nét đổi mới công tác QL tại Trung tâm KTTH-HN Dạy nghề Phan Rang - Ninh Thuận”, tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú 2006, viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ GD&ĐT; “Công tác dạy NPT- Th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN SƠN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP
SỐ 5 HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo, các bạn, đồng nghiệp và gia đình
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, cung cấp những kiến thức giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, cô giáo trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo, định hướng, giúp đỡ, góp ý để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, Sở Giáo dục
và Đào tạo thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi theo học lớp Thạc sỹ Quản lý giáo dục và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin cảm ơn các đồng chí cán bộ, giáo viên, nhân viên Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, cùng với người thân và các bạn đồng nghiệp, các em học sinh đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, số liệu, tham gia đóng góp ý kiến, chia sẻ và gánh vác công việc giúp tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, phạm vi nghiên cứu còn hẹp, thực tiễn công tác lại vô cùng sinh động, chắc chắn luận văn không thể tránh được những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và bạn đọc để thành công hơn trong cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Văn Sơn
Trang 3CMHS
Cơ sở vật chất Cha mẹ học sinh ĐCSVN Đảng cộng sản Việt Nam
GDQD Giáo dục quốc dân
HĐDHNPT Hoạt động dạy học nghề phổ thông
HSPT Học sinh phổ thông KHCN Khoa học công nghệ KHDH Kế hoạch dạy học KTĐG Kiểm tra đánh giá KTTH-HN Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp KT-XH Kinh tế- Xã hội
Trang 4NPT Nghề phổ thông
PGĐ Phó giám đốc PHHS Phụ huynh học sinh PPDH Phương pháp dạy học
QLDH Quản lý dạy học QLHS Quản lý học sinh TCM Tổ chuyên môn THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông
TT TTCM
Trung tâm
Tổ trưởng chuyên môn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vii
Danh mục sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu về Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 4
1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động DHNPT nói chung và ở Trung tâm GDKTTH nói riêng 4
1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động DHNPT nói chung và ở Trung tâm GDKTTH nói riêng 6
1.2 Trung tâm GDKTTH 7
1.2.1 Khái niệm Trung tâm GDKTTH 7
1.2.2 Vị trí của Trung tâm GDKTTH trong hệ thống GDQD 8
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm GDKTTH 8
1.2.4 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDKTTH 9
1.2.5 Cấp quản lý trực tiếp của Trung tâm GDKTTH………
9 1.2.6 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm GDHTTH 9
1.3 Hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 10
1.3.1.Khái niệm dạy học Nghề phổ thông 10
1.3.2 Mục đích, yêu cầu của DHNPT 11
1.3.3 Một số tính chất của DHNPT 12
1.3.4 Tổ chức DHNPT 12
1.3.5 Các hoạt động khác hỗ trợ cho DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 15
1.3.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 16
1.3.7 Các giai đoạn phát triển của DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 16
1.4 Cơ sở pháp lý của DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 17
1.4.1 Các chủ trương, chỉ đạo về DHNPT, quản lý DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 17
1.4.2 Các văn bản quy định về CSVC, nguồn tài chính của Trung tâm GDKTTH 18
1.5 Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 19
Trang 61.5.1 Khái niệm quản lý hoạt động DHNPT 19
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 20
1.5.2.1 Xây dựng kế hoạch DHNPT ………… ………
1.5.2.2 Quản lý chương trình DHNPT ………
1.5.2.3 Quản lý Giáo viên, CBNV trong hoạt động DHNPT ………
1.5.2.4 Quản lý hoạt động học NPT của Học sinh……… ………
1.5.2.5 Quản lý môi trường DHNPT
20 21 23 32 34 1.6 Các yếu tố tác động tới QL hoạt động DHNPT, ở TT GDKTTH 36
1.6.1 Các yếu tố tác động từ bên ngoài Trung tâm 36
1.6.2 Các yếu tố tác động từ bên trong Trung tâm 36
Kết luận chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GDKTTH SỐ 5 HÀ NỘI 38
2.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế- xã hội và hoạt động GDKTTH ở Hà Nội
38 2.1.1 Tình hình phát triển KT-XH Hà Nội 38
2.1.2 GDKTTH trên địa bàn cả nước và trên địa bàn thành phố Hà Nội 39
2.1.3 Giới thiệu về trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội 42
2.2 Khảo sát hoạt động DHNPT và quản lý hoạt động DHPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội………… ……… 44
2.2.1 Mục đích khảo sát… ……… 44
2.2.2 Nội dung khảo sát… ……… 44
2.2.3 Phương pháp khảo sát…… ……… 44
2.2.4 Đối tượng khảo sát 44
2.3 Kết quả khảo sát 45
2.3.1 Thực trạng nhận thức của CB, GV, HS và CMHS về DHNPT, quản lý DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội……… …… 45
2.3.1.1 Nhận thức của CB, GV Trung tâm……… ……… 45
2.3.1.2 Nhận thức của HS……… ……… 48
2.3.1.3 Nhận thức của CMHS 50
2.3.2 Thực trạng hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội… 51
2.3.2.1 Về chương trình……… ………… 51
2.3.2.2 Về đội ngũ Giáo viên, CBNV……… 52
2.3.2.3 Về học sinh……… ………
2.3.2.4 Về CSVC- Thiết bị DHNPT
55 57 2.3.3 Thực trạng về QL hoạt động DHNPT ở TT.GDKTTH số 5 HN 57
2.3.3.1 Quản lý kế hoạch chương trình DHNPT……… …… 57
2.3.3.2 Quản lý Giáo viên, CBNV trong hoạt động dạy học 59
Trang 7NPT………
2.3.3.3 Quản lý hoạt học NPT của học sinh……… 71
2.3.3.4 Quản lý Môi trường……… ……… 73
2.4 Đánh giá kết quả khảo sát………… ……… 77
2.4.1 Điểm mạnh 77
2.4.2 Điểm yếu 77
2.4.3 Thời cơ 78
2.4.4 Thách thức 79
Kết luận chương 2 79
Chương 3: BIỆN PHÁP QL HOẠT ĐỘNG DHNPT Ở TRUNG TÂM GDKTTH SỐ 5 HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 80
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp………… ………
3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống……… ……
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn……… …
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả
80 80 80 80 3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động DHNPT, ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay……… …… 81
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của hoạt động DHNPT …… ……… 81
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức phân công lao động, củng cố và phát triển đội ngũ GV dạy NPT ……… … 83
3.2.3 Biện pháp 3: Điều chỉnh danh mục NPT, cải tiến nội dung chương trình, đổi mới phương pháp DHNPT……… …… 86
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, với các trường PT trong quản lý DHNPT……… …… 90
3.2.5 Biện pháp 5: Khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả CSVC- thiết bị dạy học phục vụ hoạt động DHNPT ………
93 3.2.6 Biện pháp 6: KTĐG kết quả học NPT của HS, theo hướng phát triển năng lực……… ……… 96
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
3.3.1 Tính cấp thiết……… ……… 98
3.3.2 Tình khả thi……… ………… 99
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Khuyến nghị 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 109
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sự phát triển của hệ thống Trung tâm GDKTTH (1981-2016) 39
Bảng 2.2: Tự đánh giá của CB, GV Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ DHNPT 46
Bảng 2.3: CBQL Trung tâm đánh giá nhận thức của GV về hoạt động DHNPT 47
Bảng 2.4: Nhận thức của học sinh về mục đích học NPT 49
Bảng 2.5: Mức độ tích cực của HS trong giờ học NPT 50
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV, HS, CMHS nhận thức về mục đích học sinh học NPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội 51
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát CBQL, GV về cơ cấu ngành nghề đào tạo, nội dung chương trình của các môn học NPT và CSVC phục vụ DHNPT ở Trung tâm 52
Bảng 2.8: Thống kê đội ngũ Giáo viên, CBNV biên chế và hợp đồng chỉ tiêu 53
Bảng 2.9: Thống kê đội giáo viên hợp đồng thời vụ (thỉnh giảng) và nhân viên hợp đồng thời vụ 53
Bảng 2.10: Thống kê đội ngũ GV dạy các môn NPT, ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội 54
Bảng 2.11: Kết quả thi giáo viên giỏi dạy NPT cấp Trung tâm 54
Bảng 2.12: Thống kê số học sinh theo học các NPT tại Trung tâm 3 năm gần đây 55
Bảng 2.13: Chất lượng Giáo dục HS học NPT giai đoạn 2011 – 2016
Bảng 2.14: Đánh giá thực trạng CSVC- thiết bị phục vụ DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
56 57 Bảng 2.15: Ý kiến đánh giá của CBQL về các biện pháp QL việc thực hiện kế hoạch, chương trình DHNPT 58
Bảng 2.16: Ý kiến của GV về các biện pháp QL việc thực hiện chương trình DHNPT của BGĐ 59
Bảng 2.17: Ý kiến của giáo viên Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội về biện pháp quản lý giáo viên soạn bài, chuẩn bị bài 60
Bảng 2.18: Tự đánh giá của đội ngũ CBQL Trung tâm GDKTTH số 5 về các biện pháp QL giờ dạy trên lớp của BGĐ 62
Bảng 2.19: GV Trung tâm Đánh giá về các biện pháp QL giờ dạy của BGĐ 63
Bảng 2.20: Bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ GV 66
Bảng 2.21: Ý kiến của GV về BGĐ quản lý công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ cho GV, đổi mới PPDH ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội 67 Bảng 2.22: Thực trạng quản lý KTĐG giáo viên, HS ở Trung tâm GDKTTH số 5
Trang 9Hà Nội……… …… 68 Bảng 2.23: Thực trạng quản lý hoạt động TCM……… ……… 70 Bảng 2.24: Thực trạng quản lý đội ngũ CBNV Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội 71 Bảng 2.25: Ý kiến đánh giá của GV và HS về mức độ thực hiện một số nội
dung QLHS ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội 72 Bảng 2.26: Thực trạng quản lý tài chính, quản lý việc sử dụng CSVC, thiết bị
dạy học phục vụ hoạt động DHNPT 74 Bảng 2.27: Thực trạng quản lý sự phối hợp với các trường PT 76 Bảng 3.1: Sự liên thông giữa chương trình Công nghệ với chương trình dạy NPT 91 Bảng 3.2: Hợp đồng trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt động DHNPTgiữa
Trung tâm GDKTTH và các trường PT 92 Bảng 3.3: Tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động DHNPT, ở
Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay 98 Bảng 3.4: Tính khả thi của các biện pháp QL hoạt động DHNPT, ở Trung
tâm GDKTTH số 5 HN, trong giai đoạn hiện nay 99
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDKTTK số 5 Hà Nội 42
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005, quy định về mục tiêu của giáo dục THPT
như sau: “Giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực
cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Trong quá trình thực hiện giáo dục nghề phổ
thông (GDNPT) và giáo dục hướng nghiệp (GDHN), HS cần tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong xã hội, để định hướng nghề nghiệp và thấy rõ sự phù hợp của năng lực bản thân, với yêu cầu của những ngành, nghề cụ thể, được rèn luyện các
kỹ năng, tác phong lao động cần thiết Thông qua GDNPT, học sinh được vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được học ở các môn NPT, môn Công nghệ và các môn học khác, vào thực tiễn đời sống và sản xuất, trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ GDNPT đồng thời góp phần rèn luyện phẩm chất, thói quen lao động, có kế hoạch, có kỷ luật, có kỹ thuật và có ý thức bảo đảm an toàn lao động, giữ gìn vệ sinh môi trường Qua hơn 30 năm hình thành, phát triển, hệ thống các trung tâm GDKTTH đã đáp ứng phần nào nhu cầu của xã hội Nó đã và đang là bộ phận không thể thiếu trong hệ thống giáo dục quốc dân
Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam nhằm phát triển toàn diện năng lực của HS, ngay
từ các cấp học PT Tuân theo nguyên lý giáo dục: “học đi đôi với hành, giáo dục, học tập kết hợp với LĐSX” Do vậy, ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, hệ thống Trung tâm GDKTTH, được thành lập trong hệ thống các cơ sở GDPT Chỉ tính riêng ở Hà Nội đến đầu những năm 90, có tổng cộng 6 Trung tâm GDKTTH, được đặt tên từ 1 đến 6 Sau năm 2008, khi sáp nhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội thì Hà Nội có 15 Trung tâm GDKTTH Các Trung tâm GDKTTH là các cơ sở GD trục thuộc quản lý của Sở GD&ĐT Hà Nội
Hệ thống các Trung tâm GDKTTH đã góp phần thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục Việt Nam Hiện nay, Hà Nội đang thực hiện chủ trương của ngành Giáo dục, sát nhập các loại hình Trung tâm giáo dục, dạy nghề trên địa bàn mỗi quận, huyện thành một Trung tâm
duy nhất với tên gọi mới: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên
Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, được quyết định thành lập từ năm 1987, với gần 30 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, đã
có được những thành tích GD đáng tự hào, có nhiều đóng góp cho hoạt động GD thủ đô,
Trang 11cũng như nền GD nước nhà Tích cực góp phần cung ứng nguồn nhân lực địa phương và
trong cả nước Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội cũng đã
có được những thành công nhất định, tuy nhiên công tác QL hiện nay cũng gặp phải
không ít khó khăn, lúng túng, chưa hiệu quả trong quá trình hoạt động [25, tr 4- 12]
Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là giáo
viên và là cán bộ quản lí chuyên môn, tôi luôn băn khoăn: làm thế nào để nâng cao
chất lượng quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay? Trả lời cho các câu hỏi trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc
sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH 3.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
3.3 Đề xuất một số biện pháp QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu
Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội và sử dụng các số liệu thứ cấp của Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội qua các báo cáo trong những năm gần đây.
6 Câu hỏi nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, cần có những biện pháp QL nào, để hoạt động
DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội đạt kết quả cao?
7 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động DHNPT, ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội, đã và đang được thực hiện nhưng còn nhiều điều bất cập Việc nâng cao nhận thức về hoạt động
Trang 12QL và áp dụng một số biện pháp QL phù hợp, thì chất lượng DHNPT, ở Trung tâm
GDKTTH số 5 Hà Nội sẽ được nâng lên rõ rệt
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác QL hoạt động DHNPT
ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội Và có thể áp dụng cho các Trung tâm
GDKTTH khác có điều kiện tương tự
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh các tài liệu liên quan
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng bảng hỏi: phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng, mở về vấn
đề QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội Đối tượng khảo sát sẽ
là GV, HS, CBQL Trung tâm từ bộ môn đến BGĐ
- Phỏng vấn: kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin sâu về
một số vấn đề cốt lõi của đề tài Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào GV và CBQL
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: nghiên cứu sản phẩm của giáo viên, của
học sinh qua các giờ học NPT để đánh giá thực trạng công tác quản lý DHNPT, ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội
9.3 Các phương pháp nghiên cứu khác
- Đề tài sử dụng các số liệu thứ cấp của Trung tâm GDKTTH số 5 qua các báo cáo trong những năm gần đây
- Đề tài sử dụng thuật toán thống kê để sử lý số liệu thu thập được
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: cơ sở lý luận về QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH Chương 2: thực trạng QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số 5 HN Chương 3: đề xuất biện pháp QL hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH số
5 Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP 1.1.Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động DHNPT nói chung và ở Trung tâm GDKTTH nói riêng
Giáo dục nghề, hướng nghiệp cho học sinh, đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đã triển khai từ những thập niên 50, 60 của thế kỷ thứ 19 Trên thực tế, nó đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo Giáo dục trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học, mà cần phải chuẩn bị cho học sinh những hiểu biết về “thế giới nghề nghiệp”, có được những kiến thức cơ bản nhất
về một số nghề phổ thông, hình thành những kĩ năng kĩ thuật ban đầu trong lao động
nghề, phát triển năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật của người lao động
Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh
đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi Sang thế kỷ
XX, các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ba Lan), châu á (Nhật Bản, Ôxtrâylia) và Liên bang Nga đã đặc biệt quan tâm đến việc dạy môn Kỹ thuật, Công nghề, giáo dục Nghề cho học sinh Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hướng tới thế kỉ 21” của Magumi Nishino (Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn
đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO, khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại”, đó là 4 trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục Theo tác giả vấn đề GDHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các
hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức
Dạy nghề phổ thông là xu thế mà nhà trường phổ thông của nhiều nước trên đang áp dụng có hiệu quả như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Sing-Ga-Po, Ma-Lai-XiA… cung cấp cho học sinh những cơ sở khoa học về tự nhiên, xã hội và tư duy rèn luyện các kỹ năng thực hành chuẩn bị các cơ sở ban đầu cho việc tiếp thu
Trang 14khoa học kỹ thuật nghề nghiệp và bước vào cuộc sống Dạy nghề trong nhà trường phổ thông mang tính giáo dục tiền nghề nghiệp, chuẩn bị nghề cho học sinh là chủ yếu Ở đây chỉ trang bị những kiến thức, kỹ năng lao động cơ bản giúp cho học sinh làm quen
với lao động và nghề nghiệp, khả năng vận dụng và thích ứng với cơ chế thị trường
Ở Việt Nam, trước hết phải kể đến quan điểm mang tính định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh Theo Bác, một nhà trường vì nhu cầu “học, làm, sống tốt” của xã hội học tập là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”: “Học đi với lao động Lý luận đi với thực hành Cần cù đi với tiết kiệm”: học tốt (học đi với lao động, với thực hành), làm tốt (lao động, thực hành đi với học), sống tốt (cần, kiệm)
Nghị quyết TW2 của Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cả nước là cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp Tới Đại hội X và XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác GDKTTH, HN và phân luồng từ THCS Đây cũng là cơ sở mở đường cho công tác nghiên cứu và DHNPT hiện nay- [13, tr 53]
Liên tiếp từ năm 1981 đến nay, Ban Giáo dục hướng nghiệp, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu biên soạn tài liệu DHNPT và Sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp THCS và các lớp khối PTTH.Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy NPT và hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau Mục tiêu “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển các Trung tâm KTTH - HN - DN” xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh đây sẽ là một
nguyên tắc rất cơ bản”- [11, tr.74]
Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác giả làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”- [11, tr 97] Học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá ở mức phổ thông Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác GDHN và DNPT được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Kết quả nghiên cứu của tác giả hoàn toàn phù hợp với xu thế đổi mới
Trang 15của giáo dục trung học hiện nay, giáo dục trung học đang ngày càng không còn là nền giáo dục cho một số ít người như vào đầu thế kỷ XX, giáo dục trung học ngày nay không phải chỉ để cho người học lên, mà còn chuẩn bị cho thanh niên đi vào thế
giới lao động nghề nghiệp, đặc biệt cho những ai chỉ có thể học hết bậc trung học
Từ những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp cho HSPT, điển hình là các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Đặng Danh Ánh, Phan Văn Kha, Nguyễn
Đức Trí, Trần Khánh Đức Điển hình như bài: “Một số giải pháp tổ chức hoạt động
dạy học kĩ thuật ứng dụng (NPT) cho học sinh bậc TH tại các trung tâm KTTH- HN-
DN” của tác giả Hà Thế Truyền
Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu và từ kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục nghề nghiệp cho HSPT cho thấy: DHNPT không chỉ cung cấp cho
HS có kiến thức, mà còn phải thực hành để có tay nghề, vào đời có thể lao động được ngay, không bỡ ngỡ; phát triển GD gắn liền với phát triển KT-XH; nội dung, hình thức tổ chức GD nghề nghiệp cho HSPT có sự khác nhau, nhưng nhìn chung đều coi đây là giai đoạn GD “tiền nghề nghiệp” hết sức quan trọng đối với sự thành
đạt của mỗi HS và với KT-XH
Luận văn rút ra kết luận như sau: các công trình nghiên cứu đã thể hiện quan điểm GD của Đảng: Học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất - Nhà trường gắn liền với xã hội; chắt lọc những thành quả nghiên cứu ở nước ngoài để áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GD Việt Nam, đặc biệt là việc xây dựng và phát triển hệ thống trung tâm GDKTTH Đó là những cơ sở ban đầu rất quan trọng
để học sinh tiếp tục vào học tại các trường nghề Hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo thành thời gian lao động tư duy Trung tâm GDKTTH là đơn vị
GD thuộc bậc PTTH trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần tạo nền tảng vững chắc để phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại
về quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH nói riêng Nổi bật trong các
nghiên cứu khoa học, có liên quan tới hướng nghiên cứu của đề tài phải kể đến: “Một số
Trang 16nét đổi mới công tác QL tại Trung tâm KTTH-HN Dạy nghề Phan Rang - Ninh Thuận”,
tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú (2006), viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ
GD&ĐT; “Công tác dạy NPT- Thực trạng và giải pháp QL”, tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú (2007), viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ GD&ĐT; “Biện pháp QL
hoạt động DHNPT tại trung tâm GDKTTH-HN Hải Phòng”, luận văn Thạc sĩ QLGD,
tác giả Vũ Văn Ngôn (2009); “Một số biện pháp chỉ đạo, quản lý có hiệu quả hoạt động
DHNPT tại trung tâm GDKTTH-HN Ngũ Điền”, SKKN của tác giả Lê Quang Đại,
Giám đốc trung tâm GDKTTH-HN Ngũ Điền (2014)…
Tuy nhiên trong đề tài “Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” chúng tôi muốn đi sâu vào công tác QL hoạt
động DHNPT ở đơn vị chúng tôi và từ đó đề xuất một số biện pháp QL, nhằm nâng cao chất lượng DHNPT cho HSPT tại cơ sở GD của mình và có thể áp dụng được
cho các Trung tâm GDKTTH khác trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.2 Trung tâm GDKTTH
1.2.1 Khái niệm trung tâm GDKTTH
*GDKTTH: Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH) Theo K.Marx, GDKTTH
là cho HS "làm quen với những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất và đồng thời trang bị cho trẻ em hay thanh thiếu niên những kỹ xảo sử dụng những công
cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành sản xuất" Mục tiêu của GDKTTH là hình thành ở HS người lao động tương lai - khả năng thích ứng, khả năng di chuyển ngành nghề trong điều kiện cách mạng KHCN biến đổi; Nhiệm vụ chính của GDKTTH là "Bù đắp lại những nhược điểm do phân công lao động gây nên, sự phân công này đã cản trở HS tiếp thu những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp của mình"
V I Lênin coi GDKTTH là nguyên tắc chủ đạo, bắt buộc đối với GDPT, để hình
thành tri thức, kỹ năng trong từng HS
*Trung tâm GDKTTH: Tên gọi khác là Trung tâm KTTH- HN một trong
những cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Nhiệm vụ chủ yếu là: dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo, góp phần phân luồng học sinh sau THCS và THPT; nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về GDKTTH, HN, DN cho HSPT, thử nghiệm ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; mở lớp dạy nghề, liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục để đào tạo và tư vấn HN cho
HS, thanh thiếu niên và đối tượng khác khi có nhu cầu… Trung tâm GDKTTH thực
Trang 17hiện chương trình GDKTTH và HN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế 6 hoạch năm học, Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học Trung tâm GDKTTH tổ chức kiểm
ra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập và hạnh kiểm đối với HS theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Giáo viên của Trung tâm GDKTTH phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với GV dạy cùng cấp học của giáo dục phổ thông HS Trung tâm GDKTTH là người học đang theo học một hoặc nhiều chương trình của Trung tâm GDKTTH Trung tâm GDKTTH phải có đủ các phòng học lý thuyết, phòng học bộ môn, thư viện, phòng thực hành lao động sản xuất đáp ứng với yêu cầu giảng dạy, học tập Phải có các thiết bị dạy học, sách, tạp chí theo yêu cầu của việc thực hiện các chương trình dạy học tại Trung tâm, được QL, sử dụng có hiệu quả theo quy định Nguồn tài chính của Trung tâm GDKTTH bao gồm: Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công
nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác; Các nguồn thu tài chính hợp pháp khác
1.2.2 Vị trí của Trung tâm GDKTTH trong hệ thống GDQD- [7, tr 1- 5]
- Trung tâm GDKTTH là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống GDQD
- Trung tâm GDKTTH có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng 1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm GDKTTH
Được ban hành theo Quyết định số 44/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 07
năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định cụ thể về chức năng,
nhiệm vụ của Trung tâm GDKTTH là:
(1) Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho
học sinh học chương trình giáo dục phổ thông
(2) Bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở (THCS), Trung học phổ
thông (THPT) về Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp
(3) Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo,
góp phần phân luồng học sinh sau THCS và THPT
(4) Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về GDKTTH, HN, DN cho HSPT, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh
tế- xã hội của địa phương
(5) Mở lớp dạy nghề; liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để đào tạo và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, thanh thiếu niên và các
đối tượng khác khi có nhu cầu
Trang 18(6) Trung tâm GDKTTH được phép liên kết với Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các cơ sở giáo dục khác để thực hiện
nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề theo quy định
1.2.4 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDKTTH
*Cơ cấu tổ chức: có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc; Các tổ gồm: tổ hành
chính - tổng hợp, tổ văn phòng - giáo vụ, tổ chuyên môn, tổ hướng nghiệp - dạy nghề, tổ lao động sản xuất - dịch vụ và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ phó do Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm quyết
định thành lập các tổ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ
* Tổ chức ĐCSVN và đoàn thể trong Trung tâm GDKTTH: tổ chức ĐCSVN
trong Trung tâm GDKTTH hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng, thực hiện các nghị quyết, quyết định của tổ chức Đảng cấp trên, lãnh đạo Trung tâm GDKTTH; Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong Trung tâm GDKTTH hoạt động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, hoạt động phù
hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể, tổ chức xã hội
* Hội đồng khoa học, hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật của Trung tâm GDKTTH: căn cứ vào yêu cầu của công tác điều hành, Giám đốc Trung tâm
GDKTTH thành lập các hội đồng khoa học, hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần, chế độ làm việc và thời gian hoạt động của các hội đồng này do Giám đốc Trung tâm GDKTTH quy định
1.2.5 Cấp quản lý trực tiếp của Trung tâm GDKTTH
Sở GD&ĐT trực tiếp QL, chỉ đạo mọi hoạt động của Trung tâm GDKTTH
1.2.6 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm GDHTTH
*Giám đốc Trung tâm GDKTTH: là người trực tiếp quản lý, điều hành và chịu
trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động của Trung tâm
* Giám đốc Trung tâm GDKTTH là người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học và đã công tác trong ngành Giáo dục ít
nhất 5 năm
* Giám đốc Trung tâm GDKTTH được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm
kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm
* Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm giám đốc Trung tâm GDKTTH hoặc
ủy quyền giám đốc sở GD&ĐT bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm GDKTTH
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc Trung tâm GDKTTH:
Trang 19- Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá việc thực hiện kế
hoạch nhằm hoàn thành các nhiệm vụ của Trung tâm;
- Quản lý cơ sở vật chất và các tài sản của Trung tâm;
- Quản lý nhân viên, giáo viên và học viên của Trung tâm;
- Bổ nhiệm các tổ trưởng, tổ phó; thành lập các tổ chuyên môn, nghiệp vụ;
- Quản lý tài chính, quyết định thu chi và phân phối các thành quả lao động,
thực hành kỹ thuật, dịch vụ theo quy định;
- Ký học bạ, các giấy chứng nhận trình độ học lực và kỹ thuật, nghề nghiệp, chứng chỉ nghề cho học sinh học tại Trung tâm theo uỷ quyền của Giám đốc Sở
GD&ĐT và quy định của Bộ GD&ĐT;
- Được hưởng các chế độ theo quy định
*Phó Giám đốc Trung tâm GDKTTH: là người giúp việc cho Giám đốc, có
phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học, đó công
tác trong ngành Giáo dục ít nhất 5 năm
* Phó giám đốc Trung tâm GDKTTH được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo
nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm
- Giám đốc sở GD&ĐT bổ nhiệm phó Giám đốc Trung tâm GDKTTH
* Phó Giám đốc Trung tâm GDKTTH có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những việc được phân công;
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về các hoạt động có liên quan của Trung tâm;
- Thay mặt GĐ điều hành hoạt động của Trung tâm khi được Giám đốc uỷ quyền;
- Được hưởng các chế độ theo quy định
1.3 Hoạt động dạy học Nghề phổ thông ở Trung tâm GDKTTH
1.3.1 Khái niệm dạy học Nghề phổ thông
*Dạy học: hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về dạy học, nhưng có
một khái niệm dạy học thường được sử dụng: “dạy học là một bộ phận của quá trình
sư phạm tổng thể, bao gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng, giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động, với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại
đã đạt được, để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”
*Nghề phổ thông (NPT): nghề phổ thông là những nghề thông dụng phổ biến
trong xã hội, có mức độ kỹ thuật cơ bản nhất nhưng tương đối đơn giản; tổ chức dạy
Trang 20học không phức tạp về trang thiết bị và quy trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi
dễ kiếm, dễ tạo, rẻ tiền; thời gian học nghề ngắn, chi phí đào tạo ít
*Hoạt động dạy học NPT: là một hoạt động GDPT, được thực hiện dưới hình
thức như một môn học nằm trong kế hoạch dạy-học, có chương trình dạy nghề và danh mục nghề (do BGD&ĐT quy định) cho HSPT Thông qua tổ chức hoạt động DHNPT giúp cho học sinh có được: những ý niệm, những thông tin ban đầu, những kiến thức cơ bản về một số nghề hoặc một số nhóm NPT, gần gũi với các em và phù hợp với xu thế thế giới trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, giúp các
em có thêm thông tin, tự mình định hướng việc chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH quê hương, đất nước Giúp hình thành và phát triển ở HSPT, những kỹ năng lao động nghề nghiệp cần thiết và tư duy kỹ thuật Đồng thời GDHS về thái độ, tác phong lao động nghề nghiệp, những phẩm chất, đức tính cần có của người lao động, nhằm đáp ứng tốt những yêu cầu của nền kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để dịch chuyển lao
động nghề nghiệp, phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm
1.3.2 Mục đích, yêu cầu của DHNPT
*Mục đích:
- Về kiến thức: giáo dục cho HS hiểu được một số kiến thức cơ bản về công
cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và về an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với
một NPT đã học, biết đặc điểm và yêu cầu của nghề đó
- Về kỹ năng: hình thành cho HS một số kỹ năng sử dụng công cụ, kỹ năng
thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm theo yêu cầu của
GDNPT và phát triển nhu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Về thái độ của người học: phát triển hứng thú kỹ thuật và nhu cầu vận dụng
kiến thức, kỹ năng vào lao động, thói quen làm việc có kế hoạch, tuân thủ quy trình
kỹ thuật và bảo đảm an toàn lao động, bước đầu có tác phong công nghiệp, giữ gìn
vệ sinh môi trường, có ý thức tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp
- Về ý thức xã hội: dạy NPT để nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp, góp
phần định hướng nghề theo ý nghĩa giáo dục hướng nghiệp Phân luồng học sinh THCS, THPT, tư vấn cho các em HS lựa chọn được nghề mình yêu thích và phù hợp
với năng lực của bản thân
*Yêu cầu:
Trang 21- Trong quá trình thực hiện DHNPT, học sinh cần được tìm hiểu các lĩnh vực
nghề nghiệp phổ biến trong xã hội, để định hướng nghề nghiệp và thấy rõ sự phù hợp của năng lực bản thân với yêu cầu ở những nghề cụ thể HS được rèn luyện các kỹ năng, tác phong lao động cần thiết Thông qua DHNPT học sinh được vận dụng kiến thức, kỹ năng các môn học khác vào thực tiễn đời sống và sản xuất trong các lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
- GDNPT phải góp phần rèn luyện phẩm chất, thói quen lao động có kế hoạch, có
kỷ luật, có kỹ thuật và ý thức bảo đảm an toàn, giữ gìn vệ sinh môi trường
- Góp phần nâng cao, củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kỹ năng nghề học nhằm giúp HS rèn luyện năng lực tự học, phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Giúp học sinh nhà trường trong quá trình học nghề phổ thông tự lựa chọn ngành nghề phù hợp, đồng thời tư vấn, hướng nghiệp cho các em học sinh lựa chọn ngành
nghề với điều kiện khả năng và nhu cầu của xã hội, góp phần phân luồng cho HS
1.3.3 Một số tính chất của DHNPT
- Tính chất phổ thông: DHNPT chưa phải là dạy nghề hoàn chỉnh như trong
các trường dạy nghề Hoàn thành chương trình NPT người học cũng được cấp chứng chỉ Tuy nhiên, chứng chỉ này chỉ có tính pháp lý về học vấn phổ thông, không có tính pháp lý để hành nghề trong xã hội
- Tính ứng dụng/hành dụng: hầu hết các NPT được dạy đều có cơ sở lý thuyết
nghề đã được học từ các môn học phổ thông Như vậy, có thể coi NPT là “môn học”
về vận dụng các kiến thức đã học ở các môn học phổ thông vào một lĩnh vực nghề cụ
thể và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo nghề cần thiết
- Tính chất dạy nghề: đặc điểm này quy định DHNPT phải khác với dạy-học
các môn văn hoá phổ thông là nhấn mạnh dạy thực hành nghề, là sự trải nghiệm của
HS, là giáo dục phẩm chất người thợ và làm công tác tư vấn nghề cho học sinh
1.3.4 Tổ chức DHNPT
*Kế hoạch DHNPT: Trung tâm GDKTTH thực hiện chương trình DHNPT do
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm
học, Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động DHNPT
*Nội dung- chương trình DHNPT: chương trình hoạt động DHNPT của Trung
tâm GDKTTH được Bộ GD&ĐT quy định từ năm học 2007 - 2008 Theo đó Bộ GD&ĐT phân phối thời lượng theo phần, chương Các Sở GD&ĐT chỉ đạo việc
Trang 22phân phối thời lượng cho từng bài Giáo viên phải thực hiện đúng phân phối chương
trình, đủ số tiết quy định cho tùng bài và nội dung trong sách giáo khoa
Hiện nay, NPT là một hoạt động giáo dục được gọi là: hoạt động giáo dục
Nghề phổ thông, chỉ học ở lớp 11 (từ năm học 2007 - 2008) với thời lượng 105 tiết, 3
tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học) Tài liệu dạy học do Bộ GD&ĐT ban hành có
11 NPT: Làm vườn, Nuôi cá, Trồng rừng, gò, Điện dân dụng, Điện tử dân dụng, Sửa
chữa xe máy, Cắt may, Nấu ăn, Thêu tay, Tin học văn phòng
Nội dung DHNPT gồm các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công, dịch
vụ và tin học Những NPT được lựa chọn là những nghề phổ biến, xã hội có nhu cầu phát triển, phù hợp với học sinh THPT Như vậy sẽ có nhiều chương trình NPT được
áp dụng cho học sinh trên toàn quốc và phù hợp với đặc thù các vùng miền khác nhau
Chương trình mỗi NPT bao gồm các nội dung về nguyên vật liệu, công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và phần tìm hiểu nghề Để đảm bảo mục tiêu hình thành kỹ năng, trong mỗi chương trình phần lý thuyết không được quá 1/3 thời gian Các địa phương được phép lựa chọn những NPT phù hợp với nhu cầu học tập của học sinh, điều kiện phát triển kinh tế, GV, cơ sở vật chất để tổ chức thực hiện Nhưng số nội dung (chương trình) nghề phải phù hợp với sự đa dạng của thực tiễn phát triển kinh tế ở địa phương và nguyện vọng cũng như năng lực của HS để đảm bảo cho mỗi HS được phát triển và phục vụ cho việc định hướng nghề Nội dung DHNPT Phải đảm bảo những mặt tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp và nó là sự cụ thể hóa chương trình thành những
chuẩn tri thức kỹ thuật và chuẩn kỹ năng lao động nghề nghiệp
Do sự đa dạng của các nghề, hiện nay Bộ GD&ĐT đã tổ chức xây dựng được
11 chương trình nghề, đại diện các lĩnh vực nghề phổ biến, Bộ GD&ĐT sẽ còn tổ chức xây dựng tiếp chương trình những nghề phổ biến khác và hướng dẫn địa phương áp dụng chương trình, những nghề có đặc thù riêng của địa phương (với điều kiện có tài liệu biên soạn được Sở GD&ĐT duyệt và Bộ thẩm định cho phép thực
hiện) Đối với cấp THCS, nghề phổ thông là môn học tự chọn, học 2 tiết/tuần, cả
năm học 70 tiết Học sinh được đăng ký lựa chọn học các NPT theo danh mục đã
được Bộ GD&ĐT ban hành
*Phương pháp DHNPT: là cách thức và phương thức làm việc của GV và HS
nhờ đó mà HS có thể lĩnh hội được một cách chắc chắn tri thức, kỹ năng cần thiết để lao động theo nghề nghiệp của mình, là hình thành và phát triển năng lực tự học và năng lực vận dụng tri thức một cách sáng tạo Sử dụng các PPDH trong hoạt động DHNPT là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải vận dụng phối hợp nhiều phương
Trang 23pháp khác nhau, đòi hỏi biến đổi các phương pháp ấy tùy theo nội dung dạy học, đòi
hỏi vận dụng các phương pháp để “tích cực hóa hoạt động” của học sinh
*Tổ chức lớp học NPT: học sinh học tập tại Trung tâm GDKTTH được tổ
chức theo lớp học, mỗi lớp học được chia thành nhiều tổ học sinh Mỗi lớp học có một giáo viên Chủ nhiệm; có lớp Trưởng, một hoặc hai lớp Phó; tổ Trưởng, một hoặc hai tổ Phó Lớp Trưởng và lớp Phó do tập thể lớp bầu ra; tổ Trưởng, tổ Phó do
tổ bầu ra vào đầu mỗi năm học
*Sách giáo khoa và tài liệu học tập NPT: Trung tâm GDKTTH sử dụng sách
giáo khoa và tài liệu học tập theo quy định về chương trình, giáo trình, sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT, các tài liệu học tập riêng cho địa phương do Sở GD&ĐT
quy định
*Hệ thống sổ sách theo dõi DHNPT:
- Đối với Trung tâm:
a) Sổ kế hoạch và chương trình hoạt động;
b) Sổ nghị quyết của Trung tâm;
c) Sổ đăng bộ;
d) Sổ gọi tên và ghi điểm;
đ) Sổ ghi đầu bài;
e) Sổ theo dõi quá trình học tập của học sinh tại Trung tâm;
g) Sổ theo dõi cấp phát văn bằng, chứng chỉ;
h) Sổ kiểm tra, đánh giá giáo viên về công tác chuyên môn;
i) Sổ thi đua;
k) Sổ theo dõi văn bản, công văn đi, đến; cặp lưu trữ văn bản, công văn;
l) Sổ quản lý tài sản, tài chính
- Đối với giáo viên:
a) Sổ kế hoạch giảng dạy;
b) Giáo án;
c) Sổ dự giờ;
d) Sổ điểm cá nhân;
đ) Sổ giáo viên Chủ nhiệm lớp;
e) Sổ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ghi chép trong các cuộc họp- [7, tr 9]
*Giáo viên DHNPT: giáo viên DHNPT, là giáo viên của Trung tâm GDKTTH
(sau đây gọi là giáo viên) là người làm nhiệm vụ giảng dạy các môn NPT, nhiệm vụ giáo dục tại Trung tâm GDKTTH, tham gia giảng dạy các chương trình quy định,
Trang 24theo chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Giáo viên của Trung tâm KTTH - HN
tham gia giảng dạy các chương trình DHNPT để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng cấp học của giáo dục phổ thông
Đối với việc DHNPT thì đội ngũ GV giảng dạy, phải vừa giỏi lý thuyết, vừa giỏi tay nghề Trên thực tế thì ít nơi được như vậy vì trong đội ngũ GV có cả những công nhân với tay nghề cao nhưng hạn chế về năng lực sư phạm, ngược lại có nhiều
GV được đào tạo bài bản về mặt sư phạm nhưng lại yếu về tay nghề thực hành và có
cả những GV dạy theo “hợp đồng” Như vậy, đội ngũ GV đa dạng hơn so với trường
phổ thông và “môi trường tâm lý” không thuần nhất đối với người CBQL
Trách nhiệm của Giáo viên DHNPT: Dạy các môn NPT theo sự phân công của nhà trường; Xây dựng kế hoạch và tiến hành NPT; Đúc rút kinh nghiệm và trao đổi kinh nghiệm DHNPT trong sinh hoạt của TCM; Có đầy đủ giáo án và các hồ sơ chuyên môn như đã quy định; Lên lớp đúng giờ, không cắt xén chương trình môn dạy; Đảm bảo chất lượng học nghề và thi nghề; Quản lý học sinh tốt, Thường xuyên
báo cáo tình hình các lớp được phân công dạy cho Giáo vụ Trung tâm
*Học sinh học NPT: là người đang theo học một hoặc nhiều môn NPT ở
Trung tâm GDKTTH Học sinh học NPT, chủ yếu là HS đến từ các trường phổ thông
(THCS, THPT) Song ta không nên nhìn các em vẫn y nguyên như khi các em học ở trường phổ thông, vì các em đến Trung tâm là để học NPT nên tâm tư, nguyện vọng, các yếu tố tâm lý trong việc học NPT có khác so với việc học văn hóa Cán bộ quản
lý và giáo viên của Trung tâm muốn làm tốt công tác quản lý của mình thì phải đi sâu tìm hiểu học sinh một cách đầy đủ, cặn kẽ về nguyện vọng, sở trường và các đặc
điểm tâm sinh lý của các em
1.3.5 Các hoạt động khác hỗ trợ cho DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
Do đặc thù của Trung tâm GDKTTH, học sinh tới trung tâm học NPT là HS từ các trường PT, do vậy ở Trung tâm GDKTTH thường không có các hoạt động của học sinh, không có hoạt động của hội CMHS, đây cũng là những hạn chế lớn cho hoạt động
DH ở Trung tâm GDKTTH Bên cạnh hoạt động DH, Trung tâm cũng có các hoạt động của CB, GV, NV Trung tâm hỗ trợ cho hoạt động DHNPT ở Trung tâm như: Hoạt động thi đua; Hoạt động giao lưu với các trường PT, giao lưu với các Trung tâm bạn; Hoạt động TDTT, Văn hóa Văn nghệ của tập thể Trung tâm; Hoạt động đền ơn đáp nghĩa…Những hoạt động này không diễn ra thường xuyên, mà được tổ chức vào các dịp
Trang 25như: 20/11, dịp hè, nhân ngày 8/3…Các hoạt động đó có những đóng góp tích cực, thiết
thực, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
1.3.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
Trung tâm GDKTTH tổ chức kiểm tra, đánh giá các hoạt động của Trung tâm
theo quy định của Bộ GD&ĐT, theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT bậc THPT
*Kiểm tra đánh giá CB, GV, NV: Do nội bộ Trung tâm thực hiện, theo định
kỳ, theo hướng dẫn của BGD&ĐT, hướng dẫn của Sở GD&ĐT cơ quan cấp trên trực
tiếp quản lý
*Kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập của HS: Trung tâm GDKTTH tổ
chức kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập và hạnh kiểm đối với học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT; Kết quả học tập của học sinh THCS, THPT học tại Trung tâm GDKTTH được chuyển về trường
phổ thông để làm cơ sở đánh giá học sinh
1.3.7 Các giai đoạn phát triển của DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
Hệ thống các Trung tâm GDKTTH được thành lập và ra đời vào những năm 80 Thời kỳ những năm 80 chương trình NPT được quy định là 280 tiết Thời kỳ những năm
90 (phân ban thí điểm) chương trình được rút xuống còn 165 tiết và tên gọi là môn học Kỹ
thuật ứng dụng - môn học bắt buộc Từ cuối những năm 90 đến năm 2007 NPT trở thành
môn học tự nguyện với chương trình 180 tiết, được học 2 năm (lớp 10 và lớp 11), mỗi năm là 90 tiết Học hết chương trình 180 tiết, nếu đạt kết quả từ trung bình trở lên, HS được tham gia kỳ thi NPT do Sở GD&ĐT tổ chức Tốt nghiệp NPT, học sinh được cấp một giấy chứng nhận tốt nghiệp và được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốt nghiệp THPT Học sinh THCS (lớp 9 hoặc lớp 8) học chương trình quy định cho bậc THCS là 90 tiết cho một môn NPT Sau khi học xong chương trình 90 tiết, đạt kết quả từ trung bình
trở lên, học sinh được tham gia kỳ thi NPT, bậc THCS tương tự như THPT- [7, tr 2- 7]
Dạy-học NPT trong giai đoạn hiện nay: dạy theo chương trình giáo dục phổ
thông, NPT là một hoạt động giáo dục được gọi là: Hoạt động giáo dục Nghề phổ thông,
cấp THPT chỉ học ở lớp 11 ( bắt đầu từ năm học 2007 - 2008) với thời lượng 105 tiết, 3 tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học) Nghề PT cấp THCS rút xuống còn 70 tiết (môn
tự chọn), chỉ học ở lớp 8 Học sinh học môn NPT, đạt kết quả từ trung bình trở lên và đủ điều kiện về chuyên cần (không nghỉ học quá 11 tiết/năm học), được tham gia kỳ thi NPT Tốt nghiệp NPT, học sinh được cấp một giấy chứng nhận tốt nghiệp và được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốt nghiệp cuối cấp học
Tương lai phát triển của hệ thống trung tâm GDKTTH ở Việt Nam: trong
những năm gần đây, việc tồn tại nhiều loại hình Trung tâm: Trung tâm GDTX, Trung
Trang 26tâm GDKTTH, Trung tâm Dạy nghề, trên cùng một địa bàn quận, huyện, dẫn tới những hệ lụy như sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các Trung tâm, tranh giành ảnh hưởng, bộ máy Giáo dục nghề nghiệp cồng kềnh, dàn trải, không tập trung trong chỉ đạo và thực hiên, chi phí tốn kém, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp không
cao,… Theo chỉ đạo của ngành Giáo dục, từ năm 2013 các tỉnh, thành phố trên cả
nước chủ động sát nhập các loại hình Trung tâm có trên từng quận, huyện bao gồm: Trung tâm GDTX, Trung tâm GDKTTH, Trung tâm Dạy nghề, thành một Trung tâm
duy nhất có tên gọi mới: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên
Cho đến nay, hầu hết các Tỉnh, Thành phố trên cả nước đã và đang thực hiện chủ trương này Hà Nội hiện tại cũng đang thực hiện chủ trương của ngành Giáo dục, tiến hành sát nhập các loại hình Trung tâm có trên địa bàn của mỗi quận, huyện
1.4 Cơ sở pháp lý của DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
1.4.1 Các chủ trương, chỉ đạo về DHNPT, quản lý DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
Hệ thống Trung tâm GDKTTH được thành lập, theo Quyết định số 1889
ngày 30/12/1981 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục có tên gọi: “Trung tâm Giáo dục kỹ
thuật tổng hợp” sau đó Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã đổi tên là Trung tâm
GDKTTH - HN (Thông tư số 48/TT ngày 27/4/1982 của HĐBT) Tháng 8 năm
1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề (theo Quyết định số 1827/TCCB ngày 7/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), xác định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Trung tâm Ngày 11/7/2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (theo Quyết định số 25/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) tên của Trung tâm có sự thay đổi
(trở lại như năm 1982) và được giữ cho đến nay
Năm 2005 luật GD Việt Nam được sửa đổi, một số nội dung cơ bản về tổ
chức và hoạt động của Trung tâm GDKTTH được lược trích dựa theo Luật Giáo dục
2005 và Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH-HN Trung tâm
GDKTTH chính thức trở thành một cơ sở giáo dục PT được ghi tại Điều 30 của Luật giáo dục 2005 NPT trở thành một hoạt động giáo dục, trong Chương trình GDPT
được gọi là: Hoạt động giáo dục Nghề phổ thông (được ban hành kèm theo Quyết
định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) Học sinh THPT chỉ học môn NPT ở lớp 11 (từ năm học 2007 - 2008) với thời lượng 105 tiết, 3
Trang 27tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học Nghề PT cấp THCS rút xuống còn 70 tiết (môn tự chọn), chỉ học ở lớp 8 Các cơ quan quản lý Bộ GD&ĐT cũng ban hành
nhiều văn bản định hướng và chỉ đạo hoạt động GDNPT, như: “hoạt động giáo dục
lao động, hướng nghiệp năm học 2000 - 2001 và phương hướng năm học 2001-
2002 Hà Nội, 2001”, hay “tài liệu hội thảo tập huấn đổi mới phương pháp DHNPT
Hà Nội, 2007”- [3, tr 17- 24]
Từ năm 2008 đến nay, Hệ thống Trung tâm GDKTTH Việt Nam tổ chức và hoạt
động theo: Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng
nghiệp, (ban hành kèm theo Quyết định số: 44/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 07 năm
2008 của Bộ trưởng BGD & ĐT) Quy chế này thay thế Quy chế 25 (theo Quyết định số 25/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000…) Từ năm học 2007-2008, việc dạy NPT được
Bộ GD-ĐT quy định chính thức là một hoạt động giáo dục bắt buộc, có đánh giá và ghi học bạ như một môn học văn hoá đối với HS lớp 11 THPT (không chỉ là khuyến khích như trước đây), với bậc THCS, môn NPT là môn học tự chọn cho HS lớp 8- [7, tr 2- 8]
Tại thành phố Hà Nội có 05 Trung tâm GDKTTH (Về sau có thêm Trung tâm
6 ở Đông Anh), được thành lập từ những năm 80, lấy tên gọi theo thứ tự từ: Trung
tâm GDKTTH số 1 cho đến Trung tâm GDKTTH số 5, theo Quyết định của UBND
thành phố Hà Nội, tên gọi này được giữ nguyên cho đến ngày nay
1.4.2 Các văn bản quy định về CSVC, nguồn Tài chính của TT.GDKTTH
*Cơ sở vật chất: đó là những điều kiện vật chất - kỹ thuật không thể thiếu
được đối với Trung tâm GDKTTH dạy-học nghề phổ thông Các điều kiện vật chất,
kỹ thuật này bao gồm từ đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, các thiết bị dạy-học cần thiết cho giảng dạy, học tập, thực tập, cho đến phương tiện bảo hiểm lao động, các phương tiện phòng cháy chữa cháy, các dụng cụ thuốc men, y tế cho việc cấp cứu, xử lý những tai nạn không may xảy ra trong quá trình thực hành,
lao động sản xuất
Do đặc điểm khác biệt về mục đích, nội dung, phương pháp dạy-học nghề phổ thông với dạy-học các môn văn hóa phổ thông nên các điều kiện vật chất - kỹ thuật của các Trung tâm GDKTTH đòi hỏi một sự đầu tư lớn hơn nhiều so với trường phổ
thông, đặc biệt là về các thiết bị dạy-học
*Nguồn tài chính: bao gồm, Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Học phí, các
khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao
động sản xuất và các hoạt động khác; Các nguồn thu tài chính hợp pháp khác
Trang 281.5 Quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
1.5.1 Khái niệm quản lý hoạt động DHNPT
*Quản lý: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức- nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm
tra” Trong quản lý nói chung và QL hoạt động DHNPT nói riêng, các chức năng QL
có mối liên hệ mật thiết với nhau
*Quản lý hoạt động DH: là quản lý toàn diện các thành tố của quá trình dạy
học, quản lý: thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung, phương pháp dạy học, kết quả về tri thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, mức độ đạt được của định hướng giá trị, ý chí thái độ của người học thông qua dạy học Ngoài ra còn phải quản lý các điều kiện cần thiết và đảm bảo tính khả thi cho các hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, đội ngũ GV, CSVC kỹ thuật, quy mô đào tạo, tài chính, môi trường sư phạm, môi trường xã hội…Có nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố của HĐDH theo các quy luật tâm lý, giáo dục học, lý luận
về quản lý để đưa HĐDH từ trạng thái hiện có sang trạng thái khác cao hơn, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra
*Quản lý hoạt động DHNPT: trên cơ sở các khái niệm về hoạt động DHNPT,
QLDH có thể hiểu Quản lý hoạt động DHNPT Là quản lý toàn diện các thành tố của
quá trình DHNPT, Quản lý: thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung, phương pháp dạy học, kết quả về tri thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, mức độ đạt được của định hướng giá trị, ý chí thái độ của người học thông qua DHNPT Ngoài ra còn phải quản lý các điều kiện cần thiết và đảm bảo tính khả thi cho các hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô đào tạo, tài chính, môi trường sư phạm, môi trường xã hội… Phối hợp với các nhà trường PT trong quản lý DHNPT cho học sinh; Liên kết với các cơ sở sản xuất, trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề khác… để tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nghề theo quy định của pháp luật; Phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học và các tổ chức cá nhân khác trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ để gắn DHNPT với việc làm Có nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố của HĐDHNPT theo các quy luật tâm lý, giáo dục học, lý
Trang 29luận về quản lý để đưa HĐDHNPT từ trạng thái hiện có sang trạng thái khác cao hơn,
nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của trung tâm GDKTTH
1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH
1.5.2.1 Xây dựng kế hoạch DHNPT- [14, tr 57- 61]
*Xác định đúng và đủ các căn cứ xây dựng kế hoạch DHNPT:
- Chỉ Thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản qui phạm pháp luật hiện hành
có liên quan đến dạy học trong Trung tâm GDKTTH, nhất là các văn bản
qui định về chương trình DHNPT
- Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội, tình hình của địa phương, nhu cầu
của cộng đồng, và thực trạng trung tâm GDKTTH
- Các văn bản chỉ đạo của cấp trên và bối cảnh của Trung tâm (điểm mạnh,
yếu, cơ hội và thách thức)
- Chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ, hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo/
Phòng GD &ĐT và kết quả dạy học năm học trước của Trung tâm
- Quán triệt yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học
*Yêu cầu của kế hoạch DHNPT:
- Phù hợp với chỉ đạo của cấp trên (Chỉ thị nhiệm vụ năm học)
- Phù hợp với thực tế địa phương
- Phù hợp với mục tiêu cấp học
- Phù hợp với thực lực của đội ngũ GV và học sinh
- Phù hợp với điều kiện CSVC – Thiết bị trường học
- Phù hợp với các nguồn kinh phí dành cho hoạt động dạy học
- Sắp xếp bố trí đội ngũ GV và phân lớp học sinh phù hợp với yêu cầu
nhiệm vụ dạy học
*Nội dung kế hoạch DHNPT:
- Xác định rõ mục tiêu thực hiện
- Chỉ rõ các hoạt động DHNPT
- Xác định rõ khung thời gian và tiến độ thực hiện
- Phân công người thực hiện rõ ràng
- Nêu rõ địa điểm tiến hành
- Đảm bảo điều kiện CSVC
- Có thể trình bày kế hoạch DH theo những cách khác nhau
- Có nhiều loại kế hoạch dạy học (KH năm học, KH học kỳ, TKB, Kế hoạch
thao giảng, KH thi…)
Trang 30*Tổ chức thực hiện kế hoạch DHNPT- [22, tr 135- 145]
- Phổ biến, quán triệt KHDH đến mọi thành viên trong Trung tâm
- Phân giao nhiệm vụ, cam kết trách nhiệm thực hiện
- Giám sát, hỗ trợ giáo viên trong thực hiện KHDH
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và điều chỉnh kịp thời KHDH (nếu cần)
- Trong tổ chức thực hiện KHDH, lấy tổ chuyên môn làm nòng cốt
- Chú trọng bồi dưỡng giáo viên để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ đáp ứng yêu cầu dạy học
- Chú trọng các đối tượng học sinh, thực hiện dạy học phân hóa, lấy học sinh
làm trung tâm, dạy cho HS phương pháp học để nâng cao chất lượng dạy học
1.5.2.2 Quản lý chương trình DHNPT
*Mục đích: nhằm đảm bảo thực hiện các quy định về chuẩn kiến thức, kỹ
năng và thái độ để hình thành những phẩm chất, năng lực và phát triển nhân cách của người học- [22, tr.221] Quản lý DHNPT thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình DHNPT (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với
sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của Trung tâm GDKTTH
Công tác quản lý chương trình DHNPT giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý Trung tâm Mục tiêu quản lý chương trình DHNPT, là nền tảng, là cơ sở để nhà quản lý xác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý hoạt động DHNPT ở Trung tâm GDKTTH Quản lý chương trình DHNPT là nhiệm vụ trọng tâm của GĐ Trung tâm GDKTTH GĐ Trung tâm phải dành nhiều thời gian, công sức cho công tác quản lý DHNPT nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Trung tâm GDKTTH, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội- [14, tr.51-52]
*Quản lý nội dung: quản lý chương trình DHNPT tập trung vào ba lĩnh vực cụ
thể: quản lý chương trình giảng dạy của GV; quản lý chương trình học tập, rèn luyện của HS và quản lý khâu hỗ trợ chương trình dạy và học- [22, tr.222-230]
Trung tâm GDKTTH thực hiện chương trình DHNPT do Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm học, Lãnh đạo
Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động DHNPT và quả lý chương trình DHNPT Các môn học NPT đều có chương trình hướng dẫn của
Bộ GD&ĐT, nhưng để đưa vào thực hiện tại các Trung tâm GDKTTH, lãnh đạo Trung tâm phải chỉ đạo chặt chẽ, giao cho các TCM, nhóm Trưởng các nhóm NPT, cùng với GV trực tiếp giảng dạy, phối hợp xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học
Trang 31cho từng môn NPT trong năm học, theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, chỉ đạo của Sở GD&ĐT, đồng thời phù hợp với các điều kiện DHNPT ở trung tâm Lãnh đạo Trung tâm phê duyệt chương trình, kế hoạch dạy học các môn học NPT và có chức năng quản lý, kiểm tra đánh giá thực hiện chương trình, kế hoạch DHNPT Cán bộ quản lý phải thường xuyên theo dõi việc thực hiện thời khoá biểu dạy học (Theo dõi việc thực hiện các tiết học theo đúng thời khoá biểu, thời gian vào lớp của GV, giải quyết các giờ trống của GV và HS, điều chỉnh thời khoá biểu trong những điều kiện cần thiết) Chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học thông qua thời khoá biểu lên lớp là một trong những phương tiện cốt yếu củng cố và giữ vững kỹ luật lao động, đưa hoạt động Trung tâm vào trạng thái nhịp nhàng góp phần tích cực vào việc củng cố xây dựng nề nếp trong đơn vị, tạo đà cho việc chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học
*Quản lý về đổi mới phương pháp DHNPT ở Trung tâm GDKTTH: để quản lý
tốt về đổi mới phương pháp DHNPT ở Trung tâm, trước hết là đổi mới từ GV Cán
bộ quản lý Trung tâm GDKTTH cần có biện pháp tích cực làm: Thay đổi nhận thức của GV; Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện đổi mới PPDH; Áp dụng qui trình QL sự thay đổi trong thực hiện đổi mới PPDH; Thay đổi cách đánh giá giờ dạy,
đánh giá đúng dạy học tích cực
Yêu cầu giáo viên loại bỏ các PPDH cũ, thay bằng các PPDH mới phát huy tính tích cực của HS, ứng dụng CNTT trong dạy học và hướng dẫn GV thực hiện; Yêu cầu, giao nhiệm vụ, hướng dẫn, đôn đốc, động viên và tạo các điều kiện cần thiết để GV lựa chọn, kết hợp các PPDH nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học, dạy cho HS cách học, dạy học lấy HS làm trung tâm Đảm bảo mọi GV ứng dụng được CNTT vào dạy học, loại bỏ lối dạy “đọc, chép”; Yêu cầu, giao nhiệm vụ và
giám sát GV kết hợp các PPDH theo đặc thù bộ môn và kiểu bài học
Đổi mới phương pháp DHNPT ở Trung tâm GDKTTH, phải gắn với đặc trưng của DHNPT ở Trung tâm DHNPT chủ yếu là rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, hướng dẫn HS trải nghiệm qua thực tế Vì vậy, để đổi mới phương pháp DHNPT có hiệu quả, Trung tâm GDKTTH cần phải: Tổ chức, triển khai cho giáo viên tiếp thu, học tập, nghiên cứu các chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy do Sở giáo dục và đào tạo tổ chức; Tổ chức hội thảo trong tổ chuyên môn, tọa đàm trao đổi, thảo luận trong hội đồng sư phạm; Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu kỹ giáo trình, tài liệu tham khảo; Phải làm đầy đủ các bài thực hành; mọi học sinh đều được thực hành trong các giờ học thực hành; Đầu tư và khai thác tối đa hiệu quả các tư liệu, tranh ảnh, thiết bị, đồ dùng dạy học được trang cấp hiện có của đơn vị và
Trang 32tự làm, các phòng học bộ môn, phòng thực hành, chống “dạy chay, học chay”, phát huy nâng cao hiệu quả của giờ dạy Giáo viên DHNPT cần phải đầu tư nhiều hơn về soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, phòng bộ môn, thực hành, Sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp: giáo viên cần vận dụng linh hoạt, biết kết hợp các PPDH với nhau mới đạt hiệu quả Dạy học hiệu quả hay không, tùy thuộc nghệ thuật của người thầy biết cách kết hợp các cách dạy học để áp dụng với từng đối tượng học sinh và môn học Người thầy phải có lòng nhiệt tình, sự say mê sáng tạo Mỗi giáo viên phải có sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học trong năm học- [14, tr 48- 51]
Quản lý kiểm tra đánh giá ở Trung tâm GDKTTH: là một chức năng quan
trọng, không thể thiếu của công tác QL, đồng thời kiểm tra cũng giúp cho việc chuẩn
bị tích cực kế hoạch năm học mới Quản lý KTĐG là nhiệm vụ của BGĐ, Giám đốc Trung tâm giữ vai trò quyết định BGĐ phải chỉ đạo sát sao và thường xuyên kiểm tra hoạt động KTĐG ở mỗi bộ phận, cá nhân nhằm phát hiện sai lệch để uốn nắn kịp thời, đồng thời rút kinh nghiệm khắc phục những tồn tại, yếu kém, phát huy những mặt mạnh Quản lý tốt KTĐG sẽ thúc đẩy mọi hoạt động ở trung tâm GDKTTH theo hướng tích cực, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của Trung tâm
1.5.2.3 Quản lý Giáo viên,CBNV trong hoạt động dạy học NPT
(1) Quản lý hoạt động dạy nghề PT của GV
*Phân công giảng dạy cho giáo viên: có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
DHNPT, để có được sự phân công hợp lý, BGĐ cần quán triệt quan điểm phân công
GV theo đúng khả năng, chuyên môn được đào tạo của mỗi GV và theo hướng phát triển, tin vào khả năng vươn lên của từng giáo viên, không định kiến với bất cứ người nào Mọi sự phân công đều cố gắng bảo vệ uy tín nhân cách của GV Trong phân công giảng dạy, phải xuất phát từ yêu cầu của việc giảng dạy và quyền lợi học tập của toàn thể HS Phân công GV trước hết phải vì sự tiến bộ của cả tập thể sư phạm, tạo điều kiện người giỏi kèm kặp người chưa có kinh nghiệm, người còn yếu, đồng thời chú ý đúng mức đến khả năng tiếp thu kiến thức của HS Phân công công tác giảng dạy cho đội ngũ GV một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của Trung tâm sẽ góp phần quyết định nâng cao chất lượng DHNPT Phân công đi đôi với công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ là nhiệm vụ quan trọng của Lãnh đạo Trung tâm, nhằm ngày càng hoàn thiện tay nghề của đội ngũ Lãnh đạo Trung tâm cần nắm vững chất lượng đội ngũ, hiểu được mặt mạnh, mặt yếu, hoàn cảnh gia đình, của từng thành viên trong đơn vị Từ đó sẽ sử dụng đúng người, đúng việc, giúp cho GV tự tin trong công tác, có trách nhiệm hơn trong công việc, họ sẽ cố
gắng hết mình để khẳng định trong tập thể sư phạm
Trang 33BGĐ Trung tâm cần quán triệt quan điểm phân công GV theo chuyên môn đã được đào tạo, theo yêu cầu của trung tâm, đảm bảo chất lượng chuyên môn chung Song BGĐ phải tin tưởng vào sự cố gắng vươn lên của từng GV, không định kiến với bất kỳ người nào Phân công GV cần thận trọng, khéo léo sao cho công bằng, khách quan, đạt hiệu là giáo dục cao Phân công giảng dạy còn phải xuất phát từ quyền lợi học tập của HS và chú ý tới khối lượng công việc của từng GV cho hợp lý,
nhất là giáo viên làm công tác kiêm nhiệm Có những hình thức phân công giảng dạy
khác nhau, mỗi hình thức phân công đều có mặt mạnh, mặt yếu, BGĐ nên xem xét
cụ thể lực lượng đội ngũ (số lượng và trình độ tay nghề) mà lựa chọn hình thức nào, hoặc kết hợp nhiều hình thức phân công giảng dạy trong Trung tâm Cần định ra chuẩn phân công sao cho phù hợp với thực lực đội ngũ của Trung tâm, phù hợp với
trình độ HS, mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng DHNPT- [10, tr.142- 147]
Chuẩn phân công dựa trên các tiêu chí sau:
- Yêu cầu của việc dạy
- Đảm bảo tính tập trung, dân chủ
- Năng lực và sở trường
- Thâm niên nghề nghiệp
- Nguồn đào tạo
- Hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân
BGĐ cần đề ra các biện pháp thích hợp và xây dựng qui trình phân công thể hiện được sự dân chủ trong Trung tâm, nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn bộ việc phân công Quyết định phân công giảng dạy cho từng giáo viên
chỉ thay đổi trong những trường hợp thật sự cần thiết
Qui trình phân công giáo viên giảng dạy:
Bước 1: GĐ Trung tâm thống nhất với PGĐ phụ trách chuyên môn về yêu cầu
của việc phân công
Bước 2: GĐ phổ biến mục đích yêu cầu, chuẩn, dự kiến phương hướng phân
công, qui trình phân công trong Hội đồng sư phạm để giáo viên nghiên cứu; GĐ cùng PGĐ dự kiến trước việc phân công căn cứ vào thực lực đội ngũ và yêu cầu thực
tế của nhà trường
Bước 3: thảo luận dự kiến phân công tại Hội nghị liên tịch mở rộng đến các
TTCM Hướng dẫn các TTCM tổ chức thảo luận trong tổ Điều chỉnh sau khi đã giải thích và thuyết phục giáo viên
Trang 34Bước 4: GĐ Trung tâm ra quyết định phân công, bên cạnh việc phân công
giảng dạy ở các lớp NPT, BGĐ cần kết hợp phân công các mặt hoạt động khác, các công tác kiêm nhiệm cho giáo viên để biết rõ khối lượng công việc của từng người Sau tháng đầu tiên của năm học cần xem xét lại để kịp thời điều chỉnh cho hợp lý
hơn (nếu cần)- [19, tr.164- 167]
* Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học: chỉ đạo thực hiện đầy đủ và
đúng chương trình DHNPT theo quy định, lãnh đạo Trung tâm phải chỉ đạo chặt chẽ
GV, các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch giảng dạy năm học của từng bộ môn NPT, từng TCM Cán bộ quản lý phải thường xuyên theo dõi việc thực hiện thời khoá biểu DHNPT (Theo dõi việc thực hiện các tiết học theo đúng thời khoá biểu, thời gian vào lớp của GV, giải quyết các giờ trống của GV và HS, điều chỉnh thời khoá biểu trong những điều kiện cần thiết) Chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học thông qua thời khoá biểu lên lớp là một trong những phương tiện cốt yếu củng cố và giữ vững kỹ luật lao động, đưa hoạt động Trung tâm vào trạng thái nhịp nhàng góp phần tích cực vào việc củng cố xây dựng nề nếp trong trung tâm, tạo đà cho việc chỉ đạo nâng
cao chất lượng dạy học Để giáo viên nắm vững chương trình dạy học, BGĐ cần:
- Chỉ đạo chuyên môn thảo luận về nội dung, phương pháp giảng dạy các môn
NPT, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, những sửa đổi trong chương trình SGK mới Bàn bạc những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy của các năm học trước và những vấn đề mới trong chương trình dạy học để thống nhất thực hiện trong cả năm học sao cho sát với đối tượng người học để mang lại hiệu quả trong DHNPT Cân đối các hoạt động trong năm học, bố trí thời gian hợp lý, khoa học để giáo viên thực hiện
đầy đủ chương trình năm học
- Ban Giám đốc theo dõi tình hình thực hiện chương trình DHNPT thông qua:
sổ ghi đầu bài, sổ kế hoạch dạy học, giáo án của giáo viên; qua báo cáo của Phó giám đốc phụ trách chuyên môn, tổ Trưởng, từ đó có kế hoạch điều chỉnh thời gian khi cần
sao cho chương trình được thực hiện đều ở các khối lớp
* Quản lý việc soạn bài chuẩn bị giờ lên lớp của GV- [22, tr.224]: BGĐ quan
tâm đến chất lượng giờ lên lớp thì trước tiên phải quan tâm đến chất lượng việc chuẩn
bị giờ lên lớp của GV Sự chuẩn bị của GV càng chu đáo thì kết quả dạy học càng ít sai sót QL việc chuẩn bị giờ lên lớp là một hoạt động QL cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học Do đặc điểm đặc thù của lao động sư phạm nên công tác chuẩn bị giờ lên lớp do GV thực hiện ở nhà và gắn với thời gian rảnh rỗi của họ Vì vậy, đây là khâu khó QL đối với Lãnh đạo Trung tâm
Trang 35BGĐ phải có quan niệm đúng đắn về giáo án (bài soạn) và quan trọng hơn là phải biết GV soạn bài như thế nào Giáo án của GV phải thực sự là bản thiết kế một giờ lên lớp đòi hỏi tính chính xác, rõ ràng về nội dung, phong phú về phương pháp giảng dạy Thực tế có những Lãnh đạo chỉ quan tâm đến hình thức sạch đẹp mà chưa quan tâm đến chất lượng của một bài soạn, dẫn đến tình trạng đánh giá không chính xác công sức của GV trong việc soạn bài BGĐ cần hiểu rõ, trong hàng loạt công việc
để chuẩn bị cho giờ lên lớp, có những việc cần làm ngay từ đầu năm học như: làm kế hoạch giảng dạy, chuẩn bị những đồ dùng dạy học cần thiết, các loại sổ sách chuyên môn… nhưng cũng có những việc phải làm thường xuyên trong năm học như: sưu tầm tài liệu tham khảo, nghiên cứu các phương pháp giảng dạy, đặc biệt là các phương pháp giảng dạy mới… Để giúp GV chuẩn bị giờ dạy tốt, BGĐ phải kịp thời đáp ứng những yêu cầu của GV về: sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách tham khảo, các tạp chí của ngành, đồ dùng dạy học (căn cứ vào danh mục đồ dùng dạy học do Bộ
GD&ĐT qui định và căn cứ vào yêu cầu thực tiễn của các TCM)
Chất lượng của giờ giảng trên lớp phụ thuộc rất nhiều vào việc soạn bài và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho bài giảng Cho nên BGĐ cần chỉ đạo sát sao việc soạn bài và chuẩn bị các thiết bị dạy học cần thiết Để làm được việc đó BGĐ
cần tập trung vào một số công việc sau:
- Phổ biến những yêu cầu của việc chuẩn bị bài giảng; Qui định chất lượng
một bài soạn đối với từng loại bài; Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Có kế hoạch mua sắm
đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo, các phương tiện kỹ thuật phục vụ giáo viên
chuẩn bị bài giảng
- Yêu cầu các TCM nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn học được phân công Trao đổi, thảo luận đi đến thống nhất về mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức của từng môn học theo hướng dẫn của Sở
GD&ĐT
- Thường xuyên cùng với TTCM, thanh tra nhân dân kiểm tra bài soạn của
GV để có thông tin về việc thực hiện chương trình, nội dung bài soạn có đáp ứng
được yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay hay không
- Thông qua việc dự giờ trên lớp để đánh gia kết quả việc chuẩn bị bài giảng
của giáo viên
- Sau khi kiểm tra phải tổ chức rút kinh nghiệm trong TCM để cải tiến việc
soạn bài
Trang 36* Quản lý giờ dạy trên lớp của GV- [22, tr.224- 226]: để quản lý có hiệu quả
giờ lên lớp của giáo viên BGĐ cần:
- Nắm vững lý luận dạy học nói chung và lý thuyết về bài học nói riêng; Hiểu được bản chất cấu trúc, chức năng của giờ lên lớp; Xây dựng thời khóa biểu khóa học, hợp lý giữa các buổi học trong tuần Trong công tác chuyên môn, TKB có vai trò xây dựng, duy trì nề nếp dạy học, điều khiển hoạt động dạy học trong ngày, trong
tuần, tạo nên bầu không khí sư phạm của trung tâm
- Phổ biến nội dung cơ bản tiêu chuẩn giờ lên lớp (theo tiêu chuẩn đánh giá giờ dạy của Bộ GD&ĐT) để mọi GV đều nắm được, đó là: hướng dẫn HS tư duy, tìm đến kiểm thức mới, từ đó nắm chắc kiến thức cơ bản của bài học, rèn luyện được các kỹ năng cần thiết, biết vận dụng sáng tạo Thông qua bài giảng GV giáo dục tư
tưởng, tình cảm, đạo đức, phát triển các năng lực cần thiết
- Có kế hoạch dự giờ các GV, BGĐ Trung tâm phải có kiến thức về phương pháp phân tích sư phạm và có kỹ năng sử dụng nó vào việc dự giờ Phải tổ chức tốt công tác dự giờ và phân tích giờ dạy của GV, huy động nhiều lực lượng tham gia công tác dự giờ với nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm trong nhóm, trong TCM; Tổ chức thao giảng trong Trung tâm hoặc tham gia thao giảng trong cụm Trung tâm; Tổ chức dự giờ thi đua, đăng ký giờ dạy tốt; BGĐ dự giờ kiểm tra chuyên môn và dự giờ rút kinh nghiệm giảng dạy của GV PGĐ cần lập
kế hoạch tổng thể về việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học toàn năm học Trên
cơ sở đó xếp lịch dự giờ và phân tích giờ dạy trong từng tuần Để nâng cao chất lượng công tác dự giờ, BGĐ cần bồi dưỡng cho toàn thể GV kỹ năng dự giờ và phân tích giờ dạy của GV theo qui trình chuẩn Đảm bảo trong năm học tất cả các giáo viên phải được mỗi thành viên BGĐ dự ít nhất hai tiết dạy Các GV mới ra trường,
GV có trình độ chuyên môn yếu phải dự giờ nhiều hơn Khi dự giờ cần ghi chép cụ thể, sau dự giờ BGĐ, Trưởng TTND, TTCM, các GV dự giờ trao đổi ý kiến, rút kinh nghiệm với GV có giờ dạy về nội dung kiến thức, đổi mới phương pháp, sử dụng
thiết bị dạy học, quản lý nề nếp lớp, Đánh giá và xếp loại giờ dạy
*Quản lý hồ sơ của giáo viên: hồ sơ, sổ sách của GV có thể nói là giáo cụ trực
quan phản ánh một cách khách quan kết quả chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp và việc thực hiện các quy chế về chuyên môn của GV Thông qua quản lý hồ sơ, BGĐ nắm chắc hơn các hoạt động chuyên môn của GV và việc thực hiện các quy chế, nề nếp chuyên môn của GV theo các yêu cầu đã đề ra.Trong phạm vi hoạt động dạy của
GV, hồ sơ cần có: Kế hoạch giảng dạy bộ môn, giáo án, sổ kiểm danh và ghi điểm,
Trang 37sổ ghi đầu bài, sổ dự giờ, sổ ghi các cuộc họp, Để quản lý tốt hồ sơ của giáo viên, BGĐ cần quy định nội dung và thống nhất các loại mẫu, cách ghi chép từng loại hồ
sơ, có kế hoạch kiểm tra đánh giá chất lượng hồ sơ theo từng TCM
*Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên- [22, tr 228]: đội ngũ giáo viên và
CBQL là lực lượng cốt cán biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng, hiệu quả DHNPT, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới giáo dục Vì vậy, quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của công tác quản lý chuyên môn trong Trung tâm
Để giáo viên có thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới, BGĐ cần có kế hoạch, dành thời gian, kinh phí nhất định trong năm học cũng như cần có kế hoạch chiến
lược lâu dài trong công tác bồi dưỡng giáo viên, cụ thể:
- Cử đầy đủ, đúng đối tượng giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng hè, bồi dưỡng chuyên đề thường xuyên do ngành giáo dục tổ chức Đảm bảo 100% số giáo
viên của Trung tâm được bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ
- Có kế hoạch, động viên giáo viên đi đào tạo để đạt trên chuẩn (đối với
những giáo viên có trình độ đại học)
- Thường xuyên tổ chức kiểm tra trình độ tay nghề của GV, kịp thời phát hiện những GV có khả năng để bồi dưỡng thành những GV cốt cán trong các TCM, đồng
thời nắm bắt được những mặt mạnh, yếu trong GV để có biện pháp khắc phục
- Để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tại chỗ cho giáo viên, Giám
đốc cần có những quy định cụ thế về việc tự bồi dưỡng của giáo viên
- BGĐ Trung tâm phải là những người đi đầu trong việc tự học tự bồi dưỡng
để giáo viên trong Trung tâm noi theo Sự quan tâm đúng mức của BGĐ trung tâm đến công tác bồi dưỡng giáo viên sẽ là một trong những biện pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
*Quản lý giáo viên KTĐG kết quả học tập của HS: là một khâu quan trọng của
công tác QL hoạt động DHNPT, do vậy cán bộ QL cần phải chú ý: Triển khai nghiêm túc các văn bản qui định về KTĐG kết quả học tập của học sinh; Thực hiện đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản; Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS; Kết hợp đánh giá bằng nhận xét với đánh giá bằng điểm số; Kết hợp các hình thức KT để đánh giá; Triển khai xây dựng đề thi theo
ma trận kiến thức; Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá trong điều chỉnh hoạt động dạy
học; Và trên hết nhà quản lý phải thấm nhuần, mục tiêu cao cả của KTĐG là vì sự tiến
bộ của người được đánh giá
Trang 38KTĐG tri thức, kỹ năng kỹ xảo của học sinh là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Nó có tác dụng phát hiện và điều chỉnh, thực trạng hoạt động học và hoạt động dạy, củng cố và phát triển vốn tri thức của học sinh đồng thời giáo dục phẩm chất, nhân cách cho người học, nhằm đi đến mục tiêu giáo dục Vì vậy để quản lý được khâu này BGĐ cần: Xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng tháng, giữa học kì, cả học kì, kiểm tra đột xuất; Kiểm tra việc thực hiện tiến độ cho điểm, cơ số điểm theo quy định của Bộ GD&ĐT; Kiểm tra việc chấm, trả bài cho học viên; Kiểm tra việc học viên tự đánh giá học sinh; Kiểm tra học sinh xếp loại cuối kì, cuối năm học theo đúng quy chế đánh giá, xếp loại học sinh theo chương trình GDKTTH cấp THCS và THPT (QĐ số 02/2007/QĐ -BGDĐT ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GDĐT)- [22, tr.229- 230]
*Quản lý KTĐG Giáo Viên: KTĐG giáo viên có vai trò quan trọng tác động
hoạt động DHNPT Nhà QL phải xác định rõ quan điểm, tiêu chí, bộ chuẩn để KTĐG GV Cụ thể: nhà quản lý phải thấm nhuần, mục tiêu cao cả của KTĐG là vì
sự tiến bộ của người được đánh giá Đánh giá hiệu quả rên cơ sở ch ẩn hành vi và năn ực; Đa dạng hoá nguồn h ng in phản hồi Tập run vào iềm năng hơn à thiếu sót đ i ngũ; Gắn hiệu q ả àm việc với chiến ược p át triển p át triển Truntâm; Sử dụng c c cơ hội phát triển c nhân để hỗ rợ q á rình đán giá hiệu quả àm việcc; Cung cấp hông in p ản hồi k ông vớimục đích phê phán; Chú rọng mục iêu phát triển chuyên môn, n hiệp vụ và đạo đức n hề nghiệp hơn à kiểm soát họ Yêu cầu quản lý sâu sát kiểm tra hoạt động giảng dạy của GV: kiểm tra chính xác, đầy đủ việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy của giáo viên; Đánh giá đúng trình độ tay nghề của giáo viên để GĐ và các cấp quản lý sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ giáo viên một cách hợp lý; Thông qua việc kiểm tra hoạt động giảng dạy của giáo viên giúp cho giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục và giảng dạy; Giữ vững kỷ luật, khuyến khích sự cố gắng của giáo viên Đồng thời bồi dưỡng cho giáo viên có khả năng tự KTĐG công việc của bản thân
Cán bộ q ản ý rung âm GDKTTH phảihọc ập để có được c c kinh n hiệm trong hoạt độn KTĐG Cụ hể k i thực hiện KTĐG Giáo viên, c n bộ q ản ý cần chú ý:: Lựa chọn thời gian và địa điểm KTĐG phù hợp Tạo bầu không khí thân thiện trước khi vào cuộc Tránh «lên lớp» hay gây «căng thẳng» cho giáo viên Nhấn mạnh các điểm mạnh của giáo viên để tạo động lực Thảo luận nguyên nhân, kết quả thực hiện công việc một cách cụ thể, không chung chung, lắng nghe hiệu quả, tránh đối đầu và đôi co Để cho giáo viên cơ hội được trình bày ý kiến Thống nhất mục tiêu công việc cho thời gian tới, cung cấp hỗ trợ, đào tạo thay đổi trong quản lý Kết thúc
Trang 39buổi KTĐG nên động viên bằng đánh giá tích cực, mở ra hướng phát triển Khi c n
bộộ quản lý ru g âm GDKTTHH thực hiện KTĐG Giáo viên, cần tuân theo các nguyên tắc sau: Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của hoạt động KTĐG giáo viên; Xác định rõ mục tiêu đánh giá, đánh giá công bằng, chính xác những đóng góp của GV; Tránh các lỗi thiên vị, thành kiến, xu hướng trung bình, thái cực…trong đánh giá; Xây dựng qui trình đánh giá hợp lý; Thiết kế hoặc sử dụng phiếu/biểu mẫu đánh giá phù hợp; Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá trong các hoạt động quản lý; Phối hợp với cán bộ quản lý và các bộ phận chức năng thực hiện đánh giá nghiêm túc; Quản lý và sử dụng kết quả đánh giá hiệu quả- [19, tr.183- 189]
*Quản lý hoạt động của các tổ Chuyên môn: là một trong những nội dung
quan trọng trong quản lý DHNPT ở Trung tâm GDKTTH Việc xây dựng, tổ chức và quản lý hoạt động của tổ chuyên môn, GĐ trung tâm căn cứ vào qui định về cơ cấu,
tổ chức Trung tâm GDKTTH và xem xét tình hình thực tế của cơ cấu đội ngũ giáo viên Trung tâm Khi tổ chức các TCM, GĐ phải đảm bảo hoạt động của các môn NPT có hiệu quả nhất GĐ tổ chức các TCM theo từng môn học hoặc nhóm môn học; mỗi TCM có một tổ Trưởng và một hoặc hai tổ Phó điều khiển Điều quan trọng
là Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm các tổ Trưởng, tổ phó có đủ phẩm chất và năng lực
để điều khiển hoạt động của TCM theo mục tiêu phấn đấu của Trung tâm Quản lý TCM giúp giáo viên làm việc theo một sự thống nhất, có kế hoạch đồng thời sinh hoạt TCM là dịp để đội ngũ giáo viên trao đổi, học tập kinh nghiệm và cùng nhau tháo gỡ những khó khăn trong giảng dạy Quản lý, chỉ đạo tốt các nội dung sinh hoạt của các TCM, làm cho tổ và giáo viên cố gắng trong việc nghiên cứu các vấn đề mới và khó của chương trình, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên Công tác quản lý phải làm sao, để TCM vừa là môi trường học tập, giao tiếp vừa là tổ ấm để mọi người thân thiện và gắn bó với nhau hơn Để quản lý tốt hoạt động TCM, BGĐ cần chú trọng [7, tr.12]
Quản lý việc xây dựng KHDH của TCM; Quản lý việc thực hiện kế hoạch
DH của TCM; Quản lý việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV của TCM; quản lý
công tác tham mưu, phối hợp hoạt động của TCM Phát huy vai trò tổ Trưởng
chuyên môn, trong quản lý hoạt động dạy học; Bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động cho TTCM; Tăng cường kiểm tra đánh giá chất lượng sinh hoạt TCM; Chỉ đạo
TCM tăng cường sự phối hợp với giáo viên trường PT được giao nhiệm vụ quản lý
học sinh và các cá nhân, bộ phận khác
Trang 40BGĐ trung tâm GDKTTH yêu cầu, TTCM phải hoàn thiện từ đầu năm học hồ
sơ TCM, bao gồm: Danh sách lí lịch trích ngang GV trong tổ; Kế hoạch TCM, sổ ghi
các hoạt động của TCM; Sổ ghi biên bản họp TCM và nghị quyết các cuộc họp TCM Xây dựng và tổ chức tốt nề nếp sinh hoạt TCM Tăng cường, khuyến khích các nội dung sinh hoạt theo chuyên đề nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động DHNPT Tạo được không khí dân chủ, bình đẳng, tích cực trong sinh hoạt TCM, nhằm phát huy trí tuệ tập thể
Tích cực xây dựng tạo thói quen chia sẻ kinh nghiệm DHNPT khi sinh hoạt TCM
Quản lý KTĐG tổ Chuyên môn: BGĐ Trung tâm cần thực hiện tốt chức năng
quản lý KTĐG hoạt động của TCM, BGĐ có thể kiểm tra trực tiếp hay gián tiếp, có thể kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra một vài hoạt động của tổ (kiểm tra chuyên đề) Với nội dung kiểm tra toàn diện GĐ trung tâm nên kiểm tra 2 lần/năm (nên kết hợp kiểm tra toàn diện một vài giáo viên và một vài lớp học sinh), thời gian tiến hành mỗi đợt kiểm tra khoảng một tuần Tuy nhiên, không nhất thiết kiểm tra tất cả các tổ cùng một lúc; Với nội dung kiểm tra chuyên đề cũng được tiến hành như kiểm tra toàn diện nhưng nội dung chỉ tập trung vào vấn đề đã chọn Dù kiểm tra dưới hình thức nào, BGĐ cũng cần phải bảo đảm nghiệp vụ của công tác kiểm tra như sau: Lập kế hoạch kiểm tra; Tổ chức lực lượng và tiến hành kiểm tra; Tổng hợp thành biên bản kiểm tra; Tổng kết, đánh giá
hoạt động của tổ và đề ra những kiến nghị
(2).Quản lý Cán bộ, Nhân viên trong hoạt động dạy học NPT
*Quản lý CB: nhà quản lý cấp cao cần giúp họ nhận thức đầy đủ hơn về nội
dung công tác đổi mới quản lý Đổi mới QLGD không chỉ đổi mới cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý mà phải đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục từ tổ Trưởng tổ chuyên môn tới từng giáo viên QLGD không phải chỉ quản lý con người
mà quan trọng là quản lý công việc, quản lý kế hoạch và chiến lược Chỉ có quản lý công việc thì làm việc mới tự giác và có hiệu quả thật sự, còn quản lý con người thì làm việc chỉ với mục đích đối phó Người lãnh đạo tìm ra cơ chế quản lý để phát huy mọi khả năng của từng cá nhân, các bộ phận, sự tương tác đó sẽ tạo ra sức mạnh tổng
hợp để phát triển theo chiều hướng đi lên Công tác quản lý việc nâng cao chất lượng
học tập HS thực chất là quản lý quá trình dạy và học, quản lý các điều kiện hỗ trợ quá trình dạy - học bằng một hệ thống các biện pháp quản lý được thực hiện theo các chức năng quản lý đã được xác định Việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trong Trung tâm, là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác của người quản lý,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập của HS