1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ ÁN TRIỂN KHAI MÔ HÌNH THÀNH PHỐ THÔNG MINH TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2017-2020

105 49 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, việc tiếp cận và thực hiện thành phố thông minh chủ yếu lấy “Chính quyền điện tử” làm trọng tâm và phát triển thông minh hơn một số các tiêu chí phù hợp với nhu cầu, điều kiện

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

ĐỀ ÁN TRIỂN KHAI MÔ HÌNH THÀNH PHỐ THÔNG MINH TỈNH QUẢNG NINH

GIAI ĐOẠN 2017-2020

ĐƠN VỊ TƢ VẤN:

VIỆN CHIẾN LƢỢC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

Quảng Ninh, năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 7

PHẦN 1 CƠ SỞ VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 9

I CƠ SỞ PHÁP LÝ 9

1 Các văn bản của Trung ương 9

2 Các văn bản của Tỉnh 9

II CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG TPTM 10

1 Xu hướng xây dựng thành phố thông minh trên thế giới 10

2 Kinh nghiệm xây dựng các TPTM trên thế giới 11

3 Xu hướng xây dựng TPTM ở Việt Nam 17

III SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÔNG MINH 19

1 Sự cần thiết xây dựng TPTM 19

2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn 20

PHẦN 2.ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÔNG MINH TRÊN THẾ GIỚI, VIỆT NAM 21

I TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THÔNG MINH 21

1 Khái niệm về Thành phố thông minh 21

2 Các đặc trưng cơ bản và các lĩnh vực của Thành phố thông minh 21

3 Lợi ích của Thành phố thông minh 23

II XÁC ĐỊNH TIÊU CHÍ TPTM CHO QUẢNG NINH TRONG GIAI ĐOẠN 2017-2020 25

1 Xây dựng các chuẩn và các tiêu chí của TPTM 25

2.Xác định các tiêu chí đánh giá TPTM cho Quảng Ninh 26

III ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TỈNH QUẢNG NINH 32

1 Hiện trạng kinh tế và an sinh xã hội tỉnh Quảng Ninh 32

2 Hiện trạng hạ tầng CNTT tại các cơ quan hành chính Tỉnh 37

3 Hiện trạng Ứng dụng CNTT 39

4 Nguồn nhân lực CNTT trong các cơ quan hành chính Tỉnh 47

5 Hiện trạng CNTT thành phố Hạ Long 47

6 Đánh giá hiện trạng Quảng Ninh và những đề xuất theo hướng TPTM 51

Trang 3

IV LỰA CHỌN MÔ HÌNH XÂY DỰNG TPTM CHO QUẢNG NINH 55

PHẦN 3.XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÔNG MINH TỈNH QUẢNG NINH 62

I ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 62

II QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU 62

1 Quan điểm 62

2 Mục tiêu tổng quát 63

2 Mục tiêu cụ thể 63

3 Mục tiêu cụ thể đối với tứng lĩnh vực ưu tiên giai đoạn 2017-2020 63

3.8 Các lĩnh vực khác 66

PHẦN 4.CÁC NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TPTM TỈNH QUẢNG NINH 67

I XÂY DỰNG MÔ HÌNH TPTM 67

1 Mô hình kiến trúc tổng thể TPTM 67

2 Cơ sở hạ tầng và Trung tâm điều hành TPTM 69

3 Khung ứng dụng phát triển TPTM 70

4 Hạ tầng kỹ thuật CNTT-TT cho TPTM 71

5 Mô hình triển khai TPTM ở Quảng Ninh 73

II HỆ THỐNG TRUNG TÂM ĐIỀU HÀNH TPTM 74

1 Khái quát về Trung tâm điều hành TPTM 74

2 Mô tả Kiến trúc và các chức năng của Trung tâm điều hành TPTM 75

3 Lộ trình triển khai hệ thống trung tâm điều hành 77

III CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA TPTM 78

1 Mô tả cơ sở hạ tầng của TPTM 78

2 Mô tả các chức năng của Nền tảng tích hợp 78

IV LỘ TRÌNH VÀ DANH MỤC CÁC DỰ ÁN TRONG ĐIỂM 82

1 Lộ trình triển khai 82

2 Danh mục các dự án trọng điểm giai đoạn 2017-2020 85

V GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 92

1.Tổ chức quản lý, triển khai thực hiện Đề án xây dựng TPTM 92

2 Xây dựng cơ chế chính sách 93

3 Phát triển nguồn nhân lực 94

4 Tăng cường ứng dụng CNTT hướng đến TPTM 96

Trang 4

6 Giải pháp về tài chính 97

7 Khoa học công nghệ 97

8 An toàn, an ninh thông tin 97

9 Nâng cao nhận thức về vai trò của CNTT trong xây dựng TPTM 98

PHẦN 5 ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI ĐỀ ÁN 99

I HIỆU QUẢ 99

1 Về quản lý 99

2 Về kinh tế 99

3 Về xã hội 100

II ĐÁNH GIÁ VỀ RỦI RO CỦA ĐỀ ÁN 100

1 Rủi ro về công nghệ, giải pháp kỹ thuật 100

2 Rủi ro do cơ cấu tổ chức và cơ chế chính sách 101

3 Rủi ro về tài chính 101

4 Rủi ro về nhân lực 101

PHẦN 6 TỔ CHỨC THỰC HIỆN 103

1 Sở Thông tin và Truyền thông 103

2 Sở Kế hoạch và Đầu tƣ 103

3 Sở Tài chính 104

4 Các Sở, ngành Tỉnh; UBND thành phố Hạ Long làm chủ đầu tƣ 104

5 Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và CNTT 104

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

Trang 5

Danh mục các hình

Hình 1 Mối quan hệ giữa các đặc trưng và các lĩnh vực của thành phố thông minh 22

Hình 2 Lợi ích thành phố thông minh đem lại 24

Hình 4 Mô hình các thành phần hệ thống thành phố thông minh 69

Hình 5 Khung ứng dụng phát triển thành phố thông minh 70

Hình 7 Mô hình triển khai TPTM tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017-2020 73

Hình 8 Minh họa một trung tâm điều hành Thành phố Thông minh 75

Hình 9 Cấu trúc của hệ thống các Trung tâm điều hành của ti ̉nh Quảng Ninh 75

Hình 10 Nền tảng tích hợp cung cấp dịch vụ tích hợp, kết nối và tương tác 79

Hình 11 Nền tảng tích hợp cung cấp dịch vụ quản lý, điều hành 80

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CBCCVC Cán bộ, công chức và viên chức

2 CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

3 CNTT Công nghệ thông tin

4 CNTT-TT Công nghệ thông tin – Truyền thông

11 IOC Trung tâm điều hành thành phố thông minh

12 IoT Internet vạn vật (Internet Of Thing)

Trang 7

đó, song có chậm hơn Đến nay, cả nước chủ yếu tập trung xây dựng Chính quyền điện tử các cấp, mới chỉ có Thành phố Đà Nẵng là xây dựng “Thành phố thông minh hơn” bắt đầu từ năm 2012, thành phố Hà Nội đang triển khai đề án

“Thành phố thông minh hơn giai đoạn 2015-2025 và định hướng đến 2030” Một số tỉnh, thành phố khác như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng, Quảng Ninh đang sẵn sàng cho quá trình xây dựng thành phố thông minh Trên thế giới, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “Thành phố thông minh”, qua nhiều hội thảo quốc tế trong và ngoài nước thì các chuyên gia chỉ ra

rằng: một thành phố chỉ thực sự thông minh khi hội tụ 3 yếu tố: hạ tầng hiệu quả, phát triển bền vững và môi trường sống thân thiện, dựa trên 6 tiêu chí: nền kinh tế thông minh, di chuyển thông minh, công dân thông minh, môi trường thông minh, quản lý điều hành thông minh và cuộc sống thông minh

Dù có đến 6 tiêu chí để xác định một thành phố thông minh, tuy nhiên, ngay cả trên thế giới, mỗi thành phố cũng lại xác định một hướng trọng tâm, chẳng hạn như các nước châu Âu thường hướng tới môi trường xanh, tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là các ứng dụng trong lĩnh vực giao thông thông minh Các nước ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương hướng nhiều hơn đến việc ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực chính quyền điện tử, y tế, giao thông, giáo dục, quản lý đô thị

Ở nước ta, việc tiếp cận và thực hiện thành phố thông minh chủ yếu lấy

“Chính quyền điện tử” làm trọng tâm và phát triển thông minh hơn một số các tiêu chí phù hợp với nhu cầu, điều kiện và nguồn lực có thể có của từng thành phố và từng giai đoạn, cụ thể như:

- Năm 2012, Đà Nẵng là đô thị đầu tiên của nước ta được tập đoàn công nghệ IBM chọn là 1 trong 33 thành phố trên thế giới triển khai thành phố thông minh Đà Nẵng khi đó được nhận tài trợ từ chương trình thành phố thông minh hơn với tổng giá trị tài trợ hơn 50 triệu USD, sử dụng giải pháp điều hành trung tâm thông minh để đảm bảo chất lượng nguồn nước phục vụ người dân, cung cấp giao thông công cộng tốt nhất và giảm thiểu ách tắc giao thông, song song với đó là hoàn thiện mô hình Chính quyền điện tử

Trang 8

- Năm 2015, Hà Nội đã làm đề án xây dựng thành phố thông minh hơn với trọng tâm là chính quyền điện tử, hiệu quả trong quản lý điều hành, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá, giao thông… hướng đến hình thành và phát triển kinh tế tri thức đưa thủ đô tham gia vào các diễn đàn thành phố thông minh trên thế giới

- Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã có những bước triển khai cụ thể về những khía cạnh khác nhau của thành phố thông minh như thử nghiệm sử dụng thẻ thay vì bán vé xe bus truyền thống,

- Ngoài ra, một số thành phố cũng đã triển khai wifi miễn phí ở một sốđiểm

du lịch, những tuyến phố chính và khu tập trung đông dân cư, những đề xuất về việc sử dụng điện thoại di động để truyền tải thông tin tình trạng giao thông hay

ý tưởng số hoá những sinh hoạt trong đời sống hàng ngày…

Có thể nói xây dựng thành phố thông minh đã là một xu hướng tất yếu và việc phát triển một thành phố thông minh cần có sự tham gia đầy đủ các thành phần như chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng; các hoạt động kết nối thành phố đa chiều và đa cấp, linh hoạt đòi hỏi phải có cơ chế liên kết phối hợp từ quản trị, đầu tư đến vận hành và thụ hưởng

Đối với Quảng Ninh, viê ̣c định hướng và thiết lập những bước đi cụ thể cho

lộ trình trở thành thành phố thông minh là cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng với sự nghiệp xây dựng, phát triển bền vững, lâu dài của tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề án này chúng ta xây dựng thành phố thông minh trên quan điểm ứng dụng CNTT làm công cụ, phương tiện và đổi mới phương pháp trên nền tảng CNTT để làm cho chính quyền thông minh hơn, môi trường sống và hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên hoàn thiện hơn Hay nói cách khác chúng ta xây dựng Quảng Ninh trở thành đô thị thông minh với trọng tâm

là chính quyền điện tử và chú trọng các tiêu chí về y tế, giáo dục, giao thông, môi trường…

Trang 9

PHẦN 1

CƠ SỞ VÀ SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I CƠ SỞ PHÁP LÝ

1 Các văn bản của Trung ương

- Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, đã chỉ rõ:

“Sớm triển khai xây dựng một số khu hành chính - kinh tế đặc biệt; ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh”;

- Nghị quyết số 05/NQ-TW ngày 01/11/2016 Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế” đã đề cấp đến một nội dung “ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh”;

- Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử;

- Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế;

- Quyết định số 260-QĐ/TW ngày 01/10/2014 của Ban chấp hành Trung ương về việc ban hành chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của các

cơ quan nhà nước giai đoạn 2015 – 2020;

- Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình Tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020;

- Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế tiếp tục giao nhiệm vụ xây dựng, tổ chức triển khai chiến lược, kế hoạch bảo đảm an toàn thông tin quốc gia;

- Quyết định số 2622/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về việc Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm

2020, định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020;

- Văn bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/04/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam

2 Các văn bản của Tỉnh

- Chương trình hành động số 33/CT-TU ngày 27/1/2015 của Tỉnh ủy Quảng Ninh về việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ

Trang 10

phát triển bền vững và hội nhập quốc tế;Quyết định số 4183/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND Tỉnh về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 985/QĐ-UBND ngày 04/4/2016 của UBND Tỉnh về việc ban hành Kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020;

- Kế hoạch số 4879/KH-UBND ngày 17/8/2015 của UBND Tỉnh về việc thực hiện chương trình hành động số 33-CTr/TU ngày 27/01/2015 của Tỉnh ủy Quảng Ninh về việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế;Thông báo số 281/TB-UBND ngày 14/10/2016 của đồng chí Nguyễn Đức Long, Chủ tịch UBND tỉnh về việc xây dựng, triển khai Đề án triển khai mô hình thành phố thông minh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017 - 2020

II CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG TPTM

1 Xu hướng xây dựng thành phố thông minh trên thế giới

Hiện nay trên thế giới khoảng 50% dân số tập trung sống và làm việc ở các thành phố Theo dự báo đến năm 2030 sẽ có khoảng 60% và đến năm 2050 sẽ có khoảng trên 70% dân số sẽ tập trung ở các thành phố Thế giới còn khoảng 60% thành phố sẽ phải xây dựng để đáp ứng xu hướng đân số chuyển dịch về thành phố Các thành phố trong lịch sử là trung tâm kinh tế, văn hóa và xã hội của mỗi quốc gia Và các thành phố là đi đầu trong hoạt động sáng tạo Thành phố là nơi

có mật độ dân cư, lực lượng lao động, lực lượng sản suất cao nhất

Bên cạnh các khía cạnh tích cực, các thành phố đang tạo ra khoảng 70% lượng khí nhà kính và 60-80% tiêu thụ năng lượng toàn cầu Quá trình đô thị hóa gia tăng tạo ra nhiều sức ép về ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn lực như nước sạch, đất đai, không gian, giao thông, năng lượng… Đó là những vấn đề mang tính toàn cầu

Công nghệ thông tin và truyền thông đã có những bước phát triển vượt bậc

về năng lực thu thập dữ liệu, lưu trữ, truyền dẫn, tính toán với chi phí giảm nhanh, đặc biệt là xu hướng phổ biến của thiết bị di động cá nhân thông minh (smartphone, wearables), điện toán đám mây, Internet vạn vật, xử lý dữ liệu lớn

và các mạng xã hội CNTT càng ngày càng đóng một vai trò quan trọng như là một giải pháp giải quyết các áp lực ngày càng lớn trong quản lý và cung cấp dịch vụ cho thành phố, giảm thiểu tác động xấu của các ngành công nghiệp lên môi trường sống qua các giải pháp giao thông thông minh, quản lý tiêu thụ nước, năng lượng và chất thải thông minh Khái niệm đô thị thông minh hoặc thành phố thông minh đã ra đời và phát triển

Có thể thấy, việc phát triển một thành phố trở thành thành phố thông minh

đã và đang trở thành xu thế phát triển mạnh mẽ của thời đại Thành phố thông minh là một cuộc cách mạng về quản lý điều hành thông minh theo hình thức, phương thức mới thông minh và hiệu quả hơn

Trang 11

Đã có nhiều thành phố trên thế giới đã và đang xây dựng TPTM Đây là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển của xã hội loài người Phần sau trình bầy một số kinh nghiệm xây dựng TPTM và bài học rút ra cho việc xây dựng TPTM Trên thế giới chưa có các tiêu chuẩn chính thức về thành phố thông minh, tuy nhiên, một số tiêu chí chính sau đây được các tổ chức, các nước lựa chọn để đánh giá và làm tiêu chí xây dựng thành phố thông minh (6 tiêu chí chủ yếu) là:

+ Nền kinh tế thông minh;

+ Di chuyển thông minh;

+ Môi trường thông minh;

+ Quản lý điều hành thông minh;

+ Công dân thông minh;

+ Cuộc sống thông minh

Trong một thành phố thông minh, hoạt động quản lý nhà nước của bộ máy chính quyền (hay “Chính quyền điện tử”, “Chính quyền thông minh”) đóng vai trò quan trọng

Hiện nay trên thế giới có một số tổ chức tiến hành đánh giá và chứng nhận cho một TPTM hay một cộng đồng thông minh, như: Nhóm thành phố thông minh (BSI smartcities group); Diễn đàn công đồng thông minh (ICF-Intelligent Community Forum); Đối tác sáng tạo Châu Âu về thành phố và cộng đồng Châu

Âu (European Innovation Partnership on Smart cities and communities), trong

đó có quy mô và uy tín nhất là tổ chức công nhận thành phố thông minh ICF - Diễn đàn cộng đồng thông minh, được thành lập vào năm 1999 để trao giải thưởng và chứng nhận một cộng đồng thông minh, tòa nhà thông minh, công nghệ cộng đồng thông minh và tầm nhìn thành phố thông minh trong 1 năm Các thành phố thông minh được nhóm trong bốn khu vực bao gồm Bắc

Mỹ, Châu Âu, Châu Á-Thái Bình Dương và Mỹ Latinh và Châu Âu có nhiều thành phố thông minh nhất trên thế giới

- Các nước Châu Âu hướng tới việc môi trường xanh, tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là các ứng dụng trong lĩnh vực giao thông thông minh,

- Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương: hướng nhiều hơn đến việc ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực để triển khai ứng dụng thông minh trong chính quyền,

y tế, giao thông, giáo dục, quản lý đô thị

Qua nghiên cứu một số mô hình: San Francisco, Rio de Janeiro, Amsterdam, Copenhagen, Seoul, Tokyo, Hồng Kông, Thượng Hải, Singapore, Đài Bắc cho thấy các thành phố trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đang trên con đường để trở thành thành phố thông minh

2 Kinh nghiệm xây dựng các TPTM trên thế giới

Việc phát triển một thành phố trở thành thành phố thông minh đã và đang

Trang 12

đã xuất hiện khá nhiều thành phố thông minh, có thể liệt kê như: Seoul, New York, Tokyo, Thượng Hải, Singapore, Amsterdam, Cairo, Dubai, Kochi và Malaga….Việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng thành phố thông minh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về TPTM và từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng TPTM

2.1 Khu vực châu Âu

Copenhagen

Copenhagen là thành phố có hai năm liên tiếp đạt danh hiệu thành phố xanh nhất thế giới Thành phố cũng đã được chọn là Thủ đô xanh của châu Âu vào năm 2014 Copenhagen có chỉ số carbon bình quân đầu người thấp nhất thế giới

và cũng có kế hoạch giảm carbon tham vọng nhất của bất kỳ thành phố nào trên thế giới nhằm đạt được mục tiêu carbon trung tính vào năm 2025 Thành phố hiện đang triển khai một loạt các giải pháp mới và sáng tạo trong các lĩnh vực giao thông, rác thải, nước, sưởi ấm và các nguồn năng lượng thay thế nhằm mục đích cải thiện và phát triển bền vững Bằng cách kiểm tra các giải pháp này, thành phố hy vọng sẽ thu hút các công ty sáng tạo, lần lượt hỗ trợ nền kinh tế thông qua quá trình trở thành xanh hơn và thông minh hơn

Amsterdam

Amsterdam đề ra mục tiêu về mô hình phát triển bền vững tầm nhìn và Chiến lược năng lượng đến năm 2040 Các tham vọng được đề ra bao gồm:

- Thành phố khí hậu trung lập vào năm 2015

- Giảm 40% lượng khí thải CO2 vào năm 2025 so với mức của năm 1990

- Giảm 75% lượng khí thải CO2 vào năm 2040

Để giúp đạt được các mục tiêu này, ban đổi mới Amsterdam (AIM), nay là ban kinh tế Amsterdam, thành phố Amsterdam, công ty điều hành mạng lưới Liander và nhà cung cấp dịch vụ viễn thông KPN đã bắt đầu xây dựng nền tảng thành phố thông minh Amsterdam vào năm 2009 - sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, chính phủ, tổ chức nghiên cứu và người dân Amsterdam Có một văn phòng trung tâm với nhiều người cùng làm việc trong dự án thành phố thông minh Trong năm 2013, đã có hơn 70 đối tác với 37 dự án thành phố thông minh khác nhau được triển khai, bao gồm tất cả các đặc điểm của một thành phố thông minh như quá trình chuyển đổi năng lượng, các giải pháp thông minh di động và liên kết mở Một số sáng kiến khác (của Châu Âu) như Citadel, Common4EU, NiCE, Digital Cities and Open Cities cũng có một liên kết với thành phố Amsterdam để phục vụ mục tiêu thành phố thông minh

Kinh nghiệm rút ra từ bài học Amsterdam là mục tiêu xây dựng sẽ phụ thuộc vào từng thành phố nhưng đều dẫn đến một đích chung Họ xây dựng nền tảng trước làm cơ sở để triển khai các dự án TPTM ở các lĩnh vực khác nhau

2.2 Khu vực Bắc Mỹ, Mỹ Latinh

San Francisco

Thành phố San Francisco liên tục xếp ở vị trí đứng đầu của các thành phố

Trang 13

Bắc Mỹ Trong vài thập kỷ qua, người dân thành phố này luôn cố gắng xây dựng thành phố trở thành một trong những thành phố thông minh nhất thế giới San Francisco có tham vọng giảm khí carbon bằng cách sử dụng nguồn năng lượng tái tạo Hiện nay, 41% năng lượng thành phố đang dùng là nguồn năng lượng tái tạo Những phương tiện công cộng và phương tiện xanh được sử dụng phổ biến tại nơi đây như xe buýt, tàu điện, xe đạp điện Hiện nay, có 110 trạm sạc công cộng cho xe điện trên toàn thành phố

Rio De Janero

Rio de Janeiro của Brazil là một thành phố không thực sự giàu có, không phải thuộc Top những mảnh đất phát triển trên thế giới nhưng nơi đây có thể đang trở thành hình mẫu đô thị của tương lai Rio de Janeiro đang đi đầu trong

xu hướng trở thành một đô thị thông minh Thành phố này kỳ vọng mô hình đô thị thông minh sẽ là con đường để giải quyết sức ép cho các đô thị phát triển Rio de Janeiro, một thành phố của du lịch, với văn hóa phong phú, cuộc sống sôi động, thiên nhiên tươi đẹp nhưng cũng nổi tiếng với tội phạm, hạ tầng cũ kỹ và thiên tai Với dân số đã hơn 6 triệu, giờ đây Rio đang chuẩn bị đón nhận thêm hàng triệu người nữa khi nơi đây sẽ diễn ra World Cup 2014 và Olympic 2016 Rio hiểu rằng giờ là lúc để đề ra một kế hoạch quản lý đô thị hoàn toàn mới trước khi số lượng xe cộ và cư dân phá vỡ mọi giới hạn chịu đựng của thành phố này Và tại Rio, một trung tâm công nghệ cao đang được kỳ vọng sẽ đem đến chìa khóa giải quyết bài toán phát triển đô thị

Kinh nghiệm rút ra từ Rio cho thấy rằng việc xây dựng TPTM không phải chỉ ở các nước giàu mà là của các nước đang phát triển Xây dựng TPTM là chiến lược để giải quyết bài toán đô thị hóa nhanh, sức ép phát triển dân cư

2.3 Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Các thành phố khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thường có một số nét tương đồng với Hà Nội Các thành phố thông minh được nghiên cứu sẽ là cơ hội

để Quảng Ninh nghiên cứu, học tập để trở thành thành phố thông minh Sau đây

là một thành phố thông minh nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương:

Seoul

Seoul là thành phố thông minh nhất xét về mặt quản trị kỹ thuật số và dữ liệu công cộng Hiện nay, thành phố có hơn 1.200 bộ dữ liệu mở cho công chúng và rất sáng tạo trong việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số để hỗ trợ người dân tham gia, chẳng hạn như hệ thống OASIS trực tuyến cho phép công chúng đưa ra đề nghị lập về các kế hoạch trực tuyến Một mẫu "thành phố thông minh"

đã được xây dựng bên cạnh sân bay Seoul Đây là dự án thành phố có 40% không gian xanh, cung cấp dịch vụ phổ cập băng thông rộng lớn, tích hợp mạng cảm biến, loạt hệ thống công trình xanh chuẩn nhất và hệ thống ngầm sáng tạo vận chuyển chất thải nhà bếp từ các tòa nhà thẳng đến một cơ sở xử lý và chuyển đổi chất thải thành năng lượng

Seoul là thành phố thông minh nhất xét về mặt quản trị kỹ thuật số và dữ

Trang 14

chúng và rất sáng tạo trong việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số để hỗ trợ người dân tham gia, chẳng hạn như hệ thống OASIS trực tuyến cho phép công chúng đưa ra đề nghị lập về các kế hoạch trực tuyến Một mẫu "thành phố thông minh"

đã được xây dựng bên cạnh sân bay Seoul Đây là dự án thành phố có 40% không gian xanh, cung cấp dịch vụ phổ cập băng thông rộng lớn, tích hợp mạng cảm biến, loạt hệ thống công trình xanh chuẩn nhất và hệ thống ngầm sáng tạo vận chuyển chất thải nhà bếp từ các tòa nhà thẳng đến một cơ sở xử lý và chuyển đổi chất thải thành năng lượng

Kinh nghiệm rút ra từ Seoul là kinh nghiệm một CSDL lớn, tích hợp đã giúp cho việc quản trị thành phố và phục vụ việc phát triển các ngành Các ứng dụng được triển khai trên một nền tảng cơ sở hạ tầng CNTT tốt và hạ tầng dữ liệu tốt là tiền đề để thành TPTM

Singapore

Singapore là thành phố có tổ chức quy mô công nghệ tiên tiến hạng nhất và sạch sẽ nhất thế giới với hệ thống giao thông công cộng tuyệt vời và có sự cam kết mạnh mẽ để phát triển bền vững Thành phố là một trong thành phố có lượng khí thải carbon thấp nhất của bất kỳ thành phố khác trên thế giới, với khoảng 2,7 tấn carbon dioxide/đầu người

Tokyo

Nhật Bản và Tokyo đã thành lập chiến lược cho năm 2020 bao gồm 8 mục tiêu cho tương lai Trong đó bao gồm mục tiêu tăng khả năng phục hồi thảm họa thiên tai động đất, tạo ra năng lượng tái tạo tại địa phương, tạo 1.000 ha không gian xanh mới, khuyến khích chương trình CNTT có sự tham gia của người dân

và hòa nhập xã hội, tạo việc làm mới cho người khuyết tật…

Hong Kong

Hồng Kông là một trong những thành phố có mật độ dày đặc nhất trên thế giới, người dân Hồng Kông đã chấp nhận giải pháp giao thông công cộng là trên hết Hồng Kông được xem là một trong những thành phố sáng tạo nhất trên thế giới Ủy ban đổi mới và công nghệ Hồng Kông được thành lập vào năm 2000 để

hỗ trợ việc tạo ra 5 cụm nghiên cứu tập trung vào ô tô, công nghệ thông tin, hậu cần, công nghệ nano và dệt may

Auckland

Auckland luôn luôn là một trong những thành phố đáng sống nhất trên thế giới và đây là nơi có hai phần ba trong số 200 công ty hàng đầu trong nước tập trung Thành phố cam kết trở thành một trong 9 thành phố đầu tiên hợp tác với Microsoft trong việc ra mắt chương trình CityNext nhằm mục đích chuyển đổi thành phố và hỗ trợ đổi mới thông qua việc sử dụng CNTT trong các lĩnh vực như vận chuyển, sử dụng năng lượng và trong xây dựng các tòa nhà

Sydney

Sydney sử dụng các nguồn lực và sự quan tâm của Thế vận hội Olympic

Trang 15

dự án phát triển hỗn hợp kéo theo việc thực hiện các giải pháp năng lượng tái tạo như lắp đặt 12 tấm quang điện trên mọi gia đình, xây dựng hệ thống tái chế chất thải mà dẫn đến kết quả trong việc tái chế lên đến 90% và mạng lưới kết nối giao thông công cộng Gần đây hơn, Sydney đã thử nghiệm một số dự án công nghệ sạch và thông minh

Melbourne

Melbourne cũng đã có những tiến bộ vượt bậc để trở thành một thành phố bền vững và thông minh Thành phố thiết lập mục tiêu đầy tham vọng là giảm 100% lượng khí thải carbon dioxide Năm 2003, thành phố đã hoàn thành một trong những dự án năng lượng mặt trời đô thị lớn nhất và trong năm 2010, phát động “Chương trình 1200 Công trình” khuyến khích sự tham gia hơn nữa của các tòa lớn trong thành phố Ngoài việc cắt giảm carbon, Melbourne hướng đến đầu tư khu vực tư nhân và tạo ra 8.000 việc làm xanh

ấm trong các tòa nhà

Kobe

Kobe đã tiến hành thực hiện xây dựng thành phố xanh của mình thông qua

hệ thống đánh giá toàn diện trong Chương trình Hiệu quả Môi trường Xây dựng (CASBEE) Kobe hiện đã chứng nhận 450 công trình xanh thông qua chương trình CASBEE Trong thập kỷ qua, thành phố cũng đã tìm cách chuyển đổi phương thức quản lý nước và rác thải đô thị, thay đổi chiến lược của mình tái chế và tái sử dụng chất thải và nước thải

Perth

Trong năm 2009, Perth bắt đầu dự án mang tên Thành phố Năng lượng Mặt trời Perth nhằm mục đích khuyến khích công nghiệp, kinh doanh và công chúng thay đổi cách thức sản xuất, sử dụng và tiết kiệm năng lượng Dự án liên quan đến lắp đặt công tơ thông minh, lắp đặt các panô năng lượng mặt trời cho ngôi nhà, tư vấn hiệu quả năng lượng miễn phí cho hộ gia đình

Đài Bắc

Đài Bắc là thủ phủ của Đài Loan Trong chiến lược phát triển lên thành một thành phố thông minh trong khu vực và trên thế giới, Đài Bắc đã đầu tư trọng điểm vào hạ tầng CNTT cho dịch vụ mạng công cộng và hệ thống giao thông, để đưa Đài Bắc trở thành thành phố di động thông minh nổi tiếng và đã đạt được chứng nhận và giải thưởng thành phố thông minh của ICF vào năm

Trang 16

Với hạ tầng CNTT cho các dịch vụ công cộng, thành phố Đài Bắc đã thành công trong việc gần như phủ sóng mạng không dây công cộng trên toàn thành phố để người dân có thể tự do truy cập thông tin tại các địa điểm công cộng tập trung như: bến tàu, xe, trạm đợi xe bus, tàu điện cao tốc

Đài Bắc đã tự động hóa và kỹ thuật số hóa hệ thống giao thông và chương trình quản lý giao thông đô thị đã giúp việc đi lại, luân chuyển của người dân

và phương tiện giao thông trong thành phố được thuận lợi, tiện ích

Đài Bắc cũng là Thành phố phát triển CPĐT mạnh mẽ thực hiện cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp Các CSDL dân cư, doanh nghiệp… cấp quốc gia đã được triển khai giúp cho việc cung cấp hiệu quả các dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp

Kinh nghiệm rút ra từ Đài Bắc đi đến xây dựng TPTM là phát triển mạnh

hạ tầng CNTT, xây dựng tốt nền tảng tích hợp trên cơ sở phát triển CPĐT và đẩy mạnh các ứng dụng thông minh vào quản lý đô thị

Putrajaya

Khởi công từ tháng 8/1995, với số tiền hơn 8 tỷ đô la Mỹ, thành phố Putrajaya của Malaysia được xem là công trình đô thị tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á với sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và truyền thống Các chuyên gia quy hoạch đã biến Putrajaya thành một thành phố, nơi mà CNTT cùng tồn tại song song với những vườn cây tươi tốt Dọc theo đại lộ Putra, trục xương sống của thành phố, hai bên là những tòa dinh thự, công sở khổng lồ nhưng không ngột ngạt vì được phủ xanh bóng cây, hoa lá Ngay cả lối xuống cầu thang cuốn vào khu trung tâm thương mại gắn máy điều hòa bên sông, cũng được trồng hoa, cây xanh bên trong Là một thành phố "trẻ" nhất của Malaysia, nên đường phố Putrajaya rất thông thoáng và môi trường thì trong lành Gần 40% diện tích của thành phố này được giành cho cây xanh, bóng mát nên du khách luôn có cảm giác như mình đang ở trong rừng

Iskandar

Iskandar là thành phố có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất ở Malaysia, nơi thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của nước ngoài và đang trên đường hoàn thiện hạ tầng công nghệ hiện đại với dự án đầy tham vọng: xây dựng thành phố hệ sinh thái thông minh eco-city Iskandar Malaysia, một thành phố hàng đầu của Đông Nam Á về năng lượng xanh với khoảng 3 triệu cư dân sinh sống trong các tòa nhà thông minh vào năm 2025 Iskandar kêu gọi những công nghệ dùng cho dự án eco-city Iskadar Malaysia là công nghệ thân thiện với môi trường và hướng đến những cộng đồng xã hội Iskandar sẽ có những tòa nhà chọc trời xen lẫn với những tòa nhà thấp Năng lượng sẽ được cung cấp từ các nguồn tái chế, người dân sử dụng hệ thống giao thông công cộng, rác thải được tái chế để sử dụng, những dự án xây dựng đều phải dựa trên tiêu chí hàng đầu là bảo vệ môi trường sống và bảo đảm sự phát triển xã hội bền vững

Qua một số ví dụ trên cho thấy, việc xây dựng TPTM là một quá trình và

Trang 17

nhau, điều kiện tự nhiên và KTXH khác nhau Tuy nhiên một điểm chung là xây dựng TPTM phải xây dựng trên một CSHT mạnh, đặc biệt là hạ tầng CNTT và

hạ tầng đó được dùng chung, được chia sẻ làm nền tảng cho việc phát triển TPTM

3 Xu hướng xây dựng TPTM ở Việt Nam

Tính đến cuối năm 2015, nước ta có khoảng 787 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa tăng nhanh từ 23,7% năm 1999 lên 35,7% năm 2015 Mặc dù tổng diện tích đất

tự nhiên của các đô thị hiện chiếm hơn 10% diện tích cả nước, nhưng những đóng góp của khu vực này lại rất lớn, hơn 70% tổng thu ngân sách toàn quốc, trong đó, 5 thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 50% GDP cả nước

Theo báo cáo số liệu năm 2015 của Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống

kê đối với 5 thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh Bình Dương và tỉnh Đồng Nai (7 tỉnh, thành phố) tuy chỉ chiếm 5,5% diện tích cả nước và 26,7% dân số nhưng đóng góp 52,6% GDP cả nước; so sánh với 56 tỉnh, thành phố còn lại thì: năng suất lao động bình quân gấp 3,3 lần, cường độ hoạt động kinh tế (GDP/diện tích) gấp 19 lần, cường độ thu ngân sách (thu ngân sách/diện tích) gấp 42,7 lần Mặc dù số lượng đô thị tăng nhanh, nhưng đa số đều đối mặt với thách thức về chất lượng đô thị chưa bảo đảm, hạ tầng kỹ thuật chưa theo kịp đà phát triển của đô thị, xuống cấp nhanh dẫn đến những hậu quả về kẹt xe, thiếu nước sinh hoạt, ngập úng nước thải, nước mưa, rác thải ô nhiễm môi trường Thiếu các nguồn lực và cơ chế, chính sách ứng phó với xu thế đô thị hóa Xu hướng xây dựng thành phố/ đô thị thông minh sẽ là xu hướng tất yếu Trong thời gian qua, ứng dụng CNTT ở các cơ quan nhà nước chủ yếu tập trung xây dựng Chính quyền điện tử các cấp Ứng dụng ở các lĩnh vực khác thì chủ yếu mạng tính tự phát, cục bộ và chưa có giải pháp đồng bộ để tác động đến chất lượng, hiệu quả công tác quản lý đô thị

Nhận thức được xu thế tất yếu này, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương định hướng cho phát triển TPTM Nghị quyết số 05/NQ-TW ngày 01/11/2016 Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế” đã đề cấp đến một nội dung “ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh” (mục 2.2) Trong quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã đưa ra các mục tiêu và nhiệm vụ: “triển khai đô thị thông minh ít nhất tại 3 địa điểm theo các tiêu chí do Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn”

Ở góc độ các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn nhất cả nước đã có Quyết định số 4693/QĐ-UBND ngày 8/9/2016

về thành lập Ban Điều hành thực hiện Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh” Đề án này tập trung 3 nội dung lớn, đó là: xây dựng chính quyền điện tử nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước, tăng

Trang 18

cấp các dịch vụ tiện ích cho người dân trong các lĩnh vực, như: quy hoạch thông minh, giáo dục thông minh, y tế thông minh, giao thông thông minh

Ngày 25/3/2014, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã ký Quyết định 1797/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Xây dựng thành phố thông minh hơn tại Đà Nẵng giai đoạn 2014 – 2020 Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng thành phố thông minh hơn tại Đà Nẵng Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu cho UBND thành phố ban hành Đề án xây dựng thành phố thông minh hơn tại Đà Nẵng giai đoạn 2016 – 2020 trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung nội dung Đề án xây dựng thành phố thông minh hơn tại Đà Nẵng được phê duyệt tại Quyết địnhnêu trên Thành phố Đà Nẵng đã lựa chọn

05 vấn đề để thực hiện thành phố thông minh hơn cho lộ trình 5 năm, đây là các vấn đề được xem là có nhu cầu lớn nhất và có tính khả thi khả thi cao Cụ thể:

- Kết nối thành phố: xây dựng hạ tầng mạng kết nối trên toàn thành phố để phục vụ nhu cầu kết nối, chia sẻ thông tin của chính quyền, doanh nghiệp, người dân, du khách và truyền dẫn cho các ứng dụng thành phố thông minh hơn

- Hệ thống giao thông thông minh: ứng dụng CNTT-TT vào công tác quản

lý giao thông đô thị của thành phố một cách chủ động và hiệu quả hơn

- Hệ thống cấp nước thông minh: ứng dụng CNTT-TT để nâng cao chất lượng xử lý và phân phối nước sạch cho người dân thành phố

- Hệ thống thoát nước thông minh: ứng dụng CNTT-TT nhằm hỗ trợ theo dõi thường xuyên chất lượng môi trường nước, chất lượng xử lý nước thải và hoạt động của các hệ thống thoát nước nhằm ngăn ngừa ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của người dân

- Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm thông minh: tăng cường ứng dụng CNTT-TT trong kiểm soát VSATTP, cho phép các cơ quan chia sẻ dữ liệu VSATTP, tự động hóa công tác báo cáo lên các cơ quan quản lý cấp trên, hướng đến việc chia sẻ thông tin cho người dân, khuyến khích sự phản hồi và tham gia giám sát của người dân

- Sau hơn 1 năm Đà Nẵng đã triển khai và đạt được một số kết sau: thành phố đã triển khai hạ tầng cáp quang băng rộng phủ rộng toàn thành phố, đây là một tiền đề quan trọng để Đà Nẵng triển khai các thành phố tiếp theo, ngay sau

đó Đà Nẵng đã triển khai cung cấp hệ thống truy nhập WIFI công cộng phục vụ nhu cầu kết nối, chia sẻ thông tin của chính quyền, doanh nghiệp, người dân, du khách Đồng thời Đà Nẵng cũng bắt đầu triển khai hệ thống camera giao thông

để xây dựng giao thông minh

Tuy nhiên có một số vấn đề Đà Nẵng cần phải tiếp tục triển khai và có những bổ sung, điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của người dân, cũng như định hướng kiến trúc phát triển thành phố thông minh trong dài hạn, đó là: Chưa có

sự nghiên cứu kiến trúc thành phố thông minh, vì vậy nhiều yếu tố cơ bản làm nền tảng cho sự phát triển thành phố thông minh trong dài hạn chưa được xác định, như: hạ tầng tích hợp, Trung tâm điều hành thành phố thông minh các cấp

Trang 19

cầu lớn và tính khả thi cao, như trong các lĩnh vực: giáo dục, y tế, môi trường, đảm bảo an toàn xã hội

Một số tỉnh, thành phố khác trong đó có Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thừa thiên – Huế, Lâm Đồng, Bình Dương, Cần Thơ,Kiên Giang

đã có nhưng hoạt động để xây dựng TPTM

Có thể nói xây dựng thành phố thông minh đã là một xu hướng tất yếu và việc phát triển một thành phố thông minh cần có sự tham gia đầy đủ các thành phần như chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng; các hoạt động kết nối thành phố đa chiều và đa cấp, linh hoạt đòi hỏi phải có cơ chế liên kết phối hợp từ quản trị, đầu tư đến vận hành và thụ hưởng

III SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÔNG MINH

1 Sự cần thiết xây dựng TPTM

“Thành phố thông minh” là nơi mà CNTT và các giải pháp đồng bộ được ứng dụng vào mọi hoạt động của thành phố đem lại hiệu quả trong quản lý nhà nước, phát triển kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục, y tế, giao thông, cộng đồng xã hội Chính quyền điện tử được ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động của mình nhằm phục vụ nhân dân tốt hơn, hiệu quả hơn Bên cạnh chính quyền điện tử sẽ là các thành phần khác của thành phố thông minh là trường học thông minh, bệnh viện thông minh, giao thông hiện đại và cộng đồng thông minh

Sự phát triển của thành phố thông minh chính là hướng tới sự thay đổi về chất cho quá trình phát triển đô thị mới, một mặt áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, tri thức để thay đổi cách thức quản lý đô thị, một mặt đem đến hiệu quả và môi trường sống ổn định, lành mạnh và tiện ích hơn cho người dân

Quan điểm, chủ trương, định hướng xây dựng thành phố thông minh làm nền tảng cơ bản để định hướng các dự án/nhiệm vụ thành phần (chính quyền điện tử, trường học thông minh, bệnh viện thông minh, giao thông đô thị hiện đại, đồng bộ…) đã được Đảng, Nhà nước và Tỉnh khẳng định trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Quy hoạch phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Trong những năm qua ứng dụng trong các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh Quảng Ninh đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đã tạo dựng được một nền tảng ban đầu để xây dựng chính quyền điện tử Quảng Ninh, góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn Qua nghiên cứu, phân tích cho thấy, với thực trạng ứng dụng CNTT hiện tại, Quảng Ninh đang có nhiều thuận lợi và có điều kiện để có thể xây dựng “thành phố thông minh” trong giai đoạn 2016 -

2020, định hướng đến 2030 Việc xây dựng thành phố thông minh sẽ thúc đẩy việc ứng dụng và phát triển CNTT trên mọi phương diện trong một tổng thể thống nhất lấy phát triển “chính quyền điện tử” là trung tâm Hiệu quả mang lại

sẽ cao hơn nhiều do có sự tích hợp và tương tác từ nhiều thành phần, sự thống

Trang 20

trong đó có Chính quyền điện tử và tất cả cùng hướng đến một mục đích chung: xây dựng một thành phố văn minh, hiện đại và phát triển bền vững trên nền phát triển CNTT

Việc xây dựng, triển khai Đề án triển khai mô hình thành phố thông minh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017-2020 là cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh, phù hợp với Quy hoạch CNTT của Tỉnh Qua nghiên cứu, tìm hiểu các mô hình thành phố thông minh trên thế giới, Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và các kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ chí Minh và thực trạng ứng dụng CNTT của Quảng Ninh trong những năm vừa qua, có thể nhận thấy Quảng Ninh cần lựa chọn hướng tiếp cận ứng dụng CNTT với Chính quyền điện tử làm trọng tâm để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến người dân như: Giáo dục, y

tế, giao thông, môi trường nhằm tạo ra những chuyển biến tích cực góp phần đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh/thành phố thông minh

2 Bài học rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn

1 Xây dựng thành phố thông minh là quy luật phát triển khách quan của ứng dụng CNTT trong quản lý đô thị và phát triển KTXH địa phương Đây là một việc làm cần thiết phù hợp với định hướng của Đảng, Nhà nước và Tỉnh

2 Mỗi thành phố tùy theo những nhu cầu và điều kiện cụ thể sẽ lựa chọn cách đi phù hợp để xây dựng mô hình thành phố thông minh cho riêng địa phương mình, thước đo hiệu quả là cải thiện điều kiện, môi trường sống cho người dân của thành phố, đời sống, điều kiện sống của người dân ngày một nâng cao, làm cho họ yêu quý môi trường sống xung quanh, chính quyền gần gũi hơn với người dân, người dân tin tưởng vào sự quản lý, điều hành của chính quyền,

đó là mô hình thành phố thông minh thiết thực nhất

3 Việc xây dựng TPTM không phải chỉ ở các nước giàu mà là của cả các nước đang phát triển Xây dựng TPTM là chiến lược ứng dụng CNTT để giải quyết bài toán xây dựng và quản lý điều hành thông minh trước quá trình đô thị hóa nhanh, dân cư tăng nhanh, các nhu cầu về y tế giáo dục và đời sống văn hóa

xã hội ngày càng cao Việc xây dựng TPTM sẽ giúp chính quyền quản lý đô thị thông minh hơn và người dân được thụ hưởng nhiều dịch vụ thông minh, được sống trong môi trường trong sạch, an toàn

4 Xây dựng và phát triển Thành phố thông minh là một quá trình vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm nên cần có trọng tâm, trọng điểm và bước đi phù hợp Cần có sự lựa chọn mô hình và bước đi thích hợp Đề án chọn bước đi phù hợp là tập trung xây dựng một mô hình tổng thể TPTM của thành phố Hạ Long, đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại và văn minh, phục vụ tốt dịch vụ du lịch

5 Trong thời gian qua, Quảng Ninh đã đầu tư nhiều ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khác nhau Đặc biệt là trong xây dựng CQĐT và trong giáo dục Như vậy, việc xây dựng TPTM phải kế thừa và phát huy được những kết quá đã đạt được, lấy đó làm cơ sở để xây dựng TPTM

6 Xây dựng thành phố thông minh cần đẩy mạnh xã hội hóa để thu hút các

Trang 21

PHẦN 2

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG THÀNH PHỐ THÔNG MINH

TRÊN THẾ GIỚI, VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THÔNG MINH

1 Khái niệm về Thành phố thông minh

Thành phố thông minh (TPTM) là một mô hình mới trong đó việc ứng dụng CNTT cùng với các giải pháp đồng bộ được đưa vào áp dụng tới từng đơn

vị, tổ chức trong thành phố, tạo ra một hệ thống điều hành quản lý thông minh

và nâng cao các dịch vụ công, các ngành kinh tế xã hội trong toàn Tỉnh, tạo ra các tiện ích lớn cho mọi người dân trong toàn Tỉnh/Thành phố

Có một số khái niệm khác liên quan đến TPTM như: Thành phố tri thức, thành phố kết nối, thành phố số, thành phố sinh thái (eco-city)… Tuy nhiên hiện nay khái niệm thành phố thông minh là khái niệm phổ biến, được cả giới nghiên cứu, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân chấp nhận

2 Các đặc trưng cơ bản và các lĩnh vực của Thành phố thông minh

- Theo công trình “Dự án TPTM của EU”, một TPTM có 6 đặc trưng cơ bản sau:

+ Nền kinh tế thông minh;

+ Di chuyển thông minh;

+ Môi trường thông minh;

+ Quản lý điều hành thông minh;

+ Công dân thông minh;

+ Cuộc sống thông minh

Từ các đặc trưng của TPTM cho ta thấy có rất nhiều chương trình, dự án đã làm, đang làm và sẽ làm đều thuộc phạm vi của TPTM Từ đó, tùy theo từng địa phương và cách tổ chức quản lý có thể chia ra các lĩnh vực ứng dụng thông minh Một thách thức lớn đặt ra xây dựng TPTM là mặc dù phát triển đa dạng, phong phú nhưng nó cần phải được đặt trong một khung kiến trúc để tạo ra một nền tảng tích hợp dữ liệu, chia sẻ dữ liệu và làm nền tảng cho một thành phố thông minh

- Có rất nhiều cách phân loại các lĩnh vực trong TPTM Việc phân loại các lĩnh vực phụ thuộc vào trình độ phát triển của thành phố, phương thức quản trị

và rất nhiều yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội khác Một cách phân loại phổ biến thành 8 lĩnh vực, đó là:

+ Năng lượng và nước;

+ Văn hóa và du lịch;

Trang 22

+ Giao thông vận tải;

+ Chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ xã hội;

+ Giáo dục và phát triển các kỹ năng;

Nhìn nhận thành phố thông minh theo các góc độ có thể đƣợc hiểu nhƣ sau:

Từ góc độ công nghệ, thành phố thông minh là một hệ sinh thái đồng bộ

của các hợp phần cùng vận hành khớp với nhau Sự tích hợp của nhiều thành phần dựa trên tính mở và tính tiêu chuẩn hóa là những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng thành phố thông minh Các công nghệ cơ sở để xây dựng một thành phố thông minh bao gồm hệ thống cáp quang và di động tốc độ cao, các thiết bị cảm biến cố định và di động cần thiết của các hệ thống thông minh Điều này rất phù hợp với sự phát triển của viễn thông, CNTT và các ngành công nghệ nhƣ IoT hiện nay, khi dịch vụ 4G sẽ đƣợc cung cấp cuối năm 2016, các hệ thống cáp quang đã đƣợc đầu tƣ đến xã, các thiết bị smart phone, smart home… đang khá phổ dụng có giá thành ngày càng hạ

Từ góc độ đô thị hóa cũng như hiện đại hoá nông thôn, các vấn đề phát

sinh trong đô thị cũng nhƣ nông thôn mới đang ngày càng trở nên thách thức với việc tổ chức các dịch vụ công cũng nhƣ các tiện ích tổng thể về giáo dục, y tế,

Trang 23

cơ sở áp dụng các tiến bộ của KHCN vì thế là tối quan trọng để giải quyết các vấn đề toàn diện như vậy

Từ góc độ chuyển đổi ngành công nghiệp, Việt Nam nói chung và tỉnh

Quảng Ninh nói riêng hiện nay đang phát triển các ngành công nghiệp với mức tiêu thụ năng lượng cao, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trong khi đó, phát triển công nghiệp là mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng nếu tiếp tục phát triển công nghiệp hiện nay thì hậu quả phải gánh chịu là rất lớn, chính vì thế giải pháp ứng dụng các công nghệ mới trong bảo vệ môi trường chính là con đường mới mà chính phủ Việt Nam nói chung, chính quyền tỉnh Quảng Ninh nói riêng đang hướng tới

Từ góc độ cơ chế - thể chế, trong thành phố thông minh, những giải pháp,

định hướng và hành động của Chính quyền phải mang tính “kiến tạo” mạnh mẽ hơn, hướng tới phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn Những thành tựu mới của CNTT, đặc biệt là giải pháp về phân tích dữ liệu lớn, sẽ đóng vai trò vô cùng to lớn trong việc hỗ trợ các hoạch định chiến lược cũng như các quyết sách hiệu quả gắn với đời sống hàng ngày của người dân

3 Lợi ích của Thành phố thông minh

Việc xây dựng thành phố thông minh là việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ thông tin trên tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội dựa trên 6 đặc trưng cơ bản đã phân tích ở trên nó đem lại rất nhiều lợi ích cho người dân và chính quyền ở các mặt cơ bản sau đây:

- Về phát triển kinh tế: Thành phố thông minh tạo động lực cho phát triển nhưng lĩnh vực kinh tế theo định hướng phát triển xanh sẽ phát huy lợi thế của các ngành công nghiệp địa phương, đảm bảo kiểm soát tốt môi trường, khai thác tài nguyên một cách hiệu quả và đẩy mạnh công nghiệp có hàm lượng chất xám cao ở địa phương, hướng đến nền kinh tế tri thức Thành phố thông minh sẽ đẩy mạnh sự liên kết khu vực và quốc tế, khuyến khích sáng tạo, hoạt động khởi nghiệp làm cho nền kinh tế của địa phương năng động và sáng tạo, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát triển theo hướng chuyển dịch mạnh sang

cơ cấu dịch vụ và hội nhập

- Về cung cấp dịch vụ cho người dân: Người dân sống trong thành phố thông minh ngoài việc được sống trong môi trường an toàn, không ô nhiễm, sẽ còn được hưởng đầy đủ các dịch vụ chất lượng về y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giao thông thuận tiện Ngoài các dịch vụ hành chính công đã và đang được cung cấp, người dân sẽ được tiếp cận nhiều dịch vụ công ích khác như y tế, giáo dục, bảo hiểm, đi lại Các dịch vụ này được cung cấp bình đẳng cho mọi tầng lớp trong xã hội do sự phát triển CNTT và hạ tầng kinh tế xã hội

Về quản lý quy hoạch đô thị: TPTM cho phép kết nối đồng bộ nhiều lĩnh vực trong một không gian đô thị, từ đó tích hợp được đầy đủ thông tin về kết cấu

hạ tầng, kinh tế xã hội của thành phố Tác dụng đầu tiên là cung cấp đầy đủ thông tin cho công tác quy hoạch phát triển đô thị về hạ tầng điện nước, giao

Trang 24

đây là vấn đề bất cập hiện nay do cách làm quy hoạch truyền thống bị thiếu thông tin khách quan, thông tin dự báo Từ xây dựng tốt công tác quy hoạch nên các vấn đề an toàn, giao thông và y tế… được phát triển có một quy hoạch cân đối nên người dân ở đâu cũng đảm bảo điều kiện tiếp cận đến các dịch vụ một cách nhanh chóng và bình đẳng

Về công tác quản trị đô thị: TPTM cho phép chính quyền có thể vận hành

và giám sát các hệ thống cơ sở hạ tầng một cách thông minh nhất thông qua hệ thống quản lý giám sát tự động Các hệ thống giao thông, môi trường, thu gom rác thải, điện nước đều được quản lý vận hành và giám sát tập trung Hệ thống giám sát cũng đảm bảo cho thành phố an toàn hơn, đặc biệt với Hạ Long là thành phố du lịch

Về cung cấp thông tin cho việc hỗ trợ ra quyết định: TPTM thu thập rất nhiều thông tin (quá khứ, hiện tại, thời gian thực …), thực hiện dự báo dài hạn hơn, toàn diện hơn, độ chính xác cao hơn, đưa ra phương án tối ưu trong thời gian tương đối ngắn và từ đó hỗ trợ lãnh đạo ra quyết đinh một cách hiệu quả hơn, thông minh hơn

Lợi ích của TPTM xét cho cùng là làm người dân được cảm thấy cuộc sống hạnh phúc hơn: tiếp cận dịch vụ tốt hơn, sống trong môi trường an toàn và trong sạch hơn và kinh tế phát triển bền vững

Hình vẽ sau minh họa một cách khái quát lợi ích tổng thể mà TPTM đem lại cho 3 chủ thể: người dân, chính quyền và doanh nghiệp

Trang 25

II XÁC ĐỊNH TIÊU CHÍ TPTM CHO QUẢNG NINH TRONG GIAI ĐOẠN 2017-2020

1 Xây dựng các chuẩn và các tiêu chí của TPTM

Khi xây dựng TPTM, cần phải xác định các chuẩn áp dụng có thể kết nối tất cả các ứng dụng thông minh thành một hệ thống chỉnh thể, vận hành đồng bộ

và hiệu quả Các tiêu chuẩn kỹ thuật cho phép kết nối giữa các bộ phận; Tiêu chuẩn về dữ liệu sẽ giúp đảm bảo một khả năng lưu trữ, trao đổi, chia sẻ, tích hợp, an toàn bảo mật; Tiêu chuẩn về quản trị tạo ra một cách thức làm việc thống nhất, đồng bộ cho tất cả các bên tham gia Hệ thống các tiêu chuẩn cho phép triển khai, kiểm tra, đánh giá, quản lý chất lượng, chia sẻ dữ liệu, khai thác

hạ tầng dùng chung giữa các lĩnh vực thông minh

Hiện nay đang là một thách thức vì chưa có một hệ thống các tiêu chuẩn đầy đủ, thống nhất về TPTM Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế hàng đầu như ISO, IEC, ITU, CEN-CENCELEC đã và đang rất tích cực nghiên cứu, triển khai xây dựng tiêu chuẩn quốc tế về thành phố thông minh, trong lĩnh vực tiêu chuẩn chuyên ngành của họ

Tháng 6/2015, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) đã thành lập Nhóm Tham vấn Chiến lược (SAG) trực thuộc Ban Quản lý Kỹ thuật (TMB) xây dựng chiến lược, định hướng phát triển tiêu chuẩn quốc tế ISO về Smart City

Bên cạnh đó, ISO có các ban kỹ thuật tiêu chuẩn ISO/TC 268, TC 59/SC17, TC 163, TC 205, TC 242, ISO/IEC JTC1/SC1 tập trung nghiên cứu, xây dựng các tiêu chuẩn ISO về thành phố thông minh Đến nay ISO đã có các tiêu chuẩn đầu tiên cụ thể về thành phố thông minh như sau: ISO 37120, ISO/TR 37150, ISO 37101, ISO 37102, ISO/TR 37121, ISO 37151, ISO 37152… Nội dung các tiêu chuẩn này tập trung vào việc định hình và phát triển bền vững cộng đồng, đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống và dịch

vụ cung cấp cho cộng đồng

Các tiêu chuẩn này đặt ra các yêu cầu rất cao về TPTM và cần phải có một quá trình dài mới đạt được Đối với chúng ta, bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng TPTM, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, chúng ta có thể sử dụng một hệ thống các tiêu chí xây dựng thành phố thông minh dựa trên 6 đặc trưng cơ bản của thành phố thông minh

Phương pháp luận xây dựng hệ thống các chỉ số là do TPTM tương lai chưa

có một hệ thống các tiêu chí đã được xác định và chuẩn hóa nên cần phải xác lập

Hệ thống các chỉ số về thành phố thông minh để cho phép có thể so sánh mức độ thông minh hơn so với mình và so với các thành phố khác Hệ thống chỉ tiêu này

Trang 26

mức độ đạt các yêu cầu của một thành phố thông minh Hệ thống các chỉ số này

đã được đa số chấp nhận như là hệ thống các chi tiêu KPI của Thành phố thông minh (IEEE Smart city KPIs) Hệ thống chỉ tiêu này là dành cho các thành phố nhỏ và trung bình của châu Âu và nó là định hướng để từng địa phương có thể làm căn cứ để so sánh mức độ thông minh hơn đạt được so với trước và so sánh với các địa phương khác

2.Xác định các tiêu chí đánh giá TPTM cho Quảng Ninh

Xu thế phát triển đô thị thông minh/thành phố thông minh ở Việt Nam đã hình thành Đây là các khái niệm mới, cần được nghiên cứu thấu đáo, chỉ đạo thống nhất từ Trung Ương tới địa phương, phù hợp với xu thế phát triển chung

và điều kiện của Việt Nam và phù hợp với điều kiện của địa phương để phát triển bền vững

Việc xác định một hệ thống tiêu chí để đánh giá TPTM ở Việt Nam là một công việc quan trọng, cần thiết khi mà xu hướng đẩy mạnh ứng dụng CNTT để xây dựng đô thị thông minh là xu hướng tất yếu Công việc này cần nhiều thời gian và Bộ Thông tin và Truyền thông đã được Thủ tướng Chính phủ yêu cầu khẩn trương chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành tiêu chí đánh giá, công nhận đô thị thông minh và hướng dẫn các địa phương thực hiện

Quảng Ninh đang ở bước đầu quá trình xây dựng đô thị thông minh/TPTM,

do vậy cách tiếp cận ở đây là trong khi đợi Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng xong bộ tiêu chí chúng ta tạm lấy các tiêu chí TPTM đã được phổ biến trên thế giới để định hướng, hiện trạng thực tế của tỉnh Quảng Ninh nói chung

và của thành phố Hạ Long nói riêng và trên cơ sở đó cụ thể hóa theo lộ trình phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng giai đoạn Khi Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra bộ tiêu chí đánh giá, thì việc thực hiện đề án sẽ phải tuân theo các tiêu chí đánh giá của Bộ Thông tin và Truyền thông

Cách làm này phù hợp với chỉ đạo của Tỉnh là trong giai đoạn đầu tập trung thí điểm xây dựng đô thị thông minh/thành phố thông minh cho thành phố Hạ Long Trên cơ sở khảo sát thực trạng Quảng Ninh, đề xuất bộ chỉ tiêu đánh giá kết quả xây dựng TPTM cho Quảng Ninh như sau:

Trang 27

STT Phạm vi, lĩnh vực Chỉ tiêu Đơn vị tính

Chỉ tiêu đề xuất cho Quảng Ninh

Số liệu hiện tại của Quảng Ninh

Chỉ số năng lực cạnh tranh PCI Thứ hạng Top 5 cả nước 3

2 Tinh thần khởi nghiệp,

1 Nguồn nhân lực Số trung tâm đào tạo CNTT chất lượng cao Trung tâm 1 Chưa triển khai

2 Tính linh hoạt, sáng tạo

Tỷ lệ hồ sơ hành chính nộp trực tiếp qua mạng của tổ chức, người dân trên tổng số hồ sơ hành chính được tiếp nhận

Trang 28

1 Chính quyền găn kết

công dân

Tỷ lệ phần trăm của các dịch vụ hành chính công trực tuyến mức

3 và 4

Sự hài lòng của tổ chức/người dân về toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính

Index) Thứ hạng Top 5 cả nước 6

3 Công nghệ

Chỉ số sẵn sàng phát triển và ứng dụng Công nghệ thông tin - Truyền thông (ICT Index)

Thứ hạng Top 5 cả nước 8

Có cơ sở hạ tầng đám mây cho TPTM và hệ thống xử lý dữ liệu lớn phục vụ hệ thống trung tâm điều hành

Đáp ứng 100%

cho các Ứng dụng thông minh

Chưa triển khai

Quản lý chiếu sáng thông minh tại các tuyến đường chính trên địa bàn thành phố Hạ Long

Triển khai tại các tuyến đường chính

Chưa triển khai

Trang 29

Số điểm truy cập wifi miễn phí trên địa bàn thành phố Hạ Long Điểm

Các khu vực đông dân cư, các trường học, bệnh viện, khu

du lịch

Chưa triển khai

% 80% Chưa triển khai

Hệ thống xe BUS trên địa bàn Thành phố Hạ Long sử dụng vé điện tử và hệ thống thông báo thông minh

% 100% Chưa triển khai

Các nút giao thông trọng điểm trên địa bàn thành phố Hạ Long được giám sát bằng camera % 100%

Chưa triển khai

Quản lý tài nguyên và

Trang 30

Xây dựng Hệ thống thông tin và

cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long

100% diện tích

đất Chưa triển khai

Có hệ thống cung cấp thông tin

về môi trường, các thông số về ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước… để hỗ trợ trong quá trình

ra các quyết định, giải pháp xử lý môi trường địa bàn Thành phố

Hạ long

Mới triển khai quy mô thí điểm (<10%)

1 Tình trạng sức khỏe,

chăm sóc y tế

Tỷ lệ bệnh nhân có y bạ điện tử (tính trên 1,000 bệnh nhân) % 20% Chưa triển khai

2 Đảm bảo An toàn

Tỷ lệ hệ thống camera giám sát tại các khu vực công cộng trọng điểm của Thành phố Hạ Long % 100%

Chưa triển khai

3 Các cơ sở giáo dục

Tỷ lệ trang bị trường học thông minh trên địa bàn Thành phố Hạ Long

Trang 31

4 Hấp dẫn du lịch

Tỷ lệ tăng trưởng khách vào

Cổng thông tin du lịch tỉnh Quảng Ninh Cổng thông tin Triển khai Chưa triển khai

Số lượng du khách đến tham quan vịnh Hạ Long

Triệu lượt

Triển khai hệ thống thẻ du lịch cho Thành phốHạ long %

30% khách sử dụng thẻ du lịch

Chưa triển khai

Bán vé điện tử cho các điểm tham quan du lịch Vịnh Hạ Long % 100% Chưa triển khai

Trang 32

III ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TỈNH QUẢNG NINH

1 Hiện trạng kinh tế và an sinh xã hội tỉnh Quảng Ninh

1.1 Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội

a Tỉnh Quảng Ninh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh bình quân 5 năm đạt 9,2%/năm Ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 5 năm đạt 7,6%/năm; ngành dịch vụ tăng trưởng bình quân 11,7%/năm; ngành nông nghiệp tăng trưởng bình quân 4,7%/năm

Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, thủy sản chiếm 6% giảm; Công nghiệp, Xây dựng chiếm 50,6% (giảm 2,8% so với năm 2010; Dịch vụ chiếm 43,4% (tăng 4,1% so với năm 2010)

Vốn huy động đầu tư phát triển giai đoạn 2011-2015 đạt 219.849 tỷ đồng tăng bình quân 5,2% mỗi năm

Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội, tiếp tục có những chuyển biến tích cực Trong giai đoạn 2011 - 2015, trung bình mỗi năm đã giải quyết việc làm cho trên 2,7 vạn lao động, Năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 63%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh còn 1,55% Công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản và môi trường tiếp tục được tăng cường Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững

Tình hình kinh tế của Tỉnh tăng trưởng vượt mức so với kế hoạch đề ra Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng, tỷ trọng lĩnh vực Nông nghiệp giảm dần Thương mại – dịch vụ, xuất nhập khẩu phát triển; thị trường giá cả được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp Tình hình kinh tế tăng trưởng và ổn định góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng thành phố thông minh của Tỉnh

b Tại thành phố Hạ Long

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Hạ Long đạt 10,01%; trong đó: ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,4%; ngành dịch vụ tăng 9,6%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 12,5%

Cơ cấu kinh tế duy trì ở mức cao: Dịch vụ chiếm 54,1%, Công nghiệp – xây dựng chiếm 45,1%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 0,8%

Giá trị sản xuất ngành dịch vụ (giá so sánh 2010) đạt 18.130 tỷ đồng, tăng

13% so với năm 2015; Tổng khách du lịch năm 2016 ước đạt 6,14 triệu lượt

tăng 7,2% so với cùng kỳ (trong đó khách quốc tế là 2,62 triệu lượt)

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng trên địa bàn (giá so sánh 2010) đạt 43.049 tỷ đồng tăng 11,1% so với năm 2015;

Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì được mức tăng ổn định, giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) đạt 367,3 tỷ đồng, tăng 12,4% so với năm 2015;

Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội trên địa bàn thành phố Hạ Long đạt

19.171,6 tỷ đồng tăng 36,8 % so với năm 2015

Trang 33

1.2 Hiện trạng một số ngành

a) Ngành Giáo dục

Hệ thống giáo dục tỉnh Quảng Ninh

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 177 trường tiểu học, 191 trường trung học cơ

sở, 56 trường trung học phổ thông, 14 trung tâm giáo dục thường xuyên, 04 cơ

sở giáo dục thường xuyên, 42 trung tâm ngoại ngữ - tin học, 01 trường thể dục thể thao, 02 trường trung cấp, 08 trường cao đẳng, 02 trường đại học và 01 cơ sở đại học

Hạ tầng máy tính: 100% trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trường phổ thông trên địa bàn tỉnh trang bị máy tính phục vụ quản lý và giảng dạy 100% các trường trung cấp, cao đẳng, đại học kết nối mạng LAN và Internet; 100% trường phổ thông kết nối Internet ADSL

Đã triển khai trường, lớp học thông minh thuộc dự án “Tăng cường ứng dụng CNTT tiên tiến trong ngành giáo dục & đào tạo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1” thí điểm cho 3 trường: Trường THPT Uông Bí (thành phố Uông Bí), trường THCS Bãi Cháy (thành phố Hạ Long) và trường tiểu học Vĩnh Khê (thị xã Đông Triều) Hiện tại, Quảng Ninh đang triển khai dự án “Tăng cường ứng dụng CNTT tiên tiến trong ngành giáo dục tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2”, đầu tư cho

12 trường học của Tỉnh (trong đó có trường tiểu học Minh Hà của thành phố Hạ Long)

Hệ thống giáo dục thành phố Hạ Long

Hạ Long có 20 trường trung học cơ sở, 17 trường tiểu học, 11 trường trung học phổ thông và 29 trường mầm Ngoài ra, Hạ Long còn có Trường Trường Đại học Hạ Long cơ sở II và Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh, 1 trường Cao đẳng nghề (Cao đẳng nghề Hồng Cẩm – Vinacomin), 03 Trung tâm dạy nghề và

12 cơ sở dạy nghề khác

Chất lượng dạy và học được nâng cao, học sinh hoàn thành môn học đạt tỷ

lệ 99,31% ở cấp tiểu học, có học lực khá – giỏi đạt 77,4% ở cấp trung học cơ sở Công tác đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được chú trọng Toàn ngành có 2.378 cán bộ, giáo viên; 100% cán bộ có trình độ đào tạo đạt chuẩn, có chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ trên chuẩn: 77,1%

b) Ngành Du lịch

Du lịch tỉnh Quảng Ninh:

Du lịch là động lực tăng trưởng chính trong nền kinh tế hiện tại của Quảng Ninh và đã được xác định là một trong những trụ cột của nền kinh tế trong tương lai Quảng Ninh có hai tài nguyên du lịch lớn là vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long Các di sản văn hóa đặc trưng của tỉnh Quảng Ninh là Yên Tử - trung tâm Phật giáo của Việt Nam, đền Cửa Ông, chùa Ba Vàng, chùa Cái Bầu Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Quảng Ninh Phát triển du lịch đã được quan tâm đầu tư, bước đầu đã tạo lập được thương hiệu có sức thu hút

Trang 34

Thu nhập từ hoạt động du lịch của tỉnh Quảng Ninh có sự tăng trưởng đáng

kể, bình quân khoảng 30%/năm Hệ thống phương tiện vận chuyển khách du lịch đường thủy có hệ thống tàu thuyền các loại

Các địa điểm du lịch thu hút một lượng lớn du khách đến thăm các điểm du lịch văn hóa; tháng 6, tháng 7 và tháng 8 là mùa nghỉ dưỡng và tắm biển Lượng

du khách quốc tế tương đối ổn định trong năm, trong đó các nước Đông Á đóng góp phần lớn Khoảng 2/3 du khách quốc tế đến từ các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia và Thái Lan

Du lịch thành phố Hạ Long:

Du lịch là một trong những ngành kinh tế phát triển nhanh nhất của thành phố Hạ Long Nhờ sự khai thác hiệu quả những tài nguyên du lịch chủ yếu trên Vịnh Hạ Long, doanh thu du lịch hàng năm của Thành phố đã đạt mức tăng trưởng khoảng 20%, từ 1,1 nghìn tỷ đồng năm 2008 lên đến 2,3 nghìn tỷ đồng vào năm 2012 Hiên nay, doanh thu từ hoạt động du lịch chiếm khoảng 5% giá trị sản xuất kinh tế và khoảng 10% giá trị tăng thêm

Số lượt khách du lịch đã tăng hàng năm ở mức khoảng 17% trong thập kỷ qua từ 0,8 triệu vào năm 2006 lên đến 2,2 triệu vào năm 2013 Tốc độ tăng trưởng đặc biệt cao từ năm 2006 đến năm 2010 (khoảng 23%/năm) Do sự suy thoái kinh tế toàn cầu và những căng thẳng ở biển Đông, tỷ lệ tăng trưởng này

đã giảm nhẹ trong những năm gần đây Tuy nhiên, số lượt khách du lịch quốc tế vẫn tiếp tục tăng trưởng đáng kể ở mức 8%/năm từ năm 2010 đến năm 2013

Tổng khách du lịch đến thành phố Hạ Long năm 2016 ước đạt 6,14 triệu lượt tăng 7,2% so với cùng kỳ (trong đó khách quốc tế là 2,62 triệu lượt)

c) Y tế:

Hệ thống cơ sở y tế Quảng Ninh

Hiện nay,toàn ngành y tế Quảng Ninh hiê ̣n có 44 đơn vị trực thuộc, bao gồm:

- 03 đơn vị quản lý nhà nước (Văn phòng Cơ quan Sở Y tế và 02 chi cu ̣c)

- Ban quản lý dự án các công trình Y tế;

- 11 Bệnh viện đa khoa (tuyến tỉnh: 05, tuyến huyê ̣n: 06);

- 05 Bê ̣nh viê ̣n chuyên khoa;

- 10 Trung tâm y tế tuyến tỉnh,

- 14 Trung tâm y tế tuyến huyện;

Toàn tỉnh có 186/186 xã, phường, thị trấn có trạm y tế Bên ca ̣nh đó , trên

đi ̣a bàn tỉnh còn có Bê ̣nh viê ̣n Viê ̣t Nam - Thụy Điển (thành phố Uông Bí ); 02 trung tâm y tế ngành Than (Vàng Danh và Mạo Khê ) và hơn 1.000 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân

Hạ tầng CNTT: 100% các đơn vị bệnh viện, trạm y tế xã/phường và cơ Sở

Y tế khác (bao gồm các trung tâm y tế huyện và phòng khám đa khoa khu vực) trên địa bàn tỉnh đã trang bị máy tính; 100% đơn vị bệnh viện, 50% trạm y tế

Trang 35

xã/phường và 100% các cơ Sở Y tế khác đã kết nối mạng LAN; 100% đơn vị bệnh viện, 70% trạm y tế xã/phường và 100% các cơ Sở Y tế khác đã kết nối Internet

Hệ thống y tế thành phố Hạ Long

Thành phố có 14 đơn vị y tế tuyến Tỉnh với tổng số 2.090 giường bao gồm: Bệnh viện Tỉnh, Bệnh viện Lao – Phổi, Bệnh viện Y học Cổ truyền, Bệnh viện Bãi Cháy, Bệnh viện Sản Nhi Ngoài ra, còn có 2 đơn vị y tế tuyến thành phố,

20 đơn vị y tế tuyến phường, 15 đơn vị y tế cơ quan, 118 đơn vị y tế ngoài công lập, 59 cơ sở dược và 1 cơ sở đào tạo y tế Bên cạnh đó, bệnh viện Bãi Cháy và bệnh viện Sản Nhi được xây dựng mới trong một vài năm trở lại đây giúp nâng cao đáng kể năng lực y tế trên địa bàn Thành phố

Khoa học và công nghệ được áp dụng trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ở thành phố Hạ Long Là một trung tâm y tế chủ chốt của tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hạ Long tiếp tục đầu tư nhằm bổ sung các thiết bị hiện đại như máy chụp X quang, máy chụp CT, theo dõi bệnh nhân, máy ECM và các công nghệ khác giúp chẩn đoán và điều trị bệnh nhân chính xác và hiệu quả

d) Giao thông

Hệ thống giao thông tỉnh Quảng Ninh:

- Đường bộ: Tỉnh có 7 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài khoảng 459,9 km,

14 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài khoảng 342 km, khoảng 580 km đường đô thị, khoảng 743km đường huyện, và khoảng 2240km đường xã

- Đường sắt: Tỉnh có một tuyến đường sắt quốc gia dài 64,08 qua Đông Triều, Uông Bí và Hạ Long

- Đường thủy: Hiện có cảng lớn là Hòn Gai (với cảng Cái Lân), Cẩm Phả Tuy nhiên, hạ tầng giao thông vận tải của Quảng Ninh vẫn còn tồn tại một

số bất cập, đặc biệt là tình trạng ùn tắc giao thông tại khu vực đô thị trong giờ cao điểm và hệ thống đường cao tốc nối liền Quảng Ninh với các tỉnh thành và sân bay lân cận đang được xây dựng

Hệ thống giao thông thành phố Hạ Long:

Thành phố Hạ Long là một trong những địa phương chịu sức ép giao thông rất lớn do số các phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh Mặc dù chưa phải

là “điểm nóng” trong việc ùn tắc giao thông, thế nhưng thời gian gần đây tình trạng này đã diễn ra thường xuyên hơn, đặc biệt là vào giờ cao điểm khi lượng học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, viên chức tan giờ học, giờ làm việc Đặc biệt là tuyến đường Kênh Liêm - Cột Đồng Hồ; ngã ba Công an Cứu hoả - Cột

Trang 36

như ngã tư Metro Nằm trên quốc lô ̣ 18A, qua khu vực đô ng dân cư , ngã tư trước cổng siêu thi ̣ Metro (phường Hà Tu, TP Ha ̣ Long) có lưu lượng giao thông lớn, phức ta ̣p, đây cũng là điểm tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn giao thông cao

Khu vực thành phố Hạ Long: Chất lượng không khí và ô nhiễm môi trường

ở các khu đô thị - Chất lượng không khí trong Thành phố vượt quá giới hạn cho phép, trên phương diện mức độ tiếng ồn, lượng hạt lơ lửng (TSP) và bụi, mặc dù khối lượng các khí thải như SOx, NOx và ôzôn đều ở mức an toàn theo Quy chuẩn Việt Nam

Nguồn nước:

- Gia tăng hoạt động công nghiệp và tăng trưởng dân số ngày càng tạo áp lực lớn hơn đối với các nguồn nước Một phần lớn chất gây ô nhiễm từ chất thải sinh hoạt và công nghiệp đang được thải vào các nguồn nước tự nhiên

- Nguồn ô nhiễm lớn nhất đối với nước bề mặt và khu vực ven biển là chất thải công nghiệp, đặc biệt là chất thải từ hoạt động khai thác và sàng tuyển than

- Nước chưa qua xử lý từ các mỏ chảy trực tiếp vào sông, suối, vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long

- Nước thải sinh hoạt cũng là một nguồn lớn gây ô nhiễm, hiện chỉ 14% nước thải sinh hoạt được xử lý trước khi xả vào môi trường Chất thải từ các bãi chôn lấp, bệnh viện và cơ sở sản xuất cũng đang dần làm suy giảm chất lượng nước bề mặt Làng chài và hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng thải ra cả chất thải rắn và nước thải vào nguồn nước ven biển

Khu vực thành phố Hạ Long: Chất lượng nguồn nước mặt của Hạ Long không đạt Quy chuẩn Việt Nam Dựa trên các nghiên cứu tiến hành từ năm 2009 đến năm 2012 Hạ Long có nguồn chất thải sinh hoạt chảy vào vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long nhưng phần lớn tác nhân gây ô nhiễm lại là chất thải công nghiệp từ các địa phương lân cận Nước chưa qua xử lý từ các mỏ chảy trực tiếp vào sông, suối, vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long

Đất:

- Phát triển hoạt động khai thác than và tăng trưởng dân số cũng dẫn đến tình trạng chất thải rắn ngày càng tăng ảnh hưởng đến môi trường đất:

Trang 37

- Khai thác than lộ thiên đã tạo ra nhiều đất, đá thải Các bãi thải này là nguyên nhân gây ra lo ngại về vấn đề sói mòn rãnh và sạt lở đất, những hiện tượng thường xảy ra ở các bãi thải này, cùng với nguy cơ sạt lở đất cũng có khả năng xảy ra Nước thải chứa axit từ mỏ thoát theo đá giàu sunphua hòa tan sunphua và mang theo kim loại nặng vào lòng đất

- Chất thải sinh hoạt: Hệ thống quản lý chất thải rắn mới chỉ dừng ở hình thức chôn lấp Các bãi chôn lấp rác hiện nay chủ yếu nằm gần khu dân cư và là nguồn gây ô nhiễm đất chính do tình trạng hòa tan chất thải Tình hình vệ sinh ở các bãi chôn lấp rác hiện nay cũng rất kém Tỉnh có 17 bãi chôn lấp rác đã đăng

kí với 15 bãi hiện đang hoạt động và hai bãi đang trong quá trình chấm dứt sử dụng Thành phố Hạ Long đã có một nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt đang đóng cửa chờ tìm địa điểm mới Tại thành phố Uông Bí đang xây dựng một lò đốt rác

- Thành phố Hạ Long: Do nhu cầu mở rộng đất cho sản xuất công nghiệp

và các khu dân cư, cảnh quan bờ biển của Hạ Long đã thay đổi đáng kể trong vài năm trở lại đây Thành phố cần nỗ lực cân bằng giữa phát triển với bảo vệ

nguyên trạng môi trường vịnh Hạ Long

Thành phố Hạ Long đã thực hiện các biện pháp bảo đảm môi trường: trục vớt di dời các tàu bỏ hoảng tại khu vực hòn Cặp Bè; triển khai thực hiện trồng, thay thế cây xanh trên các tuyến phố chính; Tăng cường công tác tác kiểm tra xử

lý phương tiện ô tô quá tải, quá khổ và kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các hoạt động san gạt, khai thác vận chuyển đất, đá, vật liệu rời của các doanh nghiệp trên địa bàn Di dời các cơ sở kinh doanh, thu mua phế liệu trong khu dân cư, cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quy hoạch đô thị vào cụm công nghiệp Hà Khánh

2 Hiện trạng hạ tầng CNTT tại các cơ quan hành chính Tỉnh

2.1 Hiện trạng hạ tầng mạng WAN dùng riêng các cơ quan Nhà nước Tỉnh

Hạ tầng mạng diện rộng (WAN) của Tỉnh: Đã được thiết lập và nâng cấp

kết nối liên thông đến 100% cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện trong toàn tỉnh trên cơ sở sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng, đảm bảo cho các đơn vị khai thác các ứng dụng và dịch vụ dùng chung tại Trung tâm tích hợp dữ liệu Tỉnh

Hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng: Đã được Cục Bưu điện Trung

ương xây dựng và kết nối đến các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện với tốc độ đường truyền cao, dung lượng lớn Hiện tại, có 4 ứng dụng, phần mềm đang sử dụng trên mạng truyền số liệu chuyên dùng, bao gồm: hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu một cửa điện tử, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quản lý văn bản, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quản lý hành chính cấp

tỉnh, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quản lý hành chính cấp huyện

2.2 Trung tâm tích hợp dữ liệu:

Trung tâm tích hợp dữ liệu Tỉnh: Được đầu tư xây dựng theo tiêu chuẩn

Tier 3, chuẩn quốc tế TIA-942 về Data Center Hiện tại, Trung tâm THDL Tỉnh

Trang 38

Quý II/2016, cho phép cài đặt các phần mềm nền tảng và phần mềm ứng dụng

để phục vụ hoạt động của hệ thống chính quyền điện tử (QLVB và điều hành, một cửa ), đồng thời cho phép chuyển dần các hệ thống thông tin và CSDL của tỉnh về cài đặt tập trung và vận hành tại Trung tâm THDL nhằm đảm bảo an toàn thông tin

2.3 Hiện trạng các hạ tầng kỹ thuật khác

Hạ tầng máy tính: Đạt 100% các cơ quan hành chính nhà nướctừ cấp xã trở

lên đã được trang bị máy tính,với 80% cán bộ có máy tính sử dụng trong công việc; các CBCCVC và người lao động phải sử dụng máy tính trong công việc đều được trang bị máy tính Tuy nhiên, số máy tính đã được trang bị có cấu hình thấp còn nhiều, tập trung nhiều tại các cơ quan hành chính nhà nước cấp xã

Hạ tầng mạng LAN: Đạt 100% cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp

huyện và hầu hết các cơ quan cấp xãkết nối mạng LAN, đáp ứng được nhu cầu trao đổi dữ liệu trong nội bộ cơ quan

Hạ tầng kết nối Internet: Đạt 100% cơ quan hành chính nhà nước các cấp

đều đã kết nối Internet

Chứng thư số:Hệ thống chứng thư số triển khai đã cấp phát hơn 950 chứng

thư số đơn vị, gần 3000 chứng thư số cá nhân và hướng dẫn sử dụng cho các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể và các đơn vị trực thuộc từ cấp tỉnh đến cấp xã, hiện nay đã có hơn 568 đơn vị đưa vào sử dụng chính thức Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 979/QĐ-UBND ngày 13/4/2015 về việc ban hành Quy định về việc trao đổi văn bản điện tử trong các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Quảng Ninh, từ ngày 01/6/2015 các cơ quan, đơn vị trong Tỉnh đã ứng dụng chữ ký số trên Hệ thống Quản lý văn bản và hồ sơ công việc; Hệ thống thư điện tử Tỉnh đảm bảo việc gửi nhận văn bản trên môi trường mạng đảm bảo an toàn, xác thực, đem lại hiệu quả trong xử lý công việc, tiết kiệm nhiều thời gian, chi phí Tuy nhiên vẫn còn một số cơ quan, đơn vị chưa áp dụng chứng thư số tổ chức đã cấp để thực hiện trao đổi văn bản điện tử, chủ yếu tập trung tại UBND cấp xã Trên 95% chứng thư số cá nhân đã cấp chưa được sử dụng Dự kiến tháng 12/2016, các cơ quan, đơn vị của Tỉnh sẽ sử dụng chứng thư số tổ chức để trao đổi văn bản điện tử, kê khai thuế điện tử và bảo hiểm xã hội điện tử

Đồng thời, Tỉnh quy định áp dụng chữ ký số trong việc trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính dưới dạng văn bản điện tử thực hiện tại Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh từ ngày 01/11/2015, cấp huyện từ ngày 01/12/2015 và tại bộ phận một cửa điện tử hiện đại cấp xã từ ngày 01/02/2016, đây là cách làm mới, tiên phong của tỉnh Quảng Ninh trong cả nước về cải cách hành chính Tuy nhiên, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được trả cho tổ chức, công dân tại các Trung tâm hành chính công qua hộp thư điện tử rất thấp (chưa đến 1%); Việc cung cấp kết quả trên Cổng thông tin thành phần/trang thông tin điện tử chỉ chiếm 5% trên tổng số kết quả đã trả cho tổ chức, công dân Bộ phận tiếp nhận

và trả kết quả một cửa cấp xã chưa áp dụng quy định này

Trang 39

Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến: Đã được triển khai tại 171 điểm cầu

(trong đó có 39 điểm cầu là triển khai theo hình thức thuê dịch vụ sử dụng kinh phí của Tỉnh) phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Tỉnh, nhằm tiết kiệm thời gian

và chi phí

2.4 Công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin

- Phần mềm diệt Virus bản quyền cho các máy tính cá nhân cũng được các đơn vị quan tâm, đầu tư

- Quan tâm, đầu tư kinh phí để phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực an toàn thông tin hàng năm Tổ chức các cuộc Diễn tập An toàn thông tin hàng năm

- Tỉnh Quảng Ninh đang xây dựng và triển khai dự án Tăng cường năng lực đảm bảo an ninh thông tin cho các cơ quan, tổ chức trọng yếu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Công an tỉnh làm chủ đầu tư) với tổng kinh phí dự kiến gần

200 tỷ đồng

Tuy nhiên, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin quan trọng như các hệ thống Cổng thông tin điện tử của tỉnh, các hệ thống kết nối với trung ương chưa đầu tư hạ tầng với hệ thống bảo mật có độ tin cậy cao, vẫn còn nhiều

sơ hở trong đảm bảo an ninh thông tin Các hệ thống thông tin, ứng dụng dùng chung cũng như chuyên ngành của các cơ quan nhà nước chưa được kiểm tra định kỳ, đánh giá, kiểm định định kỳ hàng năm về mức độ đảm bảo an toàn thông tin Trong đó, hạ tầng thiết bị của hệ thống thư điện tử đã được đầu tư ở giai đoạn đầu đang xuống cấp và quá tải, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay của tỉnh, tồn tại nhiều nguy cơ tấn công an ninh mạng qua hệ thống như các hình thức thư giả mạo, phát tán virus, thư rác ngày một tăng về số lượng, khiến cho công tác quản trị hệ thống gặp nhiều khó khăn và phức tạp

3 Hiện trạng Ứng dụng CNTT

3.1 Ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nội bộ cơ quan nhà nước

Ứng dụng CNTT trong quản lý điều hành:

- Ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước được trang bị khá đầy đủ, cụ thể:

Hệ thống thư điện tử (@quangninh.gov.vn): Đã được triển khai đồng bộ tại 100% cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện và hầu hết UBND cấp xã là công cụ trao đổi thông tin giữa các đơn vị, cũng như các cán bộ, công chức thông suốt, an toàn, hiệu quả, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí Đến nay, hơn 12.000 hộp thư điện tử công vụ đã được cấp cho các đơn vị, cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên tỷ lệ thường xuyên sử dụng chỉ chiếm khoảng 45% Ngoài ra hệ thống thư điện tử công vụ của Tỉnh sử dụng trên nền tảng nguồn

mở Zimbra chưa tích hợp với CSDL người dùng của hệ thống chính quyền điện tử Tỉnh

Trang 40

thống Quản lý văn bản và hồ sơ công việc đã triển khai tại 230 cơ quan hành chính nhà nước (Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng HĐND Tỉnh; các

sở, ban, ngành và 14 huyện, thị xã, thành phố, 186/186 xã, phường, thị trấn) góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, giám sát được chất lượng thực thi nhiệm vụ đến từng bộ phận, chuyên viên phục vụ hiệu quả cho sự hoạt động của 230 đơn vị, với gần 6.000 cán bộ, công chức trong chỉ đạo, điều hành cũng như công tác chuyên môn hàng ngày Đặc biệt hệ thống phát huy hiệu quả trong việc gửi nhận văn bản điện tử liên thông trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Tỉnh, tiết kiệm thời gian, chi phí hành chính, nâng cao hiệu quả trong công việc Tuy nhiên, còn nhiều UBND cấp xã chưa sử dụng triệt để hệ thống trong trao đổi văn bản điện tử

Hệ thống quản lý tác nghiệp liên thông (một cửa): Đã triển khai tại Trung tâm hành chính công tỉnh, các sở, ban, ngành, 14 UBND các huyện, thành phố, các Trung tâm Hành chính công cấp huyện và 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tỉnh, đây là công cụ quan trọng giúp minh bạch hóa quá trình giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan quản lý nhà nước cho người dân, doanh nghiệp, góp phần quan trọng để người dân tham gia giám sát hiệu quả thực thi nhiệm vụ của

cơ quan nhà nước Tuy nhiên, trên 95% hồ sơ khi tiếp nhận chưa được quét thành phần hồ sơ và trực tiếp xử lý trên hệ thống Vì vậy, chưa hình thành được CSDL một cửa điện tử, chưa khai thác tối đa hiệu quả của hệ thống Chủ yếu chỉ phục vụ công tác thống kê, tổng hợp và báo cáo

Hệ thống quản lý hành chính cấp tỉnh, cấp huyện: Đã đi vào hoạt động, được triển khai tại địa chỉ http://congchuc.quangninh.gov.vn là Cổng thông tin duy nhất phục vụ cho cán bộ, công chức cũng như các cơ quan, đơn vị phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, hoạt động chuyên môn, trao đổi thông tin, văn bản liên thông trên địa bàn Tỉnh Hệ thống đang từng bước được phát triển và hoàn thiện, đảm bảo cung cấp đầy đủ các công cụ, phương tiện phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và chuyên môn, nghiệp vụ của các cấp, ngành và cán bộ, công chức

Ứng dụng tác nghiệp chuyên ngành: Phần mềm quản lý nhân sự, phần mềm quản lý kế toán – tài chính, phần mềm quản lý tài sản và các phần mềm chuyên ngành khác đang được ứng dụng rộng rãi ở các đơn vị trên địa bàn tỉnh, bước đầu phát huy hiệu quả trong hoạt động quản lý và điều hành

Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp

Cổng thông tin điện tử của Tỉnh gồm 01 Cổng tổng hợp (do Văn phòng

UBND Tỉnh cập nhật thông tin); 71 Cổng thành phần thuộc Văn phòng Tỉnh ủy, Các ban xây dựng Đảng; Văn phòng UBND Tỉnh, các Sở, ban, ngành, đoàn thể Tỉnh và 14 địa phương đã được xây dựng và đưa vào khai thác hoạt động

Năm 2016, Cổng thông tin điện tử Tỉnh được nâng cấp theo Quyết định số 3279/QĐ-UBND ngày 28/10/2015 của UBND Tỉnh về việc phê duyệt dự án nâng cấp cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, sử dụng nền tảng Microsoft Office SharePoint Server 2016 gồm: 01 Cổng tổng hợp, 63 cổng thành phần cấp

1, 36 cổng thành phần cấp 2 và 149 cổng thành phần cấp 3 dự kiến hoàn thành

Ngày đăng: 24/03/2020, 01:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w