1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VÀ TÍNH HIỆU LỰC CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH ĐÓ TRÊN THỰC TẾ ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRỒNG MÍA TẠI HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

85 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VÀ TÍNH HIỆU LỰC CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH ĐÓ TRÊN THỰC TẾ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VÀ TÍNH HIỆU LỰC CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH ĐÓ TRÊN

THỰC TẾ ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRỒNG MÍA TẠI

HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

Mã số: TSV 2013-50

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội

Hậu Giang, tháng 12 năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VÀ TÍNH HIỆU LỰC CỦA NHỮNG CHÍNH SÁCH ĐÓ TRÊN

THỰC TẾ ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRỒNG MÍA TẠI

HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

Mã số: TSV 2013-50

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội

Sinh viên thực hiện: Võ Văn Dãnh Nam, Nữ: nam

Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: HG1164A1, Khoa Phát Triển Nông Thôn

Năm thứ: 3 /Số năm đào tạo: 4 nămNgành học: Luật Thương Mại

Người hướng dẫn: Th.S Phạm Ngọc Nhàn

Hậu Giang, tháng 12 năm 2013

Trang 3

Danh sách thành viên tham gia nghiên cứu

1 Nguyễn Văn Hạ5118675 Luật Thương mại-k37 Khoa Phát triểnNông thôn

2 Lâm Thị Cẩm Giang 5117300 Luật Thương mại-k37

Khoa Phát triển Nông thôn

3 Huỳnh Ngọc Tú 5118698 Luật Thương mại-k37 Khoa Phát triển

Nông thôn

Trang 4

Danh sách bảng

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Hậu Giang 5Bảng 2.2: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra (tính bình quân/hộ)21Bảng 4.1: Thống kê tỷ lệ nguồn thu nhập chính của 3 xã trên địa bànphỏng vấn 36

Bảng 4.2: Tỷ lệ các nhóm thu nhập khác của hộ trồng mía trên địabàn nghiên cứu 39Bảng 4.3: Tỷ lệ các trồng cây xen canh của hộ trồng mía trên địa bànnghiên cứu 41Bảng 4.4: Bảng thể hiện tỷ lệ các kênh tiếp cận các thông tin củangười dân trồng mía trên địa bàn nghiên cứu 43Bảng 4.5: Thể hiện tỷ lệ tham gia các tổ chức hội của nông dân tạiđịa bàn nghiên cứu

46Bảng 4.6: Tình hình cho vay nông hộ trên địa bàn 3 xã (Hiệp Hưng,Bình Thành, Tân Phước Hưng) huyện Phụng Hiệp 48Bảng 4.7: Số lượng hộ gia đình tham gia hợp tác xã thuộc 3 xã khảosát 52Bảng 4.8: Hỗ trợ của hợp tác xã đối với 8 hộ thành viên 53Bảng 4.9: Hiệu quả của nội dung các lớp tập huấn 59

Trang 5

Danh sách hình

Hình 2.1: Quyền sở hữu của các nhà máy đường ở Australia 2012 dựa trên sản lượng ép và % quyền sở hữu theo quốc gia năm 2010 13Hình 4.1: Độ tuổi của những người được phỏng vấn trên địa bànnghiên cứu 30

-Hình 4.2: Tỷ lệ trình độ học vấn của những người được phỏng vấntrên địa bàn nghiên cứu 31Hình 4.3: Tỷ lệ giới tính của của đối tượng điều tra 32Hình 4.4: Hộ gia đình theo chuẩn nghèo trên địa bàn nghiên cứu.32Hình 4.5: Tỷ lệ nguồn gốc hộ trồng mía trên địa bàn nghiên cứu .33Hình 4.6: Cơ cấu tỷ lệ sử dụng đất sở hữu và đất thuê trong sảnxuất mía 34Hình 4.7: Nguồn thu nhập chính của 120 hộ gia đình được phỏngvấn 34Hình 4.8: Tỷ lệ bình quân các hộ có diện tích trồng mía trên địa bànnghiên

cứu 36Hình 4.9: Tỷ lệ hộ có thu nhập khác của hộ trồng mía trên địa bànnghiên cứu 37Hình 4.10: Tỷ lệ hộ có thu nhập khác của các xã trên địa bànnghiên cứu 38Hình 4.11: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ trồng cây xen canh tại địa bànkhảo sát 40Hình 4.12: Thông tin thời điểm xuống giống 41Hình 4.13: Tỷ lệ chủ thể quyết định xuống giống 42Hình 4.14: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ chủ thể tiếp cận các kênh thôngtin tại địa bàn nghiên cứu 44Hình 4.15: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ người nông dân trồng mía thamgia các tổ chức hội 45Hình 4.16: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ cho vay nông hộ trên địa bànphỏng vấn của Ngân hàng 47

Trang 6

Hình 4.17: Tỷ lệ những hộ gia đình biết và không biết, thành viên

và không là thành viên hợp tác xã 51Hình 4.18: Mức độ tham gia lớp tập huấn của 45 hộ tham gia tậphuấn 55Hình 4.19: Tỷ lệ các các nội dung tập huấn trong các lớp tập huấntrên địa bàn nghiên cứu 56Hình 4.20: Tỷ lệ các hình thức tập huấn trên địa bàn nghiên cứu 56Hình 4.21: Tỷ lệ mức độ thường xuyên đi thực tế của các lớp tậphuấn 57Hình 4.22: Tỷ lệ các đơn vị tổ chức lớp tập huấn trên địa bànnghiên cứu 58

Trang 7

Danh mục các từ viết tắt KH: Kế hoạch.

NSNN: Ngân sách Nhà nước.

HĐND: Hội đồng nhân dân.

HTX: Hợp tác xã.

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.

Trang 8

Mục lục Chương 1: Mở Đầu

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Phạm vi về không gian 2

1.3.2 Phạm vi về thời gian 2

Chương 2: Tổng quan tài liệu 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Hậu Giang 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

4 2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang 9

2.2.1 Điều kiện về tự nhiên 9

2.2.2 Điều kiện về kinh tế, xã hội 10

2.3 Tình hình sản xuất mía đường ở một số quốc gia 11

2.3.1 Tình hình sản xuất mía đường tại Brazil 11

2.3.2 Tình hình sản xuất mía đường tại Cuba 12

2.3.3 Tình hình sản xuất mía đường tại Australia 12

2.4 Tác động của chính sách đến sản xuất mía 13

2.4.1 Tại Thái Lan 13

2.4.2 Tại Việt Nam 15

2.5 Cơ sở lý luận về chính sách và áp dụng chính sách 16

2.5.1 Khái quát chung về chính sách 16

2.5.2 Khái niệm về áp dụng chính sách và tác động của chính sách .19

Trang 9

2.5.3 Khái niệm về hiệu quả kinh tế 19

2.6 Vị trí của nghề trồng mía 20

2.6.1 Vị trí của nghề mía trong chính sách của Nhà nước 20

2.6.2 Vai trò của mía đối với việc phát triển kinh tế nông hộ ở một số địa phương 21

2.6.3 Vị trí cây mía trong nền kinh tế quốc dân 22

2.6.4 Vị trí của nghề trồng mía giữa các vùng trong cả nước 24

2.6.5 Vị trí của nghề mía trong thời kỳ hội nhập 25

2.6.6 Vai trò của cây mía trong phát triển kinh tế hộ tại Hậu Giang .25

2.7 Các nghiên cứu có liên quan đến áp dụng chính sách 26

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 29

3.1.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp 29

3.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp 29

3.2 Phương pháp phân tích số liệu 29

3.2.1 Phương pháp xử lý thông tin 29

3.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 29

Chương 4: Kết quả và thảo luận 4.1 Đặc điểm của hộ trồng mía 30

4.1.1 Độ tuổi của hộ trồng mía 30

4.1.2 Trình độ học vấn 31

4.1.3 Giới tính 31

4.1.4 Tình trạng kinh tế của hộ gia đình 32

4.2 Tình hình sản xuất mía trên địa bàn nghiên cứu 33

4.2.1 Nguồn gốc đất 33

4.2.2 Nguồn thu nhập chính 34

4.2.3 Diện tích đất sản xuất 36

4.2.4 Nguồn thu nhập khác 37

4.2.5 Các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất 41

4.3 Các chính sách hộ trợ cho người trồng mía 46

Trang 10

4.3.1 Chính sách cho vay vốn 46

4.3.2 Hỗ trợ từ hợp tác xã 51

4.3.3 Hỗ trợ tập huấn kĩ thuật 54

4.4 Các giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu trên địa bàn nghiên cứu 59

4.4.1 Liên kết giữa các doanh nghiệp mía đường với người nông dân trồng mía chặt chẽ hơn 59

4.4.2 Giải pháp tín dụng cho phát triển sản xuất 60

4.4.3 Giải pháp ổn định giá cả 61

4.4.4 Giải pháp về hệ thống thủy lợi cho vùng mía 61

4.4.5 Nhân rộng mô hình hợp tác xã 62

4.4.6 Nâng cao vị thế của cơ quan chức năng địa phương 62

Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5.1 Kết luận 64

5.2 Kiến nghị 65

Phụ lục 66

Trang 11

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu chính sách hỗ trợ và tính hiệu lực của nhữngchính sách đó trên thực tế đối với nông dân trồng mía tại HuyệnPhụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang năm 2013” đã được thực hiện từ tháng6/2013 đến tháng 12/2013 nhằm mục tiêu phân tích đánh giá tìnhhình áp dụng và những khó khăn khi triển khai các chính sách hỗ trợcủa địa phương Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả củaviệc áp dụng các chính sách hỗ trợ người dân trồng mía trên địa bànhuyện Phụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang Trong nghiên cứu này, tác giảtập trung vào các hộ gia đình trên địa bàn huyện Phụng Hiệp Nghiêncứu đề tài giải quyết vấn đề trọng tâm đó là khảo sát thực trạng ápdụng các chính sách hỗ trợ người dân trồng mía trên địa bàn huyệnPhụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang dựa vào phương pháp phỏng vấn nông

hộ Áp dụng phương pháp thống kê mô tả cho thấy tình hình áp dụngcác chính sách trên thực tế đối với hộ nông dân tại địa bàn phỏngvấn vẫn còn chiếm tỉ lệ thấp như mức độ tham gia hợp tác xã: hộ làthành viên hợp tác xã chiếm tỷ lệ thấp Dựa vào kết quả nghiên cứucho thấy tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn của người nông dân trồngmía còn rất ít chưa đầy ½ tổng số hộ gia đình được khảo sát Mụctiêu trọng tâm thứ hai trong nghiên cứu là phân tích, đánh giá mức

độ áp dụng các chính sách Từ đó đề xuất các giải pháp nâng caohiệu quả của việc áp dụng chính sách hỗ trợ người dân trồng míatrên địa bàn huyện Phụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang Áp dụng phươngpháp phân tích phương sai cho thấy các chỉ tiêu thống kê trên nhiềutiêu chí, được so sánh giữa địa bàn xã này với địa bàn xã khác, cácnhóm đối tượng người trồng mía được hỗ trợ từ chính quyền địaphương và tìm ra nhóm đối tượng người trồng mía nhận được sự

hỗ trợ cao nhất của các chính sách hỗ trợ người trồng mía từchính quyền địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy một sốchính sách vẫn chưa được phổ biến và mang lại hiệu quả thực tế

Từ đó nghiên cứu mở ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảcủa việc áp dụng các chính sách hỗ trợ và phát triển nghề trồng míatrên địa bàn huyện Phụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang

Trang 12

CHƯƠNG I : MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây do áp dụng nhiều thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật trongsản suất nên năng suất và chất lượng đường liên tục tăng Theo báo cáo mới nhất từ BộNông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được phát biểu tại hội nghị tổng kếtsản xuất mía đường niên vụ 2012-2013 diễn ra ngày 25/7/2013 tại tỉnh Hậu Giang chobiết, cả nước trồng hơn 298.000 ha mía (tăng hơn 15.000 ha so với vụ trước), năngsuất mía bình quân đạt 63,9 tấn/ha; tổng sản lượng mía thu được 19,04 triệu tấn (tăng1,5 triệu tấn so với cùng kỳ); sản xuất được 1,53 triệu tấn đường Theo nhiều nghiêncứu cho thấy, mặc dù tốc độ tăng năng suất mía gần 20 năm qua của Việt Nam đạt mứcgần 2.1%/năm nhưng vì một số nguyên nhân nhất định nên năng suất mía bình quâncủa Việt Nam còn thấp so với nhiều nước khu vực và trên thế giới Một số nguyênnhân chính là do điều kiện thời tiết không được thuận lợi làm ảnh hưởng đến sự pháttriển của cây trồng, các giải pháp thâm canh để tăng năng suất chưa được đẩy mạnh,mức độ quan tâm đầu tư của nhà nước về giao thông thủy lợi, cơ giới, khuyến nông ởmột số vùng còn thấp…Vì vậy việc nghiên cứu đến các giải pháp thâm canh nâng caonăng suất trồng mía, các giải pháp thúc đẩy nâng cao vai trò ngành sản xuất mía đượcnhiều tác giả nghiên cứu thực hiện

Đặc biệt ở Việt Nam mía là cây nguyên liệu chủ yếu để sản xuất đường và một sốngành công nghiệp khác, ở nước ta hiện nay chưa có cây gì thay thế được Mía có thểtrồng được ở khắp các tỉnh trong cả nước nhưng do trồng phân tán, năng suất và chấtlượng thấp nên không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến, dù khoảngcách đã được rút ngắn nhưng năng suất và chất lượng kém hơn, năng suất mía bìnhquân ở Việt Nam chỉ 60 tấn/ha nhưng bình quân thế giới là 70 tấn/ha Hiệu suất đườngcủa Việt Nam là 4-5 tấn đường/ha, trong khi Thái Lan 7-8 tấn/ha, Brazil 9-21 tấn/ha Nguồn gốc cây mía ở nhiệt đới, do vậy cây mía thích hợp với khí hậu mưa nhiều, nhiệt

độ cao Điều kiện tự nhiên phù hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của cây míanên tỉnh Hậu Giang có diện tích trồng mía nguyên liệu khá lớn trong vùng Đồng bằngsông Cửu Long Tính đến năm 2012, tỉnh Hậu Giang hiện có diện tích trồng mía vớidiện tích khoảng 14.000 ha Trong đó, tập trung chủ yếu vào các huyện có diện tíchtrồng khá lớn như huyện Phụng Hiệp, thị xã Ngã Bảy, thành phố Vị Thanh Riênghuyện Phụng Hiệp có diện tích trồng mía khoảng 9.000 ha đứng đầu trong địa bàntỉnh Tuy nhiên, vì đặc điểm địa hình nên hàng năm huyện cũng là địa bàn thu hoạchmía sớm nhất trong tỉnh do nước lũ tràn về sớm gây không ít khó khăn và thiệt hại chongười nông dân trồng mía Ước tính hàng năm nước lũ về sớm gây nhiều vùng trongđịa bàn huyện phải thất trắng hoặc bị giảm năng suất khá lớn gây thiệt hại hàng tỷđồng cho hàng trăm hecta mía của nông dân canh tác mía

Mặc dù các cấp chính quyền địa phương đã kịp thời có những chính sách hỗ trợ chongười trồng mía nhằm tháo gỡ khó khăn cho người dân Tuy nhiên sự hỗ trợ này mang

Trang 13

lại hiệu quả cho người dân như thế nào và sự khó khăn trong quá trình triển khai đếnngười dân, sự cảm nhận của người dân ra sao Từ tính cấp thiết đó, đề tài nghiên cứu

“Nghiên cứu chính sách hỗ trợ và tính hiệu lực của những chính sách đó trên thực tế đối với nông dân trồng mía tại Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang” được thực hiện.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích đánh giá tình hình áp dụng và những khókhăn khi triển khai các chính sách hỗ trợ của địa phương Từ đó đề xuất các giảipháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các chính sách hỗ trợ người dân trồngmía của chính quyền địa phương trên địa bàn huyện Phụng Hiệp – tỉnh Hậu Giang

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TỈNH HẬU GIANG

2.1.1 Vị trí địa lý

Hậu Giang là tỉnh nằm ở trung tâm tiểu vùng Tây Sông Hậu thuộc châu thổsông Mê Kông Tỉnh được thành lập vào ngày 01/01/2004 với địa giới chính xácđịnh như sau:

- Phía Bắc giáp Thành phố Cần Thơ

- Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang

- Phía Tây nam giáp tỉnh Bạc Liêu

- Phía Đông giáp tỉnh Sóc Trăng

- Phía Đông Bắc giáp sông Hậu Giang

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1 Khí hậu

Khí hậu điều hoà, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa từ tháng

5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình năm tương đối thấp (bình quân khoảng 1.441mm/năm) Mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau, với lượng mưa không đáng kể(chỉ chiếm khoảng 10% lượng mưa cả năm), nguồn nước tưới từ sông Hậu trong mùakhô về khu vực phía Tây của tỉnh hạn chế dẫn tới nhiều khu vực thiếu nước dành chocanh tác nông nghiệp trong mùa khô Dựa vào đặc điểm sinh thái của cây mía là câycần nhiều nước, nhưng sợ úng nước Cây mía yêu cầu lượng mưa hữuhiệu trong năm là 1500mm… cho thấy, điều kiện khí hậu của tỉnh Hậu Giang làđiều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mía

2.1.2.2 Sông ngòi

Là tỉnh nằm trong trung tâm Đồng Bằng Sông Cửu Long, lượng nước được cungcấp từ hệ thống kênh rạch của tỉnh khá dồi dào, trên địa bàn của tỉnh có 4 hệ thốngsông lớn: Sông Hậu (đoạn chảy qua tỉnh dài 8 km), Sông Cái Tư (đoạn qua tỉnh dài

15 km) sông Cái Lớn (đoạn qua tỉnh dài 57 km) sông Nước Trong (đoạn qua tỉnh dài

16 km) ngoài ra còn có các dòng sông chính khác như: Kênh Quản Lộ, kênh PhụngHiệp, Kênh Xà No góp phần tạo nên hệ thống kênh rạch chằng chịt cho tỉnh Cáctuyến kênh rạch chính của tỉnh vừa làm nhiệm vụ cung cấp nước vừa làm nhiệm vụtưới tiêu cho tỉnh Nhưng lượng nước mặt của tỉnh không phù hợp cho mục đích sinhhoạt ăn uống, mà rất phù hợp cho nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Nguyên nhândẫn đến tình trạng nước bị ô nhiễm là do tình trạng vệ sinh, phèn hoá, sử dụng thuốcsát trùng và phân vô cơ tại chỗ, cộng với quá trình bào mòn đất đai từ phía thượng lưuchuyển về Do nhu cầu nhiều nước cho quá trình sinh trưởng và phát triển nên kênh

Trang 15

gạch chằng chịt đảm bảo nhu cầu nước tưới cho sản xuất Mặt khác, kênh gạch đôngđúc cũng tạo điều kiện cho quá trình vận chuyển thu hoạch của người dân.

2.1.2.3 Chế độ thuỷ văn

Chế độ thủy văn nước mặt trên địa bàn tỉnh khá đặc trưng, vừa chịu tác động củathủy triều biển Đông, vừa chịu tác động của thủy triều biển Tây, đã tạo thành khuvực giáp nước ở phía Tây – Nam tỉnh, làm cho quá trình tiêu thoát lũ và nước mưa bịchậm lại, kéo dài thời gian ngập úng trên ruộng mía trong mùa mưa lũ (3 - 4 tháng)

và gây ra tình trạng chua phèn nặng ở các khu vực có địa hình thấp trũng, nhất là địabàn của các huyện Long Mỹ và Vị Thủy Mặt khác, lũ góp phần bồi đắp phù sa và rửaphèn mặn và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhphát triển sản xuất

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.3.1 Điều kiện kinh tế

- Tính đến 6 tháng đầu năm 2013 tỉnh Hậu Giang tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt11,98%, (cùng kỳ là 14,08%, KH 14%), trong đó: khu vực I tăng 2,28% (cùng kỳ là1,46%, KH 3,54%); khu vực II tăng 14,38% (cùng kỳ là 31,08%, KH 17,03%); khuvực III tăng 17,04% (cùng kỳ là 16,42 %, KH 17,48%)

- Giá trị sản xuất theo giá so sánh 94 tăng 13,37% so cùng kỳ (KH là 17,88%); trongđó: nông - lâm - ngư nghiệp tăng 4,41% (KH 4,69%), công nghiệp - xây dựng tăng15,75% (KH 20,99%), thương mại - dịch vụ tăng 18% (KH 21,72%)

- Giá trị gia tăng bình quân đầu người 6 tháng 14,33 triệu đồng, tăng 12,26% so cùng

kỳ, quy tương đương 683 USD, đạt 50,85% kế hoạch

- Cơ cấu kinh tế: tỷ trọng khu vực I chiếm 28,78% (KH 28,54%), khu vực II chiếm32,38% (KH 32,88%), khu vực III chiếm 38,84% (KH 38,58%)

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ 102,71 triệu USD,tăng 22,12% so cùng kỳ, đạt 40,28% kế hoạch Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hànghóa và dịch vụ thu ngoại tệ 86,86 triệu USD, tăng 18,65% so cùng kỳ, đạt 37,77% kếhoạch Kim ngạch nhập khẩu 15,849 triệu USD, tăng 45,4% so cùng kỳ, đạt 63,4% kếhoạch

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 6.839 tỷ đồng, tăng 9,41% so cùng kỳ, đạt54,7% kế hoạch

- Tổng thu NSNN trên địa bàn là 3.417,537 tỷ đồng, đạt 105,23% so với dự toán trungương giao, đạt 92,42% so với dự toán HĐND tỉnh giao, đạt 98,84% so với cùng kỳ.Tổng thu nội địa là 505 tỷ đồng, đạt 51,58% so với dự toán HĐND tỉnh giao và đạt99,23% so với cùng kỳ

- Tổng chi ngân sách địa phương 2.298,047 tỷ đồng, đạt 70,82% so với dự toán Trungương giao, đạt 62,20% so với dự toán HĐND tỉnh giao và đạt 97,71% so với cùng kỳ.Trong đó, chi đầu tư phát triển là 972,404 tỷ đồng, đạt 124,17% so với dự toán Trung

Trang 16

ương giao, đạt 95,96% so với dự toán HĐND tỉnh giao, đạt 77,79% so với cùng kỳ,chiếm 42,31% tổng chi.

2.1.3.2 Điều kiện xã hội

Tình hình sản xuất cây mía của người dân trong tỉnh Hậu Giang còn gặp nhiều khókhăn và thuận lợi, trong khi đó cây mía lại là cây trồng chủ lực trong việc tạo thunhập cho người dân trong tỉnh

Về năng suất: Năng suất sản xuất hàng năm trên địa bàn tỉnh có những thay đổi bấtthường, giảm mạnh ở năm 2006 (giảm 19 tấn/ha) và lại tăng nhẹ trong năm 2007 (tăng

6 tấn/ha) Việc giảm của năng suất sản xuất năm 2006 là do điều kiện canh tác trongnăm này gặp nhiều khó khăn, sự diễn biến phức tạp của điều kiện tự nhiên như mưa,bão, lũ …

(Ngu n: ồ Sở Nông Nghi p ệ và Phát Tri n ể Nông Thôn H u ậ Giang)

diện tích canh tác mía trên địa bàn tỉnh Hậu Giang trong các năm 2005, 2006, 2007 có

sự tăng giảm không đều, diện tích canh tác tăng mạnh trong năm 2006 tăng 1.142 ha,khi sang năm 2007 thì diện tích trồng mía lại giảm 149 ha Chính sự biến động khôngngừng này của năng suất sản xuất và của diện tích canh tác nên đã dẫn đến sự thay đổicủa sản lượng sản xuất thu hoạch được trong năm

Mặc dù trong năm 2006 diện tích tăng lên nhanh nhưng năng suất sản xuất lại giảmxuống mạnh và sự tăng lên của diện tích nhỏ hơn sự giảm đi của năng suất sản xuấtnên sản lượng sản xuất trong năm giảm 177.687 tấn và chỉ đạt 1.347.018 tấn Sangnăm 2007, thì sản lượng sản xuất tăng lên và tăng 80.270 tấn Do sự giảm đi của diện

Trang 17

tích canh tác trong năm này nhỏ hơn sự tăng lên của năng suất sản xuất nên sản lượngsản xuất mới tăng lên.

Theo báo cáo sơ kết 02 năm thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp, kinh tếnông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang (2011 - 2012) của tỉnh HậuGiang, kết quả Hậu Giang đã thực hiện 14.282 ha diện tích trồng mía, tăng 9,3%, sảnlượng 1,2 triệu tấn, tăng 11,2% so năm 2010 (Chương trình: 15.000 ha, sản lượng 1,5 -1,6 triệu tấn) Xây dựng hệ thống đê bao vùng nguyên liệu mía 2.380/5.000 ha, baogồm: xã Hiệp Hưng (1.015 ha), Tân Phước Hưng (945 ha) và Hòa An (420 ha) Khốilượng thực hiện ước đạt 70% (Hiệp Hưng 90%, Tân Phước Hưng 60% và Hòa An 60%khối lượng)

Niên vụ mía năm 2013 trồng được 14.007,5 ha, vượt 1,5% so kế hoạch Cây khómtrồng 1.581 ha, đạt 93% kế hoạch, diện tích thu hoạch 215 ha, ước năng suất 18 tấn/ha.Cây ăn trái 28.008 ha, đạt 94,4% kế hoạch và tăng 1.899 ha so với cùng kỳ; sản lượngước 156.545 tấn, đạt 57% kế hoạch Diện tích gieo trồng rau màu 15.397 ha, đạt65,7% kế hoạch, đã thu hoạch 7.001,5 ha, năng suất bình quân ước: bắp 6,5 tấn/ha, rauđậu các loại 20 tấn/ha, đậu xanh 1,5 tấn/ha Sản lượng ước đạt 135.690 tấn, đạt 49,4%

kế hoạch

Tình hình dịch bệnh trên cây trồng xuất hiện nhiều và phân bố khắp các huyện, thị,thành, trên trà lúa Đông Xuân và Hè Thu 2013, sâu bệnh xuất hiện với mật số, tỷ lệgây hại từ nhẹ đến trung bình và có 249 ha nhiễm nặng Trên cây mía dịch hại xuấthiện phổ biến là sâu đục thân gây hại khá nặng Trên cây khóm có 300 (lượt) ha nhiễmnhẹ bệnh khô đầu lá Trên rau màu, tỷ lệ gây hại không đáng kể Trên cây nhãn tỷ lệbệnh từ 5-10%

Gia súc gia cầm phát triển tương đối ổn định, đàn heo: 114.303 con, đạt 87,4% kếhoạch; đàn trâu, bò: 3.405 con, đạt 93% kế hoạch, đàn gia cầm: 3.437.140 con, đạt86% kế hoạch, trong đó, đàn gà: 1.067.200 con; đàn vịt: 2.369.940 con Nhìn chung,chăn nuôi 6 tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn, dịch bệnh tiềm ẩn, phức tạp, giá thànhtăng trong khi giá bán thấp, nhất là giá heo hơi, nên chăn nuôi có xu hướng giảm mạnh

so với cùng kỳ Dịch cúm gia cầm xuất hiện trên đàn gà ở huyện Phụng Hiệp với tổngđàn nuôi 1.070 con, đã được khống chế và không lây lan ra diện rộng

Do đang vào vụ nuôi trồng thủy sản, nên tổng diện tích thả nuôi thủy sản thực hiện4.162 ha, giảm 19% so cùng kỳ, đạt 42% kế hoạch Trong đó diện tích nuôi thâm canh

và bán thâm canh là 416,97 ha, các đối tượng chủ lực như cá tra, rô đồng, thát lát Diệntích nuôi quảng canh cải tiến là 3.745 ha Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 22.681,5tấn, đạt 24,98% kế hoạch và bằng 88,8% so với cùng kỳ, chủ yếu là giảm sản lượng cátra

Chiến dịch Giao thông nông thôn - thủy lợi và trồng cây năm 2013 được các địaphương nỗ lực thực hiện Tổng kinh phí thực hiện công tác giao thông – thủy lợi –trồng cây năm 2013 thực hiện gần 364 tỷ đồng (vốn NSNN chiếm 72%, nhân dânđóng góp 28%) Triển khai xây dựng được 695.300 m2 đường, đạt 175% kế hoạch;

Trang 18

6.951 m2 cầu đạt 161% kế hoạch; thủy lợi đào đắp 623.257m3, khép kín 16.511 ha,đạt 81% kế hoạch, trồng được 90.000 cây xanh, đạt 60% kế hoạch

Các địa phương đã đăng ký thực hiện 5 cánh đồng mẫu lớn với tổng diện tích 1.357,73ha/1.506 hộ, tỉnh chọn 2 cánh đồng làm điểm chỉ đạo là cánh đồng xã Trường LongTây và xã Vị Thanh Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung, với quy mô 5.200ha, cócác loại hình sản xuất chủ lực là lúa chất lượng cao, thủy sản nước ngọt, chăn nuôi,nấm và chế phẩm vi sinh, cây ăn quả

Kinh tế hợp tác, hợp tác xã được củng cố, nâng chất, toàn tỉnh có 188 HTX, trong đótrong lĩnh vực nông nghiệp có 123 HTX, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có 22HTX; thương mại dịch vụ có 5 HTX; xây dựng có 32 HTX; vận tải có 6 HTX 01 liênhiệp HTX và 5.621 tổ, nhóm, câu lạc bộ Riêng lĩnh vực nông nghiệp có 72,8% HTXhoạt động khá trở lên

- Về sản xuất công nghiệp – xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 94) thực hiện 2.505 tỷ đồng, tăng 7,25% sovới cùng kỳ và đạt 44% kế hoạch Tính theo giá thực tế thực hiện 7.394 tỷ đồng, tăng10% so với cùng kỳ và đạt 42,8% kế hoạch Trong đó các công ty cổ phần có vốn Nhànước 1.994 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ; công nghiệp ngoài nhà nước 5.250 tỷđồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 149 tỷ đồng,tăng 19,6% so với cùng kỳ

Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện toàn tỉnh ước đạt 97,85%, tăng 0,33% so với cùng kỳ; trong

đó khu vực nông thôn đạt 94,5%; kết quả tiết kiệm điện ước đạt 4,9 triệu kWh, đạt56,3% kế hoạch Đã hoàn thành công tác bàn giao lưới điện của 06 hợp tác xã điệnnông thôn cho ngành điện quản lý, với tổng số 16.594 khách hàng

Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ, giai đoạn 2, đã bốtrí 1.415/3.707 hộ dân vào sinh sống, đạt 38,2% chương trình, đã xây dựng 448/3.707căn đạt 12,1%

- Thương mại - dịch vụ, xuất nhập khẩu

Khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng khá, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch

vụ thực hiện 12.533 tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng, đạt 46,4% kế hoạch Trong đó,ngành thương mại đạt 8.572 tỷ đồng, tăng 6,4% so với cùng kỳ, đạt 41,8% kế hoạch;ngành lưu trú và ăn uống đạt 2.522 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ, đạt 63% kếhoạch; ngành dịch vụ đạt 1.439 tỷ đồng, tăng 8,3% so với cùng kỳ, đạt 57,7% kếhoạch

Đã khởi công xây dựng siêu thị Co.op mart Ngã Bảy; phối hợp với nhà đầu tư khảo sátđầu tư xây dựng chợ đêm Long Mỹ, chợ Trà Lồng, huyện Long Mỹ, đến nay trên địabàn tỉnh Hậu Giang có 01 siêu thị loại II và 70 chợ

Trang 19

Dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách tiếp tục phát triển, chất lượng phục vụ từngbước được nâng lên, đã vận chuyển 43,05 triệu hành khách, tăng 11,4% so cùng kỳ.Sản lượng vận tải hàng hóa được 3,8 triệu tấn, tăng 12,5% so cùng kỳ

Dịch vụ ngân hàng tiếp tục phát triển phục vụ cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, bình ổnthị trường, ổn định sản xuất Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trênđịa bàn 5.086 tỷ đồng, tăng 24,2% so cùng kỳ (KH 18 – 20%), tăng 3,96% so với cuốinăm 2012, bằng 39,3% tổng dư nợ cho vay Tổng dư nợ tín dụng là 12.945 tỷ đồng,tăng 21,5% so cùng kỳ (KH 17 – 18%), tăng 5,77% so với cuối năm 2012

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ 102,71 triệu USD,tăng 22,1% so cùng kỳ, đạt 40,28% kế hoạch Trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa

và dịch vụ thu ngoại tệ đạt 86,86 triệu USD, tăng 18,65% so cùng kỳ, đạt 37,77% kếhoạch Kim ngạch nhập khẩu đạt 15,849 triệu USD, tăng 45,4% so cùng kỳ, đạt 63,4%

kế hoạch

- Đầu tư phát triển và xây dựng cơ bản

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn 6 tháng đầu năm huy động khoảng 6.839 tỷđồng, tăng 9,4% so cùng kỳ, đạt 54,7% so với kế hoạch; trong đó vốn đầu tư từ ngânsách do địa phương quản lý 1.710 tỷ đồng, tăng 7,8% so cùng kỳ, chiếm 25% tổng vốnđầu tư; vốn đầu tư của doanh nghiệp có vốn Nhà nước 909 tỷ đồng, tăng 4,2% so cùng

kỳ, chiếm 13,3% tổng vốn đầu tư; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 25 tỷ đồng, tăng7,4% so cùng kỳ, chiếm 0,37% tổng vốn đầu tư; vốn ODA 30 tỷ đồng, tăng 8% socùng kỳ, chiếm tỷ trọng 0,43% tổng vốn đầu tư; vốn huy động trong dân, kinh tế ngoàinhà nước và vốn trung ương đầu tư trên địa bàn 4.165 tỷ, tăng 10,7% so cùng kỳ,chiếm 60,9% tổng vốn đầu tư

Tổng nguồn vốn xây dựng cơ bản của nhà nước giao đầu năm là 2.396 tỷ đồng, đếnnay được bổ sung tăng lên 2.700,2 tỷ đồng, sau khi chi trả nợ vay Kho bạc, Ngânhàng, trích quỹ phát triển đất và kinh phí đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử đất,nguồn vốn thực tế phân bổ là 2.067,7 tỷ đồng

- Phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ

Chất lượng của học sinh ở các cấp học phổ thông năm học 2012-2013, so với năm họctrước số học sinh khá, giỏi được duy trì ổn định

Công tác chống mù chữ và phổ cập giáo dục được quan tâm, số người biết chữ trong

độ tuổi từ 15 đến 35 đạt 98,95% tăng 0,09% so với cùng kỳ; phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi đạt 89,47%, tăng 1,15% so với cùng kỳ; phổ cập giáo dục trung học cơ sởđạt 87,66%, tăng 1,32% so với cùng kỳ; phổ cập giáo dục trung học phổ thông đạt50,12%, tăng 4,35% so với cùng kỳ Tình hình học sinh bỏ học được cải thiện, tổng sốhọc sinh bỏ học là 669 em, chiếm tỷ lệ 0,53%, giảm 0,64% so với cùng kỳ (KH dưới1,1%)

2.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN PHỤNG HIỆP-TỈNH HẬU GIANG

Trang 20

2.2.1 Điều kiện về tự nhiên

* Vị trí địa lí

Phụng Hiệp là một huyện vùng nông nghiệp của tỉnh Hậu Giang, trung tâm huyệnPhụng Hiệp nằm trên tỉnh lộ 927 cách trung tâm tỉnh Hậu Giang 37 Km có diện tích483,66 Km2 Huyện Phụng Hiệp nằm ở phía Đông của tỉnh Hậu Giang, địa hình chạytheo sông, kênh, rạch và các đường Quốc lộ chính như: đường tỉnh lộ 927, đường 928,Quốc lộ 61 tiếp giáp với các huyện, tỉnh khác như sau: Phía Bắc giáp huyện ChâuThành A, tỉnh Hậu Giang; Phía Đông giáp huyện Châu Thành và thị xã Ngã Bảy, tỉnhHậu Giang; Phía Nam giáp huyện Châu Thành và huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng; PhíaTây giáp huyện Vị Thủy và huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Huyện chia thành 15đơn vị hành chính gồm 03 thị trấn: Cây Dương, Kinh Cùng, Búng Tàu và 12 xã: PhụngHiệp, Long Thạnh, Thạnh Hòa, Tân Bình, Hòa An, Hiệp Hưng, Tân Phước Hưng, Hòa

Mỹ, Phương Bình, Phương Phú, Tân Long và Bình Thành

Có vị thế nằm gần với sông Hậu và nhiều kênh trục chạy qua, đồng thời quy mô đấtđai và dân số của huyện lớn là tiềm năng và lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất

là trong lĩnh vực nông nghiệp

Lượng mưa bình quân năm đạt 1.635 mm và phân hóa sâu sắc theo mùa Mùa mưa bắtđầu từ tháng 4 đến tháng 11 với lượng mưa chiếm 90% tổng lượng mưa trong năm.Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3 với lượng mưa chỉ chiếm 10% tổng lượngmưa trong năm

Trang 21

* Sông ngòi

Phụng Hiệp có hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều con sông lớn nhỏ Sông Hậu lànguồn cung cấp nước chủ yếu trên địa bàn huyện với nguồn nước dồi dào quanh nămtạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế -xã hội của huyện đặc biệt là tronglĩnh vực nông nghiệp

2.2.2 Điều kiện về kinh tế, xã hội

- Về nông nghiệp

Nông nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện, những năm qua, ngành nông nghiệp huyệnchuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên cơ sở quy hoạch phát triển sản xuất hợp lý,phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái của từng vùng Năm 2012, toàn huyệngieo trồng được 52.035 ha lúa (3 vụ), sản lượng 295.543 tấn Nhiều vùng chuyên canhlúa, mía, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao đã đóng góptích cực vào việc nâng cao mức sống người dân, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo

Ngoài lúa và cây ăn trái, huyện Phụng Hiệp còn chú trọng phát triển cây mía, là vùngnguyên liệu mía của tỉnh Hậu Giang Niên vụ mía năm 2012, huyện Phụng Hiệp trồngđược 9.705 ha, sản lượng 823.836 tấn, giá bán từ 780 – 960 đ/kg; gần trung tâm huyệnPhụng Hiệp là Công ty Mía đường - cồn Long Mỹ Phát và nhà máy đường PhụngHiệp, đó là điều kiện thuận lợi để tiêu thụ mía trên địa bàn huyện Bên cạnh thế mạnhcây lúa và cây mía truyền thống, huyện Phụng Hiệp còn tận dụng lợi thế tự nhiên đểđẩy mạnh nuôi trồng thủy sản Phong trào chăn nuôi thủy sản ở huyện Phụng Hiệp nở

rộ trong vài năm gần đây Bước đầu chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, chủyếu trong ao, vèo, lồng ven các tuyến kênh, rạch Mỗi khi mùa nước về, thay vì sảnxuất lúa vụ 3 kém hiệu quả, người dân chuyển sang nuôi cá dưới ruộng Tuy nhiên, do quy mô các mô hình sản xuất nhỏ, chỉ góp phần cải thiện cuộc sống chonhiều hộ dân nông thôn, chứ chưa thể khai thác hết tiềm năng, thế mạnh nuôi trồngthủy sản tại địa phương Về thủy sản năm 2012, toàn huyện thả nuôi 3.999,05 ha cácác loại với sản lượng 30.694,5 tấn Dựa vào lợi thế tự nhiên của 2 xã Hiệp Hưng vàTân Phước Hưng có các tuyến kênh lớn như: kênh Quản lộ Phụng Hiệp, Lái Hiếu, CâyDương Huyện Phụng Hiệp đã quy hoạch thành công vùng nuôi thủy sản có giá trịthương phẩm của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và phục vụ cho xuất khẩu

Trang 22

- Về y tế

Do kinh tế phát triển nên huyện đã có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho trường học,trạm y tế, giao thông, điện, nước sạch, vệ sinh môi trường… làm cho bộ mặt nông thôn

có nhiều đổi mới

Trên địa bàn huyện có 01 Bệnh viện đa khoa, 14 trạm y tế xã thị trấn Công tác y tế,nước sạch, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhândân được thực hiện khá tốt, thường xuyên tổ chức khám bệnh miễn phí cho bệnh nhânnghèo Công tác dân số, gia đình và trẻ em được các ngành, các cấp quan tâm phối hợpthực hiện Các chỉ tiêu về kế hoạch hóa gia đình hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch

2.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT MÍA ĐƯỜNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

2.3.1 Tình hình sản xuất mía đường tại Brazil

Theo dữ liệu của Unica, sản lượng đường khu vực Trung Nam Brazil, quốc gia sản xuấtđường lớn nhất thế giới, tăng 14% trong 2 tuần cuối tháng 8 năm 2012 sau khi thời tiếtkhô giúp tăng tốc thu hoạch Các nhà máy khu vực Trung Nam, nơi sản xuất gần 1/5đường của Thế giới, đã sản xuất 334 triệu tấn đường từ thời điểm 16 đến 31/8/2012, tăng

so với mức 2,97 triệu tấn của cùng kỳ năm trước Sản lượng ethanol tăng 10% đạt 1,92 tỷlít Các nhà máy đã ép khoảng 46,5 triệu tấn mía, tăng so với mức 40,7 triệu tấn của cùng

kỳ năm trước Khoảng 52% mía được chế biến thành đường, tỷ lệ này của năm trước là51%, phần còn lại được chế biến thành ethanol Theo dự báo của Chủ tịch Unica, ÔngPedro Parente, sản lượng mía niên vụ 2012-2013 của Brazil, mùa vụ được bắt đầu vào1/4/2012, sẽ ít nhất đạt 509 triệu tấn, tăng so mùa vụ trước là 493,2 triệu tấn, sản lượngđường sẽ tăng 5,8% và đạt mức 33,1 triệu tấn

Trang 23

2.3.2 Tình hình sản xuất mía đường tại Cuba

Năm 2012, chính phủ Cuba đã cho phép tập đoàn mía đường nhà nước Azcuba thiết lậpmột dự án liên doanh với vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng một nhà máy điện sinh họctại nhà máy sản xuất đường ở Ciro Redondo Theo lời của Phó chủ tịch Azcuba ôngWilson Morell cho biết việc xây dựng dự án này nhằm đa dạng hóa ngành công nghiệpmía đường để đạt được những mục tiêu kinh tế đã đề ra và quy tụ được nhiều kỹ thuậtviên có tay nghề Nhà máy điện sinh học mới sẽ đóng góp nguồn năng lượng điện đáng

kể cho mạng lưới điện quốc gia của Cuba, đây sẽ là bước đầu tiên cho việc thiết lập các

cơ sở tương tự khác để sử dụng hiệu quả hơn tiềm năng dồi dào của cây mía Chủ tịchCuba Raul Castro đã nỗ lực vực lại ngành công nghiệp mía đường bằng việc chú trọngvào công nghệ và phương pháp sản xuất mới nhằm tăng hiệu quả quản lý và tạo ra cácmặt hàng xuất khẩu có khả năng bù đắp lại các chi phí

Mùa sản xuất mía đường 2011-2012 là mùa đầu tiên sau khi Chủ tịch Castro thực hiệncác cải cách để hiện đại hóa ngành công nghiệp mía đường trong đó có việc giải thể BộMía đường và thay thế bằng tập đoàn mía đường Azcuba có chi nhánh đại diện tại cáctỉnh của Cuba Azcuba bao gồm 13 công ty mía đường, 56 nhà máy sản xuất, hai việnnghiên cứu và một trung tâm kiểm định chất lượng

2.3.3 Tình hình sản xuất mía đường tại Australia

Vụ thu hoạch mía năm 2012 đã sắp kết thúc với sản lượng đạt được khoảng 30,4 triệutấn, cao hơn cùng kỳ các năm trước là 27,5 và 27,9 triệu tấn tương ứng các năm 2010

và 2011 Sản xuất bị sụt giảm một phần do tác động bởi thời tiết và là một vụ mùa ẩmướt nhất được ghi nhận Hiệp hội người trồng mía của Australia (CaneGrowers) tintưởng cho sự phục hồi đáng kể trong niên vụ 2013 Dự báo sản lượng mía 2013 có thểđạt 31-32 triệu tấn Steve Greenwood, Giám đốc điều hành của CaneGrowers nói:

“Người nông dân đang sử dụng công nghệ mới nhất và các kết quả nghiên cứu để tăngnăng suất, lợi nhuận và công tác quản lý của họ Mía là mặt hàng quốc tế và ngườitrồng mía ở Australia đang trước đầu sóng ngọn gió của sự thay đổi phải đứng vữngtrong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt” Thị phần chế biến đường trong nướccũng được quốc tế hóa qua việc các nhà đầu tư nước ngoài chiếm đa số Các chủ sởhữu người Australia chỉ chiếm 28% thị phần chế biến Singapore và ThaiLand sở hữu3/5 thị phần sản xuất đường của Australia

Trang 24

Hình 2.1: Quyền sở hữu của các nhà máy đường ở Australia 2012 - dựa trên sản lượng

ép và % quyền sở hữu theo quốc gia năm 2010

Mía đường là ngành công nghiệp nông thôn lớn nhất và quan trọng nhất mang tínhbiểu tượng của Australia Với khả năng sản xuất khoảng 5 triệu tấn đường mỗi năm,đem lại doanh thu từ 1,7 đến 2 tỷ đô la Mỹ Là nước có chi phí sản xuất đường thấp,Australia xuất khẩu 80% đường thô và là nước xuất khẩu lớn thứ ba sau Brazil và TháiLan Với sản lượng 30,4 triệu tấn mía năm 2012 trên tổng diện tích trồng mía khoảng366.000 ha đã chế biến được 4,45 triệu tấn đường Như vậy năng suất mía bình quân

82 tấn/ha và tỷ lệ mía: đường khoảng 6,9

Khoảng 20% mía thu hoạch bằng cách đốt lá và 80% vẫn thu hoạch để lá Mía sau thuhoạch chuyển ngay về nhà máy trong vòng 16 giờ sau thu hoạch

Với 80% đường sản xuất phục vụ xuất khẩu, ngành công nghiệp đường tập trung vàokhả năng cạnh tranh quốc tế Mía đường của Australia thường được ép thành đườngthô và bán trực tiếp cho các nhà máy tinh luyện Chính phủ không trợ cấp hay hỗ trợgiá trong nước Đường của Australia được quốc tế công nhận là chất lượng cao vàngành công nghiệp nổi tiếng về độ tin cậy và dịch vụ cao cấp Australia có thể dự trữhai triệu tấn đường trong mạng lưới thiết bị đầu cuối giúp cung cấp đường cho kháchhàng dài hạn Khách hàng nhập khẩu chủ yếu đường của Australia là Korea,Indonesia, Malaysia, Japan, New Zealand và US

2.4 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẾN SẢN XUẤT MÍA

2.4.1 Tại Thái Lan

Thái Lan là một trong những quốc gia xuất khẩu đường hàng đầu thế giới Năm 2011,Thái Lan đứng hàng thứ 2 sau Braxin trong xuất khẩu đường Thị trường xuất khẩuđường chủ yếu là Châu Á chiếm tỷ lệ 90%, trong đó các nước ASEAN nhập khẩuđường Thái Lan theo đường chính nghạch chiếm bình quân 45.4% Trong chiến lượcphát triển nghành mía đường Thái Lan có những chính sách phát triển làm cho nghànhmía đường liên tục xuất khẩu giữ vị trí cao trên thế giới Trong đó có cơ chế liên kếtsản xuất – tiêu thụ mía đường Thái Lan Trong cơ chế này Thái Lan tập trung thựchiện ba cơ chế chính là cơ chế hình thành giá, phân bổ lợi ích, kiểm soát chữ đường và

Trang 25

trọng lượng mía; Cơ chế phân bổ hạn ngạch và Cơ chế liên kết nông dân trồng mía,các nhà máy chế biến đường và hình thành nhóm lợi ích.

Với cơ chế hình thành giá, phân bổ lợi ích, kiểm soát chữ đường và trọng lượng míathì ngay từ niên vụ 1982-1983 giá mía được xác định dựa trên hệ thống chia sẻ thunhập 70:30 (70/30 revenue sharing system), trước khi Chính phủ ban hành Đạo luật vềđường vào mía năm 1984, trao quyền cho chính phủ trong việc ban hành và điều chỉnhcác quy định về thương lượng giữa người trồng mía và các nhà máy Theo Đạo luậtnày, Chính phủ đóng vai trò người điều tiết và trung gian trên thị trường đường TháiLan Quy tắc thương lượng giữa người trồng mía và các nhà máy chế biến được thiếtlập bởi cơ quan nhà nước Hệ thống 70:30 là trong đó 70% của tổng thu nhập ròng từbán đường và mật rỉ sẽ thuộc về người trồng mía và 30% còn lại là của nhà máy Năm

1992, Thái Lan bắt đầu áp dụng chính sách định giá dựa trên chất lượng và độ ngọt đobởi chữ đường (CCS) Hệ thống này nhằm mục đích kích thích cải tiến năng suất Giátiêu chuẩn dựa trên CCS do chính phủ công bố Giá này là giá trả cho mía 10 CCS.Mỗi CCS tăng thêm sẽ nhận được thêm một khoản thanh toán bằng tỷ lệ 6% của giátiêu chuẩn Mía với hàm lượng đường ít hơn 10 CCS sẽ bị trừ ở mức tương tự Trongthực tế, người trồng được luôn luôn được trả ở mức giá mía tiêu chuẩn như là mức tốithiểu, bất kể chất lượng mía của họ Hệ thống chia sẻ thu nhập 70/30 đã mang lại lợiích cho cả người trồng mía và cho nhà máy chế biến đường Hệ thống này giúp cho cảngười trồng mía và các nhà máy đường tăng giá và ổn định thu nhập, điều quan trọng

là giảm sự biến động của giá của một ngành hết sức nhạy cảm với giá

Mặt khác cơ chế Cơ chế phân bổ hạn ngạch Để điều tiết thị trường trong nước và xuấtkhẩu, Chính phủ Thái Lan đã triển khai "Chính sách hạn ngạch" (Quota policy) Mỗimùa, Chính phủ ước tính sản xuất nhu cầu trong nước và cam kết xuất khẩu; sau đóphân bổ nguồn cung đường theo 3 hạn ngạch A, B và C Theo Đạo Luật mía và đường(1984), hàng năm hạn ngạch xuất khẩu được xác định bởi Hội đồng mía và đường.Hạn ngạch xuất khẩu bằng ước tính tổng sản lượng trừ lượng tiêu thụ trong nước Mụctiêu là để đảm bảo rằng nhu cầu trong nước và thặng dư có thể được xuất khẩu Hệthống phân bổ hạn ngạch đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển ngànhcông nghiệp mía đường Thái Lan Thứ nhất là bắt buộc nông dân và các nhà máyđường đảm bảo cung ứng trong nước do chính phủ điều hành giá mía và giá đường

“Ngạch” thứ hai là Thái Lan ký hợp đồng cung ứng dài hạn cho các nước trên thế giới

do các công ty tư nhân thực hiện dưới sự kiểm soát của chính phủ để đảm bảo thươngmại giữa Thái Lan và các nước trong hợp đồng dài hạn Cuối cùng là lượng đườngthặng dư tương đối lớn, các nhà máy có quyền xuất khẩu dưới bất kỳ hình thức nào.Cuối cùng là cơ chế liên kết nông dân trồng mía, các nhà máy chế biến đường và hìnhthành nhóm lợi ích Sản xuất theo hợp đồng (contract farming) rất phổ biến ở Thái Lanbởi vì hầu hết các nhà máy chế biến đường không tự trồng mía mà ký kết hợp đồng vớinông dân trồng mía Cũng giống như nhiều quốc gia trên thế giới mối quan hệ giữa cácnhà máy chế biến đường và người trồng mía không phải luôn luôn êm đẹp Sự bấtđồng thường xuyên liên quan đến giá mía Với cơ chế điều hành bởi Hội đồng mía

Trang 26

đường và đường và các Ủy ban này đã hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa quyền lựcchính trị và kinh tế Việc liên kết này đã hình thành các chính sách bao gồm hạn chế sựxâm nhập của nước ngoài, trợ cấp sản xuất, chính sách tín dụng có lợi cho ngành míađường, ban hành giá cố định đôi khi giá này cao giá thế giới và tham gia cùng chínhquyền vận động hành lang đối với nước ngoài hoặc tham gia cùng chính quyền phẩn

bổ hạn ngạch

Tóm lại, cơ chế liên kết sản xuất – tiêu thụ mía đường giữa những người trồng mía,các doanh nghiệp chế biến đường ở Thái Lan khá chặt chẽ và tạo sự đồng thuận cao.Điều này đã giúp cho ngành mía đường Thái Lan phát triển mạnh

2.4.2 Tại Việt Nam

Ngành mía đường Việt Nam cũng đang chịu tác động lớn bởi quan hệ cung cầu và giáđường của thị trường thế giới Phần lớn trong số 60 quốc gia sản xuất đường lớn trênthế giới đều có chính sách trợ giá đường nội tiêu thông qua thuế nhập khẩu cao vàchính sách hạn ngạch thuế quan Với Việt Nam, những bảo hộ này không có nhiều, chỉriêng có hạn ngạch và thuế nhập khẩu thì theo lộ trình hội nhập AFTA thuế suất nhậpkhẩu đường sẽ giảm dần từ 30% năm 2007 xuống còn 5% năm 2010 Với việc gianhập WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa nhập khẩu trong hạn ngạch là 25% với đườngthô, ngoài hạn ngạch là 65%, khối lượng nhập khẩu trong hạn ngạch còn tăng 5% mỗinăm

Khả năng nhập khẩu đường vào nước ta, theo lộ trình hội nhập và cam kếtWTO/AFTA, Việt Nam phải mở cửa cho thị trường đường nhưng được phép duy trìhạn ngạch và thuế quan Nếu đường nhập khẩu vào Việt Nam không theo hạn ngạch,

sẽ phải chịu thuế 80 – 85%, điều này có tác dụng bảo hộ đường trong nước, tuy nhiênhiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đang đề nghị được cấp hạn ngạch nhập đường Mộtthực tế dễ thấy là giá đường nhập khẩu từ Thái Lan trong hạn ngạch thấp hơn giá bán

sỉ đường nội địa khoảng 10% - 15% Nếu doanh nghiệp thực phẩm nhận được hạnngạch thì doanh nghiệp đó sẽ được lợi về giá hơn giá mua trong nước Nếu các công tyđường có hạn ngạch, công ty đó sẽ nhập về và bán với giá bằng giá trong nước, phầnchênh lệch 10-15% là khoản lợi nhuận từ kinh doanh đường Do vậy, tình trạng doanhnghiệp gửi đơn lên Bộ Công thương xin nhập khẩu đường mà nguyên nhân chủ yếuchính là chênh lệch giá cả

Nông dân và các nhà máy đường sẽ gặp nhiều khó khăn lớn trong thời gian tới, bởimức thuế nhập khẩu đường trong khối ASEAN giảm còn từ 0% - 5% khi cộng đồngkinh tế ASEAN ra đời (hiện tại là 5% - 15%) Vì vậy, Bộ Công thương và Bộ nôngNghiệp và Phát triển Nông thôn cần đàm phán kèo dài hạn ngạch thuế quan đến 2020hoặc ít nhất là áp dụng phương pháp linh hoạt đến hết năm 2018

Thời kỳ mở cửa nước ta chịu rất nhiều ảnh hường bởi sự tác động của giá đường thịtrường thế giới, cho đến nay, không thực sự phản ánh quan hệ cân bằng cung cầu màchịu tác động bởi chính sách trợ cấp sản xuất trực tiếp hay gián tiếp của nhiều nước,nhất là các nước EU trong 40 năm qua luôn duy trì giá đường cao gấp 4 lần so với giá

Trang 27

đường trung bình trên thế giới (tháng 8/2005 là 631,9 Euro, tương tương 764,1 USD)

đã bóp méo thị trường đường của các nước đang phát triển Việt Nam cũng không nằmngoài chịu sự tác động này

2.5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH

2.5.1 Khái quát chung về chính sách

2.5.1.1 Khái niệm về chính sách

Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận khác nhau

về chính sách xã hội, cụ thể như sau:

Theo từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mộtmục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”.Theo tác giải Vũ Cao Đàm (2011) “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chếhóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãimột hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thựchiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó

có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường.Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyềnchọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến ngườidân”

2.5.1.2 Khái niệm về chính sách xã hội

“Cái xã hội” dùng trong chính sách xã hội là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp Nó đangđược nhiều nhà nghiên cứu thống nhất hiểu như mối quan hệ của con người, của cáccộng đồng người thể hiện trên nhiều mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, vănhóa, tư tưởng

Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận khác nhau

về chính sách xã hội, cụ thể như sau:

+ Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối, chủ trương để giảiquyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phùhợp với bản chất chế độ xã hội-chính trị ( ) phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộngđồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vàocon người và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữa con ngườivới xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng vềđời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân (Bùi Đình Thanh, 2004b, tr 290).+ Phạm Hữu Nghị “Hiểu theo ý nghĩa khái quát nhất, chính sách xã hội là hệ thống cácquan điểm, cơ chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổchức thực hiện trong thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn

đề xã hội đặt ra trước xã hội” (Phạm Hữu Nghị, 2001)

Trang 28

+ Theo Phạm Xuân Nam “Chính sách xã hội là sự thể chế hóa đường lối, chủ trươngcủa một nhà nước (hay một cộng đồng) nhằm trực tiếp tác động vào con người - thànhviên xã hội, điều chỉnh các quan hệ lợi ích giữa họ, hướng hành động của họ tới cácmục tiêu mà nhà nước (hay cộng đồng) mong muốn” (Phạm Xuân Nam, 1994)

Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chính sách xãhội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:

+ Thứ nhất, chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo Ở nước ta làĐảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội

+ Thứ hai, nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo

và thể chế nào?

+ Thứ ba, các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt)

+ Thứ tư, những mục tiêu nhằm đạt tới

Như vậy, có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện phápcủa Nhà nước, của các đảng phái và những tổ chức chính trị khác, nhằm thoả mãn nhucầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước vềkinh tế, văn hoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng phápluật những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

2.5.1.3 Đặc trưng của chính sách xã hội

Chính sách xã hội bao giờ cũng liên quan trực tiếp đến con người, bao trùm mọi mặtcủa cuộc sống con người, lấy con người và các nhóm người làm đối tượng tác động đểhoàn thiện và phát triển con người, hình thành các chuẩn mực xã hội và giá trị xã hội Chính sách xã hội mang tính xã hội, nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu cơ bản của nó làhiệu quả xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho mọi ngườisống trong nhân ái, bình đẳng và công bằng

Chính sách xã hội của Nhà nước thể hiện trách nhiệm xã hội cao, tạo điều kiện, cơ hộinhư nhau để mọi người phát triển và hòa nhập vào cộng đồng Sự đầu tư của nhà nước,

sự trợ giúp của cộng đồng không phải là sự bao cấp hay cứu tế xã hội theo kiểu ban

ơn, mà là trách nhiệm của toàn xã hội, là sự đầu tư cho phát triển

Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảođảm công bằng xã hội Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng các mục tiêu, đốitượng và hiệu quả phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để chính sách đivào cuộc sống Chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các chương trình, dự

án có mục tiêu, hình thành các quỹ xã hội, phát triển hệ thống sự nghiệp hoặc dịch vụ

xã hội, tăng cường lực lượng cán sự xã hội

Chính sách xã hội còn có đặt trưng quan trọng là tính kế thừa lịch sử Ở Việt Nam, mộtchính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một chính sách mang bản sắcdân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được tryền thống đạo đức, nhân văn sâu sắc của

Trang 29

dân tộc ta Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu khó, tính cộng đồng cao, đùm bọclẫn nhau, uống nước nhớ nguồn…

2.5.1.4 Phân loại chính sách xã hội

Có thể phân chia chính sách xã hội theo những cách khác nhau, về cơ bản có hai loạinhư sau:

* Hệ thống các chính sách tác động vào các nhóm xã hội đặc thù:

+ Theo tuổi tác: có chính sách xã hội với người già, trẻ em, thanh niên;

+ Theo giới tính: có chính sách đối với phụ nữ;

+ Theo nghề nghiệp: có chính sách đối với thợ mỏ, giáo viên, công nhân, thợ thủcông…

+ Theo sắc tộc: có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài;

+ Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành, Phậtgiáo, Cao đài, Hòa hảo…

+ Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học vấncao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấn thấp

* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:

Đây là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người, giữacác nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:

+ Chính sách dân số: có tính quốc gia và tính toàn cầu vì mức tăng trưởng dân số, cơcấu và phân bố của dân cư có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và mức sống của nhândân Do vậy, chính sách xã hội phải tác động vào cả ba quá trình này

+ Chính sách việc làm: liên quan và quyết định đời sống của tất cả dân cư, là mộttrong những yếu tố cơ bản tạo ra ổn định hay bất ổn định của xã hội Thông thường,nếu tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4 - 5% thì được coi là xã hội ổn định; từ 6 - 9% có nguy cơkhủng hoảng; nếu trên 10% thì xã hội đang có nhiều cấp bách cần phải giải quyết Ví

dụ chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm, chính sách dạy nghề, chính sách đưalao động đi làm việc ở nước ngoài…

+ Chính sách bảo hộ lao động: nhằm đề phòng và giải quyết bớt hậu quả rủi ro do tainạn xảy ra, bao gồm các chính sách bảo đảm an toàn như giảm độc hại, giảm tiếng ồn,chống nóng,… Các chính sách đối với người lao động bị mắc các bệnh nghề nghiệp, bịthương tật hay bị chết

+ Chính sách tiền lương: nhằm đảm bảo mức thu nhập hợp lý và bảo đảm nguyên tắcphân phối theo lao động Việc quy định mức lương tối thiểu như thế nào để vừa có thểtái sản xuất sức lao động, vừa bảo đảm cho người lao động sống bằng nghề nghiệp củamình, đồng thời có sự đãi ngộ thỏa đáng đối với những người có chuyên môn giỏi, taynghề cao Ngoài ra, cần có chính sách hợp lý để điều tiết thu nhập, không để mức thu

Trang 30

nhập chênh lệch quá lớn nếu chỉ dựa vào cơ may nghề nghiệp hay địa vị xã hội (Chínhsách thuế đối với những người có thu nhập cao)

+ Chính sách phúc lợi xã hội: là phần bổ sung quan trọng nhằm nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của người dân, đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội Các chínhsách này tạo ra những điều kiện chung, thuận lợi cho việc nghĩ ngơi, vui chơi, giải tríbằng hoạt động văn hóa, thể thao của các tầng lớp nhân dân (các khu công viên, các tổhợp văn hóa thể thao, nhà trẻ, mẫu giáo, các nhà an dưỡng…)

+ Chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm đảm bảo sự công bằng thu nhập cho người laođộng và gia đình họ trong các trường hợp người lao động bị đau ốm, thai sản, hết tuổilao động, bị chết hoặc bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi

ro hoặc các khó khăn khác Ví dụ bảo hiểm lao động, bảo hiểm nghề nghiệp; bảo hiểmkinh doanh; bảo hiểm y tế; bảo hiểm tài sản và phương tiện…

+ Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công: là truyền thống và đạo lý “uốngnước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam

+ Chính sách cứu trợ xã hội: hướng vào việc trợ giúp những người gặp phải rủi ro, bấthạnh, thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là người già cô đơn, trẻ mồ côi, người khuyếttật, người bị bệnh tâm thần, người gặp phải thiên tai bất trắc Mục đích của chính sáchnày là giúp họ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, giữ được mức sinh hoạt tối thiểucần thiết để vượt qua những khó khăn

+ Chính sách giáo dục: Giáo dục là ngành đặc biệt cung cấp nguồn nhân lực cho sựphát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ hiệnnay Vì vậy, chính sách xã hội không thể không ưu tiên cho giáo dục

2.5.2 Khái niệm về áp dụng chính sách và tác động của chính sách

Dựa trên những phân tích về chính sách và những đặc trưng của nó chúng ta có thểhiểu việc áp dụng chính sách là việc đưa chính sách được thực thi trên thực tế nhằmđạt được những hiệu quả mà mục đích của chính sách đó đặt ra Đó là việc đưa đườnglối chủ trương của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống bằng những cách thức tiến hành

cụ thể, tác động đến nhóm chủ thể được điều chỉnh nhằm kiểm soát, điều tiết và giảiquyết các vấn đề xã hội đặt ra góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội

Theo Nguyễn Minh Thuyết thì tác động của chính sách là sự ảnh hưởng của chính sáchđối với các đối tượng khác nhau trong xã hội và đối với sự phát triển của xã hội nóichung

2.6 VỊ TRÍ CỦA NGHỀ TRỒNG MÍA

2.6.1 Vị trí của nghề mía trong chính sách của Nhà nước

Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây trồng, vậtnuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình Ngày xưa cây mía tạo ra thunhập cho người nông dân với các sản phẩm mật mía, đường mía thì ngày nay, cây mía

và ngành mía đường tại Việt Nam được xác định không chỉ là ngành kinh tế với mang

Trang 31

lại lợi nhuận mà còn là một ngành kinh tế xã hội do nó có ảnh hưởng quan trọng đếnđời sống của hàng nghìn người nông dân Trong những năm qua Chính Phủ đã triểnkhai nhiều chương trình, quyết định liên quan đến phát triển mía đường như “Chươngtrình quốc gia 1 triệu tấn đường”, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về việc tiêu thụ nôngsản thông qua hợp đồng Quyết định 28/2004/QĐ-TTg về việc tổ chức lại và thực hiệnmột số giải pháp xử lý khó khăn đối với các nhà máy, công ty đường và người trồngmía Ngoài ra, Chính Phủ ban hành quyết định số 26/2007/QĐ-TTg phê duyệt quyhoạch phát triển mía đường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với tổng diệntích trồng mía 300.000 ha; sản lượng 19,5 triệu tấn/năm Các chương trình quyết địnhnhằm tạo việc làm cho lao động nông nghiệp và lao động công nghiệp trong các nhàmáy đường, các nhà máy cơ khí đường, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các vùngnông thôn, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân ở vùng nghèo, vùng sâu,vùng xa Qua đó thấy được vai trò của cây mía đối với người nông dân và nền kinh tếViệt Nam ngày một quan trọng.

Trang 32

2.6.2 Vai trò của mía đối với việc phát triển kinh tế nông hộ ở một số địa phương

Theo kết quả nghiên cứu gần đây trên một số địa phương của nước ta điển hình tạiNghệ An cho thấy trên mảnh đất mà người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp thìngoài thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp thì trồng mía nguyên liệu là giải pháp xóa đóigiảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân

Qua điều tra cho thấy, phần lớn thu nhập của các hộ là từ trồng trọt và chăn nuôi, trong

đó trồng trọt đóng vai trò quan trọng Cụ thể được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.2: Cơ cấu thu nhập của các hộ điều tra (tính bình quân/hộ)

Chỉ tiêu

Giá trị(1000đ)

Cơ Cấu(%)

Giá trị(1000đ)

Cơ Cấu(%)

Giá trị(1000đ)

CơCấu(%)

Diện tích đất trồng mía chiếm tỷ trọng trên lớn trong tổng diện tích đất trồng trọt.Chính vì thế, cây mía đang là cây trồng đóng vai trò trọng trong thu nhập của hộ Bìnhquân tỷ trọng thu nhập từ sản xuất mía chiếm gần 65,47% trong tổng thu nhập từ trồngtrọt của các hộ và tỷ lệ này ở nhóm hộ thuộc dân tộc Kinh là 72,05% và ở nhóm hộdân tộc Thái là 87,78% Nếu so sánh trong tổng thu nhập thì hoạt động sản xuất míanguyên liệu cũng chiếm một tỷ trọng lớn hơn so với các hoạt động kinh tế khác

Như vậy, qua kết quả này cho thấy thu nhập trồng mía chiếm tỷ trọng cao trong tổngthu nhập của hộ Chính vì vậy, biến động của thị trường, nhất là biến động giá đường,giá mía và giá vật tư nông nghiệp có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất mía và tínhbền vững của cây mía

Trang 33

2.6.3 Vị trí cây mía trong nền kinh tế quốc dân

Mía giữ một vai trò quan trọng và tất yếu trọng không thể thiếu trong ngành côngnghiệp sản xuất đường Cụ thể, mía là nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho quá trìnhsản xuất đường; không những thế nó còn là nguồn nguyên liệu quan trọng của nhiềungành công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng như bánh kẹo, đồ uống, cồn để làm nhiênliệu…

Mía là một loại cây công nghiệp dễ trồng và có hiệu quả kinh tế cao khi hình thànhnhững vùng chuyên canh có qui mô lớn Trên phạm vi cả nước, các vùng Tây Nguyên

và vùng Đông Nam Bộ đặc biệt là vùng duyên hải Nam Trung Bộ có khả năng pháttriển mía đường rất tốt Sau đây là tình hình phát triển sản xuất và năng xuất mía quatừng giai đoạn:

- Giai đoạn trước khi có chương trình mía đường (1980 – 1994)

Đầu những năm 80, diện tích mía của cả nước có xu hướng tăng và đạt 162.000 ha vàonăm 1984 Sau đó diện tích mía lại giảm mà nguyên nhân do giá đường thế giới giảmmạnh, đường nhập khẩu nhiều và thậm chí có lúc vượt qua nhu cầu người tiêu dùngtrong nước Do vậy, nông dân Việt Nam đã giảm diện tích trồng mía

Đầu thập niên 90, sản xuất mía đã được phục hồi dần và có tốc độ phát triển khá hơngiai đoạn trước, những năm 1990 – 1994 đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 6,23%.Năm 1994, cả nước có 166.600ha, tập trung chủ yếu ở các vùng: Đồng Bằng SôngCửu Long, Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ

Trong giai đoạn 1980 – 1990, nhìn chung sản lượng mía cả nước tăng thấp, bình quân2,18%/năm Sau đó sản lượng mía đã tăng nhanh hơn trong những năm 1990 – 1994,bình quân 8,17%/năm Tuy nhiên, chủ yếu tăng về diện tích hơn là năng suất Năm

1994, sản lượng mía cả nước đạt 7,5 triệu tấn

- Giai đoạn 1995 - 2002

Trong 5 năm thực hiện chương trình mía đường, diện tích mía và năng suất đã có tốc

độ tăng nhanh hơn nhiều Nếu như vào năm 1994 cả nước xấp xỉ 170.000 ha, thì đếnniên vụ mía 1999/2000, diện tích mía cả nước lên tới 344,2 nghìn ha, tăng bình quân12,5%/năm Trong khi đó năng suất mía bình quân cả nước đạt 51,6 tấn/ha, tăng đáng

kể so với mức xấp xỉ 45 tấn/ha vào năm 1994

Nhờ sự tăng nhanh về năng suất và nhất là diện tích trồng mía, sản lượng mía cây tăngđột biến, đạt 17,8 triệu tấn vào niên vụ 1999/2000 (gấp 2,4 lần sản lượng cao nhấttrước khi có chương trình mía đường) Tốc độ tăng bình quân về sản lượng đạt18,8%/năm So với các cây công nghiệp hàng năm khác trong cùng kỳ, tốc độ tăng sảnlượng của mía chỉ thấp hơn một chút so với bông (19,7%/năm), nhưng cao hơn nhiều

so với lạc (1,6%) và đậu tương (3,1%) So với các cây công nghiệp lâu năm thì tốc độtăng về sản lượng của mía cũng chỉ thấp hơn so với cà phê (22%), nhưng cao hơnnhiều so với cao su (10,8%), chè (9%)

Trang 34

Tuy nhiên, hai niên vụ 2000/2001 và 2001/2002 diện tích trồng mía có xu hướng giảmxuống 300.000 ha trong năm 2000 và chỉ còn 291.000 ha trong niên vụ 2001/2002.đồng thời năng suất mía cũng có xu hướng giảm sút, chỉ đạt 49,8 tấn vào năm 2000 vàcòn 49,2 tấn/ha năm 2001 Vì vậy, tổng sản lượng mía của cả nước giảm mạnh xuốngxấp xỉ 15 triệu tấn vụ 2000/2001 và còn 14,3 triệu tấn niên vụ 2001/2002.

- Giai đoạn 2002 đến nay

Diện tích trồng mía từ năm 2002 đến nay chẳng những không tăng mà còn giảm nhẹ,duy trì trên dười 300 nghìn ha, sản lượng mía dao động trong khoảng 15-17 triệu tấnmía/năm, trong đó khu vực trồng mía trải dài từ Bắc Trung Bộ vào phía Nam, lớn nhất

là đồng bằng Sông Cửu Long, chiếm gần 30% tổng sản lượng cả nước Trong niên vụ2003/2004, diện tích trồng mía cả nước là 305 nghìn ha, giảm 3.2% so với niên vụ2002/2003 Diện tích vùng nguyên liệu tập trung là 258 nghìn ha, trong đó diện tích có

ký hợp đồng đầu tư bao tiêu sản phẩm là 194,8 nghìn ha (tăng 23,4% so với niên vụtrước) Năng suất mía bình quân cả nước đạt 47,5 tấn/ha Do vậy, sản lượng mía câychỉ đạt 14,5 triệu tấn (giảm 7,6% so với niên vụ 2002/2003) Trong đó, sản lượng giảmmạnh ở miền Nam với mức giảm khoảng 15 – 20%, miền Bắc và miền Trung – TâyNguyên có mức giảm không đáng kể (khoảng từ 1 – 3%) Chữ đường trung bình cảnước 10,9 CCS (tăng 10%), (Nguyễn Minh Tiến, 2004)

Diện tích và sản lượng mía có dấu hiệu chững lại và giảm dần sau chương trình 1 triệutấn đường sau đó ổn định và tăng dần Năm 2007 diện tích mía toàn quốc là 290.8nghìn ha tăng 9.2% so với năm 2005 Năng suất mía đạt 59.76 tấn/ha tăng 6.46% so

với năm 2005

Theo báo cáo của Cục trồng trọt, Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn diện tíchvùng trồng mía của nước ta tăng khá mạnh Đến cuối vụ 2011/2012 diện tích vùngtrồng cả nước đạt khoảng 283,2 nghìn héc ta, tăng 4,3% so với niên vụ trước đó Năngsuất mía bình quân cả nước đạt 62,4 tấn/ha, sản lượng mía cả nước được 17,5 triệu tấn,tăng so với vụ trước gần 2 tấn/ha Sản lượng mía ép công nghiệp đạt 14,5 triệu tấn, sảnxuất được 1.306.240 tấn đường So với vụ trước, lượng mía ép công nghiệp tăng gần 2triệu tấn, sản lượng đường tăng 155.780 tấn Theo số liệu tổng hợp trên 25 tỉnh thành

có nhà máy đường, tổng diện tích trồng mía đạt 271 nghìn héc ta (95,7% diện tíchtrồng mía cả nước), trong đó diện tích mà các nhà máy đầu tư hoặc ký hợp đồng baotiêu với người nông dân đạt 234,2 nghìn héc ta (82,7% diện tích cả nước), tăng 7,1%

so với niên vụ trước Sản lượng mía thu hoạch đạt 16,9 triệu tấn, tăng 12,34% và sảnlượng đường sản xuất đạt 1.295.878 tấn, tăng 12,26% so với niên vụ trước

Qua các số liệu của từng giai đoạn phát triển của việc trồng mía, ta thấy diện tích trồngmía ngày càng tăng và mở rộng, chứng tỏ cây mía ngày càng được quan tâm sản xuất

và giữ một vai trò quan trọng, thiết yếu trong cơ cấu nhóm cây công nghiệp hàng năm

và cơ cấu ngành trồng trọt nói chung

2.6.4 Vị trí của nghề trồng mía giữa các vùng trong cả nước

Trang 35

Mía là cây công nghiệp dễ trồng và phát triển trải rộng trên cả ba miền Bắc, Trung vàNam bộ Diện tích, sản lượng và năng suất mía của từng vùng:

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trồng mía lớn nhất của cả nước, với

diện tích chiếm tỷ trọng đến 21,6% diện tích, sản lượng mía thu hoạch chiếm tỷ trọng28,7% so với cả nước Đặc biệt, năng suất bình quân nơi đây đạt 87,4 tấn/ha, cao hơnđến 40,1% so với năng suất bình quân cả nước Năng suất chính là điểm nổi bật nhấtcủa khu vực này trong những năm gần đây Một số nhà máy còn báo cáo đạt năng suấttới hơn 90 tấn/ha (điển hình như tại nhà máy Sóc Trăng, Trà Vinh đạt năng suất 95tấn/ha) Khu vực này có hai mùa trồng mía, mùa vụ chính diễn ra trong giai đoạn trướcmùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 6), cây mía sau khi trồng khoảng 10-12 tháng là có thểthu hoạch Ở một số nơi đất thấp còn một vụ phụ là trồng những giống mía có thờigian thu hoạch khoảng 8 tháng, thời gian trồng ngay sau mùa lũ (lũ về khoảng tháng 9,10), trước lũ năm sau thì thu hoạch mía Trong nhiều năm qua, diện tích mía tại Đồngbằng sông Cửu Long dao động từ 48.000-52.000 ha Đến niên vụ 2011-2012, diện tíchtrồng mía tại Đồng bằng sông Cửu Long chỉ còn 52.000 ha, sản lượng đạt khoảng 3,5triệu tấn

Khu vực Bắc Trung Bộ là vùng trồng mía lớn thứ hai cả nước, chủ yếu tập trung ở

hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An với diện tích đạt gần 54,4 ha (tỷ trọng 20,1%), sảnlượng mía đạt 2,96 triệu tấn (tỷ trọng 17,5%) Điểm nổi bật của khu vực này là chữđường luôn đạt khá cao, bình quân khoảng 10,8 ccs, tuy nhiên điểm yếu nhất là năngsuất Niên vụ 2011/2012, cho dù được đầu tư thâm canh tốt nên khu vực này đã tăngđược năng suất bình quân lên 54,6 tấn/ha, tuy nhiên so với các vùng khác thì vẫn cònrất thấp

Khu vực Đông Nam Bộ có diện tích 34,4 nghìn héc ta (tỷ trọng 12,7%), tập trung chủ

yếu ở tỉnh Tây Ninh (gần 23,9 nghìn héc ta), còn lại là tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, trongniên vụ năm nay, diện tích lại giảm 1,9% do tình trạng mía cháy tại nhiều nơi trên địabàn tỉnh Tây Ninh, khiến diện tích nơi đây giảm khoảng 6,1% Năng suất mía ở khuvực này vẫn đạt bình quân 66,5 tấn/ha, do người dân nơi đây được các công ty đường

hỗ trợ về kỹ thuật, giống mía, công cụ và vốn nên vùng trồng của họ có năng suất míacao hơn so với các vùng khác Khu vực này hiện đang có thêm một lợi thế là mở rộngvùng trồng mía sang Campuchia (dự án của cả 2 công ty đường Biên Hòa và ĐườngBuorbon Tây Ninh)

Khu vực Tây Nguyên: Là nơi có tốc độ tăng trưởng lớn nhất cả nước về sản lượng

mía năm nay Tuy cây mía gặp phải sự canh tranh lớn từ cây cà phê và sắn lát nhưngdiện tích trồng mía nơi đây vẫn đạt hơn 45 nghìn héc ta, tăng 19,1% so với niên vụtrước, sản lượng mía đạt hơn 2 triệu tấn, tăng đến 28,9% so với niên vụ trước

Khu vực duyên hải miền Trung: Các vùng trồng mía ở khu vực này dọc ven biển

trên phạm vi 6 tỉnh từ Quảng Ngãi đến Phan Rang, ngoại trừ công ty đường QuảngNgãi có một nhà máy đường hoạt động trên địa bàn tỉnh Gia Lai (khu vực Tây

Trang 36

Nguyên) Niên vụ 2011/2012, khu vực này không có biến động lớn so với niên vụtrước, diện tích vùng trồng chỉ tăng 1,5% nhưng sản lượng mía lại giảm khoảng 0,5%

Khu vực miền núi phía Bắc là vùng có diện tích trồng mía tăng mạnh nhất, nhưng

chủ yếu do một nhà máy của công ty Đường Tuyên Quang hoạt động trở lại sau khi đãngừng hoạt động trong niên vụ trước (để sáp nhập vào công ty Đường Sơn Dương).Niên vụ 2011/2012, diện tích khu vực này tăng 31,8%, sản lượng mía tăng 28,3% Nhìn chung, cây mía được trồng mở rộng ở hầu khắp các khu vực địa lí của Việt Nam,mỗi vùng nó lại chiếm tỉ trọng khác nhau: cao nhất là khu vực Đồng bằng sông CửuLong diện tích chiếm tỷ trọng đến 21,6% diện tích, sản lượng mía thu hoạch chiếm tỷtrọng 28,7% so với cả nước và ít nhất là khu vực miền núi phía Bắc Diện tích trồngmía giữa các vùng đều có sự tăng giảm qua từng năm, tuy nhiên tỉ trọng diện tích trồngmía giảm không đáng kể so với tỉ trọng diện tích gia tăng

2.6.5 Vị trí của nghề mía trong thời kỳ hội nhập

Trong thời kỳ hội nhập, bên cạnh những những khó khăn và thách thức thì nền kinh tếcủa nước ta cũng có nhiều thuận lợi, đối với nghề trồng mía cũng vậy Mặc dù so vớicác loại cây trồng khác cây mía kém hiệu quả hơn nhưng nó mang lại giá trị kinh tếvượt trội Nền kinh tế hội nhập, kéo theo sự phát triển của khoa học công nghệ hỗ trợrất nhiều cho ngành trồng mía, cùng với đó năng suất cũng tăng theo, thị trường đường

mở rộng do nước ta gia nhập tổ chức thế giới WTO, làm cho người nông dân càngphấn khởi hơn với cây mía

2.6.6 Vai trò của cây mía trong phát triển kinh tế hộ tại Hậu Giang

Trong thời gian qua, người lao động nông thôn gặp rất nhiều khó khăn trong việc sảnxuất và tiêu thụ nông sản Đặc biệt đối với người dân trồng mía ở Hậu Giangphải đối mặt với tình hình biến động của giá cả, và tình trạng nông sản đã đến lúc thuhoạch, hoặc thu hoạch xong mà vẫn chưa tìm ra được đầu ra cho sản phẩm Đáng ngạihơn, cây mía là cây trồng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh vàđóng vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân trong tỉnh Thêm vào đó, dođặc điểm sản xuất của nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiên tự nhiên, diệntích gieo trồng trải dài trên diện rộng và sản phẩm nông nghiệp không thể tồn trữlâu trong nông hộ, đặc biệt là thời điểm thu hoạch "rộ", nên người nông dân thường bị

ép giá họ phải bán tháo, bán chạy sản phẩm ra thị trường để tránh tình trạng mấttrắng

Hậu Giang hiện có gần 85% dân số và trên 79% lao động đang sinh sống và làm việctrong khu vực nông nghiệp và nông thôn Có thể nói, nông nghiệp là ngành kinh tế cóảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đại bộ phận dân cư trong tỉnh Thu nhập hàngnăm của người dân tương đối thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt hàng ngàycủa họ Trong khi đó để có thể thu hoạch được một vụ mùa nông sản nói chung thìphải mất khoảng thời gian dài như: mía 8 đến 9 tháng trong suốt thời gian này

Trang 37

người nông dân không thể trồng xen canh thêm cây trồng khác để tăng thu nhập, hạgiá thành, còn nếu có thì chỉ số lượng nhỏ không đáng kể.

2.7 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH

Có một số nghiên cứu liên quan về áp dụng chính sách về ngành mía đường, điển hình

là đề tài nghiên cứu Một số giải pháp cơ bản và kiến nghị để phát triển vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn của Lê Ngọc Quang Nghiên cứu chủ yếu về một số giải pháp

để phát triển vùng nguyên liệu mía đường ở Lam Sơn Qua đề tài này chúng ta có thểthấy được Nhà nước, các bộ ngành và nhà máy đường đã có những chính sách, độngthái để góp phần phát triển hơn nữa ngành công nghiệp chế biến đường Cụ thể nhưsau:

Chính sách của Nhà nước: Nhà nước đã có những chính sách được triển khai cụ

thể trên thực tế như:

Chính sách về chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp: tại nghị quyết đại hội TW V Nhànước đã thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ cây lương thực sang cây côngnghiệp phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến trong đó có cây mía, cây mía đượctrồng tại các vùng có điều kiện thích hợp và có hiệu quả hơn nhờ vào những chínhsách hợp tác nhiều thành phần kinh tế lại với nhau nhằm mục đích phát triển chung vàngành mía đường nói riêng, hợp tác theo nguyên tắc tự nguyện làm người nông dânngày càng tự chủ được sản xuất Mở rộng liên kết các tập thể nông dân, các loại hìnhdoanh nghiệp có liên quan để họ chuyển sang sản xuất hàng hóa nhiều thành phần theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa

Chính sách về tài chính: Nhà nước đã thực hiện việc cho người nông dân vay vốn đầu

tư và giao vốn cho doanh nghiệp để họ có thể chủ động nguồn vốn sản xuất, từ đó tiếntới thực hiện các hoạt động sản xuất một cách dễ dàng và nhanh chóng Ngoài ra, Nhànước còn mở rộng cho doanh nghiệp quyền huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dânnhằm phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường dưới sự điều tiết của Nhà nước, đượcthành lập quỹ phòng chống rủi ro khi gặp phải khó khăn với điều kiện là doanh nghiệplàm ăn có lãi nhằm góp phần xây dựng kinh tế hợp tác trên các vùng nông thôn, thànhlập hợp tác xã tín dụng để hỗ trợ vốn nhằm mục đích xã hội hóa nông nghiệp

Chính sách thuế của Nhà nước: Nhà nước đã thực hiện một số chính sách ưu đãi thuếcho doanh nghiệp, miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp nhằm tăng thu nhập chongười trồng trọt trong đó có người nông dân trồng mía, thực hiện chính sách giao đấtkhoán cho nông dân để hạn chế tình trạng nông dân phải đi làm thuê vì không có đấtcanh tác

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có trách nhiệm rất lớn trong việc phát triểnngành công nghiệp chế biến mía đường, Bộ đã có những chính sách như:

Chính sách thúc đẩy phát triển vùng nguyên liệu: muốn phát triển ngành công nghiệpchế biến thì đầu tiên là phải có vùng nguyên liệu, bộ và các cơ quan liên quan đã phátđộng chiến dịch trồng mía vụ xuân để có đủ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến

Trang 38

đường hoạt động Bố trí các vùng trồng mía và tổ chức các hợp tác xã của người trồngmía để xây dựng vùng tập trung chuyên canh, thâm canh Xây dựng cơ sở hạ tầng nhưđường giao thông, hệ thống tưới tiêu, đê bao, khai thác vùng nguyên liệu lẻ ở các nơichưa có nhà máy, ở vùng xa khó vận chuyển để tận dụng nguồn lao động và bảo vệrừng Bộ còn thực hiện quy hoạch các vùng nguyên liệu để đảm bảo đủ và ổn địnhnguyên liệu cho các nhà máy chế biến phát huy hết công suất, xây dựng vùng nguyênliệu tập trung chuyên canh, thâm canh nhằm tăng năng suất cây mía Bộ khuyến khíchngười trồng mía thực hiện các biện pháp nhằm tăng năng suất mía, rải vụ để nhà máyđường không bị tình trạng hoạt động quá tải hoặc thiếu nguyên liệu sản xuất Ngoài ra,

Bộ còn công khai giá mía, vận động người nông dân và doanh nghiệp ký kết hợp đồng,cho người nông dân kiểm soát hợp đồng, kiểm soát giá mía nhằm đảm bảo lợi ích củangười nông dân, của công ty, của Nhà nước bằng các chính sách miễn giảm thuế vàgiảm lãi suất ngân hàng Bộ giao cho các nhà máy đường phải có những chính sáchnhằm tăng năng suất và chất lượng mía bằng việc giáo dục cho các nhân viên về mọimặt Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn còn phối hợp với Bộ Giaothông vận tải xây dựng chính sách phát triển mở rộng đường xá giao thông nhằm cungcấp đầy đủ nguyên liệu cho nhà máy chế biến

Chính sách hỗ trợ tài chính: Bộ đã thực hiện các chính sách miễn giảm thuế cho cácnhà máy đường để nhà máy đường có thể tăng giá thu mua mía cho nông dân trồngmía, thực hiện tạo điều kiện cho Ngân hàng Nông nghiệp giúp các công ty đường vayvốn để thúc đẩy sản xuất mía ở các vùng nguyên liệu trực thuộc công ty Ngoài ra, cònthúc đẩy cải tiến quản lý sản xuất, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhằm phát triểnsản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, hạ giá thành sản xuất, thực hiện chính sách nghiêncứu, tạo điều kiện để các cán bộ khoa học nghiên cứu khảo nghiệm, thực nghiệmgiống mía mới

Về phía Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn: Công ty đã có nhiều chính sách

hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất mía đường

Chính sách về phát triển vùng nguyên liệu: Chuyển đổi giống cây trồng có hiệu quảkinh tế cao thích hợp với điều kiện của vùng, cụ thể là chuyển đổi từ cây lạc, sắn sangcây mía Qua nhiều năm, công ty đã đổi mới hợp đồng đầu tư và thu mua mía nhiềulần để hoàn thiện hơn, song song đó hoàn thiện bộ máy thu mua, xây dựng phươngthức thu mua hợp lý để mối quan hệ giữa nhà máy và người nông dân tốt hơn

Công ty thực hiện việc hỗ trợ nông dân hiện đại hóa nghề trồng mía, thâm canh, tăngnăng suất, tăng chất lượng từ đó dẫn đến tăng thu nhập bằng nhiều biện pháp như: cơgiới hóa làm đất tiến tới cơ giới hóa chăm sóc và thu hoạch một phần, thủy lợi hóatừng bước, phun thuốc trừ sâu trừ cỏ bảo vệ mía, xây dựng cơ cấu giống mía phù hợpvới từng loại đất, rải vụ để nâng cao chất lượng mía, kéo dài thời gian chế biến, sửdụng tổng hợp các biện pháp thâm canh

Vấn đề rải vụ chế biến: nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của nhà máy và lợi nhuậncủa người nông dân Công ty còn đa dạng hóa sản phẩm, tận dụng phụ phẩm để nâng

Trang 39

cao giá trị của cây mía, từ đó tăng thêm thu nhập cho nông dân bằng các biện pháp:hiện đại hóa dây chuyền sản xuất; duy trì phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng ISO

9002, đảm bảo kiểm soát quá trình sản xuất, kiểm soát các bên cung cấp; đầu tư xâydựng xí nghiệp sản xuất dán ép; sản xuất thức ăn gia súc từ mật rĩ, bã mía, ngọn mía;sản xuất cồn rượu; sản xuất phân bón từ bùn mía

Công ty thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng, các chế độ hỗ trợ khác và đào tạobồi dưỡng cho cán bộ công nhân viên để họ an tâm phục vụ cho công ty và có đủ nănglực làm việc Công ty mía đường nâng cao công suất của nhà máy đường, tăng hiệuquả kinh tế từng bước tăng giá mía cho nông dân để nông dân yên tâm trồng mía.Cùng với việc mở rộng công suất nhà máy, công ty mía đường còn cố gắng thúc đẩyquá trình hiện đại hóa công nghiệp chế biến để tăng thêm tổng thu nhập, để trích phầnlợi nhuận thừ thu nhập vào giá mía và đầu tư vào vùng nguyên liệu cũng nhằm mụcđích mở rộng vùng nguyên liệu đáp ứng công suất nhà máy 6500 tấn mía/ngày bằngcách ưu tiên cho các vùng nguyên liệu gần nhà máy trong các phạm vi như 25km đốivới nơi có hệ thống giao thông bình thường và 50km đối với nơi có hệ thống giaothông tốt và sẵn có Cùng với đó, công ty mía đường còn đẩy mạnh xây dựng cơ sở vậtchất phục vụ cho kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu như máy móc làm đất; phươngtiện vận chuyển mía, ngọn giống và phân bón; hệ thống giao thông, liên kết sản xuấtvới các doanh nghiệp có liên quan để tạo thành một tập đoàn kinh tế mạnh, thể hiệnmối quan hệ công nông và dịch vụ để tạo ra thế chủ động trong quá trình sản xuất kinhdoanh và có đủ sức mạnh trên thị trường cạnh tranh

Trên đây làm một đề tài nghiên cứu điển hình cho nghiên cứu liên quan về việc ápdụng chính sách hỗ trợ cho sự phát triển ngành công nghiệp chế biến mía đường, hiệnnay Nhà nước đang phát động nghiên cứu khoa học, có rất nhiều đề tài nghiên cứuđược triển khai trên thực tế và mang lại hiệu quả không ít cho sự phát triển của kinh tếđất nước nói chung và ngành mía đường nói riêng

Trang 40

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU

3.1.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp

Tham khảo tư liệu và các công trình nghiên cứu, đọc và phân tích theo từng bộ phận,từng mặt, theo lịch sử thời gian để hiểu một cách đầy đủ và toàn diện trên lĩnh vựcnghiên cứu Từ đó liên kết các thông tin từ nguồn tư liệu đã đọc và phân tích để xâydựng hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc phù hợp với đề tài nghiên cứu…

3.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

- Phỏng vấn cấu trúc: Đây là phương pháp chính khảo sát thực trạng áp dụng các chínhsách hỗ trợ người dân trồng mía tại xã Bình Thành, xã Hiệp Hưng, xã Tân PhướcHưng- Huyện Phụng Hiệp- Tỉnh Hậu Giang nhằm đánh giá khách quan thực tế cácchính sách đang được áp dụng tại các hộ được phỏng vấn cũng như trong địa bàn từng

xã Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng cũng như nguyên nhân của thực trạng trên Bảngcâu hỏi chuẩn bị sẵn chính là công cụ nghiên cứu của đề tài

- Phỏng vấn KIP (Key Informant Panel): Là phương pháp phỏng vấn những người cóảnh hưởng lớn đến chủ thể nghiên cứu, nắm những thông tin quan trọng có liên quanđến đề tài, với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số cán bộ lãnhđạo địa phương, cán bộ khuyến nông Nội dung xoay quanh vấn đề về các chính sách

áp dụng hỗ trợ người trồng mía, những khó khăn gặp phải khi thực hiện các chínhsách Qua đó có thêm những thông tin cụ thể, sinh động để bổ sung và khẳng định chonhững kết luận về áp dụng các chính sách hỗ trợ người trồng mía trên địa bàn

3.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

3.2.1 Phương pháp xử lý thông tin

- Chọn lọc, tổng hợp, phân loại, so sánh các thông tin

- Số liệu thu thập được xử lý bằng Excel và phần mềm SPSS 13.0

3.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

- Thống kê mô tả: Các chỉ tiêu thống kê về tính toán trên cơ sở mô tả, thông tin đượctrình bày dưới dạng bảng biểu để phân tích

- Thống kê so sánh: Các chỉ tiêu thống kê trên nhiều tiêu chí, được so sánh giữa địabàn xã này với địa bàn xã khác, các nhóm diện tích trồng mía được hỗ trợ từ chínhquyền địa phương Từ đó, tìm ra nhóm diện tích trồng mía nhận được sự hỗ trợcao nhất của các chính sách hỗ trợ người trồng mía từ chính quyền địa phương

Ngày đăng: 24/03/2020, 01:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w