tham gia trồng cây bảo vệ môi trường
- Tỷ lệ hộ tham gia VSMT làng xóm
- Tỷ lệ hộ xả rác ra môi trường công cộng
- Tỷ lệ hộ sử dụng thuốc diệt cỏ, diệt ốc
d Chỉ tiêu về nghĩa trang theo quy hoạch
- Tỷ lệ nghĩa trang có quy chế quản lý nghĩa trang
- Tỷ lệ nghĩa trang có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn
- Tỷ lệ người chết được chuyển đổi hình thức mai táng
2.4.4 Nhóm chỉ tiêu về giám sát, đánh giá
- Tỷ lệ hộ dân được tham gia giám sát các hoạt động thực hiện tiêu chí môi trường
- Đánh giá của hộ về tình trạng môi trường trước và sau khi thực hiện NTM
- Số lần kiểm tra việc thực hiện tiêu chí môi trường của cấp trên
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUVÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Vị Xuyên nằm ở vị trí địa lý 22°39′20″ - 23°2′30″ vĩ Bắc, ; 104.98056105°30′ - 104°43′ kinh Đông Trung tâm huyện lị cách thành phố Hà Giang 20km về phía nam Phía bắc giáp huyện Quản Bạ, phía tây giáp huyện Ma li pho tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và huyện Hoàng Su Phì, phía nam giáp huyện Bắc Quang, phía đông giáp thành phố Hà Giang và huyện Na Hang (Tuyên Quang)
Là huyện miền núi biên giới phía Bắc Việt Nam, nằm bao quanh thành phố Hà Giang, có quốc lộ 4C và quốc lộ 2 chạy qua Vị Xuyên có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh Hà Giang Huyện Vị Xuyên có tổng diện tích tự nhiên là 147.840,92 km² với dân số 105.512 người (2016), mật độ dân số: 68 người/km2
* Địa hình
Địa hình huyện Vị Xuyên khá phức tạp, phần lớn là đồi núi thấp, sườn thoải xen kẽ những thung lũng tạo thành những cánh đồng rộng lớn cùng với hệ thống những sông suối, ao hồ, thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp Độ cao trung bình từ 300 – 400m so với mặt nước biển, phía Tây có núi Tây Côn Lĩnh cao 2.419m, sông Lô chảy qua địa phận huyện với chiều dài 70km có diện tích lưu vực khoảng 8.700km2 Vị Xuyên có quốc lộ 4C và quốc lộ 2 chạy qua
Trang 39* Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng từ 18 - 250C Khí hậu ở Vị Xuyên chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, oi bức bất thường, mưa gió đột ngột Lượng mưa trung bình khá lớn, vào khoảng 2.000 mm/năm Tập trung vào các tháng 6,7,8,9 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khô hanh, giá buốt Sự khắc nghiệt của khí hậu đã gây nên nhiều khó khăn cho nhân dân các dân tộc trong lĩnh vực sinh hoạt, sản xuất,
an ninh và gia lưu văn hóa
*Tài nguyên thiên nhiên
Vị Xuyên có vàng sa khoáng, có các mỏ chì, kẽm tập trung ở Tùng Bá, Phong Quang, sắt ở Tùng Bá, Bạch Ngọc và Ngọc Minh
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Huyện có diện tích 147.840,92 km² với dân số 105.512 người (năm 2017) Mật độ dân số: 68 người/km2 Vị Xuyên là nơi sinh sống của 19 dân tộc, trong đó, người Tày chiếm khoảng 50%, người Kinh 25%, Dao khoảng 20 % còn lại là các dân tộc Nùng, Cao Lan, H’mông…
Huyện Vị Xuyên có 19 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có những phong tục tập quán riêng; tạo nên bức tranh phong phú về văn hóa.Với 19 dân tộc, nên huyện Vị Xuyên có rất nhiều phong tục, lễ hội, nghề truyền thống cần được gìn giữ và phát huy Nếu như dân tộc Mông có Lễ hội Gầu tào, dân tộc Dao có
Lễ hội Cấp sắc, thì đồng bào Tày cũng có Lễ hội Lồng tông; người Bố Y, Pà Thẻn
có Lễ hội Nhảy lửa, và các làn điệu dân ca phong phú ngọt ngào như: Hát Then, hát Cọi, hát Sli, hát Lượn Tuy nhiên, là một huyện biên giới, địa bàn rộng, kinh tế phát triển chưa đồng đều, đời sống sinh hoạt, hưởng thụ văn hóa tinh thần của một
bộ phận người dân nhất là đồng bào thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới còn gặp nhiều khó khăn; cùng với xu hướng hội nhập, thương mại hóa đã khiến cho một số lễ hội, phong tục, VHTT của các dân tộc có xu hướng bị mai một
Tiềm năng kinh tế: Do địa hình tương đối bằng phẳng và lượng mưa nhiều nên
Vị Xuyên rất thích hợp cho các loại cây công nghiệp phát triển, đặc biệt là cây chè
Vị Xuyên là địa phương có diện tích chè lớn nhất tỉnh Hà Giang, ngoài chè, Vị
Trang 40Xuyên còn trồng các loại cây như: thảo quả, cam, quýt, lạc, đậu tương, ngô, khoai,
su hào, bắp cải, súp lơ, cà chua… và chăn nuôi trâu, bò, dê, lợn, gia cầm
Mặc dù là huyện vùng cao, diện tích cho trồng trọt ít nhưng huyện Vị Xuyên cũng đã đạt được tổng sản lượng lương thực khoảng 53.403,8 tấn (năm 2016), giữ vững được an ninh lương thực Bên cạch đó, nhờ có của khẩu Thanh Thủy nên cũng
đã có một số cơ sở công nghiệp tại huyện được xây dựng như nhà máy lắp ráp ô tô, khung xe máy, quy hoạch khu công nghiệp "Làng Vàng" trên địa phận Thôn Vàng
xã Đạo Đức khai thác mỏ chì, kẽm tại Na Sơn xã Tùng Bá, mỏ sắt tại Thuận Hòa Sản xuất nông – lâm nghiệp: Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của T.Ư, của tỉnh, cùng với sự chỉ đạo sâu sát của huyện đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân, Chương trình xây dựng NTM đã đạt được những kết quả bước đầu Khu vực nông thôn Vị Xuyên có tới trên 90% dân số và lao động Lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của huyện đã thu được những kết quả khá tích cực: Tổng sản lượng lương thực có hạt đến năm 2017 đạt trên 53.403,8 tấn, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp chiếm 29,43% tổng giá trị nền kinh tế toàn huyện; bình quân lương thực đầu người đạt 516 kg góp phần đảm bảo an ninh lương thực Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật trong trong lĩnh vực nông nghiệp được chú trọng, đặc biệt kỹ thuật thâm canh ngày càng được nâng cao; các chương trình, dự án được tập trung đầu tư vào nông, lâm nghiệp Nhiều doanh nghiệp, các làng nghề đã và đang đầu tư phát triển, chế biến vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp; toàn huyện hiện có: 104 HTX, trong đó có 13 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, 15 trang trại; kết cấu hạ tầng được tăng cường, nhiều công trình phục vụ nông nghiệp, nông thôn được đầu tư xây dựng Các hoạt động văn hoá - văn nghệ, thể dục - thể thao ngày càng được đẩy mạnh; chất lượng giáo dục, y tế được nâng lên; công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, xoá nhà tạm đạt kết quả khá; hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được đảm bảo.Ngoài ra, công tác đào tạo, dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn được chú trọng phát triển đã góp phần xóa đói giảm nghèo trên địa bàn của huyện Tuy nhiên trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, huyện còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế đó là: Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch thiếu đồng bộ; quản lý,