- Với chủ trương “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”, nước ta có điều kiện cùng các nước hoạch định các chính sách toàn cầu, nhất là về kin
Trang 1HỘI NGHỊ THÔNG TIN CHUYÊN ĐÊ:
TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG TIẾN TRÌNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC
Quảng Ngãi, ngày 15 tháng 12 năm 2015
Trang 22
DANH MỤC TÀI LIỆU
III THAM LUẬN CỦA CÁC BÁO CÁO VIÊN
HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN MỚI - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI
CÁC ĐỊA PHƯƠNG, DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
5
CỘNG ĐỒNG ASEAN 2015: DẤU MỐC LỊCH SỬ HỢP TÁC KHU VỰC
VÀ VIỆT NAM
10
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) - HIỆP ĐỊNH
TỰ DO THƯƠNG MẠI THẾ HỆ MỚI
30
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT 22/NQ-TW NGÀY 10/4/2013
CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
NGHỊ QUYẾT 31/NQ-CP NGÀY 13/5/2014 CỦA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH
CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
SỐ 22-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
94
CHỈ THỊ 15 NGÀY 7/7/2015 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ TIẾP TỤC
TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT 22-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ HỘI NHẬP
QUỐC TẾ
107
Trang 33
CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ: TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG TIẾN TRÌNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC
(Quảng Ngãi, ngày 15/12/2015) 07:00 - 07:30 Đăng ký Đại biểu
Sở Ngoại vụ Quảng Ngãi và Vụ Hợp tác Kinh tế Đa phương, Bộ Ngoại giao
07:30 - 07:40 Phát biểu khai mạc
Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ngãi
07:40 - 09:00 Hội nhập quốc tế giai đoạn mới - Những vấn đề đối với các
địa phương, doanh nghiệp Việt Nam
Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga, Bộ Ngoại giao
09:00 - 10:00 Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
13:30 - 14:30 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Việt Nam
PGS - Tiến sỹ Nguyễn Anh Tuấn, Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu
Quốc tế, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao
14:30 - 15:30 Cải cách thể chế và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế
sâu rộng
Tiến sỹ Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Trường Đại học Quốc gia Việt Nam
15:30 – 15:45 Giải lao
15:45 – 16:50 Thảo luận chung
Lãnh đạo Vụ Hợp tác Kinh tế Đa phương, Bộ Ngoại giao và các báo cáo viên
16:50 – 17:00 Bế mạc Tọa đàm
Lãnh đạo Vụ Hợp tác Kinh tế Đa phương, Bộ Ngoại giao /
Trang 44
THAM LUẬN CỦA CÁC BÁO CÁO VIÊN
Trang 55
HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN MỚI - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI
CÁC ĐỊA PHƯƠNG, DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Đại sứ Nguyễn Nguyệt Nga
Bộ Ngoại giao
Chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu giai đoạn mới của hội nhập quốc tế nước ta nhằm phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước và triển khai đường lối đối ngoại Xuất phát từ xu thế khách quan và nhằm đáp ứng nhu cầu mới của đất nước, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với các cơ quan, hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp nước ta
Do đó, vấn đề cần thiết là nhận thức đầy đủ hơn tính tất yếu của hội nhập, liên kết quốc tế, nội dung hội nhập trong thời kỳ mới, cũng như thời cơ và thách thức Từ đó, xác định các giải pháp để tham gia, đóng góp đối với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước
I- ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ NƯỚC TA GIAI ĐOẠN MỚI
1 Hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và nước ta hiện nay hoàn toàn khác trước, kể cả giai
đoạn kể từ khi nước ta gia nhập WTO năm 2007 đến nay Cuộc khủng hoảng tài chính -
kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 đã thúc đẩy nhanh những chuyển dịch trên phạm vi toàn cầu cũng như ở từng nước, khu vực cũng như tương quan sức mạnh kinh tế giữa các trung tâm Xu hướng đa trung tâm, đa tầng nấc đang ngày càng khẳng định Nền tảng kinh tế thế giới có những chuyển dịch căn bản, toàn cầu hóa và công nghệ thông tin
phát triển mạnh mẽ
Xu hướng hội nhập, liên kết kinh tế đa tầng nấc, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do (FTA), gia tăng mạnh Nổi bật là các hiệp định FTA thế hệ mới phát triển nhanh hơn, ngày càng sâu rộng, gắn kết với phát triển bền vững và ứng phó với các thách thức toàn cầu Châu Á – Thái Bình Dương đóng vai trò đầu tầu trong tăng trưởng và liên kết toàn cầu Hàng loạt các đàm phán FTA thế hệ mới tạo ra những bước ngoặt trong liên kết kinh tế ở hầu khắp các khu vực, tiêu biểu là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) kết thúc đàm phán 10/2015, Hiệp định đối tác thương mại - đầu tư xuyên Đại Tây Dương Hoa Kỳ - EU (TTIP), Khuôn khổ đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP) đều dự kiến kết thúc 2016
2 Với những thành tựu của 30 năm đổi mới và chủ trương hội nhập quốc tế
toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập quốc tế trở thành nhân tố quan trọng hơn bao giờ hết để tạo thế và lực của đất nước trong cục diện đang định hình Do đó, hội nhập quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới
- Trước hết, khác với các giai đoạn trước, hội nhập quốc tế giai đoạn hiện nay
đòi hỏi đổi mới tư duy, chuyển từ “mở rộng quan hệ, gia nhập và tham gia hợp tác
quốc tế” sang “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ
Trang 66
chế hợp tác” Với tầm và quy mô hội nhập hiện nay, các mối quan hệ kinh tế quốc tế
của nước ta không đơn thuần là “hội nhập” mà ở tầm “liên kết”
- Thứ hai, cần tăng cường cách tiếp cận đa ngành, liên ngành và
đa phương Đây là xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ,
các nội hàm liên kết trở nên sâu rộng hơn, với nhiều đối tác hơn, mang tính liên ngành, đa lĩnh vực, đa tầng nấc, ở mọi cấp độ tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu
- Thứ ba, phát triển bền vững, sáng tạo và ứng phó với các thách thức toàn cầu là nội hàm quan trọng của hội nhập quốc tế Điều này là phù hợp với
xu thế chuyển đổi sang mô hình bền vững và sáng tạo, tăng trưởng xanh, từ tư duy kinh tế, tư duy phát triển, cách tiếp cận đến cách thức quản trị kinh tế, chính trị, xã hội
và an ninh trên mọi tầng nấc
- Thứ tư, để có thể tận dụng cơ hội, tiềm năng của liên kết quốc tế về
công nghệ, quản lý, nguồn lực và tham gia vào tầng nấc cao hơn trong chuỗi
giá trị toàn cầu, cần có sự đột phá trong cải cách, đổi mới trong nước, nhất là về thể chế, khuôn khổ pháp lý, năng lực thực thi hội nhập quốc tế, trình độ, kỹ năng, ngoại ngữ của nguồn nhân lực Cùng với đó là việc hình thành các chính sách tham
gia hội nhập, liên kết quốc tế trong từng lĩnh vực và thiết lập các cơ chế chỉ đạo, phối hợp phù hợp với tình hình mới
3 Theo đó, hội nhập quốc tế nước ta trong 5 - 10 năm tới sẽ tập trung vào các trọng tâm sau, trong đó 2015 và 2018 là những thời hạn quan trọng:
⁻ Nỗ lực hoàn tất các cam kết quốc tế lớn có thời hạn vào 2015 – 2020 nhằm nâng tầm hội nhập quốc tế, trong đó ưu tiên: (i) Cam kết xây dựng Cộng đồng ASEAN, Tầm
nhìn ASEAN đến năm 2025; (ii) Cam kết gia nhập WTO (thời hạn 31/12/2018), các Mục tiêu Bô-go của APEC về tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2020…
⁻ Hoàn tất đàm phán và thực thi các Hiệp định FTA, trong đó thúc đẩy sớm ký kết, phê chuẩn và thực thi TPP, các FTA với Liên minh Kinh tế Á – Âu, EU và Hàn
Quốc; hoàn tất đàm phán RCEP và FTA với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA); các cam kết trong 8 FTA đã ký… Các FTA của ASEAN (AFTA), ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc có thời hạn cắt giảm thuế năm 2018
⁻ Nâng tầm hội nhập quốc tế trên các tầng nấc, cơ chế liên kết theo hướng đẩy mạnh chủ động đóng góp, tiếp cận đa ngành, đa phương, đề cao nội hàm phát triển,
nhất là trong các khuôn khổ đa phương và trong các vấn đề mà ta quan tâm, có lợi ích như đối tác phát triển, giảm nghèo, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải…
⁻ Nỗ lực tạo đột phá trong vận động các đối tác, nhất là các đối tác lớn, sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của ta trước thời hạn 2018 (là thời điểm kinh tế
nước ta được công nhận là nền kinh tế thị trường theo thỏa thuận gia nhập WTO) Xử
lý hiệu quả tranh chấp, vướng mắc kinh tế, thương mại nhằm bảo đảm lợi ích của người lao động và doanh nghiệp
Trang 77
II- THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN MỚI
1 Thời cơ và thuận lợi là rất cơ bản
- Với triển vọng hoàn tất đàm phán và triển khai 15 hiệp định FTA trong giai
đoạn đến năm 2020, lần đầu tiên nước ta sẽ trở thành một mắt xích quan trọng của mạng lưới liên kết kinh tế rất rộng lớn với tất cả các trung tâm và các nền kinh tế hàng
đầu thế giới Các địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp ta đứng trước những thuận lợi lớn chưa từng có để mở rộng thị trường xuất khẩu, với tư cách là một đối
tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, theo mức thuế ưu đãi, thậm chí là 0%, với
56 đối tác mà ta có hiệp định FTA Ðây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ của nước ta, tạo thêm việc làm, góp phần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình
tăng trưởng
- Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo động lực mới để thúc đẩy đổi mới sâu rộng, hoàn thiện môi trường pháp lý, thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước ngày càng minh bạch hơn, làm thông thoáng môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là các công
ty xuyên quốc gia có tiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến
- Hội nhập quốc tế sâu rộng tạo thời cơ, thuận lợi mới để triển khai chủ trương hội nhập quốc tế toàn diện, làm sâu sắc và nâng tầm các quan hệ đối tác, tạo thế đan xen lợi ích dài hạn với tất cả các trung tâm kinh tế - chính trị hàng đầu thế giới, đem
lại thế và lực mới cho đất nước, củng cố môi trường hòa bình, ổn định
- Với chủ trương “chủ động đóng góp, tích cực khởi xướng và tham gia định hình các cơ chế hợp tác”, nước ta có điều kiện cùng các nước hoạch định các chính
sách toàn cầu, nhất là về kinh tế, thương mại, thúc đẩy hình thành một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, trong đó có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp Việt Nam trong tranh chấp thương mại quốc tế
- Các hiệp hội và doanh nghiệp trong nước có điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào với giá cạnh tranh hơn, dịch vụ hỗ trợ tiện lợi hơn, chất lượng cao hơn, tiết kiệm chi phí sản xuất…, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh Người dân trong nước có thêm nhiều sự lựa chọn phong phú về
hàng hóa, dịch vụ với chất lượng cao và giá cả cạnh tranh
Trang 8- Với xu thế chuyển dịch lao động giữa các nước tham gia FTA, thách thức đối
với các cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội, người lao động trong nước là sức ép về trình
độ, tri thức và tay nghề, nguy cơ tranh chấp quốc tế (các FTA mới có quy định cao về giải quyết tranh chấp)… Trong khi lực lượng lao động nước ta chưa qua đào tạo còn
chiếm tỉ trọng lớn, số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu; Đội ngũ cán bộ, công chức nước ta thiếu và hạn chế về năng lực hội nhập; thiếu đội ngũ luật sư giỏi để giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp
- Hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, những biến động trên thị trường tài chính, tiền
tệ, thị trường hàng hóa quốc tế, xung đột, tranh chấp sẽ tác động nhanh hơn, mạnh hơn đến nền kinh tế nước ta, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định và phát triển bền
vững của ta; thách thức về bảo đảm an ninh, giữ gìn bản sắc dân tộc, sự phát triển
không đều
- Những yếu kém, bất cập trong nước bộc lộ rõ hơn và nếu không được xử lý
kịp thời và thỏa đáng thì sẽ làm gia tăng nguy cơ tụt hậu của nước ta Chuyển biến trong tư duy trong nước chưa kịp với tình hình quốc tế và tốc độ hội nhập quốc tế của nước ta Khu vực tư nhân còn anh mún, quy mô nhỏ, thiếu nguồn vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị… Các hiệp hội, địa phương và doanh nghiệp hiểu và tham gia hội nhập rất hạn chế, thụ động Cơ chế điều phối còn bất cập
III- MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ THAM GIA CÁC FTA
- Đổi mới cách nghĩ, cách làm trong tham gia các hoạt động hội nhập,
liên kết quốc tế theo hướng “chủ động tham gia, tích cực đề xuất và đóng góp”
Tư duy mới là nâng lên tầm khu vực và toàn cầu – đó là tư duy của một Cộng đồng ASEAN 600 triệu dân, một thị trường, không gian kinh tế rộng lớn của 56 đối tác FTA đại diện 65% dân số, 95% GDP và 84% thương mại thế giới Cách làm mới là liên kết, hợp tác liên ngành, đa ngành và đa phương, bền vững, nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của địa phương, doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh gay gắt với các đối tác lớn, mạnh hơn
- Đẩy mạnh phổ biến nội dung các cam kết hội nhập của ta, nhất là các hiệp định FTA, chính sách, biện pháp cụ thể để tận dụng thời cơ, xử lý thách thức của hội nhập
Trang 9- Đẩy mạnh nâng cao năng lực thực thi hội nhập quốc tế; Tăng cường
xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, có tri thức, kiến thức, kỹ năng hội nhập và kỹ năng nghề, đồng thời các cơ quan, hiệp hội cần đẩy mạnh đổi mới quản lý phù hợp tình hình, nhất là trong tình hình có nhiều yếu tố bất ổn, bất định Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, đội ngũ luật sư, đào tạo nghề, gắn với nhu cầu xã hội và yêu cầu của hội nhập quốc tế nước ta
- Đổi mới cách thức, kiện toàn cơ chế phối hợp liên ngành, phù hợp với những
chuyển biến nhanh của tình hình và hội nhập quốc tế nước ta
Công tác chuẩn bị trong nước để hội nhập quốc tế đang có những bước chuyển quan trọng, nổi bật là việc ban hành Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế và thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, trong đó đề ra các định hướng lớn về hội nhập và xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm./
Trang 1010
CỘNG ĐỒNG ASEAN 2015: DẤU MỐC LỊCH SỬ
HỢP TÁC KHU VỰC VÀ VIỆT NAM
Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao
A TÌNH HÌNH XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN
I MỤC TIÊU VÀ NỘI HÀM
1 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 trên cơ sở là một tuyên bố chính trị (Tuyên bố Bangkok) với 5 thành viên ban đầu Sau gần 5 thập kỷ tồn tại với nhiều thăng trầm, ASEAN đã chuyển hóa căn bản về chất, cả về thành viên, mục tiêu và nội dung hợp tác ; đang hướng tới hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015
Mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN được đề cập sau khi một ASEAN bao gồm cả 10 nước Đông Nam Á trở thành hiện thực và Tầm nhìn ASEAN 2020 được thông qua (Năm 1997) Sau một thời gian thực hiện các chương trình hành động triển khai Tầm nhìn ASEAN 2020, các Lãnh đạo ASEAN năm 2003 chính thức quyết định xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội Năm 2007, ASEAN nhất trí sẽ hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 (thay vì đến năm 2020 như thỏa thuận trước đó) và thông qua
Lộ trình cùng các Kế hoạch tổng thể trên từng trụ cột để triển khai
2 Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ
sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; một Cộng đồng gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế, có trách nhiệm về xã hội và mở rộng hợp tác với bên ngoài
Cộng đồng Chính trị-An ninh có mục tiêu tạo dựng môi trường hòa bình và an ninh ở khu vực thông qua việc nâng hợp tác chính trị-an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với 3 đặc trưng chính gồm: một Cộng đồng hoạt động theo luật lệ với các giá trị, chuẩn mực chung; một khu vực gắn kết, hòa bình và tự cường, có trách nhiệm chung bảo đảm an ninh toàn diện; và một khu vực năng động, quan hệ rộng mở với bên ngoài
Cộng đồng Kinh tế nhằm tạo ra một thị trường duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động
có tay nghề và phần nào là vốn ; có sức cạnh tranh cao; phát triển đồng đều; và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu
Cộng đồng Văn hóa-Xã hội có mục tiêu phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy một xã hội đùm bọc và chia sẻ trách nhiệm, bình đẳng
và công bằng, tăng cường hiểu biết lẫn nhau và ý thức về bản sắc chung, thúc đẩy bình đẳng và công bằng xã hội cũng như môi trường bền vững
3 Để thực hiện mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN 2015, ASEAN đã đề
ra các Kế hoạch tổng thể (KHTT) trên từng trụ cột, trong đó đề ra các mục tiêu và
Trang 1111
thành tố cụ thể cùng các biện pháp/hoạt động để triển khai (được gọi là dòng hành động) KHTT về chính trị - an ninh đề ra 6 lĩnh vực (thành tố) hợp tác chính gồm: (i) Hợp tác chính trị; (ii) Xây dựng và chia sẻ chuẩn mực ứng xử; (iii) Ngăn ngừa xung đột; (iv) Giải quyết xung đột; (v) Kiến tạo hòa bình sau xung đột; và (vi) Cơ chế thực hiện
KHTT đề ra các mục tiêu và biện pháp với 4 trụ cột: (i) Xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất thông qua các biện pháp dỡ bỏ các rào cản đối với
sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động kỹ năng cũng như tạo thuận lợi cho sự lưu chuyển tự do hơn của dòng vốn, các biện pháp về các lĩnh vực ưu tiên hội nhập; (ii) Đưa ASEAN thành một khu vực kinh tế có khả năng cạnh tranh cao thông qua các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tăng cường kết nối hạ tầng: đường sắt, đường bộ, đường không, năng lượng; (iii) Phát triển kinh tế đồng đều thông qua các biện pháp thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm giúp các nước CLMV nâng cao năng lực hội nhập, thực hiện các cam kết; (iv) Hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế toàn cầu thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác lớn
và khu vực
KHTT về văn hóa – xã hội đã xác định 6 lĩnh vực hợp tác chính là : (i) Phát triển con người; ii) Phúc lợi và bảo hiểm xã hội; iii) Các quyền bình đẳng xã hội; iv) Đảm bảo môi trường bền vững; v) Tạo dựng bản sắc ASEAN và vi) Thu hẹp khoảng cách phát triển; đồng thời nêu ra 40 thành tố cùng với 339 biện pháp cần được thực hiện trong giai đoạn 2009-2015 và cơ chế thực hiện, giám sát
Để hỗ trợ mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN trên 3 trụ cột, ASEAN còn thông qua và triển khai Kế hoạch công tác về Sáng kiến Liên kết ASEAN về thu hẹp khoảng cách phát triển và Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC) Ngoài ra, quan hệ đối ngoại của Hiệp hội với các đối tác cũng được lồng ghép vào từng trụ cột Cộng đồng và được đẩy mạnh thông qua nhiều khuôn khổ khác nhau (ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ARF và ADMM+)
II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN
Đến nay, ASEAN đã thực hiện được gần 93% các biện pháp/dòng hành động
cụ thể đề ra trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 với mức độ khác nhau trong từng trụ cột, trong đó Cộng đồng Chính trị-An ninh đạt 88%, Cộng đồng Kinh
tế đạt 90,5% và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội đạt gần 100% Việc thực hiện Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC) và Kế hoạch công tác về Sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI) về thu hẹp khoảng cách phát triển đạt được kết quả thấp hơn, chủ yếu
do thiếu nguồn lực
1 Kết quả xây dựng Cộng đồng Chính trị An ninh (APSC):
ASEAN đã và đang triển khai 125/145 biện pháp/hoạt động đề ra, đạt 88% kế hoạch đề ra Các hoạt động đã thực hiện chủ yếu tập trung trong những lĩnh vực như hợp tác chính trị, xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực ứng xử, tăng cường xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột, duy trì hòa bình và an ninh khu vực, ứng phó với các
Trang 1212
vấn đề an ninh phi truyền thống Những kết quả chính đạt được như sau:
a Về chia sẻ các chuẩn mực ứng xử:
- Hiến chương ASEAN (có hiệu lực từ tháng 12/2008) được triển khai trên thực
tế, tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho liên kết ASEAN Các mục tiêu, nguyên tắc đề ra trong Hiến chương được tuân thủ và thể hiện trong thực tiễn hoạt động của ASEAN Nhiều văn kiện pháp lý liên quan đến triển khai Hiến chương, nhất là các quy định về giải quyết tranh chấp được ký kết/thông qua Bộ máy tổ chức của ASEAN được sắp xếp lại, trong đó có việc lập Ủy ban các đại diện thường trực ASEAN tại Jakarta, Indonesia
- Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) đã trở thành bộ nguyên tắc cơ bản chỉ đạo mối quan hệ giữa các quốc gia, không chỉ giữa các quốc gia Đông Nam Á mà cả giữa ASEAN với các nước đối tác Đến nay, đã có 22 nước đối tác tham gia Hiệp ước TAC, trong đó có tất cả 5 nước thành viên thường trực HĐBA LHQ và 01 tổ chức khu vực là EU
- Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) đã trở thành công cụ quan trọng để bảo đảm hòa bình và an ninh khu vực ASEAN và 5 nước có
vũ khí hạt nhân (Trung Quốc, Nga, Mỹ, Anh và Pháp) đang tích cực trao đổi để 5 nước này tham gia Nghị định thư Hiệp ước SEANWFZ để bảo đảm giá trị thực tế cho Hiệp ước
- Về vấn đề Biển Đông: ASEAN đã có nhiều nỗ lực và đóng vai quan trọng trong việc bảo đảm hòa bình và an ninh ở Biển Đông, nhất là đã thúc đẩy Trung Quốc thông qua và thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và hướng tới sớm thông qua Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) Vấn đề Biển Đông, trong
đó có việc thực hiện DOC và xây dựng COC đã trở thành nội dung thường xuyên trong nghị sự của ASEAN và với các Đối tác; và được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của ASEAN Những nội dung chính được ghi nhận trong các văn kiện ASEAN gần đây gồm có: (i) cần bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn trên biển và trên không ở Biển Đông; (ii) giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; (iii) tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc
tế, nhất là UNCLOS 1982; (iv) tự kiềm chế, không làm gì gây phức tạp thêm tình hình; (v) thực hiện hiệu quả DOC và sớm đạt được COC
b Về tiến hành các biện pháp xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột:
ASEAN triển khai một số biện pháp cụ thể bao gồm: tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo kiến thức, kỹ năng giữa các quan chức ngoại giao và quốc phòng; trao đổi quan sát viên diễn tập quân sự; tiến hành tham vấn và hợp tác về các vấn đề quốc phòng với các đối tác ngoài ASEAN; tổ chức trao đổi về hợp tác trong ứng phó với các thách thức an ninh; xuất bản Tài liệu Viễn cảnh An ninh ASEAN để tăng cường minh bạch, hiểu biết về chính sách an ninh, quốc phòng của các quốc gia thành viên ASEAN cũng như môi trường an ninh khu vực
c Về hợp tác quốc phòng: Hợp tác ASEAN về quốc phòng đạt được tiến triển
Trang 13d Về hợp tác xử lý những thách thức an ninh phi truyền thống: ASEAN tập
trung ưu tiên trong các lĩnh vực phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, ma túy, khủng
bố, buôn bán người, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, hỗ trợ nhân đạo Các nước triển khai các biện pháp chia sẻ thông tin nghiệp vụ; đào tạo nâng cao năng lực; hợp tác về
tư pháp, dẫn độ; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan; triển khai hiệu quả các tuyên bố, kế hoạch hành động trong từng lĩnh vực cụ thể; xây dựng các huôn khổ pháp lý cho hợp tác như Công ước ASEAN về Chống khủng bố, các Tuyên bố ASEAN về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, HIV, Ma túy, đang xây dựng Hiệp định đa phương ASEAN về tìm kiếm cứu nạn người và tầu thuyền trên biển, xây dựng Công ước ASEAN về chống buôn bán người; tổ chức diễn tập thường xuyên trong khuôn khổ ASEAN và với các đối tác, nhất là trong lĩnh vực phòng chống thiên tai và cứu trợ nhân đạo
e Về hợp tác chính trị: được thúc đẩy thông qua việc chia sẻ thông tin, kinh
nghiệm, huấn luyện và xây dựng năng lực, trên nhiều lĩnh vực như: hiểu biết về chế
độ chính trị, lịch sử và văn hóa của các nước thành viên; tăng cường hệ thống luật pháp và tư pháp; quản trị tốt, phòng chống tham nhũng, dân chủ, nhân quyền, … Tiến triển được dư luận quan tâm là việc lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHAR) và thông qua Tuyên bố nhân quyền ASEAN, lập Ủy ban về quyền phụ nữ và trẻ em (ACWC) Sự tham gia của Nghị viện (AIPA) và các tầng lớp xã hội vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN được thúc đẩy và tăng cường, nhằm mục tiêu đưa ASEAN hướng tới người dân và phục vụ lợi ích thiết thực của người dân
f Về hợp tác và hỗ trợ pháp luật: ASEAN gia tăng hợp tác trong khuôn khổ
Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp ASEAN (ALAWMM), nhất là trong lĩnh vực hài hòa hóa luật thương mại, tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự và dẫn độ
g Hợp tác về lãnh sự và đi lại: ASEAN đã tăng cường hợp tác quản lý biên
giới như: kiểm tra thị thực, xuất-nhập cảnh và ngăn ngừa tội phạm xuyên quốc gia; ký Hiệp định khung về miễn thị thực cho công dân các nước ASEAN; thỏa thuận về hợp tác hỗ trợ khẩn cấp công dân ASEAN ở các nước thứ 3 trong trường hợp khủng
hoảng
2 Kết quả triển khai xây dựng Cộng đồng Kinh tế (AEC)
Trang 1414
- Mục tiêu của AEC là xây dựng ASEAN trở thành một thị trường và một cơ sở sản xuất thống nhất, biến sự đa dạng và khác biệt của các nước ASEAN thành khả năng hỗ trợ lẫn nhau thông qua mạng lưới chuỗi cung ứng, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh và thu hút thương mại và đầu tư trong khu vực và toàn cầu Giống như nhiều khu vực mậu dịch tự do (FTA) khác, mục tiêu chung của AEC là phát triển kinh tế trên sự kết nối sức mạnh của thị trường 10 nước ASEAN Tuy nhiên, khác với các FTA khác, AEC không chỉ là một FTA với các biện pháp tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà là một khuôn khổ hội nhập và tương trợ kinh tế khu vực với
cả các nội dung hợp tác về kết nối, thu hẹp khoảng cách phát triển; không chỉ hội nhập trong ASEAN mà còn cả ASEAN với bên ngoài
- Phương châm/cách thức hội nhập của ASEAN là từng bước, tiệm tiến trước mắt tập trung vào các biện pháp đơn giản, khả thi, sau đó liên tục rà soát, củng cố và làm sâu sắc và mở rộng các biện pháp tự do hóa Trên thực tế, với mức độ hội nhập kinh tế hiện nay, AEC chưa thể được coi là một “cộng đồng kinh tế” theo nghĩa thông thường (như cộng đồng Châu Âu) AEC thể hiện mong muốn và quyết tâm của ASEAN trong hội nhập khu vực Đây sẽ là một tiến trình liên tục, lâu dài, không dừng lại ở năm 2015 Hiện ASEAN đang tiếp tục xây dựng tầm nhìn cho AEC sau năm
2015 nhằm đưa ASEAN thành một khu vực ổn định, thịnh vượng, cạnh tranh đi đôi với phát triển đồng đều, xóa nghèo và bất công xã hội đồng thời hội nhập toàn cầu
Kết quả trong một số lĩnh vực cụ thể:
* Về thương mại hàng hóa: ASEAN đã và đang thực hiện các nghĩa vụ xóa bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan trên cơ sở Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) Theo đó, từ năm 2010 các nước ASEAN 6 đã miễn, giảm thuế xuống từ 0-5% cho 98%-99% hàng hoá từ ASEAN, các nước CLMV từ 2015 đã miễn, giảm thuế tương tự với khoảng 90% hàng hóa và sẽ tiếp tục thực hiện với hầu hết các mặt hàng còn lại từ năm 2018 ASEAN cũng đang chuẩn bị hoàn tất thủ tục để thực hiện Cơ chế hải quan một cửa, các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn
và hợp chuẩn (thiết bị điện, điện tử, viễn thông).…
* Thương mại dịch vụ: Trong khuôn khổ cam kết thực hiện Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN (AFAS) năm 1995, tới nay các nước ASEAN đã thực hiện tự do hoá theo 9 Gói cam kết về thương mại dịch vụ chung, 6 Gói cam kết về dịch vụ tài chính,
8 Gói cam kết về dịch vụ vận tải hàng không với phạm vi rộng hơn và mức độ sâu hơn so với các cam kết trong khuôn khổ WTO Các lĩnh vực dịch vụ được ASEAN ưu tiên tự do hoá bao gồm ASEAN điện tử (e-ASEAN), y tế, logistics, hàng không và du lịch
* Đầu tư: đang xóa bỏ các bảo lưu trong Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), thực hiện các sáng kiến về thuận lợi hóa và bảo hộ đầu tư
* Về sự lưu chuyển tự do hơn đối với dòng vốn trong khu vực: xây dựng Khuôn khổ ASEAN về hội nhập ngân hàng, bao gồm các biện pháp hài hòa hóa quy định và tiêu chuẩn ngân hàng, thực hiện kết nối các thị trường chứng khoán ASEAN
Trang 153 Kết quả triển khai xây dựng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội (ASCC)
a) Lao động và lao động di cư: Phát triển lực lượng lao động cạnh tranh; Thực hiện các kinh nghiệm lao động tiên tiến; Đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động (phát hành Quy định ASEAN về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp); Tiến hành soạn thảo Văn kiện ASEAN về Bảo vệ và Thúc đẩy quyền của lao động di cư; Phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm HIV tại nơi làm việc
b) Phúc lợi xã hội và phát triển đồng đều: Triển khai Tuyên bố ASEAN về An sinh xã hội; Hỗ trợ phát triển đồng đều đối với các nhóm xã hội sẽ tổn thương (người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi…), góp phần hiện thực hóa mục tiêu Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân
c) Phụ nữ và trẻ em: Thúc đẩy đảm bảo quyền phụ nữ và trẻ em, thực hiện nữ quyền và bình đẳng giới; Triển khai Tuyên bố ASEAN về Xóa bỏ bạo lực đối với phụ
nữ và trẻ em; Phát hành tuyển tập các kinh nghiệm hay về loại trừ hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em; Nỗ lực hợp tác với các tác nhân liên quan lập mạng lưới xã hội bảo vệ và giúp đỡ các nạn nhân
đ) Quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo: Tích cực thúc đẩy qua triển khai Hiệp định ASEAN về Quản lý thảm họa và ứng phó khẩn cấp (AADMER), vận hành Trung tâm Điều phối hỗ trợ nhân đạo (AHA), tổ chức các cuộc Diễn tập phòng chống thiên tai; Triển khai Tuyên bố ASEAN về tăng cường phòng chống thiên tai với việc thông qua các chiến lược và ưu tiên của Kế hoạch công tác (giai đoạn 2) Hiệp định AADMER (2013-15) và Quy chế hoạt động (TOR) trao thẩm quyền và nhiệm vụ cho Tổng Thư ký ASEAN làm Điều phối viên hỗ trợ nhân đạo ASEAN
e) Y tế: Triển khai các cam kết tại Tuyên bố ASEAN về các bệnh không lây nhiễm; Phòng chống HIV/AIDS; Hợp tác thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân
g) Giáo dục: Phát hành Báo cáo tình hình giáo dục ASEAN, qua đó cung cấp tổng thể cảnh quan giáo dục tại ASEAN; lập Thẻ đánh giá giáo dục ASEAN; chuyển ngữ các SGK tham khảo nguồn; thực hiện hài hoà hoá chương trình giáo dục nhằm quản lý chất lượng đào tạo cao học; thúc đẩy hợp tác du học và trao đổi sinh viên giữa các trường Đại học ASEAN
h) Môi trường: Thông qua Chương trình ASEAN về quản lý bền vững hệ sinh thái đất than bùn (2014-20) trên cơ sở dự án Rừng đất than bùn ASEAN (APFP) đã
Trang 1616
kết thúc; Mở rộng mạng lưới khu vực đối với Chương trình công viên di sản ASEAN (AHP) gồm 33 khu bảo tồn quốc gia có tầm quan trọng về đa dạng sinh học; Thông qua Kế hoạch hành động giáo dục môi trường ASEAN (AEEAP) 2014-18 sau kết thúc giai đoạn 2008-12; Lập hệ thống theo dõi khói bụi chung (HMS) giữa các cơ chế Tiểu vùng ASEAN về ô nhiễm khói bụi xuyên quốc gia; Soạn thảo Triển vọng môi trường ASEAN-Trung Quốc (lần đầu tiên) nhằm cung cấp thông tin tổng quan về tình trạng môi trường, khả năng giải pháp và hợp tác xử lý những vấn đề và thách thức chung
i) Văn hoá và Thông tin: Thực hiện các dự án lớn nhằm bảo tồn và quảng bá di sản văn hoá ASEAN, phát triển văn hoá sáng tạo và thông tin Tiếp tục nâng cao nhận thức về ASEAN qua các kế hoạch truyền thông quốc gia; phát triển Trung tâm đào tạo nguồn lực ảo ASEAN và triển khai các hoạt động chung trên truyền hình, đài phát thanh và truyền thông số; Tổ chức Liên hoan phim ASEAN lần thứ nhất với nỗ lực sử dụng phim ảnh làm phương tiện giới thiệu ASEAN đến với nhiều cộng đồng khán giả hơn
l) Thanh niên: Triển khai Tuyên bố ASEAN về Doanh nghiệp trẻ và việc làm;
Tiếp tục 2 chương trình tình nguyện, gồm Thanh niên tình nguyện ASEAN (AYVP)
và Đội tình nguyện trẻ chuyên nghiệp ASEAN (AYPVC)
m) Các vấn đề công vụ: Tiếp tục triển khai các dự án của 10 Trung tâm nguồn lực ASEAN (ARC) tập trung vào phát triển lãnh đạo, quản lý nguồn nhân lực và cán
bộ, công nghệ thông tin, thi và kiểm tra…nhằm xây dựng năng lực và thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm giữa các công chức Đang thực hiện Kế hoạch công tác ACCSM+3 giai đoạn 2012-15 Kết thúc 5 dự án thí điểm như hội thảo về năng suất xanh
4 Kết quả thực hiện Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC):
Sáng kiến kết nối ASEAN được thông qua tại HNCC ASEAN 15 (năm 2009), đề ra các chiến lược và hoạt động cụ thể nhằm kết nối ASEAN trên 3 lĩnh vực chính: (i) Hạ tầng (Giao thông vận tải, Năng lượng, ICT); (ii) Thể chế (tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, vốn); và (iii) Con người (giáo dục, văn hóa, du lịch) Để hiện thực hóa các mục tiêu này, các Nhà Lãnh đạo ASEAN đã thông qua Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC) tại HNCC ASEAN 17 (Hà Nội, tháng 10/2010) MPAC được xây dựng trên cơ sở chọn lọc các biện pháp “deliverable” và thiết thực nhất trong các kênh chuyên ngành, kết hợp với các biện pháp đang triển khai trong các khuôn khổ tiểu vùng Tiến độ triển khai MPAC tiếp tục gặp nhiều khó khăn Trong tổng số 125 hoạt động thuộc MPAC, 96 hoạt động sẽ cần được hoàn tất vào năm
2015, tuy nhiên Ban Thư ký ASEAN đánh giá chỉ 65% những hoạt động này có thể kết thúc vào năm 2015 theo kế hoạch
Các khó khăn chính được xác định là do (i) thiếu nguồn lực cho các dự án cơ sở
hạ tầng, (ii) khó khăn, chậm trễ trong việc thông qua Hiệp định đã ký hoặc thay đổi nội luật để triển khai các cam kết khu vực, và (iii) sự phối hợp chưa nhịp nhàng giữa các cơ quan ban ngành tham gia triển khai MPAC Hiện Uỷ ban Kết nối ASEAN (ACCC) đang tăng cường việc huy động nguồn lực và hỗ trợ từ bên ngoài, xem xét
Trang 17công nghệ thông tin và cơ sở hạ tầng
Giai đoạn 2 (2009-2015) được triển khai trên cơ sở Tài liệu Khung chiến lược (SF) và Kế hoạch Công tác IAI (WP) 2 được thông qua tại HNCC ASEAN-14 (tháng 2/2009, Thái Lan) Tính đến tháng 4/2015, đã có 63 hoạt động (chiếm 35%) trong WP-2, tương đương 281 dự án, được triển khai với sự hỗ trợ của ASEAN-6, các đối tác đối thoại và đối tác phát triển Trong đó, có 36 trên tổng số 94 hoạt động liên quan đến AEC (chiếm 39%), 19 trên tổng số 78 hoạt động liên quan đến ASCC (chiếm 24%), 4 trên tổng số 6 hoạt động liên quan đến APSC (chiếm 67%) đã được thực hiện Các nước ASEAN-6 đã đóng góp hoặc cam kết tổng số 277 dự án, với kinh phí gần 20 triệu USD (trong đó ASEAN-6 góp gần 18 triệu) Trong tổng số 277 dự án này, có 43 dự án được thực hiện chung với các Đối tác Các Đối tác tích cực hỗ trợ ASEAN thực hiện IAI là Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, và Niu Di-lân Tuy các nước đối tác đã cam kết vốn hỗ trợ khá lớn cho IAI, rất nhiều dự án hiện vẫn đang chờ xét duyệt do quy định xét duyệt khá phức tạp, yêu cầu sự đồng ý của nhiều cấp và sự có lợi cho ít nhất 2 trong 4 nước CLMV
Trong năm 2015, Nhóm Đặc trách IAI (IAITF) nhất trí ưu tiên triển khai các hoạt động đã có đề xuất nội dung dự án của CLMV trong đó có 60 hoạt động Giai đoạn sau 2015, cần kiểm điểm toàn diện hiệu quả triển khai |Sáng kiến IAI và quy trình xây dựng, đề xuất và triển khai các dự án IAI; hiệu quả hoạt động của cơ chế IAITF và phòng IAI/NDG của BTK ASEAN; vai trò điều phối của các Phái đoàn CLMV và BTK ASEAN; rà soát mức độ khả thi của 119 trong tổng số 182 hoạt động chưa được triển khai của IAI WP-2 và rút gọn danh mục hoạt động ưu tiên của CLMV theo hướng tinh gọn, cụ thể hóa các hoạt động khả thi
6 Quan hệ Đối ngoại của ASEAN
Quan hệ đối ngoại của ASEAN là một mảng lớn trong các hoạt động của Hiệp hội luôn được mở rộng và tăng cường thông qua các khuôn khổ khác nhau, đồng thời ASEAN luôn phát huy được vai trò chủ đạo trong các tiến trình khu vực cũng như trong việc xử lý những vấn đề quan trọng của khu vực Quan hệ đối ngoại đã hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu an ninh và phát triển của ASEAN ; giúp ASEAN tạo được mạng lưới quan hệ hợp tác lâu dài và ổn định với tất cả các nước lớn và đối tác quan trọng ở khu vực và trên thế giới, góp phần vào duy trì hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực,
Trang 1818
nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế; giúp ASEAN huy động đáng kể sự
hỗ trợ, kể cả về tài chính của các nước đối tác cho xây dựng cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển, thúc đẩy hội nhập ASEAN
Quan hệ đối ngoại của ASEAN bao gồm các khuôn khổ ASEAN+1, ASEAN+3, và Cấp cao Đông Á (EAS) Cụ thể:
(i) Khuôn khổ ASEAN + 1 (với từng đối tác bên ngoài) ASEAN hiện có quan
hệ đối thoại và hợp tác với 10 nước (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, kít-xtan, Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân, Nga, Hoa Kỳ và Ca-na-đa), 1 tổ chức khu vực là Liên minh Châu Âu (EU) và 1 tổ chức quốc tế là Liên Hợp Quốc Ngoài ra ASEAN cũng như đang xem xét đề nghị thiết lập quan hệ đối tác ở các mức khác nhau với nhiều nước như Na Uy, Ecuador, Triều Tiên, Mông Cổ và Thụy Sỹ ASEAN hiện là quan sát viên của LHQ và có quan hệ với nhiều tổ chức khu vực khác trên thế giới như FEALAC, CELAC, GCC, AP, ECO…
Pa-Đến nay, ASEAN cùng với hầu hết các đối tác nói trên đã thiết lập các khuôn khổ quan hệ như đối tác chiến lược (với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc), đối tác tăng cường (Mỹ, EU, Ca-na-đa) hoặc toàn diện (Niu Di-lân, Nga, UN), kèm theo các kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện Các chương trình/kế hoạch hành động đang được triển khai tích cực với nhiều biện pháp/hoạt động khác nhau, kể
cả thỏa thuận lập các Khu vực mậu dịch tự do (FTA) giữa ASEAN với nhiều đối tác quan trọng như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và Niu Di-lân
(ii) Tiến trình ASEAN+3 (với ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản
và Hàn Quốc) Khuôn khổ hợp tác ASEAN+3 hình thành năm 1997 với cuộc họp Cấp cao không chính thức lần đầu tiên giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và được chính thức hóa năm 1999 với việc thông qua Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á (Ma-ni-la, 28/11/1999) ASEAN+3 ra đời xuất phát từ nhu cầu hợp tác của các nước khu vực nhằm đối phó với tác động của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, đến nay đã mở rộng, phát triển, trở thành một trong những cơ chế quan trọng trong hợp tác Đông Á, đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, tài chính Ngoài
ra, ASEAN+3 cũng hợp tác trên các lĩnh vực an ninh-chính trị, nông-lâm nghiệp, chống tội phạm xuyên quốc gia, năng lượng, môi trường, công nghệ thông tin, du lịch, lao động, y tế, văn hóa nghệ thuật, quản lý thiên tai, giáo dục… được điều phối thông qua nhiều cơ chế, gồm Cấp cao, cấp Bộ trưởng, cấp Quan chức Cao cấp, CPR+3, và nhóm làm việc
Hợp tác ASEAN+3 đã đóng góp giải quyết các thách thức chung của khu vực, tạo điều kiện cho hòa bình, ổn định, hội nhập khu vực và quá trình xây dựng Cộng đồng Đông Á Các nước+3 ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng, hướng tới mục tiêu lâu dài là thành lập cộng đồng Đông Á trong đó ASEAN đóng vai trò là động lực chính
(iii) Cấp cao Đông Á (EAS) Tháng 12/2005, EAS ra đời với sự tham gia của
16 thành viên gồm 10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật bản, Hàn quốc, Ấn Độ,
Trang 19Ôt-19
xtrây-lia và Niu Di-lân Mỹ và Nga tham gia EAS từ năm 2011 Đây là diễn đàn của các Lãnh đạo đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng ở khu vực Đông Á; là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó ASEAN giữ vai trò chủ đạo; bổ sung và hỗ trợ cho các diễn đàn khu vực khác hiện có, họp hàng năm do ASEAN chủ trì nhân dịp Cấp cao ASEAN
Sức hấp dẫn và tầm quan trọng của ASEAN tiếp tục được thể hiện qua Cấp cao Đông Á, diễn đàn hàng năm quan trọng của các lãnh đạo đối thoại về các vấn đề chiến lược bao gồm cả nội dung chính trị-an ninh, kinh tế, hợp tác phát triển ASEAN tiếp tục đóng vai trò trung tâm, tạo điều kiện để các cường quốc đóng góp vào duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển ở khu vực Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác của EAS đóng góp vào xây dựng Cộng đồng ASEAN, thông qua tăng cường hợp tác và nâng cao năng lực của ASEAN trong 6 lĩnh vực ưu tiên gồm (i) năng lượng và môi trường, (ii) giáo dục; (iii) tài chính và kinh tế; (iv) y tế và dịch bệnh; (v) quản lý thiên tai; và (vi) hợp tác kết nối
B SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN
Với phương châm “chủ động, tích cực và có trách nhiệm” trong tham gia hợp tác ASEAN, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ASEAN nói chung và mục tiêu hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN nói riêng Việt Nam đã tham gia đầy đủ và sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN, từ chính trị-an ninh, kinh tế, văn hoá-xã hội và quan hệ đối ngoại của Hiệp hội; và có những đóng góp quan trọng cho sự trưởng thành và lớn mạnh của ASEAN, từ xác định các mục tiêu và quyết sách lớn đến việc tăng cường đoàn kết và liên kết ASEAN, đẩy mạnh quan hệ đối ngoại và nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của Hiệp hội Sự tham gia và đóng góp của Việt Nam trên các lĩnh vực cụ thể như sau:
1 Trụ cột Cộng đồng Chính trị - An ninh
- Việt Nam luôn đi đầu thúc đẩy đối thoại và hợp tác nhằm duy trì hòa bình, ổn định và an ninh ở khu vực Chúng ta chủ động thúc đẩy và tích cực tham gia thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin, xây dựng và chia sẻ các chuẩn mực chung trong ứng
xử giữa các quốc gia, phát huy các công cụ và cơ chế hợp tác chính trị - an ninh hiện
có của khu vực như Hiệp ước TAC, Hiệp ước SEANWFZ, Tuyên bố DOC
- Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động đối thoại và hợp tác giữa các quan chức quốc phòng ASEAN và ASEAN mở rộng, tăng cường xây dựng lòng tin và hợp tác xử lý những thách thức an ninh ở khu vực Chúng ta cũng tích cực tham gia các hoạt động hợp tác ứng phó các thách thức an ninh phi truyền thống (chống khủng
bố, ma túy, buôn người, tội phạm công nghệ cao và các loại tội phạm xuyên quốc gia ), các hoạt động ngăn ngừa xung đột (thiết lập đường dây nóng, thúc đẩy cơ chế
“cảnh báo sớm”), tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo,
- Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho việc bảo đảm đoàn kết và thống nhất ASEAN cũng như phát huy vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực
Trang 2020
Chúng ta luôn kiên trì thúc đẩy đoàn kết và thống nhất ASEAN trên cơ sở các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội đã được ghi nhận trong Hiến chương ASEAN, khéo léo xử lý những khác biệt nảy sinh giữa các nước ASEAN, thúc đẩy lập trường
và tiếng nói chung trong việc xử lý những vấn đề khu vực
- Chúng ta đã chủ động thúc đẩy thành công một số vấn đề giúp ASEAN bảo đảm vai trò trung tâm ở khu vực, trong đó có quyết định mở rộng Cấp cao Đông Á (EAS) cho Nga và Mỹ tham gia; vận động và chủ trì thành công Hội nghị ADMM+ lần đầu tiên ở Hà Nội; xây dựng Kế hoạch hành động Hà Nội thực hiện Tuyên bố Tầm nhìn ARF; tích cực thúc đẩy định hình cấu trúc an ninh khu vực Đông Á trên cơ
sở các tiến trình khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ đạo Việt Nam đã tích cực thúc đẩy quan hệ giữa ASEAN với các đối tác, làm sâu sắc quan hệ hợp tác chính trị-an ninh ASEAN với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Úc , để tạo dựng một môi trường hòa bình, an ninh tại khu vực;
- Việt Nam đã khéo léo lồng thép thúc đẩy vấn đề Biển Đông, tranh thủ được sự
ủng hộ quốc tế để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của ta ở Biển Đông Trong nhiều năm qua, nhất là khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và tiến hành cải tạo quy mô lớn các đảo/đá, vấn đề Biển Đông nổi lên trở thành chủ đề hàng đầu tại các Hội nghị ASEAN
và ASEAN mở rộng; tất cả các nước ASEAN và đối tác (trừ Trung Quốc) đều bày tỏ quan ngại, thể hiện qua các văn kiện của nhiều Hội nghị quan trọng, nhất là Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao về diễn biến ở Biển Đông (10/5/2014), Hội nghị Cấp cao ASEAN-24 (tháng 5/2014), Cấp cao ASEAN-25 (tháng 11/2014) và Cấp cao ASEAN -26 (tháng 4/2015) Đây là kết quả đấu tranh của ta trên thực địa, kết hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao Ta cũng đã tích cực thúc đẩy trao đổi giữa ASEAN và Trung Quốc về thực hiện nghiêm túc DOC và sớm xây dựng COC; đẩy mạnh đối thoại và hợp tác về các vấn đề trên biển, xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột
2.1 Thương mại hàng hóa
- Ngay từ khi ra nhập, Việt Nam đã thực hiện việc cắt giảm thuế nhập khẩu trong ASEAN Đến năm 2010, ta đã đưa thuế suất về 0-5% đối với khoảng 90% số dòng thuế và được linh hoạt giữ thuế suất đối với 7% số dòng thuế còn lại tới năm 2018 (Các nước ASEAN 6 đã thực hiện nghĩa vụ này từ 2010, có nghĩa là từ 2010 khoảng 98-99% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN 6 đã được miễn thuế nhập khẩu) Đến nay, đây là mức cắt giảm thuế nhập khẩu cao nhất trong tất cả các
Trang 2121
FTA Việt Nam đã ký Về biện pháp phi thuế quan, cơ bản cam kết trong ASEAN hiện nay chưa đi quá cam kết trong WTO từ cam kết về hạn ngạch thuế quan Theo đó đến năm 2018, Việt Nam sẽ phải xóa bỏ hạn ngạch thuế quan với 4 mặt hàng là đường (đường tinh luyện, đường thô), muối, trứng gia cầm, thuốc lá nguyên liệu Các biện pháp phi thuế quan của ta đến nay đều phù hợp với các cam kết
2.2 Thương mại dịch vụ
- Trong khuôn khổ cam kết thực hiện Hiệp định khung về dịch vụ ASEAN (AFAS) năm 1995, tới nay các nước ASEAN đã thực hiện tự do hoá theo 9 Gói cam kết về thương mại dịch vụ chung, 6 Gói cam kết về dịch vụ tài chính, 8 Gói cam kết
về dịch vụ vận tải hàng không với phạm vi rộng hơn và mức độ sâu hơn so với các cam kết trong khuôn khổ WTO Các cam kết này cơ bản giống với cam kết chung của Việt Nam trong GATS, cũng không trực tiếp làm thay đổi thể chế của ngành dịch vụ Việt Nam Việc cam kết phụ thuộc vào tình hình thực tế đã mở cửa và trong khuôn khổ pháp luật hiện hành Hiện nay Việt Nam vẫn đang duy trì các rào cản quan trọng nhất trong các ngành và phân ngành nhạy cảm (viễn thông, tài chính, ngân hàng, phân phối, năng lượng )
2.3 Đầu tư
- Việt Nam đã tham gia Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) với các nội dung bao trùm cả về tự do hóa đầu tư, bảo hộ đầu tư, thuận lợi hóa đầu tư và xúc tiến đầu tư; dành đối xử như nhau cho các nhà đầu tư ASEAN và nhà đầu tư ngoài ASEAN
- Việt Nam cùng chung quan điểm với các nước thành viên ASEAN khác trong việc tạo ra một thể chế đầu tư tự do, mở cửa, thuận lợi và cạnh tranh nhằm thúc đẩy đầu tư nội khối và thu hút đầu tư nước ngoài vào ASEAN Ta đã xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật phù hợp, áp dụng thống nhất tiêu biểu là Luật Doanh nghiệp
và Luật Đầu tư Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nới lỏng các quy định đối với lĩnh vực bán lẻ, ngân hàng, giáo dục Những điều chỉnh trên tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư, phù hợp với những cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định đầu tư trong khối ASEAN
2.4 Một số dung khác
- Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực cùng các nước ASEAN triển khai các hoạt động trong các lĩnh vực khác, nổi bật là: củng cố khả năng cạnh tranh về lương thực, thực phẩm, nông lâm nghiệp của ASEAN; xúc tiến hợp tác về cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng; thông qua các văn kiện pháp lý làm cơ sở hợp tác trong các lĩnh vực vận tải hàng không, đường bộ; tăng cường trao đổi thông tin dữ liệu về khoáng sản; các hoạt động, chương trình bảo vệ người tiêu dùng; các chương trình, biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ…
- Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ thực hiện cao nhất các biện pháp trong Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN Đối với các biện pháp ưu tiên
Trang 2222
thực hiện cho đến hết 2015, Việt Nam và Singapore là hai nước có tỉ lệ cao nhất, đạt 93,5%, so với mức chung của ASEAN là 90,5% Điều này thể hiện sự nghiêm túc và
nỗ lực của Việt Nam trong xây dựng AEC
3 Trụ cột Cộng đồng Văn hóa – Xã hội
Việt Nam đã tích cực lồng ghép các nội dung của Kế hoạch tổng thể vào các Chương trình Mục tiêu quốc gia, chương trình hành động của các Bộ, ngành và chiến lược phát triển của Việt Nam nói chung, qua đó giúp tiết kiệm được thời gian, nguồn
lực đảm bảo việc thực hiện KHTT một cách nhanh chóng, đồng bộ và toàn diện
Hợp tác Cộng đồng Văn hoá-Xã hội trải rộng đan xen, đa ngành trên nhiều lĩnh vực như: lao động, phúc lợi xã hội, phụ nữ và trẻ em, thanh niên, lao động di cư, người cao tuổi, người khuyết tật, y tế, giáo dục Cấp độ hợp tác ngày càng nâng cao
và đi vào thực chất, góp phần thúc đẩy và làm sâu sắc quá trình hội nhập, liên kết ASEAN, hình thành và nâng cao ý thức hợp tác, phối hợp ở cấp độ khu vực và quốc
tế để giải quyết các vấn đề nảy sinh và cùng ứng phó với các thách thức chung của khu vực
- Lao động và việc làm: Việt Nam đã tích cực tham gia Hội nghị Bộ trưởng,
quan chức lao động ASEAN (ALMM, SLOM); nêu sáng kiến lập dự án nghiên cứu so sánh luật lao động giữa các nước ASEAN, diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm về thanh tra lao động; tổ chức hội nghị nguồn nhân lực; đối thoại lao động và sửa đổi Luật lao động về khuôn khổ pháp lý và quy tắc liên quan tới quan hệ việc làm; thảo luận văn kiện về bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động di cư; hợp tác phát triển nguồn nhân lực (hình thành và luật hoá việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động trong Luật dạy nghề; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Khung trình độ quốc gia; tham gia và đăng cai tổ chức Hội thi tay nghề ASEAN)
- Phúc lợi và phát triển xã hội: tích cực tham gia và đăng cai tổ chức các hội
nghị cấp Bộ trưởng, quan chức ASEAN về phúc lợi xã hội và phát triển (AMMSWD, SOMSWD); các chương trình, dự án, hoạt động hợp tác như lập Nhóm các nhà sư phạm, thực hành công tác xã hội ASEAN; Chiến lược cộng đồng về phòng chống bạo lực gia đình; an sinh xã hội và chế độ thai sản cho lao động nữ v.v Việt Nam đã đi đầu trong việc xây dựng Tuyên bố ASEAN về Tăng cường An sinh xã hội và Tuyên
bố về phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em trong ASEAN đã được thông qua tại HNCC ASEAN 25 (tháng 11/2014); hợp tác với Nhật Bản về chính sách chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh; và với Hàn Quốc về công tác chăm sóc tại nhà cho người cao tuổi
- Phụ nữ: Việt Nam đã đóng góp vào việc chống bạo lực gia đình, bảo vệ quyền
của phụ nữ ASEAN Năm 2010, Uỷ ban thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ
em (ACWC) được lập tại Việt Nam Việt Nam tham gia đóng góp vào việc xây dựng
kế hoạch của ACWC trong ASEAN cũng như thiết lập mạng lưới, xây dựng kết nối giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nhà tài trợ trong lĩnh vực bảo vệ quyền của
Trang 2323
phụ nữ và trẻ em thông qua các Hội thảo, dự án như “Thúc đẩy Quyền có quốc tịch cho phụ nữ và trẻ em trong việc thực hiện Công ước CRC và CEDAW trong ASEAN: Quan hệ đối tác tiềm năng ACWC-UNHCR”
- Hợp tác môi trường và biến đổi khí hậu: Việt Nam đã đề xuất sáng kiến tổ
chức diễn đàn môi trường ASEAN để trao đổi kinh nghiệm và các bài học thực tế trong các vấn đề về môi trường Năm 2013, Việt Nam đã chủ trì Hội thảo cấp cao Đông Á về Thành phố bền vững môi trường lần thứ 4; Tổ chức thành công Lễ Trao Chứng nhận Vườn Quốc gia U Minh Thượng là Vườn Di sản ASEAN, nâng tổng số thành 5 Vườn Di Sản ASEAN của Việt Nam Nhiều lượt cán bộ, chuyên gia của ta đã tham gia các khóa tập huấn tăng cường năng lực trong lĩnh vực này
- Hợp tác quản lý thiên tai: Việt Nam đã phối hợp với ASEAN triển khai Hiệp
định ASEAN về Ứng phó khẩn cấp và Quản lý thiên tai; lồng ghép các cam kết hợp tác quản lý thiên tai thảm họa cấp khu vực vào chương trình phát triển quốc gia; Ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, nâng cao nhận thức Cộng đồng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đầu tư nâng cấp các công trình phòng chống thiên tai… Tháng 10/2013, Việt Nam đã tổ chức thành công Diễn tập Ứng phó Thiên tai khu vực ASEAN (ARDEX-13), với sự tham gia của 2500 người, các đội cứu trợ đến
từ 10 nước ASEAN và quan sát viên từ 6 nước EAS, trong đó có Ô-xtrây-lia
- Hợp tác thông tin-truyền thông: Hợp tác về quản lý và khai thác các dịch vụ
viễn thông, dịch vụ bưu chính và chuyển phát giữa Việt Nam với các nước ASEAN được liên tục mở rộng, phục vụ kịp thời nhu cầu trao đổi thông tin và liên lạc, phát triển các mối quan hệ kinh tế xã hội và văn hoá giữa Việt Nam và các nước, góp phần xây dựng một không gian điện tử chung trong ASEAN (e-ASEAN), hướng tới việc phát triển các lĩnh vực xã hội điện tử, kinh doanh điện tử và Chính phủ điện tử, thu hẹp khoảng cách số và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong xã hội, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa Một số doanh nghiệp của Việt Nam như VNPT, Viettel
đã triển khai các dự án hợp tác đầu tư hiệu quả tại một số nước ASEAN như chia, Lào, Mi-an-ma
Căm-pu Hợp tác văn hóa: ta đã tham gia tích cực nhiều hoạt động hợp tác văn hóa
ASEAN ASEAN, qua đó tăng cường quan hệ, hiểu biết giữa Việt Nam và các nước, giới thiệu văn hoá nghệ thuật Việt Nam và đưa công chúng, nghệ sĩ Việt Nam tiếp cận nhiều hơn nền văn hóa đa dạng, đặc sắc của các dân tộc ASEAN
- Hợp tác khoa học-công nghệ: hoạt động hợp tác ASEAN tập trung trong các
lĩnh vực như tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ, và hoạt động hợp tác KHCN trong ASEAN COST như Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau của ASEAN về thiết
bị điện và điện tử; Hiệp định hài hoà quy chế quản lý thiết bị điện-điện tử của
ASEAN… Ta đã đăng cai tổ chức nhiều hội nghị, triển lãm qui mô lớn như Tuần lễ
KHCN ASEAN, đề xuất và thực hiện nhiều dự án, sáng kiến hợp tác KHCN của
ASEAN
Trang 2424
- Hợp tác giáo dục-đào tạo: từ năm 1992 Việt Nam đã tham gia Hội nghị Hội
đồng Bộ trưởng Giáo dục các nước ĐNÁ (SEAMEO); sau đó là Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEAN (ASED) và Ủy ban Giáo dục của ASEAN Các hoạt động hợp tác giáo dục ASEAN đem lại lợi ích thiết thực không chỉ cho giáo dục-đào tạo mà còn cho các ngành khác như: nông lâm nghiệp, văn hoá-thông tin và y tế Từ năm 1992-
2009, Quĩ hỗ trợ đặc biệt SEAMEO đã tài trợ cho trên 2000 cán bộ Việt Nam tham gia các hội nghị, hội thảo, các khoá đào tạo ngắn hạn và dài hạn Hàng nghìn lượt giảng viên, các nhà khoa học đến giảng dạy, trao đổi học thuật và sinh viên, học sinh các nước thành viên đến học tập và giao lưu văn hóa Việt Nam đã tiếp nhận nhiều nguồn học bổng để triển khai các chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao như: Chương trình học bổng Quỹ Quốc tế Singapore (SIF-ASEAN); Chương trinh học bổng AUN-Hàn Quốc Ta cũng tham gia Mạng lưới các Đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network- AUN) với công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học Các ĐH Quốc gia Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh và ĐH Cần Thơ đã được phê duyệt
là thành viên của Mạng lưới các trường Đại học ĐNÁ (AUN)
- Hợp tác thanh niên: Năm 2011, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Bộ
trưởng Thanh niên ASEAN lần thứ VII Hội nghị đã đề ra nhiều sáng kiến Hội nghị
đã ra Tuyên bố chung trong đó khẳng định Sáng kiến Hà Nội góp phần tăng cường hơn nữa hợp tác toàn diện trong lĩnh vực thanh niên, nâng cao sự gắn bó và hiểu biết giữa các tầng lớp thanh niên, lãnh đạo trẻ trong khu vực Ta cũng tham gia các Chương trình Giao lưu thanh niên học sinh giữa ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
- Hợp tác Y tế: Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động hợp tác và hội nhập
với ASEAN trong các lĩnh vực như: Y tế dự phòng (phòng chống đại dịch cúm ở người, dự trữ thuốc Taminflu và bộ phòng chống dịch, tổ chức các cuộc diễn tập phòng chống đại dịch trong khu vực); Phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm: cúm A(H5N1) và cúm A(H1N1), y học cổ truyền, an toàn vệ sinh thực phẩm, thống nhất cách thức quản lý mỹ phẩm tại các nước ASEAN, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm, hướng tới một thị trường chung của ASEAN Các nước ASEAN đã có các thỏa thuận về Dịch vụ Điều dưỡng, Người hành nghề Y và Nha khoa, Thỏa thuận Công nhận lẫn nhau trong Thanh tra Thực hành tốt Sản xuất thuốc đối với các cơ sở sản xuất dược phẩm… tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tham gia vào thị trường dịch vụ khu vực
- Hợp tác công vụ: Việt Nam đã tham gia đầy đủ, tích cực vào các hoạt động của
ACCSM, tạo điều kiện và đẩy mạnh hoạt động trao đổi những kinh nghiệm và thực tiễn về cải cách công vụ ở mỗi nước thành viên Hiện Việt Nam chủ trì Trung tâm nguồn ASEAN-Việt Nam về quản lý nhân sự
- Đối ngoại nhân dân: Việt Nam đã quan tâm duy trì, phát triển công tác ngoại
giao nhân dân, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân Đến nay, các đoàn thể và tổ chức nhân dân ta đã phát triển được một mạng lưới rộng khắp với nhiều đối tác trong khu vực trên tất cả các lĩnh vục (hòa bình hữu nghị, xóa đói giảm nghèo cũng như dân
Trang 2525
chủ tôn giáo nhân quyền), nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức, cơ chế trong ASEAN, mở rộng quan hệ với các cơ chế, tổ chức đa phương mang tính khu vực như: Hội đồng các tổ chức Phụ nữ ASEAN (ACWO), Hội đồng Công đoàn ASEAN (ATUC), Liên đoàn Cựu Chiến binh ASEAN (VECONAC), Liên đoàn Nhà báo ASEAN (CAJ), Hiệp hội Sở hữu trí tuệ ASEAN, Hội luật gia các nước ASEAN (ALA), Diễn đàn Nhân dân ASEAN (ACSC/APF)…
- Vai trò Tổng Thư ký: Việt Nam đã hoàn tất việc cử nhân sự đảm nhiệm vai
trò Tổng Thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013-2017 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Lương Minh đã chính thức nhậm chức TTK ASEAN ngày 09/01/2013 và đã đảm nhiệm tốt vai trò Tổng Thư ký từ đó cho đến nay, được các nước thành viên đánh giá cao
4 Quan hệ Đối ngoại
Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong việc định hướng chiến lược, chính sách, và bước đi tăng cường quan hệ đối ngoại của ASEAN thông qua nhiều khuôn khổ khác nhau như ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ARF và ADMM+
Riêng trong khuôn khổ ASEAN+1, Việt Nam là nước điều phối quan hệ với nhiều đối tác quan trọng kể từ khi gia nhập ASEAN (cứ 3 năm điều phối một đối tác),
mà gần đây nhất là nước điều phối quan hệ ASEAN-Trung Quốc (từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2012), hiện đang điều phối quan hệ đối thoại ASEAN-EU (từ 7/2012-8/2015) và sắp tới điều phối quan hệ ASEAN - Ấn độ (từ 8/2015 – 8/2018) Thông qua đó, ta đã góp phần mở rộng và làm sâu sắc hợp tác giữa ASEAN với các đối tác trên nhiều lĩnh vực từ chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội; tranh thủ được
sự ủng hộ và hỗ trợ của các đối tác đối với nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN cũng như xử lý những thách thức ở khu vực
C NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
1 Sự hình thành Cộng đồng ASEAN nói riêng và tiến trình liên kết ASEAN nói chung đã tạo ra những cơ hội và thách thức đan xen nhau đối với Việt Nam
Cộng đồng ASEAN đã làm cho Hiệp hội ASEAN trở thành một thực thể chính trị-kinh tế khá gắn kết; có vai trò quan trọng đối với hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực Đông Á; là đối tác không thể thiếu của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước lớn Tham gia hợp tác ASEAN đã và sẽ mang lại cho Việt Nam những lợi ích to lớn và thiết thực; hỗ trợ đắc lực cho an ninh, phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta Những lợi ích có thể khái quát gồm: (i) Duy trì môi trường khu vực hòa bình
và ổn định thuận lợi cho an ninh và phát triển của ta ; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi và thế chiến lược tốt hơn cho Việt Nam trong quan hệ với các đối tác bên ngoài, nhất là các nước lớn, cũng như khi tham gia các tổ chức hợp tác đa phương rộng lớn hơn; (iii) Giúp ta mở rộng tiếp cận thị trường các nước và trở nên hấp dẫn hơn đối với đầu tư và kinh doanh từ bên ngoài; (iv) tiếp cận thông tin, kinh nghiệm, công nghệ và nguồn lực thông qua việc tham gia nhiều hoạt động/dự án hợp tác; (v) giúp ta nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và cải cách thể chế, luật lệ trong nước cho phù hợp với chuẩn mực khu vực và quốc tế
Trang 2626
Tuy vậy, chất lượng của Cộng đồng ASEAN 2015 vẫn còn hạn chế vì mức độ liên kết khu vực chưa cao cũng như sự khác biệt còn khá lớn về trình độ phát triển, chế độ chính trị - xã hội và lợi ích quốc gia ASEAN hiện vẫn là một cộng đồng
“thống nhất trong đa dạng”; là một tổ chức liên Chính phủ, hoạt động trên cơ sở bình đẳng chủ quyền quốc gia và nâng dần các lợi ích chung theo tiến triển của liên kết khu vực Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của ASEAN còn cồng kềnh, họp hành nhiều, hiệu quả thấp; chưa có cơ chế bảo đảm thực thi đầy đủ và nghiêm túc các thỏa thuận; nguồn lực hạn chế, trông chờ nhiều vào sự hỗ trợ của bên ngoài Hơn nữa, ASEAN luôn chịu tác động mạnh của các nhân tố cả từ bên trong và bên ngoài, nhất là những biến động của tình hình khu vực và quốc tế cũng như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực
Do vậy, việc đạt được đồng thuận và thực thi các thỏa thuận/cam kết hợp tác trên các lĩnh vực đòi hỏi quá trình tham vấn kéo dài và phức tạp; hiệu quả và chất lượng tham gia cũng như sự vận động tích cực của ta chưa đạt được kết quả như mong muốn Do mức độ liên kết ASEAN ngày càng gia tăng, chúng ta cần điều chỉnh, sửa đổi hoặc ban hành mới nhiều văn bản pháp quy, chính sách và quy định cả
ở tầm vĩ mô và vi mô để phù hợp với tiến trình hội nhập khu vực; tăng cường và nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp liên Bộ/ngành; tăng cường bộ máy chuyên trách tham gia hợp tác ASEAN; đầu tư thích đáng hơn về nguồn lực, nhất là về tài chính
và cán bộ tham gia hoạt động đa phương
2 Về chính trị - an ninh:
2.1 Cơ hội: Ta có được trì môi trường khu vực hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác, để tập trung phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trực tiếp tham gia và đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý những thách thức an ninh cả truyền thống và phi truyền thống ở khu vực Riêng về Biển Đông, ta có được sự ủng
hộ và hỗ trợ đáng kể trong việc bảo vệ chủ quyền và lợi ích của ta ở Biển Đông, mặc
dù lập trường chung và vai trò của ASEAN trong vấn đề này còn có mức độ
2.2 Thách thức: Tuy nhiên, ta gặp một số khó khăn trong quá trình đưa hợp tác chính trị - an ninh đi vào chiều sâu do giữa các nước thành viên vẫn còn có sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội và lợi ích an ninh cũng như trong quan hệ với các nước lớn Ta cũng gặp khó khăn trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, trong lúc một số nước ASEAN và nhiều nước đối tác đẩy mạnh vấn đề này theo các giá trị của phương Tây
3 Về kinh tế:
3.1 Cơ hội:
- Cộng đồng Kinh tế ASEAN mang lại cơ hội xuất khẩu cho Việt Nam qua việc
mở ra một thị trường chung rộng lớn, thống nhất với hơn 600 triệu người, tổng GDP hàng năm gần 3000 tỷ USD ASEAN hiện là nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới, dự báo sẽ giữ vị trí thứ 4 thế giới vào năm 2050 AEC cũng là khu vực giao thoa của nhiều hiệp định thương mại song phương và khu vực AEC là cầu nối quan trọng đến các thị
Trang 2727
trường rộng lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ôt-xtray-lia, Niu Di Lân và
Ấn Độ thông qua các FTA giữa ASEAN và các đối tác
- Việt Nam có cơ hội trở thành nhà đầu tư quan trọng ra các quốc gia thành viên khác thông qua việc Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN ra đời, qua đó ASEAN tập trung cắt giảm, xóa bỏ hạn chế đầu tư và loại bỏ dần các biện pháp trong Danh mục bảo lưu, xây dựng một môi trường đầu tư tự do và mở cửa vào năm 2015 Thêm vào đó, những nỗ lực của ASEAN về tự do hóa đầu tư thông qua Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) sẽ làm tăng tính hấp dẫn của thị trường ASEAN đối với các nhà đầu tư trong khối cũng như từ các nước đối tác Đây là cơ hội để Việt Nam tăng cường thu hút các luồng đầu tư có chất lượng, phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước, là cơ hội để các doanh nghiệp có năng lực đẩy mạnh đầu tư ra các nước ASEAN
- Cộng đồng Kinh tế ASEAN giúp Việt Nam tham gia, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, thực hiện các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá AEC cơ bản sẽ trở thành một một không gian sản xuất chung, một thị trường chung rộng lớn Ở đó, hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động có tay nghề sẽ được tự do lưu chuyển trong các nước thành viên ASEAN mà không chịu sự phân biệt đối xử, ngoài các lý do chính đáng về an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội, bảo vệ sức khỏe, an toàn của con người, động vật, thực vật và môi trường
- AEC có thể tạo nên sự liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp ASEAN, thông qua phân công lao động và trao đổi hàng hóa, dịch vụ trung gian, từ đó tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn cho doanh nghiệp, thậm chí hỗ trợ doanh nghiệp cùng phát triển, tạo ra sức cạnh tranh cao của khu vực ASEAN, đáp ứng nhu cầu lớn không chỉ trong khu vực ASEAN mà đặc biệt là hướng ra người tiêu dùng của các khu vực phát triển Người dân cũng được hưởng lợi vì có nhiều lựa chọn về hàng hóa và dịch vụ với giá
cả thấp và chất lượng cao hơn; có được nhiều cơ hội việc làm; di chuyển thuận lợi hơn
3.2 Thách thức:
- Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là sự cạnh tranh của các quốc gia thành viên khác trong khu vực, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Các quốc gia thành viên có đặc điểm sản xuất khá giống nhau, có những thế mạnh chung về từng lĩnh vực, như nông nghiệp và dệt may Trong khi đó, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam chưa cao; còn nhiều hạn chế về cơ sở hạ tầng, cả
hạ tầng cứng và hạ tầng mềm
- Thách thức về khả năng hoàn thành các biện pháp AEC đúng thời hạn và khả
năng thực hiện cam kết theo Kế hoạch tổng thể Xây dựng AEC Việt Nam vẫn đang gặp một số khó khăn trong việc phê chuẩn/phê duyệt các Hiệp định/nghị định thư ASEAN đã ký kết; chậm hài hoà các sáng kiến khu vực với các quy định và luật pháp
Trang 284 Về văn hóa – xã hôi:
4.1 Cơ hội:
- Góp phần nâng cao phúc lợi, an sinh xã hội cho người dân khu vực và Việt Nam; tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và ý thức cộng đồng giữa nhân dân các nước thành viên
- Hợp tác phát triển nguồn nhân lực, hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, hài hòa hóa các tiêu chuẩn về công nhận bằng cấp trong giáo dục cũng như
kỹ năng nghề giữa các nước ASEAN, tạo điều kiện cho lao động có tay nghề tự do di chuyển (ta đã ký kết các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN đối với các ngành nghề: dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ kỹ thuật, du lịch, kế toán-kiểm toán, bác sỹ, nha sỹ, kiến trúc sư…) và tìm cơ hội việc làm thuận lợi hơn trong khu vực Tuy nhiên, người lao động Việt Nam phải cạnh tranh hơn với lao động của các nước ASEAN vào VN cũng như tại thị trường ASEAN nói chung (kỹ năng, ngoại ngữ…)
- Việt Nam có cơ hội trao đổi kinh nghiệm và nâng cao năng lực về xây dựng chính sách lao động và việc làm; phát triển nguồn nhân lực cho thị trường lao động, nâng cao công tác đào tạo nghề, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia của lao động Việt Nam, chăm lo tốt hơn cho người lao động, thông qua bảo đảm an toàn và vệ sinh sức khỏe lao động; nâng thu nhập và giảm nghèo đối với lao động chính thức, phi chính thức, di cư; thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và lập mạng an sinh xã hội
- Hợp tác y tế, nhất là trong phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, HIV/AIDS…
sẽ giúp người dân được bảo vệ tốt hơn trước các nguy cơ dịch bệnh lây lan; thúc đẩy hợp tác ngăn ngừa các bệnh không lây nhiễm, tạo lối sống lành mạnh hơn cho sức khỏe người dân
- Hợp tác về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý thiên tai
và ứng phó khẩn cấp sẽ giúp các nước thành viên từng bước nâng cao khả năng và năng lực thích nghi và giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, ứng phó nhanh
và hiệu quả hơn với thiên tai trong khu vực, bảo vệ và hỗ trợ kịp thời cho người dân trong tình huống thảm họa
4.2 Thách thức
Trang 2929
- Thách thức lớn nhất là nguồn lực hạn chế để triển khai các thỏa thuận/cam kết, mang lại những kết quả thiết thực Ta phải cùng các nước hướng tới mặt bằng chung khu vực về phúc lợi, an sinh xã hội; triển khai đầy đủ các cam kết về bảo vệ môi trường, công nhận lẫn nhau bằng cấp, kỹ năng nghề
- Hợp tác trên một số lĩnh vực có những vấn đề nhạy cảm, như liên quan đến thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em, lao động di cư; hợp tác với các tổ chức
xã hội dân sự Các hoạt động hợp tác với nhiều nội dung mang tính chất đan xen, đa ngành và lĩnh vực, đòi hỏi phải có sự kết nối liên ngành./
Trang 3030
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) - HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
PGS, TS Nguyễn Anh Tuấn Tổng biên tập, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
Học viện Ngoại giao
1 Hiệp định FTA thế hệ mới
Gần đây người ta nói nhiều về Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới Vậy FTA thế hệ mới là gì? FTA từ khi hình thành Hiệp định chung về thương mại và thuế quan vào năm 1947 (GATT-47) trải qua 3 giai đoạn phát triển như sau:
Thứ nhất, các FTA hình thành cho đến trước khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập chủ yếu bàn về các biện pháp để thúc đẩy thương mại trong nội bộ các nước thành viên nhưng không gây cản trở cho thương mại quốc tế Đây được gọi là các FTA thế hệ thứ nhất, chúng chỉ đề cập tới các vấn đề thương mại hàng hóa thuần túy
Thứ hai, các FTA được hình thành kể từ khi WTO được thành lập đến nay có các nội dung tương tự như nội dung của WTO, tức là ngoài các vấn đề về thúc đẩy thương mại, các nước còn bàn về các vấn đề khác có liên quan đến thương mại như vấn đề sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (như Hiệp định TRIP trong WTO), các vấn đề đầu tư có liên quan đến thương mại (như Hiệp định TRIM trong WTO), vấn đề kiểm hóa trước khi xuất hàng (như Hiệp định PSI trong WTO), vấn đề về quy tắc xuất xứ (như Hiệp định ROO trong WTO), vấn đề về cách tính giá trị hàng hóa, dịch vụ để tính thuế nhập khẩu (như Hiệp định ACV trong WTO), vấn đề về hàng rào
kỹ thuật, vệ sinh kiểm dịch (như Hiệp định TBT và SPS trong WTO), vấn đề bán phá giá và trợ cấp (hiệp định AAD và ASCM trong WTO) và một loạt vấn đề khác Đây được gọi là các FTA thế hệ thứ hai
Thứ ba, là các FTA đang được đàm phán và tiến tới ký kết trong giai đoạn hiện nay, ngoài các vấn đề như nội dung của WTO đề cập, phạm vi mà các FTA này đề cập sâu và rộng hơn các FTA thế hệ thứ hai Điều đó có nghĩa là đặc điểm cơ bản của các FTA thế hệ mới là bao gồm nhiều cam kết sâu rộng chưa từng có, trong đó có nhiều cam kết về thể chế Đây là các FTA thế hệ thứ ba hay thế hệ mới “Khác với các FTA thế hệ trước chủ yếu ảnh hưởng tới chính sách thuế quan tại biên giới, các FTA thế hệ mới sắp tới có nhiều các cam kết ảnh hưởng trực tiếp và lớn đến thể chế, chính sách pháp luật nội địa.”1
Như vậy, không phải bất kỳ FTA nào đang đàm đều là FTA thế hệ mới mà có những hiệp định đang đàm phán cũng chỉ là loại FTA thế hệ thứ hai
ví như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (RCEP)
1 Vũ Tiến Lộc, “Nền kinh tế trước thách thức FTA thế hệ mới”, Thời báo Ngân hàng, ngày 24/7/2015
Trang 31Như trên đã trình bày, Hiệp định TPP có phạm vị rộng hơn và cam kết sâu hơn
so với các FTA thế hệ thứ hai kể cả WTO Về phạm vi, TPP bàn tới và cam kết rất nhiều vấn đề mà WTO và các FTA thế hệ thứ hai không đề cập tới như lao động-công đoàn, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, thương mại điện tử và đặc biệt là những cam kết sau biên giới (behind border) có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp và lớn đến thể chế, chính sách pháp luật trong nước thành viên (khác với các FTA trước đây chủ yếu ảnh hưởng tới chính sách thuế quan tại biên giới), và một số vấn đề khác nữa Bảng 1 dưới đây so sánh sự khác biệt về mức độ giữa WTO và TPP: Bảng 1: Một số khác biệt cơ bản về mức độ giữa TPP và WTO3
Các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư và hoạt động ở tất các các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ mà pháp luật sở tại không cấm (theo phương thức chọn bỏ), tức là không có sự khác biệt so với doanh nghiệp trong nước
Vấn đề đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư phải
2 Hiệp định EVFTA được khởi động từ tháng 6/2012 tại Brussels (Bỉ) Ngày 13/10/2014, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) José Manuel Barosso đã có buổi thảo luận về kết thúc đàm phán hiệp định thương mại tự do này Từ tháng 10/2012 đến tháng 8/2015, hai bên đã tiến hành 14 vòng đàm phán chính thức và nhiều phiên đàm phán giữa kỳ Đến nay, hai bên chỉ tập trung xử lý một số vấn đề then chốt nhất để chính thức kết thúc đàm phán, hướng tới một thỏa thuận đạt yêu cầu chất lượng cao và cân bằng trong tất cả các lĩnh vực đàm phán mở cửa thị
trường (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, mua sắm công) cũng như các quy định và quy tắc quản lý
(đặc biệt là sở hữu trí tuệ, bao gồm chỉ dẫn địa lý của hai bên; doanh nghiệp nhà nước và bảo hộ đầu tư…) Đến Ngày 4/8/2015, hai bên tuyên bố Kết thúc cơ bản đàm phán EVFTA và hiện tại, hai bên đang giải quyết nốt các vấn đề kỹ thuật và hoàn thiện văn bản hiệp định để có thể ký kết hiệp định trong năm 2015 (xem: Trung tâm WTO, Tóm lược Hiệp
định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), VCCI, ngày 7/8/2015)
3
Xem thêm: Nguyên Anh Tuấn, Giáo trình Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2008; Lan Hương, “FTA thế hệ mới – Cơ hội và thách thức”, Báo lao động online, ngày 24/7/2015
Trang 3232
nhận đầu tư nhà nước sở tại nếu chính phủ
đưa ra những chính sách gây tổn hại đến lợi ích mong đợi của họ (TRIM+)
Yêu cầu phải bảo vệ quyền SHTT với thời hạn dài hơn trước đây 6 năm (so với WTO)
và chi phi mua bản quyền có thể cao hơn
Chế độ ưu đãi cho các
Không có đối xử khác biệt và đặc biệt đối với các nước kém phát triển và một số nước đang phát triển Tất cả các nước đều phải thực hiện tất cả các nghĩa
vụ như nhau (có một số nước, trong một số lĩnh vực được thực hiện theo lộ trình)
3 Cơ hội và thách thức từ TPP
TPP đã được các nước thành viên hoàn tất đàm phán vào ngày 5/10/2015 tại Atlanta (Mỹ) và nếu được quốc hội các nước phê chuẩn và và chính thức có hiệu lực, thì khi đó, không chỉ cơ cấu hàng hóa, danh mục lĩnh vực đầu tư giữa Việt Nam và các đối tác thay đổi mà cả hệ thống quy định liên quan cũng sẽ phải thay đổi để đảm bảo thích ứng với những cam kết mới
Điều này nhìn thấy rõ nhất khi phân tích các cơ hội, nhưng cũng có thể gọi là
thách thức của Việt Nam khi TPP được ký kết: Một là, gia tăng xuất khẩu, nhất là dệt
may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ và nông sản do thuế nhập khẩu của các mặt hàng mà nguyên liệu có xuất xứ từ Việt Nam hoặc 11 thành viên còn lại hạ về 0%.4 Hai là, do
nâng cao tốc độ tăng trưởng, nên sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và
4 Một số chuyên gia Hoa Kỳ dự báo rằng VN sẽ là nước được hưởng lợi nhất trong số 12 nước tham gia TPP, GDP sẽ tăng thêm 36 tỷ USD, xuất khẩu sẽ tăng 68 tỷ USD vào năm 2025 do TPP sẽ giúp ta có được các cơ hội mới từ chuỗi cung ứng mới hình thành sau khi TPP có hiệu lực (xem: Peter A.Petri, Michael G.Plummer and Fan Zhai, 2011, The
Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Integration: A Quantitative Assessment, Economics Series, East-West Center
Working Papers, No 119, October 24) Tuy nhiên, con số này không thực tế Các chuyên gia tính toán trên điều kiện lý tưởng tuyệt đối khi Việt Nam đạt các chuẩn mực quốc tế và tận dụng triệt để các cơ hội Ví dụ, tăng trưởng xuất khẩu được tính trên suy đoán hàng hóa Việt Nam đáp ứng tất cả các điều kiện về xuất xứ, vượt qua các rào cản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ từ các thị trường nhập khẩu và được hưởng lợi trọn vẹn từ các ưu đãi thuế quan… Thực tiễn cho thấy, doanh nghiệp VN mới chỉ sử dụng được khoảng 30% lợi ích ưu đãi thuế quan từ các FTA cũ, 70% còn lại đã tuột khỏi tay các doanh nghiệp và nền kinh tế VN
Trang 3333
góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức
khỏe cộng đồng Ba là, cân bằng được quan hệ kinh tế với các thị trường khác, nhất là tránh được tình trạng Việt Nam lệ thuộc về kinh tế quá lớn vào Trung Quốc Bốn là,
đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam sẽ gia tăng để hưởng thuế suất thấp (như dệt), lao động và tiền thuê đất rẻ (như nông nghiệp), tận dụng thị trường tiêu dùng của Việt Nam (như dịch vụ).5
Năm là, tạo sức ép để Việt Nam cải thiện môi
trường đầu tư, nâng cao tính thị trường, đổi mới mô hình tăng trưởng đảm bảo tăng
trưởng bền vững Sáu là, áp lực cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ, dịch vụ chất lượng tốt
từ các nước TPP trên chính thị trường nội địa buộc danh nghiệp Việt Nam phải đổi
mới và năng động hơn Bảy là, tạo sức ép để Việt Nam đổi mới thể chế kinh tế như
Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng
4 Giải pháp để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức khi TPP có hiệu lực
Khi TPP có hiệu lực, vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu thông qua các cơ hội đầu tư – kinh doanh mới sẽ tăng lên, nhưng thách thức cũng sẽ tăng như trên đã trình bày, nhưng để nắm bắt cơ hội vượt qua thách thức do TPP mang lại, Việt Nam có thể và cần phải quan tâm đến các giải pháp sau đây:
Thứ nhất, phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văm minh; Tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đáp ứng những cam kết và thể hiện quyết tâm chính trị của nước ta khi chấp nhận “luật chơi” của TPP mà chính Việt Nam đã cùng các nước khác định hình
từ đầu; Nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao năng suất lao động trên cơ sở khoa học công nghệ Đây là cơ sở để nâng cao tính cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế cũng như của mỗi doanh nghiệp và sản phẩm Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi một số quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường… Tuy nhiên, như kinh nghiệm gia nhập WTO đã chỉ ra, với sự chuẩn bị nghiêm túc và nỗ lực cao độ, ta có thể thực hiện thành công khối lượng công việc này, nhất là khi ta được quyền thực hiện theo lộ trình trong một số lĩnh vực
Thứ hai, phải tạo dựng nền tảng thể chế chính sách mới, đồng bộ và toàn diện,
có tính phối hợp và gắn kết chặt chẽ giữa các chính sách trong thương mại, đầu tư, cạnh tranh, điều tiết thị trường, môi trường, lao động và các chính sách khác liên quan Cùng với khuôn khổ chính sách mới, không chỉ là thiết lập cơ chế và bộ máy kiểm soát khâu phối hợp và gắn kết giữa các bộ, ban, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện đồng bộ các cam kết, nghĩa vụ hiện hành
mà còn là các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện và khai thác các lợi ích của TPP Chính phủ cũng cần phải nghiên cứu xem xét ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Hiệp định TPP ngay từ bây giờ Việc đào tạo, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ chuyên gia trong thiết kế và tham mưu thực hiện các biện pháp bảo hộ hợp pháp,
5
Đặc biệt, việc hoàn thiện và tăng cường công tác bảo hộ quyền SHTT sẽ mở ra cơ hội thu hút đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao, thí dụ như sản xuất dược phẩm, trong đó có thuốc sinh học (nhất là với vắcxin và một số sản phẩm ta có bước phát triển mạnh trong các năm qua).
Trang 34có sở đó mới có được chính sách đúng đắn nhằm phát huy và khai thác có hiệu quả mặt tích cực, đồng thời có những hỗ trợ cần thiết cho những ngành bị tổn thương Với
cơ hội mới có được từ Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ có điều kiện để tạo công ăn việc làm mới, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành Việt Nam thực sự có lợi thế cạnh tranh Ngoài ra, Nhà nước cũng cần có các các biện pháp trợ giúp để chủ động
xử lý kịp thời các tác động tiêu cực có thể xảy ra trong đó có việc tổ chức đào tạo lại đội ngũ lao động Theo thời gian, thu hút đầu tư nước ngoài tăng lên, cơ cấu sản xuất
sẽ được điều chỉnh và nhiều việc làm mới sẽ được tạo ra góp phần nâng cao đời sống nhân dân
Thứ tư, khi gia nhập TPP, nông nghiệp sẽ là ngành bị tác động mạnh nhất và bị tổn thương nhiều nhất vì hàng hóa của ngành này rất khó cạnh tranh với các cường quốc nông nghiệp như Úc, New Zealand, Mỹ Do vậy, Việt Nam sẽ phải hết sức nỗ lực, biến thách thức thành cơ hội để cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng khoa học- công nghệ, chuyển đổi sang mô hình kinh doanh trang trại, đồn điền lớn để giảm chi phí sản xuất, dễ quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như dễ ứng dụng các công nghệ sinh học vào lĩnh vực trồng trọt, canh tác, chăn nuôi, phù hợp với việc xây dựng các chiến lược về nông nghiệp.6
Thứ năm, với các cộng đồng doanh nghiệp, điều đặc biệt quan trọng là doanh nghiệp cần: i) chủ động tìm hiểu thông tin, nội dung hiệp định TPP; ii) chủ động tìm hiểu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng của các nước thành viên TPP; iii) chủ động liên doanh, liên kết với doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng mình quan tâm; và iv) chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở năng suất, chất lượng và hiệu quả gắn với chuỗi giá trị toàn cầu, đòi hỏi phải chủ động
có hiệu quả trong việc tận dụng tác động lan tỏa của khu vực doanh nghiệp có vốn FDI./
6
Phải nhận thức được là sản xuất nông nghiệp vốn là ngành không dễ chuyển dịch cơ cấu Trong khi đó, khi kinh tế phát triển, chi phí nhân công cao, thì sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp càng yếu đi Có thể thấy rõ điều này, khi các nước phát triển hội nhập sâu lại bảo hộ rất lớn cho ngành nông nghiệp
Trang 3535
TÓM TẮT HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Ngày 05 tháng 10 năm 2015, Bộ trưởng của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam, đã tuyên bố kết thúc đàm phán Kết quả đàm phán là một hiệp định chất lượng cao, tham vọng, toàn diện và cân bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; thúc đẩy việc đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh; nâng cao mức sống; giảm nghèo tại các nước; và nâng cao minh bạch hóa, quản trị tốt cũng như bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường Chúng tôi coi việc kết thúc đàm phán hiệp định này với các tiêu chuẩn mới và cao về thương mại và đầu tư tại khu vực châu Á Thái Bình Dương là một bước quan trọng để tiến tới mục tiêu cao nhất về thương mại tự do và hội nhập trên toàn khu vực
CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH
Có 5 đặc điểm chính làm TPP trở thành một hiệp định mang tính bước ngoặc của thế kỷ 21, tạo ra một tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu trong khi vẫn
đề cập tới các vấn đề mang tính thế hệ mới Các đặc điểm đó bao gồm:
Tiếp cận thị trường một cách toàn diện Hiệp định TPP cắt giảm thuế quan và
các hàng rào phi thuế về căn bản đối với tất cả thương mại hàng hóa và dịch vụ
và điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại trong đó có thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích mới cho doanh nghiệp, người lao động và người tiêu dùng của các nước thành viên
Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết.Hiệp định TPP tạo
thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng, cũng như thương mại không gián đoạn, đẩy mạnh tính hiệu quả và hỗ trợ thực hiện mục tiêu về tạo việc làm, nâng cao mức sống, thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn và tạo thuận lợi cho việc hội nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị trường trong nước
Giải quyết các thách thức mới đối với thương mại Hiệp định TPP thúc đẩy
việc đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh thông qua việc giải quyết các vấn đề mới, trong đó bao gồm việc phát triển nền kinh tế số và vai trò ngày càng tăng của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu
Bao hàm toàn bộ các yếu tố liên quan đến thương mại Hiệp định TPP bao
gồm các yếu tố mới được đưa ra để bảo đảm rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp
độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thương mại Hiệp định bao gồm các cam kết nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu rõ về Hiệp định, tận dụng được những cơ hội mà Hiệp định mang lại và nêu lên những thách thức đáng chú ý tới chính phủ các nước thành viên Hiệp định cũng bao gồm những cam kết cụ thể về phát triển và nâng cao năng lực thương
Trang 3636
mại để đảm bảo rằng tất cả các Bên đều có thể đáp ứng được những cam kết trong Hiệp định và tận dụng được đầy đủ những lợi ích của Hiệp định
Nền tảng cho hội nhập khu vực Hiệp định TPP được ra đời để tạo ra nền tảng
cho việc hội nhập kinh tế khu vực và được xây dựng để bao hàm cả những nền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á – Thái Bình Dương
PHẠM VI
Hiệp định TPP gồm có 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan tới thương mại, bắt đầu từ thương mại hàng hóa và tiếp tục với hải quan và thuận lợi hóa thương mại; vệ sinh kiểm dịch động thực vật; hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; quy định về phòng vệ thương mại; đầu tư; dịch vụ; thương mại điện tử; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; các chương về “các vấn đề xuyên suốt” nhằm bảo đảm Hiệp định TPP đạt được tiềm năng của mình về phát triển, tính cạnh tranh và tính bao hàm; giải quyết tranh chấp; ngoại lệ và các điều khoản về thể chế
Như đã đề cập ở phía trên, bên cạnh việc nâng cấp cách tiếp cận truyền thống đối với những vấn đề đã được điều chỉnh bởi các hiệp định thương mại tự do trước
đó (FTAs), Hiệp định TPP còn đưa vào những vấn đề thương mại mới và đang nổi lên cũng như những vấn đề xuyên suốt Những vấn đề này bao gồm những nội dung liên quan đến Internet và nền kinh tế số, sự tham gia ngày càng tăng của các doanh nghiệp Nhà nước vào thương mại và đầu tư quốc tế, khả năng của các doanh nghiệp nhỏ trong việc tận dụng các hiệp định thương mại và những nội dung khác
Hiệp định TPP tập hợp một nhóm các nước khác nhau – khác nhau về địa lý, ngôn ngữ và lịch sử, quy mô và mức độ phát triển Tất cả các nước TPP đều nhận thức rằng tính đa dạng về phát triển là một tài sản độc đáo nhưng cũng yêu cầu sự hợp tác chặt chẽ, xây dựng năng lực cho các nước TPP có trình độ phát triển thấp hơn, và trong một số trường hợp, giai đoạn chuyển đổi và cơ chế đặc biệt cho phép một số thành viên TPP một khoảng thời gian bổ sung cần thiết để nâng cao năng lực thực thi các nghĩa vụ mới
TẠO RA CÁC QUY TẮC THƯƠNG MẠI KHU VỰC
Dưới đây là bản tóm tắt 30 chương của Hiệp định TPP Các lộ trình cam kết và phụ lục được quy định kèm theo các chương này liên quan tới thương mại hàng hóa
và dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ và nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh Ngoài ra, chương về Doanh nghiệp Nhà nước bao gồm các ngoại trừ của từng nước được quy định trong phụ lục kèm theo chương
1 Các điều khoản ban đầu và định nghĩa chung
Nhiều thành viên TPP đang có các hiệp định với nhau Chương về Các điều khoản ban đầu và định nghĩa chung giải thích rõ mối quan hệ giữa TPP với các hiệp định thương mại quốc tế đang có giữa các Bên, trong đó có Hiệp định WTO, các hiệp
Trang 3737
định song phương và khu vực Chương này cũng đưa ra các định nghĩa cho các thuật ngữ được sử dụng trong nhiều hơn một chương của Hiệp định
2 Thương mại hàng hóa
Các Bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp và xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan cũng như các chính sách mang tính hạn chế khác đối với hàng hóa nông nghiệp Việc tiếp cận mang tính ưu đãi thông qua Hiệp định TPP sẽ làm gia tăng thương mại giữa các nước TPP với thị trường gồm 800 triệu dân và sẽ hỗ trợ cho việc làm chất lượng cao tại tất cả 12 nước thành viên Việc xóa bỏ phần lớn thuế quan đối với hàng công nghiệp sẽ được thực hiện ngay lập tức mặc dù thuế quan đối với một số mặt hàng sẽ được xóa bỏ với lộ trình dài hơn do các Bên thống nhất Việc cắt giảm thuế cụ thể do các Bên thống nhất được quy định tại lộ trình cam kết bao gồm tất cả hàng hóa và được đính kèm theo lời văn của Hiệp định Các Bên tham gia TPP sẽ công bố các lộ trình này và những thông tin khác liên quan tới thương mại hàng hóa để bảo đảm rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các doanh nghiệp lớn có thể tận dụng được Hiệp định TPP Các Bên cũng nhất trí không sử dụng các yêu cầu về thực hiện như là điều kiện để một số nước áp đặt cho các doanh nghiệp để được hưởng các lợi ích về thuế quan Ngoài ra, các Bên nhất trí không áp dụng các hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu
và các loại thuế không phù hợp với WTO, bao gồm cả đối với hàng tân trang - việc này được cho là sẽ thúc đẩy việc tái chế tất cả các bộ phận để chuyển thành các sản phẩm mới Nếu các Bên TPP duy trì yêu cầu cấp phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu thì phải thông báo cho các Bên kia về những quy trình không nhằm mục đích làm chậm
sự lưu thông thương mại
Đối với hàng nông nghiệp, các Bên sẽ xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách mang tính hạn chế khác để gia tăng thương mại hàng nông nghiệp trong khu vực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao an ninh lương thực và hỗ trợ việc làm cho người nông dân và chủ trại nuôi gia súc của các nước TPP Bên cạnh việc xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan, các Bên TPP nhất trí thúc đẩy cải cách về mặt chính sách, bao gồm cả việc thông qua xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp, hợp tác trong WTO
để xây dựng các quy định về tín dụng xuất khẩu và giới hạn khoảng thời gian cho phép áp dụng các hạn chế đối với xuất khẩu lương thực nhằm bảo đảm hơn nữa an ninh lương thực trong khu vực Các Bên tham gia TPP nhất trí nâng cao tính minh bạch hóa liên quan đến việc vận hành doanh nghiệp thương mại nhà nước xuất khẩu
và đưa ra các quy định hạn chế việc cấp vốn ưu đãi từ Chính phủ hoặc các chính sách khác gây bóp méo thương mại nông sản, cũng như yêu cầu về minh bạch hóa và phối hợp trong các hoạt động cụ thể liên quan đến công nghệ sinh học nông nghiệp và nông nghiệp hữu cơ
3 Dệt may
Các Bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ thuế quan đối với hàng dệt may – ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế tại một số thị trường của các nước TPP Hầu hết thuế quan sẽ được xóa bỏ ngay lập tức, mặt dù thuế quan đối
Trang 3838
với một số mặt hàng nhạy cảm sẽ được xóa bỏ với lộ trình dài hơn do các Bên thống nhất Chương Dệt may cũng bao gồm các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng sợi và vải từ khu vực TPP - điều này sẽ thúc đẩy việc thiết lập các chuỗi cung ứng và đầu tư khu vực trong lĩnh vực này, cùngvới cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép việc sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực Ngoài ra, Chương này còn bao gồm các cam kết về hợp tác và thực thi hải quan nhằm ngăn chặn việc trốn thuế, buôn lậu và gian lận cũng như cơ chế tự vệ đặc biệt đối với dệt may để đối phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu
4 Quy tắc xuất xứ
Để gỡ rối tình trạng “bát mỳ ống” của quy tắc xuất xứ gây trở ngại cho doanh nghiệp trong việc tận dụng các FTA trước đó trong khu vực, thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực và bảo đảm rằng các nước TPP sẽ là những người hưởng lợi chính của Hiệp định hơn là các nước không phải là thành viên, 12 nước Thành viên TPP đã thống nhất về một bộ quy tắc xuất xứ chung để xác định một hàng hóa cụ thể “có xuất xứ”
và do vậy được hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP Quy tắc xuất xứ cụthể theo mặt hàng được quy định kèm theo lời văn của Hiệp định Hiệp định TPP quy định về
“cộng gộp” để các nguyên liệu đầu vào từ một Bên TPP được đối xử như những nguyên liệu từ một Bên khác nếu được sử dụng để sản xuất ra một sản phẩm tại bất kỳ một Bên TPP Các Bên tham gia TPP cũng đưa ra các quy tắc để bảo đảm rằng doanh nghiệp có thể hoạt động một cách dễ dàng xuyên khu vực TPP thông qua việc thiết lập một hệ thống chung trên toàn TPP về chứng minh và kiểm tra xuất xứ của hàng hóa TPP Các nhà nhập khẩu sẽ có thể yêu cầu được hưởng ưu đãi về xuất xứ với điều kiện họ có các chứng từ chứng minh Ngoài ra, Chương này cung cấp cho các cơ quan
có thẩm quyền công cụ cần thiết để xác minh các yêu cầu về hưởng ưu đãi một cách
có hiệu quả
5 Quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại
Bên cạnh các nỗ lực trong khuôn khổ WTO về thuận lợi hóa thương mại, các Bên TPP đã nhất trí về các quy tắc nhằm thúc đẩy việc tạo thuận lợi cho thương mại, nâng cao tính minh bạch hóa trong các thủ tục hải quan và bảo đảm tính chính trực trong việc quản lý hải quan Những quy tắc này sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp TPP bao gồm cả doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích các quy trình vận hành thủ tục hải quan nhanh chóng và thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực Các Bên TPP đã nhất trí minh bạch hóa các quy tắc, trong đó có việc công bố các luật và quy định về hải quan cũng như quy định về giải phóng hàng hóa không chậm chễ và ký quỹ hoặc thanh toán bắt buộc trong trường hợp hải quan chưa đưa ra quyết định về số thuế hoặc phí phải trả Các nước TPP nhất trí áp dụng những quy định thông báo trước về xác định trị giá hải quan và các vấn đề khác nhằm giúp cho doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp lớn và nhỏ, kinh doanh với khả năng có thể dự báo trước được tình hình Các nước cũng nhất trí về các quy định liên quan tới xử phạt hải quan để bảo đảm các hình thức xử phạt này được thực hiện một cách công bằng và minh bạch Bên cạnh đó, vì
Trang 3939
tầm quan trọng của chuyển phát nhanh đối các lĩnh vực kinh doanh, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các nước TPP đã nhất trí về các quy định hải quan đối với chuyển phát nhanh Để hỗ trợ việc chống buôn lậu và trốn thuế, các nước TPP nhất trí cung cấp thông tin khi được yêu cầu để hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực thi luật hải quan
6 Các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật
Liên quan đến việc cải tiến các quy định về SPS, các nước TPP đã chia sẻ mối quan tâm trong việc bảo đảm các quy định dựa trên căn cứ khoa học mang tính minh bạch, không phân biệt đối xử, và tái khẳng định quyền của các nước trong việc bảo đảm an ninh lương thực và bảo vệ sức khỏe vật nuôi và cây trồng tại nước mình Hiệp định TPP dựa trên các quy định của Hiệp định SPS của WTO về xác định và quản lý rủi ro theo một cách không hạn chế thương mại hơn mức cần thiết Các nước TPP nhất trí cho phép công chúng được đóng góp ý kiến vào các dự thảo quy định SPS trong quá trình đưa ra quyết định và ban hành chính sách cũng như để bảo đảm rằng doanh nghiệp hiểu rõ các quy định mà họ sẽ phải tuân thủ Các nước nhất trí rằng việc kiểm tra hàng hóa đáp ứng các quy định SPS được dựa trên các rủi ro tiềm tàng trên thực tế có gắn với việc nhập khẩu và thông báo cho nhà nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong vòng bảy ngày nếu hàng hóa bị cấm nhập khẩu vì lý do liên quan đến SPS Các Bên cũng nhất trí rằng các biện pháp khẩn cấp cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật có thể được thực hiện với điều kiện Bên thực hiện biện pháp đó phải thông báo cho tất cả các Bên về sự cần thiết mang tính khoa học của biện pháp được áp dụng.Ngoài ra, các Bên cam kết cải thiện việc trao đổi thông tin liên quan tới các yêu cầu về tương đương và khu vực hóa, cũng như đẩy mạnh việc kiểm tra trên toàn hệ thống để đánh giá tính đầy đủ trong việc kiểm soát về mặt quy định đối với an toàn thực phẩm của các Bên TPP Trong nỗ lực giải quyết nhanh các vấn đề SPS phát sinh giữa các Bên, các Bên đã nhất trí thiết lập một cơ chế tham vấn giữa các chính phủ
7 Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
Các thành viên TPP đã nhất trí về các nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử khi xây dựng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp, trong khi vẫn bảo lưu quyền của các thành viên TPP trong quản lý vì các lợi ích công cộng Các thành viên TPP đồng ý hợp tác để đảm bảo rằng các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật không tạo ra rào cản không cần thiết đối với thương mại Để cắt giảm chi phí cho các doanh nghiệp TPP, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, các thành viên TPP nhất trí các quy định giúp xóa bỏ các quy trình kiểm tra và chứng nhận trùng lắp đối với các sản phẩm, thiết lập quy trình dễ dàng hơn giúp các công ty tiếp cận thị trường các nước TPP Trong Hiệp định TPP, các thành viên phải cho phép công chúng góp ý đối với dự thảo các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp trong quá trình xây dựng chính sách và để đảm bảo rằng các thương nhân hiểu rõ các quy định mà họ cần phải thực hiện Các thành viên cũng sẽ đảm bảo một khoảng thời gian hợp lý giữa thời điểm công bố các quy định kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp và
Trang 4040
thời điểm có hiệu lực để các doanh nghiệp có đủ thời gian đáp ứng các yêu cầu mới Ngoài ra, Hiệp định TPP bao gồm các phụ lục liên quan tới các quy định về các lĩnh vực cụ thể nhằm thúc đẩy các cách tiếp cận chung về chính sách trong khu vực TPP Các lĩnh vực này bao gồm mỹ phẩm, thiết bị y tế, dược phẩm, các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông, rượu và đồ uống có cồn, thực phẩm và các chất gây nghiện và các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
8 Phòng vệ thương mại
Chương Phòng vệ thương mại thúc đẩy minh bạch hóa và quy trình thủ tục trong các vụ kiện phòng vệ thương mại thông qua việc công nhận các thực tiễn tốt nhất nhưng không ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của các thành viên TPP trong WTO Chương này đưa ra một cơ chế tự vệ tạm thời, cho phép một thành viên thực hiện một biện pháp tự vệ tạm thời trong một khoảng thời gian cụ thể nếu việc nhập khẩu tăng đột biến do kết quả của việc cắt giảm thuế được thực hiện theo Hiệp định TPP đủ để gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước Các biện pháp này có thể được duy trì lên tới 2 năm, với việc gia hạn 1 năm, nhưng phải được tự do hóa dần dần nếu các biện pháp này đã kéo dài hơn 1 năm Các thành viên
áp dụng các biện pháp tự vệ sẽ phải thực hiện các yêu cầu thông báo và tham vấn Chương này cũng đưa ra các quy định yêu cầu một thành viên TPP đang áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời cung cấp khoản bồi thường được các bên thống nhất Đồng thời, các thành viên không được cùng lúc áp dụng nhiều hơn một biện pháp tự vệ được cho phép trong TPP đối với một sản phẩm
9 Đầu tư
Khi xây dựng các quy định về đầu tư, các thành viên TPP đã đưa ra các nguyên tắc yêu cầu các chính sách và bảo hộ đầu tư công bằng và không phân biệt đối xử nhằm bảo đảm nguyên tắc cơ bản của luật pháp, trong khi vẫn bảo đảm khả năng của Chính phủ các thành viên để đạt được các mục tiêu chính sách công hợp pháp TPP quy định sự bảo hộ đầu tư cơ bản như trong các hiệp định thương mại khác, bao gồm: đối xử quốc gia; đối xử tối huệ quốc; “tiêu chuẩn đối xử tối thiểu” đối với đầu tư trên
cơ sở tập quán luật thương mại quốc tế; nghiêm cấm việc trưng thu không vì mục đích công cộng, không theo quy trình thủ tục và không có bồi thường; tự do chuyển tiền liên quan đến đầu tư với các ngoại lệ trong Hiệp định TPP nhằm đảm bảo cho các Chính phủ giữ quyền linh hoạt quản lý các dòng vốn không ổn định, bao gồm thông qua biện pháp tự vệ tạm thời không phân biệt đối xử (chẳng hạn như kiểm soát vốn) nhằm hạn chế việc chuyển tiền liên quan đến đầu tư trong trường hợp khủng hoảng hoặc có nguy cơ khủng hoảng cán cân thanh toán, và các cuộc khủng hoảng kinh tế khác hoặc để đảm bảo sự toàn vẹn và ổn định của hệ thống tài chính; nghiêm cấm
“các yêu cầu thực hiện” chẳng hạn như yêu cầu về hàm lượng nội địa hoặc tỷ lệ nội địa hóa công nghệ; và tự do bổ nhiệm các vị trí quản lý cấp cao mà không quan tâm đến quốc tịch
Các thành viên chấp nhận các nghĩa vụ dựa trên cơ sở “một danh mục chọn bỏ”, nghĩa là thị trường các nước là mở hoàn tòan đối với các nhà đầu tư nước ngoài,